Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

Voi, Con Thú Thông Minh


Một buổi xế, khi viên thanh tra lâm vụ Bere và tôi lái xe chạy qua công viên Queen Elizabeth, chúng tôi trông thấy một đàn voi đang dắt con đi. Đảo mắt nhìn chúng tôi, đàn voi ve vẩy tai nhưng chẳng để ý đến chúng tôi nếu Bere không ngưng xe lại cho tôi chụp hình. Đa số vểnh tai lên, lắc đầu dữ dội, kêu hét ầm ĩ. Chúng đứng dừng lại cách chúng tôi chừng sáu thước.
 
Lấy làm lạ tôi hỏi:
 
- Tại sao đột nhiên chúng lại trở tính như vậy?
 
Bere trả lời:
 
- Có lẽ chúng kinh hoảng vì nhận ra chiếc xe đi săn của mình. Hay chúng ăn phải cái gì khó tiêu. Cũng có thể vì ruồi muỗi, vì đôi khi ruồi muỗi cũng làm cho voi phát sùng lên. Chẳng bao giờ người ta hiểu được loài thú này. Phản ứng của chúng thật là bất ngờ... y như là phản ứng của con người vậy.
 
Nhiều chuyên viên nghiên cứu cũng đồng ý như thế: Voi có nhiều đặc tính y như chúng ta vậy. Donald Kert cho chúng tôi xem một bản phúc trình mang chữ ký của hai người thợ săn. Truyện kể lại hai con voi cứu sống một đồng bọn bị thương. Dùng ngà đỡ cặp ngà của con thú bị thương, dùng thân mình từ hai bên dặp sát lại để nâng thân mình của con vật bị nạn, hai chú voi cấp cứu đỡ hẳn bạn của chúng lên cao. Vượt qua mặt người thợ săn ngơ ngác, chúng lao vào bụi rậm. Những người thợ săn theo dấu và khám phá ra rằng dù có bị rơi rớt đôi ba lần, con voi bị thương ít nhất cũng được dìu đi xa đến ba cây số. Đến lúc đó nó tỉnh lại và có thể đi được và cả ba tiếp tục đi tìm đồng bọn.
 
Bill Ryan là một tay thợ săn kỳ cựu. ông đã bỏ ra suốt bốn mươi hai năm để nghiên cứu tính tình của loài voi. Ông nói với tôi:
 
- Chúng có thể suy luận được, y như chúng ta vậy. Và đôi khi chúng còn tỏ ra ranh mãnh hơn người ta nữa. Có một bầy voi hay vào trang trại của chúng tôi phá phách vườn tược để kiếm ăn. Chúng tôi bèn rào lại. Chúng tìm cách vượt qua hàng rào. Thế rồi chúng tôi cho chạy máy điện để chuyền vào vòng rào. Chỉ cần hai hay ba buổi tối, đám voi biết rằng khi ánh đèn tắt, vòng rào không còn nguy hiểm nữa. Và một lần nữa, chúng phá hàng rào để xông vào! Chúng tôi phải cho chạy máy điện suốt đêm, nhưng những con thú khổng lồ này vẫn tiếp tục lẩn quẩn bên ngoài thử phá dây điện cho đến lúc một con voi chợt biết rằng đôi ngà của chúng không dẫn điện. Thế là bọn chúng không còn e dè gì nữa. Cuối cùng chúng tôi phải đặt người gác với đầy đủ súng đạn hẳn hoi.
 
Ở Ouganda, tại công viên Murhison Falls, khi dựng một lâu đài cho khách, đám thợ thuyền bị một con voi đực to ba tấn rưỡi đuổi chạy có cờ vì con voi này coi đó là khu đất riêng của nó. Ngay khi tòa nhà được dựng lên xong, "ông voi chúa" này vẫn đến nhiều lần, đi rảo chung quanh và kiêu hãnh dừng bước cho người ta chụp hình.
 
Vào một đêm đẹp trời, nó ngửi thấy mùi rượu bia, thứ bia thổ sản gọi là pombe cất bằng chuối, con voi hất tung một mái lều để tìm một chút chuối nghiền. Sau đó, nó lục lọi tất cả các xe cộ từ vùng Paraa đến hy vọng tìm được chuối là món ăn ưa thích của nó. Vớ được một chiếc xe mui trần, chú voi xé mui vải, nếu gặp một chiếc xe thường, chú ta cho vòi qua cửa để lục lọi hay dùng sức mạnh nhấc xe lên mà rung. Một bận có đám du khách ngủ trong xe, họ đã vô ý để thực phẩm dưới xe mà trong thức ăn lại có chuối. Nửa đêm họ chợt giật mình thức giấc, sợ khiếp đảm vì cảm thấy chiếc xe rung lảo đảo. Đám du khách hoảng hồn vía trong khi "ông voi chúa" ung dung thưởng thức món chuối ưa thích.
 
Tại Amboseli, một khu bảo trì thú vật ở Kenya, có một con voi đầy óc hài hước. Nó thích nấp cạnh một đường quanh rất ngặt, chờ cho đến lúc trông thấy một chiếc xe xuất hiện trên đường, nó gầm lên một tiếng to và hùng hục lao ra, hai tai vểnh ra sau. và khi biết chắc đã làm cho chủ xe khiếp hãi, nó từ từ lùi lại sau, đưa mắt nhìn theo chiếc xe đang chạy. Cặp mắt nhỏ của nó ánh lên một tia sáng ranh mãnh.
 
Khi sắp sửa sanh con, voi mẹ đi tìm một bà bạn lớn tuổi hơn, khôn ngoan hơn để nhờ giúp đỡ. Voi có mang đến hai mươi mốt tháng. Suốt thời gian này, bà mẹ tương lai đi cạnh "cô đỡ" của mình. Bà mẹ nuôi sẽ chăm sóc rất cẩn thận, canh giữ rất gắt, đuổi bất cứ chú voi nào lại gần khi voi con mở mắt chào đời.
 
Voi con mới sinh nặng lối 90 ký, và chỉ vài phút sau khi ra đời, nó có thể đứng vững và ít lâu sau, nó có thể đi lại được. Không phải voi con dùng vòi để bú vú mẹ dù voi con còn quá bé, chưa với tới. Thực ra, nó cuộn vòi lại và dùng miệng để bú sữa.
 
Voi mẹ chăm sóc con cái đầy vẻ âu yếm chẳng khác chi người mẹ chăm sóc cho con. Voi mẹ nâng con khi lội qua dòng nước, bẻ cành cao quá tầm cho con ăn lá, và khi cần cũng biết trừng phạt khi voi con không vâng lời.
 
Một buổi chiều, Bere và tôi nhìn một đàn bốn voi cái với năm chú voi con đang đi gần kênh đào Kasinga. Một chú voi con mập mạp đi lang thang ở bãi cát đốc, y như là một chú bé tò mò muốn biết bãi cát chạy đến đâu mới chấm dứt. Đột nhiên đất sụp dưới chân chú voi con, và chú kêu lên một tiếng kinh hoàng, rơi tòm xuống nước.
 
Đàn voi cái quay vòng lại, vểnh tai lên và chạy xô lại phía con kênh, đưa vòi hướng về chú voi con ngỗ ngáo. Nhưng vì quá sợ hãi, chú voi con không thể nào vớ được những chiếc vòi cấp cứu. Bốn chân mắc lầy, chú ta chỉ còn biết dẫy dụa không ngừng.
 
Hai con voi cái quỳ xuống bãi cát. Hai con khác thận trọng lội xuống nước, vừa gầm gừ để khích lệ chú voi con, chúng đưa vòi dưới thân chú và nâng chú lên cho đến lúc chú chạm được hai con voi đang quỳ trên bãi cát. Hai con voi này dùng vòi nâng chú, kéo chú. Rồi một con, chắc chắn là mẹ của chú bé, kéo chú về phía nó, thì thầm khích lệ cho chú cố gắng thêm. Voi mẹ đưa vòi quật lên quật xuống cho đến lúc chú voi con chạm được. Chú voi con run rẩy, mửa nước lênh láng. và cuối cùng, khi biết rằng chú voi con không sao, voi mẹ dùng vòi quất cho chú một cái nên thân, rồi giận dữ đuổi chú chạy khỏi mé nước.
 
Một trường hợp cảm động vì sự đau khổ của voi mẹ đã xảy ra ở công viên Murhison Falls. Đại tá Trimmer giám đốc lâm vụ đã trông thấy một con voi cái dùng ngà mang một con voi mới sinh. Voi con đã chết. Nhưng suốt ba ngày voi mẹ vẫn mang xác con như thế và chỉ đặt xuống đất khi nó uống nước mà thôi. Ít lâu sau, người ta trông thấy voi mẹ đứng cạnh một gốc cây, không còn mang xác con nữa. Nó đứng sừng sững như thế qua nhiều ngày không ăn không uống và đe dọa bất cứ ai muốn lại gần. Cuối cùng nó bỏ đi. Sau đó Trimmer khám phá ra rằng voi mẹ đã đào một cái huyệt nông dưới gốc cây để chôn xác con.
 
Dường như voi có bản năng bảo vệ nhau. Khi một con voi đực quá già, nó rời bầy, có lẽ vì nó trở nên quá chậm chạp không thể đi xa được nữa. Thường thường có một hay hai con voi đực còn trẻ tuổi đi theo "vị tiền bối" này. Nhiều thợ săn tin rằng voi già đem sự khôn ngoan của mình ra dạy cho voi trẻ để được voi trẻ bảo vệ đền công. Khi gặp nguy hiểm, voi trẻ đưa voi già đi tránh xa rồi trở lại chiến đấu chống lại kẻ thù. Hai voi trẻ này ở lại làm vệ sĩ mãi cho đến lúc voi già chết đi. Và voi thường sống đến sáu mươi tuổi.
 
Trái lại sự tin tưởng thông thường, những con voi này không tỏ ra cục mịch chút nào cả. Chúng có thể đi trên trái dừa khéo léo đến nỗi đủ để đạp tróc vỏ mà không làm bể trái dừa, chúng biết nhổ khoai lang mà không làm tróc vỏ. Voi cũng có khuynh hướng thuận bên mặt hay bên trái như chúng ta vậy. Thế nên luôn luôn chúng dùng chiếc ngà thuận để đào khoai.
 
Voi rất ít ngủ, chỉ ngủ bằng một nửa thời gian của chúng ta. Cũng may nó không cần ngủ nhiều vì nó còn phải dành hầu hết thì giờ ăn uống. Để ăn đủ ba trăm ký cỏ và lá cây khẩu phần mỗi ngày, voi phải tốn hết mười sáu giờ. Và nó còn phải đi tìm nước uống nữa vì nó cần từ một trăm mốt đến một trăm chín mươi lít mỗi ngày.
 
Chắc chắn là voi không bao giờ quên. Một trong những điều mà nó nhớ mãi mãi là hơi người. Những nhà khảo cứu quả quyết rằng nếu bị săn đuổi một lần, voi có thể phân biệt được hơi của một người da trắng khác với hơi của một người da đen khi còn ở cách xa năm cây số nhờ dùng vòi của nó. Sydney Downey nói về con voi đực mà ông ta đã theo đuổi suốt nhiều năm: "Nó đi vòng vòng, quay qua phải, quay qua trái, nhưng lúc nào cũng dẫm lên dấu chân cũ để làm mất dấu. Thỉnh thoảng nó dừng lại, đưa vòi đánh hơi và tiếp tục lên đường nếu không thấy có gì lạ. Nếu đánh hơi một người thổ dân, nó bèn đi trốn biệt cho đến lúc thấy không còn nguy hiểm mới chịu ra. Nhưng nếu nó ngửi hơi một người da trắng, nó giận dữ dẫm nát đất rồi lao nhanh với tốc độ tám chục cây số hay hơn, nó biết rõ người da trắng có vũ khí lợi hại đến mức nào."
 
Đại tá Bruce Smith ở Kenya cho rằng voi nhớ mãi những sự chăm sóc tử tế và những nguy hiểm nó đã trải qua. Một hôm ông bắt được một con voi con đang mang một vết thương nặng ở chân sau. Lúc trị thương cho nó, Đại tá Bruce Smith phải nhốt voi con vào trong một cái chuồng chật làm bằng những thân cây to để cho con thú không thể cử động được. Lần đầu tiên khi người ta xức thuốc cho nó, con voi đau quá nổi điên lên. Nhưng Bruce Smith vẫn làm xong công việc và dỗ dành con voi.
 
Sau ba bốn lượt chữa trị, con voi kiên nhẫn chịu đựng, nhưng người ta vẫn phải nhốt nó lại mới thay băng được. Sau cùng, người ta thả nó ra. Từ đó, mỗi lần gặp Bruce Smith, nó đều chạy ngay lại dùng vòi cuộn tay ông ta đưa lại phía vết thương bây giờ đã lành lặn hẳn và thành sẹo rồi.
 
 
BRIAN O' BRIE         
Bản dịch : NGUYỄN HÙNG TRÁC
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 101, ra ngày 3-8-1973)
 

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

Trăng Soi Bên Thềm Vắng


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hè oi bức
Rủ nhau lên
Lầu Nguyệt Vọng
Đón gió hiền

Liễu thướt tha
Sen hồng thắm
Cá đớp bèo
Chiều tắt nắng

Gió êm êm
Trăng giãi thềm
Hoa thơm ngát
Dưới trăng huyền

Nước trong xanh
Liễu buông mành
Thuyền nan nhỏ
Đậu bến tình

Rượu, trà, thơ
Đấy người xưa
Nay bánh, trái
Đón trăng mơ

Trăng năm ấy
Nguyệt Vọng Lâu
Soi thềm cũ
Chẳng âu sầu

Nay trăng thanh
Chiếu qua mành
Lầu vắng ngắt
Ta buồn tênh

Trăng long lanh
Gió xuyên cành
Bạn đi mất
Ta một mình!

         Trần Thị Phương Lan
          (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

Niềm Vui


Chú bé ngồi bó gối, mặt buồn thiu. Trên chiếc phản gỗ bóng loáng, ba, má, em gái chú đang mải mê chơi tam cúc. Đống kẹo ở chỗ em chú đang vơi dần, ngược lại, của ba chú thì mỗi lúc một vun cao. Ba chú đánh tam cúc thật ác, ác như đánh giặc vậy. Nhưng... có lẽ ba chú phạt chú lại còn ác hơn gấp bội. Chú nghĩ thế. Suốt hai năm nay, kể từ khi ba chú đặt ra cái lệ hễ tháng nào anh em chú, đứa nào không được đứng nhất, nhì, sẽ bị phạt ; đây là lần đầu tiên chú bị phạt. Gọi là "phạt" vì chú không biết dùng chữ nào khác chứ thật ra đấy chỉ là "cúp thưởng". Tức là chú không còn được chơi tam cúc ăn kẹo nữa, không còn được má dẫn đi chơi mỗi chiều thứ bảy nữa, không còn được ba cho đi xi nê mỗi cuối tháng, cùng nhiều quyền lợi linh tinh khác. Ừ! Thì cứ không được đi xi nê, cứ không được má dẫn đi phố đi, chú không tức. Chứ phải chịu cái cảnh ngồi bó gối nhìn mọi người đánh tam cúc, chú chịu không nổi.
 
Và chú bé đã chịu hết nổi, chú mon men lại bên phản xem ké. Ba chú nhếch mép cười, chỉ tay vào chỗ phản trống bên cạnh. Chú nhảy tọt lên ngồi cạnh ba. Ba chú hạ tay cầm bài xuống cho chú xem. Chú nhìn một lượt: bộ ba xe pháo mã điều này, sĩ điều này, đôi tượng xanh này, đôi tốt đỏ và một quân tốt đen. Chao ơi, bài mới là đẹp chứ! Bộ ba xe pháo mã điều mà kèm với sĩ điều thì "kết" là cái chắc. Đôi tượng xanh cũng chắc ăn rồi. Chỉ khó là làm sao tống khứ được đôi tốt đỏ với quân tốt đen đi. Em chú làm cái. Con bé nhìn chú cười tủm tỉm, không biết vì bài nó đẹp hay nó cười chú không được đánh? Má chú cũng cầm bài lên. Em chú gọi ba cây. Ba chú vỗ đùi đánh đét một cái, cười ha hả. Chú khoái chí cười theo, rồi dằng những quân bài trên tay ba bày xuống phản. Chú cắt nghĩa:
 
- Gọi ba cây thì đây chui đôi tốt đỏ với quân tốt đen. Ai được mà gọi một, đây hạ sĩ điều, kế là đôi tượng xanh và kết xe pháo mã điều. Còn như ai đó gọi đôi cây, đây hạ đôi tượng xanh trước, xong, đến sĩ điều, rồi cũng kết xe pháo mã điều. Chỉ khi nào ai đó gọi ba cây, đây mới chịu hạ bộ ba và đành mất kết, nhưng vẫn ăn như thường...
 
Chú chỉ trỏ những quân bài giải thích xong, đắc chí nhìn mọi người toác miệng cười. Chú tưởng ba chú sẽ khoái lắm, và má chú, em chú sẽ tiu nghỉu. Chẳng dè, má chú cười to:
 
- Nhanh nhẩu đoảng kìa! Nhỡ người ta gọi đôi cây và là đôi tượng điều thì sao đây? Và ba cây cũng là bộ ba xe pháo mã điều thì sao đây? Với lại... Đã giao hẹn rồi nhé... Ai hạ bài xuống thì... mất ăn...
 
Ba chú cau mặt nhìn chú, nói:
 
- Thế là toi ba chiếc kẹo. Đáng lẽ tao chia cho mày vài cái ngậm chơi, nhưng mày lại làm hỏng ván bài của tao, thành ra... còn lâu con ạ.
 
Xong, ba chú đưa tay vơ bài trên phản, sửa soạn chia lại. Em chú chỉ vào mình nói:
 
- Con vẫn làm cái nghe ba.
 
Chú ngẩn người ra. Má chú nói đúng. Chú đúng là nhanh nhẩu đoảng. Vô duyên quá đi! Vừa làm hỏng một ván bài của ba, vừa mất kẹo ăn...
 
Ờ... Nhưng mà, ai bảo ba chú phạt không cho chú đánh tam cúc làm gì? Tại thế, chú mới lên "cơn ghiền" mà vô tình thành kẻ phá đám. Chú thấy mình hơi thừa. Chú lẳng lặng tụt xuống phản, ra ngoài bàn ngồi chơi một mình. Ừ, ngồi chơi một mình tuy buồn chết, nhưng được một cái là yên thân, chẳng mang tiếng phá đám ai nữa... 
 
Ngồi một mình nơi bàn học, chú nghĩ ngợi vẩn vơ. Tại sao tháng vừa qua chú lại bị đứng hạng ba nhỉ? Chú học có kém trước đâu nào? Điểm trung bình còn hơn cả tháng trước nữa kia mà. Những bảy phết hai. Thế mà con Hạnh, con Thoa tự dưng vượt lên nhất, nhì, chỉ hơn chú tí teo: bảy phết nai mươi lăm và bảy phết ba. Có lẽ tại hai đứa nó cố học hơn trước mà chú cứ giữ mức bình thường. Có lẽ đúng rồi... Ba chú hay bảo: dừng lại một bước là lùi cả ba bước. Chú dừng ở cái mức bảy phết đến bảy phết hai đã mấy tháng, chú vẫn đứng nhất. Chỉ tháng vừa qua, chú tụt xuống hạng ba. Ba chú nói đúng quá rồi: chú lùi ba bước thật rồi!
 
Thật ra, việc chú đứng trong lớp đối với bạn bè, chẳng có gì là quan trọng cả ; khối đứa thèm được hạng ba mà không được. Nhưng đối với riêng chú, vấn đề thật quan trọng. Chú nhớ như in buổi tối hôm ấy, khi chú trình cho ba tờ danh dự hàng tháng. Em chú đã trình bảng danh dự hạng nhất từ hôm trước, lúc ấy đang ngồi trong lòng ba, chồm lên xem bảng danh dự của chú. Nó kêu lên:
 
- Eo ơi! Những hạng ba cơ à?
 
Tự dưng chú thấy nghẹn nơi cổ. Chú muốn khóc nếu không kịp nhớ rằng con trai mà khóc thì xấu lắm. Ba chú chỉ nói:
 
- Hạng ba thì... bị phạt...
 
Chỉ năm chữ ấy thôi, bản án do ba chú xử đeo sát vào người chú suốt một tháng, và không chừng cả những tháng sau nữa, nếu chú không lên được hạng nhì hay hạng nhất. Tuy nhiên, bấy nhiêu đã thôi đâu. Ba chú còn nói với chú một câu mà chú tự cho là va chạm tự ái vô cùng. Ba chú nói: "Con trai mà học thua con gái thì dở vô cùng, dở thậm tệ, con ạ". Trời ơi! Chú thế này mà lại chịu thua con gái sao? Con Hạnh con Thoa là cái thá gì mà lại để nó hơn mình nhỉ? Chỉ một lần thôi, chứ đừng hòng lần thứ hai. Chú nhất định thế.
 
Chú bé ra công học. Chú học kỹ hơn, cô giáo phải cho chú tám điểm thay vì bảy rưỡi như mọi khi. Chú làm luận văn thật suya: cô đem bài chú ra đọc cho cả lớp nghe và khen: "Em Quang có triển vọng lắm". Chính tả, tập vẽ, toán, chú vận dụng hết "công lực" ra làm. Chính tả chú không lỗi. Vẽ chú tám điểm. Toán chú thuần mười.
 
Chú vừa lén lên sổ điểm cộng thử. Chú thấy mình đã bỏ xa con Hạnh, con Thoa. Cô sắp cộng điểm tháng rồi... Ôi chao... Hạng nhất đi... Cầu trời... Lại hạng nhất đi...
 
Chú bé lẩm nhẩm rồi cười một mình.
 
Cô giáo đọc thứ hạng đã gần hết lớp. Cô có thói quen là người cầm cờ đỏ, cô đọc trước tiên. Cô giải thích, làm như thế, người học dở nhất sẽ bị nhiều người chú ý, đâm ra xấu hổ, sẽ cố học hơn. Ngược lại người giỏi nhất, cô gọi tên sau cùng. Nói chung, cả lớp đều hồi hộp, ai cũng mong tên mình được gọi càng về sau càng tốt. Chú thì dĩ nhiên chẳng bao giờ bị gọi tên trước rồi. Toàn là về cuối. Có điều cuối cùng hay kế chót, hay kế kế chót mà thôi.
 
Chỉ còn ba đứa: con Thoa, con Hạnh và chú. Tim chú đập lung tung. Cô giáo như đoán được sự hồi hộp của chú, dừng lại một chút mới chết chứ. Nhưng rồi cô cũng đọc tiếp:
 
- Trần thị Hạnh...
 
Chú thở phào một cái. Thế là thoát, chú sẽ nhất hay nhì. Nhì cũng được, nhì là chú khỏi bị ba phạt rồi. Dù sao, nhất vẫn hơn. Và chú đứng nhất thật. Cô không đọc mà nhìn chú rồi cười. Cả lớp cũng cùng nhìn chú. Chú phải đỏ bừng mặt lên.
 
Về đến nhà, chú vẫn chưa hết mừng. Chú nhẩy chân sáo từ ngoài ngõ, miệng bi bô gọi ba ơi ba ơi. Em chú ló đầu từ trong cửa nhìn chú vừa bước đến bên thềm. Nó bảo:
 
- Ba đi hành quân rồi!
 
Mặt chú xị hẳn ra. Ba đi hành quân thì đứng nhất phỏng ích gì? Chú buông thõng câu hỏi:
 
- Bao giờ ba về?
 
- Không biết nữa.
 
Chú buồn bã đi cất cặp rồi ra đằng bếp rửa mặt. Má chú đang làm cơm, nghe tiếng chú "Thưa má, con học về", quay lại nhìn chú hỏi:
 
- Tháng nầy đứng mấy?
 
- Nhất.
 
Chú trả lời nhát gừng, xong, cúi đầu xuống thau nước mưa, tay vò tóc lào xào. Má chú nói:
 
- Đứng nhất sao không thấy mày mừng?
 
Chú ngẩng đầu lên, lấy khăn lau nước ràn rụa đầy mặt, trả lời:
 
- Ba đâu có nhà mà mừng.
 
Má chú mắng yêu:
 
- Bố mày chứ, có tao không mừng được sao?
 
Chú cười hì hì:
 
- Mừng chứ! Nhưng tí ti thôi à.
 
Buổi tối, nhà vừa lên đèn. Ba đi hành quân được hai ngày, nỗi mừng đứng nhất của chú bé cũng vơi khá nhiều. Em chú cũng như anh, nó đứng nhì mà buồn thiu. Má chú bảo mai anh em có đi xi nê không? Chú lắc đầu, em chú cũng lắc đầu. Má chú rủ đánh tam cúc ăn kẹo, hai anh em cũng từ chối.
 
Chú ngồi trên phản, buông thõng chân, tay đánh nhịp lên phản. Em chú nằm khểnh dưới nền gạch bông nhìn mấy con thiêu thân lăng quăng quanh bóng đèn néon trắng toát. Má chú đang khâu lại cái áo chú mới làm rách sáng nay khi vô ý làm vướng vào cành ổi trước nhà. Em chú bỗng dời mắt về phía chú, hỏi:
 
- Anh Quang nghĩ gì mà đánh nhịp mãi thế?
 
Chú cười bảo:
 
- Nghĩ đến ba. Chắc ba đang đánh nhau hăng lắm nhỉ?
 
- Đánh nhau với ai chứ?
 
- ... Ờ... không biết... Mà với ai lại chẳng được... Miễn có đánh nhau là đủ thích rồi...
 
- Anh thích đánh nhau như ba lắm hả?
 
- Còn phải hỏi. Đi lính như ba được bắn súng sướng thấy mồ.
 
- Em sợ bắn súng lắm, điếc cả tai.
 
Chú nghe em nói, cười lên khanh khách.
 
Bỗng chú thôi cười, vì chú nghe có tiếng ai mở cổng ken két. Chú tụt xuống phản, bước ra cửa cái, hé nhìn. Và chú bỗng hết lên sung sướng: "Ba về" khiến má và em chú cùng giật nẩy mình. Chú quay mình chạy vào trong nhà thật nhanh định lấy bảng danh dự ra khoe ba, chẳng ngờ vì vội quá, chú vấp phải em, ngã nhoài ra. Em chú kêu lên:
 
- Đạp người ta bẹp ruột rồi đây này.
 
Chú nhìn em cười trừ, vừa lổm ngổm đứng dậy chạy tọt vào trong.
 
Lúc chú trở lại phòng khách, ba chú đang bế xốc em chú hôn lấy hôn để. Chú nhìn mà tưng tức. Chú đưa bảng danh dự ra nói:
 
- Ba ơi!
 
Ba chú đặt em chú xuống, đón lấy tấm bảng danh dự từ tay chú, nhìn con số 1 quen thuộc, rồi nhìn chú cười toe. Chú cười theo.
 
Má chú nói:
 
- Ba nó thay quần áo rồi chịu khó đợi tôi một tí. Phải chạy đi mua phở chứ hết cơm rồi. 
 
Ba chú gật đầu rồi bước vào nhà trong. Hai anh em chú lẽo đẽo theo sau. Chú hỏi:
 
- Ăn phở rồi làm gì ba?
 
- Ba kể chuyện đánh nhau cho nghe.
 
- Rồi gì nữa ba?
 
- Đánh tam cúc.
 
Chú nhẩy cỡn lên:
 
- Sướng mê đi rồi!
 
Em chú chìa tay ra:
 
- Ba đưa tiền con đi mua kẹo về cho.
 
Trong lúc em chú đợi ba đưa tiền đi mua kẹo, chú đi ngược lên nhà trên, ngồi bệt xuống nền nhà, rồi nằm dài xuống lẩm nhẩm: "Lần nầy thì mình phải giao hẹn rõ ràng mới được! Hễ chắc ăn thì cứ hạ bài xuống trình làng". Nhớ đến chuyện hôm nào phá đám ba một ván bài, chú nhoẻn miệng cười thật tươi.
 
Em chú từ trong nhà chạy vụt ra, nói như hét:
 
- Đi mua kẹo!
 
Trong phòng, tiếng ba chú hỏi:
 
- Cỗ tam cúc tao để trong ngăn kéo hôm nọ đứa nào đem đâu rồi?
 
Chú bé nghe chừng đâu đây, một niềm vui len nhẹ vào hồn.
 
 
NGUYỄN THÁI HẢI        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 50, ra ngày 6-8-1972)
 
 

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

Ngày Đó


 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
 
 
Tiếng sáo chiều nao lịm dấu xa
Như là suối hát, nhạc say hoa 
Bên cầu sâu nước in bóng khói
Mơ dáng mẹ yêu ủ mái nhà
 
Khóm trúc vàng hoe con đứng mong
Giọng hát ngây ngô lũ mục đồng
Xa xa trong gió, diều in bóng
Khói ấm vương vương quyện bếp hồng
 
Ca dao thấm ngọt nhịp à ơi
Mắt xanh lken suối mát hé cười
Lời ru âu yếm theo mây trắng
Ngoại cười héo hắt cất: "ngày xưa..."
 
Thương quá huyền thoại ươm hoa cau
Có sông bên luống, những chiếc tàu
Có đàn cò trắng chia trời xàm
Có tóc bay cao ngửi lúa vàng
 
Quê xa ngày ấy còn đâu nữa
Tìm dấu thơ ngây gợn bóng dừa
Dõi mắt về xưa tim thầm hỏi:
Bao chừ nghe nhịp võng đón trưa? 
 
                                ĐINH THỊ MINH CHÂU
                                    (Áo trắng trường Ngô)
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 51, ra ngày 13-8-1972)
 

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

Chiếc Lá Cuối Cùng


Thành phố New-york nổi tiếng là nơi sang trọng bậc nhất Mỹ quốc, suốt ngày nhộn nhịp người qua kẻ lại tấp nập mang 1 sắc thái vui tươi đẹp đẽ...
 
Nhưng ẩn trong thành phố hoa lệ ấy cũng có những khu phố tầm thường đơn giản không phù phiếm xa hoa ; đó là đời sống của những kẻ không nhiều tiền hoặc họ muốn đời sống họ mộc mạc hơn.
 
Trong một khu phố ít người qua lại, một khách sạn không mang tên gì, chẳng giàu lắm nhưng bề ngoài cũng khá sang trọng : Khách sạn này gồm bẩy tầng, ngoài quét một lớp vôi xám nay đã tróc đi nhiều chỗ làm cho ngôi nhà này thêm cũ kỹ. Ở đây nhằm vào xứ lạnh nên phòng càng cao thì càng rẻ tiền vì ở  tầng thượng bao giờ cũng lạnh hơn bên dưới. Lúc ấy trời đông giá rét, tuyết rơi nhiều, cái lạnh thấu đến tận xương buốt vô cùng.
 
Ở tầng thứ 6, có hai chị em ruột thương nhau lắm. Người chị tên Sue và cô em xinh xắn tên John Sy. Họ thuê căn phòng này hồi tháng trước. Cuộc sống bình thản trôi qua... Không may cho họ, một chứng bệnh trầm trọng đã đến với cô em gái John Sy. Lúc đầu không có gì nặng lắm, nhưng vì nghèo, chị Sue đã chạy chữa đến cạn tiền mà vẫn không trúng bệnh. John Sy buồn lắm, cô biết cô sẽ chết và ngày đó rất gần...
 
Giường nằm của nàng đặt ngay cạnh cửa sổ trông qua giàn nho leo trên tường nhà bên kia. Trong lúc buồn, cô John Sy đã đếm tất cả 24 chiếc lá. Bình minh hôm sau cô gái đáng thương kia đếm lại thì mất một chiếc, rồi một ngày sau nó lại vơi đi một chiếc lá nữa.
 
John Sy bỗng dưng thất vọng hơn trước, cô cho rằng cuộc đời cô gắn chặt vào giàn nho leo mỏng manh kia và chỉ còn có 22 ngày nữa thôi, chiếc lá cuối cùng sẽ rụng và cuộc đời cô sẽ kết thúc bằng một cái chết... 
 
John Sy mê sảng, trán nóng bừng, mặt đỏ gay, môi nàng mím lại, mắt nhắm nghiền, bất giác hai hàng nước mắt khẽ lăn dài xuống má...
 
Chị Sue thấy em mình khóc vội an ủi:
 
- Em John Sy yêu quí của chị, em đừng buồn, một ngày kia em sẽ hết bệnh mà, thôi em ráng vui lên đi...
 
John Sy nức nở:
 
- Không, em sẽ chết mất chị Sue ơi! Chỉ còn 22 ngày nữa thôi... em chết chị nhớ em nhiều nhá...!
 
Đến đây John Sy khóc tức tưởi. Nàng bị bệnh vi trùng thì ít mà bệnh tinh thần thì nhiều.
 
Chị Sue chỉ biết thở dài và im lặng tìm hiểu : chỉ còn 22 ngày... ồ lạ quá, Sue dòm khắp nhà không có gì chứng minh là 22 ngày nữa John Sy sẽ từ giã cõi đời. Chợt nàng nhìn ra cửa sổ : một giàn nho, nàng đếm thử... thì ra em nàng đã đếm những chiếc lá nho này đây mà sinh thất vọng. Sue đau xót lắm nhưng biết làm sao?! Càng ngày, tâm can John Sy càng héo tàn khô cạn, khối tuyệt vọng càng nặng nề khiến John Sy đau đớn muôn phần. Tử thần luôn luôn lởn vởn trong óc John Sy. Nàng sẽ chết...
 
Một ngày kia, John Sy đã đếm và chỉ còn thấy 5 chiếc lá nho... Còn 5 ngày nữa thôi, John Sy thiêm thiếp trên giường... tuyết rơi trắng xóa sẽ là màu tang cái chết của John Sy... nàng nghĩ thế và nhắm nghiền mắt lại.
 
Bỗng có tiếng đập phá chén dĩa và ghế bàn ở tầng trên tức là tầng thứ bẩy. Đây không phải là một người loạn trí mà là hành động của một kẻ đau khổ! Chàng họa sĩ da đen Behrman nghèo hơn chị em Sue nhiều, chàng mua một đĩa trái cây làm mẫu để vẽ, nhưng chưa xong bức tranh, Behrman cồn cào trong dạ, cái lạnh ác độc đã làm cho chàng họa sĩ tài ba cảm thấy mau đói. Chàng đói vô cùng. Trước kia chàng đã bao lần nhịn nhục, nuốt nước bọt cho qua, nhưng không, lần này thần đói đã dày xéo bao tử chàng!... Rốt cuộc Behrman đã ăn hết đĩa trái cây, tuy rẻ tiền nhưng rất quí với chàng. Khi ăn xong, nhìn lại bức tranh trên giá vẽ còn dang dở. Ôi! Mẫu vẽ biến mất rồi, chàng phải làm sao để bán tranh lấy tiền ăn qua ngày. Ác thay nền hội họa lúc đó chưa thịnh hành, chàng đã phải đổi nó để lấy vài xu hay một ổ bánh mì... cơn đói sẽ hoành hành chàng mãi. Đau khổ quá Behrman không thiết gì nữa, chàng đập đĩa trái cây, đạp bàn ghế, đá đổ lung tung và vô tình chàng xé bức tranh ra làm trăm mảnh, Behrman tức giận cho số kiếp không may của mình, chỉ trong một phút đau đớn mà cả sự nghiệp bao lâu chàng gầy dựng đã tan tành. Behrman ôm đầu rên rỉ...
 
Dưới này John Sy giật mình. Chị Sue muốn cho em mình an giấc vội đi lên căn phòng chàng da đen ở cạn tỏ đôi lời:
 
- Dạ kính chào ông.
 
- Thưa bà chuyện chi?
 
- Ông ạ, em tôi đau nặng lắm, nó cần sự yên tịnh, xin ông vui lòng làm nhẹ chút, cảm ơn ông lắm.
 
- Vâng, tôi sẽ làm vừa lòng bà - Behrman nhỏ nhẹ - hay là bà cho tôi xuống thăm em bà...
 
- Vâng, mời ông theo tôi.
 
Xuống đến phòng hai chị em Sue, Behrman nhẹ nhàng ngồi xuống ghế nhìn John Sy đang trăn trở trên giường, lâu lâu lại nhìn ra cửa sổ và thở dài. Behrman cảm thương John Sy và xin kiếu từ về phòng. Từ đó chàng không đập phá nữa mà nhất nhất cái gì cũng im lặng cốt để John Sy yên giấc.
 
Mỗi ngày, Behrman đều xuống thăm John Sy và tìm hiểu một bí ẩn gì để hầu chữa bệnh cho John Sy!
 
Phải chăng đó là một tình thương cao đẹp đã nẩy nở trong lòng chàng họa sĩ da đen đa cảm? Thấm thoát đã 3 ngày qua, giàn nho chỉ còn 2 chiếc lá. Vô tình John Sy đã than thở với chị mà câu đó đã lọt vào tai Behrman.
 
- Chị Sue ơi, hai ngày nữa em sẽ chết, chị xem, còn có 2 lá nho thôi, chị nhớ em nhiều nhé!...
 
Behrman gật gù nhẹ, không ai thấy, cái bí ẩn đã tìm được rồi : "chiếc lá cuối cùng!", chàng hiểu ngay, tinh thần John Sy đã đau khổ khi nhìn thấy 2 chiếc lá, 2 ngày nữa thôi... niềm vui lóe sáng trong đầu óc chàng họa sĩ da đen nhân hậu...
 
Đêm đó, John Sy đã mơ những giấc mơ hãi hùng và nàng chỉ thoi thóp vì mai đây chiếc lá cuối cùng lìa cành thì đời John Sy cũng kết thúc... Nhưng không, chiếc lá ấy không rơi mà vẫn còn mãi mãi... 
 

Chàng họa sĩ da đen thừa lúc ban đêm, đã dùng nét bút tài hoa của mình để tạo thành một chiếc lá thật xinh, thật giống. Để John Sy không mất, John Sy sẽ mạnh và chàng họa sĩ da đen có tấm lòng đẹp đó vui như ngày hội.
 
Nhưng một chuyện thương tâm đã xảy ra : Behrman đã đổi mạng mình để lấy lẽ sống cho John Sy. Lâu nay chàng đã bị sưng phổi, thế rồi trong một đêm lạnh buốt, chàng vẽ xong chiếc lá ấy thì tâm não chàng bỗng dưng đảo lộn, cái lạnh đã thấm vào phổi chàng, rồi tim Behrman như ngưng đập... một cái gì nghẹn ở cổ chàng, chứng sưng phổi trầm trọng! Chàng kịp nghĩ rằng mình sẽ chết và Behrman khóc thương cho ý định mình không thành, đó là ngày "xe duyên kết tóc cùng John Sy". Behrman tuyệt vọng, chàng gắng sức kêu lên hai tiếng "John Sy" và ngã gục. Chàng đã chết, mình tê cóng lại. 
 
Sáng đó, khi mở cửa ra thì John Sy ngạc nhiên khi thấy chiếc lá vẫn còn đó, bỗng dưng nàng thấy khỏe khoắn trong mình và bịnh dần thuyên giảm. Nhưng một sự lạ là sao hôm nay không thấy Behrman xuống thăm. Chị Sue mừng quá chạy bay lên phòng chàng họa sĩ da đen báo tin mừng, nhưng căn phòng trơ trọi... nàng gọi khan cổ vẫn không nghe tiếng trả lời. Chị Sue báo cho John Sy. John Sy buồn bã nhớ những lúc chàng Behrman ngồi bên giường an ủi và nàng tựa tay lên cửa sổ. Bỗng nàng nhìn xuống đất, một cảnh tượng đau thương hiện ra : một người đang nằm sóng soài, tuyết phủ một nửa và chiếc ghế ngả nghiêng vùi thân dưới tuyết... John Sy đau đớn, chàng họa sĩ da đen đã chết đi để lại cho mọi người niềm xót thương vô bờ bến và có ai biết chăng chàng đã mang khối tình cao đẹp ấy xuống tuyền đài muôn thuở!
 
 
Nguyên tác : Robert J. DIXON     
Phỏng dịch : KIM MINH        
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 51, ra ngày 15-8-1966)

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

Lối Về Quê Mẹ


Quân bỏ dép, mang chân không ra khỏi nhà, lững thững đi lên xuống, ngược xuôi, vòng vèo khắp vùng đất xung quanh mái nhà lá đơn sơ của gia đình chàng. 

Kể từ khi bãi học về quê, chiều nào Quân cũng giữ thói quen đi chân trần dạo quanh xóm làng, vì ở trên tỉnh ai cũng phải mang giày tây, cùng lắm sinh viên như chàng cũng phải đi dép da, dép sandal cho lịch sự, phải phép khi tới giảng đường, nên Quân đâm ra nhớ thuở nhỏ lúc còn chăn trâu, thả diều, bắt dế, có đứa con nít miền quê nào xỏ chân vô dép bao giờ, ngoại trừ dịp tết, mà nào cũng được mấy chốc, vì không thấy thoải mái, không quen.

Bãi học, có một số sinh viên rủ Quân nán ở lại thành phố để la cà quán xá, bát phố chiều chiều cho biết mặt mũi thủ đô, cho bằng bạn bằng bè, để có cái mà khoe khoang khi trở lại quê nhà, nhưng Quân đều từ chối khéo. Trước hết vì Quân không có rủng rỉnh tiền bạc như chúng bạn, thứ nữa vì thật ra trong thâm tâm, Quân vẫn là cậu bé miền quê như thuở nào. 

Quân thích ngắm ánh trăng rằm vòi vọi xuyên qua những tàu lá dừa bóng như thép hơn là ánh đèn đỏ xanh nơi đô thị. Quân ưa hương lúa, hương đồng cỏ nội thoang thoảng đê mê hơn là mùi nước hoa  hay son phấn ở chốn thị thành.

Càng gần tới ngày tựu trường, Quân càng bồn chồn, cồn cào trong bụng. Quân lo không còn đủ thời gian để tận hưởng những niềm vui thú của đồng quê, nên tối nào Quân cũng rủ rê đám bạn cũ và lũ trẻ cùng xóm tới chơi, vừa hát hò đàn đúm vừa nướng bắp nướng khoai và chuyện trò rôm rả. Bao giờ bà Năm má Quân cũng để dành những củ khoai lang, khoai mì bột nhất, những trái bắp, khúc mía ngọt nhất cho những buổi họp mặt này của Quân. Thỉnh thoảng bà cũng ngồi xuống góp vui dăm ba câu chuyện đời xưa với lũ trẻ. Bà cũng buồn khi thấy Quân lại sắp phải xa nhà, trở về thành phố để tiếp tục việc đèn sách.

Rồi cũng tới ngày Quân phải lên đường trở lại Sài Gòn vì sắp tới ngày tựu trường. 

Quân nắm chặt tay má, bịn rịn không nói nổi nên những lời tạm biệt. Má Quân dặn dò Quân những gì Quân cũng không nhớ nữa, vì mải đưa mắt ngắm như nhìn lần cuối trong đời cảnh vật thân yêu: Mái tranh xơ xác tiêu điều, còn đò nhỏ bên giòng sông bập bềnh những chùm hoa lục bình tím, những khóm dừa xanh mướt nên thơ...

Quân vác túi xách lên vai, quay người lại vẫy tay má tạm biệt mà mắt đỏ hoe. Bóng má xa dần xa dần khi chiếc xe đò chở Quân khuất tầm mắt, nhưng Quân vẫn cố ngoái lại nhìn hình ảnh gầy guộc, nhỏ bé, thân yêu của má trên lối về quê hương...
 

Trần Thị Phương Lan    
(Bút nhóm Hoa Nắng)      
 

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

Bé Mi Xinh Tươi


 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tối qua bé Mi
Nằm ngủ sớm ghê
Không như hồi trước
Cứ hay thức khuya.
 
Để chơi vớ vẩn
Hoặc coi ti vi
Cải lương, kịch, hát
Như người lớn kia. 
 
Chuông điểm 10 giờ
Bé đã ngủ khò
Sáng nghe chị gọi
Bé dậy tỉnh bơ.
 
Vươn vai duỗi tay
Ngáp vài ba cái
Mắt chẳng thấy cay
Miệng không thèm khóc.
 
Rửa mặt đánh răng
Rồi bé ăn sáng
Thay quần áo xong
Là Chích Chòe đến.
 
Trên cành cây cao
Chòe cất tiếng chào
Bé Mi ra ngó
Chòe cũng lạ sao.
 
Vì thấy bé Mi
Đồng phục chỉnh tề
Không như hôm trước
Nhăn nhó lè nhè.
 
Chòe bảo: "Trời ơi!
"Trông bé xinh tươi
"Như cô tiên nhỏ
"Ai cũng yêu thôi".
 
Rồi Chòe cất giọng
Hát mừng Mi ngay
Bài "Tiên bé bỏng"
Hay quá là hay...
 
              TRẦN THỊ TUỆ MAI
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 126, ra ngày 1-7-1974) 
 

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

Kẻ Lường Bị Gạt


 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
Ngày xưa, có một cụ... gà,
Khôn ngoan, mưu trí như là Khổng Minh
 
Trên cành lá, ngồi "nghinh" con cáo,
Chợt có tên cáo xạo lại gần.
Cáo ta lên giọng, lấy gân,
Đem lời đường mật mà tâng cụ gà
 
- Này cụ ạ! Chúng ta đoàn kết
Và chúng ta sẽ hết hận thù.
 Cùng thề "đất diệt trời tru"
Cáo, gà hai họ thiên thu hòa bình. 
 
Chúng ta quyết "đồng minh" mãi mãi,
Cụ gà ơi! Cụ hãy xuống mau.
Chúng mình kết bạn với nhau,
Cụ ơi! Cụ xuống mau mau đi nào.
 
Cụ gà: - Tôi biết bao cảm động
Khi các anh mở rộng tình thân
À, kìa! Hai chú chó săn
Nghe tin anh tới, chạy băng hướng này, 
 
Tôi sẽ xuống vui vầy bốn đứa...
Cáo giật mình kêu "ủa" rồi than:
Thôi! Tôi còn lắm việc cần
Chúng ta gặp lại những lần mai sau
 
Nói xong, cáo vụt mau tức khắc
Cụ gà nhìn nheo mắt cười khà:
- Đáng đời tên cáo, a ha!
Kẻ lường bị gạt thật là chẳng oan.
 
                                           Vân Thanh
                         Phỏng theo "Le coq et le renard"
                                       của La Fontaine
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 49, ra ngày 15-7-1966)
 

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Dậy Đi Thôi


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bé ơi trời đã sáng rồi
Bé mau thức dậy đi thôi bé nào
 
Mặt trời kìa đã lên cao
Ngoài kia bạn bé xôn xao đến trường
 
Chóng ngoan rồi chị sẽ thương
Dậy mau me đã phát lương ăn quà
 
Hôm nay là sáng thứ ba
Có hai môn : sử ký và công dân.
 
Dậy đi để kịp ôn dần 
Kẻo mà không thuộc khổ thân em à.
 
                                             PHƯƠNG VY
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 47, ra ngày 15-6-1966) 

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

Chuyện Của Bé

Bé vừa bước xuống xe, không vào chào "ba má" và các anh chị như mọi hôm, vội chạy lên phòng riêng, úp mặt vào lòng bàn tay khóc tức tưởi. Bé nhớ, bé thương bố mẹ bé và em Hân của bé kinh khủng. Nhưng biết sao hơn, bé đã lỡ làm con nuôi trong gia đình này gần một năm nay rồi. Vả lại tất cả mọi người ở đây... từ những người mà bé phải gọi là "ba má" đến anh Đức, chị Lan, và nhất là anh Linh ai cũng yêu thương bé cả, mọi người chiều chuộng bé từng li từng tí. Chị Lan thì luôn may áo đầm mới cho bé và may luôn áo đầm cho con búp bê của bé nữa cơ. Anh Đức thì hay mua cho bé đồ chơi mỗi khi đi học về. Còn anh Linh, anh Linh yêu bé nhất đấy... Dỗ dành những lúc bé hờn dỗi, dạy cho bé học, và ô mai là món thường xuyên mà anh đem về cho bé. Còn "ba má" ư? Chao ôi, cưng bé lắm. Mỗi lần đi làm về, "ba" đều tìm bé, ôm bé vào lòng và hôn lên trán bé... "Má" thì hay kể chuyện đời xưa cho bé nghe. Cái cảnh giàu có và sung sướng mà trước đây, lúc còn ở với bố mẹ, bé không tìm thấy. Bố bé thì đi làm suốt ngày, mẹ bé cũng thế, ở nhà bé chỉ được chơi với cu Hân, em bé. Nhưng em Hân của bé mặt mày lúc nào cũng lem luốc, chớ không sáng sủa như búp bê của bé. Bố bé thì đạp chiếc xe "cóc cách" chứ không đi xe hơi như "ba" bé. Nhưng cũng có đôi lúc bố mẹ làm cho bé và cu Hân sung sướng là... lúc mẹ bán hàng ế, đem về nhà một gánh chè khoai, món chè mà bé thích nhất, và hôm ấy bé mí lị cu Hân được một bữa no nê. Qua rồi, những hình ảnh nghèo đói, hiện tại thì bé được ấm no sung sướng lắm đến nỗi quên cả bố mẹ và cu Hân của bé.
 

Thuở trước, nhà nghèo quá, bố mẹ bé phải cho bé để một ông bạn giàu có đem về nuôi. Người mà bé gọi bằng "ba" bi giờ. Rồi bé lại đổi trường và đổi luôn cuộc sống. Hàng ngày, bé đi học bằng xe nhà, có ông tài xế lái, trưa lại rước bé về. Chiều thứ bảy, chủ nhật nào, "ba má" cũng dẫn các anh, các chị và bé đi xem hát, xem "cải lương" và ăn kem Mai-Hương, rồi có những bữa tiệc trong gia đình như: sinh nhật anh Đức, chị Lan, anh Linh hay bé chẳng hạn. Lúc đầu bé nhớ bố mẹ ghê lắm nhưng dần dần, sung sướng bé quên đi, vả lại lúc đầu ai ai cũng túc trực sẵn bên bé, hễ bé chực buồn, chực khóc thì tìm cách làm cho bé cười, bé vui... rồi bé chả còn thì giờ để nhớ đến bố mẹ, đến cu Hân nữa. Gần một năm rồi, bé thật hạnh phúc. Nhưng tình cờ, lúc nãy giờ tan học, ngồi trên chiếc xe hơi lộng lẫy màu đỏ chói, bé đang dựa mình vào đệm ghế xe, mồm "tóp tép" ô mai... bé bỗng thấy... dáng ai như bố bé và thằng cu Hân. Bé chợt níu tay bác tài, bắt bác phải dừng ngay xe lại... Ồ, đúng bố bé rồi, bố mặc sơ mi trắng đã ngả màu ngà, vá nơi lưng hai chỗ, bé nhìn rõ đấy chớ, thằng cu Hân đầu trần, chiếc quần "soọc" ngắn, ốm tong. Bố đang đạp xe đạp, thằng cu Hân phía sau, dáng đạp mệt mỏi... Bố và Hân thấy bé, bé chưa kịp gọi thì hai người bỗng lờ đi... Và bố rán sức đạp... Bé thương quá, lên tiếng gọi nhưng bố đã đạp xe vào một con hẻm chật chội. Bé thấy thằng Hân còn đưa đôi mắt to, đen, lại phía sau xe, lưu luyến nhìn bé... Bé khóc òa và bác tài đã vội nhấn ga...
 
*
 
Ngồi một mình trong phòng riêng, bé càng tức tưởi hơn. Xung quanh bé, nào giường đệm, nào bàn học xinh xinh, nào cái màn cửa đắt tiền.. Nhất nhất vật gì trong phòng bé cũng sang trọng cả. Bé tủi thân quá. Từ ngày bé về đây, bố mẹ không một lần ghé thăm... Trường hợp gặp bố hôm nay cũng như gặp mẹ... Hôm nọ, bé đang ngồi gọn trong lòng chị Lan trên sân thượng... Anh Linh đang cho từng miếng ô mai vào miệng bé... Bé chợt nghe thấy dưới đường, tiếng rao lanh lảnh. Bé vụt ra khỏi tay chị Lan, cúi nhìn xuống đường, rõ ràng là mẹ bé... Bé hét to: Mẹ, mẹ... Bà bán chè nhìn lên, bé thương cảm quá vùng chạy xuống nhà, mở cổng... thì dáng mẹ đã mất hút... Bé quay vào nhà thờ thẫn cả đêm hôm ấy... Đến hôm nay bé quên mất rồi, nhưng hình ảnh bố và Hân khiến bé nhớ đến ba người thân yêu ghê gớm... Sao mẹ, bố và Hân lại tiều tụy thế nhỉ? Vì nghèo khó, trời ơi còn bé, bé sang quá, giàu quá, tại sao bố mẹ và em bé phải nghèo, hở? Trong lúc bé thế này mà gia đình bé thế kia, bé bỗng thấy lòng thương bố mẹ và em nổi dậy mãnh liệt, sự ruột rà thân yêu và sang giàu đang cấu xé bé. Bỏ khung cảnh êm ấm ở đây để về với bố mẹ với em Hân ư? Hay đành bỏ ruột thịt của mình mà ở đây. Mẹ sinh bé, bố nuôi bé, và em Hân chơi với bé... Gia đình bé nghèo, không có bé, có lẽ buồn nhiều hơn. Nhà bé hoang vắng quá. Lâu nay, không có bé, Hân chơi với ai? Gánh chè ế mẹ đem về Hân ăn một mình đâu có hết. Giờ bé cảm thấy ngồi trên chiếc xe đạp "cót két" của ba để đi vòng quanh phố thì tuyệt. Nhưng làm sao đây? Giờ thì bé chẳng thích ở đây nữa, bé hổng thích xe hơi nhà lầu, đồ chơi gì nữa á! Hổng phải bé hổng thương "ba má" và anh Đức, anh Linh, chị Lan đâu, tại bé thương bố, yêu mẹ và nhớ bé Hân của bé ấy. Nhưng bé hổng biết làm sao để về nhà được, bé còn nhỏ quá. bé hổng có bao giờ giải quyết được chuyện gì xong xuôi cả á. Giá giờ bé lớn nhỉ? Bố mẹ ơi, bé nhớ bố mẹ lắm, bé yêu bố mẹ lắm, nhớ kinh khủng đi lận. Nhất là cu Hân... Sao Hân ốm quá? Hức, bé khóc lên... Và giờ bé hổng thích, hổng mong gì nữa hết, bé chỉ ước một điều duy nhứt là: được trở về với thiên đường hạnh phúc , có bố mẹ, có thằng cu Hân lem luốc và gánh chè khoai ế của mẹ bé... Bé chắp tay "Lạy Chúa... bé cầu xin", căn phòng vang tiếng nấc.
 
 
C.M T2      
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 93, ra ngày 15-7-1968)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>