Nguyên thủy, cây thầu dầu mọc tại các thung lũng và đồi thấp tại miền trung Phi Châu. Sau khi khám phá được những lợi ích của nó, người ta đem giống về trồng tại Ấn Độ và từ đây nó lan tràn khắp các vùng nhiệt đới, ôn đới, tràn sang đến Mỹ Châu. Tại Âu Châu, mãi đến thế kỷ 16 người ta mới trồng loại cây này để làm cảnh, chưa nghĩ đến tính cánh kỹ nghệ của chúng. Ngày nay, người ta đã trồng thầu dầu để khai thác về thương mại và kỹ nghệ. Ngay tại Pháp, diện tích trồng thầu dầu đã chiếm một tỷ số khá cao so với các loại cây khác. Trái lại, ở Việt Nam cũng như một số vùng nhiệt đới nó mọc lên như một cây hoang ngoài đất trống, bên vệ đường chen lấn với các cây khác và chỉ sống được từng năm một.
Thầu dầu mọc tại Việt Nam rất nhiều (nhất là miền Bắc, các vùng đồng bằng, đồi núi như Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm Phả, Thái Bình, Hưng Yên...) nó thuộc về loại thầu dầu thấp, cao không quá 2 thước và chỉ có 2 loại: Thầu dầu tía và thầu dầu trắng.
Hình dáng thầu dầu rất thô kệch, thân tương đối to, khẳng khiu và có từng đốt như cây khoai mì (sắn tàu), ruột cây xốp, lá tương đối lớn, cuống lá mọc từ đốt cây và mỗi cuống mang một tàu lá chia làm 7 mảnh trông từa tựa như lá sắn tàu, nhưng thanh và rất đẹp mắt. Bông thầu dầu trổ không theo mùa, mầu vàng nhỏ li ti kết thành chùm ở ngay kế cuống lá và thân cây. Khi hoa tàn kết trái cũng thành từng chùm mầu xanh và bao bởi một lớp bì dầy. Ngoài vỏ có gai lởm chởm trông tựa như trái chôm chôm. Quả chín mang mầu nâu sẫm và tự tách ra làm 3 phần mang một hột thầu dầu no tròn đầy dầu hoặc mầu nâu hoặc mầu đen tùy loại.
Tại những vùng khai thác thầu dầu, người ta đã nghiên cứu cách trồng tỉa rất có kết quả.
Thầu dầu ưa những vùng đất ẩm thấp và khuất gió. Ở những điều kiện này thầu dầu tăng trường rất mau. Người ta bắt đầu trồng thầu dầu vào giữa mùa xuân, khi khí trời tương đối ấm áp và gió mưa dìu dịu. Trồng thầu dầu bằng hột, mỗi hốc cách nhau chừng 1 thước. Năm tháng sau, thầu dầu sẽ nở bông và trái chín. Trái thầu dầu chín ở dưới thấp trước và trên ngọn sau. Hái trái phải rất cẩn thận và dùng nhân công chứ không thể dùng máy móc như các loại trái cây khác. Trái được đem về mang phơi tách lấy hột và ép dầu, gọi là dầu thầu dầu.
Người cổ Hy Lạp xa xưa đã biết đến dược tính của loại dầu này. Họ chế biến thành một thứ cao dán ngoài da để chữa các mụn ung nhọt. Ngoài ra họ còn dùng như là một mỹ phẩm dùng để giữ gìn cho da dẻ các bà các cô khỏi khô và mốc, nhất là làm mịn da mặt. Tuy vậy, mãi đến thế kỷ thứ 18 thầu dầu mới được khảo sát một cách tường tận trong giới y khoa và năm 1788, các nhà y học tại Luân Đôn mới cho liệt kê cây thầu dầu vào tự điển y khoa và được coi như một dược phẩm quan trọng.
Cũng vào thời kỳ này tại Hoa Kỳ ngành điều chế thầu dầu đã trở nên một kỹ nghệ quan trọng và rất phát đạt. Riêng tại Âu Châu tỷ lệ dầu thầu dầu chiếm tới 50%, một tỷ lệ kỷ lục so với các dầu khác.
Dầu thầu dầu chính hiệu con nai vàng là thứ có mầu vàng phơn phớt xanh, khi lắc lên thấy hơi lợn cợn đục.
Ngày nay dầu thầu dầu rất thông dụng trong các nhà máy vì những đặc điểm riêng của nó:
- Có thể tồn trữ tại một nhiệt độ rất cao hay rất thấp mà không thay đổi tính chất.
- Mềm dẻo.
- Không hay bắt lửa.
- Tinh khiết tự nhiên.
Những bộ máy nhỏ và tinh vi người ta đều bảo trì bằng loại dầu này. Ngoài các đặc tính trên, người ta còn dùng nó để:
- Chế tạo mầu vẽ.
- Thuộc da.
- Làm savon thơm.
- Thuốc chải đầu làm cho tóc mềm và óng mượt.
Trong dầu này chứa chất ricimine và chất ricine, chất alebumine và một số lượng chất độc. Tuy nhiên không có quá nhiều trong dầu. Nhưng trái lại, hột thầu dầu phải hết sức cẩn thận khi dùng nó. Chỉ cần một vài hột thầu dầu lẫn trong thực phẩm cũng đủ làm cho chúng ta bị ói mửa, đau bụng kinh khủng rồi đi tả rất khó chữa. Nếu ăn phải nhiều sẽ mắc phải chứng kiết lỵ, ói ra máu đôi khi chết người.
Vì những chất độc hại như vậy mà sau khi ép lấy dầu, bã còn lại chỉ đem bón cây không thể dùng để nuôi súc vật được.
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 60, ra ngày 15-10-1972)

Không có nhận xét nào:
Không cho phép có nhận xét mới.