Thứ Tư, 25 tháng 5, 2016

Một tuần lễ ở Tòa Soạn (IV)



Thứ năm…

Hàng tuần, cứ mỗi buổi tối thứ năm, là anh chị em trong tòa soạn tới hội họp đông đủ nhất. Bởi hôm nay là ngày tờ báo đã hoàn tất. Tất cả đều sẵn sàng chờ sáng sớm ngày mai giao cho nhà Tổng phát hành. Ở Saigon vì thế các em có thể đọc Thiếu Nhi từ ngày thứ sáu. Các tỉnh xa, báo có thể về chiều tối thứ bẩy hay sáng chủ nhật.

Tất cả mọi người đều quây quần chung quanh một cái bàn lớn hình vuông, mỗi chiều tới hai thước. Vào giờ phút đông đủ nhất, tòa soạn có không khí vui như tết vì hội họp gần hết mọi người như Bác Vịt Mò, Huy Yên, Văn Trung, Đặng Hoàng, Bách Khoa, Bình Electronic, Họa sĩ Vi Vi, chị Đỗ Phương Khanh, chị Mai Loan, chị Thu An và Phan Khương Thái, cây bút trẻ nhất của Gia Đình Thiếu Nhi được tòa soạn coi là đầy triển vọng. Có một nhân vật gây ồn ào nhất trong tờ Thiếu Nhi lại rất ít khi chịu lui tới tòa soạn, đó là Bác Đinh Gô. Đinh Gô là ai? Mặt mũi tròn méo ra làm sao? Ngay cả anh chị em trong tòa soạn cũng ít người biết đến. Bởi tiếng tăm đùa nghịch là vậy, nhưng ngoài đời, Đinh Gô là một ông vua trong làng thỏ đế. Ông… vua này rất ít nói, mà cứ hễ nói thì y như rằng đỏ mặt tía tai, mồm miệng như muốn ríu lại, nhất là trước đám đông có vài ba người chưa quen biết. Bởi thế Đinh Gô lẩn mặt trong bất cứ cuộc hội họp nào của tòa soạn. Trong dịp họp mặt liên hoan tất niên hồi tết vừa qua, chị Đỗ Phương Khanh xếp chỗ cho Đinh Gô ngồi ngay bên cạnh chị Mai Loan. “Cây” xí mụi bên Vườn Hồng đã thủ sẵn trong bóp một bịch ô-mai làm vũ khí phòng thủ. Nhưng Đinh Gô không tới. Chỗ ngồi của Đinh Gô bị bỏ trống trong suốt buổi họp mặt. Ngày hôm sau, đại diện cho tòa soạn, tôi có trách Bác Đinh Gô sao hờ hững vô tình, để mọi người áy náy, chờ đợi. Đinh Gô cười chúm chím:

- Mắc bận với bọn thằng Gâu, cái Gầu. Tụi nó hôm qua thi nhau nóng lạnh quấy nhiễu suốt đêm…

Máu riễu trong người Đinh Gô không lúc nào là không vận chuyển. Nhưng Đinh Gô chỉ riễu được khi ngồi viết bài một mình, hay khi đối diện với người thật thân. Âu đó cũng là một loại cá tính đặc biệt.

Buổi họp mặt tối thứ năm ở tòa soạn không có tính cách chính thức, nghĩa là ai tới hay ra về lúc nào cũng được và trong khi hàn huyên, công việc của ai người ấy cứ làm. Thường thì mọi người đem tờ báo mới in xong ra mổ xẻ từ hình thức đến nội dung. Đấy là giờ phút bổ ích nhất cho Ban Điều Hành Tòa Soạn. Bài vở số nào nặng, số nào kém vui, số nào nhiều sưu tầm, ít sáng tác hay ngược lại, đều bị phê phán thẳng tay. Trong số những người phát biểu, chị Đỗ Phương Khanh thường đại diện tiếng nói độc giả để góp ý với tòa soạn, vì chị là người phụ trách đọc thư của mọi nơi gửi về. Lối làm việc dân chủ này làm vơi nhẹ trách nhiệm của chủ biên đi rất nhiều. Vì những điều cần nói, đã được các anh chị em nói giùm ra hết. Hơn nữa các ý kiến do anh chị em phát biểu thường là thận trọng và cân nhắc, nhất là những ý kiến phê bình người khác. Vì thế người bị phê bình cũng không lấy đó làm buồn, bởi tất cả ai cũng đồng ý một đường lối chung của tờ báo là : Dù viết hay dịch cũng theo tiêu chuẩn rõ ràng, sáng sủa, vui, bổ ích và có tiết giảm sự khô khan, nhàm chán đi chừng nào tốt chừng ấy, Hẳn nhiên tiêu chuẩn đó chưa phải đã được anh chị em trong tòa soạn thi hành triệt để. Một số bài khoa học còn nặng tính cách chuyên môn, và thiếu cái không khí tươi mát rí rỏm. Tuy nhiên, so với thời kỳ đầu, nội dung của tờ báo đã tiến bộ hơn nhiều. Anh chị em trong tòa soạn vẫn mong muốn nội dung ấy còn phải được cải tiến nữa, nhờ kinh nghiệm đã thu thập được sau gần 2 năm làm báo và nhờ ở cả những lá thư góp ý rất tha thiết, nồng nhiệt của các giáo sư cũng như của các em độc giả gửi về. Tinh thần cầu tiến ấy đã một lần nữa xác định thêm về một quan niệm mà chúng tôi vẫn thường phát biểu : “Tờ Thiếu Nhi không phải là một công trình của một cá nhân, mà là của tập thể. Tòa soạn gây dựng nó và độc giả nuôi dưỡng nó. Nó là sản phẩm tinh thần của tất cả mọi người”. Nếu trong tương lai, ý niệm đó được toàn thể mọi người chấp nhận thì ước vọng của nhóm chủ trương thành lập tờ báo từ lúc khởi đầu đã được toại nguyện.

______________________________________________________________________
Xem tiếp KỲ V


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 85, ra ngày 15-4-1973)

Bìa của Vi Vi : Thảnh thơi

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2016

Một tuần lễ ở Tòa Soạn (III)



Thứ tư…

Thường thường ở tòa soạn, buổi sáng thứ tư là chị ĐPK bận rộn nhất. Bởi thứ tư là hạn cuối cùng chị phải hoàn tất 2 trang hộp thư ở mặt bìa trong. Nhiều khi anh em ấn công phải đứng chờ để giật ở tay chị ra từng tờ bản thảo viết tay bằng giấy pelure mầu hồng (chị ĐPK có thói quen viết bài trên pelure hồng dù là viết truyện hay trả lời thư). Trong tòa soạn, bản thảo của chị là trông “nổi” nhất, có thất lạc thì cũng dễ tìm kiếm. Chỉ có “bà” Mai Loan là ẩu nhất, bản thảo khi thì viết trên giấy học trò, khi thì trên giấy in ronéo, mà tờ nào tờ ấy chỉ vừa đúng bằng hộp quẹt, đúng y như câu hỏi của các em gửi về cũng trên mảnh giấy to bằng cỡ ấy (Luật lệ của chị Mai Loan mà). Những hôm có một mảnh bản thảo của chị Mai Loan bị lạc đi thì thôi, cả tòa soạn là náo loạn lên vì đi tìm. Thư của độc giả gửi về lúc gỡ ra để chật một bàn. Trong những núi bài vở đó, mà phải đi kiếm một mảnh bằng 3 ngón tay thì chỉ có nước xỉu. Đã thế bác Đinh Gô ở ngoài lại còn cất giọng châm chọc:

- Em ơi… bi giờ em ở đâu…

Tòa soạn đã bực lại còn mắc tức cười không ai là không nhăn.

Trong tòa soạn, chữ viết ẩu nhất là chữ của chú Bình Ê lết tô nít. Ôi chà, cứ trung bình 10 tiếng thì Bình ta viết tắt tới 6 tiếng. Đã thế lại còn viết tháu, khiến nhiều hôm phải ngồi nhìn lòi cả mắt ra mới đoán được ra một tiếng. Hình như Thượng Đế sinh ra, những người chữa bệnh đều có tật viết tháu. Bác sĩ thì chữa bệnh nhân còn Bình thì chữa ti vi, tủ lạnh cũng là đồng hội đồng thuyền với nhau cả.

Công việc trả lời thư hàng tuần tòa soạn khoán trắng cho chị ĐPK. Trung bình mỗi ngày có chừng 80 lá thư bay về tòa soạn. Trong 80 lá thì chừng 50 lá chỉ gửi bài, hay làm thẻ ; 30 lá còn lại thì ngoài bài vở ra còn kèm theo thư từ hỏi han, tâm sự. Như vậy trung bình số thư phải trả lời mỗi tuần là trên dưới 150 chiếc. Số lượng này không thể giải quyết trong vòng 2 trang bìa trong. Vì mỗi kỳ có vắn tắt lắm cũng chỉ trả lời được 4, 5 chục em. Vì thế mới có cái vụ trả lời trong khu Đại Đoàn kết ở cuối hộp thư như các em thường thấy. Chị ĐPK thường tỏ ra băn khoăn vì đã không đáp ứng được trọn vẹn lòng tin cậy hỏi han về đủ mọi vấn đề qua thư từ của các em. Nhân đây tôi cũng mong các em thông cảm cho chị về lý do bất khả kháng này.

Việc cắt thư, và sắp xếp phân loại bài vở cũng là một dịch vụ mất nhiều thì giờ. Khổ nhất là gặp phải những lá thư mà độc giả kỹ lưỡng quá. Nhiều em sau khi bỏ thư vào phong bì dán kín rồi, còn cẩn thận bấm lia 7, 8 cái kẹp vào đủ mọi chỗ. Báo hại, gỡ được 1 lá thư như vậy để khỏi rách ở bên trong cũng là cả một vấn đề khổ công. Còn việc đề bao thư ở bên ngoài thì khỏi nói, có nhiều bì thư thật tức cười. Có em chỉ ghi vỏn vẹn mấy hàng chữ “Thư về ĐỐ VUI HÀNG TUẦN” (chẳng địa chỉ, chẳng tên báo). Lại có em đề là : “Tham dự cuộc thi giải trí ngày Xuân” dán tem đàng hoàng rồi bỏ tót vào thùng thư bưu điện. Nhiều em khác ghi tên báo mà không ghi địa chỉ. Có em lại ghi địa chỉ của mình choán hết mặt phong bì, còn địa chỉ tòa soạn lại để có tí xíu ở một góc. Nhất là đối với các em xài loại phong bì có in tiếng Mỹ.

Loại phong bì này có 2 tiếng Phờ Rom (From)… và Tu (To)… chẳng hiểu lộn nghĩa thế nào mà cứ bên cạnh chữ From các em ghi địa chỉ tòa soạn, cạnh chữ To các em ghi tên và địa chỉ của mình. Chữ From thì ở góc, chữ To thì ở giữa phong bì, báo hại nhân viên bưu điện cứ phải mất công ngồi lấy bút nguyên tử đỏ đánh một mũi tên đỏ vào dưới địa chỉ tòa soạn để thư tới được nơi.

Mặc dầu những trường hợp như vậy xẩy ra rất nhiều, nhưng hầu như không một lá thư nào bị thất lạc. Bác đưa thư đã quá quen với con số 159 Thiệu Trị rồi. Chỉ hiềm là, vì quen quá, nên hễ cứ thấy số 159 là bác đùn thư vô tòa soạn, cho dù là 159 Thiệu Trị, hay 159 Minh Mạng, 159 Tự Đức...v.v… là những số nhà ở khu phố khác. Những ngày đầu, tòa soạn vô ý, cứ thư gửi về là cắt phăng phăng. Đến lúc mở thư ra đọc lại thấy là thư xỉ vả thiếu nợ, thư tìm bạn bốn phương, thư có lời mở đầu bay bướm như “Em yêu dấu”! Ôi chà, chừng đó mới tá hỏa ra rằng mình đã cắt thư của người khác. Rất may là tình trạng đó được tòa soạn ngăn chặn kịp thời bằng cách trước khi cắt phải xem kỹ địa chỉ. Những thư lạc vô thì để riêng ra, và hoàn lại cho Bưu tín Viên. Còn thư nào lỡ cắt ra rồi thì phải ngồi làm công việc giải phẫu, chắp vá lại và giao hoàn cho người nhận!

______________________________________________________________________
Xem tiếp KỲ IV


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 84, ra ngày 8-4-1973)

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2016

Một tuần lễ ở Tòa Soạn (II)


Bởi không chán sao được, khi ở một trường trước bán được 78 số, nay sụt xuống còn 2 số, ở một trường khác bán 42 số nay còn 4 số, và đặc biệt ở một trường lớn khác, sĩ số học sinh trên 10.000 mà liền 3 kỳ báo (73, 74+75, 76) mỗi kỳ gửi 150 số, đều không bán được lấy một số nào! Điều này khiến tôi chạnh nghĩ đến các em ở xa. Một tờ T.N về đến tỉnh đã lên giá tới 60đ (vì thêm tiền cước phí), có chỗ, nhiều em đã phải mua tới giá 70đ. Ấy vậy mà nhiều khi chậm chân, báo còn hết không có để mua nữa. Trước hiện tượng ấy, nhiều em viết thư về thắc mắc không tin là tờ báo đang ở đà suy sụp. Nhưng các em đã không biết rằng dù ở tỉnh xa, báo có chạy, nhà phát hành cũng chỉ gởi ra một số giới hạn (để khỏi còn báo ế trả lại đỡ tốn tiền cước phí chuyên chở). Nhà phát hành có thể tăng số lượng báo gửi đi xa, nhưng với điều kiện là các sạp báo ở tỉnh phải viết thư com-măng, hoặc chính độc giả ở tỉnh nhờ sạp báo com-măng hộ. Nhưng không có ai làm như thế cả. Tâm lý chung là “có thì mua, hết thì thôi”. Ai cũng nghĩ mình chỉ là thiểu số, rắc rối chi cho thêm phiền. Tình trạng ấy cứ thế kéo dài và hậu quả là ở tỉnh báo có thể thiếu, nhưng ở tòa soạn báo cũ trả về tới gần ba phần tư!
Bao nhiêu biện pháp cứu gỡ cho tờ báo đều đã được tòa soạn đem lên bàn mổ xẻ và cho thực hiện. Phương châm thực tế của luật thương mại là “hãy đem sản phẩm đến tận tay khách hàng” cũng đã được tòa soạn triệt để thi hành.

Quí vị Hiệu Trưởng, Quí vị Tổng Giám Thị, Quí vị Giáo Chức cũng đã mở rộng cửa để cho T.N tự do tràn ngập. Vấn đề cuối cùng chỉ còn là sự lựa chọn của người đọc. Nhưng độc giả phần đông vẫn còn thích chú Thoòng hơn. Hiện tượng chú Thoòng giảm xuống thì đa số lại đổ xô đi mua các loại truyện tranh can lại của ngoại quốc với bản dịch khác xa nguyên tác ở chỗ ngôn ngữ đối thoại nhảm nhí hơn, thô tục hơn, và đó là thị hiếu của độc giả. T.N như liều thuốc đắng. Truyện nhảm nhí như viên kẹo ngọt. Thuốc đắng dù có bọc đường cũng không thể bằng kẹo ngọt nếu không có sự tiếp tay của các phụ huynh.

Hẳn nhiên nội dung của T.N còn nhiều khiếm khuyết, nhưng anh chị em trong tòa soạn đã cố gắng thường xuyên duy trì chủ trương đã vạch sẵn. Tờ báo bớt khô khan hơn rất nhiều so với số đầu tiên. Và nó vẫn còn đang nỗ lực hơn nữa. Nỗ lực trong buồn chán và suy sụp tinh thần. Tôi có thể khóc được khi nghe Bác Văn Việt than lên:

- Tôi cố gắng hết mức rồi mà không giúp được gì hơn, thật đã muốn bỏ cuộc.

Trong hai tháng lăn xả vào với Thiếu Nhi, bác sụt gần 4 kí. Cuối cùng, kết quả là sự ngao ngán bất lực. Chúng tôi đã dựa vào bác để lấy niềm tin. Bây giờ, chính chúng tôi lại phải tiếp sức cho niềm tin của Bác. Nực cười thay. Tôi đã cố trấn tĩnh để cười to làm yên lòng bác:

- Còn nước còn tát. Lo gì mà lo. Hơn nữa Bác chủ nhiệm bao giờ cũng thiết tha với nhu cầu sách báo của tuổi thơ. Nhờ bác, mình còn có thể cựa quậy thêm một thời gian nữa. Ta sẽ vùng lên một lần cuối.

Và chúng tôi đang sửa soạn để vùng lên một lần cuối cùng. Chúng tôi sẽ tổ chức một thuyết trình đoàn tình nguyện đi khắp các trường để kêu gào về vấn đề “sách báo cho thiếu nhi”. Chúng tôi sẽ trực diện kêu gọi sự thức tỉnh của chính các em trước cơn xâm lăng nguy ngập của các sách báo nhàm nhí. Bạn bè ta, anh em ta, các bạn đồng lứa tuổi quanh ta đang bị đầu độc tinh thần bằng đủ loại văn nghệ phẩm.

Các truyện tranh với ngôn ngữ đối thoại nhảm nhí. Các Feuilleton nội dung thiếu lành mạnh rải rác trên các báo hàng ngày. Các phim Tầu tràn ngập coi mạng người bằng một giá rẻ mạt, coi nhân phẩm không bằng một con sâu, cái kiến, và trước mắt khán giả những pha giết người, phanh bụng, moi tim, bay đầu, dập phổi đã được khai thác tận tình. Thế hệ thiếu nhi này lớn lên trong môi trường vẩn đục ấy. Tâm hồn trong sáng của các em hẳn nhiên như một tờ giấy trắng bị hoen ố bởi biết bao nghịch cảnh diễn ra thường xuyên, hàng ngày. Đó là một mối nguy cơ, không ồn ào, không cụ thể, không có hậu quả trước mắt, nhưng sẽ gieo nguy hại lớn lao cho xã hội ngày mai. Trước chúng tôi, đã có nhiều tiếng chuông nhắc nhở gióng lên mạnh mẽ. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm công việc ấy, trước khi tiêu hết khả năng, vốn liếng của mình sau gần 2 năm trời hoạt động bằng tim óc, thì giờ và cả tiền bạc.

Trước đống bài ngổn ngang và những lá thư chứa bao tâm tình thương mến của độc giả trên toàn quốc, tôi chợt nghĩ đến ngày mai và những mơ ước của các bác, các cô chú trong tòa soạn đã dành cho tuổi thơ.

Rồi ngày mai sẽ ra sao với đà suy sụp này. Tôi không thể trả lời.

Thứ ba 27-2-1973.

Nhà in điện thoại lại, báo tin cho tòa soạn đến chở bìa báo. Ông Giám Đốc cười vang trong ống nói:

- Các anh nóng nẩy quá. Bìa đâu có hư. Lại coi thì biết.

Tôi mừng húm, xách xe chạy bổ xuống nhà in. À, thì ra vì yêu mên Thiếu Nhi nên nhà in đã cho sửa chữa kịp thời. Hai cái máy tự động được sử dụng suốt đêm để cho in thêm một mầu nữa. Mầu vàng. Các khuôn mặt trong hình như tươi thêm. Hai vành khăn của Hai Bà Trưng không còn mầu nâu bạc nhược như trước. Vẻ mặt của Hai Bà mất đi vẻ tím ngắt u sầu. Thế là loạt bìa kỳ này đã chạy tới 5 khuôn, cũng như loạt bìa số Xuân cũng phải chạy tới 5 lần (thêm 1 mầu đỏ tía để cứu vãn cái nền của số Tết).

Xin cám ơn ông Giám Đốc. Xin cám ơn anh em ấn công. Ít ra trong thời buổi khó khăn này, vẫn còn nhiều tấm lòng yêu mến Thiếu Nhi và không vụ lợi. Bìa báo bị trễ mất hơn một ngày, nhưng các bộ phận khác sẽ làm thêm giờ. Anh ấn công in Hộp Thư ở mặt trong lụi hụi với cái máy in cũ kỹ mãi tới gần giờ giới nghiêm mới xách xe đạp ra về. Đường vắng hoe chẳng biết anh có kịp về hỏi thăm con cái trước khi chúng nó lên giường đi ngủ. Trong gần hai năm làm việc ở tòa soạn, tất cả mọi người, mọi bộ phận đều có một niềm tự hào. Đó là báo không bao giờ bị ra trễ. Kỷ lục âm thầm ấy đã phải trả giá bằng biết bao cố gắng, tận tụy không tên tuổi. Âm thầm như vành bánh xe đạp của người ấn công trở về trên đường vắng.

______________________________________________________________________
Xem tiếp KỲ III


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 83, ra ngày 1-4-1973)

Bìa của Vi Vi : Chim có tổ

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

Một tuần lễ ở Tòa Soạn (I)


Chủ nhật…

Với tòa soạn Thiếu Nhi, tuần lễ bao giờ cũng khởi đầu bằng ngày chủ nhật. Bởi sáng chủ nhật là ngày mang báo đi chụp phim. Giao được 32 trang báo cho tuần nầy, lại phải bắt đầu khởi sự cho 32 trang báo tuần kế tiếp. Mọi cố gắng trong 7 ngày qua đã trở về con số không để rồi bắt đầu lại. Cứ thế tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, đều đặn như một guồng máy đã chuyển động liên tục trong gần 2 năm.

Hôm nay ở nhà in, ấn công vẫn làm việc. Ruột báo Thiếu Nhi số 79 đã in được một mặt mầu xanh. Cầm khuôn báo trên tay, sự bực bội bắt đầu nhen nhúm. Hai trang Tin Tin và Đặc Vụ than đá lại không có tiêu đề ở trên. Đành phải nhắc lần nữa với nhân viên có trách nhiệm làm phim trên bản kẽm. Nhắc và nhắc. Đó là chuyện thường xuyên của khách hàng. Nhà in có nhiều khách hàng, nhân viên phụ trách có nhiều việc. Không nhắc thì bị bỏ quên là lẽ đương nhiên. Nhưng cái bực bội này không thấm vào đâu với sự thất vọng sâu xa khi tôi cầm trên tay khuôn giấy in 4 trang bìa của T.N các số 79, 80, 81 và 82. Máy đang chạy đến khuôn mực đen cuối cùng. Tất cả mầu sắc đã hiện lên đầy đủ. Hàng ngàn tờ bìa đã in xong. Những tờ khác đang chuyển động ào ào lần cuối trên máy tự động. Cứ mỗi một giây đồng hồ trôi qua là 1 tờ bìa được nhả ra. Nó sẽ được gửi đi toàn quốc. Nhưng tất cả, từng tờ, từng tờ được nhả xuống đều xám ngoét như nhau, xấu xí như nhau, xấu đến độ tôi đứng chết lặng người đi mà không thốt lên được lời nào. Tôi nhớ lại hôm họa sĩ Vi Vi đem bản chính đến tòa soạn, mọi người đều xúm lại suýt soa. Nhất là hình bìa số 79 vẽ Nai và số 80 hình hai nữ sinh đóng vai Trưng Vương trong số kỷ niệm Hai Bà. Tôi không thấy cái vẻ rực rỡ ở bản chính hôm nào. Tất cả đều xám ngoét. Bản kẽm đã lên quá nhiều mầu xanh và thiếu mầu vàng. Hôm nay chủ nhật rồi. Thứ hai phải cho lên máy xén để xả khuôn bìa làm 4 mảnh. Thứ ba phải chở bìa đi để cho in hộp thư ở mặt trong. Thứ tư phải đem lại chỗ thợ đóng để ráp ruột vào và cắt xén. Thứ năm phải có báo để đem đi nạp bản. Sáng sớm thứ sáu nhà phát hành đã cho xe lại chở đi như thường lệ. Làm gì có thì giờ để sửa chữa. Thế là bao nhiêu hy vọng đem lại cho độc giả một loạt bìa đẹp đã tiêu tan. Báo đang ở giai đoạn cần lôi cuốn độc giả bằng cả nội dung lẫn hình thức. Kinh nghiệm đã cho thấy lần nào bìa xấu, độc giả sụt đi rõ rệt. Có những độc giả chỉ mua báo vì mỗi một cái bìa! Ông chủ nhà in, vì là ngày chủ nhật, không có mặt. Đành buồn bã ra về lòng ngổn ngang đủ thứ thắc mắc, buồn bực. Đến buổi trưa, điện thoại trở lại cho nhà in, tôi không giấu được sự to tiếng. Rõ ràng là tôi tự thấy mình đang nổi cơn giận dữ. Sự giận dữ chắc chắn sẽ lôi kéo tới những phút áy náy và ân hận. Nhưng lời cuối cùng trong điện thoại, dẫu thế nào thì cũng phải ôn tồn hơn:

- Xin so giùm bản in với bản chính. Xin làm phim kỹ giùm. Xin in cho loại mực đắt tiền hơn. Xin trông nom giùm kỹ lưỡng hơn. Xin cho thợ chuyên nghiệp hơn chạy máy.

Xin, xin và xin. Thà như thế còn hy vọng được tốt đẹp hơn ở loạt bìa tới!

Khi ở nhà in ra, tôi trở về tòa soạn. Hôm nay là ngày chủ nhật. Xe cộ tràn ngập ngoài cổng lấn ra cả đường đi. Trong phòng họp, tiếng ca hát và cười đùa ồn ào như chợ vỡ. Tôi hình dung ra khuôn mặt đầm đìa mồ hôi của những Trịnh Việt Thảo, Lê Tuyên quang, Uyên Thụy Phương… và của tất cả mọi người. Căn phòng hẳn đang mờ mịt những hơi người. Bụi hẳn bay túa lên từng đợt vì những cái dậm chân thình thịch theo nhịp hát. Ở ngoài sân, nhiều em khác còn đứng vòng trong vòng ngoài trước mặt bàn đầy ngập thẻ mượn sách. Đã từ lâu, tôi không tham dự vào đám đông ồn ào này. Một phần vì sức khỏe, tôi không thể chịu đựng cái nóng và cái ngộp của đám đông được lấy quá 15 phút. Một phần khác, tôi rất ngại phải trả lời những câu hỏi “Bài của cháu bao giờ đăng?” “Bài của cháu tại sao không đăng?” “Nếu không đăng, xin chú cho biết khuyết điểm để lần sau sẽ sửa chữa.” – Tôi không thể trả lời được câu hỏi nào thỏa đáng, bởi muốn được thỏa đáng phải nói chuyện hàng giờ cho mỗi trường hợp, trong khi số bài không được lựa đăng tính từ đầu đến nay, hẳn cũng đã tới  cả ngàn bài. Như thế chỉ còn một cách là rút êm vào hậu trường. Đó là một căn phòng hẹp ở đằng sau. Những buổi tối, anh chị em trong tòa soạn thường hội họp ở đó để sửa soạn cho tờ báo trong tuần kế tiếp.

Gặp bác Văn Việt ở tòa soạn. Tinh thần của bác suy sụp kinh khủng khi đề cập đến việc bán báo ở các trường. Hồi T.N ra số 62, tòa soạn đã tính rút xuống bán nguyệt san thì bác nhẩy ra nhận việc phổ biến báo ở các trường. Mọi người coi bác như một “Cứu tinh dân tộc”. Tất cả những đề nghị của bác trong dự án “cứu nguy cho tờ báo” đều được chấp nhận hết. Tôi đã thảo và cho in 10.000 lá thư gửi quí vị phụ huynh. Mỗi lá thư kèm vào 1 tờ báo biếu. Chiến dịch biếu báo được tất cả mọi người trong tòa soạn, kể cả các em trong Ban ĐH Trung Ương xúm lại phụ giúp : ghép thư, dán băng giấy, đóng dấu và đề tên. Mỗi tuần, 2.000 số báo được gửi đi các trường. Mỗi tuần, các toán nhỏ trong tòa soạn tìm tới tận nơi hội họp của các Hội đoàn ở sở Thú, ở Vườn Tao Đàn, ở các Cư Xá, biếu báo và giới thiệu báo. Đi đến đâu T.N cũng được tiếp đón nồng nhiệt. Niềm hy vọng dâng lên tràn ngập. Nỗi đe dọa phải xuống bán nguyệt san từ từ tiêu tán. Sau 4 tuần lễ phát động chiến dịch cổ động T.N ở các trường, kể từ số 72, bắt đầu T.N được bầy bán ở văn phòng các trường học. Mọi người  hồi hộp chờ đợi kết quả, mong chẳng phụ công các bác Văn Trung, Đặng Hoàng, Huy Yên và nhất là bác Văn Việt, thân già còm cõi ngày nào cũng đi sớm (trước giờ sở làm việc) và buổi trưa (giờ tan sở) đội nắng lếch thếch để đem gửi báo tới các trường (40 trường). Bốn mươi trường học, báo được gửi bán ở ngay văn phòng giá từ 40 đến 50đ (tùy theo nhà trường có lấy tiền hoa hồng hay không). Nhưng số bán không lên được bao nhiêu (độc giả còn dè dặt chăng?) và cho đến số 77 thì nhiều trường bắt đầu từ chối không nhận bán cho nữa. Lý do : bán không được, sợ để hoài sẽ phụ lòng trông mong của tòa soạn. Cho đến bây giờ thì người hăng hái và tận tụy nhất tòa soạn là bác Văn Việt cũng bắt đầu thấy chán nản.

____________________________________________________________________
Xem tiếp KỲ II


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 82, ra ngày 25-3-1973)

Bìa của Vi Vi : Ngày về

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2016

Ảo Ảnh Một Nhà Sư


Trong một tiểu quán gần thành phố Nagoya có một nhà sư đang ngồi lẩm bẩm cầu kinh.  

- “Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Đức Phật thiêng liêng! Đệ tử xin dâng lên Người lời tôn kính!”

Đó là một nhà sư đi quyên giáo, nhưng lúc ấy chưa có ai để ý đến sự hiện diện của nhà tu hành này.

Nhà sư vóc người nhỏ bé, đầu trọc, khuôn mặt vàng võ, gầy gò nhưng vui tươi, thể hiện đầy vẻ từ bi bác ái.

Cũng trong tửu quán, lúc đó có một võ sĩ thất nghiệp, chàng ta đi lang thang khắp nước để kiếm việc làm. Đời chàng ví như một lãng tử giang hồ, phiêu bạt, không có định hướng nơi đâu. Chàng võ sĩ này tuổi độ tứ tuần, dáng người to lớn, khuôn mặt xương xương, nước da đem sạm và nhăn nheo, tính tình thì khô khan và nóng nẩy; chứng tỏ vì sự nghèo nàn và cuộc sống khổ sở hằng ngày vật lộn mà sinh ra.

Chàng ta đến quán này để nghỉ chân và ăn uống. Vì chờ lâu sốt ruột, chàng vỗ tay gọi hầu bàn. Anh bếp ở nhà dưới trả lời vọng lên, rồi vội vã lấy thức ăn mang lên, nhưng hắn lại đứng ngần ngừ ở cửa, vì không biết nên mang món ăn đến bàn người nào trước.

Nhà sư mau miệng nói:

- Hãy mang cho nhà chiến sĩ đã, vì ông ấy đến trước tôi, và có lẽ có việc cần hơn tôi.

Chàng võ sĩ vội lễ phép nói:

- Không, hãy mang cho vị tu sĩ trước. Người là ông Thánh sống đáng được tôn trọng hơn kẻ võ sĩ giang hồ này.

Cả hai cùng nhún nhường, rồi cùng đứng dậy chào nhau một cách rất cung kính.

Hai người vừa ăn cơm với măng tre, vừa nói chuyện với nhau rất là thân mật, vui vẻ. Chàng võ sĩ cho nhà sư biết tên mình là Tajima Shume. Họ đã cho nhau biết là cả hai cùng đi Kyoto theo đường Tokaido, con đường rất đẹp, trên bờ biển phía đông. Tuy mỗi người ở một nơi đến, lại trở thành đôi bạn đồng hành trên con đường thiên lý, nên họ cùng nhau kết bạn cho khỏi đơn độc trên đường trường.

Họ không phải bận rộn về hành lý. Chàng võ sĩ chỉ có vài bộ y phục với đôi kiếm. Nhà sư thì chỉ có một khăn gói đeo trên vai, trong đựng mấy bộ quần áo cũ và một cái khăn tay nhỏ buộc túm bốn góc.

Họ vui vẻ bàn luận với nhau về những cảm hứng ở dọc đường.

Đức độ của nhà sư đã giúp cho ông ta dễ dàng thưởng thức cảnh vật ở hai bên đường. Ông ta đã tự quên mình để cảm hóa với vạn vật.

Về phần Tajima Shume, vì có một kinh nghiệm riêng, hiểu rộng về trường đời; nên những câu chuyện của chàng có một giá trị về khía cạnh khác.

Mỗi người đều lấy làm may mắn vì đã gặp một bạn đường đáng mến.

* 

Hai hôm sau khi hai người quen nhau, Tajima Shume bắt đầu kể cho nhà sư biết dĩ vãng của chàng, những cá tính của các sứ quân mà chàng đã theo giúp, những thành tích chiến đấu của chính chàng hay của các bạn đồng đội trong những cuộc tranh chiến.

Nhà sư không bình phẩm gì về những câu chuyện chiến thắng hay chiến bại, luôn cả những chuyện sát nhân trong khi anh ta tận tụy hy sinh để phục vụ cho chúa. Ông biết rằng: theo thuyết nhà Phật ông không có quyền sát sinh hoặc làm đau khổ bất cứ một giống gì. Nhưng ông không có quyền đòi hỏi thuyết ấy ở mọi người. Mỗi người đều theo một định mệnh nên họ có quyền làm theo sở thích riêng. Sau khi chết, mỗi người đều tái sinh làm kiếp người hay súc vật. Mỗi người phải sống nhiều kiếp luân hồi. Nhưng tất cả sẽ cải thiện dần cho lên đến cõi Nát Bàn, nơi đó con người đã biến hết mọi tính ích kỷ. Tất cả mọi người, sinh vật một ngày kia sẽ hoàn toàn như Phật. Cho đến cả những vật vô tri, những hạt bụi, hạt cát cũng có ngày có thể trở thành Phật…

Biết vậy, nên nhà sư cứ chốc chốc lại niệm câu kinh “Nam mô a di đà Phật”! Đôi khi nhà sư cũng giãi bày một vài tư tưởng của ông, một vài lời khuyên răn của đạo Phật và kể cho Tajima Shume nghe vài ba câu chuyện của nhà Phật. Thí dụ: Chuyện một hoàng tử Ấn Độ bị một bà hoàng hậu dâm ô, gian ác, một hôm dùng quyền lực khoét mắt hoàng tử, vậy mà ông hoàng này vẫn tha thứ, không tỏ chút oán hận con người tàn ác. Bởi vì Phật đã dạy: “Nếu hận thù trả bằng hận thù, thì không biết bao giờ cho hết”.

Mấy ngày qua, kể từ khi hai người gặp nhau. Đôi bạn đồng hành trở nên thân thiết hơn. Nhà sư thấy không cần giữ kín nữa, ông bình thản và thân mật nói với Tajima Shume rằng:

- Ông thử đoán xem, cái gói này đựng cái gì mà không bao giờ tôi dám dời nó khỏi người?

- Tôi không biết! Chẳng hay cái đó có quý không?

- Quý lắm chứ.

- Chắc là một tràng hạt mà Thầy đã quyên được ở một ngôi chùa nào chứ gì?

- Không phải.

- Chắc là một quyển kinh có những câu kinh mà Thầy thường kể cho tôi nghe chứ gì?

- Cũng không phải.

Chàng võ sĩ định nói thêm: Đó là cái răng của Phật. Nhưng lại không dám nói đùa thế, sợ nhà sư giận, nên đành chịu.

Bấy giờ nhà sư mới nói rằng:

- Trong cái khăn tay xấu xí này có hai trăm lạng bạc.

Chàng võ sĩ phá lên cười:

- Thầy nói dóc làm gì thế! Nếu thật Thầy có số tiền lớn như vậy đã không vừa đi vừa khất thực, vừa quyên giáo ở dọc đường. Thầy có thể mặc những cái áo đẹp hơn. Và ban đêm chúng ta thay vì nghỉ chân ở những quán trọ tồi tàn nhất thì Thầy đã mời tôi ăn, ngủ tại một khách sạn sang trọng rồi.




Nhà sư càng cười ngất:

- Không, tôi không nói giỡn đâu. Tôi có mang theo hai trăm lạng bạc thật đấy. Nhưng không phải để dành cho chính tôi. Ông có muốn biết sự thật không? Bây giờ chúng ta đã trở thành đôi bạn thân rồi, tôi sẽ nói cho ông nghe mục đích của tôi: Ít ngày nữa tôi sẽ tới đền Ikegami ở Omori. Có lẽ ông cũng biết nơi danh lam ấy?

Tajima Shume gật đầu, sẽ đáp:

- Tôi có biết.

Nhà sư nói tiếp:

- Không nơi nào cảnh vật đẹp bằng nơi đó. Tiết trời êm ả. Tâm hồn tôi khi đến nơi đó thấy thư thái huyền diệu. Bỗng chốc tiếng chuông từ đền Ikegami ngân vang, báo hiệu cho các thiện nam, tín nữ làm lễ cầu kinh. Tôi cảm thấy hơn bao giờ hết, biết ơn đối với Phật. Tôi tự hứa là sẽ đem trọn đời tôi dâng cho Đức Phật. Tôi sẽ dâng Đức Phật một pho tượng bằng đồng. Bao nhiêu năm qua, tôi đi quyên gần khắp nước mong gom góp lấy một số tiền để đúc pho tượng đó. Số tiền đúc tượng hiện đã đủ. Bây giờ tôi đến Kyoto tìm một người thợ đúc để thực hiện ước vọng của tôi.

Cặp mắt đang đăm chiêu của nhà sư khi nói đến câu đó, bỗng vụt sáng lên vì sung sướng. Hình như ông tưởng tượng ngay thấy pho tượng Phật mà ông sắp thực hiện: “Đức Phật ngồi trên tòa sen, chân xếp bằng, tay phải giơ lên ngang vai, lòng bàn tay hướng ra phía trước để ban phúc cho chúng sinh. Trán cao rộng, miệng nở nụ cười tươi, càng biểu hiện ở Đức Phật vẻ dịu hiền, từ bi, bác ái”.

Nhà sư nói tiếp:

- Bây giờ ông đã hiểu tại sao tôi lại giữ cái gói này cẩn thận như thế.

Rồi nhà sư pha trò bằng một câu ngạn ngữ:

- “Người nào mang một kho vàng là mang một tai họa”.

Nhưng nhà sư lại nói thêm để tỏ sự thân mật với bạn đồng hành:

- Đi cùng với một võ sĩ hiên ngang như ông, tôi sẽ không còn lo sợ gì nữa.

Tajima Shume nghiêng mình rất lễ phép. Nhưng cử chỉ này không trả lời đúng với lòng tin cậy của nhà sư. Bỗng nhiên chàng ta có vẻ thay đổi. Chàng đi bước dài, mặt cau lại, ba vệt răn nổi trên trán. Chàng suy nghĩ miên man: “Mình đã luôn luôn hy sinh tính mạng vì chủ, mình đã trung thành hơn ai hết và cũng đã can đảm nhất trong số những chiến sĩ như mình; trong cuộc đời luân lạc của mình đã bao phen giúp đỡ kẻ yếu cũng như kẻ mạnh, rút cục không bao giờ có được số tiền bằng một phần mười số tiền mà ông sư gàn kia có để đúc một pho tượng kỳ quái. Kể đã bao lần đổi chủ, và bây giờ lại sống cảnh thất nghiệp, đang ở thời kỳ nghèo khổ nhất, đáng buồn hơn nữa, mình lại già bốn mươi tuổi rồi! (Thời ấy ở Nhật coi như bắt đầu về già).

Nghĩ vậy chàng thở dài và tự nhủ: “Ta hiện nay đang ở thời kỳ vô chủ, và cũng không chắc có tìm được một chủ mới nào đáng kính, đáng phục cho mẩu đời còn lại của ta… Số tiền mang theo của nhà sư gàn này sẽ giúp ta được một việc lớn. Nhưng ông ta không có ý định giúp mình, và nếu cái ý nghĩ đó đến ông ta cũng sẽ xua đuổi đi một cách ghê tởm. Ông ta sẽ thấy nó trái với lời nguyện, vì không bao giờ ông ta có ý định dùng một phần nhỏ số tiền đó để làm việc khác ngoài pho tượng”.

Sự ghen tức đã bắt đầu làm bận rộn trong lòng Tajima Shume.

Đôi khi, chàng cầu mong cho nhà sư đánh mất hay bỏ quên khăn gói đó, để chàng có dịp chiếm lấy và chuồn đi với số bạc quí kia.

Có lần, lòng ham muốn rất mạnh đối với chàng. Sau hết chàng nghĩ: “Cuộc đời chỉ là một chuỗi ngày phiêu lưu tốt hay xấu; người ta phải biết nắm lấy cơ hội khi nó tới và đôi khi phải tạo ra hoàn cảnh để nắm lấy cơ hội…”

Lúc đầu Tajima Shume đã định gạt bỏ những tư tưởng phạm tội đó. Nhưng sau, lòng ham muốn cứ mỗi lúc một hơn lên, trong tư tưởng của chàng luôn luôn nghĩ đến chuyện chiếm đoạt số bạc của nhà sư mà không bị trả thù cũng như không bị trừng phạt. Chàng nghĩ mãi mà chưa ra kế.

Trong khi đó, nhà sư chất phác nào có biết đâu sự thay lòng đổi dạ của chàng võ sĩ gian manh mà ông ta đã coi là người bạn đường đáng mến.

Khi hai người đến Kuana, đường đi phải qua một cửa bể bằng thuyền buồm. Người lái đò đợi chừng 30 hành khách cùng qua một chuyến mới chịu chở.

Khi lên thuyền, nhà sư bị bước hụt một cẳng, suýt ngã xuống nước. Tajima Shume chợt nghĩ ra ngay một kế để hại nhà sư. Sự ham muốn chiếm đoạt số bạc thúc đẩy quá mạnh đến nỗi chàng ta không kìm hãm nổi nữa.

Vì thuyền rộng, còn phải chờ thêm khách, nên hai người ra ngồi phía cuối thuyền, hơi xa chỗ mọi người, khăn gói có đựng gói bạc của nhà sư để ở giữa. Khi thuyền đủ khách, đã ra xa bờ, Tajima Shume chỉ một con cá đẹp cho nhà sư coi, sự tò mò đã làm cho ông ta cúi xuống nhìn. Được dịp, Tajima Shume đẩy mạnh làm cho nhà sư mất thăng bằng lộn nhào xuống biển. Chàng đợi một chút rồi mới kêu:

- Dừng lại! Dừng lại! Người đi cùng với tôi vừa ngã xuống biển.

Lúc ấy, gió đang thổi mạnh, buồm căng phồng, thuyền lướt sóng vun vút như tên, khi ngừng lại được thì nhà sư đã mất dạng.

Tajima Shume khóc sướt mướt:

- Trời ơi! Nhà sư xấu số đó là anh họ tôi. Ông ta đi Kyoto để đến chỗ hội đạo của ông. Tôi cùng đi, bây giờ thành đơn độc, khổ thay. Bây giờ ông ấy chết đuối rồi, biết làm thế nào?

Những khách sang ngang khác đều thở dài, cũng tỏ lời buồn với chàng võ sĩ.

Để mọi người khỏi nghi ngờ, trước khi thuyền tới bờ, chàng ta bàn với mọi người rằng:

- Lẽ ra chúng ta phải khai tai nạn xảy ra với nhà cầm quyền tại đây, nhưng biết bao sự phiền phức lúc họ điều tra, và sẽ có sự chậm trễ đến với chúng ta! Tôi lại có việc vội… Biết đâu, lỡ ra người ta lại buộc tội ông chủ thuyền không cẩn thận thì oan uổng cho ông ấy lắm. Hay là chúng ta cùng im thì hơn, và tôi sẽ khai báo với chính quyền địa phương mà anh họ tôi ở, khi tôi tới Kyoto.

Chủ thuyền và các hành khách đều nhận thấy cách giải quyết ấy rất thuận lợi, tránh được mọi sự rắc rối cho mọi người, nên đều đồng ý không báo cáo với ai về tai nạn vừa xẩy ra, mặc cho Tajima Shume sẽ trình báo sau thế nào tùy ý.

Sau khi thuyền cập bến, Tajima Shume lên bờ, đem theo cả cái khăn gói của nhà sư có gói bạc quý ở trong mà chàng ao ước từ mấy ngày qua.

Buổi chiều hôm đó, ở nhà trọ, khi không có ai, Tajima Shume mới mở cái khăn gói ra, quả nhà sư nói không sai, thực có hai trăm lạng bạc ở trong.

Bây giờ số tiền này là của chàng, nó thuộc về chàng rồi, nó sẽ đem đến sự giàu sang cho chàng.

Tajima Shume nghĩ rằng: “Bây giờ ta chỉ cần làm lời số vốn này cũng đủ trở nên giàu sang một cách chắc chắn”.

Chàng vội vã đến Kyoto, đổi tên họ và từ giã cuộc đời “lang bạt kỳ hồ” mà trở thành một thương gia.

Tại Kyoto, Tajima đã trở thành ông Tokubei, một doanh thương về lúa gạo. Để kỷ niệm quãng đời giang hồ, Tokubei lấy vải tốt gói cẩn thận đôi kiếm trận trước kia và cất vào tủ kín.

Nhà doanh thương Tokubei hết sức khôn khéo kinh doanh nên càng ngày càng phát tài. Rồi ông lấy vợ và năm sau sinh được một con trai. Hạnh phúc đã hoàn toàn mỹ mãn với ông.

Tuy nhiên, một đôi khi nghĩ lại, ông thấy hối hận. Ông nghĩ lại rằng, mình có được địa vị giàu sang ngày nay là nhờ ở một tội lỗi đê hèn nhất. Muốn xua đuổi kỷ niệm xấu xa đó, muốn trấn áp sự hối hận đó, ông càng lao đầu vào công việc hàng ngày. Sự nhanh nhẹn vô bờ, cùng sự phồn thịnh về kinh doanh đã giúp ông quên đi.

Ba năm qua, từ khi lập nghiệp tại Kyoto, Tokubei đã trở nên một đại phú. Ông thấy cần phải nghỉ ngơi, bèn mua một ngôi biệt thự đồ sộ, xung quanh có vườn đẹp, có nhiều hạnh đào đầy hoa nở và điểm thêm một vài cây thông.

Cũng ngày mà Tokubei đến ở ngôi nhà mới, ông không thể nào không nghĩ đến tội ác xưa kia là đầu mối cho sự giàu sang ngày nay. Ông thường nhắc tới câu châm ngôn: “Sự nghèo nàn là lời khuyên xấu”. Rồi ông tự nghĩ: “Đáng trách cho số phận mình, sinh ra bị nghèo khổ! Chính định mạng đã thúc đẩy ta làm điều gian ác giết người.”

Nhưng dù lúc nào cũng nhắc tới lời trần tình đó, tâm hồn ông vẫn không được yên tĩnh. Ông cảm thấy và biết rằng khi ấy ông cố chống cự lại với lòng ham muốn thì hơn. Ông nhớ lại tình bạn và sự tin cậy mà nhà sư đã tin ở ông, kỷ niệm đó càng làm ông hối hận hơn lên.

Đêm hôm sau khi đến ở ngôi nhà mới, ông đi dạo chơi trong huê viên, dưới ánh trăng trong êm dịu đang tỏa khắp khu vườn. Bỗng như có điện lực, mắt ông như dán vào một cây thông. Một sự lạ lùng đã xảy ra? Một bóng người như ẩn, như hiện lẫn trong thân cây, cành cây. Phải rồi, một hình người mỗi lúc một rõ hơn. Ồ! Hình như có cái đầu cạo trọc, hai má gầy gò, lõm và răn; một thân hình ốm yếu mang cái đầu đó. Người ta có thể bảo, đó là một người chết gượng đứng dậy. Mặt tái nhợt, mắt sâu lõm xuống, người chết đó có lẽ là bị chết đuối… Nhưng hình như tử thi đó cử động? Hình như nó cười…?

Tokubei hoảng sợ! Vô cùng hoảng sợ! Có lẽ nhà sư hay oan hồn của nhà sư.

Cái bóng ma tiến tới, tiến tới phía Tokubei, sự sợ hãi làm cho ông ta như bị chôn chân tại chỗ.

Bóng ma lớn dần và lớn mãi, những cánh tay khẳng khiu không có thịt ôm lấy chàng võ sĩ quen thuộc trước kia và cúi xuống nhìn một cách buồn thảm.

Trước cảnh ngộ ghê rợn đó, dù là chiến sĩ đi nữa cũng đến chết khiếp đi vì sợ hãi.

Nhưng, sự nguy hiểm đã đánh thức lòng can đảm trước kia của Tokubei. Ông ta chợt hồi tưởng thời mình còn là chiến sĩ đã từng hạ sát biết bao nhiêu người, nay chỉ có một cái bóng ma, sá gì mà sợ. Ông ta vùng thoát khỏi tay con ma, rồi chạy vào nhà lấy đôi kiếm trận trước kia ra chém lia lịa vào cái bóng ma. Rồi ông chặt đứt nó ra từng mảnh. Cái bóng ma tan đi như sương mù gặp ánh mặt trời. Nhưng lạ chưa, nó lại hợp vào thành nguyên hình trước, rồi lại bắt đầu bao vây kẻ thù của nó bằng đôi cánh tay khẳng khiu và dài nghệu. Một nhát kiếm hạ xuống thật mạnh, Tokubei chém rụng được cái đầu con ma, nhưng rồi cái đầu đó lại tự dính mình. Rồi nó lại tiếp tục tấn công…

Suốt đêm trường chiến đấu, mãi đến sáng cái bóng ma mới biến đi.

Hôm sau, hôm sau nữa, vẫn cái hồn oan nhà sư đó xuất hiện từ cây thông ra. Cuộc chiến đấu lại bắt đầu, mà Tokubei thì rất mệt mỏi.

Ông bèn cho chặt cây thông có bóng ma xuất hiện. Nhưng đến đêm, cái bóng ma lại hiện ra ở một cây khác.

Chàng võ sĩ gian manh năm xưa đã phải sống những đêm trường sợ hãi.

Ông ta định buổi tối sẽ chỉ ở trong nhà, không ra huê viên nữa, và cũng không ra khỏi phòng ngủ.

Phương pháp này cũng vô hiệu. Cái bóng ma lại hiện ngay phòng và xông đến bắt Tokubei.

Chàng võ sĩ càng sợ hãi, rồi ốm nằm liệt giường, mình đắp một tấm chăn. Đôi khi ông hoảng hốt sợ hãi và trùm chăn kín cả đầu. Người ta thấy ông rên rỉ: “Khổ thay! Khổ thay! Ông sư! Ông sư! Tội lỗi và hình phạt! Tội lỗi và hình phạt!”

Vợ nhà đại doanh thương cho mời các danh y đến chạy chữa. Các danh y đều thấy Tokubei nói toàn chuyện mê sảng, cho đơn uống thuốc thảy đều vô hiệu.

Tất cả khu đó đều đồn đại về nhà phú thương Tokubei bị một bệnh lạ mà các bậc danh y đều thúc thủ.

Ở khu đó có một vị Hòa thượng nổi tiếng tài cao và giàu lòng từ bi bác ái. Nhiều người thường đến hỏi ông về những vấn đề khó giải quyết.

Một hôm, trong số đầy tớ gái của Tokubei có người đến kể cho vị Hòa thượng này nghe câu chuyện bất thường xẩy ra tại nhà đại doanh thương.

Vị Hòa thượng hết sức chú ý đến câu chuyện đau thương kỳ quái này, và hỏi thêm nhiều chi tiết khác về bệnh tình của chủ nhân cô gái. Rồi Hòa thượng nói:

- Chị về hỏi bà chủ chị xem, bà ấy có muốn sau khi đã mời biết bao nhiêu danh y tới chữa bệnh cho ông chủ vẫn vô hiệu, nay có bằng lòng nhận sự giúp đỡ của một nhà sư nghèo không? Thuốc không có kết quả, biết đâu những lời cầu xin lại có kết quả hơn chăng?

Cô gái về thưa lại với bà chủ về những lời nói của vị sư già.

Vợ Tokubei nghe nói cả mừng. Bà ta bèn cho người đến mời vị Hòa thượng đến nhà, kể cho vị Hòa thượng nghe tất cả những sự xẩy ra làm cho chồng bà sinh rối trí, thụ bệnh, khiến cho cả gia đình bà lo sợ và đau khổ. Rồi bà dẫn vị Hòa thượng vào phòng chồng bà để thăm bệnh.

Lạ thay! Lúc vị Hòa thượng bước vào phòng, một sự kinh hãi hơn bao giờ hết làm rung chuyển toàn thân Tokubei. Ông ta kêu lên:

- Nó kia kìa! Ông sư kia kìa! Ông sư kia kìa! Trời ơi! Chưa bao giờ tôi lại trông thấy rõ như thế… chưa bao giờ, từ ngày mà… ông ấy đến hành hạ tôi. Hãy giữ ông ấy lại! Cứu tôi với! Cứu tôi với!

Run lên vì sợ hãi, hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập, Tokubei kêu cứu rồi, kéo chăn trùm kín mặt.

Nhà sư bảo mọi người ra khỏi phòng, chỉ để một mình ông ở lại với bệnh nhân. Rồi ông lại gần giường và sẽ nói với Tokubei rằng:

- Phải rồi, chính tôi đây! Tôi là nhà sư mà ông đã xô xuống biển gần Kuana khoảng ba năm trước đây.

Tokubei lại càng run lên, chân tay lẩy bẩy như người lên cơn sốt nặng. Chưa bao giờ cái hồn mà lại nói với ông. Chắc một hình phạt trả thù sắp diễn ra?

Nhà sư tiên đoán ý nghĩ của Tokubei nên nói:

- Tôi không phải là oan hồn đâu. Tôi là một nguồn sống. Tôi nhắc lại cho ông hay, tôi là nhà sư đã đi cùng với ông cách đây ba năm ở Tokaido. Chính tôi vì ông mà suýt bị chết đuối, hay nói đúng hơn là ông định làm tôi chết đuối. May sao, từ nhỏ tôi biết bơi, biết lặn. Khi bị đẩy xuống nước, tôi đã lặn và bơi được vào bờ. Tôi đã đi tìm ông để xin lại số tiền của tôi, số tiền dự định đúc tượng Phật đó, nhưng tôi không tìm thấy ông đâu.

Từ bấy giờ, tôi lại một lần nữa đi quyên giáo. Tôi đã quyên được đủ số tiền và đúc pho tượng Phật bằng đồng theo ý muốn rồi. Nay, một sự tình cờ đã dẫn tôi đến khu phố này. Chính vì thế mà tôi được nghe tin ông bị bệnh mà tôi đã đoán ra nguyên nhân. Tôi nghĩ rằng, thực tôi không lầm. Ông đã làm một tội ác ghê tởm. Nhưng tôi là một nhà tu hành, tôi phải tha thứ cho ông. Phật đã dạy rằng: “Thù oán nếu trả bằng thù oán thì không bao giờ hết được oán thù”. Sự thù oán phải hết, và chỉ có sự tha thứ mới làm hết được oán thù mà thôi. Tôi không làm gì ông đâu. Ông yên trí, nhìn tôi đây.

Tokubei nghe nói đỡ sợ, mở chăn nhìn nạn nhân của mình trước và thấy ông ta đang cười với mình. Sự khoan dung của nhà sư làm cho Tokubei quá cảm động sinh ra bối rối và khóc nức nở. Biết nhà sư quả không có ý định trả thù, Tokubei cố nén lòng, gạt nước mắt rồi lắp bắp tỏ lời biết ơn và hối hận:

- Xin tha thứ cho tôi!... Như Người đã nói… Đó chỉ là trong lúc loạn óc, tôi đã đẩy Người xuống nước để ăn cướp số bạc cũa Người. Tôi đã rất khổ sở từ bấy đến giờ…

Nhà sư đáp:

- Được, ông đừng lo. Người ta sinh ra ở đời với một tấm lòng trong sạch, nhưng trường đời đã làm cho nó hư hỏng. Sự nghèo nàn là lời khuyên xấu: nó lôi cuốn kẻ nghèo khổ làm những tội lỗi mà họ phải hối hận về sau, khi đã được sung sướng…

- Ồ! Tôi rất hối hận. Sự hối hận đã giày vò tôi, càng ngày càng nhiều. Bây giờ tôi đã hiểu, một đêm tôi tưởng như nhìn thấy bóng ma của Người. Từ đêm đó tâm hồn tôi lúc nào cũng rối loạn.

- Lương tâm của kẻ tội lỗi sinh ra ma quỷ cắn rứt trí não của kẻ đó… Vì vậy kẻ có tội sinh ra run sợ dù chỉ nghe thấy tiếng động của lá cây.

- Người hãy cho phép tôi được tỏ lòng hối hận bằng cách trả lại cho Người số tiền mà tôi đã cướp của Người.

- Không, không, tôi không cần đến số tiền đó nữa. Tôi đã đúc được tượng Phật bằng đồng rồi!

- Tôi lạy Người… Người không nhận số tiền tôi hoàn lại, khiến tôi có cảm tưởng như Người chưa hẳn tha thứ cho tôi… Hay là Người dùng số tiền đó để bố thí vậy.

- Được rồi, nếu bố thí cho người nghèo thì tôi nhận… Và bây giờ, tôi xin phép ra về. Nếu ông muốn cho tôi vui lòng nhận thì từ giờ về sau ông nên ăn ở cho có nhân đức. Nên khoan dung những lỗi lầm của kẻ khác, và đối xử quảng đại với những người nghèo. Thôi! Xin từ giã ông!

* 

Nhà phú thương Tokubei, từ bữa gặp nhà sư, tâm hồn được thanh thản, sức khỏe được phục hồi. Từ ngày đó, ông ta trở nên một người nhân đức, rất giàu lòng bác ái. Không một ai ủng hộ cho những nhà sư đi quyên giáo nhiều bằng ông.

Thỉnh thoảng người ta nghe thấy ông cầu nguyện: “Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật!”.


QUỐC CHÍNH        
(trong Truyện cổ Nhật Bản)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 89, ra ngày 13-5-1973)



Bìa của Vi Vi : BẠCH LIÊN (Sen Trắng)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>