Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017

Hương Vị Đồng Quê


(Thương tặng các em gái Bốn I       
Trường An-Trí C Giáo Đức, Định Tường).

Mặt trời hơi chếch về hướng Tây. Tôi và Huy bắt đầu cuộc hành trình. Chúng tôi đi trên con đường dọc theo bờ sông Cái Cối. Trời xế nhưng độ nóng không kém gì giữa trưa. Tuy nhiên, chúng tôi đi dưới bóng cây và thỉnh thoảng vài ngọn gió mơn man lên mặt làm hai đứa thấy mát lạ. Thế mới biết cái thú ở quê, đã mát mẻ mà lại êm ả vô cùng!

Đường đi râm mát bóng cây, thỉnh thoảng, vài đứa trẻ đang chơi đánh bi dọc đường ngừng tay xầm xì nhau:

- Ông thầy lớp Ba đi với ông thầy lớp Hai kìa! Chắc hai ổng vô nhà ông Hiệu Trưởng.

Có vài đứa bỏ chơi, chạy ra cúi đầu chào lễ phép, cũng có đứa mắc cỡ, thụt vào nhà hay núp ở bụi cây, cười ngỏn ngoẻn. Học trò ở miền quê thường vậy, tôi yêu những cử chỉ đó vô cùng.

Thôn quê vào buổi trưa thật êm vắng, từng cơn gió nhẹ lùa vào đám lá làm lao xao, phát ra những âm thanh rì rào như ru ngủ bên tai. Đâu đây tiếng vài chú chim sâu kêu lên chim chíp lạc lõng giữa không gian rồi tan biến, nhường cho tiếng cúc cu đều đặn của chị cu đất nào đó.

- Hai ông thầy mới về dạy ở ấp mình kìa.

- Chèn ơi! Thầy giáo gì mà có chút téo vậy?

Tiếng đối đáp của hai cô gái ngồi giặt đồ ở bờ sông đưa lên lẫn tiếng cười trong trẻo làm tôi và Huy hết ý kiến, chỉ biết nhìn nhau rồi cùng cất tiếng cười vang. Huy bỗng cất tiếng huýt sáo, tôi chợt nhận ra giọng hắn, hôm nay, cao và trong lạ. Điệu sáo lên xuống theo bản "Chiều" làm tôi cảm hứng, cất tiếng hòa theo...

Đến nhà ông Hiệu Trưởng, hai đứa định quẹo vào thì có tiếng kêu giật ngược ở mé sông:

- Tui đây nè, hỏng có ai ở trỏng đâu! Coi chừng chó cắn chạy không kịp à.

Hai đứa quay ra. Ông Hiệu Trưởng của chúng tôi đang lui cui leo lên bờ, quần áo dính đầy bùn, tay xách cái thùng thiếc ; cậu em vợ thì vai vác lưới, cà nhổng cười duyên. À! Thì ra hai anh em đang thực hiện cuộc đi "săn" ở "thủy giới" mới về. Tôi mở lời:

- Thầy đi "săn" được khá không? Chắc đủ nhậu lai rai buổi chiều.

Ông Hiệu Trưởng vừa đặt thùng xuống đất vừa vuốt ve bộ xương "cách trí" của mình, vừa trả lời:

- Hai anh em nãy giờ gió lạnh muốn "chết"! Hai đứa lén Thủy Vương chốp được đâu vài chú cá lóc, ba bốn trự tôm càng, kể cũng khá khiển. Ai dè ổng hay được, sai đạo binh đỉa đeo vô cặp "ống điếu" của tôi làm hai đứa sợ quá leo lên, kế thấy hai thầy ở trước cửa. Mời hai thầy vô nhà chơi.

Vào đến sân, chú chó thấy lạ, nhìn chúng tôi gầm gừ. Ông Hiệu Trưởng ngồi bẹp xuống đất, quay sang đứa em vợ:

- Đức à! Dẹp thùng vô rồi leo dừa bẻ ăn chơi.

Năm phút sau, ba trái dừa xanh mướt đã nằm gọn trước mắt chúng tôi như thách thức. Ông Hiệu Trưởng vừa chặt dừa vừa nói chuyện:

- Ở vườn ăn dừa khỏi cần ly, chặt đầu rồi thọt ống trúc vô hút. Hết nước, bổ ra, lấy gáo nạo mà ăn. Xong quẹt mỏ, quăng ra sân vài bữa cho vỏ dừa khô đi, đem vô chụm lửa cháy phừng phừng, tiện lợi vô cùng tận. Quên nữa, mời hai thầy, của ai nấy hút.

Chúng tôi khoái chí, hút từng ngụm nước ngọt mát cổ, nước dừa chảy tới đâu, tôi nghe thấm tới đó. Tôi ngửa cổ hút từng ngụm nhỏ rồi thong thả cho hồn lên tít ngọn cây, hai chú trao trảo đuổi nhau trên cành kêu tíu tít. Trời cao và trong xanh, không vương một sợi mây nhỏ. Thoảng từ xa tiếng vài chú ve, còn sót lại của mùa hè, rỉ rả nghe thật buồn. Tôi nhìn Huy, ánh nắng lọt qua kẽ lá in lên mặt hắn làm rỗ nhăn, như tổ ong trông thật tức cười. Thấy tôi cười, hắn cũng nhăn theo...

Chúng tôi từ giã ông Hiệu Trưởng rồi lại tiếp tục với cái bụng đầy dừa. Được một khoảng khá xa, bóng mấy đứa học trò thấp thoáng trước mặt. Có lẽ chúng nó đợi hai đứa tôi lâu lắm. Con bé Giàu, nổi tiếng dạn dĩ trong lớp, bước ra nói nhỏ nhẻ:


- Thưa, hai thầy đi đâu mà "chời" nắng quá vậy?

Tôi biết con bé hỏi để có chuyện mà nói nên đỡ lời:

- Thì hôm qua thầy có hứa là hôm nay sẽ rủ thầy Huy đi câu cá với các em mà. Bộ các em quên rồi sao?!

Ba bốn cái đầu khác ló ra khỏi bụi cây nhưng còn ngại, chưa dám lại gần. Huy vừa đưa tay ngoắc chúng vừa riễu:

- Còn mấy đứa kia nữa, lại đây. Làm gì mà đứng đó? Bộ sợ mấy thầy ăn thịt hả? Thịt mấy em hỏng có ngon nên mấy thầy không ăn đâu mà sợ. Ạ, hay là tính rình để nhát ma hai thầy chớ gì? Hỏng có ai sợ đâu mà nhát. Lại đây chơi.

Tôi bách bộ ra mé sông, tiếng sóng vỗ lách tách vào bờ nghe vui vui tai. Vài khóm lục bình, điểm bông tim tím, thẩn thơ trôi lang thang vô định. Tôi nghĩ, có lẽ đời sống dân chúng ở đây chắc cũng vậy : thật bình thản, không gợn chút suy tư ; hiền hòa như cây trái bốn mùa ; đạm bạc như cá lóc kho tiêu với canh chua bạc hà ; thật thà như màu áo lúc nào cũng mang mùi bùn đất của quê mẹ. Xa xa, giữa sông, vài chiếc ghe đuôi tôm xình xịch chạy qua lại, tung bọt trắng xóa trước mũi ghe.

Tôi thả chân xuống sông, chất nước mơn man da thịt, gây cho tôi một cảm giác mát lạnh thích thú. Qua lớp nước mỏng, loáng thoáng bóng vài chú lòng tong bạo gan rỉa vào chân tôi nhồn nhột.

- Nè, Giàu à. Các em có sẵn đồ nghề chưa?

Con bé đang bàn tán với các bạn, vội chạy lại lễ phép trả lời:

- Dạ, thưa thầy, tụi em lo cần câu, xuồng xong "giồi", mà thiếu mồi. Tại tụi em sợ thầy chê xa mà không đi.

Trước câu nói thật thà của con bé, tôi bật cười thành tiếng:

- Con nhỏ này thiệt à. Sao hai thầy lại không đi? Thầy đã hứa thì phải giữ lời chớ.

Con nhỏ Bảy, nãy giờ im thin thít, có lẽ còn mắc cỡ, vội phát biểu ý kiến:

- Hay vầy nè. Hai thầy ở đây một chút hà. Tụi em vô vườn bắt nhền nhện về câu. Mau lắm, thầy ạ.

Huy hơi lo lắng:

- Mau thiệt hôn? Rồi bắt hai thầy đợi tới tối làm sao dám về. Ma bắt chết.

Con bé quẹt mặt hai ba cái, mỉm cười trả lời:

- Dạ, mau thiệt "mờ". Nhền nhện ở "chỏng" nhiều lắm. Mà tối thì hai thầy ở lại tụi em nấu cơm cho hai thầy ăn. Ở đây gạo "nhóc" hết "chơn" hà, ăn hoài cũng hỏng hết nữa.

Tôi chêm vào:

- Rồi tối hai thầy leo lên cây vú sữa ngủ với ma hả? Rủi bệnh rồi mai ai dạy mấy em?

Lũ trẻ cười vang rồi kéo nhau vào vườn. Thế là hai đứa tôi phải chờ nữa. Tôi nhìn mặt đồng hồ : còn năm phút nữa thì đúng bốn giờ chiều. Còn rảnh tới một tiếng rưỡi lận, không sao!

Tôi leo lên chảng ba cây dừa sát mé sông ngồi đong đưa. Huy leo lên xuồng bơi một mạch ra sông. Xa, trông dáng hắn bơi cũng mềm mại lắm, nhà hắn ở trong vườn mà. Tiếng mái dầm khuấy nước hòa với điệu huýt sáo của Huy thoảng đưa theo gió nghe quyến rũ lạ lùng. Một cơn gió gợn nhẹ, bóng nắng và bóng lá rung rinh đùa nghịch trên áo, trên quần tôi như chơi trò ú tim. Dưới chỗ tôi ngồi, mặt nước yên lặng đến độ có thể thấy rõ mặt. Một chú kiến đen, có lẽ mải nhìn mây nước đến nỗi tuột tay rơi xuống nước. Chú còn đang cựa quậy thì "tách", mặt nước gợn lên vài vòng tròn nho nhỏ rồi trả lại sự yên lặng bình thường. Chú kiến đâu mất, thật mau, thật êm! Có lẽ chú đã nằm gọn trong bao tử của chị lòng tong háu ăn nào rồi. Một tai nạn chết người vừa xảy ra tại đây mà nào có ai hay biết gì đâu. Thiên nhiên thật vô tình với vạn vật vậy!

Có tiếng la của con bé Thắm từ trong vườn vọng ra lẫn tiếng cười của mấy đứa khác. Chắc con bé lại bị mấy đứa kia nhát sâu rồi. Con bé kể cũng lạ, dân vườn mà hễ thấy sâu gì, bất kể lớn nhỏ, thì mặt mày xanh lè, tay chân co quắp, còn miệng thì la oai oái như đạp phải lửa.

Bỗng dưng tôi nhớ lại ngày mới vào nhận lớp. Đứng giữa phòng học, tôi đảo mắt quan sát : bốn chục gương mặt đang nhìn tôi chằm chằm như để dò xét một cái gì. Tôi lùi lại vài bước, tám chục con mắt dao động theo. Tôi im lặng, cả lớp im lặng. Tôi mỉm cười, dưới lớp có vài cái miệng cũng nhích cười theo. Một con bé bật khóc. Tôi gạn hỏi, nó gầm miết đầu xuống bàn, không chịu trả lời. Để phá tan bầu không khí nặng nề ấy, tôi bật cười trấn an và mở lời gọi là "giao cảm". Từ phút đó, thầy trò tôi thật sự quen nhau. Sau này tôi mới biết được, con bé Thắm khóc vì thấy tôi im lặng nên sợ gặp phải một ông thầy khó tánh và đánh đòn nhiều. Thật, không bao giờ tôi quên được giây phút kỷ niệm ấy, giây phút mà tâm hồn tôi dao động nhiều nhất.

Và trong suốt niên học, thầy trò tôi đã trải qua những lức vui có, buồn có. Mà chắc chắn là vui nhiều hơn buồn, vì thầy trò tôi "hợp tính" lắm. Nhất là giờ Hoạt động thanh niên ngoài trời thì không gì vui bằng. Tôi tham dự trò chơi với chúng, có lúc tôi phải chịu phục sự khéo léo của chúng, và ngược lại, chúng cũng phải bò lăn khi tôi nhái dáng con voi và độc vũ khắp sân theo nhịp hát. Tuy nhiên, cũng có lúc đang ngồi chấm bài là có tiếng cãi vã nheo nhéo ở dưới lớp. Đúng là con gái nhiều chuyện ghê! Tôi gọi một "chú" lên, bắt xòe tay. Thanh thước vừa đưa lên, mặt "chú" ta tái xanh lại, mắt nhắm nghiền, môi run run xám ngắt và miệng méo xệch đi như sắp bị đưa lên đoạn đầu đài vậy. Tôi bắt phì cười và hạ roi đuổi về. "Chú" ta bỗng tươi ngay nét mặt và cảm ơn lia lịa trước khi về chỗ. Tự nhiên tôi thấy mến học trò tôi vô cùng, chúng hiền hòa như dòng nước Cái Cối vẫn im trôi, chất phác như những mái tóc "bum bê" kẹp gọn ; lúc vui như chim hót, lúc sợ như... thằn lằn đứt đuôi! Những lúc sắp tan học, tôi cho chúng hát. Những cái miệng xinh xắn cử động nhịp nhàng theo lời ca trông mới dễ thương làm sao! Đó là những món quà trong mát, làm tan hết mọi mệt nhọc sau bốn giờ làm việc, mà chúng đã dành trọn cho tôi. Tự nhiên tôi thấy hòa mình với chúng, và, tuyệt đối không sử dụng roi với chúng nữa. Chỉ có sự chăm sóc nhiệt tình và lời khuyên ngọt ngào của ông thầy mới đủ hiệu lực cho chúng nghe mà thôi. Tôi đã mất đi thiên đường thơ ấu và chính lũ trẻ đã làm sống lại trong tôi giây phút ngà ngọc ấy. Bất giác tôi thấy mình bé lại, bé lại...

- Mấy em cứ lại lôi ổng dậy đi! Chắc gió mát quá rồi ngủ quên chớ gì. Coi chừng tưởng ngủ ở nhà, lăn bậy lọt sông đa.

Lũ học trò khúc khích cười trong khi tôi nhổm dậy ngáp dài thườn thượt.

Đoàn chúng tôi bắt đầu ra "khơi". Mấy đứa trẻ cất tiếng ca theo nhịp bơi : "Chiều nay em đi câu cá, và đem giỏ theo bắt cua...", tôi và Huy cũng vỗ tay theo. Tiếng ca ồm ồm hòa với tiếng ca trong trẻo thành một âm điệu vui vui tai. Nhỏ Bảy liến thoắng:

- Nước lớn thấy muốn tắm quá. Mà hai thầy biết lội không?

Tôi khoát tay lia lịa:

- Biết chớ, mà biết chập chũm thôi. Chớ thầy lặn hay lắm, lặn ba ngày thì nổi lên liền hà!

Nhỏ Đào, từ nãy giờ ngồi trước mũi, cất giọng đe dọa:

- Vậy tụi mình nhận chìm xuồng chơi. Nè, một, hai...

Huy hoảng hồn la lên bài hải:

- Ê! Nhận chìm xuồng chết sao mấy nhỏ... À, thầy không sợ chết đâu, chỉ sợ... ướt hết quần áo, giấy tờ mà thôi.

Chiếc xuồng tấp từ từ vào đám chà, chúng tôi neo ghe rồi bắt đầu thả câu. Vừa thả mồi chưa được mọt phút thì sợi nhợ đã căng và rung mạnh. Tôi hồi hộp giật nhanh. Ồ! Một chú cá lòng tong cỡ ngón tay cái đang dãy dụa làm rung rinh cần câu. Thân chú bóng nhẫy, óng ánh dưới nắng chiều, thật khêu gợi. Tôi đưa tay chộp lấy, chú cá càng cựa quậy dữ dội như cố lần cuối cùng với hy vọng thoát xuống vùng nước trong mát mà chú vừa đánh mất. Nhưng chú đã tuyệt vọng! Làm sao tôi có thể để sẩy chiến lợi phẩm đầu tiên của mình được!

Thế rồi, chúng tôi, mạnh ai nấy thả, nấy giật lấy. Chúng tôi quên cả thời giờ. Dòng nước mát và sự say mê làm tôi quên hết tất cả. Chợt tiếng Huy reo to ở mũi xuồng:

- Con cá gì là cái con cá gì? Nó to ghê hè! Hí... hí...

Tôi quay lại, một chú cá cỡ bàn tay đang vùng vẫy làm oằn cả cần câu của hắn. Nhỏ Đào vừa gỡ cá dùm Huy vừa nói:

- Thầy câu được con cá he "bành ky". Cá he ngon lắm.

Huy há hốc mồm:

- Cá he "bành ky" là cá gì? Sao hồi nhỏ tới lớn thầy không nghe nói tới cà.

Nhỏ Thắm chen vào giải thích:

- Ở đây người ta kêu cái gì bự là "bành ky" hà. Cá he "bành ky" là cá he bự thiệt bự đó, thầy ạ.

À, thì ra vậy. Ở đây có nhiều tiếng lạ ghê : Nào "nhóc" là nhiều, "bành ky" là bự, "ba lơn" là ba khùng. Và đặc biệt là dân chúng ở đây nói chữ "r" hay "tr" nghe không được. Mới lần đầu nghe học trò nói chuyện, tôi và Huy cứ cười mãi.

- Ở đây, ngoài cá he, lòng tong, các em còn câu được cá gì khác nữa không?

- Có chớ nhỏ Bảy nhanh nhẹn trả lời Có cá "gô" biển, bự mà mập hơn cá mè nữa, thầy ơi!

Tôi bật cười thành tiếng:

- Bộ có con cá gô bắt bỏ dô gổ nó quyậy nghe gồ gồ, nghe gọt gẹt nó gớt nghe cái bịch nữa hả?

Bọn nhỏ biết tôi ngạo, che miệng cười bẽn lẽn.

Ánh chiều dịu xuống, tôi xem đồng hồ tay : năm giờ ba mươi phút chiều. Chúng tôi lui xuồng, nhịp bơi chậm rãi như còn tiếc rẻ cuộc đi câu thích thú.

Xuồng cập bến, chúng tôi từ giã lũ học trò rồi thả bộ đi về. Nhỏ Giàu chạy theo sau, tay cầm bọc nylon đầy cá, thở hổn hển:

- Thưa thầy, cá hai thầy câu nè. Hai thầy đem "dìa" kho khô ăn ngon lắm.

Tôi cảm động trước cử chỉ thật thà của con bé:

- Thôi, để các em ăn. Vả lại, hai thầy đâu biết kho cá. Em đem về đi.

Chúng tôi đi trước, lũ trẻ lục tục kéo theo sau cho tới gần chợ mới trở về. Tôi và Huy quay lại, đưa tay vẫy chào. Tiếng nhỏ Thắm còn vọng theo:

- Hai thầy về mạnh giỏi. Chúc hai thầy ngủ ngon...

Tôi và Huy mỉm cười sung sướng. Đường trở về thật mát. Huy ngắt một đọt xoài non đưa lên miệng, còn tôi đang mải mê vấn một cái kèn bằng lá dừa. Gót chân chúng tôi vẫn đều đặn nên êm trên đường đất. Tôi thổi kèn te te, Huy thì huýt sáo bản "Chiều" cổ hủ của hắn. Có tiếng cười khúc khích, chúng tôi quay lại đột ngột làm hai cô gái giặt đồ ban trưa nín bặt. Tôi chu miệng, phùng má, lấy hơi trợn mắt thổi nghe một cái "te...é...e" thật lớn trong khi Huy ôm bụng cười vang.

Buổi chiều ở thôn quê thật nhẹ, thật êm đềm ; không một tiếng động cơ làm nhức óc như ở thị thành. Thoảng vài tiếng sóng con nước đầy vỗ nhẹ vào bờ nghe tanh tách như thầm thì kể chuyện với nhau về cuộc đi câu của chúng tôi. Phương Tây, ráng chiều đỏ ối, vài tia nắng yếu ớt hắt vào mặt chúng tôi như còn vương vấn một ngày vui nhưng chóng tàn. Qua ánh nắng, hình như tôi thấy rõ từng khuôn mặt của lũ học trò đang im lặng ngồi nghe tôi giảng bài trong lớp học. Có lẽ không bao giờ tôi quên được những đứa học trò đầu tiên trong đời làm nghề "gõ đầu trẻ" nầy, dẫu về sau tôi có xa vùng đất An Hữu hẻo lánh nầy để đến một nơi nào khác. Còn các em thì sao? Hỡi những "chú" gái dễ thương của thầy!...


PHAN VĂN KHA      
(Giáo Đức Định Tường)


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 64, ra ngày 12-11-1972)

Bìa của Vi Vi : Gắng sức


Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

Em Dậy Sớm


 











Em dậy sớm để chờ nghe chim hát
Nhìn mặt trời đỏ chói ở phương đông
Đón nắng mai hôn má thắm thêm hồng
Và đợi gió mơ màng ru tóc cỏ

Em dậy sớm vùng trời xanh chưa tỏ
Sương mù còn giăng mắc những hàng cây
Bên ô vuông cửa sổ đứng gọi ngày
Xin ánh sáng về xua ngay bóng tối

Em dậy sớm cho niềm vui tiếp nối
Sau đêm buồn hoen ố nửa không gian
Vừng ô lên giải những tuyến tơ vàng
Cho biển mãi bao la màu biêng biếc

Em dậy sớm và rất nhanh từ biệt
Giấc mơ buồn trên gối mộng đêm qua
Sẽ vui mừng khi chậu cúc lên hoa
Hương rất lạ trước nhà nghe thoang thoảng

Em dậy sớm nên loài sao vẫn sáng
Ánh trăng còn rất nhạt cuối đồi xa
Và con tàu say ngủ trước sân ga
Trong thành phố chưa ai đà thức giấc...

                                    NGUYỄN VÂN THIÊN

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 203, ra ngày 15-6-1973)

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Hãy Ngủ Đi Em














Trời đổ mưa rồi em thấy không?
Lấy giỏ rồi đi bắt cá đồng
Đem về anh nấu canh bầu bí
Để ngoại có ăn thấy mát lòng

Trời đổ mưa buồn trên bến sông
Mây xám giăng giăng khắp cánh đồng
Áo rách em nằm co ro ngủ
Anh đốt rơm khô đỡ lạnh lòng

Trời đổ mưa buồn trên mái tranh
Mưa ướt đất quê đất thơm lành
Rồi mai anh cấy tươi đồng lúa
Em cười sao rỡ rạng môi xanh

Trời đổ mưa rồi em ngủ đi
Ngủ yên mơ giấc mộng xuân thì
Lam lũ, ngoại ngồi trong quán vắng
Gian nan, anh cấy lúc mưa về

Hãy ngủ và mơ mộng nghe em
Khóc làm chi chỉ khổ lòng thêm
Hãy ước cho đời thêm tươi sáng
Cho ngoại, cháu mình vui giấc êm

                            TRẦN THỊ PHƯƠNG LAN
                                  (nhóm bút Hoa Nắng)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 203, ra ngày 15-6-1973)

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

Ngày Cuối Niên Học





- Chúng em xin kính chào cô…

Tiếng chào của 56 em học sinh vang lên cùng một lượt. Liên nghe có một thứ cảm giác sung sướng lạ thường. Khẽ mỉm cười, Liên ra hiệu cho các học sinh ngồi xuống. Rồi với một cử chỉ nhẹ nhàng, Liên cúi xuống cầm cuốn vở của trò Thanh ngồi đối diện và hỏi nhỏ:

- Hôm nay các em học bài gì?

Liên để ý có một chiếc đầu ở cuối lớp. Ngay từ lúc Liên mới vào cái đầu ấy như muốn đứng lên rồi lại sợ hãi ngồi xuống. Nghe Liên hỏi, nó đứng lên và mạnh bạo thưa:

- Thưa cô, hôm nay là ngày học cuối năm.

Liên đưa mắt nhìn một lượt khắp gian phòng nhỏ bé, rồi với một giọng ôn tồn Liên ra hiệu cho thằng bé ngồi xuống, và nàng nói một hơi dài như sợ mất thời gian:

- Các em thương mến. Cô biết đây là những giây phút cuối cô còn được sống chung với các em trong gian nhà nhỏ bé này. Để rồi ngày mai cô sẽ vĩnh viễn xa các em. Không ngày gặp lại. Dầu biết rằng xa các em, cô buồn, buồn nhiều lắm, nhưng cô lại cũng thấy hãnh diện, vì hôm nay cô thấy các em đã lớn hơn lên một ít. Các em lại sắp bước thêm được một bước nữa trên đường học vấn. Cô mừng cho các em, nhưng nếu nói mừng không thì cô thấy không đủ, nên hôm nay, cô thấy cần phải nói với các em một đôi lời, trước là để khích lệ các em tiến bước, sau là lần cuối cô được gởi đến các em những lời khuyên nhủ cuối năm.

Các em thương mến: sau đây 3 tiếng đồng hồ nữa, các em sẽ không còn ai ngồi lại nơi này, các em sẽ bay, bay đi thật xa để tận hưởng những thú vui trong ba tháng nghỉ hè. Ba tháng hè, chắc là các em vui lắm. Cô cầu sao cho các em vui hưởng những tháng hè cho trọn vẹn, để trong năm tới các em sẽ thêm phần hiểu biết, tầm kiến thức của các em mở rộng hơn, để các em đón nhận những lời khuyên, những môn học mới một cách hiệu nghiệm. Nhưng một điều cô mong hơn hết là trong những tháng hè, làm sao để các em đều là những người con ngoan, dễ dạy, biết vâng lời. Kính trọng Ông, Bà, Ba, Mẹ, biết yêu thương nhường nhịn với anh chị em. Được như thế là các em đã đền đáp lại được phần nào công ơn dưỡng dục của Đấng sinh thành.

Các em thân mến, trước khi chia tay, một lần nữa cô xin nói rằng các em hãy cố tỏ ra là người con hiếu thảo, ngoan ngoãn để Ba Mẹ, các anh chị hài lòng. Ngoan, Vui, Khỏe. Được như thế cô tin rằng trong năm học tới các em sẽ gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp. Lần nữa, cô nhờ các em kính gửi tới Ba Má lời chúc vạn an và tạm biệt của cô. Nguyện sao các em luôn là những học sinh ngoan ngoãn, dễ dạy và gương mẫu. Riêng cô, cô sẽ nhớ… và nhớ mãi những con chim non lớp Ba B của cô…

Dứt lời, Liên đưa mắt nhìn khắp lớp học lần nữa, như muốn thâu nhận cả cái thế giới nhỏ bé này vào trong tâm thức. Tự nhiên Liên thấy buồn, buồn thật nhiều khi nghĩ đến ngày mai, rồi đây nàng sẽ không bao giờ được thấy lại những khuôn mặt dễ thương của đám học trò. Khẽ thở dài, Liên nói với các em:

- Bây giờ còn 2g15’ nữa. Các em lấy vở toán ra làm bài trong một giờ. Thời giờ còn lại cô sẽ cho các em nói chuyện vui, tạm biệt nhau.

- Thưa cô vâng.

Tiếng vâng của 56 em học sinh hôm nay Liên nghe sao dễ thương chi lạ… Không dám nghĩ tiếp, nàng vói tay lấy cục phấn và ghi lên bảng những bài toán đố. Coi kìa, 56 cây bút đang gò từng nét chữ, ôi chao, trông chúng mới dễ thương làm sao! Lúc này Liên mong sao cho thời gian dừng lại để nàng còn được nhìn, được thấy những bóng dáng ngây thơ, dễ mến của các em học trò.

Sau khi giảng bài, Liên đi lại chiếc ghế ngồi. Đôi mắt mơ buồn Liên đưa mắt nhìn đám học trò đang cặm cụi với những bài toán đố. Liên cảm thấy luyến tiếc khuôn mặt học trò, nếu có thể nàng sẽ in từng khuôn mặt chúng vào đầu óc. Hôm nay Liên thấy em nào cũng dễ thương cả. Tân, từ một em lười học nhất, Châu, Hoa đã nhiều lần làm Liên muốn khóc, thế mà hôm nay, chúng cũng chăm chỉ làm bài. Bé Hoàng, cu Lâm, không còn nghịch ngợm, phá phách như mọi ngày. Nhìn khuôn mặt của Thu đang cắn bút suy nghĩ, Liên muốn bật cười. Giá như mọi ngày Liên đã chọc cho nó một câu, nhưng lúc này Liên thấy nàng cần phải tôn trọng những giây phút cuối này. Thật trầm lặng, Liên để tâm hồn nàng theo dõi từng cử chỉ, khuôn mặt của các em học trò nàng yêu mến.

- Thưa cô em làm đúng không ạ?

Tiếng bé Lan hỏi bài làm Liên giật mình quay lại:

- … À, đúng rồi em. Hôm nay Lan giỏi quá.

Được khen, cô bé đỏ mặt chạy vội về chỗ ngồi. Trên môi còn e ấp nụ cười hãnh diện.

Đồng hồ đổ 10g, Liên nghe bùi ngùi nuối tiếc. Nhẹ tay, Liên gõ thước trên bàn nói nhỏ:

- Thôi, bây giờ các em xếp hết sách vở, bút giấy cho vào cặp. Thời giờ còn lại là của các em. Cần giã biệt, dặn dò nhau điều gì, các em cứ việc nói, nhưng nói vừa đủ nghe thôi, để các lớp khác còn học…

Nhìn xuống bàn cuối lớp, Liên thấy mấy em nữ sinh lớn mắt đã long lanh giọt lệ. Thấy Liên nhìn mấy em vội cúi xuống, cử chỉ ấy đã không lọt khỏi mắt Liên. Liên thấy lòng rung động thật nhiều, hai gò má nàng nong nóng. Liên sợ nhỡ khóc trước mặt học trò, nàng giả vờ đi ra phía ngoài, khép lại cánh cửa.

Khi nàng bước vào, thì phía bên nữ sinh, khuôn mặt em nào cũng dàu dàu thật tội. Giọng đầy nước mắt bé Nhung khẽ hỏi:

- Thưa cô sang năm cô có dạy ở trường này nữa không?

- À có lẽ không em ạ, vì cô phải ở nhà phụ với Má những công việc lặt vặt trong nhà – Liên đáp lại.

… Thời gian trôi qua thật nhanh – tiếng trống tan học vang lên thật chậm – thật buồn. Liên nghe như có những tiếng nấc nghẹn ngào của các em học sinh.

Thôi thế là hết. Vĩnh biệt các em, các em cô thương mến.

Nhìn từng em học sinh ôm cặp bước ra khỏi lớp, Liên nghe lòng nàng quặn thắt một nỗi nhớ thương vô bờ. Ngày mai, nơi chân trời xa xôi nào đó, các em sẽ vui, sẽ cười, sẽ làm việc, có em nào còn nghĩ đến cô không? Cô luôn nhớ và thương các em.

Sau khi dẫn học trò ra khỏi sân trường, Liên trở lại lớp, nhìn căn phòng trống rỗng, ngổn ngang những bàn ghế. Không một người. Rồi đây, Liên cũng phải xa cả chúng. Nhác thấy trên bàn Liên ngồi có ba bốn bì thơ Liên biết ngay đó là những lời giã biệt của mấy em học sinh, đã dành cho Liên cảm tình đặc biệt. Không vội xem ngay, Liên thu dọn lớp rồi mới ra về. Cầm những bì thơ trên tay, Liên nghe tràn đầy thương mến và luyến nhớ. Trao trả chìa khóa Liên bước ra về và không quên nhìn lại lớp học lần cuối.

Thôi giã biệt mi, ta chào mi, lớp học ơi thương mến.

Sao Mai ơi, muôn đời ngươi vẫn đẹp, vẫn kiêu hãnh, vì trong ngươi các em ta đã đang và sắp ganh đua học tập, rèn đức thi tài để mai sau lớn lên, chúng sẽ là những tinh hoa của quê hương đất việt. Vĩnh biệt ngôi trường yêu dấu.


T. H. L.                
(Những ngày cuối trong nghề)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 155, ra ngày 15-6-1971)

Bìa của Vi Vi : Nhạc ngày xanh
 

Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

BÓNG RÂM


Từ khi bắt đầu làm quen với thế giới học trò cũng là lúc tôi mất đi một tình yêu đằm thắm nhất, một hơi thở ấm cúng của người cha. Không phải cha tôi chán cảnh trần gian mà về bên kia thế giới, thật ra tôi vẫn còn đầy đủ cả cha lẫn mẹ nhưng tôi đã mất đi bóng râm che chở của cây thương yêu, mất đi một cái gì thật bao la huyền diệu khó tả vô cùng.

Những lúc bị bạn bè bắt nạt, tôi thường hỏi mẹ như muốn nhờ mẹ tìm hộ cho tôi bóng cây thương yêu của người cha khả kính :

- Sao ba đi đâu lâu rồi mà không thấy về hả mẹ ?

Mẹ đưa mắt dõi theo phương trời xa xăm, buồn buồn đáp lời đứa con thơ :

- Ba con bận đi Sài Gòn buôn bán con ạ.

- Chừng nào ba mới về.

- Vài năm nữa ba về.

- Sao ba thằng Tuấn cũng đi Sài Gòn buôn bán, mà đi có vài ngày rồi về hả mẹ ?

- Ba thằng Tuấn buôn bán thứ khác... Còn ba con buôn bán thứ khác mà. Chừng nào có nhiều tiền ba mới về dẫn mẹ con mình vô.

- Con không muốn vô trong ấy đâu. Con muốn ở ngoài này đi học với thằng Tuấn, con Nhung cơ.

Tôi vẫn thường thắc mắc không hiểu ba tôi làm gì mà lâu thế. Tôi không tin lời mẹ là ba tôi bận buôn bán nên không về. Ít nhất, Tết đến, ba cũng phải về thăm nội với mẹ con tôi chứ. Đằng này, Tết đến ba cũng chẳng hề về thăm. Ba không gởi cho tôi một lá thư nào cả. Dẫu sao tôi cũng biết đọc biết viết từ mấy tháng nay rồi. Vì những lời đàm tiếu của hàng xóm láng giềng, tôi đã nghĩ rằng có lẽ ba tôi đã bỏ rơi mẹ con tôi và say mê một người đàn bà nào khác chăng. Tôi đem ý nghĩ ấy nói với mẹ. Những tưởng mẹ sẽ thù ghét người chồng bạc bẽo ấy, nhưng không ngờ mẹ lại mắng tôi :

- Con đừng nghĩ bậy. Ba biết được ba sẽ buồn ghê lắm.

Tôi vờ giận dỗi :

- Con không yêu ba nữa đâu.

- Sao vậy ?

- Ai bảo ba không về với con. Chắc ba không yêu mẹ con mình nữa hả mẹ ?

Mẹ tôi bào chữa :

- Ba yêu mẹ con mình lắm chứ. Nhưng ba bận buôn bán làm sao về với các con được.

Rồi mẹ tìm cách vỗ về âu yếm tôi. Mẹ không muốn đầu óc thơ ngây bé bỏng của tôi chứa toàn những ý nghĩ đen tối về một người cha bất hạnh. Mẹ muốn tâm hồn tôi là một khu vườn trồng những đóa hoa thương yêu, là một mẩu đất mầu mỡ vun xới tình yêu đó. Ánh mắt của tôi phóng ra những tia nhìn trong suốt, nguyên trinh. Vành môi của tôi phải kết những trái cây ngọt dịu, chứ không phải là những lời hằn học cay đắng. Vì thế, mẹ thường kể cho tôi nghe những kỷ niệm của ba và mẹ. Tôi thích được cùng mẹ trở về vùng quá khứ xa xăm. Những ngày tháng trôi nhanh trên bãi biển Sông Cầu, gần nhà nội tôi khi cha mẹ tôi còn trẻ đã gây cho tôi một nỗi luyến tiếc nhớ thương. Những năm buôn bán lỗ lã ở Bồng Sơn của cha mẹ tôi, mang đến cho tôi một nỗi buồn rười rượi. Tôi tưởng tượng một cách mơ hồ về Nha Trang, Đà Lạt, nơi mà ba mẹ tôi đã dừng lại để đánh rơi một vài kỷ niệm. Những ngày tháng ấy, tôi chưa mở mắt chào đời hoặc nếu có thì cũng còn bé lắm, chưa thể ý niệm về những điều gì rõ ràng chắc chắn.

Còn Sông Cầu, nơi quê hương ba tôi, làm sao tôi quên được. Tết nào mẹ cũng dẫn chị em tôi về thăm nội. Có lẽ những lần về quê như thế, mẹ đã cố vun xới trong khối óc thơ ngây của tôi những ý nghĩ tốt đẹp về quê hương của mình. Hồi ấy, tôi chưa biết yêu thương đất nước thật sự nhưng có lẽ lòng tôi đã nhú lên những mầm non của cây thương yêu. Tôi thấy thích thú lạ lùng khi thả ánh mắt chạy dài theo bãi cát trắng nhấp nháy tia sáng buổi chiều mùa xuân trong suốt tựa pha lê. Phía xa kia, trên làn nước xanh thẳm nổi bật lên một "hòn núi con" trông thật ngoạn mục. Cạnh đấy là một dấu vết do chiến tranh để lại trong trận đệ nhị thế chiến : chiếc tàu cháy. Theo lời nội tôi kể lại, hình như đó là chiếc tàu của thực dân Pháp, bị Nhật đánh chìm gần hết chỉ còn một phần rất nhỏ với chiếc ống khói đứng bơ vơ buồn bã như nuối tiếc một khoảng đời oanh liệt lẫy lừng trong cái quá khứ ngắn ngủi nhỏ bé.

Trí nhớ của tôi quá nghèo nàn, khó mà nhốt hết được tất cả khung cảnh, sắc thái quê hương.

Vả lại, mỗi năm mẹ con chúng tôi chỉ về thăm nội nhiều nhất là hai lần nên những khúc phim quá khứ thường dễ phai nhòa, lệch lạc. Xong những ngày thú vị ấy, chúng tôi nhốt cuộc đời của mình vào miền tỉnh lỵ Tuy Hòa, nơi có dòng sông Đà chảy quanh triền núi Nhạn. Phía bên kia sông là Ngọc Lãng.

Hằng ngày mẹ tôi phải qua dòng sông ấy, mua rau cải về bán ở chợ Tuy Hòa để nuôi anh em chúng tôi (tôi và bé Phượng) ăn học. Còn chị tôi, năm nay tóc chị hãy còn xanh, môi chị hãy còn hồng, chưa học hết bậc tiểu học đã phải cắt ngang việc bút nghiên thay thế mẹ tôi lo việc "tề gia nội trợ".

Tôi và bé Phượng ôm mớ tuổi thơ ngây, rụt rè bước dần vào thế giới học đường. Khi ba tôi còn ở nhà, chúng tôi học trường tư nhưng không phải đóng một đồng xu cắc bạc nào, vì thầy Trí dạy chúng tôi là một người bạn rất thân của ba tôi.

Nói là cái trường thì không đúng hẳn.

Thật vậy, đó chỉ là một căn nhà được đặt vào hai dãy bàn ghế thô sơ với một tấm bảng đen, nó đương nhiên trở thành một nơi dạy học cũng như hầu hết các trường tiểu học tư trên đất nước Việt Nam nghèo khổ này.

Mẹ tôi ngoài việc bán rau cải ở chợ, bà còn làm thêm một nghề phụ nữa vào mùa mưa : nghề đan. Lúc nhỏ bà rất có khiếu về môn thủ công. Vì thế, những chiếc áo len do mẹ tôi đan, ai cũng thích. Họ đặt rất nhiều, mẹ tôi làm không xuể, sau dành dụm được một số tiền kha khá, mẹ mua một chiếc máy đan Nhật Bản. Đan máy nét thanh và đều đặn hơn nhưng không thể "trổ hoa lá" vào được. Vì thế, khi cần mẹ phải sử dụng đến hai bàn tay thon nhỏ và đẹp như búp măng của mẹ.

Từ khi có máy, chúng tôi cũng bắt đầu tập đan. Trong việc này, tôi vụng về hơn chị tôi và bé Phượng. Đó là lẽ dĩ nhiên vì con trai bao giờ cũng vụng về hơn con gái trong những công việc tế nhị như thế. Và cũng vì "nhược điểm" ấy mà tôi đâm ra lười biếng. Tôi không bao giờ dám đan quá mười hàng len. Trái lại chị tôi và em gái tôi có thể đan được cả một cái thân áo. Việc "gầy chân" hay "mổ cổ" thì mẹ tôi phải lo.

Vào những ngày mùa đông lạnh lẽo, người ta đặt hàng khá nhiều, mẹ cũng không còn nghĩ đến việc buôn bán rau cải nữa. Mẹ ngồi đan từ sáng sớm cho đến nửa đêm một cách say sưa và chỉ nghỉ tay vào các bữa ăn mà thôi. Việc bếp núc thì đã có chị tôi lo toan. Chị tôi mới có mười hai tuổi mà đã tỏ ra một người con gái đảm đang.
*
Những ngày tháng cứ thế bình thản trôi qua, cho đến một hôm. Mẹ tôi nhận được điện tín do cậu Sáu tôi từ La Hai đánh vô, báo tin ngoại tôi đã qua đời. Thế là, mẹ bỏ chúng tôi ở lại hối hả về làng. Sau khi chôn cất ngoại xong, mẹ tôi trở vô, với một quyết định làm chúng tôi sửng sốt : Mẹ sẽ về ngoài ấy sống với cậu Sáu.

Mẹ bán mái lá của chúng tôi với một giá rẻ mạt tám trăm đồng (không kể tiền đất vì là đất mướn của người khác) rồi lặng lẽ ra đi vào một buổi sáng mùa đông, mang theo đàn con thơ về nơi quê ngoại.

Buổi ra đi thật là buồn. Lũ bạn chúng tôi, đứa nào cũng tỏ vẻ luyến tiếc nhớ nhung.

- Mày dọn nhà đi hả Linh ?

- Sao mày không ở đây hả Phượng ?

- Chị Hồng mày cũng đi à ?

Chúng tôi im lặng nhìn nhau, không biết trả lời sao cả. Nét mặt đứa nào cũng nhuốm một vẻ buồn rười rượi.

Mẹ tôi và chị Hồng khiêng những rương, những thùng ra ga xe lửa. Còn tôi và bé Phượng xách những chiếc xách tay hay ôm đồ đạc lặt vặt. Lũ nhỏ trong xóm thấy vậy cũng phụ giúp. Con bé Nhung hỏi mẹ tôi :

- Chừng nào bác trở lại hả bác Ba ?

- Bác đi luôn cháu ạ. Cháu ở lại mạnh giỏi nhé !

- Cháu nhớ con bé Phượng quá hà. Nó đi rồi, không ai chơi buôn bán với cháu. Con Khánh với con Nga "làm dóc" lắm, cháu không thèm chơi với chúng nó đâu.

Mẹ tôi buồn bã đáp :

- Con Phượng nó cũng nhớ cháu lắm, nhưng biết làm sao bây giờ, hả cháu ?

- Chừng nào trở lại, bác dẫn Phượng đến thăm cháu nha !

Mẹ tôi khe khẽ gật đầu.

Con tàu từ xa tiến lại, hét lên một tiếng thật to như muốn xé tan màn sương buổi sớm. Nhưng màn sương mỏng manh ấy chắc chắn vô cùng. Con tàu bực tức bỏ đi, vừa đi vừa gầm nghiến như thốt ra những lời nhiếc mắng. Nó mang chúng tôi qua những cánh đồng lúa xanh bát ngát, nặng trĩu hạt vàng. Tôi và bé Phượng say sưa ngắm nhìn mà quên hết những nỗi buồn chia ly. Gió buổi sáng mùa đông lành lạnh, làm tung mái tóc "bom bê" của con bé phủ lên gương mặt ngây thơ măng sữa.

Khi qua khỏi ga Chí Thạnh, con tàu bắt đầu chui vô hầm, nó hét lên một tiếng thật to. Bé Phượng giật mình, ôm chầm lấy mẹ. Một màu đen bao phủ chúng tôi. Khói tàu xông lên nồng nực, khó chịu. Lần đầu tiên đi tàu, anh em tôi được chứng kiến những cảnh thật lạ mắt. Thích thú cũng có mà bực tức cũng có. Nhưng tất cả đều làm cho chúng tôi ngạc nhiên không ít.

Chả mấy chốc con tàu đã đến ga La Hai. Nắng bắt đầu rực rỡ, đốt tan dải lụa trắng xóa mùa đông. Mẹ tôi tìm nhà một người bà con gần ga xe lửa để gởi hành lý. Rồi bốn mẹ con phải cuốc bộ thêm vài cây số nữa, men theo bờ ruộng, mới về đến nhà ngoại tôi. Vừa trông thấy bóng chúng tôi cậu Sáu mừng rỡ :

- Cha ! Con bé Phượng, con Hồng với thằng Linh bây giờ lớn quá, cậu nhìn không ra.

Mẹ tôi bảo :

- Lại thưa cậu đi con.


Chúng tôi lí nhí trong miệng sau khi đã vòng tay tử tế :

- Thưa cậu, cháu mới về.

- Ừ ! Thôi thay quần áo ra cho mát đi các cháu. Rồi sửa soạn ăn cơm, trời cũng đã khá trưa rồi.

Cậu xoay qua hỏi mẹ tôi :

- Hành lý chị để ở đâu ?

- Chị gởi ở nhà anh Mỹ, chút nữa sai thằng Lợi nó xuống gánh giùm chị.

- Được rồi, chị để đó em.

Bây giờ chúng tôi bắt đầu nhốt cuộc đời tuổi thơ vào khung cảnh mới : đồng ruộng.

Gia đình ngoại tôi thuộc vào hạng khá trong làng. Nhưng mẹ tôi là con gái nên phần gia tài tương đối ít hơn các cậu tôi. Vả lại ngoại tôi rất đông con. Dì Hai tôi cũng vừa qua đời trước bà ngoại tôi vài năm. Phần của còn lại, dượng tôi hưởng. Cậu Ba tôi là trưởng nam rất đông con, vào khoảng một chục cả đầu lẫn đuôi, sống cạnh ngoại tôi. Cậu Tư là một kẻ thích "phiêu lưu", ông sống giang hồ khắp nơi từ Bến Hải đến Cà Mau, bỏ mợ tôi ở nhà với đàn con bốn đứa. Mẹ tôi thứ năm, và cậu Sáu tôi là con út, hãy còn độc thân. Khi ngoại tôi còn sống, cậu Sáu sống với ngoại. Nhưng ngoại vừa mất, vì lòng thương em, mẹ tôi phải về sống với cậu để "lo miếng ăn miếng uống" cho cậu. Trong các người con của ngoại, có lẽ mẹ tôi và cậu Sáu thương yêu nhau nhất. Mẹ thương cậu Sáu đến nỗi nhiều khi tôi có cảm tưởng rằng mẹ đã bỏ rơi bọn chúng tôi. Bây giờ mẹ phải lo việc trông nom thức ăn cho cậu Sáu, mặc dù trong nhà có đến hai người giúp việc. Mẹ thường dặn tôi và bé Phượng :

- Các con ăn từ từ thôi nhé ? Đừng có gắp thức ăn nhiều.

- Món thịt kho này để cho cậu Sáu ăn nghe !

- Thịt gà có ít đấy, liệu mà gắp.

- Ăn thì phải chỉnh tề nghe không ?

Đại khái, mẹ thường dặn bọn tôi như thế. Cứ mỗi lần mẹ dặn, tôi lại thấy tủi thân. Chả biết tôi chịu ảnh hưởng huyết thống của mẹ hay của ba mà dễ xúc cảm đến thế. Có lần, tôi trốn vào kẹt cửa đứng khóc một mình. Cả nhà đổ xô đi kiếm và mặc sức kêu gọi, tôi vẫn làm thinh. Bé Phượng tìm thấy, gọi ra, tôi dọa đánh con bé. Đến khi mẹ đích thân lên bảo, tôi mới ra. Thường thì mẹ đánh, nhưng cũng có khi dỗ ngọt.

Cậu Sáu lại không muốn mẹ quá lo lắng, săn sóc cậu như thế. Cậu muốn chúng tôi "bình đẳng" trong việc ăn uống. Trái lại, việc học hành cậu kiểm soát rất gắt gao. Nhiều khi khiến tôi "nổi quạu". Những lúc ấy cậu có toàn quyền sử dụng đến roi nhưng ít khi Nhờ thế, những năm đầu tôi học có vẻ bê bối nhưng đến năm lớp ba thì đã kha khá rồi. Qua năm lớp nhì và lớp nhất, tôi trở nên một học sinh xuất sắc. Tôi khá về toán và luận. Chính tả hơi kém, học bài thì lười biếng. Nhưng bị cậu tôi kiểm soát quá chặt chẽ, nên khó lòng mà lơ là được.
*
Mùa thu năm ấy cũng trên chiếc xe lửa, tôi trở lại Tuy Hòa, tiếp tục leo lên bậc thang Trung học.

Bây giờ tôi sống hoàn toàn tự do, thoát khỏi sự kiểm soát của cậu Sáu. Nhưng cũng mất đi một sự che chở : lòng mẹ. Tôi bắt đầu nhớ nhung luyến tiếc những chuỗi ngày ở quê ngoại. Tôi thấy thèm khát những cảnh núi non, những đồng ruộng bao la bát ngát. Tôi thèm uống dòng nước sông Cái trong xanh ngọt ngào như dòng sữa mẹ. Tôi nhớ đến những quả dưa đo đỏ, giòn giòn, thơm thơm. Tôi nhớ đến những hàng dừa, đến lũy tre. Và những con suối như những mạch máu lớn lên nuôi dòng sữa mẹ. Tôi nhớ đến những giờ tan học lang thang cùng bạn bè, vào đám bắp cậu Sáu tôi, hái bắp nướng ăn ngon lành biết chừng nào ! Bây giờ xa rồi tất cả. Trong làng tôi, và cùng một lớp với tôi, chỉ có thằng Giáo với tôi bước lên bậc Trung học mà thôi. Còn tất cả đều phải xếp bút nghiên để cầm roi đánh bò, lo việc nhà nông. Trên tôi một hai lớp thì có anh Hiện và chị Thủy, con cậu Ba tôi cũng vào học ở Tuy Hòa. Bốn chúng tôi cùng ở trọ nhà chú Bảy. Nhưng ít hợp tính với nhau, những sự xích mích nho nhỏ thường xảy ra luôn.

Những lúc ấy tôi thường nằm ôm gối khóc một mình. Tôi không dám viết thư về "tả oán" với mẹ tôi, vì sợ mẹ buồn.

Tôi như con chim non vừa tập chuyền và mất đi sự ấp ủ, che chở của chim mẹ. Một đứa bé nhút nhát như tôi, vừa mười hai tuổi đầu, phải xa gia đình và bị nhiều người "bắt nạt" khiến tôi mang nhiều mặc cảm. Tôi thường nghĩ mình là một đứa trẻ bất hạnh. Rồi sự trách móc oán hờn ba tôi được vun xới mỗi ngày một cao hơn. Tôi ghét ba, tôi thù ba. Chắc là ba tôi đã lập gia đình khác rồi. Ba không còn nghĩ đến mẹ con tôi nữa. Tôi nghĩ đến cảnh âu yếm của ba tôi với một người đàn bà khác mà đem lòng ghen tức. Có lẽ ba tôi đã có những đứa con riêng với người đàn bà ấy. Tôi thấy lòng sôi lên những oán hờn cao ngất.
*
Chiều hôm ấy, vừa ra khỏi cổng trường, tôi gặp chị Trâm, con dì Hai tôi, chị ấy reo lên :

- Linh ơi ! Lại chị cho cái này đây.

Tôi ngạc nhiên vô cùng, chả biết có chuyện gì mà chị ấy tìm mình nhỉ ! Tuy là chị em bạn dì nhưng tôi ít đến thăm chị vì tôi mang nhiều mặc cảm. Ba chị dượng hai tôi làm ở Ty Bưu Điện, giàu có, còn tôi thì nghèo hèn. Vì thế mà tôi ít đến thăm chị, tuy chị rất thương tôi. Mỗi lần gặp tôi chị vồn vã hỏi thăm, khiến tôi trả lời không kịp. Tính chị vui vẻ. Nhưng hôm nay sự vui vẻ ấy lại gia tăng gấp bội, tôi cảm thấy như thế. Và trông chị đẹp hơn lên.

Gió buổi chiều thổi nhè nhẹ, làm chiếc áo dài trắng tung bay, trông chị như một nàng tiên giáng thế. Đưa tay hất mái tóc thề mái tóc của những cô gái miền Trung duyên dáng chị mỉm cười khi tôi đến gần.

- Chị tìm em chi vậy ?

- Đố Linh đoán được thì ... giỏi đấy.

- Em chịu thôi.

- Đoán thử xem, chưa chi mà đã đầu hàng. Con trai gì mà chả "tháo vát" tí nào !

Tôi hơi tự ái, nhưng cố mỉm cười :

- Chắc mẹ gởi kẹo đậu phọng hay bánh ít lá gai vô cho em chứ gì.

- Dở thế ! Có thì chị đã đem lại cho em rồi. Em không thấy chị chỉ cầm một cái ví tay thôi à ?

- Vậy thì…

- Thì cái gì mới được chứ.

Tôi suy nghĩ một lúc rồi đáp :

- Em đoán ra rồi.

- Cái chi ?

- Thư của mẹ em phải không ?

- Đúng rồi !... Nhưng mới đúng có một nửa.

- Thư của cậu Sáu ?

- Sai xa lắm.

- Thư của bé Phượng ?

- Gần đúng.

- Thư của chị Hồng em ?

- Đúng... hơi hơi.

- Em chịu thôi.

- Dở quá ! Đây này.

Nói xong chị lấy trong ví ra một lá thư có đề tên tôi và người gởi là ba tôi. Tôi hét lên :

- Trời ơi ! Thư ba em, vậy mà nãy giờ không biết. Ngu quá.

- Thôi, chị về nghe Linh !

Tôi không để ý đến lời nói của chị Trâm nữa. Và chị về lúc nào tôi cũng không hay. Trong sân trường chỉ còn có một vài người. Tôi bóc thư ra đọc với sự mừng rỡ vô biên.

Sài Gòn ngày 1-8...

Linh yêu dấu của Ba

Ba vừa nhận được thư mẹ con hôm qua, do bác Tuân đưa lại. Đáng lẽ ba phải viết trả lời cho mẹ con, nhưng vì một lý do đặc biệt nên ba phải viết cho con trước. Ba đã nghe mẹ con nói : độ rày con học chăm lắm. Được thế, ba rất mừng. Nhưng mẹ con cũng có nói thêm là con thường có những ý nghĩ không tốt về ba. Con cho rằng ba đã lập gia đình khác, nên mới không về với mẹ con. Ba không trách con tại sao có những ý nghĩ như thế. Ba chỉ hơi buồn mà thôi. Thật ra không phải như thế đâu con ạ. Vì quá thương con, mà ba không cho các con biết, cũng như ba đã dặn mẹ con phải giấu các con. Nhưng hôm nay ba phải nói thật với con. Vì ngày đoàn tụ của gia đình cũng sắp đến rồi.

Cách đây sáu năm, nghĩa là khi mẹ con còn ở Tuy Hòa ba đã bàn định với mẹ con vào Sài Gòn hùn vốn với bạn bè làm ăn buôn bán. Mẹ con đã bằng lòng để ba đi trước. Vào đến nơi ba mở một cửa hàng nho nhỏ. Lúc đầu bán cũng kha khá, nhưng vì không có người trông coi, nên bị lỗ lã luôn. Không còn vốn để trả nợ bạn bè
vì ba vay của họ chứ mình đâu có tiền ba bèn đánh liều vì quá thương các con, bằng cách là ba đi bán đồ quốc cấm. Kết quả là ba bị bắt và đưa ra Tòa với cái án sáu năm tù ở, tất cả "hàng hóa" bị tịch thu. Ba có viết thư về cho mẹ con biết tự sự nhưng dặn mẹ con không được nói với các con, để các con yên ổn lo việc học hành. Ba cũng bảo mẹ đừng vào thăm ba làm gì cho tốn tiền. Ba vẫn thường viết thư cho mẹ luôn nhưng không cho các con đọc, vì khi đọc giấy dành riêng cho nhà tù các con sẽ biết...

Đó, con đã rõ rồi, đừng có những ý nghĩ sai lầm về ba nữa Linh nhé !

Bây giờ thì ba báo cho con một tin vui, ngày 22 tháng 12 tới đây, ba sẽ được trả tự do. Ba sẽ viết thư cho mẹ con bảo mẹ đem các con vào đây sinh sống. Ba sẽ không đi buôn bán gì nữa cả vì nghề ấy không hợp với ba. Ba sẽ sống theo lý tưởng của ba dù nghèo đói cách mấy cũng không làm ba thay đổi nữa, đó là việc mở một phòng vẽ và điêu khắc như những ngày ở Nha Trang. Bác Tuân là một người bạn thân của ba, thường đến thăm ba luôn và hứa giúp ba việc ấy.

Thôi ! Ba dừng bút con nhé !

Mong được gặp mẹ con và các con ghê lắm. Hôn con thật nhiều.


Ba của con          

NGUYỄN HỮU N.   

Đọc xong thư ba, hai hàng lệ chảy ra từ lúc nào tôi chẳng hay. Thật tôi là đứa con bất hiếu chả xứng đáng làm người. Một người cha bất hạnh, suốt đời hy sinh cho tôi thế mà tôi đã vun xới trong trí óc của mình những ý nghĩ không mấy tốt đẹp về ba. Tôi phải trừng phạt tôi bằng cách nào cho xứng đáng đây ?

Mãi bị những suy tư dằn vặt, tôi quên mất là chiều đang xuống dần. Một buổi chiều êm ả vàng tươi, hay một buổi chiều u ám mây đen, tôi không còn tâm trí để phán đoán nữa. Tôi chỉ thấy lương tâm đang lên án tôi mà thôi.

Bóng mát của cây bàng trước sân trường ngã dài lên mình tôi, tôi ngỡ là những cánh tay che chở của một người cha. Tình yêu lớn dần, lớn dần như bóng cây mỗi lúc một dài thêm cho đến khi mặt trời trốn mất bên kia thành phố, tình yêu ấy bao la hơn, huyền dịu hơn, phủ kín hồn tôi. Lòng cha mênh mông quá, tôi không thể nào đo lường được.


TRINH CHÍ   

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>