Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

CHƯƠNG V_CHÚ BÉ LÊNH ĐÊNH



CHƯƠNG V 

Tôi tỉnh dậy trong căn nhà đầy ắp người nằm la liệt trên những giường bố nhà binh kê sít nhau, nhưng người đầu tiên tôi nhìn thấy là cô y tá đang cúi xuống, hỏi tôi :

- Cậu nghe trong người thế nào ?

- Dạ… dạ… Tôi luống cuống không biết trả lời ra làm sao nữa, chỉ cảm thấy bần thần như vừa trải qua một cơn ác mộng và bỗng sực nhớ chuyện chìm ghe, tôi hoảng hốt :

- Mẹ tôi đâu ? Mẹ tôi đâu ?

Cô y tá cười :

- Mẹ cậu nằm bên cạnh đấy chớ đâu.

Tôi lật đật quay mặt về phía giường bên cạnh, cùng lúc ấy mẹ tôi cũng nhìn lại.

- Trời ơi ! Mẹ ! Mẹ ! Tôi mừng quá tung chăn, đến ôm chầm lấy bà. Còn anh Giác… Anh Giác đâu mẹ ?

- Nó kìa ! Mẹ tôi đưa đôi mắt mệt nhọc về phía giường gần đó.

- Anh Giác ! Anh Giác ! Tôi định chạy lại anh ấy, nhưng cô y tá đã nhẹ nhàng kéo tôi trở về giường.

- Hãy nằm nghỉ cho thật khỏe đã…

Mà thật, tôi đã mừng quá quên cả đang nhức đầu, tay chân mỏi rã rời và giọng nói khan khan như vịt đực…

Sau này, mỗi lần mẹ tôi nhắc lại chuyện này bà thường khen tôi : Cái thằng thế mà có sức. Và từ đó, tôi cũng tự thấy là đã lớn, đã có thể giúp ích được cho bà nên khi mọi tai biến đã qua, mẹ tôi quyết định về ở chợ Bù Chét để buôn bán thì tôi đã trở thành một tay phụ tá rất đắc lực cho bà : Tôi nấu ăn như một người nội trợ. Còn anh Giác thì mở lớp vỡ lòng dạy trẻ con trong xóm.

Mẹ tôi mót máy những món đồ quí giá còn sót lại để sắm một gánh hàng xén và mua một căn nhà lá ở làng Thái Đông cách chợ Bù Chét chừng ba cây số.

Làng Thái Đông là một làng rất thưa thớt dân cư, phần đông là nông dân quanh năm chỉ biết vui với ruộng đồng vì ngoài ra không còn cuộc vui nào khác. Ở đó, có lẽ ngàn năm vẫn không có một gánh hát nào đến dù là hát bộ.

Thỉnh thoảng có vài cuộc cúng kiếng ở đình chùa thì cũng chỉ họp nhau lại để cúng rồi ăn chứ chẳng tổ chức thêm đám rước thần, rước đèn gì.

Tôi ở đó được bốn năm với rất nhiều kỷ niệm.

Trong đám trẻ con ở đó, chỉ có tôi là học khá chút đỉnh, còn thì chỉ toàn những đứa trẻ biết đọc, biết viết lom lem hoặc dốt đặc, nhưng óc tưởng tượng rất phong phú. Chúng tôi thường tổ chức nhiều trò chơi rất đặc biệt mà chắc chắn trẻ con thành phố không bao giờ nghĩ tới. Chúng tôi chia hai phe để đánh giặc giả, lấy cây. lấy tre đẽo gọt thành những khí giới và lấy đất nặn những trái mìn, lựu đạn. Trò chơi này, chúng tôi bắt chước ở những lần tập trận của anh em dân vệ. Ngoài ra, chúng tôi còn cái thú đá banh, kiếm thửa ruộng mới gặt làm sân và lấy lá chuối khô cuộn tròn làm quả bóng. Nhưng đừng tưởng chúng tôi không biết luật lệ vì chính tôi phổ biến luật lệ đá banh mà. Những lần có một đứa sút banh quá cao làm gạt-gôn không chụp được thì gôn phải kêu là “hô” và nếu banh nhảy sang bờ ruộng khác thì phải “nu”. Những danh từ ấy, lẽ dĩ nhiên là bọn trẻ không biết nghĩa mô tê gì cả và cũng lẽ dĩ nhiên là luật lệ chỉ được thi hành một cách tương đối mà thôi. Bởi vì sân thì thường hẹp mà cua-rơ thì đông nên để đứa nào cũng có thể dự cuộc đành phải chia đều làm hai ! Thế rồi mạnh ai nấy đá, xô đẩy nhau té sấp, té ngửa đến nỗi có đứa ngán quá cứ đứng chờ banh tận dưới gôn của đối phương mà chẳng sợ ọt-rơ vì chúng tôi coi lỗi ấy không ra gì cũng như banh trúng là sự thường xảy ra, nếu phạt thì hết mất thì giờ. Và đó là trò chơi được chúng tôi thực hiện thường xuyên, thường là vào lúc trưa đứng bóng, lúc ấy chúng tôi đều rảnh việc nhà, nhưng cũng dễ bị bệnh. Tôi đã bị cảm mất mấy ngày cũng chỉ vì thế và mỗi lần đi đá banh về là y như mỗi lần tôi bị khan cổ vì vừa đá vừa gào thét, kình cãi vào những lúc banh đá vào gôn mà đối phương không chịu cho ghi bàn thắng. Kỳ thực những lần như thế cũng khó mà phân định ai phải, ai quấy vì gôn là hai cục đất cày đặt hai bên hông đứa gạt-gôn để làm giới hạn, rồi có thể vì trời nắng không ai còn thấy rõ gôn ở đâu, hoặc đứa gạt-gôn đã kéo hai cục đất gần nhau lại cho gôn hẹp đi để banh khó lọt vào. Có điều, chuyện có thế mà chúng tôi cũng không giải quyết nổi dù đã cử trọng tài vì khổ nỗi trọng tài là một đứa nhỏ nhất bọn không đá banh được mới chịu giữ chức ấy.

Anh Giác thấy tôi đá banh cũng muốn tham dự lắm, nhưng đã lỡ làm ông giáo nên đành phải tỏ ra người lớn dù lớp anh dạy sĩ số chưa đến hai mươi và toàn là những trẻ mới biết mặc quần. Người trong lối xóm đều gọi anh bằng thầy. Tiếng thầy nghe trịnh trọng nhưng tôi lại thấy khôi hài vì nghĩ đến cái bệnh mau nước mắt của anh. Ngược lại, mẹ tôi lại hãnh diện. Vả nữa, việc làm của anh ấy đã giúp thêm vào nền tài chánh gia đình đỡ chật vật. Người ta đã trả học phí tương đối hậu hĩ, nhưng không phải trả bằng tiền mà trả bằng thổ sản của từng người, hoặc gạo, hoặc khoai, sắn, bắp, đậu và tuỳ nghèo, giàu mà hoặc ít hoặc nhiều. Do đó mỗi tháng, như một nhà nông chính cống, anh Giác thu hoạch một số hoa màu đặc biệt mà khỏi cần cày bừa, gieo vãi và nhờ vậy, trong nhà chẳng bao giờ thiếu cái ăn. Ngoài ra, anh còn được phụ huynh cho quà cáp và thỉnh thoảng mời đi ăn giỗ. Nghĩa là dân làng đối với anh lúc nào cũng quí trọng như một thượng khách. Riêng tôi, tôi cho anh Giác có cái số sướng, lù khù mà sướng.

Còn mẹ tôi thì mỗi buổi mai lo gánh gồng đồ xuống chợ để bày biện trong lều lợp lá đủ thứ lặt vặt y như là một tiệm chạp phô được thu gọn. Buổi mai nào bà cũng phải lo đi thật sớm. Tội nghiệp, bà không quen gánh gồng nên chỉ gánh được có mỗi một bên vai mặt rồi cong lưng chạy một mạch đến chợ. Bà thường khoe chỉ có lều của bà là đông khách nhất, nhưng tôi không tin đông khách vì may mắn, chắc là nhờ bà hiền hậu và không kiểm soát được những người ăn cắp vặt thành thử họ đến đó với lòng tham mua một lấy mười. Thêm vào đấy bà thường tính nhầm, cộng trừ bằng miệng ít khi trúng. Ấy vậy mà tôi đã lầm vì nếu không lầm thì thử hỏi tại sao gánh hàng mỗi ngày thêm phong phú chứ không kiệt quệ ? Đúng là bà có cái số đỏ. Bà thường nói hết cơn bĩ cực thì phải tới tuần thái lai chớ ? Tôi biết khi bà nói vậy chắc là để tự an ủi thật dù đôi khi cảnh sống huy hoàng ngày xưa cũng thường gây tiếc nhớ. Và trong nỗi tiếc nhớ ấy, hình ảnh cha tôi vẫn là đầu đề làm mọi người lo lắng, băn khoăn không nguôi. Lâu quá rồi, chúng tôi không được tin tức gì về ông cả nên mặc nhiên phải sống cái cảnh mẹ góa, con côi từ ngày này qua ngày khác như những kẻ bất hạnh. Tôi cũng biết là lúc bấy giờ, tuy không nói ra, nhưng ai cũng nghĩ rằng có thể cha tôi đã chết nên mẹ tôi bắt đầu lo kiếm cách cho tôi tiếp tục việc học.

- Phải học thêm mới được, con ạ ! Bà nói với tôi. Thời đại này mà học hành không ra gì là đừng hòng kiếm được việc làm đủ sống, trừ khi mình có một sức vóc để làm lao công. Bà nhìn tôi mỉm cười. Cái tướng như cây tăm của mày ấy đi ở đợ chưa chắc đã được…

Thế rồi, bà quyết gởi tôi về Sàigòn vì bà được tin chú ba Tiết đã lập nghiệp trên ấy.

- Con không ưa chú ấy đâu. Tôi nói với bà.

- Tại sao vậy ? Giọng bà dịu dàng. Chú cũng như cha chứ, đừng nghĩ dại con. Chú có hay rầy cũng vì muốn con nên người…

- Nhưng mà… cha cũng không ưa chú ấy kia mà.

- Tại cha con khó tính đấy. Vả lại, con lên trên ấy cũng chỉ ở trọ ăn nhờ ngày hai bữa cơm chứ đâu phải nhờ vả hoàn toàn ở chú ấy mà sợ.

- Thế còn anh Giác thì sao ?

- Anh Giác con hả ? Ừ, mẹ cũng đang nghĩ làm thế nào cho nó tiếp tục học chớ đời bây giờ có cái bằng Tiểu học như nó cũng như không. Mẹ tôi có vẻ đau khổ khi nói như vậy. Tôi cũng biết chuyện lo cho chúng tôi ăn học thành tài là cả một vấn đề quá sức mẹ tôi. Đêm đêm tôi thường nghe mẹ tôi thở dài và hằng ngày trông bà lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng. Tội nghiệp, dù sao bà cũng chỉ là một người đàn bà nghèo nàn và yếu đuối.

Hôm tôi đi Sàigòn, bà dúi vào tay tôi năm trăm bạc :

- Hãy giữ lấy mà tiêu – bà nói – Con nhớ là đừng xin tiền chú ba Tiết. Mình đã làm phiền chuyện ăn, ở nhờ rồi…

- Mẹ tin đi, con chẳng bao giờ làm thế. Tôi nói để bà yên tâm. Vả nữa tôi cũng không mấy phục chú ấy. Chú ấy là đàn ông mà lắm lời như đàn bà. Tôi định bụng là sẽ cố nhịn nhục tất cả và chỉ lo chăm học để mẹ tôi vui lòng. Nhưng đúng là trên đời có nhiều cái bất ngờ kỳ lạ, tôi ở học Sàigòn chưa đầy một tháng thì một hôm đang cắp sách đến trường bỗng gặp cha tôi đang đạp xích lô. Nới đầu, nhìn ông, tôi không dám gọi ngay vì sợ lầm, sau nhìn kỹ, tôi đánh bạo :

- Cha ! Cha ! Nhưng ông vẫn không nghe. Tôi chắc là ông không thấy tôi đi trong đám học trò loi choi này và nghĩ gọi “cha” thì làm sao ông biết là gọi ông.

Cuối cùng, tôi đâm liều, vừa chạy vừa gọi :

- Ông Xếp ! Ông Xếp !

Cha tôi giựt mình, thắng xe, ngoái cổ lại rồi nhảy xuống đường, chạy đến ôm cứng tôi vào lòng :

- Trời ơi ! Con ! Ha… Ha ! Con của tôi đây rồi ! Con của tôi đây rồi !

Và hôm đó, tôi bỏ học. Ông bảo tôi lên xe để ông đạp về nhà nhưng không phải nhà của ông mà là nhà của một người đánh xe ngựa cho ông ở trọ.

Ông cười sặc sụa :

- Con thấy chưa, đây không khác một lâu đài cổ kính !

Tôi hỏi :

- Sao cha phải khổ thế này ?

Ông lắc đầu :

- Chớ biết làm sao ? Nhưng đâu có khổ ? Con quên là sản nghiệp mình tiêu tan hết rồi sao ? Và ba đâu phải là dân thầy. Ông cũng nói là đã kiếm mẹ con chúng tôi suốt mấy tháng trời vẫn không ra tung tích. Người ta nói chết trôi cả rồi. Tụi mày chết thì tao sống với ai ? Ông cũng nghe nói là chú ba Tiết đã lên Sàigòn mở tiệm giặt đồ lính ngoại quốc. Lạ nhỉ, nghề ấy mà cũng giàu to. Ông nội con còn sống chắc là ngạc nhiên thấy chú ấy trở thành người giặt quần, giặt áo và nếu ngờ vậy ông đã không cho chú ấy đi học làm gì. Nhưng hiện cha cũng chưa biết chú ấy ở đâu. Sàigòn này kiếm nhà mà không có địa chỉ thì làm sao kiếm được… Ông nói lung tung. Ông nói như một người điên, nhớ đâu nói đấy và kết luận làm tôi ngơ ngác :

- Chiến tranh vô lý như thế đấy, con ạ ! Được rồi, cha sẽ đem mẹ con lên Sàigòn, sẽ tính chuyện làm ăn lại… Có thể cả nhà mình đi hốt rác, lượm ve chai, đi ở đợ, đi đánh giày. Rồi ông khóc, lần đầu tiên ông khóc dễ dàng như thế và tiếng khóc hu hu như trẻ con.

Tôi nghĩ bụng : Không khéo cha tôi điên mất… Mà thật, ông đã điên thật.

Người đánh xe ngựa hỏi tôi :

- Cậu là con của lão khùng ấy hả ?

Và tôi cũng khóc.

- Ơ kìa, tại sao cậu lại khóc ? Người đánh xe ngựa lại hỏi. Tôi nói thật đấy mà, có gì đâu mà buồn. Người đánh xe ngựa muốn an ủi tôi. Trông cha cậu ai cũng thương cả. Chắc cậu chưa hiểu vì sao tôi cho cha cậu ở trọ ? Kể ra thì cái gì cũng có số trời định đoạt cả, may là cha cậu gặp tôi, không thì đã chết cái hôm ông ấy say bí tỉ, nằm gục bên lề đường. Hôm đó, chừng chín, mười giờ tối gì đó. Đánh xe về đến quãng đường vắng Lê Văn Duyệt – Lăng Ông tôi xuống xe đi tiểu thì bỗng nghe có tiếng rên hừ hừ vô đảo mắt tìm kiếm thì thấy ông ấy úp mặt dưới gốc cây, đến đỡ dậy tôi nghe mùi rượu nồng nực, nhưng hỏi không trả lời. Kiểu này mà bị trúng gió là chết, tôi nghĩ vậy. Thế rồi, tôi dìu ông lên xe đưa về quán nước ở chợ Bà chiểu xin dầu thoa bóp, cho uống nước chanh để giải say và khi đã tỉnh, tôi hỏi nhà ông ở đâu, để kêu xe đưa về giùm. Ông lắc đầu : Tôi không có nhà. Tôi bị giặc bắt cả năm nay, bây giờ mới được thả nhưng thả mà làm gì, trong lúc tôi bị giặc bắt thì ở nhà vợ con tôi chết trôi trong trận lụt Châu Đốc… Ông vừa nói vừa sụt sùi. Thấy tình cảnh ông, tôi động lòng. Vợ tôi cũng chết vì giặc trong một đêm chúng nó pháo kích vào ấp. Tôi khuyên ông đừng buồn và rủ về ở chung với tôi, nhưng ông vẫn buồn. Ông đi lang thang suốt ngày và miệng lúc nào cũng làu nhàu những câu vô nghĩa. Trong xóm cho ông là lão khùng. Tuy vậy, một đôi khi tỉnh táo ông nói chuyện đàng hoàng lắm. Ông nói là ông còn một đứa con cùng đi với ông hôm ông bị giặc bắt, không biết bây giờ ở đâu. Ông hy vọng sẽ gặp lại nó. Ông đi mướn xích lô đạp kiếm tiền sống qua ngày. Tôi có bảo ông nên kiếm việc khác làm sướng hơn, nhưng nhất định ông chỉ đạp xích lô. Người đánh xe ngựa thở dài. Thật tôi cũng không hiểu ông ấy ra sao nữa…

Nghe người đánh xe ngựa nói, nhìn lại cha tôi, chạy đến bên ông, tôi lay gọi : Cha ! Cha ! Cha hết bệnh rồi chớ? Mẹ con con còn sống cả mà… Nhưng ông vẫn gục đầu và vẫn khóc hu hu như một đứa trẻ.
Sàigòn 1967
VŨ DUY     
    
_____________________________________________________________________________________________
                                                                                                                           




 

CHƯƠNG IV_CHÚ BÉ LÊNH ĐÊNH




CHƯƠNG IV
 
 
Sáng hôm sau, hai cha con tức tốc về Châu Đốc bằng xe đò, chuyến 5 giờ, trời hãy còn tờ mờ.
 
Con đường từ Sàigòn về Châu Đốc trong những năm ly loạn này là cả một đe dọa cho hành khách. Tin tức trên mặt báo không ngày nào là không có những chuyến xe bị mìn đặt trên những quốc lộ, tỉnh lộ, nổ tung. Tự nhiên, tôi đâm lo. Tôi nghĩ đến những người chết không toàn thây, mất đầu, mất tay, mất chân, như người con trai con bà hàng xóm đi lính được nửa năm thì tử trận, lãnh về chôn chỉ lãnh cái bọc ni-lông, bọc trong đó nắm xương cháy đen và mớ đất. Tuy vậy, trí óc non nớt của tôi vẫn chưa hiểu chiến tranh là gì.
 
Dọc đường có rất nhiều xe nhà binh xuôi ngược, những chiếc xe bọc sắt kêu inh tai, tung bụi mù mịt cả một quãng đường và cả những người lính cổi trần, đội nón sắt ngồi bên khẩu súng có nòng nhiều lỗ.
 
Hai bên đường là đồng ruộng trống vắng, tôi có cảm tưởng mọi sinh hoạt chung quanh đều ngưng lại, chỉ có chiếc xe là cử động, dằn xóc với tốc độ và ổ gà.
 
Anh Cả tôi chắc chắn là vĩnh viễn không còn thấy những thứ ấy trên đời này, tôi nghĩ, chết là một giấc ngủ dài và nếu đúng là một giấc ngủ thì chết hẳn phải sướng, khỏi mệt óc, mệt xác. Nhưng hãy cho tôi chết như anh Cả tôi, xin Thượng đế hãy phù hộ cho cha con tôi được bình yên trong chuyến đi này. Tôi cầu nguyện vì quá sợ hãi. Tôi nhìn dáng ngồi ủ rũ, mỏi mệt của cha tôi, một lần nữa linh tính lại cho tôi biết sắp có tai hoạ. Mà thật, Xe vừa rời khỏi Phú Lâm chừng năm, sáu cây số thì dừng lại vì gặp mô đất đắp chận giữa đường.
 
- Chết rồi, đường này đi sớm thường bị vậy đó !
 
Mọi người trên xe nhao nhao. Một vài người trên xe bảo người tài xế hãy quay xe trở về Sàigòn.
 
- Bà con yên chí, không sao đâu. Người lơ xe ra vẻ thành thạo. Đợi lính mình tới dò mìn rồi bang ụ đất ra là xong.
 
Nhưng hắn vừa nói hết câu thì bỗng có một tốp người vận quần áo bà ba đen, kẻ cầm súng, kẻ cầm dao từ hai bên đường xông tới, có lẽ họ nằm núp bên lề đường từ lâu.
 
- Mời đồng bào xuống xe ! Một người trong bọn vận quần áo bà ba đen ấy, dắt súng lục lủng lẳng bên lưng, vừa đi vòng quanh chiếc xe, vừa nói.
 
Thế là ai nấy đều nghe lời răm rắp.
 
Tôi hỏi cha tôi :
 
- Họ bảo xuống xe làm gì vậy cha ?
 
Cha tôi lườm tôi mà mặt tái xanh :
 
- Suỵt !
 
Tôi lờ mờ hiểu là đã gặp cướp. Tôi nhìn mọi người không ai còn bộ tịch chững chạc, tất cả lom khom, co rúm một cách thảm hại như những con Tôm rim trong dĩa sứ.
 
- Đồng bào hãy đi theo chúng tôi. Ai bất tuân bắn ngay ! Người đeo súng lục lại lên tiếng và lẽ dĩ nhiên, chẳng ai dám bất tuân lệnh ấy cả. À, còn chú bé này… Người ấy quay lại nhìn tôi, thoáng chau mày. Chú ở lại đây đi. Đừng đi theo. Xa lắm. Chốc nữa họ sẽ ra với chú.
 
- Dạ con tôi đó. Cha tôi nói. Xa thì tôi cõng…
 
- Thì nó ngồi đây chờ cũng rứa. Có sao.
 
- Thôi con leo lên xe đi ! Cha tôi bảo sau một lúc ngần ngừ và cố nén tiếng thở dài.
 
Sự việc xảy ra kỳ lạ quá làm tôi luống cuống, không còn một phản ứng mạnh nào. Tôi gật đầu, nhìn theo cha tôi và trong lòng thì run sợ đến nỗi định nói : “Lỡ họ bắt cha luôn rồi làm sao ?” vẫn không nói được.
 
Bây giờ, tôi mới nhận ra chỉ có tôi là đứa trẻ độc nhất trong đám hành khách Tất cả đang băng đồng hướng về một xóm gần đó – Nhưng không biết trong đó chứa đựng những bí mật gì và tại sao người ta lại bắt hành khách lớn tuổi. Ý nghĩ cho bọn người đó là cướp không còn trong tôi nữa. Nhất định họ là giặc, tôi gào lên : “Cha ! Cha !” và hình như ông có ngoái nhìn lại. Lúc đó chắc ánh mắt ông tuyệt vọng ; còn tôi thì òa khóc. Tôi khóc mãi cho đến khi có lính mình tới hỏi và tôi khai không thiếu một chi tiết nào. Cuối cùng họ đưa tôi về Hội Dục Anh để chờ thân nhân tới lãnh mặc dù tôi đã khẩn khoản xin họ cho về Châu Đốc để gặp mẹ tôi.
 
Ở Hội Dục Anh, tôi gặp nhiều đứa bé trang lứa, nhỏ hoặc lớn tuổi hơn tôi chút đỉnh, phần đông bị đi lạc được gởi tới cũng đợi thân nhân lãnh về, nhưng có nhiều đứa đợi mãi vẫn không thấy ai đến.
 
Bây giờ tôi lại hiểu thêm rằng hàng ngày trên Radio vẫn có tin trẻ lạc và tin tức đó phần nhiều liên quan với những đứa trẻ ấy. Tuy nhiên, điều tôi thắc mắc mãi là tại sao chúng nó có thể đi lạc. Tôi lân la làm bạn một vài đứa để được thỏa mãn thắc mắc này thì mỗi đứa cho biết mỗi hoàn cảnh và hoàn cảnh nào hình như cũng có những nguyên nhân sâu xa có từ ảnh hưởng chiến tranh.
 
Một đứa kể cho tôi nghe chuyện nó đi lạc thế này : Ba nó lên Sàigòn nói là để kiếm công ăn, sở làm, nhưng đi đã ba tháng rồi mà không thấy về, cũng không có tin tức gì cả. Hỏi thăm ra, có người nói ông đã có vợ bé ; má hắn bán tín bán nghi, nhưng cuối cùng không thể chịu đựng nổi những đau khổ đành phải lên Sàigòn tìm ông như tìm bóng chim, tăm cá. Thế rồi một hôm, hôm đó cũng là hôm nó đi lạc, mẹ hắn bắt gặp cha hắn đèo một cô gái trên xe gắn máy, và vội vã kêu tắc xi đuổi theo, quên cả hắn. Nói đến đây, hắn khóc hu hu…
 
Một đứa khác lại kể một chuyện khác về hắn, giọng rành rõi như người lớn : Tao thì chẳng đi lạc bao giờ. Hắn thầm thì. Tao cũng chẳng có cha mẹ, sống lông bông đầu đường xó chợ, muốn có tiền thì đi móc túi. Nhưng mấy lúc nay, bị đau luôn nên đành giả vờ là đi lạc để Cảnh sát gởi tao về đây. Dù sao thì ở đây cũng hơn ở vỉa hè, thêm vào đấy có người săn sóc thuốc thang cho mình. Hắn cười hì hì…
 
Hoàn cảnh mỗi đứa mỗi khác, tôi nghĩ, nhưng đứa nào cũng đáng thương. Chuyện thằng có người cha theo vợ bé làm tôi liên tưởng đến những ngày cha tôi suýt bỏ mẹ tôi để lấy con gái ông thợ hớt tóc ở dưới Châu đốc. Những ngày ấy, cha tôi hầu như không biết đến gia đình là gì nữa. Suốt ngày ông lầm lì và đi vắng thất thường. Mẹ tôi gạn hỏi, ông cau có trả lời là do công việc làm ăn. Lúc ấy, bỗng tôi đâm bệnh nặng, có lẽ là tôi đã bị trúng gió vào lúc nửa đêm. May là đêm ấy có ông ở nhà. Nhưng ông chỉ săn sóc qua loa, cho tôi uống thuốc rồi ngủ, chứ không như mấy lúc, mỗi lần tôi bệnh xuống là ông thức trắng đêm canh chừng từng nhiệt độ tăng giảm trong người tôi. Ấy vậy mà mẹ tôi cũng không dám nói gì. Sự có mặt của bà trong nhà lúc nào cũng khiêm nhường đóng vai phụ trong một cuốn phim dài do cha tôi đạo diễn, đó là cuốn phim sinh hoạt gia đình. Chẳng bao giờ mẹ tôi có một ý kiến gì phản đối về những quyết định của cha tôi, nên khi tôi bệnh nặng quá, phải đem vào bệnh viện mẹ tôi cũng không được đi theo săn sóc, chỉ ở nhà lo nấu cơm, nấu cháo gởi vào cho tôi và cha tôi. Lần bệnh ấy, tôi tưởng không còn hy vọng gì cứu sống được, bởi vì cơn sốt làm tôi lên cơn kinh phong vào buổi chiều. Đó là buổi chiều sau đêm tôi phát bệnh, và cha tôi lại không có ở nhà, mẹ tôi luýnh quýnh, trông thật thảm hại, chưa gì nước mắt bà đã ứa ra, miệng mếu xệch, run run gọi tôi : “Con ! Con ! Trời ơi, sao con tôi thế này ?” rồi nhờ ông Cốm kêu xe chở tôi đến bác sĩ làm như ông Cốm là bà con ruột thịt không bằng. Tôi cứ thắc mắc mãi là tại sao bà không đi với tôi. Sau này rõ ra là bà sợ đi bỏ nhà, cha tôi biết được sẽ rầy. Bà sợ cha tôi đến như vậy đó. Nhưng rồi bà vẫn bị cha tôi rầy vì khi về đến nhà, nghe nhờ ông Cốm đưa tôi đi bác sĩ là ông đã hét vang lên : Con mình, mình không lo để hàng xóm lo là nghĩa làm sao ? Và như thế mẹ tôi cũng không biết phải làm thế nào mới vừa lòng ông được. Tôi nghĩ rằng nếu tôi không bệnh thì có lẽ khó mà ông bỏ người con gái con ông thợ hớt tóc vì bệnh của tôi mỗi ngày mỗi thêm biến chứng nguy kịch và có lẽ ông đã nghĩ nếu tôi chết là lỗi do ông không lo săn sóc tôi ngay từ lúc bệnh mới phát. Trông ông, ánh mắt như tránh cái nhìn yếu ớt của tôi và ông buồn buồn như đang bị những ân hận ray rứt, giày vò. Ông trải giấy báo trong căn phòng tôi nằm ở bệnh viện nhưng ông chỉ ngồi chứ không dám đặt lưng xuống nghỉ. Mỗi lần tôi tỉnh dậy đều có mặt ông bên cạnh. Tôi cũng biết là ông đang cố ngăn những giòng nước mắt, ông sợ tôi chết không biết lúc nào. Người chung quanh thấy ông bơ phờ đều ái ngại vì ở trong bệnh viện đó chẳng có người nuôi bệnh nào là đàn ông. Ngược lại, ông không cần biết đến điều đó. Ông chỉ biết có tôi và bác sĩ, y tá săn sóc tôi. Ông luôn luôn cố tạo mối thiện cảm và lòng biết ơn với tất cả nhân viên trong bệnh viện. Chắc ông có ý nghĩ làm như thế, người ta sẽ tận tình chữa trị bệnh cho tôi hơn. Nhưng khổ nỗi, bệnh của tôi là thứ bệnh kỳ quặc. Tôi bị tiêu chảy liên miên. Bác sĩ bảo là tôi sốt xuất huyết đã qua thời kỳ trầm trọng. Cứ ba hoặc năm phút, tôi lại bị tiêu chảy một lần, cha tôi phải thay quần và chùi rửa cho tôi. Thường ngày, ông là một người rất kỹ lưỡng, sạch sẽ, thế mà những lúc ấy chẳng thấy ông tỏ ra gìn giữ vệ sinh gì cả, cúi xuống ngửi phân và lấy cây bươi ra xem có những gì khác lạ để khai với bác sĩ. Thật chưa có bao giờ tôi thấy ông lo lắng, khổ sở như vậy.
 
Nếu bảo rằng hoàn cảnh đã tạo nên điều kiện là đúng thì chính tôi bệnh nặng là một dịp kéo cha tôi trở về ý thức trách nhiệm và bổn phận với gia đình.
 
Người con gái, con ông thợ hớt tóc, có lẽ bực tức về việc cha tôi đột ngột không lui tới thăm nàng nên đánh liều tìm đến nhà tôi, gặp mẹ tôi khai hết sự thật giữa nàng và cha tôi có gian díu với nhau. Nghe tin này, mẹ tôi run rẩy như con vật bị thương, mặt tái xanh nhưng vẫn cố giữ can đảm để khỏi phải khóc trước người con gái nhỏ tuổi ấy. Bây giờ, tôi đã hết bệnh rồi – Ông xoa đầu tôi, nhưng lại nói như nói với mẹ tôi :
 
- Chẳng ai bằng con tôi cả, phải không con ?
 
Tuy nhiên, dù vậy, uy tín của ông cũng đã giảm sút một phần lớn trong gia đình.
 
Tôi nhớ lại những ngày qua ấy, lòng đã buồn lại càng buồn hơn, nước mắt chảy dài trên má và bỗng một ý nghĩ táo bạo đến với tôi : Phải trốn khỏi nơi này để về gấp với mẹ ! Chắc giờ này bà đang trông cha tôi, đang trông tôi. Và tôi thực hiện : suốt đêm không ngủ, nằm trong bóng tối cố vểnh tai để nghe động tĩnh chung quanh, chờ mọi người yên giấc, tôi len lén thoát ra cửa và chui qua rào, thực mạo hiểm. Có lẽ suốt đời tôi khó mà quên cái giây phút căng thẳng thần kinh đến tột độ ấy, nhưng khi đã rời Viện Dục Anh tôi lại lo sợ hơn. Tôi bắt đầu ân hận đã làm một việc điên rồ và băn khoăn không biết làm cách nào để có tiền đi xe, có tiền ăn dọc đường. Trí óc của tôi moi móc lung tung vẫn không thấy một giải pháp thoả đáng nào cho tình trạng ấy cả. Chưa bao giờ tôi tuyệt vọng đế thế, tuy nhiên, như một kẻ phóng lao phải theo lao, không thể lùi thì phải tiến, tôi cắm đầu chạy về phía phố xá có ánh đèn với hy vọng may ra gặp người tốt bụng tôi sẽ kể hết hoàn cảnh bi đát của tôi để họ thương mà giúp đỡ. Tôi cũng biết rằng như thế chẳng khác nào những người ăn xin vì lỡ độ đường và tôi tìm vào một tiệm ăn vì tin ở đó chỉ có những thực khách mới có đủ thì giờ ngồi nghe tôi trình bày nỗi thống khổ mà tôi đang gặp.
 
Tôi lẩm bẩm :
 
- Nơi đây được rồi ! Tôi ngước nhìn tấm bảng treo trước một cửa hiệu với những chữ “Đồng Tháp” rồi do dự một vài phút mới rụt rè bước vào.
 
Lúc ấy, tiệm ăn vắng khách, chỉ có một người đàn ông chắc là chủ quán, mập ú ù ngồi trong quầy rượu, đang kê mũi vào một tờ báo và ngủ gục.
 
- Phải ông chủ đó không ? Tôi cố đi mạnh chân và lên tiếng hỏi để khỏi ai nghi ngờ đã lén vào, nhưng người đàn ông vẫn ngáy đều đều như nằm trên giường.
 
- Gớm, ngủ gì mà ngon thế… Tôi lại lên tiếng một lần nữa và thấy cần phải làm như thế mới chứng tỏ được tôi là người ngay chứ không phải kẻ gian rồi dợm bước định trở ra.
 
- Dạ ! Dạ ! Bỗng có tiếng đàn bà ở phía sau tiệm ăn vọng tới. Tôi hoảng hốt. Bà chủ tiệm lên thấy mình chắc là chửi om sòm, tôi nghĩ và muốn chuồn thật lẹ nhưng chưa kịp chuồn thì bà ta đã hiện ra ở khung cửa.
 
- Trời ! Cậu Lênh Đênh !
 
- Á, bà An ! Tôi mừng quá, kêu to, chạy sà vào vòng tay bà.
 
- Cậu đi đâu một mình khuya khoắt thế này ?
 
- Chớ bà về đây bao giờ ? Tôi không trả lời câu hỏi của bà già An mà chỉ hỏi lại vì tôi quá ngạc nhiên. Bà về đây lâu chưa ? Sao không ghé thăm nhà tôi ? Tôi hỏi lung tung rồi bệu bạo. Bà ơi, cha tôi bị giặc bắt rồi…
 
- Hả, hả ? Cậu nói sao ? Bà An sửng sốt, chụp vai tôi như muốn hối tôi phải khai cho ra mọi lẽ. Còn bà ? Còn cậu Giác ?
 
Lúc ấy, không cầm giữ được nước mắt, tôi khóc òa lên, vừa khóc vừa kể lể tất cả những biến cố dồn dập đã đến với gia đình tôi.
 
Bây giờ, người đàn ông ngủ gục ở quầy rượu, nghe ồn ào mới cựa mình thức dậy.
 
- Đứa nhỏ nào thế ? Ông cau mày khó chịu.
 
- Cậu Lênh đênh đây mà ! Bà An giải thích.
 
- A… Cậu Lênh đênh ! Nét mặt ông rạng rỡ ra ngay.
 
Bà An giới thiệu :
 
- Ổng dó ! Ý bà muốn nói chồng của bà đó.
 
- Hân hạnh ! Tôi bắt chước hai tiếng cha tôi đã nói sau những lời giới thiệu, nhưng trong óc đang liên tưởng đến những mối tương quan giữa cái tên bảy Bụng với cái bụng như thùng nước lèo của chồng bà An.
 
- Thế thì chắc cậu chưa ăn cơm ? Ông Bảy bụng bắt đầu săn sóc tôi.
 
- Vâng, tôi chưa ăn gì cả. Tôi chùi nước mắt và ngượng ngùng khi đã thú thật điều ấy.
 
- Trời, tội chưa ? Bà An lật đật chạy xuống bếp. Ông Bảy bụng dìu tôi lại ghế ngồi :
 
- Vợ chồng tôi định tìm đến thăm ông già, bà già cậu và mấy cậu, ông nói, nhưng vợ tôi lại quên số nhà cậu, quên tên đường… Bà ấy mà có nhớ cái gì. Tôi tức quá, cự nự.Bà ấy bảo tại hồi đó lên ở chưa được một tháng thì bệnh rồi phải về quê ngay nên có biết gì đâu. Đúng là cù lần…
 
- Còn ông, sao không giỏi kiếm nhà ổng bả đi ? Lúc ấy bà An cũng vừa bưng cơm lên cho tôi, nghe ông Bảy Bụng chê bà nên bà kiếm cách hỏi vặn.
 
- Thì… thì…
 
- Thì sao ?
 
- Thì trước sau gì tôi cũng kiếm ra.
 
- Xí, còn lâu ! Bà An trề môi, ra cái điều không tin ông Bảy Bụng có thể làm cái việc, mà theo bà, quá khó khăn ấy, rồi quay lại tôi : Kìa, mời cậu ăn đi chứ ! Bà bới cơm ra chén và tôi bắt đầu ăn không một chút ngại ngùng.
 
Tôi vừa ăn vừa kể tiếp những chuyện của gia đình tôi trong những ngày bà An đã đi rồi.
 
Tôi hỏi bà An bây giờ có thể giúp tôi về Châu Đốc để gặp mẹ tôi không ?
 
Bà gật đầu :
 
- Được chứ ! Cậu không bảo tôi cũng phải giúp. Để mai tôi với cậu cùng đi. Nhân thể cũng là để về tiễn đưa linh hồn cậu Cả. Thật tôi không ngờ người hiền lành như cậu ấy… Rồi bà sụt sùi.
 
- Phải đấy, bà phải đi mới được ! Ông Bảy bụng góp vào.
 
Thế là, sáng sớm hôm sau, bà An và tôi về Châu Đốc, nhưng về đến nơi thì đám táng anh Cả tôi đã cử hành, xong xuôi rồi.
 
Mẹ tôi vừa thấy tôi ở ngõ đã chạy ùa ra ôm cứng tôi vào lòng với đôi tay run rẩy :
 
- Con, con ! Sao con về được đây ? Mẹ nghe nói cha con – con bị bắt cả rồi…
 
- Ai ? Ai nói mà mẹ biết ?
 
- Mấy người đi xe sau chứ ai ? Còn cha con đâu ?
 
Chắc là mẹ tôi tưởng cha tôi cũng được thoát nạn, nhưng chỉ mới nghe hỏi vậy là tôi đã khóc rống nên bà An phải giải thích mọi chuyện. Còn anh Giác chẳng cần nghe gì cả mà đã nức nở rồi.
 
Anh Giác kêu : Cha ơi, cha hỡi ! Làm như cha tôi đã chết không bằng.
 
Sau đó, mẹ tôi lại lâm bệnh nặng, bà đã bệnh vì quá đau khổ, tôi với anh Giác phải lo săn sóc bà vì bà An ở lại được ít hôm đã trở về Sàigòn, sợ ông Bảy Bụng trông.
 
Mẹ tôi bệnh như thế cả tháng mới mạnh, nhưng vừa mới mạnh thì Châu Đốc bị nạn lụt, nước mỗi ngày mỗi dâng cao, chúng tôi phải rời khu nhà thờ Lúc ấy chúng tôi được ông cha đạo cho ở trong kho chứa đồ khu nhà thờ Chúng tôi đi bằng ghe. Đó là cái ghe của người đánh cá trên sông nên quá nhỏ mà người chạy lụt thì quá đông thành thử chạy được một quãng thì chìm. Thực là họa vô đơn chí. Tôi bấy giờ chỉ vừa thấy chiếc ghe tròng trành là đã bị nước phủ lên đầu, định chụp lấy tay mẹ nhưng không kịp nữa, không còn biết gì nữa. Tôi muốn kêu mẹ tôi, kêu anh Giác nhưng không thể nào ngoi đầu lên được. Lồng ngực tôi như muốn vỡ ra vì nước chảy tràn vào mũi mỗi lúc một nhiều và hiểu là khó mà thoát chết dù vẫn hy vọng có người tới cứu, dù cố gắng ngậm miệng để khỏi bị uống nước. Tôi cũng nhớ là hình như trong giây phút thập phần tử nhứt phần sanh ấy bỗng những chuyện nhỏ nhất xảy ra trong gia đình tôi hiển hiện trước mắt với khung cảnh nhà máy, ngôi nhà ở Nancy cùng nhiều khuôn mặt thân yêu : cha tôi, mẹ tôi, anh Cả, anh Giác, bà An, ông Bảy Bụng, ông Cốm, thằng Cu Nghé, con Két, chú ba Tiết… Và sau cùng là bóng tối dày đặc, nhầy nhụa, lạnh lẽo…

_____________________________________________________




CHƯƠNG III_CHÚ BÉ LÊNH ĐÊNH




CHƯƠNG III
 
 
Cha tôi thường bảo rằng “chiếc áo không làm nên ông thầy tu” rồi giảng nghĩa hàng giờ về phương ngôn ấy.
 
Bây giờ đem trường hợp của tôi gán ghép vào đó, thực không có gì đúng hơn.
 
Bọn học trò đã chế diễu chiếc áo túi của tôi, nhưng chắc chắn chúng sẽ khâm phục khi biết sau lớp áo túi ấy có một con người luôn luôn cố gắng học hành và học giỏi.
 
Mà thật, tôi đã cố gắng học không kể đến giờ giấc, không nghĩ đến chuyện vẩn vơ. Tôi đã có can đảm thức khuya, chống lại cơn buồn ngủ bằng xác chè đắp lên mắt và chống lại muỗi Sàigòn nhiều như cát vãi bằng cách cuộn chân trong mền dù tiết trời nóng bức.
 
Mẹ tôi nhìn tôi cười hài lòng, ngồi xuống bên cạnh :
 
- Nực không con ?
 
- Dạ không ! Dạ quen rồi !
 
Và tôi nghe tiếng thở dài của bà.
 
Tôi chắc bà đang tiếc nuối những ngày sung sướng đã qua và nghĩ đến quê hương, nghĩ đến một ngày nào đó tái lập được sự nghiệp sẽ trở về thành phố Châu Đốc nhỏ bé, thân yêu.
 
Nói đến mẹ, tôi tin rằng người mẹ nào cũng có nét dịu hiền, đáng kính bất diệt.
 
Trong một bài nào đó có đoạn nói về tình yêu mẹ “… Ta yêu mẹ hầu như không thấy được. Tình yêu ấy rất bao la, chỉ khi mẹ ta mất đi mới thấy nó to lớn dường nào…” Ai viết bài đó, tôi không nhớ, người ấy quả đã có một nhận xét sâu sắc cũng như người đã viết nên bài thơ “Cảnh vui nhà nghèo” có hình ảnh mẹ với vẻ đẹp thần thánh :
 
Tan buổi học mẹ ngồi tựa cửa
 
Mẹ trông con đứa đứa về lần
 
Xa xa con đã tới gần
 
Các con về đủ quây quần bữa ăn,
 
Cơm dưa muối khó khăn mới có
 
Của không ngon nhà khó cũng ngon…
 
Và mẹ tôi cũng đã thể hiện được hình ảnh ấy bằng hành động. Bà thường đón tôi tận ngoài ngõ vào những giờ tan học.
 
Nhưng rồi một hôm, hôm ấy sau khi tan học tôi bị mấy thằng bạn rủ chơi mải mê nên về trễ. Tôi phải cắm đầu chạy như điên, sách vở dắt trong lưng quần, bình mực bỏ túi, vành mũ cắn chặt giữa hai hàm răng rồi chạy một mạch về nhà với hy vọng sớm được chút nào hay chút ấy để nếu có bị quở mắng thì cũng quở mắng ít thôi. Và khi chạy tọt vào đầu thang gác, tôi mới sực nhớ hôm nay không có mẹ tôi đón ở ngõ như mọi lần.
 
Tôi đâm hoảng. Linh tính cho biết đã có biến cố xảy ra. Cùng một lúc, tôi lo lắng về việc chưa bịa ra được lý do về trễ để giải thích với cha tôi – Tình thế bắt buộc phải nói dối mà – Có điều phải nói dối thế nào cho có lý. Tôi loay hoay mãi với vấn đề đó nhưng vẫn không tìm ra một chuyện có lý thì cha tôi hiện ra ở khung cửa và thật là lạ lùng, thay vì la rầy, ông nhìn tôi buồn buồn :
 
- Hôm nay sao con về trễ vậy ? Ông trách móc nhẹ nhàng rồi ôm tôi vào lòng nựng nịu rất lâu. Ông nói : Lênh Đênh ơi ! Anh Cả con bệnh nặng. Mẹ và anh Giác về dưới thăm rồi…
 
- Trời ơi ! Anh Cả con bệnh nặng à ? Tôi thảng thốt kêu lên. Bệnh thế nào cha ? Tôi gỡ vòng tay ông và hỏi dồn dập.
 
- Cũng không nặng lắm đâu. Ông trấn an tôi. Chắc ông thấy tôi run rẩy, mặt biến sắc. Tin tức thì vậy nhưng cha đoán có lẽ chỉ cảm xoàng và vì nhớ mẹ nên nói cho to chuyện để mẹ con về dưới gần anh con ít bữa, thế thôi.
 
Tuy vậy, tôi cũng chưa yên tâm. Hình ảnh anh ấy chập chờn trong trí óc và tôi thấy nhớ mẹ. Tôi ân hận đã về trễ. Nếu tôi về sớm có thể là được tiễn bà ra bến xe. Kỳ thực tôi không biết bà đi lúc nào. Tâm trạng của tôi bây giờ vô cùng hoang mang. Mới vắng mẹ một hôm mà như thấy bị đánh mất một cái gì quý báu nhất trong đời.
 
Ngồi lại bàn ăn nhìn về phía mẹ tôi ngồi, lòng tôi bỗng quặn thắt, thường ngày bà vẫn ngồi đó và gắp thức này thức kia cho tôi, cho anh Giác.
 
Có bà trong nhà, không khí gia đình ấm cúng rất nhiều. Những tiếng nói, những bước chân, những dáng điệu mềm mại, những cử chỉ săn sóc của bà như dòng suối mát trưa hè.
 
Tôi thường nằm bên cạnh mẹ tôi để nghe bà kể chuyện đời xưa, chuyện bà thuở còn bé. Giọng bà đều đều, dịu ngọt như lời ru. Sau đó, tôi đã ngủ bình yên trong lòng bà, ngoan ngoãn, hiền lành hơn bao giờ hết.
 
Tự nhiên, một so sánh ngộ nghĩnh đến với tôi : lúc này tôi như đứa trẻ vừa bị bỏ bú, ngẩn ngơ và buồn bã.
 
Ấy vậy mà, khi có bà ở nhà, tôi lại chẳng bao giờ nghĩ đến điều ấy và bây giờ nghĩ nếu bà chết chắc tôi có thể chết theo được ! Cuộc đời tôi trong tay bà. Một lời an ủi, một tiếng khen, một câu trách móc… tất cả tuy tầm thường, vẫn làm tôi xúc động, cho tôi niềm tin và nghị lực.
 
Bây giờ, bà đi rồi, tôi hoàn toàn cô đơn và cầu mong anh Cả tôi mau mạnh để bà kết thúc chuyến đi thực sớm…
 
Cứ thế, tôi nghĩ lung tung, quanh quẩn, những ý nghĩ không thành vấn đề cho đến mãi khi ăn cơm xong thì trời cũng vừa tối, đèn được thắp lên. Trông ánh đèn vàng vọt tỏa trong căn nhà nhỏ càng làm tăng cảm giác nực nội, khó chịu. Ở Sàigòn, những xóm lao động, như xóm tôi ở, có điện như thế là may mắn. Có nhiều xóm không có điện, thắp đèn dầu leo lét, thứ đèn dễ gây hoả hoạn ấy đã bắt nhiều người chịu cảnh màn trời chiếu đất chỉ vì một phút bất cẩn rọi bắt một con muỗi hoặc để hớ hênh, chuột chạy làm ngã đổ Đã thế, thỉnh thoảng xóm tôi lại bị khổ với cái nạn cúp điện mặc dù đọc báo  có thấy đăng bố cáo của nhà đèn, nhưng đọc mà vẫn không biết nhà mình sẽ bị cúp điện vì trong bố cáo chỉ ghi những mã số của từng khu vực mà chỉ nhà có công tơ, có biên lai nhà đèn mới biết, còn những nhà xin câu điện của những người ấy thì biết thế nào được. Đó là chưa kể những người ấy nổi hứng cúp không cho điện từ nhà họ đến mình chỉ vì những nguyên do giản dị nhất : Cái pít-cúp, cái vô tuyến truyền hình cần điện cao thế, hay có tiệc tùng, có mở “ban”, mở “bum” cần thắp nhiều đèn trong nhà họ… Thời đại kim tiền mà. Đúng như cha tôi nói, có tiền muốn gì cũng được và ai cũng phục vụ cho kẻ có tiền. Tôi ở đây ba trăm năm sau không biết có được cấp công tơ hay không ? Nếu tôi là Nguyễn Du, chắc câu nói này sẽ có giá trị thực tiễn hơn câu “không biết ba trăm năm sau có ai khóc Tố Như hay không ? Nghe đâu nhà đèn này là của Tây được thầu, ký hợp đồng gần một trăm năm và ai muốn xin công tơ phải hội đủ những điều kiện mà trong đó điều kiện tiền là tiên quyết. Vậy thì nghèo là đừng mong có công tơ để được trả giá một ký điện theo giá chánh thức thay vì giá chợ đen, trường hợp này, có lần ngồi nhẩm tính, tôi thấy bị kẻ có công tơ bóc lột quá dã man. Một ký điện giá chính thức 5đ chẳng hạn, nhưng mình phải chịu 10đ, và một công tơ có thể cho 20 nhà câu, mỗi nhà một tháng thắp 10 ký vị chi người có công tơ kiếm lời cả ngàn bạc rất ư là khỏe khoắn. Và cứ thế, tháng này qua tháng nọ, năm này qua năm nọ, số lời ấy là cả một lợi tức đáng kể. Đó là chưa kể muốn câu phải thế chưn hai ngàn.
 
Bây giờ nỗi lo lắng trong tôi cũng bị tăng theo với cảm giác nực nội, khó chịu vì ánh đèn vàng vọt.
 
Tôi ngồi bên cạnh bàn nhớ đến anh Cả tôi, nhớ những câu chuyện anh kể mỗi khi về thăm cơ xưởng, nhớ ngày anh được làm lễ rửa tội đầu tiên… Tôi hình dung chiếc áo dòng của anh phất phơ khi bước gần cái hồ nước trong vườn.
 
Tôi nhìn lên bàn ăn còn mấy cái vỏ chuối, cha tôi để quyển sổ nhỏ gần đó, miệng lầm bầm tính toán.
 
Tôi buồn quá, đến tựa cửa nhìn bâng quơ vào bóng đêm, nghe tiếng cười nói ở những nhà bên cạnh, tiếng súng xa xa vang lại chắc của một đồn bót nào đó – và tôi lại nhớ đến anh Cả tôi.
 
Tôi nhớ hồi tôi mới 5, 6 tuổi gì đó, anh Cả tôi học lớp Nhất nội trú nên thỉnh thoảng mới được về thăm nhà. Mỗi lần như vậy, tôi mừng lắm, còn mẹ tôi thì lo cho anh ăn những bữa ăn đặc biệt hơn thường lệ như muốn để đền bù những bữa ăn tập thể trong trường. Có một lần, mẹ tôi chiên một con cá lóc, món mà anh Cả tôi thích nhất, nhưng vì nhà đông người, và vì mẹ tôi tiết kiệm nên chiên xong bà lại đem dằm mắm để ăn được đủ bữa, thế là anh Cả tôi không nuốt nổi và mẹ tôi ân hận. Về sau, bà thường đem chuyện này nói với chúng tôi như một huyền thoại thú vị nhất. Anh Cả tôi lại có cái biệt tài vẽ chân dung, nhưng không phải truyền thần mà chỉ vẻ rập theo mẫu có sẵn. Anh vẽ các danh nhân và vẽ thật nhiều để cho bà con hàng xóm dán lên vách như những bức tranh trang trí. Đôi khi, anh nổi hứng đòi vẽ cả tôi và anh Giác, nhưng vẽ xong tôi lại thấy giống mấy thằng bé in ngoài những tập vở 50 trang, 100 trang. Thì ra anh ấy bắt chước những hình vẽ ấy. Ấy vậy mà tôi phục anh vô cùng. Tôi cất cái hình ấy như người lớn cất chiếc ảnh kỷ niệm. Đứng trước anh, lúc nào tôi cũng thấy như đứng trước một kẻ học rộng, tài cao. Tôi không biết anh bắt chước ai mà mỗi lần nghỉ hè anh thường cặm cụi làm những bản in bằng nước cơm. Anh viết chữ ngược trên miếng giấy dày để thoa nước cơm, đoạn dùng một miếng giấy mỏng dán với miếng giấy dày ấy rồi gỡ ra, thế là anh có một bản in bằng nước cơm. Ngoài ra, anh còn sáng tác nhạc và sáng tác một cách rất kỳ cục, bằng cách trở ngược bản của các nhạc sĩ để chép, thành thử bản nhạc ở các nhạc sĩ ghi nốt đồ thì ở bản nhạc anh thành nốt lá, nốt rề thành nốt sốn, nốt mi thành nốt phá, nốt pha thành nốt mí, nốt sôn thành nốt rế, nốt la thành nốt đố v.v… Và anh tự soạn lời nghe cũng du dương lắm…
 
Do đó, nhiều lúc tôi nghĩ, anh đi tu có lẽ không hợp với năng khiếu của anh.
 
Và chuyện mà mỗi lần nhớ lại, không thể nào nhịn cười được là hồi đó cha tôi có nuôi một con bò để lấy sữa, chưa kiếm được người chăn nên bắt chúng tôi chăn. Anh Cả, anh Giác và tôi đuổi bò ra cánh đồng gần nhà và mỗi lần như thế anh Cả thường bảo tụi mình như cái cảnh tam chiến Lữ Bố. Lẽ dĩ nhiên, anh Giác và tôi chẳng hiểu anh ấy nói gì, đòi giải nghĩa, nhưng anh lại kể chuyện Tam Quốc, chúng tôi nghe khoái quá, quên cả chăn bò, để bò ăn lúa, bị chủ ruộng lấy nón, năn nỉ đến muốn lạy họ cũng không tha, sau phải nhờ đến cha tôi đứng ra can thiệp bằng cách bồi thường thiệt hại. Thế là về nhà bị cha tôi rầy. Khổ nỗi, giống bò lại thích ăn lúa, chúng tôi sợ bị rầy, càng chăn giữ nó bao nhiêu thì nó tỏ ra cứng đầu bấy nhiêu. Hễ lơ đễnh một tí là nó chạy chỗ khác như tên tù lúc nào cũng sẵn sàng kiếm cách vượt ngục. Và để đối phó với tình trạng này, anh Cả tôi ra lệnh cho chúng tôi triệt để im lặng theo dõi hành động của bò, nếu thấy bò ăn lúa thì bảo với anh bằng mật hiệu “Ăn” hoặc thấy nó sắp chạy thì bảo là “Chờ”. Anh Cả tôi làm như bò có thể nghe tiếng người nên cẩn thận không tiết lộ sự theo dõi mà chúng tôi đã thực hiện đó. Ngược lại, con bò cũng không vừa, nó luôn luôn nhìn chúng tôi bằng cặp mắt thách thức và luôn luôn có hành động chờ chực phút sơ hở của chúng tôi. Lẽ dĩ nhiên, đã là người ai lại chẳng có những sơ hở đáng tiếc, do đó, đối thủ của chúng tôi đã gây sóng gió không phải là ít y như một tên gián điệp đại tài, mỗi lần nó co giò chạy, chúng tôi đuổi theo đến hụt hơi và anh Cả tôi trở thành lực sĩ điền kinh nước rút Ma-ra-tông. Anh vừa chạy vừa la “dò, dò”, tiếng bảo bò đứng lại, và nước mắt chảy trên má, mồ hôi chảy trên trán. Trong anh, chắc đang hậm hực một sự trả thù ghê gớm nếu bắt được nó, nhưng khi bắt được nó anh lại không còn sức nào để đánh đập, hành hạ ; tay chân anh rã rời như vừa qua một cơn bệnh nặng và trái tim như muốn nhảy tung ra ngoài.
 
- Này, tao nói cho mày biết… Anh Cả tôi hào hển vừa thở, vừa nói với con bò… Hà, hà ! Tao đã có cách trị mày rồi. Tao sẽ đeo tróng vào cổ mày.
 
- Tróng là cái gì anh ? Tôi hỏi.
 
- Mày hỏi làm gì ? Anh quát chúng tôi. Chúng mày chẳng được cái tích sự gì cả.
 
Tôi quay sang anh Giác thầm thì :
 
- Đúng là giận cá chém thớt.
 
- Mày hỗn đấy hả Lênh Đênh ?
 
Tôi chối, tôi hy vọng anh chạy đến bùng tai nên chưa nghe gì hết.
 
- Dạ, đâu có ! Tụi em bàn về cái tróng mà !
 
- Có cái tróng mà cũng không biết. Anh Cả tôi vẫn lớn tiếng như cố giữ cái phong độ giận dữ chưa nguôi dù có thể là anh đã thấy sự lố bịch khi đối phó với hành động một con bò. Anh tiếp : cái tróng là cái cây buộc tòn teng dưới cổ để nó vướng chân.
 
Định nghĩa ấy làm tôi bật cười thành tiếng. Có thế mà cũng la lối um sùm, tôi nghĩ, rõ ràng là chúng tôi thua một thằng chăn bò ở nhà quê, có nhiều đứa coi sóc cả một đàn bò năm sáu con vừa bò đực, bò cái, bò con… Nhưng anh Cả tôi nghe cười lại đâm tức, sẵn cầm roi trong tay anh quất tôi rồi quất luôn cả anh Giác, và hôm đó về nhà tất cả chúng tôi đều bị mắng là đồ ngu.
 
Về sau, kỷ niệm ấy được nhắc lại, anh Cả tôi cười hì hì để che dấu sự ngượng ngập và điều mà anh ngượng nhất có lẽ khi nhớ đến mỗi lần bò phóng qua một con mương nhỏ, anh phải cổi quần lội qua vì anh bấy giờ không đủ sức phóng như bò. Lúc ấy trông anh vừa thảm hại vừa buồn cười như thằng hề đánh rơi xiêm y.
 
Tự nhiên, tôi thấy tiếc đời anh phải đi tu quá sớm. Giá anh còn chung sống với chúng tôi chắc sẽ còn nhiều kỷ niệm vui vẻ, êm đềm. Tôi không hiểu cha mẹ tôi có nghĩ như thế không, hay chỉ biết đó cũng là một cách chọn tương lai cho con và anh Cả tôi đã chấp nhận như số phận một món đồ chịu sự đặt để của cha mẹ. Trường hợp này, nếu là tôi, tôi sẽ phản đối vì tôi thích tự do, nhất là tự do tư tưởng. Tôi nhớ trong một quyển sách nào đó có nói : Trong các quyền tự do mà con người được hưởng thì quyền tự do tư tưởng lại không có mấy ai sử dụng đến ! Thực vậy, người ta đã chạy theo những đòi hỏi phù phiếm và bỏ quên giá trị thực tiễn về bản chất con người ; cũng như những quan niệm và định thức cho nếp sống được đặt ra mỗi ngày mỗi đi xa cái tính vốn thiện. Do đó, tôi muốn làm một đứa trẻ muôn đời.
 
Bây giờ, tôi tưởng tượng anh cả tôi ở dưới Châu Đốc, nằm trên giường với đôi mắt lờ đờ, mệt mỏi vì bệnh mỗi lúc mỗi thêm trầm trọng – Linh tính cho tôi biết như thế -- Cùng một lúc, trong đáy lòng tôi hình như vừa có một thứ tiếng khiển trách từ đâu đó, mơ hồ dấy lên : Này, nếu mày là thằng bé khôn ngoan thì hãy cầu nguyện cho anh mày và bề trên sẽ chấp nhận. Nhưng phải thành tâm, mày đừng có nói láo như đã nói láo với cha mày. Nếu không ham chơi, mày đã được theo mẹ về thăm anh mày rồi, lỡ một giây là ân hận suốt đời, Lênh Đênh ạ !
 
- Tôi xin chừa mà ! Trời ơi ! Không, không đời nào tôi dám dại dột như thế nữa ! Tôi đau đớn, lẩm bẩm, nước mắt ràn rụa và giữa lúc ấy, người phát thư đạp chiếc xe đạp cọc cạch từ đầu hẻm tiến về phía nhà tôi.
 
- Điện tín ! Điện tín ! Có ai đấy không ?
 
- Hả ? Điện tín của ai ? Nghe hai tiếng điện tín, tôi đâm bối rối. Ngược lại, người phát thư vẫn giữ thái độ bình thường.
 
- Nhà này là nhà ông Xếp phải không ?
 
- Dạ.
 
- Cậu là con ổng hả ?
 
- Dạ.
 
- Ra đây mà nhận điện tín. Trời, sao đứng đấy ? Mau lên chứ ! Cậu biết bây giờ là mấy giờ rồi không ? Tại có cái điện tín này nên tôi phải đi cả trong giờ nghỉ… Ông ta lải nhải kể công khó, nhưng tôi không còn bình tĩnh để nghe gì hết. Tôi run run đặt bút ký vào sổ và cầm cái điện tín như cầm cái đuôi con thạch sùng, những ngón tay tê lạnh, mất hết cảm giác.
 
- Lênh Đênh, gì vậy con ? Cha tôi từ trong nhà hỏi vọng ra.
 
- Dạ đâu có gì ! Tôi trả lời.
 
- Cha nghe con nói chuyện với ai mà.
 
- Dạ… Dạ… Tôi ấp úng, đợi người phát thư quay xe đi. Có người ăn xin ! Rồi giấu tờ điện tín trong áo, tôi dọn bộ mặt thản nhiên, trở vào để cha tôi khỏi nghi.
 
- Một người ăn xin hả ?
 
- Dạ ! Tôi dạ như một cái máy vì tâm trí đang bận với cái điện tín : Có thể đây là một tin chẳng lành, tuy chắc không có gì mới mẻ hơn linh tính của tôi, nhưng tôi lại không muốn nghĩ đến điều đó, và từ đó không dám cử động mạnh, tôi ôm cứng tờ giấy màu xanh vào ngực, cố tìm một lý lẽ khác để trấn tĩnh : Tại sao không có thể là một tin vui ? Tin anh Cả tôi lành bệnh chẳng hạn.
 
Cuối cùng, tôi lên gác, bật vội ngọn đèn, hai tay rút nhanh cái điện tín hấp tấp mở ra xem.
 
“Nó đã chết !” Hàng chữ ấy trên điện tín nhoè nhoẹt vì nước mắt của tôi, nhưng tôi vẫn đọc đi đọc lại cả hàng chục lần, xoay qua xoay lại đủ chiều, tôi hy vọng đã đọc lầm, cái điện tín ấy biết đâu không phải của mẹ tôi gửi cho cha tôi, đến nỗi đứng mãi ở trên gác và khóc sướt mướt mà vẫn chưa tìm được một chi tiết nào phù hợp với hy vọng ấy.
 
Sau đó, tôi trở xuống nhà dưới, lau mặt thật kỹ, tay vo chặt tờ giấy đáng nguyền rủa ấy và đến bên cha tôi khi ông đã gấp quyển sổ lại, kêu con chó đến vuốt ve. Dưới ánh đèn trông ông hiền từ, tươi tắn, thỉnh thoảng mỉm miệng cười với con chó đang lăng xăng, quấn quít mừng rỡ mà lòng tôi đau nhói. Tôi buồn bã nhìn cha tôi mãi, muốn nói với ông đừng cười. Cha đừng cười như thế. Nhưng chưa nói thì bỗng ông ngửng đầu lên bắt gặp đôi mắt của tôi và giựt mình, mặt biến sắc :
 
- Anh con chết rồi phải không ? Ông thảng thốt kêu lên, chụp lấy vai tôi. Tôi ngã lăn vào cánh tay ông, thả rơi bức điện tín, rồi cả hai ôm nhau cùng khóc.
 
Cha tôi kể lể, não ruột :
 
- Trời ơi ! Con ! Con ! Cha không ngờ. Cha không xứng đáng là cha. Chỉ tại cha bất lực. Đáng lẽ thì cha phải nuôi con, phải để con sống trong gia đình. Cha biết là cha đã lầm khi đưa con ra ở riêng, nhưng biết thì đã muộn. Như thế chẳng khác nào cha đã chạy trốn một trách nhiệm…
 
Và bây giờ tôi mới lờ mờ hiểu ra rằng việc gửi anh Cả vào nhà tu không do lòng tín ngưỡng mà do vấn đề sinh kế thúc bách, do quyền lợi, cha tôi chắc đã nghĩ đó cũng là một cách giải quyết sự túng quẩn – Anh Cả tôi có nơi ăn, chốn ở và được giáo dục là đỡ một mối lo – Nhưng nếu vậy thì tội không phải ở cha tôi mà tại ở hoàn cảnh vì lẽ dĩ nhiên, cha mẹ nào cũng không muốn con mình bị khổ sở với cuộc đời nghèo nàn.
 
Tôi nghĩ mà thương cha tôi, ông đã chịu đựng sự đau khổ phải xa rời một đứa con những mười lăm năm nay và bây giờ là vĩnh biệt. Anh Cả tôi đã về bên kia thế giới, đã đi trước cha mẹ tôi khi đáng lẽ những người già như cha mẹ tôi phải làm cái việc ấy ; thực là bất công, thượng đế đã để người già cúi xuống khóc cho người trẻ. Nhìn cha tôi khóc, tôi có cái xót xa rồi một mai ông nằm xuống, anh cả tôi sẽ không được khóc cho ông và đó là một cái tội : tội bất hiếu ! Tội lớn nhứt trong các tội của người con, nhưng lại được mọi người tha thứ bằng tình thương bao la và sự đau khổ tuyệt đỉnh. Và nữa, đứng trước cái chết, kẻ còn lại đã hoàn toàn chịu nhận sự bất lực trong cuộc giành giựt với tử thần về hơi thở và mạch máu một cách thảm hại. Ngược lại, tôi không muốn thế. Tôi muốn anh Cả tôi phải sống. Tôi liên tưởng đến những chuyện thần tiên và tự hỏi phải chăng phép mầu là những biểu tượng cho một mớ ước vọng quá sức con người hay phép mầu là sự thật chưa được khám phá ?
____________________________________________________
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>