Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

Bẩy Kỳ Quan Trên Thế Giới


KỲ QUAN THỨ NHẤT:
 
KIM TỰ THÁP CHÉOPS 
 
Vào khoảng 2640 năm trước Tây lịch, Chéops, vị vua thứ tư của triều đại xứ Ai cập, đã truyền lịnh rằng ông ta muốn xây cất một ngôi mộ mà sự đồ sộ và vẻ tôn nghiêm của nó làm lu mờ cả vầng thái dương. Hàng trăm ngàn nô lệ phải làm công tác đó ròng rã trong 20 năm. Ba giống dân Nubi, Do thái và Berbères đã cùng gắng sức làm việc, đã cùng chia xẻ những nỗi nhọc nhằn, đã cùng chịu những làn roi tàn bạo của bọn giám thị, và sau hết, đã cùng chết vì công trình xây cất đó...
 
Theo sử gia Hérodote, nhà mồ đục sâu vào một tảng đá, làm thành hình một hòn đảo. Được bao bọc bởi nước sông Nil, do một dòng nước ngầm chảy vào Kim tự tháp được xây từng bậc một và tiếp tục cho đến chót thì hoàn tất.
 
Suốt 20 năm, Ai cập chìm đắm trong sự thống khổ. Người ta phải đóng cửa đền thờ, hạn chế các lễ nghi tôn giáo, đặt ra các sắc thuế mới và ra lịnh cho dân chúng phải trợ lực với nô lệ. Để xây dựng Kim tự tháp cao 146,59m nầy, người ta đã sử dụng hết 2.300.000 khối đá, mỗi khối nặng 2 tấn rưỡi.
 
Người ta đã dùng những thân cây thấm ướt, chêm vào kẽ hở của những tảng đá để đẩy chúng bể ra, sau đó dùng bè gỗ chuyển qua sông Nil, rồi dùng những xe trượt lôi tuột chúng trên cao nguyên Al Gizah. Nô lệ đã dùng tay đem những tảng đá từ bậc nầy lên bậc kế tiếp, chớ không sử dụng đến những máy cất đồ nặng thô sơ làm bằng thân cây mà trước kia người ta đã biết.
 
Từ đó đến nay, đã gần 5.000 năm trôi qua. Trong tất cả những kiệt tác mà người xưa mệnh danh là 7 kỳ quan thế giới, chỉ còn Kim tự tháp là tồn tại hầu như nguyên vẹn. Nó chính là vết tích của một nền văn minh xa xưa còn tồn tại đến thời đại chúng ta, bởi vì với thời gian nó đã trở thành một sản phẩm của thiên nhiên. 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 2, ra ngày 22-8-1971) 
 
 
KỲ QUAN THỨ NHÌ:
 
VƯỜN TREO BABYLONE 
 
Chính ở Nabuchodonosor có những vườn treo, mà theo một truyền thuyết vô căn cứ phát xuất sau nầy, cho rằng đó là của vua Semiramis. Ông đã phá hủy khu Ninive l' Assyrieune vào năm 606 trước Tây lịch, vì muốn xây cất một thành phố có một không hai. Người ta kể rằng, ông đã quyết định thiết lập khu vườn lừng danh nầy để tặng vợ ông là Charisse, con gái vua Hèdes.
 
Trước hết, đó là một công trình kiến trúc vô cùng táo bạo. Vườn treo thu gọn trong một cơ sở hình vuông, mỗi cạnh dài 140m, gồm nhiều tầng nóc bằng, gác lên nhau theo một lối, mà nếu từ dưới nhìn lên, người ta thấy giống như những bậc thềm có trồng cây cối hiếm hoi, quí giá và bông hoa rực rỡ. Dưới mỗi tầng là một hành lang, mà theo sử gia Strabon kể lại, thì những hành lang nầy có trần được chống giữ bằng những cột vuông lớn đặt cách khoảng nhau. Lòng cột rỗng, được dồn đầy đất để nuôi cây và để rễ cây lớn có thể ăn sâu xuống. Những hành lang nầy được trang hoàng lộng lẫy và sắp xếp khéo léo nên người ta có thể dùng làm nơi tổ chức những buổi lễ. Một hệ thống dẫn nước phức tạp có thể đưa nước lên tận đỉnh của những tầng cao nhất, nơi đó nước phun thành những tia lấp lánh trông rất đẹp mắt. Trên trần của mỗi hành lang, người ta đặt một cái vỉ bằng sậy phết nhựa lên, một dãy gạch nung gắn dính nhau bằng thạch cao, rồi đến những tấm chì mỏng, sau cùng là đất phân. Ngay vào thời Alexandre, vườn treo Babylone vẫn còn giữ nguyên được sắc thái của nó.
 
Ngày nay, các nhà khảo cổ đã tìm ra được những dấu vết của vườn treo này.
 
 
KỲ QUAN THỨ BA:
 
LĂNG TẨM HALICARNASSE
 
Mặt nhìn ra biển, cách Halirarnasse, thủ đô xứ Carie một quãng ngắn, một ngôi nhà mồ sừng sững hiện ra. Nó được xây cất từ năm 1.100 sau Tây lịch, được chú ý bởi những cột cẩm thạch, bởi sự chạm trổ tinh vi ; nó đã làm chóa mắt người xem bởi sự trang hoàng rực rỡ và bởi kích thước phi thường của nó.
 
354 năm trước Chúa giáng sinh, sau một triều đại thanh bình thịnh trị, vua Mausole của xứ Carie thăng hà, hoàng hậu Artémise, vợ của nhà vua, quyết định xây cất cho ông một ngôi mộ để làm sống lại những kỷ niệm của hoàng đế trong lòng bà. Bà cho mời những nghệ sĩ tài danh của Hy Lạp, điêu khắc gia như Seopas, Briaxys, Timothée, Léocharès và những kiến trúc sư như Saturos, Pythis... Hàng đoàn tàu chở đá cẩm thạch từ Doclécanèse, nô lệ và ngay cả thường dân, thúc đẩy bởi sự tri ân để làm vinh dự cho vị vua tiếng tăm của họ, đã đến để bắt tay vào việc. Hoàng hậu luôn luôn hiện diện để khích lệ và hối thúc họ làm nhanh vì bà sợ rằng mình sẽ chết trước khi hoàn tất công trình. Thật thế, bà đã chết sau chồng bà hai năm. Dân chúng đã đặt bà nằm cạnh người chồng mà bà hết lòng thương mến. Ngôi mộ Mausole cao 22m, chu vi 133m và được bao quanh bởi vô số cột.
 
Mười tám thế kỷ sau, công trình kiến trúc đó đã bị tàn phá bởi những quân trộm cướp. Vào năm 1856, người Anh đã tìm ra di tích và đưa những mảnh vỡ, những khúc gẫy về Luân Đôn.
 
 
KỲ QUAN THỨ TƯ:
 
ĐỀN THỜ NỮ THẦN DIANE Ở EPHÈSE 
 
Mảnh đất mà ngày nay làng Aia Soluk của Thổ Nhĩ Kỳ tọa lạc, ngày xưa là thánh địa của thần nữ Diane. Dân chúng vùng Ephèse đã tìm thấy ở vị thần linh nầy một năng lực sáng tạo thiên nhiên. Bà được tượng trưng bằng con ong, và vị đại tư tế được gọi là vua của loài ong. Bà được mô tả dưới hình dáng xác ướp của một người con gái để trần lộ ngực.
 
Đền thờ ở Ephèse đã bị phá hủy và đã xây cất lại nhiều lần, nhưng bao giờ cũng giữ được vẻ huy hoàng tráng lệ.
 
Khắp Á châu người ta đều nói đến một kho tàng chôn giấu dưới hầm của ngôi đền, vì thế các nhà tư tế canh giữ rất nghiêm mật. Người ta cũng đã tán dương lối kiến trúc lộng lẫy của ngôi đền, do thiên tài Chersifron và Métagène, công trình điêu khắc để trang hoàng ngôi đền của điêu khắc gia Scopas và Praxitèle.
 
Ngôi đền Ephèse được chú ý, không phải vì kích thước như Kim tự tháp, mà vì sự cân xứng và hòa hợp tuyệt vời của nó. Nhưng vào năm 356 trước Tây lịch, Erostate, một người loạn trí, sống nhờ vào của bố thí của khách hành hương từ các làng Hy Lạp ở Á châu về đã phóng hỏa ngôi đền với ý định làm cho mình bất tử bằng một hành động phạm thượng. Lúc bấy giờ đang đêm, mọi người đắm chìm trong giấc ngủ. Ngọn lửa đã thiêu hủy công trình có một không hai này một cách vô tình. Không ai lấy ra được một vật quí báu nào. Mãi nhiều năm sau, ngôi đền mới được xây cất lại theo đồ án cũ. Sử gia Pline Strabon đã mô tả lại rằng ngôi đền mới nầy dài 138m, rộng 71,5m, tường lát cẩm thạch, mái làm bằng gỗ cây bá, 127 cột của xứ Ionie cao 18m bao quanh chính điện, nơi đặt tượng nữ thần. Trong số đó, có 36 cột được trang hoàng, chạm trổ, do Crésus vua xứ Lydie, dâng biếu. Mặt tiền của ngôi đền, phía trên các cột, là một hình tam giác lớn, chạm trổ rất tinh vi, tao nhã. Bên trong đền, những bức họa trên tường đã lôi cuốn sự chú ý của du khách.
 
Hoàn tất năm 323 trước Tây lịch, kiến trúc nầy bị hư hại quá nửa, khoảng giữa những năm 260 và 268 sau Chúa giáng sinh, dưới triều đại của Gallien, do sự phá hoại của bọn lưu manh Goths, thuộc nước Đức. Sau đó, dân Aia Soluk, một giống người không biết thưởng thức vẻ đẹp, đã lôi những tảng đá của ngôi đền xuống mà xây cất nhà cửa. 
 
 
KỲ QUAN THỨ NĂM:
 
TƯỢNG THẦN JUPITER
 
Từ năm 668 trước Tây lịch cho đến năm 393 sau Tây lịch người Hy Lạp cứ bốn năm một lần, đã tổ chức lễ Quốc Khánh với nhiều nghi thức trọng thể.
 
Họ đã gặp gỡ và chúc tụng lẫn nhau ở thung lũng Élide, trong một cánh đồng nhỏ, phía Bắc và Tây Bắc giáp dãy núi Cornius và Olympe, phía Nam giáp sông Alphée, phía Tây giáp sông Cladeus. Họ hiến tế thần Jupiter Olympieu. Tên Olympic không phải để chỉ một thành phố mà đúng ra, để chỉ một sự hợp nhất các đền thờ và những di tích công cộng được xây cất lên vào những dịp lễ đó. Trong số các đền, ngôi đền thờ thần Jupiter được coi là đẹp nhất, tượng thần được đặt trên bệ thờ giữa đền. Kiệt tác nầy của Phidias. Tượng được làm bằng ngà voi un khói để giống màu da người. Tay phải ngài cầm một vật tượng trưng cho sự chiến thắng, vậy nầy bằng vàng khối cũng như bộ y phục khoác ngang hông của ngài.
 
Điêu khắc gia Phidias đã làm việc ròng rã suốt bốn năm trường. Người ta kể lại rằng : khi kiệt tác đã hoàn tất, trên không, một vầng hào quang rực rỡ bao phủ ngôi đền và sau đó sa xuống chân nhà nghệ sĩ.
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 3, ra ngày 29-8-1971)
 
 KỲ QUAN THỨ SÁU:
 
PHO TƯỢNG KHỔNG LỒ THÀNH RHODES
 
Vào năm 672 sau Chúa giáng sinh, khi dân Á Rập chiếm thành Rhodes, họ rất đỗi ngạc nhiên khi chợt trông thấy những mảnh vụn của một pho tượng khổng lồ. Nó đã nằm đó trong suốt 8 thế kỷ, bao phủ đầy rong rêu và sò ốc đủ loại. Tứ chi sứt, gãy, mặt úp xuống bùn: đó là tất cả những gì còn lại của pho tượng khổng lồ của thành Rhodes.
 
Pho tượng được khởi đầu bởi Charès de Linde, một người học trò của Lysippe, nhưng sau đó Lachès đã hoàn tất pho tượng với một phí tổn vĩ đại : 300 tấn đồng đỏ đã được dùng để đúc tượng nầy.
 
Bức tượng được dâng hiến cho thần Thái dương. Hai chân tượng giang ra, mỗi chân đặt một bên cửa vào hải cảng. Tay mặt tượng cầm một bó đuốc, tay trái, một chiếc cung và một giỏ tên đeo sau lưng.
 
Mỗi chiều, khi vầng thái dương sắp khuất ở chân trời, người gác dan lục đục leo lên gian phòng trên cao bằng một chiếc thang, châm lửa vào bó đuốc bên tay phải tượng để đôi mắt tượng sáng ngời lên và cũng để soi đường cho các thủy thủ ngoài khơi.
 
Năm mươi sáu năm sau khi hoàn thành, pho  tượng khổng lồ đã ngã xuống trong một trận động đất và không một ai bận tâm đến việc dựng pho tượng lại. Người ta đã lôi những mảnh vỡ lên và dùng vào những công trình xây cất mới.
 
 
KỲ QUAN THỨ BẨY:
 
HẢI ĐĂNG XỨ ALEXANDRIE
 
Hải đăng được phát minh và sử dụng ngay từ thời xa xưa, Homère cũng đã nhắc đến.
 
Ngọn hải đăng lâu đời nhất, mà sử sách đã ghi chép lại, là Hải đăng ở mũi đất Sigée, nhưng, nếu nói về danh tiếng, người ta phải kể đến hải đăng Ptolémée Philadenphe, do Sostrate de Cnide xây cất vào năm 279 trước Thiên Chúa, ở đảo Pharos ngay cửa vào hải cảng Alexandrie. Ngọn tháp Pharos cao khoảng 150m.
 
Giữa nhiều giả thuyết khác nhau, có một giả thuyết được xem là đáng tin nhất là: Ngọn hải đăng gồm ba phần. Phần thứ nhất là một tòa nhà hình chữ nhật, dùng làm nền tháp. Phần thứ nhì là một tòa nhà hình bát giác dùng làm văn phòng quan thuế và vọng canh. Phần thứ ba là chóp của ngọn tháp, để đốt lửa.
 
Ông đã dùng một loại gương phản chiếu bằng kim loại rất lớn, gương được đặt trên một trục dao động, vì thế ánh sáng phản chiếu tắt sáng từng hồi khiến ánh sáng hải đăng không bị nhầm lẫn với ánh sáng của các vì tinh tú.
 
Ngọn hải đăng Alexandrie rất kiên cố và bền bỉ với thời tiết bất thường nhưng cuối cùng đã bị phá hủy vào thế kỷ thứ bảy, theo lệnh của Tổng đốc xứ Alexandrie vì người ta tin rằng nơi đó ẩn giấu một kho tàng. 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 4, ra ngày 5-9-1971) 
 

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

Sức Nóng Từ Than Bùn

"Sức nóng từ gì?" "Từ THAN BÙN". Than đó là gì? Nó lấy ở đâu? Dùng nó thế nào? Các bạn có thể thắc mắc tự hỏi.
 
Than bùn là phương tiện để đun của dân cư trên quần đảo Faulkland, vài nơi trong xứ Tô Cách Lan và ít nơi khác. Trong nhiều trường hợp nó là nhiên liệu độc nhất của họ.
 
Than bùn là một hỗn hợp của nhiều thực vật mủn nát chứa đựng hàng ngàn năm, cỏ mục, lau sậy, rong rêu hoặc những thảo mộc dưới nước cùng với phân chim và thú vật, hay những hóa hợp của các chất này đã tích tụ lại. Dưới những tình trạng ẩm ướt lý tưởng và một nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 7,22 độ bách phân, các vật liệu trên mủn nát và biến thanh bãi than bùn hay bãi lầy.
 
Tính chất của than bùn tùy thuộc vào những loại cây bị mủn nát, tuổi của nó hay thời gian làm mủn nát, tổng số sức ép của vật liệu ở trên. Tuy rằng một bãi than bùn thường âm ẩm, lỏng bỏng nước và xốp, nhưng nó đủ chắc để đỡ một xe vận tải hay xe chở hàng. Thật ra, bãi lầy trông giống như mọi cánh đồng hay ruộng cỏ khác. Vậy mà sau khi than bùn khô, nó cháy dễ như than.
 
Vi khuẩn và những sinh động vật khác giúp làm mủn nát vật liệu cây cỏ ở trên mặt. Tuy thế, ở sâu dưới hơn lại không có hình trạng sự sống nào xuất hiện. Nếu ta nhìn ngoài mặt than bùn, nó trông giống một đám cỏ thường. Nó có nhiều lỗ nhỏ, đầy rễ và thực vật khác ; nó cháy rất nhanh. Đào xuống càng sâu thì rễ càng ít và than bùn lại càng tốt.
 
Than bùn có thể thay đổi từ một thứ than xốp có thớ nâu hay vàng nhạt ở mặt bãi lầy tới một thứ cứng dòn màu nâu sậm ở đáy. Loại than này rất tốt, gần như than bùn đen, khi khô sẽ gẫy vụn giống than. Nó được sinh ra trong nhiều lớp, nhờ vậy mà người ta có thể tách rời thành nhiều mảng mỏng hơn. Giống như than, bà con của nó, nó có thể được người ta đút vào lò để giữ lửa qua suốt một đêm đông dài lạnh lẽo. Tuy nhiên, than bùn chỉ sản xuất được độ phân nửa nhiệt lượng so với một số than đồng lượng. Giá trị nhiệt lượng của nó ở gần khoảng giữa gỗ và than.
 
Những bãi than bùn có độ sâu rất chênh lệch nhau. Gần Port Stanley, quần đảo Faulkland, nó ít khi sâu tới 3.6m mà thường thường chỉ 1,8m thôi. Ở những đảo khác người ta nói rằng nó xuống sâu gần đến 12m. Than bùn đóng cặn trên đảo South Georgia được ước lượng có tuổi khoảng hàng ngàn năm và chiều sâu đo được chừng 4m.
 
 
MỘT NHIÊN LIỆU DỄ KIẾM
 
Ở nhiều nơi trên quần đảo Faulkland người ta chỉ cần bước ra khỏi nhà họ và tự lực lấy than bùn bao nhiêu cũng được. Tuy nhiên, trong thành Port Stanley, sự dùng than bùn được chính phủ chỉ dẫn, và nó được phân phối cho mỗi nhà khỏi cần phải trả tiền do một viên chức gọi là "viên chức than bùn" hay "viên chức nhiên liệu". Khi người ta bán một cái nhà, thì vùng than bùn tương xứng cũng tự động bị bán theo. Những nhà mới xây cũng nhận được một bãi than bùn chuyển nhượng lại ; và khi dùng hết bãi than đó rồi người ta lại được chuyển nhượng một bãi khác. Người ta muốn dùng bao nhiêu cũng được, tùy ý.
 
Than cung cấp cho đô thị bắt đầu ở vòng ngoài của thành phố và trải dài nhiều dặm. Tuy rằng chính phủ nắm giữ sự kiểm soát những bãi than, mỗi gia đình phải đảm trách việc cắt xén, chuyên chở và dự trữ than để dùng riêng. Hàng năm, một gia đình thường cần từ 130 tới 180 thước khối than bùn hay hơn nữa.
 
 
CHUẨN BỊ THAN ĐỂ DÙNG
 
Than bùn được đo và cắt khỏi bãi thành từng khối vuông 9 tấc. Sau lần cắt này người ta cắt đến một tầng khác 3 bộ sâu (một bộ = 1 foot = 3 tấc) và người ta cứ làm như vậy mãi cho đến khi hết than hay đã chạm đến lớp đá trong lòng đất. Những lớp than nầy gọi là "lớp cắt thứ nhất", "lớp cắt thứ nhì", "lớp cắt thứ ba" v.v... Càng cắt xuống sâu bao nhiêu thì than càng tốt bấy nhiêu.
 
Khi cắt hay đào than bùn người ta phải chú ý đến sự tháo nước thích hợp cho bãi lầy. Tuy người ta đã thí nghiệm cắt hay đào than bùn bằng máy, nhưng phương pháp đào bằng xuổng tay vẫn là phương pháp có hiệu quả nhất trong vùng này. Cái xuổng bén nên được dùng để cắt than thành những khối nhỏ cỡ giống nhau thường là cỡ 1 gang dài, một gang rộng và 2/3 gang dầy. Sau đó, những khối than bùn ẩm ướt ấy được trải ra phơi cho hơi khô, rồi chất thành từng đống nhỏ, mặt rộng của cục than quay lên để dễ bay hơi.
 

Sau khi khô được chừng một tháng người ta lấy than bùn về nhà và xếp đặt gọn ghẽ trong một "chái chứa than bùn" để dành đốt từ từ. Than phải có đủ sức ẩm mới mong giữ được hình dạng lúc ban đầu không bị vụn. Nếu than bùn khô quá và nát nhỏ nó sẽ khó hốt hơn và người ta phải xúc bằng xẻng như xúc bùn. Loại bùn nhuyễn nầy cháy rất dữ dội trong lò và sanh ra những cứt than khô, thay vì loại tro mịn màu xám đỏ thông thường.
 
Chái chứa than bùn của gia đình xây bằng những tấm ván cặp lại đặt cách nhau vài phân để dễ thông hơi. Những chái này đủ sức chứa than dùng trong một hay hai năm. Bây giờ than bùn đã sẵn sàng để tạo ra sức nóng, hoặc trong lò nấu, lò đun hay lò sưởi.
 
Lấy than bùn vào nhà là một công việc thường nhật nhẹ nhàng. Khi người ta lấy than từ chái vào, người ta đập nhỏ nó ra tùy theo ý thích. Muốn lửa mau nóng, người ta đập than thành những miếng nhỏ để nó cháy nhanh. Những miếng càng lớn thì cháy càng chậm và phát ra một sức nóng đều đều.
 
Ban đêm, trong nhà đều tối om chỉ trừ ánh sáng rực rỡ phát ra từ lò sưởi đốt than bùn, ta ngồi trước đó, nhìn những ngọn lửa xanh, lam, vàng, đỏ chập chờn nhảy múa, nó mới mê ly làm sao! Và bây giờ ta cảm thấy ấm cúng dễ chịu trong một căn nhà thoải mái mà mượn sức nóng từ than bùn.
 
 
TRẦN THẾ NGỌC         
(dịch trong tạp chí "AWAKE")   
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 135, ra ngày 15-8-1970)
 

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

Khi Núi Lửa Xuất Hiện


Xế trưa ngày thứ bảy 20-2-1943, chủ nhân nông trại nhỏ nọ, cách xa thành phố Mễ-Tây-Cơ chừng một trăm tám chục dặm về hướng bắc, tên Dio Pulido là người duy nhất chứng kiến từng giây từng phút sự xuất hiện của núi lửa cho tới lúc tàn lụi.
 
Lúc đó, Pulido vừa cấy xong thửa ruộng nên ngừng lại nghỉ ngơi đôi phút cho khỏe. Đang ngắm nhìn cảnh vật chung quanh, bỗng dưng Pulido thấy cách chỗ ông đứng vào khoảng sáu chục thước và ngay giữa ruộng ngô của mình một cột khói mỏng màu trắng cuồn cuộn bốc lên tựa con rắn hổ mang uốn éo ngóc đầu đưa đẩy toàn thân theo điệu kèn của nhà nghệ sĩ Ấn Độ.
 
Ngay từ sáng sớm đã có dấu hiệu khác thường vì mặt đất rung chuyển lạ lùng. Tới trưa, giữa lúc Pulido cặm cụi cày xới, ông cảm thấy chân mình nóng ran như đi trên lửa. Còn đang phân vân trước hiện tượng này thì tự nhiên ruộng ông bốc khói. Và khi Pulido bước lại gần để quan sát kỹ càng cùng tìm hiểu nguyên nhân, một tiếng nổ nhỏ chẳng khác gì âm thanh khô khan phát ra mỗi lần ta mở nút chai rượu vậy. Kế tiếp, cột khói dần dần lớn hơn rồi phun lên cao vì bị sức mạnh vô hình từ trong lòng đất ép cho vọt ra ngoài. Quá lo sợ, Pulido vội vã chạy ngay về nhà báo tin cho vợ biết.
 
Kể từ giờ phút ấy, gia đình Pulido hết còn dịp thấy lại ruộng nương, vườn tược của mình nữa, vì trong khi ông giục vợ mau mau chạy ra khỏi nhà thì cũng là lúc một cơn động đất dữ dội vật ngã ông. Cơn động đất này thật khủng khiếp bởi 1 máy ghi địa chấn đặt tại Nữu Ước, cách xa tới hai nghìn hai trăm năm chục dặm còn đo được cường độ cực mạnh sự rung chuyển ấy. Pulido cố gắng nhỏm dậy. Ông nhìn ra ruộng lúa nhưng chỉ thấy một biển lửa lẫn với các tảng đá nho nhỏ, đất cát văng tứ tung lên cao.
 
Quên cả hiểm nguy, Pulido liều chết dẫn vợ cố gắng băng qua vùng đất rung chuyển để tới làng Paricutin kế bên, nhưng nơi này cũng đang bị tàn phá, và dân làng cũng hốt hoảng ùn ùn tìm cách lánh nạn.
 
Đêm hôm đó, Paricutin không chìm ngập trong bóng tối như thường lệ, mà trái lại, núi lửa đã soi sáng cả một vùng trời đầy khói, tro, bụi và hơi nóng bốc lên hừng hực. Nhiều tia lửa vụt tung lên cao kèm theo biết bao tảng đá bị "bắn" lên không trung tới cả ngàn bộ chứ không ít. Những tiếng nổ đinh tai nhức óc tựa hồ hàng trăm khẩu đại bác cùng khai hỏa một loạt khiến mặt đất rung chuyển khủng khiếp. Từng đám mây tro, bụi dầy đặc bay đi xa đoạn rơi xuống bao phủ toàn thể thành phố Mễ Tây Cơ cách đấy một trăm tám chục dặm đường.
 
Chưa hết, sang tới tối ngày thứ ba, dung nham từ miệng núi lửa bắt đầu tràn ra ngoài. Lớp dung nham này, đặc sền sệt lại sôi sùng sục, dâng lên liên tiếp để rồi chẩy xuống sườn núi tạo thành dòng suối lửa vĩ đại với bề dầy tới sáu thước, ngang sáu chục thước hơn. "Nước" suối lúc đầu trắng sáng chói lóa cả mắt, sau đỏ đổi thành đỏ thắm từ từ trôi theo đường dốc đổ lênh láng xuống thung lũng. Dòng suối dung nham đó lan tơi đâu là thiêu hủy mọi sinh vật tới đó.
 
Nhận được tin một ngọn núi lửa mới xuất hiện, chính phủ Mễ Tây Cơ phái nhân viên, khoa học gia tới vùng gặp thiên tai. Nhiều phóng viên nhà báo, nhiếp ảnh viên cũng có mặt tại chỗ. Họ băng qua thửa ruộng của Pulido giờ đây chìm ngập trong lớp phún xuất thạch để hướng về phía núi lửa. Họ tìm cách tới gần tấm màn lửa vĩ đại kia, và ở lại đây ít ngày để nghiên cứu về sự xuất hiện đột ngột của ngọn núi lửa mới mẻ mang tên ngôi làng nơi nó tàn phá khốc liệt: núi lửa Paricutin.
 
Cho tới ngày mồng 10-6-1943, người ta vẫn còn nghe thấy tiếng nổ dữ dội phát ra từ núi lửa Paricutin. Lần này, một dòng suối dung nham thứ nhì tiếp tục chẩy ra chầm chậm. Lúc đầu tốc độ di chuyển của dung nham khoảng ba trăm thước một ngày, nhưng một tháng sau chỉ còn chừng ba thước mà thôi.
 
Tính ra trong vòng bốn năm tháng, núi lửa Paricutin đã chôn vùi hai thung lũng dưới khối lượng dung nham vĩ đại cùng phún xuất thạch gồm nhiều tảng đá và tro, bụi cùng đất cát. Cho tới ngày ngưng hoạt động, núi lửa Paricutin đã dâng cao khỏi mặt đất ba trăm sáu chục thước hơn với bốn trăm lẻ hai thước đường bán kính dưới chân núi. Ngày nay du khách có thể nhìn thấy núi này từ xa bẩy mươi lăm dặm.
 
Khi kiểm điểm lại, người ta chỉ còn thấy mầu đen bao phủ mọi vật trong làng Paricutin. Bao ruộng vườn, nhà cửa, đường xá, cây cối đều biến mất ngoại trừ ngọn tháp của một ngôi thánh đường nhô lên ngạo nghễ giữa lớp dung nham khô đặc. Làng Uruapan cách ngọn núi lửa hai chục dặm cũng vậy, các mái nhà đều bao phủ nhiều lớp tro, bụi dầy cộm.
 
Chung quanh làng Paricutin khoảng một trăm dặm, cỏ dại cũng không còn nữa, vì tất cả đã chết mỗi khi cơn gió đưa từng đám tro bụi nóng bỏng từ vùng núi lửa tới. Chim chóc đang bay mà lạc vào đám mây tro bụi đó còn bị chết trước khi rơi xuống đất nữa thì làm sao cây cỏ sống nổi.
 
Tóm lại núi lửa Paricutin đã đem đau thương tang tóc đến cho bẩy ngôi làng kế cận với biết bao đổ nát khủng khiếp. Sự hoạt động bất thần của núi lửa này đã thay đổi hoàn toàn miền đất trù phú ở Mễ Tây Cơ.
 
Chính phủ cấp tốc gửi nhiều bác sĩ, y tá và công nhân tới để lo săn sóc sức khỏe cùng giúp đỡ hơn tám nghìn nạn nhân dựng lại nhà cửa, trong đó có Pulido người duy nhất chứng kiến sự xuất hiện của núi lửa Paricutin.
 
 
ĐẶNG HOÀNG      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 105, ra ngày 31-8-1973)
 

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

Con Thằn Lằn


Với dáng điệu ngái ngủ và đôi mắt lờ đờ như người say rượu, chú chậm chạp thò ra cửa hang. Chú nghếch cái đầu nhỏ bé lên, giương to đôi mắt, quay bên nọ, ngó bên kia đúng điệu... con nai vàng ngơ ngác, trong khi cái lưỡi xẻ đôi của chú thò ra thụt vô y như một cái máy.
 
Chú là con cháu của một chi họ thằn lằn rất quen thuộc với thân hình be bé xinh xinh: "Thằn lằn Vách". Sở dĩ chú có cái điệu bộ e dè, ngây thơ như vậy là vì chú muốn biết chắc trời hôm nay đã thật ấm áp chưa? Vốn sợ lạnh, chú rất kỵ mùa đông và lúc nào cũng muốn đầm mình trong ánh sáng rực rỡ của mặt trời. Chú đã nhận ra cảnh vật quen thuộc ở chung quanh. Tất cả đang chan hòa ánh nắng. Chú cất bước, nhẹ nhàng lách qua các viên đá, cụm cỏ, rồi leo tót lên đỉnh tường: "Ôi! Trời trong sáng và ấm áp làm sao!"
 
Chú đưa qua đưa lại cái đuôi dài mềm mại ra chiều thích chí lắm. Ánh sáng như tưng tiu, vuốt ve chú. Đối với chú, không còn giây phút nào khoan khoái, thú vị cho bằng lúc này! Vốn thuộc dòng máu lạnh, chú rất cần sức nóng để sưởi ấm thân hình đã bị rét cóng trong suốt mùa đông. Chú đang thở, và thở như điên. Mình chú phồng lên, xẹp xuống, theo một nhịp khá nhanh. Người ta bảo chú thở như thế là vì chú hồi hộp hay lo sợ một điều gì. Nhưng sự thật không phải vậy.
 
Trong những lúc phơi mình dưới ánh sáng mặt trời, vẻ đẹp toàn diện của chú mới thật sự hiện ra. Tuy chú không có mầu sắc lộng lẫy của loài thằn lằn Xanh, nhưng những mầu sắc dịu dàng của chú cũng đủ sức hấp dẫn và tạo nên một sự hòa hợp đáng yêu. Màu da của chú thay đổi luôn. Thường thì xam xám, đôi khi vàng sẫm hay xanh lá cây điểm những khoang xanh dương.
 
Ngoài ra, những cử chỉ mềm mại và dáng dấp nhanh nhẹn cũng là những yếu tố làm tăng vẻ đẹp của chú.
 
 
THẰN LẰN DI CHUYỂN RA SAO?
 
Căn cứ vào bốn cái chân trông thấy rõ ràng, người ta cho rằng loài thằn lằn của chú đi bằng chân, nghĩa là cũng ắc ê, một, hai y như mấy chú khuyển của chúng ta ở nhà. Thật ra thằn lằn không có lối đi như vậy. Lối đi đó có vẻ tầm thường quá chăng, nên thằn lằn Vách mới có một lối đi độc đáo hơn: đi bằng lối vặn mình.
 

Theo lời của những nhà sinh vật học thì sở dĩ chú đi như vậy là vì chân của chú mọc rất ư là vô duyên. Thay vì phải mọc thẳng xuống phía dưới để đỡ lấy thân mình thì chúng lại mọc chình ình ra hai bên hông như bốn cái bơi chèo. Thành thử mang tiếng là loài có chân mà rồi lúc nào thằn lằn ta cũng phải nằm ẹp xuống mặt đất như bị bán thân bất toại vậy.
 
Mỗi lần muốn đổi chỗ, chú đành phải kéo lê cái bụng đầy vẩy trên mặt đất: hai chân trước lấy tấn, bám chặt vào mặt đất, rồi vặn mình mạnh một phát để đưa tấm thân chéo lên phía trên. Sau đó đến lượt hai chân sau gồng lên, ấn mạnh xuống đất, rồi lại vặn mình ngược lại một phát nữa, hai chân sau đã đẩy cả người chú lên phía trước. Cứ thế, tùy theo đường đi dài hay ngắn mà chú uốn éo, õng ẹo bằng thích. Có một điều bạn nên lưu ý là "trăm hay không bằng tay quen" ; nếu ta mà phải đi theo kiểu này thì ba bẩy hai mươi mốt phát vặn vẹo là ta đã cảm thấy xương sườn xương sống muốn long ra từng chiếc, nếu không thì cũng phải há mồm, trợn mắt, thở không ra hơi nữa. Nhưng đối với mấy chú thằn lằn thì khác, vì đó là nghề của mấy chú ; nên các chú ưỡn bên nọ, ẹo bên kia một cách rất mềm mại và nhanh nhẹn: nhiều khi ta khó lòng thấy rõ và đã tưởng mấy chú đi theo lối thông thường.
 
 
ẢO THUẬT
 
Vào những ngày ấm áp, thằn lằn ta hoạt động rất hăng hái. Chú săn mồi cả ở trên tường lẫn dưới đất. Nhện, sâu bọ, côn trùng, kiến... là những món nhậu ngon tuyệt cú mèo đối với chú. Mỗi khi tóm được con mồi nào, chú không cần dùng chân để ghì, chỉ một cái lưỡi phóng mạnh ra trước độ mấy xăng-ti-mét, rồi lại thụt vào. Thế là con mồi đã nằm gọn trong cái mồm khá lớn của chú rồi! Chỉ trong chốc lát, nạn nhân đã bị nghiền nát giữa hai hàm răng nhỏ li ti thường mọc ngược vào phía trong và chú chỉ việc nuốt chửng một cái là xong. Cứ thế, một, hai, ba lần... trong nháy mắt, không biết bao nhiêu con vật nhỏ bé đã lần lượt chui vào nằm gọn trong bao tử của chú.
 
Nhưng chú cũng phải coi chừng. Nếu không mắt trước mắt sau đề phòng bất trắc, có thể đến lượt chú là nạn nhân đáng thương hại: mấy anh rắn lục, chim và chuột xạ lúc nào cũng sẵn sàng ăn sống, nuốt tươi chú. Trong trường hợp nguy hiểm, chú thường vắt đuôi lên cổ chạy như ma đuổi, chứ không dám làm gì cả.
 
 
SINH SẢN
 
Tới mùa hôn nhân, thằn lằn cái cũng như thằn lằn đực đều không thích sống trong cảnh đơn độc. Bởi vậy, người ta thấy anh chị túm năm tụm ba thành từng đàn trên các bức tường đầy ánh nắng.
 
Rồi thằn lằn cái đẻ trứng vào một cái hố đào sẵn ở dưới đất, hoặc trong một hang hốc tự nhiên nào đó. Đẻ xong, cô nàng dông tuốt, không thèm ngó ngàng tới lũ con (thường từ 3 đến 9 trứng). Trong một thời gian ngắn, những trứng này phồng lớn lên để đạt tới chiều cao độ 15 mm.
 
Sau 6 tuần, thằn lằn con ở trong trứng sẽ dùng một chiếc răng mọc sẵn ở đầu mồm, đục thủng trứng mà chui ra. Sau 6, 7 ngày sống lăn lóc trên mặt đất, thằn lằn con sẽ dài ra, nhưng không quá 6 cm và trở nên nhanh nhẹn. Bấy giờ là lúc chúng có thể bắt đầu mở các cuộc săn mồi y như cha mẹ chúng.
 
Thằn lằn con tăng trưởng rất nhanh. Chỉ một năm sau, chúng đã dài 15 cm. Sau 4 hay 5 năm, chúng sẽ đạt được độ dài lớn nhất là 20 cm. Chúng làm quen với cảnh vật rất mau.
 
Có một điều ta không thể ngờ được là thằn lằn cũng rất khôn. Chúng có thể nhận được ra ai là người thường mang thức ăn đến cho chúng. Trong trường hợp này, chúng thường a la xô nhảy vào lòng bàn tay chủ để giành giật mồi. Nếu không thấy thức ăn, chúng liền ngước đầu lên nhìn chủ bằng đôi mắt long lanh rất dễ thương.
 
Nếu được nuôi nấng đầy đủ, một chú thằn lằn Vách có thể sống tới 10 năm.
 
Khi được một tuổi, chú bắt đầu thay "áo" vào mỗi mùa hè. Da chú được tạo nên bằng những chiếc vẩy cứng kết hợp thành những mảng nhỏ khác nhau. Nhưng vẩy của chú khác với vẩy cá ở chỗ vẩy cá thì chiếc nọ xếp chồng lên chiếc kia như ta lợp ngói ; đằng này vẩy của chú chỉ mọc sát bên nhau mà thôi. Khi thay "áo", từng tảng da sẽ tách ra theo những đường ngoằn ngoèo rồi rơi xuống, trong khi lớp da mới từ từ xuất hiện để thay vào.
 
 
PHÂN LOẠI
 
Dưới đây là bốn loại thằn lằn chính: (xin xem hình)
 
1 - Thằn lằn Khoan: đây là giống thằn lằn to nhất bên Âu Châu, đôi khi chiều dài đo được 60 cm ; nguyên cái đuôi cũng tới 40 cm. Giống này khá dữ và sẵn sàng tấn công bất cứ con mồi nào còn sống. 
 
2 - Thằn lằn Xanh: người ta nhận ra giống thằn lằn này rất dễ nhờ ở thân hình thon thon và màu da sáng bóng. Chiều dài dài nhất là 40 cm, riêng cái đuôi đo được 25 cm. Dưới ánh nắng thích hợp, thằn lằn Xanh trở nên nhanh nhẹn và dữ tợn. Mỗi khi đụng độ với đối phương, giống thằn lằn này thường quyết chiến đến một mất một còn mới thôi. 
 
3 - Thằn lằn nhanh nhẹn: tên này có lẽ không thích hợp, vì mang tiếng là nhanh nhẹn, nhưng chúng lại không nhanh nhẹn bằng hai giống trên. Người ta thấy giống thằn lằn này ở bên Âu Châu và hay làm tổ giữa các rễ cây.
 
4 - Thằn lằn đẻ con: tên thì gọi vậy, chứ giống thằn lằn này cũng đẻ ra trứng. Có điều khi vừa lọt lòng mẹ, trứng nở ngay ra con, đôi khi cũng phải chờ một thời gian sau mới nở. Đây là giống thằn lằn có thể sống ở độ cao rất lớn (3.000 m tại núi An-pơ). Mỗi con đo được 17 tới 18 cm.
 
 
VĂN TRUNG        
(Viết theo Tout Univers) 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 103, ra ngày 17-8-1973)
 

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

Phan Thanh Giản

 
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình nay thuộc làng Bảo Thạnh, quận Ba Tri tỉnh Kiến Hòa.
 
Ông mồ côi mẹ từ thuở vừa 7 tuổi, lức nhỏ theo học nhà sư Nguyễn văn Noa tại chùa Phú Ngãi.
 
- Năm 1815 ông phải khổ sở một thời gian vì cụ thân sinh ông đương làm quan, bị người vu cáo đến phải tù tội.
 
- Năm 1825, ông thi đỗ cử nhân tại Gia Định.
 
- Năm 1829, dưới triều Minh Mạng được tiến chức Hình bộ Lang Trung, rồi đến Phủ Doãn Thừa Thiên.
 
- Năm 1834, được thăng Đại Lý Khanh sung Cơ Mật Đại Thần
 
- Năm 1835, được bổ làm kinh lược Trấn Tây. 
 
- Năm 1836 vì tội can vua đình ngự giá đến núi Ngũ Hành, nên bị giáng chức làm lục phẩm thuộc viên, lo việc quét dọn bàn các công đường.
 
Khi các quan xử kiện ông khoanh tay đứng hầu, các quan thấy vậy lấy làm ái ngại, nói với ông:
 
- Xin quan lớn tìm chỗ ngồi, nếu quan lớn hầu chúng tôi như thế, chúng tôi làm sao ngồi yên để làm việc!
 
Ông đáp:
 
- Xin các ông cứ chu tất công việc các ông. Riêng tôi, vua phán sao tôi nghe  vậy.
 
Hai tháng sau ông lại thăng Thị Lang Hộ bộ sung cơ mật viện Đại Thần.
 
- Năm 1840, ông làm phó chủ khảo Thừa Thiên, bị giáng một cấp vì lẽ chấm bài thi không kỹ. Sau đó lại được thăng Binh Bộ Thị Lang.
 
- Năm 1841, dưới triều Thiệu Trị ông thăng lên Tham Tri Bộ Binh sung Cơ Mật Viện. Cũng năm này, ông có lệnh làm chánh chủ khảo Hà Nội.
 
- Năm 1851, làm Tổng Đốc Gia Định.
 
- Năm 1852, ông cùng Nguyễn Tri Phương dâng sớ về triều tâu các điều lợi hai công ích, nên được vua ân thưởng tấm kim khánh có khắc bốn chữ: "Liêm, Bình, Cần, Cán".
 
- Năm 1862, ông có lệnh của triều đình Huế vào Gia Định, điều đình với Pháp.
 
- Năm 1863, được cử làm chánh sứ sang Pháp chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng thất vọng vì sự thiếu thành thực của người {háp.
 
- Sau năm 1865 được phong chức Kinh lược Đại Thần 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).
 
Trước sự tấn công vũ bão của người Pháp, quân ta chống cự không nổi, chỉ trong 5 ngày đã mất 3 tỉnh.
 
Ông đau buồn cho vận nước, đành bưng uống chén thuốc độc tự tử, sau khi căn dặn các con, và xin người Pháp không được tàn sát dân chúng.
 
Ông tạ thế vào giờ Tý, đêm mùng năm, tháng bảy, năm Đinh Mão, tức nhằm ngày 4-8-1867, hưởng thọ 71 tuổi.
 
Đọc qua tiểu sử của ông, chúng ta thấy ông là một bậc học rộng, tài cao. Đã một lòng vì nước trải suốt 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
 
Trong cuộc đời công danh, trên bước đường hoạn lộ, ông đã có bao lần vinh thăng, rồi cũng mấy lần giáng chức.
 
Tuy cuộc đời thăng trầm như thế nhưng vẫn không hề thay lòng đổi dạ, vẫn giữ tròn tiết tháo của kẻ sĩ và triệt để tuân theo lệnh của triều đình.
 
Trước khi chết, ông còn quay mặt về hướng Bắc, lạy tạ vua 3 lạy, rồi ngồi xếp bằng, nước mắt rưng rưng, tay nâng chén thuốc độc đưa vào miệng.
 
Trước cái chết vì nước quên mình của ông, không làm sao tránh khỏi xúc động, cho dù là người ngoại quốc chăng nữa, cũng thấy đau lòng, và không sao ngăn giòng lệ xót xa!
 
Cái chết của Phan Thanh Giản là cái chết tiêu biểu một tinh thần bất khuất cho cả dân tộc Việt Nam, cái chết oai hùng của một nhà Nho đầy tiết tháo...
 
(Theo Xuân Hàm Luông)
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 51, ra ngày 13-8-1972)
 

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

Mẹ Như Nước Trong Nguồn


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Rồi từ đó mười mấy năm khó nhọc
Mẹ nuôi con từng buổi gió sương ngàn
Từng buổi chiều từng buổi sáng mênh mang
Từng tháng năm mẹ nuôi con ăn học
 
Mẹ thương con như tình bông lúa ngọt
Tấm lòng son đỏ thắm ngát hương quê
Những buổi mẹ đi những buổi mẹ về
Mồ hôi đổ trên ruộng đồng năm tháng
 
Mẹ ru con bằng Ca Dao ngời sáng
Dòng sữa ngọt lành thắm máu lớn khôn
Mẹ hy sinh như nước chảy từ nguồn
Tình biển mặn ngời sương mưa dãi nắng
 
Những tháng ngày trên đồng khô cháy cạn
Mẹ đan gầu múc nước tưới vườn cau
Những trái dừa xanh ngập ngụa dây trầu
Nương dâu chín nuôi tơ tằm khôn lớn 
 
Mẹ lo lắng mỗi lần con đau bệnh
Trắng đêm ngồi thao thức cạnh bờ nôi
Như thuở sinh ra dòng sữa ngọt bùi
Mẹ đau xót nhìn thân con trẻ khóc
 
Mười mấy năm mẹ nuôi con ăn học
Áo sờn vai phai màu áo nâu non
Đẫm mồ hôi đêm tối lửa tắt đèn
Chiếc nón rách tả tơi qua ngày tháng
 
Những buổi đông về gió heo may lạnh
Mẹ một mình ngồi sưởi ấm nhà tranh
Mẹ một mình ngồi khóc suốt năm canh
Mẹ một mình trong đêm tàn mòn mỏi
 
Rồi tháng giêng vào ngày mùa gặt hái
Mẹ thức khuya dậy sớm ra đồng
Mót từng đôi ba nắm lúa vàng bông
Về nuôi con tháng ngày con ăn học
 
Con lớn khôn ngời tuổi thơ ngà ngọc
Nhờ giọt sữa mẹ hiền ấp ủ thân con
Nhờ tình bao la như nước trong nguồn
Mẹ hy sinh cho đời con khôn lớn
 
                              NGUYỄN TRƯỜNG ANH
                                          (Diên Khánh)
 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 102, ra ngày 10-8-1973)
 
 
 

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Bảng Lảng... Chiều Tháng Bảy


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tháng bảy về đây với mưa ngâu
Vạt cỏ xênh xang cũng úa màu
Sóng nước lặng lờ trôi ngày tháng
Gió lạnh miên man héo giọt sầu

Hạt nắng nào vương trên áo ai
Chiều lại chiều buông tiếng thở dài
Cánh cò lẻ bạn kêu thảng thốt
Tháng bảy về trong nỗi u hoài

Thấng bảy về đây với lạnh lùng
Dáng chiều nghiêng ngả nắng mông lung
Hoàng hôn chầm chậm hoàng hôn xuống
Xào xạc lau già trên bến sông

Tháng bảy về mang bao xót xa
Dĩ vãng dường như khó xóa nhòa
Bảng lảng mây chiều còn vương vấn
Xao xuyến hồn ai dưới trăng tà

Tháng bảy về phai hết nắng tàn
Ngỡ ngàng cây lá đón mùa sang
Áng mây xa khuất trời biền biệt
Lất phất mưa buồn rơi miên man

Tháng bảy lại về ươm ước mơ
Chức Nữ, Ngưu Lang hết ngóng chờ
Thuyền cắm neo buồn nơi bến vắng
Đợi phút tương phùng bao ý thơ...

                                                  Thơ Thơ
                                        (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

Khu Vườn Của Em


 
 
 
 
  
 
 
 
Khu vườn của em
Có nhiều hoa đẹp
Tuy rằng chật hẹp
Nhưng rất dễ coi
 
Từng chiếc lá rơi
Từng bông hoa nở
Nụ cười hớn hở
Trên môi mẹ hiền
 
Giấc mộng thần tiên
Dưới cây trứng cá
Mùa thu thay lá
Gió heo may buồn
 
Từng giọt mưa tuôn
Xối lên cây cỏ
Hoa hồng hoa đỏ
Ôi hoa đẹp xinh
 
Khu vườn của mình
Thần tiên là đấy
 
                   HOÀI LINH VŨ
                    Bút nhóm TTST
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 92, ra ngày 3-6-1973)
 

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2026

Ếch, Nhái và Cóc

 
ch nhái và cóc đều có chân dài, nhái có da trơn trượt, trong khi ếch có da sần sùi, cóc thường nhảy từng bước một có da sần sùi và khô - Ếch và nhái thường có thể chết được trong không khí khô nên chúng thường không bao giờ đi quá xa các vũng nước, nếu không có sự ẩm ướt chúng có thể chết: lý do là sự thoát hơi nước qua làn da của chúng rất dễ dàng nên ếch nhái phải thay thế ngay bằng cách trầm mình dưới nước. Loại "Ếch gấu" có thể chết trong vòng 12 giờ nếu bỏ ngoài nước - Loài nhái có thể nhảy rất xa nên nhiều khi người ta còn cho rằng chúng có thể "bay" được, ở Bornéo, Java có một loại nhái cây có chân giống vịt có thể nhảy xa từ 30 đến 40 thước, tại Nam Mỹ cũng có vài loại nhái có thể nhảy xa hơn dù ngón chân của chúng không dính liền nhau. Thực ra loại nhái có một khả năng đặc biệt, khi chúng ta liệng con nhái lên cao, nó lấy thăng bằng dễ dàng và rơi xuống đất an toàn, người ta đã làm một thí nghiệm để chứng minh khả năng này: một con nhái được mang lên một ngọn tháp cao 42 thước và cho rơi tự do, con nhái này đã đáp xuống đất an toàn bằng 4 chân.
 
Những con đực thường có một đôi túi âm thanh trong miệng, công dụng chính là dùng để tăng thanh âm khi ếch nhái kêu, người ta ít chú ý đến những túi này, thường căng phồng trong không khí khi chúng kêu. Một loại nhái dế ở Mỹ châu có túi âm thanh mở ra ở trước miệng, túi này lại dùng để đựng trứng, trong suốt thời kỳ thai nghén, túi này bành trướng lớn, trứng sẽ biến hóa thành nhái con ngay trong túi.
 
Thường thì chỉ có con đực mới kêu, nhưng đôi khi những con cái cũng có thể kêu được khi chúng bị thương hay bị khó chịu. Con đực hầu như chỉ dùng tiếng kêu của mình để "o" chị cái - Khi kêu như thế, con nhái hay ếch nín hơi đóng kín miệng và mũi lại đẩy không khí vào phổi, âm thanh phát ra bởi sức nén của không khí làm rung động các dây thanh âm, những túi âm thanh có tác dụng như những cái "micro" nên âm thanh của ếch nhái rất to so với kích thước của chúng. Ngoài đồng trống chúng ta có thể nghe tiếng kêu của chúng rất xa. Một loại ễnh ương tại Hoa Kỳ có thể phát ra những âm thanh mà người ta nghe được từ xa một hai cây số, hay hơn nữa.
 
Hầu hết ếch, nhái, cóc đều dùng lưỡi để bắt mồi. Lưỡi của chúng được gắn ngay dưới hàm, khi thấy con vật nào bay qua chúng liền tung lưỡi ra, lưỡi này đã được tẩm một chất keo dính do đó con vật khó có thể nào thoát được.
 
Năm 1890, trong một cuốn sách về vạn vật học, người ta đã nhắc nhở đến một loại "Cóc chó" vì tiếng kêu của nó giống tiếng chó tru. Nó được coi như loại cóc độc vì người ta đã thấy một con ngựa bị chết không có một vết thương nào ngoài vết thương do hàm loại cóc chó này cắn vào, do đó người ta có thể dễ dàng kết luận nguyên do cái chết là do con cóc. Thực ra không đúng lắm, vì loại này không độc hại dù chúng rất hung hăng thường tấn công các loại khác. Nó có răng rất dài, thân hình độ 15cm. Nếu bị khiêu khích loại cóc này có thể nhảy vồ và ngoạm lấy đối phương ghìm chặt những cái răng dài vào da thịt đối phương. Khi đó đối phương chỉ có cách giết chết con cóc này mới gỡ ra được. Tuy nhiên, cóc có thể làm chết một con chó là chuyện đã được chứng minh rõ rệt vì người ta đã tìm thấy dưới làn da của ếch nhái và cóc có những tuyến độc do đó nó có thể giết hại một con chó nhỏ, nếu như con này vô phúc cắn phải nó. Dù sao có lẽ loài chó cũng hiểu rõ điều đó nên rất ít khi nó ngậm cóc trong miệng, nếu ta có dịp chứng kiến, con chó thường chỉ dùng chân để vờn cóc thôi.
 
Tại Nam Mỹ còn nhiều loại cóc khác độc hại hơn. Trong nhiều sách vở còn ghi chép rằng người ta đã dùng chất độc của loài cóc để tẩm độc các mũi tên. Một loại nhái ở Hoa Kỳ có thể giết cả rắn, đó là loại "Nhái cá" ở miền Đông, loại này có những đốm đen và đốm vàng trên  da. Người ta đã chứng kiến khi một con rắn vồ một con cóc loại này. Khi ngậm vào miệng, con rắn vội nhả ra ngay và lăn đùng ra chết. Những nhà nghiên cứu về loài ếch nhái thường chẳng mấy thích thú khi gặp loại cóc này vì nếu giam chúng chung với các con vật khác thì chẳng mấy tiếng đồng hồ sau những con khác đều bị chết và ngay cả nhà sưu tầm nếu vô phúc mó tay vào da nó sẽ có thể bị làm độc ngay.
 
Vài loại Cóc có thể ăn được cả cá sấu - điều này thực lạ lùng, nhưng đã xảy ra. Đối với vài loại cóc lớn, nó ăn bất cứ vật gì mà nó có thể bắt được. Kể cả những con cá nhỏ, chim chóc hay cầm thú. Tại Nam Mỹ có loại cóc khổng lồ dài từ 15 đến 20cm là một trong những loại cóc lớn nhất có thể coi là vô địch về môn "nuốt".
 
Một câu chuyện được kể lại rằng tại một Viện Đại học tại Hoa Kỳ, người ta đã bắt nhiều loại cóc nhái về để thực nghiệm, vì thiếu chỗ người ta đã cho các con cóc ở chung với những con sấu nhỏ (dài độ 30cm), mấy ngày đầu chúng sống bình thường, nhưng sau một tuần lễ người ta thấy mất một con sấu, xác của nó cũng biến mất. Sau cùng khi dùng tia X chụp dạ dày của những con cóc, người ta thấy con sấu nằm trong dạ dày một trong những con cóc nhốt chung.
 
Bác sĩ Frank Blair tại viện đại học Texas đã làm chứng cho câu chuyện. Trong trường hợp này con ếch chỉ dài độ 15 phân trong khi con sấu dài tới 25 phân hai con để chung trong lồng. Một buổi sáng con sấu biến mất trong khi bụng con ếch trương to lên chứng tỏ là con sấu đã nằm gọn trong đó - Nhưng dù sao con ếch phải mất ba bốn ngày mới cử động lại bình thường.
 
Con cóc có thể gây ra mụn cóc không? Căn nguyên và hậu quả giữa con cóc và mụn cóc là một truyền thống. Nhiều người tin một cách giản dị rằng nếu sờ vào da cóc sẽ gây ra mụn cóc, một số khác lại tin rằng nước tiểu của cóc có thể gây mụn cóc. Thực ra không đúng như vậy dù rằng da cóc thường chứa chất kích thích hoặc chất độc có thể gây phỏng da hay ngứa ngáy khi cầm cóc không cẩn thận, cũng như cóc thường có thói quen vọt nước tiểu khi người ta bắt nó. Nước tiểu có thể gây nhức nhối nếu trúng vết thương. Nhưng nước tiểu và chất độc không hề gây ra mụn cóc.
 
Hầu hết loài ếch nhái đều ngủ suốt mùa đông, cóc thường đào hố nhỏ và ở đó đến đầu xuân, khi ra khỏi chúng thường bắt đầu sanh đẻ. Tại Hoa Kỳ vào cuối mùa đông khi không khí hầu như bắt đầu trở nên ấm áp, thì đó là mùa ếch nhái sanh nở, nếu du khách dùng xe để đến bờ sông vào một buổi tối, chúng ta sẽ chứng kiến hàng triệu ếch nhái mới nở ra nhảy đầy trên đất.
 
Ếch nhái và nhất là cóc là loài giúp ích nhiều nhất cho con người mà ít ai biết đến. Các nhà sinh vật học ước chừng hàng năm loài ếch nhái đã tiêu diệt dùm cho loài người một số côn trùng có hại cho mùa màng.
 
Trong vài năm gần đây tại Hoa Kỳ người ta đã làm các bản thống kê, cho thấy một nông dân ở Oklahoma đã tiết kiệm được mỗi năm 25 đô la (tiền mua thuốc diệt trừ côn trùng) do công của một con cóc.
 
Cóc có thể ăn bất cứ loại gì nó kiếm được, thông thường người ta tìm thấy trong dạ dày cóc nhiều loại côn trùng (sâu bướm, bọ rầy...) trung bình trong ba tháng dưới điều kiện thông thường một con cóc có thể tiêu diệt được 10 ngàn sâu bọ.
 
Một loại cóc Nam Mỹ gọi là cóc biển rất to (khoảng 10cm) được nhập cảng qua Jamaica và West Indies vì nhờ nó một số chuột phá hoại mía giảm đi rất nhiều. Người ta cũng áp dụng những biện pháp tương tự tại Puerto Rico. Một loại cóc khác được chở qua Hạ Uy Di và các vùng khác với mục đích giúp nông gia bảo vệ mùa màng.
 
Có lẽ đó là lý do khiến cổ nhân ta mới đặt ra câu ca dao:
 
"Con cóc là cậu ông trời,
Ai mà đánh nó thì trời đánh cho".
 
 
TRƯỜNG KỲ sưu tầm       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 104, ra ngày 24-8-1973)
 

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

Học Để Trở Thành Một Người


  Thư của em Q. Saigon.

... Nhà em có ba chị em. Chị gái lớn đã đi lấy chồng. Còn anh của em đang học Đại Học. Ba má em giao cho anh ấy nhiệm vụ dạy em học. Mà ảnh độc tài quá chị ơi! Ảnh bắt em phải học tối ngày và cho những bài khó quá sức. Dường như ảnh muốn nhồi sọ em thật gấp rút để ba má em thấy em tiến bộ vượt mức mà vui lòng. Có hôm ảnh cho em làm toán nhưng vì khó quá, em không làm được, ảnh bèn lục lọi lấy báo Thiếu Nhi của em ra xé nát hết. Ảnh còn mách ba má rằng em học dốt vì mải đọc Thiếu Nhi. Chị nghĩ coi, tờ Thiếu Nhi có là bao. Em đọc có chừng một giờ là hết ráo. Mà dù cho em có đọc hết cả ngày chủ nhật mới xong tờ báo thì ảnh cũng phải cho em nghỉ ngơi chứ. Không phải em lười, nhưng có nhiều hôm học nhiều quá khiến em mụ cả người đi. Em thường thấy chị khuyên đọc những sách báo lành mạnh, giáo dục. Thế sao anh em lại cấm. Mà chính ảnh là người mua báo Thiếu Nhi đầu tiên, lại còn gửi bài để đăng trong Thiếu Nhi nữa. Em nghĩ là ảnh ghét Thiếu Nhi vì T.N. không đăng bài của ảnh. Như thế có phải là ảnh đố kỵ không hả chị...

Trả lời:

Quan niệm về sự giáo dục con người để trở thành người xứng đáng làm người thì dù thời cổ hay thời nay cũng đều giống nhau ở chỗ các nhà giáo dục chân chính luôn luôn tìm mọi cơ hội, mọi phương tiện để giáo dục con người về đủ mọi khía cạnh. bởi vì một người xứng đáng là một người không phải chỉ là một bác sĩ, một kỹ sư, một luật sư, một văn sĩ, một thi sĩ... Mà vấn đề chính là cái tư cách của người đó. Nếu một lực sĩ chỉ chuyên có thân thể trong khi tâm hồn đen tối thì với cái sức mạnh đó, anh ta sẽ có thể trở thành kẻ cướp của giết người. Nhà khoa học mà tâm hồn không đẹp thì có thể sẽ phản quốc, bán những bí mật của quốc gia cho nước khác v.v... Cho nên ngay trong các võ đường mà nhiệm vụ chính là dạy võ, các bậc thầy chân chính vẫn phải dạy các môn sinh về phương diện đạo lý, để người võ sĩ biết chế ngự bản thân, biết dùng sức mạnh để giúp đời. Và cái tinh thần võ sĩ đạo sở dĩ đáng tán dương chính là vì đã dung hòa đạo đức với võ thuật. Nếu chỉ học có mỗi phần kiến thức trong chương trình học để thi, mà không trau giồi thêm về các phương diện khác, thì sự học chỉ đem lại cho chúng ta những kiến thức đủ cho ta thi đậu, chứ không phải là kiến thức để vào đời, để giữ gìn nhân cách sao cho xứng đáng làm người.

Các cụ xưa giáo dục con cái trong bào thai (gọi là thai giáo) tất nhiên không phải là để dạy cho thai nhi thuộc lòng các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh, mà chính là mong mỏi cho con sau này khi ra đời, tâm hồn sẽ được trong sáng. Nữ Hoàng Anh quốc hiện nay, để dạy con, không phải bà mời tất cả các giáo sư giỏi nhất nước về để nhồi sọ cho hoàng tử Charles (con lớn của bà) thành khoa học gia v.v... mà bà gửi con vào một trường nổi tiếng là học trò phải chịu nhiều cực nhọc, chỉ là vì trường đó dạy con người về đủ mọi mặt, có khả năng chống chọi với tất cả mọi khó khăn trong cuộc đời. Bà muốn con bà thành một người chứ không phải thành một kỹ sư hay một luật sư không có tim óc.

Trong tinh thần giáo dục toàn diện, sách báo lành mạnh rất cần thiết. Nhu cầu đọc của con người muốn tiến bộ cũng quan trọng vô cùng. Điều đó đã được nhiều nhà giáo dục công nhận. Và cũng vì thế, để đào tạo cho quốc gia có những công dân tốt trong tương lai, nhiều chính phủ trên thế giới đã phải tài trợ cho những chương trình văn hóa giáo dục. Cũng vì tầm ảnh hưởng quan trọng của tờ báo giáo dục đối với các em, mà Thiếu Nhi được miễn ký quỹ 10 triệu đồng, đỡ gây thêm khó khăn cho những người thiện chí làm tờ Thiếu Nhi không nản lòng mà bỏ cuộc. Ngoài ra, bộ Giáo Dục còn đặc biệt yêu cầu nhóm chủ trương Thiếu Nhi hãy đem Thiếu Nhi vào các trường trong toàn quốc giới thiệu với các em, để các em biết Thiếu Nhi mà tìm đọc, và nhờ đó, các em sẽ xa lánh sách báo ma quỉ, rắn rết, chú Thoòng v.v... đang tác hại tuổi thơ.

Thiếu Nhi đã được nhiều vị Linh mục, quí Soeur, quí vị giáo chức gửi thư về nồng nhiệt khích lệ. Có những trường hợp cảm động như một vị hiệu trưởng, giáo sư Nguyễn Ngọc Chương ở ngoài Phan Rang về thăm tòa soạn, đem theo 20.000đ nhất định đòi tặng để gánh đỡ cho Thiếu Nhi một phần lỗ lã, vì giáo sư biết rằng tờ báo TN với nội dung, hình thức như thế, bán với giá đó, lại sống trong thời buổi khó khăn này hẳn là vô cùng chật vật. Nhưng tòa soạn không thể nhận tiền tặng như vậy. Dù sao, đó cũng là một hy sinh lớn đối với nhà giáo giầu thiện chí, thương tuổi thơ. Trong tòa soạn cũng có những vị giáo sư thật là hết lòng với Thiếu Nhi. Các bác Vịt Mò, Văn Trung, Đặng Hoàng, Huy Yên mà các em vẫn thường thấy xuất hiện trong Thiếu Nhi đó, khi Thiếu Nhi mới ra đời, thì các bác chưa quen với tòa soạn. Các bác chỉ tìm mua báo lành mạnh, giáo dục về để con các bác đọc mà thôi. Thế rồi đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, các bác thấy Thiếu Nhi hợp với quan niệm về giáo dục con người của các bác, các bác bèn tìm tới thăm để khích lệ nhóm chủ trương. Rồi các bác sốt sắng viết bài, rồi lao vào để cổ động, để đem đi từng nhà, để vào từng lớp bán Thiếu Nhi. Các bác thu nhặt từ mấy chục đem về trả tòa soạn. Thật là những hy sinh cao quí. Và chính sự thiết tha của các bác với Thiếu Nhi cũng làm cho bác chủ nhiệm và chú Nhật Tiến càng thấy rằng công cuộc mình đang theo đuổi quả là xứng đáng.

Quan niệm về sự học của anh em hơi hẹp hòi và một chiều. Chị hy vọng anh em sẽ hiểu rằng sự nẩy nở của trí óc một em nhỏ cần phải điều hòa, mà biết phân phối bài vở cho em. Và anh em sẽ hiểu rằng giáo dục một người để trở thành người, không phải là chỉ giúp cho người ấy đem theo vào đời một mớ hành trang đơn thuần phiến diện, chỉ gồm có những kiến thức về khoa học hay toán học. Đó chỉ là một phần của sự giáo dục mà thôi.

Chị không nghĩ rằng anh của em lại nhỏ nhen đến nỗi thù hận sự Thiếu Nhi không đăng bài của anh ấy, mà hằn học với em khi em coi Thiếu nhi. Có lẽ chỉ vì anh ấy quá chú trọng vào sự nẩy nở theo một chiều khoa học, toán học nên trở thành gay gắt khi thấy em chưa học được tới mức mà anh ấy mong muốn.

Tấm lòng của quí vị giáo chức và các bác thân hữu của Thiếu Nhi mà chị vừa nêu trên là những thí dụ điển hình về sự cần thiết của tờ báo giáo dục Thiếu Nhi trong lúc này em ạ.


Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 99, ra ngày 22-7-1973)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>