Hiển thị các bài đăng có nhãn Sưu tầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sưu tầm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

Cây Thầu Dầu


Nguyên thủy, cây thầu dầu mọc tại các thung lũng và đồi thấp tại miền trung Phi Châu. Sau khi khám phá được những lợi ích của nó, người ta đem giống về trồng tại Ấn Độ và từ đây nó lan tràn khắp các vùng nhiệt đới, ôn đới, tràn sang đến Mỹ Châu. Tại Âu Châu, mãi đến thế kỷ 16 người ta mới trồng loại cây này để làm cảnh, chưa nghĩ đến tính cánh kỹ nghệ của chúng. Ngày nay, người ta đã trồng thầu dầu để khai thác về thương mại và kỹ nghệ. Ngay tại Pháp, diện tích trồng thầu dầu đã chiếm một tỷ số khá cao so với các loại cây khác. Trái lại, ở Việt Nam cũng như một số vùng nhiệt đới nó mọc lên như một cây hoang ngoài đất trống, bên vệ đường chen lấn với các cây khác và chỉ sống được từng năm một.
 
Thầu dầu mọc tại Việt Nam rất nhiều (nhất là miền Bắc, các vùng đồng bằng, đồi núi như Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm Phả, Thái Bình, Hưng Yên...) nó thuộc về loại thầu dầu thấp, cao không quá 2 thước và chỉ có 2 loại: Thầu dầu tía và thầu dầu trắng.
 
Hình dáng thầu dầu rất thô kệch, thân tương đối to, khẳng khiu và có từng đốt như cây khoai mì (sắn tàu), ruột cây xốp, lá tương đối lớn, cuống lá mọc từ đốt cây và mỗi cuống mang một tàu lá chia làm 7 mảnh trông từa tựa như lá sắn tàu, nhưng thanh và rất đẹp mắt. Bông thầu dầu trổ không theo mùa, mầu vàng nhỏ li ti kết thành chùm ở ngay kế cuống lá và thân cây. Khi hoa tàn kết trái cũng thành từng chùm mầu xanh và bao bởi một lớp bì dầy. Ngoài vỏ có gai lởm chởm trông tựa như trái chôm chôm. Quả chín mang mầu nâu sẫm và tự tách ra làm 3 phần mang một hột thầu dầu no tròn đầy dầu hoặc mầu nâu hoặc mầu đen tùy loại.
 
Tại những vùng khai thác thầu dầu, người ta đã nghiên cứu cách trồng tỉa rất có kết quả.
 
Thầu dầu ưa những vùng đất ẩm thấp và khuất gió. Ở những điều kiện này thầu dầu tăng trường rất mau. Người ta bắt đầu trồng thầu dầu vào giữa mùa xuân, khi khí trời tương đối ấm áp và gió mưa dìu dịu. Trồng thầu dầu bằng hột, mỗi hốc cách nhau chừng 1 thước. Năm tháng sau, thầu dầu sẽ nở bông và trái chín. Trái thầu dầu chín ở dưới thấp trước và trên ngọn sau. Hái trái phải rất cẩn thận và dùng nhân công chứ không thể dùng máy móc như các loại trái cây khác. Trái được đem về mang phơi tách lấy hột và ép dầu, gọi là dầu thầu dầu.
 
Người cổ Hy Lạp xa xưa đã biết đến dược tính của loại dầu này. Họ chế biến thành một thứ cao dán ngoài da để chữa các mụn ung nhọt. Ngoài ra họ còn dùng như là một mỹ phẩm dùng để giữ gìn cho da dẻ các bà các cô khỏi khô và mốc, nhất là làm mịn da mặt. Tuy vậy, mãi đến thế kỷ thứ 18 thầu dầu mới được khảo sát một cách tường tận trong giới y khoa và năm 1788, các nhà y học tại Luân Đôn mới cho liệt kê cây thầu dầu vào tự điển y khoa và được coi như một dược phẩm quan trọng.
 
Cũng vào thời kỳ này tại Hoa Kỳ ngành điều chế thầu dầu đã trở nên một kỹ nghệ quan trọng và rất phát đạt. Riêng tại Âu Châu tỷ lệ dầu thầu dầu chiếm tới 50%, một tỷ lệ kỷ lục so với các dầu khác.
 
Dầu thầu dầu chính hiệu con nai vàng là thứ có mầu vàng phơn phớt xanh, khi lắc lên thấy hơi lợn cợn đục. 
 
Ngày nay dầu thầu dầu rất thông dụng trong các nhà máy vì những đặc điểm riêng của nó:
 
- Có thể tồn trữ tại một nhiệt độ rất cao hay rất thấp mà không thay đổi tính chất.
 
- Mềm dẻo.
 
- Không hay bắt lửa.
 
- Tinh khiết tự nhiên.
 
Những bộ máy nhỏ và tinh vi người ta đều bảo trì bằng loại dầu này. Ngoài các đặc tính trên, người ta còn dùng nó để:
 
- Chế tạo mầu vẽ.
 
- Thuộc da.
 
- Làm savon thơm.
 
- Thuốc chải đầu làm cho tóc mềm và óng mượt.
 
Trong dầu này chứa chất ricimine và chất ricine, chất alebumine và một số lượng chất độc. Tuy nhiên không có quá nhiều trong dầu. Nhưng trái lại, hột thầu dầu phải hết sức cẩn thận khi dùng nó. Chỉ cần một vài hột thầu dầu lẫn trong thực phẩm cũng đủ làm cho chúng ta bị ói mửa, đau bụng kinh khủng rồi đi tả rất khó chữa. Nếu ăn phải nhiều sẽ mắc phải chứng kiết lỵ, ói ra máu đôi khi chết người.
 
Vì những chất độc hại như vậy mà sau khi ép lấy dầu, bã còn lại chỉ đem bón cây không thể dùng để nuôi súc vật được.
 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 60, ra ngày 15-10-1972)
 

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Cá Bốn Mắt


Tại các lạch nước, khe suối, ao, hồ, đầm lầy từ Mễ Tây Cơ trở xuống tới các quốc gia miền Nam Mỹ Châu thường thấy xuất hiện một loại cá đặc biệt rất giống với cá vàng vì mầu sắc đẹp đẽ. Nếu chỉ như vậy thì đâu có gì đáng nói, đằng này nó mang đôi mắt tròn, khá to mà nửa phần trên lại lồi ra kỳ dị khiến nhiều người mới gặp lần đầu đều ngạc nhiên chú ý nhưng chắc chắn họ không thể biết rõ công dụng của chúng ra sao. Chính nhờ cặp mắt này mà nó được gọi là cá bốn mắt (tứ noãn ngư). Tại sao vậy?
 
Sau nhiều lần theo dõi, phân tích, tìm hiểu, người ta khám phá ra rằng: Tuy mang danh là cá bốn mắt - mặc dù chỉ có hai mà thôi - nhưng thực ra hai mắt này gần như là mắt tổng hợp bao gồm bốn mắt đơn, hay nói cho rõ hơn, mỗi bên là hai con ngươi phân cách bởi một lằn chỉ đen chạy ngang. Bời thế trong lúc cá nhởn nhơ, tung tăng bơi lội đó đây, khi nổi lên mắt nước để kiếm ăn thì phần mắt phía trên giúp nó tìm mồi và quan sát cảnh vật hai bên bờ. Nhờ vậy, hễ nhận ra thức ăn trôi trên mặt nước là nó sấn tới táp ngay, đồng thời nếu thấy vẻ khác lạ hoặc dấu hiệu hiểm nguy là lặn xuống liền. Lúc đó, phần mắt phía dưới mới thực sự "làm việc" để hướng dẫn nó thảnh thơi ngao du đáy nước hay kiếm ăn một cách an toàn hơn.
 
Sở dĩ nó có khả năng này vì mỗi bên mắt đều mang hai thủy tinh thể (con ngươi) cùng chung một tiêu điểm (võng mô). Dù bị phân chia rõ ràng như vậy, nhưng khi cần tập trung thị giác, nó vẫn không gặp khó khăn chút nào bởi lẽ hai thủy tinh thể đó đều hội tụ trên một võng mô duy nhất, nên tất cả những gì xuất hiện bên trên hay bên dưới mặt nước vẫn được mắt thu nhận để cho hình ảnh rõ ràng mà không gặp trở ngại. Hơn nữa, hai mắt này không có mí lại thiếu tuyến lệ (tuyến nước mắt làm cho con ngươi lúc nào cũng ướt, khỏi bị khô ran lúc hoạt động) vì đã có nước ở ngay trong môi trường sinh sống giúp nó giải quyết chuyện này dễ dàng.
 
Cá bốn mắt là một sản phẩm đặc biệt chỉ thấy ở Trung và Nam bộ Mỹ Châu mà thôi. Chúng thường bơi hàng đàn qua lại trên mặt nước, trông rất đẹp mắt.
 
Điểm đáng nói là phần mắt phía trên luôn luôn nhô lên khỏi mặt nước đúng ở lằn chỉ đen mà thôi.
 
 
ĐẶNG HOÀNG       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 59, ra ngày 8-10-1972)
 

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Tại Sao Mặt Trăng Chiếu Sáng?


Ban đêm chắc các em thấy những bảng hiệu đi đường phản chiếu ánh sáng. Đó là bởi vì chữ trên các bảng hiệu này được bao phủ bởi một lớp hạt thủy tinh rất nhỏ đường kính chỉ bằng một phần của ly. Sau đó chúng được người ta phủ plastic lên. Khi có đèn pha xe hơi chiếu vào, chúng phản chiếu ánh sáng.
 
Những cuộc khảo cứu khoa học gần đây đã tiết lộ rằng người ta không phải là kẻ đầu tiên dùng loại máy phản chiếu này. Các bắng cớ trên mặt nguyệt cầu đã cho thấy trời đã dùng nguyên lý phản chiếu này từ lâu rồi.
 
Thật vậy, những nhà khoa học khi xem xét vật liệu mặt trăng do các phi hành gia đem về trái đất đã thấy rằng 50% "đất" của mặt trăng được tạo thành bởi thủy tinh. Thủy tinh này có nhiều hình dạng khác nhau: tròn quay, bầu dục, giọt lệ hay quả tạ. Họ cũng thấy rằng thủy tinh biến đổi kích thước từ những điểm li ti tới những hạt lớn 1 milimét.
 
Bề mặt của các hạt thủy tinh này rất láng. Khi có một luồng ánh sáng chiếu lên chúng trở nên sáng chói. Bác sĩ Wernher von Braun, người chủ yếu trong những chương trình chuyến bay không gian Hoa Kỳ viết rằng chúng "chói lọi trong ánh nắng như những hạt thủy tinh phản chiếu ánh sáng trên một bảng hiệu lưu thông ở xa lộ". Trong khi hầu hết thủy tinh này không có màu sắc, một vài phần của nó lại có màu nâu, màu vàng, màu xanh hay đỏ.
 
Cả đến đá mặt trăng cũng chứng tỏ rằng chúng được tạo nên để phản chiếu ánh sáng vì chúng có những lỗ nhỏ lõm vào phủ đầy thủy tinh, một vài cục được những giọt thủy tinh bắn tung tóe phủ lên và có vẻ như đã được ai đánh bóng.
 
Hơn nữa, trong những cuộc đi bộ trên mặt trăng, các phi hành gia đã tìm thấy ở đấy những núi lửa nhỏ nhiều vẩy bạc sáng lóng lánh giống như những đốm thiếc hàn nóng chảy nằm trên mặt đá và trên đất.
 
Quả thật, mặt trăng đúng là "một vì sao sáng cai trị ban đêm".
 
(theo tạp chí "AWAKE!")    
TRẦN THẾ NGỌC       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 7, ra ngày 26-9-1971)
 

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

Trăng Qua Thần Thoại


TRĂNG NHẬT BỔN
 
Một mối tình không đẹp, một quái thai bị buông rơi cho sóng cả cuốn đi, đó là kết quả thê thảm của cuộc tình duyên giữa thần Idzanagui và nữ thần Idzanami.
 
Thần vợ chết xuống địa ngục, thần chồng nhớ vợ đi tìm bị chư thần trừng phạt đem đày giữa giòng sông. Quá buồn đau hối hận, thần chồng tuôn rơi 2 giọt nước mắt, giọt nước mắt bên phải hóa thành mặt trăng...
 
 
TRĂNG ẤN ĐỘ
 
Trăng Ấn Độ là một vị thần có đến 27 vợ! Đó là thần Ichandra. Vì chia sẻ tình yêu không đồng đều, Ichandra bị đày lên không trung và suốt đời đau khổ. Nhưng 27 bà vợ ráp nối xin thần được giảm bớt hình phạt, nghĩa là lúc phạt lúc tha... Do đó mới có những tuần trăng khuyết trăng tròn.
 
 
TRĂNG AI CẬP
 
Thần Anou tạo ra mặt trời mặt trăng và các vì tinh tú. Thần Anou truyền cho mặt trăng:
 
- Nannar (tên của mặt trăng) từ đây ngươi có nhiệm vụ soi sáng ban đêm, cứ thế mà hành động...
 
 
TRĂNG HY LẠP
 
Trăng Hy Lạp là một nàng con gái vốn là gấu hóa thần tên là Diane. Nàng trăng Diane vừa ác vừa hiền, lúc thì dịu dàng yêu con người và cây cỏ, lúc thì hóa ra ba đầu gây bệnh tật chết chóc!
 
 
TRĂNG ĐỨC QUỐC
 
Trăng Đức quốc cũng là một nàng con gái, nàng trăng Hodda của người Germains (giống dân Đức cổ xưa) vừa dịu hiền vừa độc ác. Nàng trăng hay thường bắt linh hồn của những trẻ sơ sinh.
 
 
TRỊNH MINH ĐỨC      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 59, ra ngày 8-10-1972)
 

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Người Săn Rắn


MỘT KẺ LẠ LÙNG
 
Đó là ông William Fador, người cao lớn, tóc điểm bạc, da sạm nắng và thật khó có thể đoán được trúng tuổi của ông: 40, 50 hay có thể ông đã tới 60 mặc dầu ông vẫn còn đầy vẻ phong độ của một kẻ không ưa cảnh nhàn hạ, yên ổn mà chỉ thích phiêu lưu. Bộ quần áo của ông ta là cả một sự kỳ khôi: đầu đội mũ rộng vành, quần áo cộc rộng tay bằng vải thô, chân đi bốt da, ông ta mang theo đủ thứ đồ nghề lủng củng mà ta khó có thể đoán được những công dụng của chúng. Trước hết là một cái túi đựng đồ leo núi, bên trong đầy đủ quần áo, đạn dược, thức ăn, sau đến một cây súng săn lúc nào cũng lên đạn sẵn sàng và đặc biệt là một cây gậy dài, thật dẻo, ở đầu có gắn một vòng dây da, đó là dụng cụ đắc lực để giúp ông ta chế ngự một loài vật hết sức nguy hiểm: những con rắn cực độc. Chưa hết, vòng quanh thắt lưng, ông ta còn đeo đủ loại túi da, và một cây kẹp sắt.
 
Đối với William Fador, săn rắn là một nghề thích thú, mặc dầu nguồn lợi đem lại thật không xứng với những nguy hiểm mà ông ta thường trực phải đương đầu. Nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể đua đòi được loại sở thích kỳ cục này. Những tay chậm chạp, những cụ lừng khừng, những bác cà chớn, xin hãy... xê ra cho người ta bắt rắn. Bởi đấy không phải là một trò đùa. Một phút chểnh mảng, một sự quan sát lầm lẫn, một phản ứng chậm chạp, tất cả đều là những lý do sẵn sàng đưa ta về bên kia thế giới.
 
 
BẮT RẮN NHƯ THẾ NÀO?
 
Theo William Fador thì người bắt rắn phải có hai biệt tài chính yếu: một là óc nhận xét sáng suốt, hai là sự phản ứng lanh lẹn, thần tốc. Nhờ óc sáng suốt, ta có thể tỉnh táo ngay cả khi cơ thể mệt mỏi lúc lặn lội trong rừng sâu, sẵn sàng phân biệt được đâu là màu da rắn, đâu là màu cây cỏ, hỏm đá, lại cũng phải biết phân biệt đâu là cành khô rơi vãi, đâu là những thân rắn đang bò. Do kinh nghiệm, kẻ săn rắn cũng phải biết nhìn qua một con rắn là phân biệt được nó thuộc loại nào, độc hay không, phương cách tấn công đặc biệt của nó và biết sử dụng phương pháp chế ngự nó một cách mau chóng.
 
Đối với các loại rắn thông thường thì chỉ cần dùng cây gậy dẻo đập liên hồi cho đến lúc nó ngất ngư.
 
Điều khó là không được đụng chạm đến đầu của nó, để khỏi làm hư túi chứa nọc độc sẽ đem dùng sau này. Chỗ đáng đập nhất là ngay chính giữa thân rắn. Trường hợp gặp loài rắn lớn, thì người ta sử dụng chiếc gậy có vòng da. Với phản ứng mau lẹ, người bắt rắn choàng chiếc vòng qua đầu nó rồi thít lại. Dù vùng vẫy cách nào nó cũng trở nên hết nguy hiểm. Một đôi khi gặp trường hợp khẩn cấp, người ta phải sử dụng tới súng. Bắn thật nhanh, nhắm thật trúng, chỉ có phương pháp ấy mới thoát khỏi những con rắn bất chợt phóng mình từ một hốc nào đó.
 
 
RẮN PHUN NỌC NHƯ THẾ NÀO?
 
Không phải loại rắn nào cũng có khả năng giết người bằng nọc độc. Ngay cả khi loại rắn chứa nọc độc, nhưng khi ta bị cắn cũng không hề hấn gì. Như loại rắn Opisthoglypes tuy có những hạch bài tiết nọc độc nhưng nọc độc lại nằm tận bên trong cùng. Bởi thế khi bị rắn mổ, răng nhả nọc ở sâu quá, không xâm phạm đến da thịt ta, chỉ trong trường hợp một con mồi bị nó nuốt vào, con mồi mới bị thấm nọc. Chúng ta đừng tưởng toàn bộ hàm răng rắn đều chứa nọc độc. Thực ra nọc được chứa từ một túi, Túi này thông tới một hay hai cái răng móc. Chỉ răng móc này mới nhễu được nọc độc mà thôi. Các răng khác chỉ có phận sự đẩy con mồi vào bụng rắn.
 
Khi rắn nghỉ ngơi, răng móc của rắn hạ xuống một khoảng trũng nhỏ trong miệng. Nhưng lúc há ra đề đớp mồi thì nó dựng đứng lên, nhô ra phía trước nhờ xương hàm và nó có thể chuyển động được. Khi cắm vào thịt con mồi, nó gây ra một vết thương nhỏ như nốt chích vì đầu răng móc chỉ nhỏ như một mũi tiêm. Những túi chứa chất độc sẽ thắt lại và chất độc chảy qua ống dẫn, nhễu từ răng móc vào con mồi.
 
 
LẤY NỌC RẮN
 
Rắn bắt được đều chứa trong những túi bằng da. Khi túi đầy nhóc nhách, William Fador đem chúng về trại. Sự nguy hiểm chưa qua. Bởi giai đoạn lấy nọc độc của rắn cũng hết sức nguy hiểm. Nhiều kẻ đã bị rắn cắn chết ngay trong phòng thí nghiệm. Trước hết Fador đem nhốt rắn vào những chuồng riêng, và mỗi tháng lôi chúng ra hai lần để bắt chúng nhả nọc độc. Với một bàn tay thiện nghệ, Fador nắm chặt lấy gáy chúng và đem kề gần một chiếc ly thủy tinh. Nó trở nên hung dữ, hàm răng táp lấy miệng ly mà ngoạm chặt, túi chứa nọc thắt ngay lại để phun ra ở dưới răng những giọt nọc cực độc màu vàng lợt, nhầy nhụa. Số lượng và phẩm chất của nọc tùy theo từng loại rắn. Như rắn lục ở Âu Châu, mỗi con có thể nhễu được 20 milligam nọc mỗi lần còn loại rắn đeo kính lại nhả tới 100 milligam.
 
Đối với các loại rắn lớn, khỏe mạnh, lúc lấy nọc Fador phải dùng những chiếc kẹp sắt thay vì sử dụng tay.
 
 
NỌC RẮN
 
Một vài dân tộc sơ khai ở Phi Châu hay xích đạo, hiện nay vẫn còn dùng nọc rắn để tẩm vào các mũi tên độc để giết người. Họ không bắt rắn để lấy nọc, nhưng lại nhúng các mũi tên vào các hỏm đá, nơi rắn hay nhả nọc. Công việc này do những tay phù thủy kinh nghiệm và khéo léo chuyên chế tạo các võ khí tẩm độc. Tên tẩm nọc rắn có thể bắn chết người (một phương cách sử dụng nọc rắn trong những mục tiêu man rợ nhất) nhưng một đôi khi nó rất hữu ích để hạ một loại thú dữ hung tợn, mạnh mẽ đe dọa tính mệnh dân bản xứ.
 
Đối với thế giới văn minh, nọc rắn được dùng trong những mục tiêu nhân đạo, đặc biệt là chế tạo thuốc chữa bệnh rắn cắn. Trước hết nọc rắn được chế biến cho bớt độc rồi được chích vào một con ngựa một lượng nhỏ vừa đủ để ngựa không chết. Cơ thể con ngựa sẽ phản ứng lại bằng cách máu của nó sẽ tiết ra những chất kháng độc. Sau 200 lần chích như thế, huyết thanh của ngựa đã chứa được một lượng lớn lao chất kháng độc. Người ta dùng huyết thanh này chích vào một con thỏ. Chỉ cần chích hai lần thôi, con thỏ có thể chịu đựng được một liều nọc rắn có thể đủ giết nó.
 
 
NỌC RẮN TỔNG HỢP
 
Có rất nhiều loại huyết thanh kháng độc phù hợp với từng loại nọc độc của rắn. Nhưng điều này thật bất tiện, bởi vì khi chữa một nạn nhân bị rắn cắn, ta khó có thể biết nạn nhân bị cắn bởi loại rắn nào để sử dụng loại huyết thanh đúng cách.
 
Để giải quyết vấn đề này, người ta đã chế tạo một loại huyết thanh hoặc lấy từ một con ngựa đã bị chích nhiều loại nọc rắn khác nhau, hoặc người ta hỗn hợp nhiều loại huyết thanh của nhiều con vật, mỗi con đã bị chích vào một loại nọc rắn.
 
Công việc nghe thì có vẻ dễ dàng nhưng thực ra rất phức tạp.
 
Bởi nọc độc của một loại rắn không chỉ có nguyên một phẩm chất: Nó thay đổi tùy theo con đực, con cái, tùy theo thời tiết và mùa.
 
Ngoài công dụng để chế thuốc trị rắn cắn, nọc độc của rắn còn được dùng làm thuốc tê, thuốc cầm máu, thuốc chống bệnh ung thư.
 
Riêng loại thuốc tê chế từ nọc rắn, có khả năng làm cho bệnh nhân bớt đau đớn. Một vài giống vật sống trong rừng, khi bị thương tích hay đau đớn đã tự để cho rắn độc chích để giảm sự đau đớn. Nọc độc của rắn đã có tác dụng như loại ma túy morphine, nhưng lại hơn morphine ở chỗ không làm cơ thể trở nên quen thuộc và biến thành nghiện.
 
Ở những người bệnh có loại máu thiếu chất làm đông lại (bệnh huyết hữu) nên khi bị thương tích, máu chẩy ra hoài không thể cầm lại được (có người đã chết vì hết máu do một vết thương nhỏ). Với dược liệu chế từ nọc rắn, máu bệnh nhân có thể cầm lại được nhờ tính chất làm đông máu có trong nọc rắn.
 
 
ĐỖ THỊ THUẤN       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 5, ra ngày 12-9-1971) 
 

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

Bạch Thái Bưởi


Hồi năm 1900, cách đây trên nửa thế kỷ, việc lưu thông trên Hồng Hà Bắc Việt, hầu hết vào tay người Huê kiều, họa chăng vài hãng tàu Pháp có mấy chiếc tàu chạy sông vì các nhà doanh nghiệp Pháp có nhiều quyền dễ dàng quá nên nguồn lợi trên sông Hồng họ không thèm nghĩ tới, để mặc cho người Huê kiều thao túng.
 
Ngoài những ghe lớn của Huê kiều, còn có những chiếc tàu "sà lúp" - (chaloupe) - trương cờ của Huê kiều với những tên Long Môn, Phúc Sinh, Thái An, Bảo An, Kim Bằng, Giang Môn v.v... Những tàu nhỏ này chạy đường Hà Nội - Nam Định hay Hà Nội - Hải Phòng, khứ hồi.
 
Vậy mà 10 năm sau, hồi năm 1910, trên Hồng Hà mọi người bỗng thấy phất phơ lá cờ của "Công ty Bạch Thái Bưởi" cắm trước mũi mấy tàu của người Việt Nam và mang tên Việt Nam. Ba tiếng "Bạch Thái Bưởi" đã được đồng bào nói tới.
 
Xuất thân là một người nghèo, phải làm công cho Công sứ Bonnet, tức là Tỉnh trưởng một tỉnh ở Bắc Việt, ông Bạch Thái Bưởi lúc đầu cũng chỉ là một "anh bồi Tây" không hơn không kém, theo danh từ thông dụng hồi bấy giờ. Nhưng "anh bồi Tây" ấy không an phận thủ thường như kẻ khác, và cũng không có cái tâm trạng chung của hạng người nô lệ đi học tiếng Tây để được "chẳng ký, không thông, cũng cậu bồi" như nhà thơ Trần Tế Xương đã mỉa mai chua chát.
 
Học dăm ba "chữ Tây chữ U" cậu bồi Bạch Thái Bưởi cũng không ỷ "thế thần" là người làm cho "quan Công sứ" thì phải biết... Ông Bạch Thái Bưởi nuôi một chí doanh thương lớn, muốn vùng vẫy chốn thương trường để tỏ mặt một phen với đời. Ông có một tinh thần tự lập, nhờ Công sứ Bonnet gởi gấm mà được thầu với sở Hỏa Xa cung cấp vật liệu trong khi sở này lãnh làm cây cầu Doumer (cầu Long Biên) nối liền Hà Nội với Gia Lâm, trên sông Hồng.
 
Nhờ đó ông có được một số vốn vì công cuộc lãnh thầu được trôi chảy. Ông Bưởi hùn hiệp với một nhà giàu có ở Nam Định là ông Lã Quý Chấn, đứng ra thầu nhà cầm đồ (hồi ấy mỗi tỉnh lớn có một nhà cầm đồ chành thức).
 
Ông Bạch Thái Bưởi còn khuếch trương công cuộc doanh thương thêm nữa, đứng ra thầu thuế chợ.
 
Giàu có rồi, ông quyết định thi hành chí lớn : giành lại những nguồn lợi lớn cho xứ sở. Năm 1910 ông nhận thấy hầu hết công việc vận tải ở đường sông trong tay người Tàu, ông lo sau này họ còn nắm nhiều độc quyền khác nữa. Ông bèn đứng ra lập "Công ty Bạch Thái Bưởi" để tranh thương với người Tàu. Không biết gì về nghề thủy vận lại mù tịt cả về máy móc, vậy mà ông cũng dám cạnh tranh với những chủ tàu Huê kiều đã nhiều vốn lại giầu kinh nghiệm và đi trước ông một bước dài trên con đường chuyên chở trên sông ; ông Bạch Thái Bưởi quả là người can đảm và cương quyết.
 
Ông dám bước vào ngành hoạt động nầy là vì lúc ấy ông thấy một cơ hội hiếm có đưa tới cho ông mà ông quyết chộp lấy: một công ty Pháp, tên là công ty Marty d'Abbadie bấy lâu lãnh việc chở thư từ cho nhà bưu điện bằng đường thủy, nay mãn giao kèo không muốn tiếp tục làm nữa, nên cho thuê ba chiếc tàu của họ: chiếc Phénix, chiếc Dragon và chiếc Fai Is Long. Ông Bạch Thái Bưởi nhận liền ba chiếc tàu ấy cho chạy đường Hà Nội - Nam Định và Nam Định - Bến Thủy (Bắc Trung Việt). Ba chiếc tàu mướn được đổi tên Việt Nam là Phi Phượng, Phi Long và Khoái Long Tử.
 
Thấy quyền lợi của mình trên dòng sông từ Hà Nội xuống Nam Định bị va chạm, mấy chủ tàu Huê kiều quyết tâm đối phó. Bấy lâu họ vẫn giữ một độc quyền trong thực tế trên đường nầy, nay lại có người nhảy ra cạnh tranh, họ bèn họp nhau lại tung ra võ khí "kim tiền" để tính đánh ngã đối phương.
 
Sẵn trường vốn, họ nắm tay nhau hạ giá, phá giá để mong Công ty Bách Thái Bưởi bị phá sản. Lúc ấy giá vé hành khách đi Hà nội - Nam Định là ba cắc, họ hạ xuống còn một cắc rưỡi (Một đồng bạc hồi ấy là 10 cắc).
 
Tàu của Công ty Bạch Thái Bưởi cũng hạ giá vé xuống còn một cắc, rẻ hơn tàu của Huê kiều. Đối phương của ông không chịu thua, hạ xuống còn 7 xu (Một cắc ăn 10 xu). Ông Bạch Thái Bưởi hạ xuống còn 5 xu. Huê kiều hạ xuống còn 4 xu.
 
Thấy không còn hạ xuống quá mức ấy được nữa, ông Bạch Thái Bưởi nẩy ra sáng kiến mời hành khách đi tàu của ông uống nước trà. Mà không phải là nước trà Huế, nước trà bình dân đâu nhé. Ông cho mua thứ trà đầu xuân hiệu Ô Long và Liên Tử (ngon hơn những trà trong Chợ Lớn bấy giờ) mà nấu nước mời mỗi hành khách. Huê kiều muốn "bảnh hơn" không những đãi khách uống nước trà mà còn mời mỗi người một miếng bánh ngọt đậu xanh nữa.
 
Cuộc cạnh tranh giữa hai phe làm sôi nổi dư luận trong xứ và được truyền khẩu từ người nọ qua người kia. Người Việt ai cũng thán phục lòng can đảm, chí cương quyết của ông Bạch Thái Bưởi. Về phía ông, ông cũng thấy đồng bào cảm thông nỗi khó khăn của mình. Cuộc cạnh tranh đã tới mức không thể hạ giá hơn nữa vì nếu cứ cạnh tranh bằng lối này thì lo có ngày sẽ hạ giá xuống con số không và tàu sẽ đông nghẹt hành khách có ngày đến phải đi thăm Hà Bá.
 
Ông Bạch Thái Bưởi nghĩ đến cái võ khí tinh thần mà ông chưa dùng là nghĩa đồng bào, lòng ái quốc của người Việt Nam. Ông phóng ra một đoàn tuyên truyền có tài ăn nói, đi trên bến tàu kêu gọi con tim của Việt Nam:
 
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước hãy thương nhau cùng.
 
Một đoàn "hát xẩm" - như kiểu hát dạo cải lương ở lề đường bây giờ - được ông Bạch Thái Bưởi thuê, để ngồi ở bến tàu cổ xúy bằng những điệu hát bình dân, hiệu triệu hành khách "ta về ta tắm ao ta".
 
Cuộc tuyên truyền ấy quả nhiên đã đem lại kết quả mỹ mãn. Thấy không thể nào đem thế lực kim tiền ra mà thắng nghĩa đồng bào của người Việt Nam, các chủ tàu Huê kiều phải bỏ cái võ khí phá giá. Ít lâu sau giá cả trở lại bình thường và tàu Bạch Thái Bưởi vẫn đông khách hơn tàu của Huê kiều.
 
Sẵn trớn nhờ cuộc thắng trận vẻ vang, năm 1912, Công ty Bạch Thái Bưởi cho tàu chạy thêm đường Hà Nội - Hải Phòng nữa. Không đương đầu nổi với sự cạnh tranh của Công ty này, các chủ tàu Huê kiều xếp giáp quy hàng. Họ bán lại tàu của họ cho mấy người Pháp và có mấy người bán cho chính Công ty Bạch Thái Bưởi nữa.
 
Năm 1915 làm ăn phát đạt, Công ty Bạch Thái Bưởi mua được hết cả xưởng chữa tàu và các xà lan máy của Công ty Marty, đã cho ông thuê ba chiếc tàu lúc đầu.
 
Năm 1917 một Công ty Pháp ở Hải Phòng lo việc chuyên chở trên những khúc sông ngắn, bị khánh tận. Ông Bạch Thái Bưởi mua được hết những thuyền máy và xà lan của Công ty này. Thế là số tàu lớn nhỏ của ông đã lên tới 30 chiếc và mang những tên lịch sử: Lê Lợi, Đinh Tiên Hoàng, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lạc Long, Hồng Bàng, Tự Đức, Minh Mạng, Thiệu Trị, Đồng Khánh...
 
Trụ sở của Công ty Bạch Thái Bưởi đặt ở bốn nơi.
 
Trụ sở chánh thiết lập trước nhứt tại Nam Định vì ông Bạch Thái Bưởi muốn ghi nhớ bước đầu của ông vào nghề hàng hải tại tỉnh này. Năm 1916, ông dời nó xuống Hải Phòng và đặt thêm ba trụ sở phụ nữa, ở Hà Nội, Bến Thủy, giao cho hai người Pháp, và trụ sở ở Nam Định trở thành một trụ sở phụ giao cho người bạn cũ là ông Lã Quý Chấn.
 
Tuy đã giàu có lớn, ông Bạch Thái Bưởi còn khai khẩn mỏ than nữa. Ông làm việc tối ngày không biết mỏi mệt. bao nhiêu ngành kinh doanh đã làm ông mất hết ngày giờ. Ông không chịu sống đời trọc phú như người thường chỉ thích vợ đẹp con khôn. Ông còn nghĩ đến công việc văn hóa nữa và xuất bản một tờ nhựt báo tại Hà Nội lấy tên là "Khai Hóa" những mong dìu dắt đồng bào trên con đường sống mới.
 
Có lẽ vì làm việc nhiều quá mà ông mắc chứng tê liệt đến bán thân bất toại. Năm 1932 ông từ trần, gia đình ông an táng ông ở vùng mỏ Đông Triều, nơi ông đã từng khai thác mỏ than. 
 
Bạch Thái Bưởi: một gương tranh đấu cho những ai muốn thành công, có sự nghiệp với đời.
 
 
TẾ XUYÊN      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 6, ra ngày 19-9-1971)
 

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

Thu Sang Ai Nhuộm Lá Vàng


Cứ mỗi độ thu về, những chiếc lá xanh tươi của mùa hè nắng cháy lần lần ngả sang màu đỏ rực hoặc vàng chói. Màu lá dần dần bị tẩy đi để sau cùng  rời khỏi cành cây rơi nhẹ xuống mặt đất.
 
Mỗi cơn gió thoảng là những chiếc lá úa rơi rụng lả tả làm cho mùa thu hết sức thi vị.
 
Với khung cảnh đó, khoa học gia tự hỏi nguyên nhân nào những chiếc lá xanh đã trở màu khi mùa thu tới.
 
Màu xanh lục của một bụi cây, nhúm cỏ hay một lá cây là do một chất chỉ định màu đặc sắc đó là chất diệp lục tố.
 
Diệp lục tố được chứa trong những hạt rất nhỏ, có thể thấy được từng hạt này dưới kính hiển vi, mà các nhà thực vật học gọi là những hạt lục lạp. Tất cả những phân tử màu xanh của cây đều có chứa một số lượng lục lạp quan trọng.
 
Bạn hãy đem một chậu cây xanh tươi mơn mởn vào một phòng tối và để nó sống trong đó, ít lâu sau, bạn sẽ thấy tất cả lá cây đều mất màu xanh lục và trở nên không màu.
 
Như thế, chúng ta nhận thấy cây muốn có màu xanh thì cần phải có diệp lục tố. Sự tạo thành diệp lục tố cần phải có ánh sáng.
 
Thật vậy, sự hiện diện của ánh sáng rất cần thiết. Nếu bạn đem chậu cây trong tối trở ra ngoài sáng mấy ngày sau cây sẽ lấy lại vẻ xanh tươi.
 
Trong hoạt động của cây cỏ, diệp lục tố giữ một vai trò rất quan trọng. Nhờ nó mà cây tổng hợp được những chất đường từ thán khí. Những chất được này được tích tụ lại, tạo thành chất dự trữ thông thường dưới dạng tinh bột.
 
Thật ra, trong lá cây không phải chỉ có một sắc tố xanh lục là diệp lục tố mà thôi mà còn có thêm hai sắc tố phụ đi kèm theo, luôn luôn hiện diện trong lá. Đó là diệp hoàng tố màu vàng và carôten màu cam (màu cam của củ cải carốt). Bình thường, chúng ta không phân biệt được những màu của sắc tố này trong lá, vì bị màu của diệp lục tố lấn át. Chúng ta có thể nhận được màu của hai sắc tố phụ này khi ta bóp nát một chiếc lá tươi hoặc khi chiếc áo trắng tinh của bạn bị một chiếc lá non dập nát dây vào để lại một vết. Lúc đó màu vàng của hai sắc tố trên hiện ra. Hoặc khi diệp lục tố không còn được thành lập, trường hợp cây mọc trong bóng tối, người ta thấy sự xuất hiện của hai sắc tố phụ làm cho chiếc lá có màu vàng cam.
 
Những sự kiện đơn giản mà chúng ta vừa xem xét có rất nhiều liên quan tới vấn đề đổi màu sắc của lá cây. Khi thu về, những cơn gió heo may lành lạnh đầu thu là sự báo hiệu có một sự thay đổi quan trọng trong hoạt động bình thường của cây cỏ. Ngay lúc đó, cây bắt đầu tập hợp lại tất cả những chất dự trữ và phần lớn những chất dinh dưỡng mà thông thường là những chất đường hoặc những chất bột để chuyển vào cành và thân cây. Khí hậu không còn thích hợp, nhựa không còn được đúc luyện, lá đã hoạt động lâu ngày nên diệp lục tố không còn cần thiết nữa. Chúng được biến chuyển thành diệp hoàng tố và carôten dưới tác động của một acid gọi là acid lactic, lá cây sẽ trở nên vàng úa. Cây cỏ lúc đó sẽ mặc lấy chiếc áo màu vàng chói của nàng thu. Sau khi đã chuyển tất cả những chất đường vào thân, diệp lục tố không còn nữa, lá cây chấm dứt nhiệm vụ dinh dưỡng.
 
Bầu trời ảm đạm, những cơn mưa rào, từng cơn gió đầu thu thổi mạnh là vàng rơi lả tả là những nét chấm phá của khung cảnh thu buồn muôn thuở nhưng đầy thi vị.
 
 
PHÚ THƠ      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 2, ra ngày 22-8-1971)
 

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

Bẩy Kỳ Quan Trên Thế Giới


KỲ QUAN THỨ NHẤT:
 
KIM TỰ THÁP CHÉOPS 
 
Vào khoảng 2640 năm trước Tây lịch, Chéops, vị vua thứ tư của triều đại xứ Ai cập, đã truyền lịnh rằng ông ta muốn xây cất một ngôi mộ mà sự đồ sộ và vẻ tôn nghiêm của nó làm lu mờ cả vầng thái dương. Hàng trăm ngàn nô lệ phải làm công tác đó ròng rã trong 20 năm. Ba giống dân Nubi, Do thái và Berbères đã cùng gắng sức làm việc, đã cùng chia xẻ những nỗi nhọc nhằn, đã cùng chịu những làn roi tàn bạo của bọn giám thị, và sau hết, đã cùng chết vì công trình xây cất đó...
 
Theo sử gia Hérodote, nhà mồ đục sâu vào một tảng đá, làm thành hình một hòn đảo. Được bao bọc bởi nước sông Nil, do một dòng nước ngầm chảy vào Kim tự tháp được xây từng bậc một và tiếp tục cho đến chót thì hoàn tất.
 
Suốt 20 năm, Ai cập chìm đắm trong sự thống khổ. Người ta phải đóng cửa đền thờ, hạn chế các lễ nghi tôn giáo, đặt ra các sắc thuế mới và ra lịnh cho dân chúng phải trợ lực với nô lệ. Để xây dựng Kim tự tháp cao 146,59m nầy, người ta đã sử dụng hết 2.300.000 khối đá, mỗi khối nặng 2 tấn rưỡi.
 
Người ta đã dùng những thân cây thấm ướt, chêm vào kẽ hở của những tảng đá để đẩy chúng bể ra, sau đó dùng bè gỗ chuyển qua sông Nil, rồi dùng những xe trượt lôi tuột chúng trên cao nguyên Al Gizah. Nô lệ đã dùng tay đem những tảng đá từ bậc nầy lên bậc kế tiếp, chớ không sử dụng đến những máy cất đồ nặng thô sơ làm bằng thân cây mà trước kia người ta đã biết.
 
Từ đó đến nay, đã gần 5.000 năm trôi qua. Trong tất cả những kiệt tác mà người xưa mệnh danh là 7 kỳ quan thế giới, chỉ còn Kim tự tháp là tồn tại hầu như nguyên vẹn. Nó chính là vết tích của một nền văn minh xa xưa còn tồn tại đến thời đại chúng ta, bởi vì với thời gian nó đã trở thành một sản phẩm của thiên nhiên. 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 2, ra ngày 22-8-1971) 
 
 
KỲ QUAN THỨ NHÌ:
 
VƯỜN TREO BABYLONE 
 
Chính ở Nabuchodonosor có những vườn treo, mà theo một truyền thuyết vô căn cứ phát xuất sau nầy, cho rằng đó là của vua Semiramis. Ông đã phá hủy khu Ninive l' Assyrieune vào năm 606 trước Tây lịch, vì muốn xây cất một thành phố có một không hai. Người ta kể rằng, ông đã quyết định thiết lập khu vườn lừng danh nầy để tặng vợ ông là Charisse, con gái vua Hèdes.
 
Trước hết, đó là một công trình kiến trúc vô cùng táo bạo. Vườn treo thu gọn trong một cơ sở hình vuông, mỗi cạnh dài 140m, gồm nhiều tầng nóc bằng, gác lên nhau theo một lối, mà nếu từ dưới nhìn lên, người ta thấy giống như những bậc thềm có trồng cây cối hiếm hoi, quí giá và bông hoa rực rỡ. Dưới mỗi tầng là một hành lang, mà theo sử gia Strabon kể lại, thì những hành lang nầy có trần được chống giữ bằng những cột vuông lớn đặt cách khoảng nhau. Lòng cột rỗng, được dồn đầy đất để nuôi cây và để rễ cây lớn có thể ăn sâu xuống. Những hành lang nầy được trang hoàng lộng lẫy và sắp xếp khéo léo nên người ta có thể dùng làm nơi tổ chức những buổi lễ. Một hệ thống dẫn nước phức tạp có thể đưa nước lên tận đỉnh của những tầng cao nhất, nơi đó nước phun thành những tia lấp lánh trông rất đẹp mắt. Trên trần của mỗi hành lang, người ta đặt một cái vỉ bằng sậy phết nhựa lên, một dãy gạch nung gắn dính nhau bằng thạch cao, rồi đến những tấm chì mỏng, sau cùng là đất phân. Ngay vào thời Alexandre, vườn treo Babylone vẫn còn giữ nguyên được sắc thái của nó.
 
Ngày nay, các nhà khảo cổ đã tìm ra được những dấu vết của vườn treo này.
 
 
KỲ QUAN THỨ BA:
 
LĂNG TẨM HALICARNASSE
 
Mặt nhìn ra biển, cách Halirarnasse, thủ đô xứ Carie một quãng ngắn, một ngôi nhà mồ sừng sững hiện ra. Nó được xây cất từ năm 1.100 sau Tây lịch, được chú ý bởi những cột cẩm thạch, bởi sự chạm trổ tinh vi ; nó đã làm chóa mắt người xem bởi sự trang hoàng rực rỡ và bởi kích thước phi thường của nó.
 
354 năm trước Chúa giáng sinh, sau một triều đại thanh bình thịnh trị, vua Mausole của xứ Carie thăng hà, hoàng hậu Artémise, vợ của nhà vua, quyết định xây cất cho ông một ngôi mộ để làm sống lại những kỷ niệm của hoàng đế trong lòng bà. Bà cho mời những nghệ sĩ tài danh của Hy Lạp, điêu khắc gia như Seopas, Briaxys, Timothée, Léocharès và những kiến trúc sư như Saturos, Pythis... Hàng đoàn tàu chở đá cẩm thạch từ Doclécanèse, nô lệ và ngay cả thường dân, thúc đẩy bởi sự tri ân để làm vinh dự cho vị vua tiếng tăm của họ, đã đến để bắt tay vào việc. Hoàng hậu luôn luôn hiện diện để khích lệ và hối thúc họ làm nhanh vì bà sợ rằng mình sẽ chết trước khi hoàn tất công trình. Thật thế, bà đã chết sau chồng bà hai năm. Dân chúng đã đặt bà nằm cạnh người chồng mà bà hết lòng thương mến. Ngôi mộ Mausole cao 22m, chu vi 133m và được bao quanh bởi vô số cột.
 
Mười tám thế kỷ sau, công trình kiến trúc đó đã bị tàn phá bởi những quân trộm cướp. Vào năm 1856, người Anh đã tìm ra di tích và đưa những mảnh vỡ, những khúc gẫy về Luân Đôn.
 
 
KỲ QUAN THỨ TƯ:
 
ĐỀN THỜ NỮ THẦN DIANE Ở EPHÈSE 
 
Mảnh đất mà ngày nay làng Aia Soluk của Thổ Nhĩ Kỳ tọa lạc, ngày xưa là thánh địa của thần nữ Diane. Dân chúng vùng Ephèse đã tìm thấy ở vị thần linh nầy một năng lực sáng tạo thiên nhiên. Bà được tượng trưng bằng con ong, và vị đại tư tế được gọi là vua của loài ong. Bà được mô tả dưới hình dáng xác ướp của một người con gái để trần lộ ngực.
 
Đền thờ ở Ephèse đã bị phá hủy và đã xây cất lại nhiều lần, nhưng bao giờ cũng giữ được vẻ huy hoàng tráng lệ.
 
Khắp Á châu người ta đều nói đến một kho tàng chôn giấu dưới hầm của ngôi đền, vì thế các nhà tư tế canh giữ rất nghiêm mật. Người ta cũng đã tán dương lối kiến trúc lộng lẫy của ngôi đền, do thiên tài Chersifron và Métagène, công trình điêu khắc để trang hoàng ngôi đền của điêu khắc gia Scopas và Praxitèle.
 
Ngôi đền Ephèse được chú ý, không phải vì kích thước như Kim tự tháp, mà vì sự cân xứng và hòa hợp tuyệt vời của nó. Nhưng vào năm 356 trước Tây lịch, Erostate, một người loạn trí, sống nhờ vào của bố thí của khách hành hương từ các làng Hy Lạp ở Á châu về đã phóng hỏa ngôi đền với ý định làm cho mình bất tử bằng một hành động phạm thượng. Lúc bấy giờ đang đêm, mọi người đắm chìm trong giấc ngủ. Ngọn lửa đã thiêu hủy công trình có một không hai này một cách vô tình. Không ai lấy ra được một vật quí báu nào. Mãi nhiều năm sau, ngôi đền mới được xây cất lại theo đồ án cũ. Sử gia Pline Strabon đã mô tả lại rằng ngôi đền mới nầy dài 138m, rộng 71,5m, tường lát cẩm thạch, mái làm bằng gỗ cây bá, 127 cột của xứ Ionie cao 18m bao quanh chính điện, nơi đặt tượng nữ thần. Trong số đó, có 36 cột được trang hoàng, chạm trổ, do Crésus vua xứ Lydie, dâng biếu. Mặt tiền của ngôi đền, phía trên các cột, là một hình tam giác lớn, chạm trổ rất tinh vi, tao nhã. Bên trong đền, những bức họa trên tường đã lôi cuốn sự chú ý của du khách.
 
Hoàn tất năm 323 trước Tây lịch, kiến trúc nầy bị hư hại quá nửa, khoảng giữa những năm 260 và 268 sau Chúa giáng sinh, dưới triều đại của Gallien, do sự phá hoại của bọn lưu manh Goths, thuộc nước Đức. Sau đó, dân Aia Soluk, một giống người không biết thưởng thức vẻ đẹp, đã lôi những tảng đá của ngôi đền xuống mà xây cất nhà cửa. 
 
 
KỲ QUAN THỨ NĂM:
 
TƯỢNG THẦN JUPITER
 
Từ năm 668 trước Tây lịch cho đến năm 393 sau Tây lịch người Hy Lạp cứ bốn năm một lần, đã tổ chức lễ Quốc Khánh với nhiều nghi thức trọng thể.
 
Họ đã gặp gỡ và chúc tụng lẫn nhau ở thung lũng Élide, trong một cánh đồng nhỏ, phía Bắc và Tây Bắc giáp dãy núi Cornius và Olympe, phía Nam giáp sông Alphée, phía Tây giáp sông Cladeus. Họ hiến tế thần Jupiter Olympieu. Tên Olympic không phải để chỉ một thành phố mà đúng ra, để chỉ một sự hợp nhất các đền thờ và những di tích công cộng được xây cất lên vào những dịp lễ đó. Trong số các đền, ngôi đền thờ thần Jupiter được coi là đẹp nhất, tượng thần được đặt trên bệ thờ giữa đền. Kiệt tác nầy của Phidias. Tượng được làm bằng ngà voi un khói để giống màu da người. Tay phải ngài cầm một vật tượng trưng cho sự chiến thắng, vậy nầy bằng vàng khối cũng như bộ y phục khoác ngang hông của ngài.
 
Điêu khắc gia Phidias đã làm việc ròng rã suốt bốn năm trường. Người ta kể lại rằng : khi kiệt tác đã hoàn tất, trên không, một vầng hào quang rực rỡ bao phủ ngôi đền và sau đó sa xuống chân nhà nghệ sĩ.
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 3, ra ngày 29-8-1971)
 
 KỲ QUAN THỨ SÁU:
 
PHO TƯỢNG KHỔNG LỒ THÀNH RHODES
 
Vào năm 672 sau Chúa giáng sinh, khi dân Á Rập chiếm thành Rhodes, họ rất đỗi ngạc nhiên khi chợt trông thấy những mảnh vụn của một pho tượng khổng lồ. Nó đã nằm đó trong suốt 8 thế kỷ, bao phủ đầy rong rêu và sò ốc đủ loại. Tứ chi sứt, gãy, mặt úp xuống bùn: đó là tất cả những gì còn lại của pho tượng khổng lồ của thành Rhodes.
 
Pho tượng được khởi đầu bởi Charès de Linde, một người học trò của Lysippe, nhưng sau đó Lachès đã hoàn tất pho tượng với một phí tổn vĩ đại : 300 tấn đồng đỏ đã được dùng để đúc tượng nầy.
 
Bức tượng được dâng hiến cho thần Thái dương. Hai chân tượng giang ra, mỗi chân đặt một bên cửa vào hải cảng. Tay mặt tượng cầm một bó đuốc, tay trái, một chiếc cung và một giỏ tên đeo sau lưng.
 
Mỗi chiều, khi vầng thái dương sắp khuất ở chân trời, người gác dan lục đục leo lên gian phòng trên cao bằng một chiếc thang, châm lửa vào bó đuốc bên tay phải tượng để đôi mắt tượng sáng ngời lên và cũng để soi đường cho các thủy thủ ngoài khơi.
 
Năm mươi sáu năm sau khi hoàn thành, pho  tượng khổng lồ đã ngã xuống trong một trận động đất và không một ai bận tâm đến việc dựng pho tượng lại. Người ta đã lôi những mảnh vỡ lên và dùng vào những công trình xây cất mới.
 
 
KỲ QUAN THỨ BẨY:
 
HẢI ĐĂNG XỨ ALEXANDRIE
 
Hải đăng được phát minh và sử dụng ngay từ thời xa xưa, Homère cũng đã nhắc đến.
 
Ngọn hải đăng lâu đời nhất, mà sử sách đã ghi chép lại, là Hải đăng ở mũi đất Sigée, nhưng, nếu nói về danh tiếng, người ta phải kể đến hải đăng Ptolémée Philadenphe, do Sostrate de Cnide xây cất vào năm 279 trước Thiên Chúa, ở đảo Pharos ngay cửa vào hải cảng Alexandrie. Ngọn tháp Pharos cao khoảng 150m.
 
Giữa nhiều giả thuyết khác nhau, có một giả thuyết được xem là đáng tin nhất là: Ngọn hải đăng gồm ba phần. Phần thứ nhất là một tòa nhà hình chữ nhật, dùng làm nền tháp. Phần thứ nhì là một tòa nhà hình bát giác dùng làm văn phòng quan thuế và vọng canh. Phần thứ ba là chóp của ngọn tháp, để đốt lửa.
 
Ông đã dùng một loại gương phản chiếu bằng kim loại rất lớn, gương được đặt trên một trục dao động, vì thế ánh sáng phản chiếu tắt sáng từng hồi khiến ánh sáng hải đăng không bị nhầm lẫn với ánh sáng của các vì tinh tú.
 
Ngọn hải đăng Alexandrie rất kiên cố và bền bỉ với thời tiết bất thường nhưng cuối cùng đã bị phá hủy vào thế kỷ thứ bảy, theo lệnh của Tổng đốc xứ Alexandrie vì người ta tin rằng nơi đó ẩn giấu một kho tàng. 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 4, ra ngày 5-9-1971) 
 

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

Khi Núi Lửa Xuất Hiện


Xế trưa ngày thứ bảy 20-2-1943, chủ nhân nông trại nhỏ nọ, cách xa thành phố Mễ-Tây-Cơ chừng một trăm tám chục dặm về hướng bắc, tên Dio Pulido là người duy nhất chứng kiến từng giây từng phút sự xuất hiện của núi lửa cho tới lúc tàn lụi.
 
Lúc đó, Pulido vừa cấy xong thửa ruộng nên ngừng lại nghỉ ngơi đôi phút cho khỏe. Đang ngắm nhìn cảnh vật chung quanh, bỗng dưng Pulido thấy cách chỗ ông đứng vào khoảng sáu chục thước và ngay giữa ruộng ngô của mình một cột khói mỏng màu trắng cuồn cuộn bốc lên tựa con rắn hổ mang uốn éo ngóc đầu đưa đẩy toàn thân theo điệu kèn của nhà nghệ sĩ Ấn Độ.
 
Ngay từ sáng sớm đã có dấu hiệu khác thường vì mặt đất rung chuyển lạ lùng. Tới trưa, giữa lúc Pulido cặm cụi cày xới, ông cảm thấy chân mình nóng ran như đi trên lửa. Còn đang phân vân trước hiện tượng này thì tự nhiên ruộng ông bốc khói. Và khi Pulido bước lại gần để quan sát kỹ càng cùng tìm hiểu nguyên nhân, một tiếng nổ nhỏ chẳng khác gì âm thanh khô khan phát ra mỗi lần ta mở nút chai rượu vậy. Kế tiếp, cột khói dần dần lớn hơn rồi phun lên cao vì bị sức mạnh vô hình từ trong lòng đất ép cho vọt ra ngoài. Quá lo sợ, Pulido vội vã chạy ngay về nhà báo tin cho vợ biết.
 
Kể từ giờ phút ấy, gia đình Pulido hết còn dịp thấy lại ruộng nương, vườn tược của mình nữa, vì trong khi ông giục vợ mau mau chạy ra khỏi nhà thì cũng là lúc một cơn động đất dữ dội vật ngã ông. Cơn động đất này thật khủng khiếp bởi 1 máy ghi địa chấn đặt tại Nữu Ước, cách xa tới hai nghìn hai trăm năm chục dặm còn đo được cường độ cực mạnh sự rung chuyển ấy. Pulido cố gắng nhỏm dậy. Ông nhìn ra ruộng lúa nhưng chỉ thấy một biển lửa lẫn với các tảng đá nho nhỏ, đất cát văng tứ tung lên cao.
 
Quên cả hiểm nguy, Pulido liều chết dẫn vợ cố gắng băng qua vùng đất rung chuyển để tới làng Paricutin kế bên, nhưng nơi này cũng đang bị tàn phá, và dân làng cũng hốt hoảng ùn ùn tìm cách lánh nạn.
 
Đêm hôm đó, Paricutin không chìm ngập trong bóng tối như thường lệ, mà trái lại, núi lửa đã soi sáng cả một vùng trời đầy khói, tro, bụi và hơi nóng bốc lên hừng hực. Nhiều tia lửa vụt tung lên cao kèm theo biết bao tảng đá bị "bắn" lên không trung tới cả ngàn bộ chứ không ít. Những tiếng nổ đinh tai nhức óc tựa hồ hàng trăm khẩu đại bác cùng khai hỏa một loạt khiến mặt đất rung chuyển khủng khiếp. Từng đám mây tro, bụi dầy đặc bay đi xa đoạn rơi xuống bao phủ toàn thể thành phố Mễ Tây Cơ cách đấy một trăm tám chục dặm đường.
 
Chưa hết, sang tới tối ngày thứ ba, dung nham từ miệng núi lửa bắt đầu tràn ra ngoài. Lớp dung nham này, đặc sền sệt lại sôi sùng sục, dâng lên liên tiếp để rồi chẩy xuống sườn núi tạo thành dòng suối lửa vĩ đại với bề dầy tới sáu thước, ngang sáu chục thước hơn. "Nước" suối lúc đầu trắng sáng chói lóa cả mắt, sau đỏ đổi thành đỏ thắm từ từ trôi theo đường dốc đổ lênh láng xuống thung lũng. Dòng suối dung nham đó lan tơi đâu là thiêu hủy mọi sinh vật tới đó.
 
Nhận được tin một ngọn núi lửa mới xuất hiện, chính phủ Mễ Tây Cơ phái nhân viên, khoa học gia tới vùng gặp thiên tai. Nhiều phóng viên nhà báo, nhiếp ảnh viên cũng có mặt tại chỗ. Họ băng qua thửa ruộng của Pulido giờ đây chìm ngập trong lớp phún xuất thạch để hướng về phía núi lửa. Họ tìm cách tới gần tấm màn lửa vĩ đại kia, và ở lại đây ít ngày để nghiên cứu về sự xuất hiện đột ngột của ngọn núi lửa mới mẻ mang tên ngôi làng nơi nó tàn phá khốc liệt: núi lửa Paricutin.
 
Cho tới ngày mồng 10-6-1943, người ta vẫn còn nghe thấy tiếng nổ dữ dội phát ra từ núi lửa Paricutin. Lần này, một dòng suối dung nham thứ nhì tiếp tục chẩy ra chầm chậm. Lúc đầu tốc độ di chuyển của dung nham khoảng ba trăm thước một ngày, nhưng một tháng sau chỉ còn chừng ba thước mà thôi.
 
Tính ra trong vòng bốn năm tháng, núi lửa Paricutin đã chôn vùi hai thung lũng dưới khối lượng dung nham vĩ đại cùng phún xuất thạch gồm nhiều tảng đá và tro, bụi cùng đất cát. Cho tới ngày ngưng hoạt động, núi lửa Paricutin đã dâng cao khỏi mặt đất ba trăm sáu chục thước hơn với bốn trăm lẻ hai thước đường bán kính dưới chân núi. Ngày nay du khách có thể nhìn thấy núi này từ xa bẩy mươi lăm dặm.
 
Khi kiểm điểm lại, người ta chỉ còn thấy mầu đen bao phủ mọi vật trong làng Paricutin. Bao ruộng vườn, nhà cửa, đường xá, cây cối đều biến mất ngoại trừ ngọn tháp của một ngôi thánh đường nhô lên ngạo nghễ giữa lớp dung nham khô đặc. Làng Uruapan cách ngọn núi lửa hai chục dặm cũng vậy, các mái nhà đều bao phủ nhiều lớp tro, bụi dầy cộm.
 
Chung quanh làng Paricutin khoảng một trăm dặm, cỏ dại cũng không còn nữa, vì tất cả đã chết mỗi khi cơn gió đưa từng đám tro bụi nóng bỏng từ vùng núi lửa tới. Chim chóc đang bay mà lạc vào đám mây tro bụi đó còn bị chết trước khi rơi xuống đất nữa thì làm sao cây cỏ sống nổi.
 
Tóm lại núi lửa Paricutin đã đem đau thương tang tóc đến cho bẩy ngôi làng kế cận với biết bao đổ nát khủng khiếp. Sự hoạt động bất thần của núi lửa này đã thay đổi hoàn toàn miền đất trù phú ở Mễ Tây Cơ.
 
Chính phủ cấp tốc gửi nhiều bác sĩ, y tá và công nhân tới để lo săn sóc sức khỏe cùng giúp đỡ hơn tám nghìn nạn nhân dựng lại nhà cửa, trong đó có Pulido người duy nhất chứng kiến sự xuất hiện của núi lửa Paricutin.
 
 
ĐẶNG HOÀNG      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 105, ra ngày 31-8-1973)
 

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

Con Thằn Lằn


Với dáng điệu ngái ngủ và đôi mắt lờ đờ như người say rượu, chú chậm chạp thò ra cửa hang. Chú nghếch cái đầu nhỏ bé lên, giương to đôi mắt, quay bên nọ, ngó bên kia đúng điệu... con nai vàng ngơ ngác, trong khi cái lưỡi xẻ đôi của chú thò ra thụt vô y như một cái máy.
 
Chú là con cháu của một chi họ thằn lằn rất quen thuộc với thân hình be bé xinh xinh: "Thằn lằn Vách". Sở dĩ chú có cái điệu bộ e dè, ngây thơ như vậy là vì chú muốn biết chắc trời hôm nay đã thật ấm áp chưa? Vốn sợ lạnh, chú rất kỵ mùa đông và lúc nào cũng muốn đầm mình trong ánh sáng rực rỡ của mặt trời. Chú đã nhận ra cảnh vật quen thuộc ở chung quanh. Tất cả đang chan hòa ánh nắng. Chú cất bước, nhẹ nhàng lách qua các viên đá, cụm cỏ, rồi leo tót lên đỉnh tường: "Ôi! Trời trong sáng và ấm áp làm sao!"
 
Chú đưa qua đưa lại cái đuôi dài mềm mại ra chiều thích chí lắm. Ánh sáng như tưng tiu, vuốt ve chú. Đối với chú, không còn giây phút nào khoan khoái, thú vị cho bằng lúc này! Vốn thuộc dòng máu lạnh, chú rất cần sức nóng để sưởi ấm thân hình đã bị rét cóng trong suốt mùa đông. Chú đang thở, và thở như điên. Mình chú phồng lên, xẹp xuống, theo một nhịp khá nhanh. Người ta bảo chú thở như thế là vì chú hồi hộp hay lo sợ một điều gì. Nhưng sự thật không phải vậy.
 
Trong những lúc phơi mình dưới ánh sáng mặt trời, vẻ đẹp toàn diện của chú mới thật sự hiện ra. Tuy chú không có mầu sắc lộng lẫy của loài thằn lằn Xanh, nhưng những mầu sắc dịu dàng của chú cũng đủ sức hấp dẫn và tạo nên một sự hòa hợp đáng yêu. Màu da của chú thay đổi luôn. Thường thì xam xám, đôi khi vàng sẫm hay xanh lá cây điểm những khoang xanh dương.
 
Ngoài ra, những cử chỉ mềm mại và dáng dấp nhanh nhẹn cũng là những yếu tố làm tăng vẻ đẹp của chú.
 
 
THẰN LẰN DI CHUYỂN RA SAO?
 
Căn cứ vào bốn cái chân trông thấy rõ ràng, người ta cho rằng loài thằn lằn của chú đi bằng chân, nghĩa là cũng ắc ê, một, hai y như mấy chú khuyển của chúng ta ở nhà. Thật ra thằn lằn không có lối đi như vậy. Lối đi đó có vẻ tầm thường quá chăng, nên thằn lằn Vách mới có một lối đi độc đáo hơn: đi bằng lối vặn mình.
 

Theo lời của những nhà sinh vật học thì sở dĩ chú đi như vậy là vì chân của chú mọc rất ư là vô duyên. Thay vì phải mọc thẳng xuống phía dưới để đỡ lấy thân mình thì chúng lại mọc chình ình ra hai bên hông như bốn cái bơi chèo. Thành thử mang tiếng là loài có chân mà rồi lúc nào thằn lằn ta cũng phải nằm ẹp xuống mặt đất như bị bán thân bất toại vậy.
 
Mỗi lần muốn đổi chỗ, chú đành phải kéo lê cái bụng đầy vẩy trên mặt đất: hai chân trước lấy tấn, bám chặt vào mặt đất, rồi vặn mình mạnh một phát để đưa tấm thân chéo lên phía trên. Sau đó đến lượt hai chân sau gồng lên, ấn mạnh xuống đất, rồi lại vặn mình ngược lại một phát nữa, hai chân sau đã đẩy cả người chú lên phía trước. Cứ thế, tùy theo đường đi dài hay ngắn mà chú uốn éo, õng ẹo bằng thích. Có một điều bạn nên lưu ý là "trăm hay không bằng tay quen" ; nếu ta mà phải đi theo kiểu này thì ba bẩy hai mươi mốt phát vặn vẹo là ta đã cảm thấy xương sườn xương sống muốn long ra từng chiếc, nếu không thì cũng phải há mồm, trợn mắt, thở không ra hơi nữa. Nhưng đối với mấy chú thằn lằn thì khác, vì đó là nghề của mấy chú ; nên các chú ưỡn bên nọ, ẹo bên kia một cách rất mềm mại và nhanh nhẹn: nhiều khi ta khó lòng thấy rõ và đã tưởng mấy chú đi theo lối thông thường.
 
 
ẢO THUẬT
 
Vào những ngày ấm áp, thằn lằn ta hoạt động rất hăng hái. Chú săn mồi cả ở trên tường lẫn dưới đất. Nhện, sâu bọ, côn trùng, kiến... là những món nhậu ngon tuyệt cú mèo đối với chú. Mỗi khi tóm được con mồi nào, chú không cần dùng chân để ghì, chỉ một cái lưỡi phóng mạnh ra trước độ mấy xăng-ti-mét, rồi lại thụt vào. Thế là con mồi đã nằm gọn trong cái mồm khá lớn của chú rồi! Chỉ trong chốc lát, nạn nhân đã bị nghiền nát giữa hai hàm răng nhỏ li ti thường mọc ngược vào phía trong và chú chỉ việc nuốt chửng một cái là xong. Cứ thế, một, hai, ba lần... trong nháy mắt, không biết bao nhiêu con vật nhỏ bé đã lần lượt chui vào nằm gọn trong bao tử của chú.
 
Nhưng chú cũng phải coi chừng. Nếu không mắt trước mắt sau đề phòng bất trắc, có thể đến lượt chú là nạn nhân đáng thương hại: mấy anh rắn lục, chim và chuột xạ lúc nào cũng sẵn sàng ăn sống, nuốt tươi chú. Trong trường hợp nguy hiểm, chú thường vắt đuôi lên cổ chạy như ma đuổi, chứ không dám làm gì cả.
 
 
SINH SẢN
 
Tới mùa hôn nhân, thằn lằn cái cũng như thằn lằn đực đều không thích sống trong cảnh đơn độc. Bởi vậy, người ta thấy anh chị túm năm tụm ba thành từng đàn trên các bức tường đầy ánh nắng.
 
Rồi thằn lằn cái đẻ trứng vào một cái hố đào sẵn ở dưới đất, hoặc trong một hang hốc tự nhiên nào đó. Đẻ xong, cô nàng dông tuốt, không thèm ngó ngàng tới lũ con (thường từ 3 đến 9 trứng). Trong một thời gian ngắn, những trứng này phồng lớn lên để đạt tới chiều cao độ 15 mm.
 
Sau 6 tuần, thằn lằn con ở trong trứng sẽ dùng một chiếc răng mọc sẵn ở đầu mồm, đục thủng trứng mà chui ra. Sau 6, 7 ngày sống lăn lóc trên mặt đất, thằn lằn con sẽ dài ra, nhưng không quá 6 cm và trở nên nhanh nhẹn. Bấy giờ là lúc chúng có thể bắt đầu mở các cuộc săn mồi y như cha mẹ chúng.
 
Thằn lằn con tăng trưởng rất nhanh. Chỉ một năm sau, chúng đã dài 15 cm. Sau 4 hay 5 năm, chúng sẽ đạt được độ dài lớn nhất là 20 cm. Chúng làm quen với cảnh vật rất mau.
 
Có một điều ta không thể ngờ được là thằn lằn cũng rất khôn. Chúng có thể nhận được ra ai là người thường mang thức ăn đến cho chúng. Trong trường hợp này, chúng thường a la xô nhảy vào lòng bàn tay chủ để giành giật mồi. Nếu không thấy thức ăn, chúng liền ngước đầu lên nhìn chủ bằng đôi mắt long lanh rất dễ thương.
 
Nếu được nuôi nấng đầy đủ, một chú thằn lằn Vách có thể sống tới 10 năm.
 
Khi được một tuổi, chú bắt đầu thay "áo" vào mỗi mùa hè. Da chú được tạo nên bằng những chiếc vẩy cứng kết hợp thành những mảng nhỏ khác nhau. Nhưng vẩy của chú khác với vẩy cá ở chỗ vẩy cá thì chiếc nọ xếp chồng lên chiếc kia như ta lợp ngói ; đằng này vẩy của chú chỉ mọc sát bên nhau mà thôi. Khi thay "áo", từng tảng da sẽ tách ra theo những đường ngoằn ngoèo rồi rơi xuống, trong khi lớp da mới từ từ xuất hiện để thay vào.
 
 
PHÂN LOẠI
 
Dưới đây là bốn loại thằn lằn chính: (xin xem hình)
 
1 - Thằn lằn Khoan: đây là giống thằn lằn to nhất bên Âu Châu, đôi khi chiều dài đo được 60 cm ; nguyên cái đuôi cũng tới 40 cm. Giống này khá dữ và sẵn sàng tấn công bất cứ con mồi nào còn sống. 
 
2 - Thằn lằn Xanh: người ta nhận ra giống thằn lằn này rất dễ nhờ ở thân hình thon thon và màu da sáng bóng. Chiều dài dài nhất là 40 cm, riêng cái đuôi đo được 25 cm. Dưới ánh nắng thích hợp, thằn lằn Xanh trở nên nhanh nhẹn và dữ tợn. Mỗi khi đụng độ với đối phương, giống thằn lằn này thường quyết chiến đến một mất một còn mới thôi. 
 
3 - Thằn lằn nhanh nhẹn: tên này có lẽ không thích hợp, vì mang tiếng là nhanh nhẹn, nhưng chúng lại không nhanh nhẹn bằng hai giống trên. Người ta thấy giống thằn lằn này ở bên Âu Châu và hay làm tổ giữa các rễ cây.
 
4 - Thằn lằn đẻ con: tên thì gọi vậy, chứ giống thằn lằn này cũng đẻ ra trứng. Có điều khi vừa lọt lòng mẹ, trứng nở ngay ra con, đôi khi cũng phải chờ một thời gian sau mới nở. Đây là giống thằn lằn có thể sống ở độ cao rất lớn (3.000 m tại núi An-pơ). Mỗi con đo được 17 tới 18 cm.
 
 
VĂN TRUNG        
(Viết theo Tout Univers) 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 103, ra ngày 17-8-1973)
 

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

Phan Thanh Giản

 
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình nay thuộc làng Bảo Thạnh, quận Ba Tri tỉnh Kiến Hòa.
 
Ông mồ côi mẹ từ thuở vừa 7 tuổi, lức nhỏ theo học nhà sư Nguyễn văn Noa tại chùa Phú Ngãi.
 
- Năm 1815 ông phải khổ sở một thời gian vì cụ thân sinh ông đương làm quan, bị người vu cáo đến phải tù tội.
 
- Năm 1825, ông thi đỗ cử nhân tại Gia Định.
 
- Năm 1829, dưới triều Minh Mạng được tiến chức Hình bộ Lang Trung, rồi đến Phủ Doãn Thừa Thiên.
 
- Năm 1834, được thăng Đại Lý Khanh sung Cơ Mật Đại Thần
 
- Năm 1835, được bổ làm kinh lược Trấn Tây. 
 
- Năm 1836 vì tội can vua đình ngự giá đến núi Ngũ Hành, nên bị giáng chức làm lục phẩm thuộc viên, lo việc quét dọn bàn các công đường.
 
Khi các quan xử kiện ông khoanh tay đứng hầu, các quan thấy vậy lấy làm ái ngại, nói với ông:
 
- Xin quan lớn tìm chỗ ngồi, nếu quan lớn hầu chúng tôi như thế, chúng tôi làm sao ngồi yên để làm việc!
 
Ông đáp:
 
- Xin các ông cứ chu tất công việc các ông. Riêng tôi, vua phán sao tôi nghe  vậy.
 
Hai tháng sau ông lại thăng Thị Lang Hộ bộ sung cơ mật viện Đại Thần.
 
- Năm 1840, ông làm phó chủ khảo Thừa Thiên, bị giáng một cấp vì lẽ chấm bài thi không kỹ. Sau đó lại được thăng Binh Bộ Thị Lang.
 
- Năm 1841, dưới triều Thiệu Trị ông thăng lên Tham Tri Bộ Binh sung Cơ Mật Viện. Cũng năm này, ông có lệnh làm chánh chủ khảo Hà Nội.
 
- Năm 1851, làm Tổng Đốc Gia Định.
 
- Năm 1852, ông cùng Nguyễn Tri Phương dâng sớ về triều tâu các điều lợi hai công ích, nên được vua ân thưởng tấm kim khánh có khắc bốn chữ: "Liêm, Bình, Cần, Cán".
 
- Năm 1862, ông có lệnh của triều đình Huế vào Gia Định, điều đình với Pháp.
 
- Năm 1863, được cử làm chánh sứ sang Pháp chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng thất vọng vì sự thiếu thành thực của người {háp.
 
- Sau năm 1865 được phong chức Kinh lược Đại Thần 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).
 
Trước sự tấn công vũ bão của người Pháp, quân ta chống cự không nổi, chỉ trong 5 ngày đã mất 3 tỉnh.
 
Ông đau buồn cho vận nước, đành bưng uống chén thuốc độc tự tử, sau khi căn dặn các con, và xin người Pháp không được tàn sát dân chúng.
 
Ông tạ thế vào giờ Tý, đêm mùng năm, tháng bảy, năm Đinh Mão, tức nhằm ngày 4-8-1867, hưởng thọ 71 tuổi.
 
Đọc qua tiểu sử của ông, chúng ta thấy ông là một bậc học rộng, tài cao. Đã một lòng vì nước trải suốt 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
 
Trong cuộc đời công danh, trên bước đường hoạn lộ, ông đã có bao lần vinh thăng, rồi cũng mấy lần giáng chức.
 
Tuy cuộc đời thăng trầm như thế nhưng vẫn không hề thay lòng đổi dạ, vẫn giữ tròn tiết tháo của kẻ sĩ và triệt để tuân theo lệnh của triều đình.
 
Trước khi chết, ông còn quay mặt về hướng Bắc, lạy tạ vua 3 lạy, rồi ngồi xếp bằng, nước mắt rưng rưng, tay nâng chén thuốc độc đưa vào miệng.
 
Trước cái chết vì nước quên mình của ông, không làm sao tránh khỏi xúc động, cho dù là người ngoại quốc chăng nữa, cũng thấy đau lòng, và không sao ngăn giòng lệ xót xa!
 
Cái chết của Phan Thanh Giản là cái chết tiêu biểu một tinh thần bất khuất cho cả dân tộc Việt Nam, cái chết oai hùng của một nhà Nho đầy tiết tháo...
 
(Theo Xuân Hàm Luông)
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 51, ra ngày 13-8-1972)
 

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2026

Ếch, Nhái và Cóc

 
Ếch nhái và cóc đều có chân dài, nhái có da trơn trượt, trong khi ếch có da sần sùi, cóc thường nhảy từng bước một có da sần sùi và khô - Ếch và nhái thường có thể chết được trong không khí khô nên chúng thường không bao giờ đi quá xa các vũng nước, nếu không có sự ẩm ướt chúng có thể chết: lý do là sự thoát hơi nước qua làn da của chúng rất dễ dàng nên ếch nhái phải thay thế ngay bằng cách trầm mình dưới nước. Loại "Ếch gấu" có thể chết trong vòng 12 giờ nếu bỏ ngoài nước - Loài nhái có thể nhảy rất xa nên nhiều khi người ta còn cho rằng chúng có thể "bay" được, ở Bornéo, Java có một loại nhái cây có chân giống vịt có thể nhảy xa từ 30 đến 40 thước, tại Nam Mỹ cũng có vài loại nhái có thể nhảy xa hơn dù ngón chân của chúng không dính liền nhau. Thực ra loại nhái có một khả năng đặc biệt, khi chúng ta liệng con nhái lên cao, nó lấy thăng bằng dễ dàng và rơi xuống đất an toàn, người ta đã làm một thí nghiệm để chứng minh khả năng này: một con nhái được mang lên một ngọn tháp cao 42 thước và cho rơi tự do, con nhái này đã đáp xuống đất an toàn bằng 4 chân.
 
Những con đực thường có một đôi túi âm thanh trong miệng, công dụng chính là dùng để tăng thanh âm khi ếch nhái kêu, người ta ít chú ý đến những túi này, thường căng phồng trong không khí khi chúng kêu. Một loại nhái dế ở Mỹ châu có túi âm thanh mở ra ở trước miệng, túi này lại dùng để đựng trứng, trong suốt thời kỳ thai nghén, túi này bành trướng lớn, trứng sẽ biến hóa thành nhái con ngay trong túi.
 
Thường thì chỉ có con đực mới kêu, nhưng đôi khi những con cái cũng có thể kêu được khi chúng bị thương hay bị khó chịu. Con đực hầu như chỉ dùng tiếng kêu của mình để "o" chị cái - Khi kêu như thế, con nhái hay ếch nín hơi đóng kín miệng và mũi lại đẩy không khí vào phổi, âm thanh phát ra bởi sức nén của không khí làm rung động các dây thanh âm, những túi âm thanh có tác dụng như những cái "micro" nên âm thanh của ếch nhái rất to so với kích thước của chúng. Ngoài đồng trống chúng ta có thể nghe tiếng kêu của chúng rất xa. Một loại ễnh ương tại Hoa Kỳ có thể phát ra những âm thanh mà người ta nghe được từ xa một hai cây số, hay hơn nữa.
 
Hầu hết ếch, nhái, cóc đều dùng lưỡi để bắt mồi. Lưỡi của chúng được gắn ngay dưới hàm, khi thấy con vật nào bay qua chúng liền tung lưỡi ra, lưỡi này đã được tẩm một chất keo dính do đó con vật khó có thể nào thoát được.
 
Năm 1890, trong một cuốn sách về vạn vật học, người ta đã nhắc nhở đến một loại "Cóc chó" vì tiếng kêu của nó giống tiếng chó tru. Nó được coi như loại cóc độc vì người ta đã thấy một con ngựa bị chết không có một vết thương nào ngoài vết thương do hàm loại cóc chó này cắn vào, do đó người ta có thể dễ dàng kết luận nguyên do cái chết là do con cóc. Thực ra không đúng lắm, vì loại này không độc hại dù chúng rất hung hăng thường tấn công các loại khác. Nó có răng rất dài, thân hình độ 15cm. Nếu bị khiêu khích loại cóc này có thể nhảy vồ và ngoạm lấy đối phương ghìm chặt những cái răng dài vào da thịt đối phương. Khi đó đối phương chỉ có cách giết chết con cóc này mới gỡ ra được. Tuy nhiên, cóc có thể làm chết một con chó là chuyện đã được chứng minh rõ rệt vì người ta đã tìm thấy dưới làn da của ếch nhái và cóc có những tuyến độc do đó nó có thể giết hại một con chó nhỏ, nếu như con này vô phúc cắn phải nó. Dù sao có lẽ loài chó cũng hiểu rõ điều đó nên rất ít khi nó ngậm cóc trong miệng, nếu ta có dịp chứng kiến, con chó thường chỉ dùng chân để vờn cóc thôi.
 
Tại Nam Mỹ còn nhiều loại cóc khác độc hại hơn. Trong nhiều sách vở còn ghi chép rằng người ta đã dùng chất độc của loài cóc để tẩm độc các mũi tên. Một loại nhái ở Hoa Kỳ có thể giết cả rắn, đó là loại "Nhái cá" ở miền Đông, loại này có những đốm đen và đốm vàng trên  da. Người ta đã chứng kiến khi một con rắn vồ một con cóc loại này. Khi ngậm vào miệng, con rắn vội nhả ra ngay và lăn đùng ra chết. Những nhà nghiên cứu về loài ếch nhái thường chẳng mấy thích thú khi gặp loại cóc này vì nếu giam chúng chung với các con vật khác thì chẳng mấy tiếng đồng hồ sau những con khác đều bị chết và ngay cả nhà sưu tầm nếu vô phúc mó tay vào da nó sẽ có thể bị làm độc ngay.
 
Vài loại Cóc có thể ăn được cả cá sấu - điều này thực lạ lùng, nhưng đã xảy ra. Đối với vài loại cóc lớn, nó ăn bất cứ vật gì mà nó có thể bắt được. Kể cả những con cá nhỏ, chim chóc hay cầm thú. Tại Nam Mỹ có loại cóc khổng lồ dài từ 15 đến 20cm là một trong những loại cóc lớn nhất có thể coi là vô địch về môn "nuốt".
 
Một câu chuyện được kể lại rằng tại một Viện Đại học tại Hoa Kỳ, người ta đã bắt nhiều loại cóc nhái về để thực nghiệm, vì thiếu chỗ người ta đã cho các con cóc ở chung với những con sấu nhỏ (dài độ 30cm), mấy ngày đầu chúng sống bình thường, nhưng sau một tuần lễ người ta thấy mất một con sấu, xác của nó cũng biến mất. Sau cùng khi dùng tia X chụp dạ dày của những con cóc, người ta thấy con sấu nằm trong dạ dày một trong những con cóc nhốt chung.
 
Bác sĩ Frank Blair tại viện đại học Texas đã làm chứng cho câu chuyện. Trong trường hợp này con ếch chỉ dài độ 15 phân trong khi con sấu dài tới 25 phân hai con để chung trong lồng. Một buổi sáng con sấu biến mất trong khi bụng con ếch trương to lên chứng tỏ là con sấu đã nằm gọn trong đó - Nhưng dù sao con ếch phải mất ba bốn ngày mới cử động lại bình thường.
 
Con cóc có thể gây ra mụn cóc không? Căn nguyên và hậu quả giữa con cóc và mụn cóc là một truyền thống. Nhiều người tin một cách giản dị rằng nếu sờ vào da cóc sẽ gây ra mụn cóc, một số khác lại tin rằng nước tiểu của cóc có thể gây mụn cóc. Thực ra không đúng như vậy dù rằng da cóc thường chứa chất kích thích hoặc chất độc có thể gây phỏng da hay ngứa ngáy khi cầm cóc không cẩn thận, cũng như cóc thường có thói quen vọt nước tiểu khi người ta bắt nó. Nước tiểu có thể gây nhức nhối nếu trúng vết thương. Nhưng nước tiểu và chất độc không hề gây ra mụn cóc.
 
Hầu hết loài ếch nhái đều ngủ suốt mùa đông, cóc thường đào hố nhỏ và ở đó đến đầu xuân, khi ra khỏi chúng thường bắt đầu sanh đẻ. Tại Hoa Kỳ vào cuối mùa đông khi không khí hầu như bắt đầu trở nên ấm áp, thì đó là mùa ếch nhái sanh nở, nếu du khách dùng xe để đến bờ sông vào một buổi tối, chúng ta sẽ chứng kiến hàng triệu ếch nhái mới nở ra nhảy đầy trên đất.
 
Ếch nhái và nhất là cóc là loài giúp ích nhiều nhất cho con người mà ít ai biết đến. Các nhà sinh vật học ước chừng hàng năm loài ếch nhái đã tiêu diệt dùm cho loài người một số côn trùng có hại cho mùa màng.
 
Trong vài năm gần đây tại Hoa Kỳ người ta đã làm các bản thống kê, cho thấy một nông dân ở Oklahoma đã tiết kiệm được mỗi năm 25 đô la (tiền mua thuốc diệt trừ côn trùng) do công của một con cóc.
 
Cóc có thể ăn bất cứ loại gì nó kiếm được, thông thường người ta tìm thấy trong dạ dày cóc nhiều loại côn trùng (sâu bướm, bọ rầy...) trung bình trong ba tháng dưới điều kiện thông thường một con cóc có thể tiêu diệt được 10 ngàn sâu bọ.
 
Một loại cóc Nam Mỹ gọi là cóc biển rất to (khoảng 10cm) được nhập cảng qua Jamaica và West Indies vì nhờ nó một số chuột phá hoại mía giảm đi rất nhiều. Người ta cũng áp dụng những biện pháp tương tự tại Puerto Rico. Một loại cóc khác được chở qua Hạ Uy Di và các vùng khác với mục đích giúp nông gia bảo vệ mùa màng.
 
Có lẽ đó là lý do khiến cổ nhân ta mới đặt ra câu ca dao:
 
"Con cóc là cậu ông trời,
Ai mà đánh nó thì trời đánh cho".
 
 
TRƯỜNG KỲ sưu tầm       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 104, ra ngày 24-8-1973)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>