Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

"Em Chòe" Của Bé

Bé nằm nghe ngóng một hồi lâu rồi mới dám ngồi dậy, bé tụt khỏi giường mà tim đập liên hồi, má hay được thì phải đòn. Nhớ tới đòn bé cảm thấy sợ và muốn trở lên giường ngủ lại (mặc dù bé chả thích ngủ tí nào), buổi trưa nóng nực mà khi nào má cũng bắt ngủ.
 
Bé nhớ lại hôm qua cậu Minh đã cho bé một con chích chòe, bé rất sung sướng vì "cô chòe nhà ta" trông kháu khỉnh lạ, mỏ "cô í" hồng xinh ghê đi! Lông "cô í" mịn màng đẹp lắm cơ!
 
Bé giựt mình nhớ ra, "em chòe" chưa ăn gì cả (bé kêu em vì "em chòe" nhỏ hơn bé chứ lị) tội chưa! Bé phải ra cho em ăn ngay kẻo em chết mất.
 
Bé rón rén đi ra hiên nhà cố không gây tiếng động nhưng sao hôm nay đôi dép của bé dễ ghét làm sao í, nó cứ kêu "lẹp xẹp" làm bé phát tức, cũng may là ba má chả hay biết gì cả. Tiếng hót thanh tao của "em chòe" làm bé muốn "nựng" quá! Bé liền chạy đến bên lồng của em "nói chuyện", nhưng sao "em chòe" cứ la mãi thế này, bé đưa tay lên miệng nói nhỏ:
 
- Xuỵt, xuỵt nín đi kẻo má phết đòn bi giờ.
 
Nhưng nó vẫn hót ríu cả lên, lần nầy nó lại nhảy lên loạn xạ nữa chứ, bé nói to:
 
- À, bé biết rồi, "em chòe" đói chứ gì... thôi! đừng "khóc" nữa, để bé ra vườn bắt châu chấu cho nghen.
 
Tuy nói thế chớ bé sợ châu chấu lắm cơ! Ra đến vườn rồi mà bé chả dám bắt, trông nó nhọn làm sao í! Bé tưởng tượng khi bắt nó chắc nó sẽ chích lủng tay bé mất, nghĩ đến đó bé chùn tay lại, bé đành đứng nhìn mà chả biết làm sao cả. Thế này thì "em chòe" đói mất, bé bạo dạn bước đến đám cỏ, ồ, châu chấu nhiều ghê! Nó cứ phóc lên phóc xuống... chợt một chú cắc kè từ dưới đám cỏ ngóc đâu lên rồi nó bò lại gần chỗ bé, cái đầu nó đỏ trông đến phát khiếp. Bé hoảng hốt la to:
 
- Ái, con "dắn" hu hu "dắn" bò má ơi! hu hu.
 
Bé chạy một khoảng rồi ngồi bệt xuống đất luôn, bé khóc to hơn, má chạy ra hốt hoảng:
 
- Gì thế bé! Có sao không con?
 
Bé mếu máo nói:
 
- Má ơi! Con sợ con "dằn" "góa" hà! hu hu.
 
Má đỡ bé dậy:
 
- Mà rắn đã cắn bé chưa?
 
Bé nín khóc nhưng vẫn còn mếu:
 
- Dạ chưa!
 
Má nghiêm giọng nói:
 
- Mà má hỏi đây này, buổi trưa không ngủ bé ra vườn làm gì thế hả?
 
- Dạ bé "da" bắt châu chấu cho "em chòe" ăn.
 
Má dí tay vào trán bé, mắng yêu:
 
- "Chó con" này hư rồi nhé, liệu chừng bị đòn khi đó mới chừa ra.
 
Má tiếp:
 
- Lần này má tha cho tội không ngủ trưa, lần sau thì lãnh 3 roi mây đấy nhé!
 
Bé nghe tới roi mây bắt hết hồn, không dám làm nũng nữa.
 
*
 
Gần tối rồi, bé phải đem "em chòe" vào nhà kẻo để ngoài rồi mèo xực thì nguy. Bé định móc lồng lên cửa sổ nhưng cái móc cửa cao quá bé phải khệ nê đi nhắc chiếc ghế để trèo lên. Loay hoay mãi một hồi bé vẫn chưa móc được vì cái móc còn cao ghê. Bỗng... bịch... chiếc lồng rơi xuống, cánh cửa lồng bật ra, bé la lên:
 
- Á... "em chòe"... "em chòe" bay "dồi".
 
Bé sững sờ nhìn theo dáng "em chòe" bay mà lòng bé thắt lại, em thoát ra chiếc lồng nhỏ bé tung lên vùng trời rộng để bé đứng lại một mình. Mãi một lúc lâu bé mới bật thành tiếng khóc, bé khóc thật mùi mẫn, nước mắt ràn rụa cả mặt bé... Có tiếng má réo gọi nhưng bé không nghe thấy gì cả (bé không để ý đến) bé chỉ thấy bóng dáng thân mến của "em chòe" đang bay xa dần mà bé không sao níu kéo được. Bé cố ngước mắt nhìn thật rõ để tìm lại hình ảnh của "em chòe" thân yêu đang mất hút đàng xa mà nước mắt bé tuôn trào.
 
 
Thùy Hạnh          
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 113, ra ngày 1-9-1969)
 

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

Trong Vườn

 
 
 
 
 
 
Trong vườn chim đua hót 
Lúc nhặt khoan lảnh lót 
Khi ríu rít líu lo:
Dàn đồng ca thánh thót 

Trong vườn bướm lượn bay
Lả lơi khắp đó đây
Mang tình yêu suốt cõi
Chốn thiên đàng là đây?

Trong vườn hoa thơm ngát
Thược dược, hồng thanh thoát
Ngây ngất khóm phong lan
Mãn đình hồng tươi mát

Trong vườn ong vi vút
Hút mật ngọt đam mê
Hưởng niềm vui trần thế
Quên đường đi lối về

Trong vườn cây râm mát
Gió nhè nhẹ hiu hiu 
Từng chiếc lá cuốn theo
Êm đềm rơi vạt cỏ

Lưng trời mây trắng trôi
Bay xa tít mù khơi
Nhìn lung linh hoa nắng
Nghe cõi lòng chơi vơi...

                             Thơ Thơ 
                   (Bút nhóm Hoa Nắng)

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2026

Cắc Ké


Dòng tộc: 
 
Người ta thường nói: "Cắc ké là mẹ Kỳ nhông, ông Kỳ đà" nếu mà phải tính dòng họ theo kiểu này thì chúng ta đến phải chịu hàng vô điều kiện mà không biết được Cắc ké mi là ai!
 
Theo các nhà vạn vật học thì đích thị cắc ké thuộc dòng tộc cá sấu. Nhưng có lẽ xa ông tổ lâu đời quá nên cắc ké có một nề nếp sinh sống riêng biệt không hề bao giờ bơi lội như ông tổ, trái lại chỉ lấy nơi đá cát, bụi cỏ, cành cây làm nơi nương náu, kiếm mồi.
 
 
Hình dạng: 
 
Cắc ké nhỏ con như rắn mối, dài chừng 10 đến 25 phân kể cả một cái đuôi có khi dài gấp rưỡi thân mình. Bốn chân mọc cân đối trên thân mình. Tuy ngắn, mỏng mảnh với 5 ngón dài nhưng lại rất khỏe. Da dẻ sần sùi khô mốc trông như phủ một lớp vẩy giả. Phần đông chúng có một bộ cườm phủ từ gáy đến tận chóp đuôi. Bộ cườm này bằng một loại gai ngắn, thưa nhưng rất cứng tựa như vây cá. Khi cần ra oai hay kêu cơn thịnh nộ để dọa nạt con mồi hoặc bị chọc tức, bộ cườm này dựng đứng lên trông rất khủng khiếp. Đầu cắc ké tương đối lớn và hướng về đằng sau.
 
 
Một sinh vật lạ lùng
 
Tuy thuộc gia tộc cá sấu nhưng cắc ké quả là một sinh vật lạ lùng! Phần đông người ta cho rằng cắc ké luôn thay đổi từ mầu này qua mầu khác vì vấn đề sinh tồn bảo vệ sinh mạng khỏi bị các sinh vật khác tấn công. Vì khi đổi mầu như vậy chúng có mục đích tiệp với mầu sắc nơi sinh sống. Thực ra thì không phải vậy, sự thay đổi mầu da là do ảnh hưởng của thời tiết và ánh sáng nơi nó sinh sống. Ít khi nó đổi mầu vì phản ứng sinh tồn. Do đó, cắc ké luôn đổi mầu từ xanh, vàng, nâu, đỏ, xám đôi khi còn tạo nên những vết mầu sặc sỡ khắp thân mình.
 
Đặc điểm thứ hai của sinh vật lạ lùng này là đôi mắt. Mắt cắc ké lồi, to, được bao phủ bởi một lớp da dầy xếp thành từng nếp tạo nên một lỗ nhỏ vừa đủ cho con ngươi nhìn được. Nhưng khi cần quan sát, cắc ké di chuyển mắt tài tình và hết sức tự nhiên. Toàn thể mắt cắc ké di động theo một vòng tròn có thể nhìn chung quanh thân mình, sau trước. Đôi khi nó điều động một mắt trông đằng trước, một mắt trông đằng sau để phòng thủ hoặc kiếm mồi.
 
 
Đời sống của cắc ké
 
Cắc ké tương đối là một con vật trầm tĩnh, ưa thích những nơi thanh tịnh, trừ khi phải săn mồi, còn thường cắc ké nằm im lìm một nơi bất động. Thức ăn của cắc ké là sâu, bọ, nhện và các sinh vật nhỏ bé khác. Khi săn mồi. cắc ké lẹ làng di chuyển trên mặt đất hay trên các cành cây. Nhờ ở cái đuôi dài, làm nó thăng bằng khi phải phóng lên chụp mồi hay nằm trên cành cây, đuôi quấn chặt vào thân cây. Khi tới gần con mồi, cắc ké phóng cái lưỡi rất dài và nhỏ, trên lưỡi có một chất nhựa dẻo quánh đủ sức làm cho con vật không thể vuột khỏi. Khi đã bắt được mồi, cắc ké không nuốt con mồi ngay mà cắn cho con mồi chết hẳn rồi mới nuốt chửng.
 
 
Mùa đẻ trứng
 
Cắc ké không đẻ con mà đẻ trứng. Thường cắc ké đẻ trứng trong các lỗ hổng của cây, trong khe đá hoặc đào một lỗ nhỏ dưới đất để đẻ trứng. Mỗi ổ từ 2 đến 5 trứng là nhiều. Khi đẻ xong chúng lấp đất lại để không bị các sinh vật khác phá phách làm hại. Sau đó nó bỏ đi và không bao giờ ngó ngàng tới nữa. Một thời gian sau trứng đủ ngày tháng và nở thành con. Và cắc ké con chờ một thời gian ngắn cứng cáp tự kiếm mồi nuôi thân.
 
 
Đặc điểm thứ ba 
 
Khi giận dữ, cắc ké phình người ra, hút một lượng không khí làm cho lớp da bao quanh người phồng lên gấp hai hay ba lúc bình thường. hai chân trước đứng dựng lên như sẵn sàng chờ địch thủ tới. Thái độ trông rất oai phong lẫm liệt, tưởng chừng như nó không hề lui bước trước bất cứ một sức mạnh vũ bão nào xô tới. Nếu cần lấy oai nữa, hai hàm nó banh ra, để lộ hai hàm răng sắc và lởm chởm. Nhưng giây phút giương oai đó chỉ chốc lát, khi thấy không có gì động tĩnh, cắc ké chuồn êm như không có gì xẩy ra.
 
 
Cắc ké, loài có ích
 
Cho đến ngày nay, người ta vẫn phải công nhận sự hiện diện của cắc ké rất có ích cho các nhà trồng tỉa, vì nhớ có nó mà tất cả các côn trùng như sâu, bọ, dế nhũi v.v... đều bị tiêu diệt, không còn phá hoại hoa mầu.
 
Cắc ké thường được coi như là con vật tầm thường nhỏ bé nên không mấy khi bị sát hại. Vì vậy mà chúng còn tồn tại và có mặt khắp mọi nơi.
 
 
ĐẶNG HOÀNG        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 61, ra ngày 22-10-1972)
 

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

Những Cánh Hoa Thu

Bên thềm lá tan tác
Từng chiếc rụng lả lơi
Mùa thu về man mác
Sương thu đọng chiều rơi

Hoa cúc đón thu sang
Nở bao cánh vội vàng
Hương thoảng bay trong gió
Thơm ngát cả chiều hoang

Dọc bờ sông lau lách
Ộp oạp lũ ễnh ương
Bầy dế kêu canh trường 
Đàn chim bay về tổ

Bên giậu thưa xơ xác
Đàn gà đứng lạnh run
Bươi đất mổ côn trùng
Trong gió thu hiu hắt

Ven sông con đò nhỏ
Như ngóng đợi khách sang
Ráng chiều hoen sắc đỏ
Ngẩn ngơ mùa thu vàng

Bâng khuâng người lữ thứ
Hái đóa cúc cầm tay 
Hương thu thoáng đâu đây
Nhẹ nhàng như gió thoảng...

                     Trần Thị Phương Lan 
                     (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

Lạc Đà Nam Mỹ (Lamas)


Loại lạc đà này chỉ được biết đến vào thời kỳ miền Nam Mỹ châu bị các nước Âu Châu xâm chiếm, khoảng đầu thế kỷ thứ 16.
 
Khi người Y pha nho chiếm đế quốc INCAS vào thời kỳ đó bao gồm các nước Chí lợi, Equateur. Pérou, Bolivie và một phần Á Căn Đình ngày nay - ngoài các báu vật, cổ vật họ còn khám phá ra loại gia súc rất hữu ích đó.
 
Loại lạc đà này nhỏ như con nai, không có bướu. Có một bộ lông mịn và dài rất nhiều mầu lộng lẫy. Mỗi mùa hớt lông đem lại cho gia chủ một nguồn lợi về len đáng kể. Tiếng kêu của nó giống hệt tiếng con trừu, nhưng nghe lanh lảnh nhất là vào những buổi hoàng hôn. Hình dáng thì là lạc đà, nhưng lại không có bướu, tiếng kêu là tiếng con chiên (trừu) người thời ấy không biết gọi nó là con gì nên đành đặt cho nó một cái tên rất ngộ nghĩnh "Oveyas" nghĩa là "nửa chiên nửa trừu". Thực ra nó là con LAMA theo tiếng gọi của dân INCAS, có nghĩa là lạc đà không có bướu, một loại gia súc tiện dụng. Vì cái hình dáng mập mờ của nó mà mỗi nơi đặt cho nó một cái tên, nhưng dù sao đi nữa nó cũng có những đặc tính thuộc về dòng họ của lạc đà nên ngày nay theo các nhà vạn vật học thì chúng được xếp vào loại lạc đà và mang một danh hiệu đặc biệt "Lạc đà không bướu".
 
Tuy với một thân hình mảnh khảnh, dáng dấp nhỏ bé, một lối đi không lấy gì làm vững cho lắm, thế nhưng LAMA lại rất khỏe, thích hợp với những đường mòn hiểm trở, dốc núi cheo leo. Nó có thể vận tải đến những nơi mà người ta khó có thể tới được. Trái ngược hằn với những chú lạc đà dong ruổi đường trường, vượt sa mạc của Phi Châu hay Á Châu, đây là những con vật của núi cao rừng thẳm và của cả những cánh đồng rộng bao la bát ngát.
 
Nhờ ở sức lực dẻo dai, bộ lông dầy óng mượt, nhất là cách nghỉ ngơi dưỡng sức, Lama có thề sống trên những đỉnh núi cao trên 3.500 thước, và những nơi có thời tiết luôn thay đổi. Đối với những người Bắc Mỹ, chỉ vận chuyển bằng ngựa hay bằng xe cơ giới, họ rất ngạc nhiên về loại lạc đà này, và họ cũng hiểu được rằng nhờ phương tiện nào mà hàng bao thế kỷ trước, dân INCAS đã giao dịch, vận chuyển và nhất là đã có những kinh thành vĩ đại trên các đỉnh núi cao hiểm trở, các đô thị ở các triền núi cheo leo! Ngoài tính cách vận chuyển chuyên chở rất phổ thông cho dân INCAS, Lama còn cung cấp thịt, sữa và len.
 
LAMA còn được dùng trong cả những thời kỳ chiến tranh như các dân tộc khác dùng ngựa. Nó tải khí giới, người, dụng cụ nào cần thiết của cuộc chiến và sau cùng nó lại chính là nguồn lương thực cho đoàn quân. Điểm đặc biệt nhất của loại súc vật này là sinh sôi nẩy nở rất mau nhất là ở vùng Pérou. LAMA cũng còn được các pháp sư dùng làm vật tế thần. Tại đền Cutzco, nơi chính điện, các thầy pháp, hàng ngày đặt trên bàn thờ một con Lama cạo trắng, sạch sẽ để tế thần mặt trời.
 
Sau cuộc xâm chiếm của người Âu Châu, số lượng Lama càng ngày càng giảm. Lý do chính là Lama bị lây dịch bởi các đoàn súc vật mang từ địa phương khác tới. Ngày nay, Lamas chỉ còn là loại gia súc thân mật, bất khả phân của đồng bào miền thượng tại Pérou và Bolivie.
 
Lamas có thể chuyên chở một sức nặng trên 50kg di chuyển trên các triền núi dốc, hiểm trở hay nếu cần, chạy suốt ngày không biết mệt với tốc độ 40km/giờ.
 
Sau một ngày chuyên chở mệt nhọc, lúc dừng chân Lamas được thả lỏng trong một khu vực rộng rãi nào đó nhưng vẫn bị dây thừng buộc cổ và cột ở một gốc cây hay một cái cọc. Khi được nghỉ ngơi như vậy, chúng nằm quây quần bên nhau, thật yên tĩnh, đầu hướng về phía mặt trời lặn. Khi vầng thái dương chiếu hắt những tia nắng vàng yếu ớt trên các ngọn cây, đồi núi báo hiệu một ngày sắp tàn thì các chú Lamas bắt đầu kêu lên những tiếng thảm thiết bi ai: càng lúc cổ càng vươn lên, kêu mãi cho tới khi mặt trời tắt hẳn và màn đêm buông xuống chúng mới thôi. Lúc đó Lamas mới từ từ đứng lên, tản mát mỗi nơi một con gặm cỏ hay lá cây.
 
Sau một giấc ngủ lấy sức, khi bình minh trở lại, Lamas lại hướng về phía mặt trời mọc, kêu la ầm ĩ cho tới khi mặt trời ló dạng. Người ta bảo chúng than khóc cho mặt trời bị chết và chào mừng mặt trời tái sinh.
 
Tính tình Lamas bình thường rất dễ thương: Cần mẫn, dễ dạy, vâng lời chủ... nhưng cũng hãy coi chừng vì khi chúng bị chọc tức, bị đánh đập, chúng sẽ để tâm trả thù. Nó trả thù bằng cách phun nước miếng và đồ ăn đang nhai trong miệng vào địch thủ.
 
Nếu một mai thảo cầm viên Saigon có nuôi mấy chú Lamas, chúng ta không nên đứng gần chuồng. Chúng sẽ coi chúng ta như là cừu địch và tất nhiên sự trả thù sẽ xẩy ra.
 
Ngoài loại Lamas được nuôi như gia súc, người ta còn tìm thấy một loại súc vật tương tự, nhưng sống hoang dã tại các vùng núi cao miền đất đỏ tại Pérou, chúng có tên là Ganaco, cũng có những đặc tính của một dòng họ lạc đà.
 
Đặc điểm của chúng là rất hung bạo. Khi tranh chức đầu đàn, hoặc tranh ăn... hai con đực có thể đánh nhau cho tới chết để giành phần thắng. Khi một con Cuanacoi biết mình phải bệnh không thể chung sống với đàn được chúng tự tách rời và đi lang thang kiếm một nơi nào đó sống lẻ loi chờ ngày chết. Phần đông những con Cuanacoi già sống lẻ loi cô độc cho tới ngày gục ngã, không thích sống chung cùng bầy.
 
Loài Cuanacoi ngày nay cũng hầu như gần bị tiêu diệt vì người ta thích săn nó để lấy lông làm len, lấy da để thuộc, vì da nó rất quí. Dân miền thượng còn dùng xương nó để chữa bệnh và làm khí giới. Một điểm nữa cũng làm cho chúng hao mòn dần, là các con Cuanacoi nhỏ không được mẹ bảo vệ kỹ càng nên hay bị các giống vật khác ăn thịt, nhất là loài kên kên và diều hâu.
 
 
VƯƠNG HUYỀN        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 62, ra ngày 29-10-1972)
 

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

Cây Thầu Dầu


Nguyên thủy, cây thầu dầu mọc tại các thung lũng và đồi thấp tại miền trung Phi Châu. Sau khi khám phá được những lợi ích của nó, người ta đem giống về trồng tại Ấn Độ và từ đây nó lan tràn khắp các vùng nhiệt đới, ôn đới, tràn sang đến Mỹ Châu. Tại Âu Châu, mãi đến thế kỷ 16 người ta mới trồng loại cây này để làm cảnh, chưa nghĩ đến tính cánh kỹ nghệ của chúng. Ngày nay, người ta đã trồng thầu dầu để khai thác về thương mại và kỹ nghệ. Ngay tại Pháp, diện tích trồng thầu dầu đã chiếm một tỷ số khá cao so với các loại cây khác. Trái lại, ở Việt Nam cũng như một số vùng nhiệt đới nó mọc lên như một cây hoang ngoài đất trống, bên vệ đường chen lấn với các cây khác và chỉ sống được từng năm một.
 
Thầu dầu mọc tại Việt Nam rất nhiều (nhất là miền Bắc, các vùng đồng bằng, đồi núi như Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm Phả, Thái Bình, Hưng Yên...) nó thuộc về loại thầu dầu thấp, cao không quá 2 thước và chỉ có 2 loại: Thầu dầu tía và thầu dầu trắng.
 
Hình dáng thầu dầu rất thô kệch, thân tương đối to, khẳng khiu và có từng đốt như cây khoai mì (sắn tàu), ruột cây xốp, lá tương đối lớn, cuống lá mọc từ đốt cây và mỗi cuống mang một tàu lá chia làm 7 mảnh trông từa tựa như lá sắn tàu, nhưng thanh và rất đẹp mắt. Bông thầu dầu trổ không theo mùa, mầu vàng nhỏ li ti kết thành chùm ở ngay kế cuống lá và thân cây. Khi hoa tàn kết trái cũng thành từng chùm mầu xanh và bao bởi một lớp bì dầy. Ngoài vỏ có gai lởm chởm trông tựa như trái chôm chôm. Quả chín mang mầu nâu sẫm và tự tách ra làm 3 phần mang một hột thầu dầu no tròn đầy dầu hoặc mầu nâu hoặc mầu đen tùy loại.
 
Tại những vùng khai thác thầu dầu, người ta đã nghiên cứu cách trồng tỉa rất có kết quả.
 
Thầu dầu ưa những vùng đất ẩm thấp và khuất gió. Ở những điều kiện này thầu dầu tăng trường rất mau. Người ta bắt đầu trồng thầu dầu vào giữa mùa xuân, khi khí trời tương đối ấm áp và gió mưa dìu dịu. Trồng thầu dầu bằng hột, mỗi hốc cách nhau chừng 1 thước. Năm tháng sau, thầu dầu sẽ nở bông và trái chín. Trái thầu dầu chín ở dưới thấp trước và trên ngọn sau. Hái trái phải rất cẩn thận và dùng nhân công chứ không thể dùng máy móc như các loại trái cây khác. Trái được đem về mang phơi tách lấy hột và ép dầu, gọi là dầu thầu dầu.
 
Người cổ Hy Lạp xa xưa đã biết đến dược tính của loại dầu này. Họ chế biến thành một thứ cao dán ngoài da để chữa các mụn ung nhọt. Ngoài ra họ còn dùng như là một mỹ phẩm dùng để giữ gìn cho da dẻ các bà các cô khỏi khô và mốc, nhất là làm mịn da mặt. Tuy vậy, mãi đến thế kỷ thứ 18 thầu dầu mới được khảo sát một cách tường tận trong giới y khoa và năm 1788, các nhà y học tại Luân Đôn mới cho liệt kê cây thầu dầu vào tự điển y khoa và được coi như một dược phẩm quan trọng.
 
Cũng vào thời kỳ này tại Hoa Kỳ ngành điều chế thầu dầu đã trở nên một kỹ nghệ quan trọng và rất phát đạt. Riêng tại Âu Châu tỷ lệ dầu thầu dầu chiếm tới 50%, một tỷ lệ kỷ lục so với các dầu khác.
 
Dầu thầu dầu chính hiệu con nai vàng là thứ có mầu vàng phơn phớt xanh, khi lắc lên thấy hơi lợn cợn đục. 
 
Ngày nay dầu thầu dầu rất thông dụng trong các nhà máy vì những đặc điểm riêng của nó:
 
- Có thể tồn trữ tại một nhiệt độ rất cao hay rất thấp mà không thay đổi tính chất.
 
- Mềm dẻo.
 
- Không hay bắt lửa.
 
- Tinh khiết tự nhiên.
 
Những bộ máy nhỏ và tinh vi người ta đều bảo trì bằng loại dầu này. Ngoài các đặc tính trên, người ta còn dùng nó để:
 
- Chế tạo mầu vẽ.
 
- Thuộc da.
 
- Làm savon thơm.
 
- Thuốc chải đầu làm cho tóc mềm và óng mượt.
 
Trong dầu này chứa chất ricimine và chất ricine, chất alebumine và một số lượng chất độc. Tuy nhiên không có quá nhiều trong dầu. Nhưng trái lại, hột thầu dầu phải hết sức cẩn thận khi dùng nó. Chỉ cần một vài hột thầu dầu lẫn trong thực phẩm cũng đủ làm cho chúng ta bị ói mửa, đau bụng kinh khủng rồi đi tả rất khó chữa. Nếu ăn phải nhiều sẽ mắc phải chứng kiết lỵ, ói ra máu đôi khi chết người.
 
Vì những chất độc hại như vậy mà sau khi ép lấy dầu, bã còn lại chỉ đem bón cây không thể dùng để nuôi súc vật được.
 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 60, ra ngày 15-10-1972)
 

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Cá Bốn Mắt


Tại các lạch nước, khe suối, ao, hồ, đầm lầy từ Mễ Tây Cơ trở xuống tới các quốc gia miền Nam Mỹ Châu thường thấy xuất hiện một loại cá đặc biệt rất giống với cá vàng vì mầu sắc đẹp đẽ. Nếu chỉ như vậy thì đâu có gì đáng nói, đằng này nó mang đôi mắt tròn, khá to mà nửa phần trên lại lồi ra kỳ dị khiến nhiều người mới gặp lần đầu đều ngạc nhiên chú ý nhưng chắc chắn họ không thể biết rõ công dụng của chúng ra sao. Chính nhờ cặp mắt này mà nó được gọi là cá bốn mắt (tứ noãn ngư). Tại sao vậy?
 
Sau nhiều lần theo dõi, phân tích, tìm hiểu, người ta khám phá ra rằng: Tuy mang danh là cá bốn mắt - mặc dù chỉ có hai mà thôi - nhưng thực ra hai mắt này gần như là mắt tổng hợp bao gồm bốn mắt đơn, hay nói cho rõ hơn, mỗi bên là hai con ngươi phân cách bởi một lằn chỉ đen chạy ngang. Bời thế trong lúc cá nhởn nhơ, tung tăng bơi lội đó đây, khi nổi lên mắt nước để kiếm ăn thì phần mắt phía trên giúp nó tìm mồi và quan sát cảnh vật hai bên bờ. Nhờ vậy, hễ nhận ra thức ăn trôi trên mặt nước là nó sấn tới táp ngay, đồng thời nếu thấy vẻ khác lạ hoặc dấu hiệu hiểm nguy là lặn xuống liền. Lúc đó, phần mắt phía dưới mới thực sự "làm việc" để hướng dẫn nó thảnh thơi ngao du đáy nước hay kiếm ăn một cách an toàn hơn.
 
Sở dĩ nó có khả năng này vì mỗi bên mắt đều mang hai thủy tinh thể (con ngươi) cùng chung một tiêu điểm (võng mô). Dù bị phân chia rõ ràng như vậy, nhưng khi cần tập trung thị giác, nó vẫn không gặp khó khăn chút nào bởi lẽ hai thủy tinh thể đó đều hội tụ trên một võng mô duy nhất, nên tất cả những gì xuất hiện bên trên hay bên dưới mặt nước vẫn được mắt thu nhận để cho hình ảnh rõ ràng mà không gặp trở ngại. Hơn nữa, hai mắt này không có mí lại thiếu tuyến lệ (tuyến nước mắt làm cho con ngươi lúc nào cũng ướt, khỏi bị khô ran lúc hoạt động) vì đã có nước ở ngay trong môi trường sinh sống giúp nó giải quyết chuyện này dễ dàng.
 
Cá bốn mắt là một sản phẩm đặc biệt chỉ thấy ở Trung và Nam bộ Mỹ Châu mà thôi. Chúng thường bơi hàng đàn qua lại trên mặt nước, trông rất đẹp mắt.
 
Điểm đáng nói là phần mắt phía trên luôn luôn nhô lên khỏi mặt nước đúng ở lằn chỉ đen mà thôi.
 
 
ĐẶNG HOÀNG       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 59, ra ngày 8-10-1972)
 

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Lời Chào

 
 
Đáng lẽ bài này phải ra mắt các em từ số 1. Nhưng, "không có cái gì hoàn hảo ở đời", cho nên chị cũng lầm lẫn mà quên phăng mất tầm quan trọng của nó. Nhưng "lầm lẫn mà biết sửa chữa vẫn được tha lỗi" phải không các em. Cho nên, dầu trễ còn hơn không, hôm nay, ta nói về tiếng chào.

Xưa các cụ nói: "Tiếng chào cao hơn mâm cỗ", đó là các cụ ví dụ cụ thể cho dễ hiểu. Rằng người ta quí tiếng chào hơn là món quà vật chất. Các em ơi! Tại sao đáng lẽ phải bàn về lời chào trong số 1. Vì thế này. Các em có đồng ý rằng khi em gặp người nào đó, mà họ chào em, lòng em nẩy ngay một mối thiện cảm, còn nếu họ chẳng chào gì em mà cứ nhìn em câng câng thì em ghét ghê lắm phải không nào. Thí dụ nghe tiếng chuông, em ra mở cổng, gặp một cô bé hay cậu bé, nó chẳng chào gì em, nó chỉ hỏi thăm đến em của em mà thôi, thì chị nghĩ, có mát tính đến mấy, lòng em cũng thấy bừng bực, sao mà cái nhỏ này vô lễ thế. Đúng không nào. Vậy thì chính em, em phải ráng nhớ nhé. Đến nhà ai, em phải chào hỏi lễ phép. Gặp bất cứ ai ở nhà bạn, em phải tùy theo tuổi tác mà xưng hô, chào hỏi cho có lễ phép. Em cứ nhận xét mà xem chị nói có đúng không, là nếu em mà chào rồi thì chắc chắn trăm phần trăm là họ sẽ chào lại, nét mặt họ sẽ bớt vẻ căng thẳng, biết đâu họ sẽ thấy vui lòng hơn và có thể sẽ tránh được buồn bực. Vậy là ta giúp ích mọi người rồi đó. Như thế, thay vì đem bộ mặt khó đăm đăm nhìn mọi người để được nhận lại những bộ mặt khó chịu không kém, em vui vẻ và lễ phép, em sẽ được nhìn thấy những bộ mặt tươi tỉnh dễ thương. Vậy chào thế nào? Gặp bất kỳ người quen nào ở ngoài đường, nếu có đội nón, em giở nón ra và cúi đầu chào:

- Thưa ông, (bà, bác, chú, cô, dì, thím, anh, chị v.v...) với nét mặt tươi tình. Tới lớp, em chào thầy, chào bạn, đến nhà ai, em chào tất cả mọi người.

Luôn luôn, với nét mặt tươi tỉnh, em sẽ được đời trả lại bằng cả bầu trời tươi đẹp chung quanh em. Chìa khóa của sự vui sống chính là tinh thần cởi mở, mà lời chào là tên quân tiền phong đó.

Một lần nữa chị xin nhắc lại:

"Lễ phép không hề là sợ sệt hay hèn kém, mà chỉ chứng tỏ một điều duy nhất rằng một người có lễ độ chính là một người được lãnh hội một nền giáo dục hoàn hảo".
 
 
Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 12, ra ngày 31-10-1971)
 

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

Tổ Ấm (VI)


Chúng nó chia tay nhau ngay đầu con hẻm nhỏ dẫn vào nhà Tú thiếu lâm. Hai thằng Dzục và Tự không quên hẹn hò:
 
- Chiều mai tới trường tao đá banh nhé Tú thiếu lâm, ba tao mới cho 1 quả banh "tê-nít" mày ạ!
 
- Chiều mai nhé, đá banh xong, ra đồng tụi mình cỡi bò đánh trận thú lắm!
 
Tú thiếu lâm siết chặt tay 2 thằng bạn, nó không quên 1 câu từ chối quen thuộc:
 
- Chưa chắc chúng mày ạ! Tao sợ dì tao...
 
Dzục phá lên cười:
 
- Kệ nó đi mầy, thiếu mầy đá banh mất hứng, buồn chết.
 
Tự phụ họa:
 
- Ừ, đúng hẹn tụi tao tới kêu mày. Ráng lựa kế chuồn êm nhé!
 
- Tao sẽ ráng. Thôi, tao về nhé. 
 
- Ừ, chúc mày ngủ ngon tối nay.
 
Hai thằng kia chạy biến vào nhà, còn lại mình Tú, nó lững thững bước. Nó vụt nghĩ đến thầy Du. Nó hình dung gương mặt hiền từ của thầy. Quái, không hiểu sao suốt tuần nay, nó cứ nghĩ đến thầy Du mãi thế! Từ cái trưa gặp thầy, chẳng biết sao, từ đó, hình ảnh thầy đã ăn sâu vào tâm khảm Tú. Xa thầy vài hôm là nó nhớ thầy kinh khủng. Từ hôm gặp thầy, mua dầu xong trở về nhà, may cho nó, dì nó đã ngủ say, Tú hú hồn 1 phen. Chiều hôm đó, dì nó vừa xách nón đi khỏi, lập tức ba chân bốn cẳng Tú chạy tới nhà thầy Du thăm thầy.
 
Thầy tiếp nó ân cần, thương nó như một người ruột thịt. Cứ mỗi buổi, hễ dì nó vừa ra khỏi nhà là a lê hấp! Tú thiếu lâm một mạch chạy bộ đến nhà thầy chơi. Hình như vắng bóng thầy độ chừng hai hôm là nó chịu không được, nó tương tư giọng nói đầm ấm của thầy, những cử chỉ vuốt ve trìu mến mà ngày thường Tú vẫn hằng mong ước. Ở nhà có ai vuốt ve nó, nói với nó một lời trìu mến, thiết tha đâu, chỉ có là roi mây, bợp tai của dì nó thôi.
 
Tú đem chuyện của nó với thầy Du ra kể với thằng Dzục, thằng Tự, tụi nó ngẩn người ra nghe, nghe say mê lắm, thằng Dzục tâm sự là nghe chuyện của Tú thiếu lâm còn hấp dẫn, sung sướng hơn là truyện "Dế mèn phiêu lưu ký" mà thầy nó đã đọc cho cả lớp nghe dạo nọ...
 
Tú vừa đi, vừa vẽ sẵn 1 chương trình ngày mai, nó sẽ trốn đến nhà thầy Du, chơi ở thiên đàng ngày xanh của nó suốt buổi mai đó. Tú cân nhắc, trận đòn của dì nó với cuộc chơi với thầy, trận đòn nhẹ quá, hai cái chênh lệch nhau như hòn đá và tờ giấy cùng đặt lên cân...
 
Tú bỗng cảm thấy sung sướng, nó bước vào nhà, mọi hôm cứ đặt chân vào nhà là nó đã có một cảm giác rờn rợn, thế sao hôm nay nó xem thường quá.
 
Nó cảm thấy tự nhiên mình trở nên dũng cảm quá! Tú tự tin mình vô tả!
 
Vừa đặt chân ở thềm cửa, Tú chợt giật mình. Có tiếng ai nghe quen thuộc quá, Tú nhớ ra, giọng nói mà ngày thường nó hằng kính nể, mến yêu. Phải rồi, tiếng thầy Du! Tú ngạc nhiên, nó đặt dấu hỏi to tướng trong đầu. Thầy Du đến nhà nó, mà có chuyện gì? Tú hoàn toàn mù tịt. Nó lấp ló ở cửa, ghé mắt nhìn vào. Thầy Du ngồi đối diện với dì nó, hai người nói chuyện nho nhỏ, lắng tai nghe kỹ Tú mới nghe được:
 
- Cám ơn bà, thật may cho tôi quá!...
 
- Không có chi thầy giáo ạ. Chẳng qua là tôi nghĩ đến tương lai của thằng Tú thôi.
 
Tú lại thót ruột, không biết có chuyện gì mà lại có tên nó trong đó nữa. Lòng Tú thiếu lâm đang thấp thỏm chợt có tiếng dì nó gọi:
 
- Tú làm gì đứng ngoài đó, vô đây dì nói chuyện này...
 
Giọng dì hôm nay sao ngọt ngào êm dịu thế, Tú nghe cơ hồ như uống 1 cốc nước chanh ngọt lịm, à, hôm nay chắc dì nó tu, chả ngày rằm là gì. Tú rụt rè bước vào, thấy nó, dì nó rời khỏi ghế bước lại kéo nó vào lòng. Dì vừa xoa đầu Tú vừa nói chuyện với thầy:
 
- Thầy cho biết là hôm nào đi để tôi còn sửa soạn cho nó.
 
Tú sững sờ, dì nó quả tu thật, hôm nay trông dì chả khác ông sư già ở chùa Linh Bảo, ông sư hiền đã in sâu hình bóng vào tâm hồn Tú dạo nó còn nhỏ, thường theo mẹ lên chùa.
 
Thầy Du nhìn Tú, tia mắt của thầy dịu hiền, bao la như lòng đại dương xanh thẳm, Tú cảm thấy mình bé nhỏ lại như 1 con ốc nhỏ giữa lòng đại dương. 
 
- Thưa bà, mốt ạ. Cũng dư thời giờ thu xếp cho Tú.
 
Tú giương to đôi mắt nhìn dì, nhìn thầy giáo, nó ngơ ngẩn. Dì nó đỡ lời bảo Tú, giọng thiết tha:
 
- Tú, còn thêm ngày nữa là con rời khỏi làng này rồi con ạ! Dì cho con theo thầy giáo lên tỉnh học hành, để nối tiếp sự học dở dang của con ngày xưa...
 
Tú bàng hoàng:
 
- Rời khỏi làng này hở dì? Thế còn dì?
 
Dì nó xoa đầu đứa con ghẻ, vẫn thiết tha:
 
- Dì ở lại với em Phi. Con theo thầy giáo nhé!
 
Thầy Du nãy giờ im lặng, chợt xen vào:
 
- Tú, thầy hết dạy ở trường làng nữa rồi, thầy được thuyên chuyển lên tỉnh dạy học. Con đi theo thầy con nhé. Tú, con bằng lòng không?
 
Tú sững sờ, đời của nó thay đổi mau quá, ngã rẽ hiện lên trong đầu óc nó, hai con đường của cuộc đời, của ngày xanh. Một con đường có bóng thằng Dzục, thằng Tự, kỷ niệm ngày xanh của nó đấy. Thiên đàng của chuỗi ngày tủi nhục.
 
Con đường kia vẽ tương lai của Tú thiếu lâm, có thầy Du, tình thương bao la ôm lấy hình hài khổ cực của nó đấy!
 
Tú hoang mang. Tiếng thầy Du dịu hiền:
 
- Con bằng lòng không Tú? Thầy không ép buộc con, tuy nhiên thầy thương con, Tú ạ, thầy thiếu nguồn an ủi của tuổi già. Thầy muốn con ở mãi bên thầy. Con nhé!
 
Dì nó cúi xuống vuốt tà áo cho nó, dì hỏi:
 
- Con bằng lòng không Tú?
 
Tú giật mình, tự nhiên không hiểu tại sao nó lại gật đầu. Nó sẽ xa tụi thằng Dzục, thằng Tự, xa làng nhỏ thân yêu, xa nơi gởi tuổi thơ, kỷ niệm ngày xanh đầy tiếc nuối. Tự dưng, Tú thiếu lâm khóc. Dì nó rút khăn lau nước mắt cho nó:
 
- Sao lại khóc, con. Vui lên chứ!
 
Thầy Du ái ngại nhìn Tú thiếu lâm, thầy an ủi:
 
- Đừng buồn con ạ, con sẽ quên đi những nỗi buồn đó. Thầy sẽ ở mãi cạnh con, khuyến khích con trên bước đường học vấn mai ngày của con.
 
Thầy Du nói, nhưng Tú còn nghe gì đâu, nó đang chìm trong biển sương mù mịt, Thằng Dzục, thằng Tự hiện ra, Chúng nó nhìn Tú cười rạng rỡ.
 
 
7.
 
Đá bóng xong, Bọn nó rủ nhau ra đồng cỡi bò tập trận. Chúng nó chơi miễn cưỡng, chơi cho quên nỗi sầu ngày mai, mặt thằng nào cũng dàu dàu như 3 cái giẻ rách nhúng nước...
 
Thằng Tự khơi mào câu chuyện:
 
- Thôi nghỉ chơi, buồn quá chúng mày ạ!
 
Dzục giàn thung nhìn chân trời, hoàng hôn đang xuống, chân trời tím nhạt, lúa vàng lao xao điệu ru trong gió. Nó buồn nghẹn ngào:
 
- Tú ơi!
 
Tú thiếu lâm buồn không kém, nỗi sầu đùn lên mắt 3 đứa trẻ, nghe bạn gọi, nó dàu dàu:
 
- Gì vậy Dzục?
 
Dzục giàn thung ngớ ngẩn:
 
- Ngày mai mày đi rồi hả Tú?
 
Tú thiếu lâm gõ nhẹ lên sừng bò, buồn não nề:
 
- Ừ, nhưng thôi đừng nói chuyện đó nữa, buồn lắm!
 
- Nói cho hết buồn mày ạ!
 
Tú gục đầu, nó nghe tiếng lúa reo trong gió chiều, lòng nao nao. Dzục giàn thung lại hỏi:
 
- Ngày mai mấy giờ mày đi?
 
- Sáu rưỡi sáng. Sớm quá mày nhỉ?
 
- Tao sẽ ra tiễn mày với thầy, Tú nhé!
 
- Tùy ý mày đấy.
 
Tự chăn bò gục mặt, buồn thấm thía. Nó chép miệng:
 
- Giá mày đừng đi Tú nhỉ.
 
Thằng Tú không trả lời. Chiều đang xuống. Có tiếng mục đồng trên ruộng lúa đàng xa gọi trâu về chuồng.
 
Chúng nó chia tay.
 
 
8.
 
Thầy Du ôm Tú vào lòng, sưởi ấm cho nó.
 
Thằng bé lim dim ngủ. Bến xe buổi sáng đìu hiu quá, gió sớm vù vù lạnh buốt. Thấp thoáng trên con đường cái quan, một hai khách bộ hành co ro rảo bước. Một hai chiếc xe đã nổ máy khởi hành, máy kêu vang trong cái bến nhỏ.
 
Tú chợt mở choàng mắt, nó ngước mắt nhìn thầy Du:
 
- Xe chưa khởi hành hở thầy?
 
- Chưa con ạ. Buồn ngủ không, cứ ngủ đi.
 
Tú lắc đầu. Sương mù chưa tan, làng thôn thiêm thiếp ngủ, cây tre đầu xóm của nó kia, nhỏ quá, mấy vì sao chưa lặn điểm mờ mờ trên bầu trời xám.
 
Tú nằm trong lòng thầy, nó vẽ trong đầu miền tỉnh lỵ nó sẽ đặt chân đến. Nó sẽ đi học lại, học trò trường tỉnh ra sao? Tú đâm ra sợ hãi.
 
Tú ngồi dậy, hành khách lúc này đang lục tục kéo lên xe. Hai cái bóng nhỏ in dưới bầu trời giăng sương sớm, Tú reo lên:
 
- Tụi nó tới!
 
Thầy Du nhìn theo, nét mặt lộ vẻ vui mừng:
 
- Thằng Dzục!
 
Tự, Dzục hớt hải chạy tới, chúng nó chạy tới bên xe bá lấy chân thầy hổn hển reo:
 
- Thầy!
 
- Tú!
 
Thầy Du ái ngại nhìn đứa học trò, thầy âu yếm xoa đầu nó:
 
- Trò không ngủ à?
 
Dzục giàn thung rơm rớm nước mắt, nó ôm thầy, tay kia bá chặt vai Tú thiếu lâm, nức nở:
 
- Thầy ra đi mạnh giỏi.
 
Nó xoay sang nhìn thằng bạn:
 
- Mày lên đó ráng học nhe!
 
Tự siết tay Tú thiếu lâm, nhỏ nước mắt:
 
- Gắng học nhé Tú. Rảnh viết thư về thăm bọn tao nhé!
 
Tú thiếu lâm rớm lệ, ôm lấy hai thằng bạn nghẹn ngào:
 
- Chúng mày ở lại mạnh khỏe!
 
Thầy Du nhìn chúng ứa nước mắt. Tuổi ngọc của chúng đó! Thầy nhớ lại tối qua, bọn học trò lũ lượt kéo đến nhà thầy, chúng nó đỏ hoe mắt nhớ thương thầy giáo. Thầy mủi lòng, tuổi thơ của thầy thể hiện ở đấy, thầy tìm những ngày xanh của thầy cũng ở đấy. Tình thầy trò cao đẹp như 1 đóa hoa chớm nở. Ba thằng bé chụm đầu tâm sự, chúng gởi tình thương cho nhau, mấy cụ già nhìn chúng cũng rơm rớm nước mắt... Xe sắp chuyển bánh, Dzục và Tự rời xe. Khói xe phun mù mịt đem Tú thiếu lâm lên miền tỉnh lỵ. Bóng Dzục giàn thung và Tự chăn bò vẫn đứng sững. Ngày xanh của Tú thiếu lâm gởi lại ở đây...
 
 
Hà-Thúc-Khánh        
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 57, ra ngày 15-11-1966)
 

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

Tổ Ấm (V)

 
Dzục xốc lại mấy cuốn vở, nó băng qua đường đất, rẽ vào con đường mòn giữa 2 rặng tre xanh um, nó vẽ trong đầu óc gương mặt thằng Tú...
 
... Dzục lấp ló bên hàng rào nhà Tú thiếu lâm, chúm môi huýt sáo báo hiệu gọi Tú ra. Nó thoáng thất vọng. Bên trong im ỉm. Nó huýt sáo lần nữa chẳng có tiếng trả lời. Dzục kiên nhẫn chờ. Buổi trưa, xóm thằng Tú thật mát, tre xanh rợp kín um tùm. Cảnh vật thật tĩnh mịch. Tiếng tre buồn bã nghiến cót két tâm sự cho nhau nghe sao buồn lạ. Dzục mất kiên nhẫn, nó huýt sáo lần chót. Sau khi nhướng mắt nhìn vào nhà Tú lần chót, nó định dợm bước quay về, chợt từ trong nhà bếp, đầu thằng Tú ló ra. Thấy nó, Dzục mừng rối rít, nó vẫy bạn lia lịa. Tú lấm lét nhìn vào trong đoạn chạy vụt ra vườn.
 
Một thằng bên trong, một thằng bên ngoài, gặp nhau chúng nó hân hoan ra mặt. Dzục đút tay vào túi lấy ra 1 gói nhỏ bọc giấy học trò. Nó chuồi qua hàng rào cho Tú, miệng dục:
 
- Chén đi. Mãng cầu bà tao cho hồi sáng đó!
 
Tú thiếu lâm cảm động nhìn Dzục giàn thung qua ánh mắt. Nó thò tay qua hàng rào siết chặt tay bạn:
 
- Sao mày không ăn?
 
Dzục nói dối:
 
- Ăn rồi! Sáng nay bà tao cho những 2 trái lận.
 
Tú cầm món quà của bạn trong tay, nó cầm thật chắc, cơ hồ sợ quả mãng cầu bay đi. Dzục nhìn bạn, ngập ngừng 1 giây nó nói:
 
- Tuần trước, thầy tao cho tả luận. Tao tả mầy Tú ạ!...
 
Tú thiếu lâm nhìn nó, ngạc nhiên:
 
- Tả tao à! Tao xứng cho mầy tả lắm sao hở Dzục?
 
Dzục sung sướng nói, như lúc nó lên lãnh bài của mình lúc ở lớp học:
 
- Tả mày là tao sướng lắm rồi. Và mày biết không?...
 
- Biết gì cơ?
 
- Tao được thầy giáo chấm nhất lớp mày ạ. Mọi khi làm luận tao bét tỉ, thế mà tả mày tao lại được nhất. Ngộ quá há.
 
- Ừ ngộ thật!
 
Tú quay nhìn vào nhà. Mặt lo âu. Nó dục bạn:
 
- Còn chuyện gì nữa không? Tao vào nhé?
 
Dzục níu bạn:
 
- Vào gấp thế. nãy giờ mày làm gì trong ấy?
 
- Rửa chén bát. Tao phải vào kẻo dì tao gặp, dì tao đánh chết.
 
Dzục quyến luyến nhìn bạn. Nó mong kéo dài giây phút êm đềm của 2 đứa, nhưng giây phút đó sao ngắn ngủi, mong manh quá! Nó sắp đứt rồi đây.
 
Dzục nắm tay Tú, trìu mến:
 
- Chiều nay bắn chim với tụi tao nhé Tú?
 
- Cả cu Tự nữa?
 
- Ừ.
 
- Không chắc đâu Dzục ạ! Nếu mắc việc chắc tao phải ở nhà.
 
Dzục vớt vát:
 
- Nếu không bận việc, đi chơi nghe. Nhớ Tú nhé!
 
- Ừ. tao nhớ!
 
- Tao về!
 
- Ừ, mày về.
 
Dzục quay đi. Nó lầm lũi đi theo con đường mòn nhỏ hẹp. Mang theo trong đầu óc hình ảnh thằng bạn đáng mến.
 
Tú đứng nhìn theo, niềm thương dâng trào trong người nó. Đến khi bóng Dzục mất hút cuối xóm, nó thẫn thờ quay vào như đánh mất 1 vật quí báu vô hình. Đến ngưỡng cửa bếp, nó chợt khựng lại, dì nó sừng sững hiện ra trước ngưỡng cửa. Tú cảm thấy mình bỗng chốc bé lại, nó trở nên sợ hãi...
 
Dì nó đay nghiến:
 
- Đi chơi đấy hả? Chén bát chất đống thế không lo rửa, lại lẻn đi chơi. Biết ngay mà, hở mặt tôi là có xem ai vào đâu...
 
Chợt nhìn thấy gói giấy trên tay thằng bé, dì giật lấy, mở ra xem. Tú nghẹn ngào, nó nhìn quả mãng cầu, nhìn dì nó. Cảm giác tủi hờn dâng nghẹn cổ nó. Dì nó cầm quả mãng cầu mỉa mai:
 
- Chà, xài sang dữ! Tiền đâu "ông" mua thế? 
 
Tú ấp úng:
 
- Bạn... bạn con cho.
 
Dì nó "hừ" 1 tiếng. Bà ta cho tay vào túi móc ra tờ giấy 5 đồng nhàu nát đưa cho Tú, bảo:
 
- Vào bếp lấy chai ra quán cóc mua cho tôi 1 lít dầu phụng, lẹ lên!
 
Tú tiếp lấy 5 đồng. Nó vào bếp lấy chai, lủi thủi đi ra con đường mòn ngoài xóm. Tú cầm cái chai, hôm nay cái chai con sao mà nặng thế! Nó nghĩ đến món quà của Dzục, nó đánh rơi mất rồi...
 
Trời trưa, nắng mùa thu không gay gắt, hàng cây hai bên vệ đường nhuộm một màu vàng thật nhạt. Tú bỏ đường mòn, đi ra phía lộ lớn.
 
Cơn mưa phùn hồi sáng đã dứt. Ông trời đã ngưng khóc rồi. Mặt đường lấm tấm nước mưa. Những hạt mưa lấp lánh như muôn ngàn vì tinh tú trên bầu trời mỗi lúc về đêm. Tú cắp chai vào nách, rảo bước vội... Có tiếng ai gọi từ vệ đường bên kia vọng sang: 
 
- Em bé ơi! Lại đây giúp hộ tôi một tí!...
 
Tú ngoảnh mặt sang nhìn. Một người đàn ông ngồi chồm hổm cạnh chiếc xe đạp cũ mèm. Hai bàn tay ông ta dính bùn và dầu đen bẩn. Nó chạy sang:
 
- Bác gọi cháu hả?...
 
Ông khách nhìn nó, nở một nụ cười thân mật. Tú cũng cười. Nó cảm thấy cơ hồ đã quen ông khách tự thuở nào. Ông khách khẩn thiết:
 
- Xe tôi nó sút dây sên... em giúp hộ tôi một tay nhé!
 
Tú ngần ngại. Nó nghĩ đến dì nó rất nhanh. Dầu chưa mua, về trễ. Chừng đó lý do cũng đủ ăn đòn. À lại thêm đống chén bát chưa rửa ở nhà nữa chứ. Thoáng thấy nét ngần ngại trên mặt Tú, ông khách cho bàn tay bẩn vào túi quần "Kaki" vàng cũ, rút ra tấm giấy bạc mười đồng. Ông ta nhét vào tay Tú thiếu lâm:
 
- Em cầm lấy chút tiền này ăn quà nhá! Rồi giúp hộ tôi một tí. Một tí thôi. Nhé em!
 
Tú đỏ bừng mặt, nó rụt tay lại, tờ giấy bạc không điểm tựa, lao đao rơi xuống đất. Tú đứng sững. Ông khách nhìn nó, thoáng ngạc nhiên:
 
- Không nhận sao em? Hay em chê ít?
 
Tú lúng túng. Nó chưa kịp phân trần, ông khách rút thêm tờ giấy năm đồng nữa, ông ta chìa trước mặt Tú, ân cần:
 
- Em cầm thêm nhé!
 
Tú lại lắc đầu, tự nhiên nó buột miệng:
 
- Cháu không dám nhận đâu...
 
- Sao thế em?
 
- Để cháu giúp cho bác một tay bác nhé!
 
Ông khách ngạc nhiên nhìn Tú thiếu lâm. Ông lượm tờ giấy mười đồng ở dưới đất lên. Tay cầm hai tờ giấy bạc, ông cũng bối rối chưa biết nói cách nào. Tú để chai xuống đất. Nó sà tới chỗ chiếc xe đạp, đỡ lời cho ông:
 
- Xe bác hư dây xích hở bác? Để cháu sửa cho.
 
Ông khách nuốt nước bọt, hiền từ nhìn nó. Ông lặng lẽ đút tiền vào bọc, đỡ chiếc xe lên:
 
- Dây xích này lâu ngày, không có nhớt thành thử khô cứng, đến khi bỏ vào thật là nhọc công.
 
Tú nâng cái bánh xe trước lên. Nó ướm thử sợi dây xích, rồi máng vào cái đĩa lớn của chiếc xe. Dây xích quả thật cứng, bỏ vào được một nửa cái đĩa lớn, thì đĩa phía sau không lọt.
 
Ông khách cũng biết thế, nên ông khuyến khích Tú luôn miệng. Hai người lui hui bên chiếc xe "cà tàng" lâu lắm. Trán Tú thiếu lâm rỉ cả mồ hôi. Lưng áo nó ướt đẫm. Ông khách nhìn nó, thoáng một nét ái ngại hiện lên mắt ông. Hai người mệt lử.
 
Bỗng Tú thiếu lâm reo lên:
 
- Được rồi bác. Hay quá!
 
Nó quay mạnh bánh xe sau cho dây xích chạy đều, bánh xe chạy vo vo, cái niềng bạc xoay tít, bắn những mảnh bùn ướt tứ tung. Ông khách vui mừng. Ông đứng dậy vươn vai, vẹo mình kêu răng rắc. Quệt mồ hôi trán, ông vỗ vai Tú thiếu lâm:
 
- Cháu mệt không?
 
Tú thiếu lâm quần áo xốc xếch, thở hổn hển:
 
- Dạ mệt.
 
Ông khách không biết làm gì hơn, ông ta nhìn Tú thiết tha:
 
- Bác thành thật cám ơn cháu. Cháu tốt quá.
 
Tú ngước lên nhìn ông, mắt ông khách qua cặp kính trắng nom hiền từ quá. Lòng Tú bồi hồi. Nó nắm tay ông khách thân mật:
 
- Bác ở đâu vậy bác?
 
Ông khách chỉ tay về phía xa:
 
- Tận kia, xa lắm cháu ạ!
 
Bây giờ, Tú chợt nhớ đến dì nó. Về bây giờ muộn mất rôi. Quán "cóc" còn khá xa. Lòng Tú nôn nao, cảm giác rờn rợn chạy khắp xương sống nó. Tú trách mình suy xét nông nổi, giúp ông khách chẳng được mập thêm kí lô nào, mà còn ăn thêm trận đòn chốc nữa. Tú trách mình ngu quá ngu, ngu còn hơn con phèn của nhà thằng Túy cuối xóm nữa. Tú lo sợ, mặt nó xanh mét, người toát mồ hôi. Ông khách cầm tay nó, hiền từ:
 
- Cháu tên gì nhỉ?
 
- Dạ Tú!
 
Ông khách chợt nhíu mày, ông "à" lên một tiếng, vỗ vai Tú thiếu lâm:
 
- Cháu có thằng bạn tên Dzục phải không?
 
Tú trố mắt:
 
- Dạ đúng rồi, mà làm sao bác biết?
 
- Bác là thầy thằng Dzục. Cháu là Tú thiếu lâm, biết võ thiếu lâm phải không?
 
Tú ngẩn ngơ. Ông khách, tức thầy thằng Dzục, tức thầy Du, đoán hay quá. Không chừng ông biết luôn cả cuộc sống tối đen của nó cũng nên. Tú ngập ngừng:
 
- Sao... sao bác biết hết thế?
 
Thầy Du vỗ 2 tay vào nhau cho đi đất bẩn:
 
- Đố cháu đấy!
 
Tú nhíu mày, suy nghĩ lâu lắm, nó reo lên:
 
- Cháu đoán ra rồi!
 
Thầy Du nheo mắt:
 
- Sao?
 
- Thằng Dzục làm luận tả cháu trong ấy, đúng không hở bác?
 
- Đúng rồi. Sao cháu biết vậy?
 
Đến lượt Tú đố ông khách, nó cười:
 
- Cháu đố bác đấy! 
 
- A, bác đã đoán ra. Lại thằng Dzục bảo với cháu chứ gì? Phải không?
 
Tú gật đầu. Ông khách nhìn trời, chép miệng. Chợt nhớ ra điều gì, ông quay lại:
 
- Mà cháu đi đâu vậy, Tú?
 
Bây giờ, Tú thiếu lâm sực nhớ đến bổn phận của mình. Nó giật nẩy người, cầm vội chai lên hớt hải:
 
- Chết mất, bác cho cháu đi...
 
- Đi đâu giờ này, cháu?
 
- Cháu đi mua dầu cho dì cháu bác ạ! Thôi, thưa bác, cháu đi.
 
Thầy Du nắm lấy vai Tú:
 
- Để bác chở đi. Mua dầu ở đâu?
 
- Ở quán "cóc" bác ạ...
 
Nó ngập ngừng tiếp:
 
- Cháu... cháu làm phiền bác quá. 
 
Thầy Du cười phá lên, vui vẻ xốc Tú lên yên xe:
 
- Cháu làm phiền bác cũng chưa bằng bác làm phiền cháu. Phải vậy không. Hơn nữa chở cháu đi luôn tiện bác cũng tập thể dục để chút nữa về ăn cơm mới ngon.
 
Cả hai cùng cười vang. Lòng Tú ấm lại. Nó quên cả trận đòn sẽ xẩy ra. Nó ôm ngang eo ếch thầy Du, tự nhiên nó phát sinh 1 cảm nghĩ trong đầu óc:
 
"Giá thầy Du là cha của nó nhỉ?"
 
Tú chợt mỉm cười, lòng nó nở hoa đỏ...
 
________________________
Xem tiếp PHẦN VI
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 56, ra ngày 1-11-1966)
 
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>