Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

Mùa Phượng Thắm


Sáng hôm nay em bước tới trường với một niềm lo âu lớn (chẳng qua là chưa soạn xong bài kim văn ấy mà). Mới mùa xuân ngày nào có pháo hồng rực rỡ, câu đối đỏ với bánh chưng xanh, thật thú vị, những cành mai, những đóa cúc vàng tươi như tô thắm thêm cho mùa xuân chút hương vị thơm tho. Mà bây giờ đã nhường lại cho mùa hạ, mùa của tuổi học trò. Hàng cây phượng cao vút mọc ở hai bên đường, cành lá xanh mơn mởn tỏa xum xuê che rợp cả lối đi, với những hoa phượng nở đỏ thắm trên cành cây. Tiếng ve kêu rỉ rả báo hiệu mùa hè đã đến. Nắng ban mai thật êm dịu, chạy xuyên qua kẽ lá rơi xuống sân trường, lớp học...
 
Em bước vào lớp, chưa vội cất cặp. Bỗng có tiếng gọi giật lại:
 
- Đi mô mà vội vàng dữ rứa hở Hoài Trinh?
 
Em quay lại, thấy Hoàng Cúc và mấy nhỏ bạn Thu Hương, Đoan Trang, Hồng Vân tụ họp ở đó (Chúng em chơi thân với nhau từ lúc nhỏ, ở lớp 6 lận cơ). Thấy bọn chúng, em liền nói:
 
- Làm chi mà tụ họp đông đủ "bá quan văn võ" dữ rứa? Chi cũng có chuyện quan trọng rồi đây.
 
- Dĩ nhiên là có chuyện quan trọng rồi. Răng đi lâu dữ rứa, làm người ta đợi muốn chết.
 
Em "xí" một tiếng, xong đi vào cất cặp.
 
Em hỏi mấy nhỏ:
 
- Soạn xong bài kim văn chưa bây? Run quá. Ưng nghỉ hè cho rồi, học thấy mà mệt.
 
Nhỏ Thu Hương đồng ý với em:
 
- Ừ, Hương cũng thế.
 
Hoàng Cúc nói với giọng Huế thật dễ thương chi lạ:
 
- Lo chi! Mai liên hoan rồi. Mà trước sau chi Trinh cũng được lãnh phần thưởng rồi mà.
 
- Thôi đi (em nguýt nhỏ), "xí".
 
Nghe nói ngày mai là liên hoan rồi, nhỏ Trang hét lớn:
 
- Chết cha, ngày mai là ngày cuối niên học rồi mà mình chưa viết lưu bút gì cả.
 
Tiếng thét của Trang làm nhỏ Thu Hương giật mình, tí nữa là té nhào (vì nhỏ yếu lắm cơ). Nhỏ gắt:
 
- Xí, bày đặt lưu bút với lưu biếc làm người ta giật cả mình.
 
Em cười nói:
 
- Ừ, quên hé. Răng khi mọi bữa không nói để người ta chuẩn bị trước.
 
- Hai giờ sau nghỉ, tụi mình viết cũng được không lo gì.
 
- Sợ viết không kịp thôi.
 
Em và Đoan Trang nói xong, nhỏ Hồng Vân hỏi:
 
- Thế bọn mình, mỗi đứa viết mấy bài nhỉ?
 
- Mỗi đứa viết 3 bài đi, rứa cũng nhiều rồi - Em nói. 
 
- Ít quá, 5 bài đi.
 
- Cũng được nhưng Trinh sợ không có thì giờ để chép.
 
- Thì chịu khó đi mà, cố gắng là thành công liền hà.
 
Bỗng tiếng chuông reo báo hiệu giờ vào học, cả bọn ùa ra khỏi lớp, sắp hàng dưới hiên. Sân trường bây giờ như khoảng không gian rộng cho các chú chim non tung cánh bay lượn, khi bầy chim đã vào "hàng ngũ" sắp hàng trước cửa lớp và đi vào học, sân trường trở lại im lìm như trước. Chúng em bước vào lớp học và đứng nghiêm để chờ thầy vào. Niềm vui đã tan biến khi em nhớ lại bài kim văn chưa soạn, không biết hồi thầy có gọi lên dò bài không? Run quá. Em quay sang nói khẽ với nhỏ Hoàng Cúc:
 
- Trinh sợ thầy kêu lên dò bài quá.
 
- Sợ chi, thầy không kêu lên mô, Cúc cũng chưa soạn nì.
 
Em nghe nói cũng yên tâm, song nhìn lên trên bàn. Eo ơi, chết em rồi, thầy nhìn đăm đăm vào em, em run quá đi thôi, nhưng đôi mắt thầy nhìn thật trìu mến, em không dám nhìn thẳng vào thầy, giả vờ cúi xuống bàn lấy vở ra học, để tránh khỏi cặp mắt của thầy. Em hé mắt nhìn lên. Hên quá, thầy gấp sổ dò bài lại rồi. Bây giờ em mới hoàn hồn trở lại. Thầy nói như khuyên chúng em, cả lớp ngồi im phăng phắc, lắng tai nghe những lời khuyên của thầy: "Để chuẩn bị cho niên khóa sắp tới, thầy khuyên các trò sau 3 tháng nghỉ hè, trước khi qua niên khóa mới, các trò sẽ chăm chỉ học tập hơn. Thầy mong các trò sẽ tiến mãi trên con đường học vấn, để cho tương lai mình sau sẽ tươi sáng tốt đẹp..." Thầy nói thật nhiều. Sau một giờ giảng dạy, thầy cho chúng em về vì thầy bận họp giáo sư ở dưới văn phòng. Em mừng dễ sợ, tới nói nhỏ Hoàng Cúc:
 
- Khi hồi Trinh run ghê đi Cúc nợ, cứ sợ thầy kêu lên thì e chắc chết quá.
 
- Mà chừ hết sợ chưa, chắc còn "run" hỉ.
 
- Sức mấy, hết rồi. Hì hì...
 
Cả hai cùng cười. Thu Hương, Đoan Trang, Hồng Vân tới. Vân hỏi:
 
- Gì mà cười có vẻ vui vậy. Chúng mình đi mua giấy về nhà làm nhỉ.
 
- Ừ. Đi, mau lên.
 
Cả bọn 5 đứa, quàng tay nhau đi dưới con đường đầy phượng thắm. Tiếng ve kêu rả rích nghe thật vui tai, vài cánh phượng rơi rụng xuống đất. Em cúi xuống, nhặt lên và đố chúng:
 
- Trinh đố mấy nhỏ hí, hoa phượng ni ăn được không?
 
Mấy nhỏ ngạc nhiên, chắc mấy nhỏ không biết. Nhưng Hoàng Cúc thì biết, nhỏ định nói "Được" thì bị em bịt miệng lại. Bọn Vân Trang, Hương xúm lại hỏi:
 
- Ăn được không hả Trinh?
 
- Mà ngon không? Nói cho tụi Trang biết với.
 
Em đáp:
 
- Ngọt ngọt, ăn hay hay. Hồi nhỏ Trinh hay ngắt những bông phượng ăn (cho vui vui thôi) còn nhụy của nó Trinh lấy chơi đá gà với nhỏ Cúc, vui lắm.
 
- Thú nhỉ, thế mà Trang chẳng biết gì cả. Vui lắm hả Cúc?
 
- Ừ, mà lâu lắm rồi, hồi còn ở Tiểu học tê. Cứ đến mùa phượng thắm như ri là Trinh với Cúc đi học hái ăn hoài. Nhỏ Trinh răng nhớ lâu dữ, chớ Cúc, Cúc chẳng nhớ chi cả, nhắc lại mới nhớ.
 
Nghe xong, Hương, Trang, Vân lấy ăn thử, chúng nói:
 
- Ngon ngon ghê đi ấy.
 
Cả bọn cất tiếng cười, thật hồn nhiên và vô tư. Trên cành cây tiếng chim kêu ríu rít nghe vui vui. Với không khí mát mẻ nhỏ Hoàng Cúc cất tiếng ngâm thật thơ mộng:
 
Mùa hè đã tới thật là mau
Phượng thắm, lá xanh đủ mọi màu
Ve ca khúc nhạc chờ hạ tới
Mình buồn khi phải chia tay nhau
 
- "Bốp, bốp, bốp" thi sĩ dữ ta.
 
- Cúc ngâm hay thật, Trinh nghe mà cảm thấy buồn buồn.
 
- Đã là thi sĩ thì không hay sao được - Hương nói.
 
Cả bọn phút chốc đã đến nhà sách. Mua giấy xong, chúng em chia tay nhau ra về.
 
- Hẹn ngày mai nhé.
 
- Nhớ liên hoan đem theo nghe.
 
Sáng hôm nay, em tới trường thật sớm. Em tưởng mình tới sớm nhất, không ngờ vừa bước vào cổng trường, em thấy những tà áo trắng tung bay trong nắng mai. Nhìn quanh quẩn chẳng có nhỏ mô, em bước vào lớp. Tiếng nhỏ Thu Hương kêu làm em quay phắt lại thì thấy mấy nhỏ đang ngồi dưới gốc cây. Vì không để ý nên khi hồi em không thấy, phải chạy mà tới. Em nói:
 
- Bắt người ta tìm muốn chết.
 
Em ngồi sà xuống dưới gốc cây, chìa bài thơ mình cho mấy nhỏ, và mấy nhỏ trao lại. Tình bạn bè lúc này thật là ấm áp, không có lúc nào quan trọng bằng lúc này, tình bạn bè thiêng liêng và cao quí, chúng em không muốn chia tay nhau trong thời gian nầy. Trên cành, tiếng ve kêu như nức nở, buồn thương. Em nhặt lấy những hoa phượng thắm ép vào trong tập lưu bút và trao vài bông khác cho mấy nhỏ. Em nói:
 
- Nhớ đừng quên Trinh nhé mấy bạn.
 
Buổi liên hoan cuối cùng của niên khóa cũ được diễn ra. Chúng em ngồi họp lại nhau để tâm sự những nỗi buồn vui trong những ngày học tập. Những lỗi lầm lúc trước bây giờ tỏ ra để tha thứ cho nhau. Tiếng ca Hoàng Cúc nghe thật buồn bã: "Còn buổi họp cuối cùng này thôi, mai chúng ta giã biệt người ơi, tâm sự đi những gì chưa nói, câu ca này là tiếng thơ ngâm, mình mang một nỗi buồn xa xăm..." Ôi! Tiếng ca sao có vẻ đau thương, u buồn quá vậy. Buổi liên hoan chấm dứt, giờ phút này, không ai muốn chia tay nhau. Em thấy như mất một cái gì và mắt em đã mờ dần đi. Em đã khóc. Mấy nhỏ Hồng Vân, Thu Hương, Hoàng Cúc, Đoan Trang chạy đến bên em. Chúng an ủi em và nói để tiễn đưa nhau:
 
- Hẹn gặp lại ngày niên học mới.
 
- Nhớ nhé!
 
- Trinh đừng buồn nữa. Cúc sẽ nhớ mãi hình bóng Trinh, Vân, Trang, Hương. Về Huế Cúc sẽ viết thư và đợi thư hồi âm.
 
Chúng em chia tay nhau, mỗi người đi mỗi ngả: nhỏ Hương về quê, nhỏ Cúc về Huế, nhỏ Trang, Vân trở về miền duyên hải rong chơi, chỉ còn mình em ở lại trong xứ Nội Hà nhỏ bé. Em giở tập lưu bút ra xem, thế mà thấm thoát đã gần 1 tháng, em nhớ mấy nhỏ chi lạ. Nhỏ Hồng Vân đã tâm sự với em thật buồn:
 
Mình chẳng có cái chi
Để đưa tiễn bạn đi
Viết vài dòng lưu bút
Tặng bạn liền lúc ni
 
Chà, nhỏ Hồng Vân bày đặt giả giọng Huế nữa chớ, em mỉm cười một mình và giở qua trang khác. Nhỏ Đoan Trang tả quang cảnh mùa hè ở trường:
 
Mùa hè đã đến đây
Hoa phượng thắm rơi đầy
Trên sân trường lớp học
Ve sầu kêu hay hay
 
và sau bài thơ, nhỏ Thu Hương đã tả về mình. Nhỏ răng "hề" quá rứa không biết:
 
Thân Hương vừa yếu lại vừa ròm,
Nhí nha, nhí nhảnh tựa chim non.
Ở trường, số một là ta đó,
Tung hoành phá phách thật kinh hồn.
 
Cuối bài nhỏ còn chơi sang, viết địa chỉ mình bằng hai câu thơ:
 
Nếu bạn muốn tìm Hương thì
Xin theo địa chỉ dưới đây nhé cô "nường":
Nguyễn thị Thu Hương
Đà Nẵng 159 Đinh Tiên Hoàng.
 
Nhỏ Hồng Vân lại dùng lối thơ lục bát để diễn tả:
 
Mùa hè đã đến đây rồi
Tiếng ve rả rích buồn ơi là buồn
Trên cành chim hót yêu thương
Bạn bè chia xa cách đôi đường chia tay.
                                                    HỒNG VÂN
 
Giở đến trang cuối, nhỏ Hoàng Cúc đã tâm sự với em thật buồn:
 
Ve sầu kêu trên cây
Hoa Phượng thắm nở đầy
Như đón chào nắng mới
Như tiễn đưa chim bay
 
Những ngày học ở trường
Nhung nhớ với buồn thương
Tuổi học trò êm ấm
Giờ đây cách đôi đường
 
Thế là chia tay nhau
Thật buồn bã sầu đau
Mỗi người đi mỗi ngả
Còn lại ngôi trường sầu
 
Hẹn gặp nhé bạn ơi
Ngày khai giảng đẹp trời
Ta cùng nhau nối lại
Tình bè bạn thêm tươi.
                       HOÀNG CÚC
 
Em gấp cuốn tập lưu bút lại, và cất vào tủ để giữ mãi những kỷ niệm ấy, không bao giờ quên.
 
 
NGUYỄN GIA KIỆM      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 90, ra ngày 20-5-1973)
 
 
 

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

Khi Tàn Niên Học


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(Thương tặng Lý thị Tú Loan 
(Phú Tâm) để nhớ những ngày xa cách)

Hè bước đến, ve sầu kêu nức nở
Áo học trò bỡ ngỡ phút chia ly
Mắt nai tơ ngơ ngẩn biết nói gì?
Ươm dòng lệ sau hàng mi chớp khẽ.

Hè bước đến xa cách nhau rồi nhé
Nét u sầu theo bước nhẹ khua vang
Sân trường đây, phượng rụng đỏ hai hàng
Cửa chợt đóng! Dãy hành lang trống trải

Và cỏ cây hình như đang ái ngại
Kỷ niệm chừ vung vãi cạnh bên ta
Vẳng đâu đây bao trìu mến thiết tha
Lời thầy, bạn thật hiền hòa nhắn nhủ...

Hè bước đến, người về quê vui thú
Bỏ mình ta ủ rũ cạnh trường xưa
Lớp học buồn trong nắng hạ đong đưa
Âm thầm kết một cung sầu xa vắng.

Hè bước đến, trường yêu vàng những nắng
Ta bồi hồi nâng áo trắng dệt thơ
Màu trinh nguyên chẳng phai nhạt bao giờ
Nhưng gói ghém tuổi ươm mơ ngà ngọc

Hè bước đến suy tư lên bờ tóc
Dung nhan gầy hiện rõ nỗi xanh xao
Mong thời gian làm xác phượng phai màu
Ta sẽ đợi ngày cùng nhau tái ngộ...

                                                           TẠ LỆ VÂN
                                                  Trung học Hoàng Diệu
                                                            (Ba Xuyên)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 36, ra ngày 30-4-1972)


Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

Học Ở Trường và Học Ở Nhà


Thư của em T.T, Sàigòn:

... Em là một nữ sinh đệ Tứ 18 tuổi, trong kỳ nghỉ hè này, trước khi đi học lớp hè, em có một thắc mắc...

Em nghĩ rằng tại sao ta phải học cao, học nhiều, có lợi gì khi ta chưa định sẵn một phương hướng để theo đuổi, trong khi em biết rằng sẽ chỉ còn theo học được vài năm nữa là cùng, vì khi đó cha mẹ em đã già yếu, nên em phải nghỉ học để phụ với cha mẹ buôn bán, cho các em còn được theo học. Vậy tốt hơn ngay bây giờ em nghỉ học để phụ với cha mẹ, em sẽ thâu thập thêm nhiều kinh nghiệm sống hơn là em học mấy định lý, định nghĩa suông mà sau này em sẽ chẳng bao giờ áp dụng. Nhưng nếu nghĩ như em thì thế giới đâu có nhà văn học, nhà thông thái, nhà toán học v.v...

Vậy em xin nhờ chị:

1) Nếu em hỏi chị nên nghỉ hay tiếp tục học, chắc chắn chị sẽ khuyên em học tiếp, vậy còn bổn phận của em thì sao?

2) Ý nghĩ của em có đúng không?

3) Chị giải đáp cho em trước ngày 1-5-72 để em còn quyết định.

Trả lời:

Vì vấn đề em hỏi cũng là thắc mắc chung mỗi khi hết một niên khóa, cho nên chị xin trả lời chung luôn cả các em khác có hoàn cảnh giống em. Chị rất tiếc thư em tới trễ quá nên chị không trả lời trước 1-5-72 được, mong em không buồn. Dù sao, sự học là sự lâu dài, em có nghỉ mất vài ngày, nếu cần em vẫn có thể đi học lại, hoặc đã đóng tiền mà muốn thôi thì cứ học hết lớp hè rồi nghỉ ở nhà cũng vẫn tốt, kiến thức cũng mở mang thêm, có hại gì, phải không em.

Em T.T. thân mến,

Sau mỗi năm học, lại có một số học sinh phải rời bỏ cuộc đời cắp sách tới trường. Phần lớn, là vì hoàn cảnh, vì phải giúp đỡ gia đình v.v... Chuyện đó thì ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới đều xẩy ra, vì không phải tất cả mọi gia đình đều có khả năng cho con cái học tới đậu được nhiều bằng cấp cao. Tuy nhiên trong số những người không còn cắp sách tới trường đó, có rất nhiều người không thể gọi là thôi học được. Bởi vì họ vẫn học, họ học thêm bằng cách đọc các loại sách để kiến thức mở mang, tâm hồn phong phú. Chị có biết một cụ già năm nay đã bẩy chục tuổi. Cụ đó mồ côi cha từ năm 10 tuổi, 15 tuổi đã phải đi làm để giúp đỡ gia đình, thế mà đêm đêm, cụ dậy từ 4 giờ sáng, cụ tự học Pháp văn bằng Tự điển (vì nghèo quá không có tiền đóng học phí lại không còn thì giờ đến lớp, vì mắc đi làm). Sau Pháp văn khá có thể hiểu được sách, cụ ráng dành tiền gửi mua các loại sách về máy móc và kỷ nghệ ở bên Pháp về xem, rồi nghiên cứu hoài đủ mọi vấn đề, đọc đủ mọi loại sách. Nên cụ biết rộng, nói chuyện với cụ chuyện gì cụ cũng thông thạo, tính tình cụ cởi mở nhờ cụ đọc nhiều sách, có nhiều tư tưởng trong đầu, không bo bo cố chấp, tuy cụ không đỗ đạt (cụ cắp sách đến trường có ba năm) nhưng cuộc đời cụ giúp ích cho nhiều người, cụ không có bằng cấp cao, không phải nhà chuyên môn về cái gì cả nhưng mọi người quí mến và nói chuyện với cụ chị thấy dễ chịu vì tuyệt nhiên cụ không có thái độ khinh thế ngạo vật. Như vậy, chị thấy cụ là người hiểu rộng, mặc dầu cụ không đến trường được nhiều. Đây chỉ là một trong cả triệu trường hợp khác. Có biết bao nhiêu nhà thông thái không bằng cấp (vì không được tời trường), trong báo Thiếu Nhi đã có truyện ông Burchell. Biết bao nhà văn, thi sĩ, nhạc sĩ v.v... lừng lẫy tiếng tăm cũng không được đi học bao lâu như Jack London v.v... bao nhà doanh nghiệp, nhà hiền triết không hề cắp sách đến trường mà kiến thức thật là bao la. Vậy không tới trường không phải là hết cơ hội để học hỏi. Chỉ có điều tiếc là ta sẽ phải tự học, vất vả hơn là tới trường có thầy dậy dỗ mà thôi.

Sự không tới trường nữa không thể gọi là thôi học nếu ta vẫn còn tiếp tục học bằng đủ mọi cách trong trường đời. Tuy nhiên, nếu bảo sự tới trường chỉ là để học những định nghĩa, định lý chết thì cũng là sai lầm. Trước nhất, đó là căn bản của cả sự học sau này, nếu em học lên các lớp trên. Vả lại đây là phần kiến thức phổ thông. Nhờ có vốn kiến thức phổ thông đó, nó huấn luyện óc em thành ra có ngăn nắp, biết suy luận, biết tính toán, phân tích, sau này ra đời buôn bán, óc em sẽ bén nhậy hơn.

Tóm lại, chị nghĩ thế này:

1) Nếu em nào gia đình có khả năng cho theo học lên cao, thì nên cố gắng đừng bỏ dở, sau này các em sẽ thành các nhà chuyên môn của các ngành, sẽ canh tân xứ sở, giúp cho quốc gia được hùng cường, dân chúng được ấm no, thì các em chính là người mà đất nước chúng ta, sau bao nhiêu năm điêu linh khổ sở đang mong chờ.

2) Nếu em nào vì hoàn cảnh phải bỏ học ngang để sang một nghề chuyên môn, hoặc ra buôn bán v.v... thì xin em ráng tìm tòi học hỏi hoài trong ngành của em cho tới thành công, làm thợ thì thành thợ giỏi, đầy lương tâm nghề nghiệp, làm công nghệ thì ngày một tinh xảo để cho sản phẩm được tốt hơn, nhà nông thì canh tác ngày một thâu hoạch nhiều hoa lợi hơn, buôn bán thì ngày một mở mang để quốc gia trở nên giàu mạnh thì các em cũng là những con cưng của tổ quốc. Bởi vì xã hội là một guồng máy trong đó cần tất cả mọi bộ phận, đừng nên quá trọng cái này, coi thường vứt bỏ cái kia mà máy không thể chạy được.

3) Dù học hành đỗ đạt cao hay phải sớm bỏ ngang sự học ở nhà trường, các em phải luôn luôn học hỏi tìm hiểu thêm những vấn đề ngoài ngành chuyên môn của các em, phải đọc thêm những sách báo văn học nghệ thuật, tư tưởng để cho tâm hồn ngày thêm phong phú, tư tưởng ngày thêm sâu sắc, để mà hiểu đời, lịch duyệt, cảm thông được với chân, thiện, mỹ thì đời sống mới là đáng sống, mới thấy yêu đời, yêu người và mới có thể giúp ích được nhiều cho mọi người.

Chỉ có một điều này là đáng buồn và chị nghĩ các em nên tâm niệm để mà tránh, là sau khi được học lên cao rồi, đỗ nhiều bằng cấp rồi mà không giúp ích cho Quốc gia, chỉ nghĩ tới mối lợi riêng tư, đã thế lại khinh thế ngạo vật, tự cao tự đại, như vậy thì chị nghĩ chẳng thà học ít thôi mà mọi người thương mến còn hơn phải không các em.


Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 38, ra ngày 14-5-1972)

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2026

Quá Khứ và Tương Lai Tờ Giấy


Giấy. Giấy. Nơi nào cũng có giấy. Giấy cần thiết. Không có giấy. Chúng ta cứ thử tưởng tượng xem. Nếu vì một nguyên nhân nào đó, bỗng nhiên tất cả giấy trên thế giới đều biến mất, tất cả vật liệu làm bằng giấy tiêu tan. Cái gì sẽ xảy ra. Các bạn tưởng tượng ra chưa. Khủng khiếp quá phải không? Một kho vàng ngọc châu báu biến mất cũng không gây rối loạn bằng sự kiện kho tàng văn chương bỗng dưng tiêu tán theo giấy. Đó là chưa kể bao nhiêu nỗi bực bội khi chúng ta chưa tìm ra được một mảnh giấy nhỏ để làm những việc khác. Trẻ con sẽ không học hành được nữa. Các cơ quan nhà nước, hành chánh, văn phòng chỉ còn nước đóng cửa sớm. Mọi minh ước không thể giữ lại được. Và chẳng lẽ chúng ta ra đường luôn luôn kè kè một máy thu băng. Mà đâu có phải ai ai cũng đủ tiền để mua được máy. Thật điên cả đầu các bạn nhỉ. Giấy chiếm một địa vị quan trọng trong đời sống của chúng ta thật. Vậy giấy đã phát sinh ra từ đâu, bao giờ. Quá khứ cùng tương lai tờ giấy. Một cuộc hành trình dài dằng dặc:
 
- Cách đây 4.000 năm, người Ai Cập đã biết dùng cây Pa-py-ruýt làm vật liệu tạo giấy. Họ cắt thân cây pa-py-ruýt thành những miếng bằng nhau rồi xếp thành từng lớp. Đem ép hết nhựa. Dùng nhựa ép được dán các miếng thân cây vừa cắt thành từng tờ lớn. Dán xong, đem phơi nắng cho khô mặt. Đặt giữa những tấm da động vật để là bằng đá cho nhẵn mặt.
 
- Riêng ở Trung Quốc và một số nước khác, thời Cổ đại, người ta dùng da cừu hoặc dê ngâm với nước vôi cho sạch lông. Căng phơi để ghi chép. Sang đến thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch, Trung Hoa đã biết dùng những phế liệu tơ tằm cho vào cối giã thành bột, hòa với nước, dùng liềm trúc xeo thành giấy, bằng tinh bột, rồi đem phơi.
 
- Ở thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch, Tây phương dùng những mảnh đất sét nung hoặc mảnh gỗ để ghi chép. Người Trung Hoa dùng những thanh tre khắc chữ vào đó. Nhiều bảng chữ được chép vào thân những nẹp tre đóng thành sách nên còn gọi là sử xanh. Riêng ở Ấn Độ, người ta viết trên lá cọ.
 
Khoảng năm 105 trở đi, Trung Hoa dùng các loại cây và giẻ rách giã thành bột xeo thành giấy. Kinh nghiệm dùng giẻ rách được người Á Rập truyền đi từ Trung Hoa sang Âu Châu, và mãi đến thế kỷ thứ mười Âu Châu mới bắt đầu sản xuất giấy..
 
Ở Hòa Lan, nghề làm giấy phát triển nhanh chóng nhờ họ đã cơ giới hóa nghề nghiền bột. Hòa Lan thời đó đã biết nghiền bột bằng máy nghiền nhờ sức gió. Đầu năm 1670, người ta dùng trục nghiền thay thế cối giã. Và sau đó hoàn thiện bằng pin nghiền nổi tiếng đến ngày nay.
 
- Thế kỷ thứ 19, phương pháp sản xuất bột gỗ cơ học bằng bột gỗ mài để làm giấy được phát kiến. Sau đó, người ta tiếp tục thí nghiệm thành công với các phương pháp hóa học dùng sút trộn lẫn với Sulphurit rồi Sulphat.
 
Nhiều nước đã sản xuất được bột giấy từ mùn cưa.
 
- Khoảng 150 năm nay, người ta đã cơ khí hóa hoàn toàn ngành sản xuất giấy. Từ máy xeo giấy đầu tiên của Pháp do ông Louis - Robert phát minh năm 1779, tốc độ ra giấy là 10-12 m/1 phút, ngày nay máy xeo đã có tốc độ lên đến 750m/1 phút, và có thể sản xuất từ 200 đến 400 tấn giấy hoặc 4.000 tấn các tông.
 
- Hàng năm, trung bình mỗi một chúng ta sử dụng 5kg giấy. Với số người ở khắp nơi trên thế giới, lượng giấy tiêu thụ nhất định không nhỏ. Vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng gia sự sản xuất giấy, đồng thời làm giàu thêm nguyên liệu làm giất, đề phòng việc khan hiếm nguyên liệu. Song song với việc trồng rừng để lấy bột thực vật, nhiều nghiên cứu được thực hiện trong phòng thí nghiệm với mục đích cấu tạo giấy bằng các phương pháp hóa hoặc cơ học.
 
Gần đây, người ta đã dùng năng lượng nguyên tử trong ngành sản xuất cellulose và giấy. Chẳng hạn như gây một vài phản ứng tổng hợp quang học để đồng hóa một số chất không những trong môi trường thực vật mà còn ở động vật nữa. Nhờ đồng vị phóng xạ, người ta đã dễ dàng nghiên cứu sâu hơn phần giải phẫu sinh lý thực vật, xác định kiến trúc phân tử của từng dạng nguyên liệu làm giấy để chọn lựa phương pháp xử lý hiệu quả kinh tế nhất.
 
Có người cũng đã đề nghị băng thu thanh thay vì giấy, những cuốn băng vi ti được cất trong những hộp nhỏ sẽ lâu hư hơn và ít chiếm chỗ hơn. Nhưng thật ra điều này gây nên nhiều bất tiện và phiền phức không nhỏ. Hơn nữa, trị giá tốn kém của nó gấp trăm lần giấy. Vì vậy, đến nay và chắc cả trong tương lai nữa, giấy vẫn giữ một địa vị độc tôn trên thế giới.
 
 
KIM sưu tầm       
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 129, ra ngày 15-5-1970)
 

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

Biệt Ly


 
 
 
 
 
 



Hôm nay biệt mái trường,
Lòng cảm thấy sầu thương
Chia tay cùng bạn cũ,
Lòng tôi thấy vấn vương!

Những cánh hoa phượng vĩ,
Như nhắc nhở mùa thi.
Ve sầu kêu ai oán,
Như buồn cảnh biệt ly.

Biệt ly sao buồn thế
Lòng tôi những tái tê
Miệng nói chẳng nên lời,
Nước mắt dài lê thê.

Thế rồi phải xa nhau,
Lòng không xót mà đau,
Bạn, tôi người đôi ngả,
Bao giờ lại gặp nhau.

Còn đâu lúc vui đùa,
Cùng bạn học tranh đua.
Thời gian sao mau thế?
Năm tháng ngày thoi đưa.

Tuy buồn thế nhưng không,
Đời đang thắm màu hồng,
Sầu bi làm sao được,
Ta quyết vượt gai chông.

Bạn, tôi, chia tay nhé,
Tạm xa một mùa hè.
Vui đùa, chơi thỏa thích,
Ba tháng thật dài ghê.

Phượng vĩ nở đầy cành,
Điểm thêm búp lá xanh,
Màu hoa hường như máu,
Tô thắm chuỗi ngày xanh.

                            NGỌC LIÊN

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 4, ra ngày 25-4-1963)

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026

Con Cóc


Chắc các bạn cho rằng cóc là con vật ghê tởm, có nọc độc, nên giết đi để trừ một mối hại phải không?
 
Đừng nên trông mặt mà bắt hình dong như thế. Kể ra, cóc trông bẩn mắt thật: mồm rộng nguếch ngoác, chân dài chân ngắn, bụng trắng hếu, da sù sì loang lổ, mắt thao láo. Nhưng cóc có nhiều đức tính và chứa nhiều kỳ lạ mà bạn không ngờ!
 
Học cách trí, các bạn hẳn biết cóc là loài máu lạnh, bé sống dưới nước, thở bằng mang như cá ; lớn rụng đuôi, sống trên cạn, thở bằng phổi như loài có vú. Có lẽ, ít bạn biết rằng cóc ít thở bằng phổi, thường thở bằng da và chỉ thở khi nào mồm ngậm chặt. Vì thế, cóc chết rất khó nhọc: chặt đầu đi, cóc sống thêm được vài giờ ; vứt phổi đi, tim cóc còn cố đập thêm được vài ngày! Ban đêm, cóc ngủ nhưng mắt vẫn thao láo ; bởi vì có bao giờ chú ta nhắm được cả hai mắt đâu! Chỉ nhắm được một bên mắt cũng là quá lắm rồi! Miệng cóc rộng nên chú ta mà tắc lưỡi thì kêu to lắm và miệng ấy chỉ dùng để ăn chớ không bao giờ dùng để uống. Lúc nào khát, chú ta nhảy tòm xuống ao tắm ; thế là đủ vì chú ta thường có tính uống nước bằng da.
 
Tuy bề ngoài trông dữ tợn, nhưng tâm tính cóc rất hiền lành, dễ làm quen với người lắm. Các bạn thử bắt một con sên buộc vào sợi chỉ, dứ dứ trước mõm cóc xem, chú ta không ngần ngại gì mà không đớp! Ấy chỉ vài bận là quen, rồi sau thoáng thấy bóng các bạn, chú ta sẽ nhảy ra ngay.
 
Người ta bảo dãi cóc có nọc độc, thật là oan cho chú ta quá! Cóc không có hạch nước dãi thì lấy đâu ra dãi để đầu độc chúng ta? Cóc chỉ có nhựa: da sù sì, hễ ai mó vào nó sẽ tiết ra một thứ nước nhớp nháp, trơn như mỡ. Mặc dầu vậy nhựa đó cũng không hại gì nếu tay ta không bị trầy trụa chỗ nào, và rửa xà phòng là sạch hết ngay. Thật ra cóc có nhiều hạch khá to ở gáy, tiết ra một thứ nọc thật mạnh, thật quý. Nhưng ít khi cóc tiết nọc ra, trừ khi tức giận đến cực điểm. Nọc đó mạnh đến nỗi cóc chịu được cả nọc rắn hổ mang mà chỉ một chút xíu cũng đủ làm chết một con mễn lớn. Nhờ ở nọc đó, cóc nhịn đói rất dai. Nhốt cóc vào lọ trong 2 năm trời, đổ ra chú ta vẫn còn sống như thường. Tuy nhiên cóc rất háu ăn, mỗi ngày ăn đến 5, 6 bận và ăn ròng là sâu cắn rau. Vì vậy, những người trồng rau có kinh nghiệm, thường hay bắt cóc mang về thả vào những luống rau.
 
Ngoài 2 đặc tính trên, nọc cóc còn có thêm đặc tính rất kỳ lạ khác: dùng nọc cóc tiêm vào người - người không chết đâu - thì người cảm thấy khỏe ra, tim đập đều, thần kinh hệ được cân bằng và nhất là nhờ nọc đó, các hạch trong thân thể người ta tiết đều các chất rất có ích cho sức khỏe.
 
Ngày xưa, người ta đuổi cóc, giết cóc vì trông cóc ghê gớm. Ngày nay, người ta nuôi cóc, bảo vệ cóc để lấy nọc. Người ta bắt luồng điện khá mạnh vào mình cóc, để cho cóc cáu tiết ứa nọc ra rồi họ hứng lấy.
 
Các cụ ta, không phải đợi đến bây giờ mới biết cái đặc tính có ích của cóc. Mà đã từ lâu rồi, các cụ vẫn biết quý cóc. Hẳn các bạn còn nhớ câu hát nửa khuyên nửa dọa này:
 
Con cóc là cậu ông trời,
Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho.
 
Sự thật, chưa có ai đánh cóc mà bị trời đánh cả. Nhưng, nếu ai đánh cóc cũng là người độc ác, vô ơn đối với một giống vật có ích cho người.
 
 
Lê Dương Thạch     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 38, ra ngày 14-5-1972)
 

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Mưa Phùn

 



 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mưa rơi như bụi lướt qua

Hôm nay chẳng nắng hoá ra mưa phùn

Núi rừng cây cối chập chùng 

Mưa rơi trên mắt vô cùng dễ thương

Nhẹ nhàng như những giọt sương

Phất phơ trong gió trên đường lá bay

Mưa rơi như lệ ai hay

Như trời đang khóc giãi bày buồn đau

Nụ hoa chưa nở ủ dàu

Chờ ngày mưa tạnh khoe màu toả hương 


                                                 Nhã Uyên
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>