Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018

Chiếc Đèn Ông Sao


Bé ngồi thu mình trong chiếc ghế sa-lông rộng lớn, êm ái như cô mèo nhỏ. Mi-Mi nằm trong lòng Bé đã ngủ say. Con bé đến ghét Hễ đặt nằm xuống là ngủ ngay. Bé cúi hôn nhẹ vào hàng lông mi dài và cứng củ Mi Mi, nói rất khẽ:

- Ngủ một chút thôi Mi Mi nhé! Bố sắp ra rồi đấy.

Có tiếng giày và bố xuất hiện ở cửa. Dáng bố cao lớn mập mạp choán gần hết cửa ăn thông phòng ăn và phòng khách. Trên thân thể bố cái bụng bự nhất. Có lần bố mẹ tới trường đón bé đi ăn cơm khách, con Trâm vừa thấy bố đằng xa đã hỏi bé:

- Bố mày ăn chi mà bụng bự dữ vậy? Tao chắc trong đó có em mày.

Bé hỏi bố, bố cười, hỏi mẹ, mẹ mắng yêu "chó con"... Thắc mắc của con Trâm bé vẫn chưa giải đáp nổi. Miệng bố ngậm ống "píp". Hôm nay bố mặc áo "veste" đen và xách chiếc cặp da cũng đen nốt. Chắc bố lại đi dự tiệc (?) Bé muốn lại ôm chân bố nhưng sợ áo quần bố hư bố mắng chết. Bố ở gần bé quá nhưng bé thấy thật xa cách, xa lạ. Sợ bố đi bé bế xốc Mi Mi dậy chạy lên bên bố nũng nịu:

- Bố ơi! Con muốn nói với bố điều này. Bố khoan đi nhé bố.

Bố đặt chiếc cặp da lên bàn rồi ngồi xuống sa-lông. Bố không cười với bé, bố hỏi:

- Con muốn gì? Thích mua con gấu bông phải không?

Bé lắc đầu:

- Hông phải! Gần Trung Thu rồi con... muốn...

Bố xách cặp da đứng lên:

- Con muốn bánh dẻo, bánh nướng, đèn con cá chứ gì. Ồ, đừng lo.. Mai mốt bố mua cho.

Bố dợm bước đi, bé hốt hoảng:

- Không phải bố ơi! Con không muốn bố mua những thứ đó. Con muốn bố làm cho con chiếc đèn ông sao cơ.

Bố khẽ chau mày và nói nhanh:

- Không được, bố bận lắm. Mai bố mua cho.

Rồi bố bước nhanh ra cửa. Bé đứng yên tại chỗ một phút, hai phút rồi ba phút... thời gian như ngừng hẳn. Cho tới khi nhìn thấy chiếc xe hơi bóng lộn, sang trọng ra khỏi chiếc cổng sơn xanh bé ngồi "phịch" xuống ghế và bật khóc:

- Mi-Mi ơi! Có phải bố không thương bé hở? Mẹ không thương bé hở? Bé buồn lắm Mi-Mi có biết không?

Nhưng Mi-Mi không biết gì cả. Cái miệng đo đỏ, xinh xinh của nó vẫn cười thật tươi trong khi đôi mắt khép kín. Bé nhìn búp-bê Mi-Mi, nó không biết buồn như bé vì nó không có bố, có mẹ. Nó chỉ có bé là "chị" thôi mà bé cưng nó lắm nên nó cười mãi cũng phải. Cô giáo bé nói chỉ những đứa không có cha, có mẹ mới khổ. Còn những đứa có đầy đủ cha mẹ đều hạnh phúc, sung sướng cả. Trường hợp bé có đúng chăng? Bé có bố lẫn mẹ cơ mà sao bé vẫn khổ, vẫn buồn? Bố con Hạnh đạp xích lô, chiều nào rước khách xong cũng lại trường đón nó. Bố con Thiện vui đáo để. Có lần tới nhà nó chơi bé thấy bố nó công kênh nó trên vai hay làm ngựa cho nó cưỡi. Thấy bé, con nhỏ cười như nắc nẻ, thích thú lắm mà bé cũng thích nữa cơ. Bé thích cái miệng hay cười của bố con Thiện - nhà nó vui quá! Mẹ con Hiền tỉ mỉ thêu cho nó từng chiếc khăn tay, may cho nó cái áo đầm. Nó hay khoe với bé:

- Má Hiền mới thêu cho Hiền cái khăn này. Nghi xem có chữ H đẹp không? Má Nghi có thêu khăn cho Nghi không?

Mẹ bé không bao giờ làm việc đó cho bé cả. Bé muốn áo mới ư? Ra chợ Bến Thành. Bé muốn khăn tay ư? Ra chợ Bến Thành! Bé muốn mũ, giày, vớ... tất cả đều ra chợ Bến Thành, ra Tax. Bé muốn có những cái áo đầm, những chiếc khăn tay thật giản dị, thật tầm thường nhưng do chính tay mẹ thêu, mẹ may lấy. Bé muốn mỗi ngày bố đi làm về ghé trường đón bé. Tới tối bé muốn bố mẹ quây quần ở phòng khách. Bé đọc bài cho bố dò, mẹ ngồi cạnh may áo. Thật hạnh phúc! Bé thật sung sướng trong tình thương yêu của bố mẹ.

Nhưng bố của bé bận việc ngoài. Bố của bé hay ngậm ống "píp", hay mặc áo sang trọng. Bố của bé không biết cười như bố con Thiện. Bố không biết công kênh, không biết làm ngựa, không biết đùa với bé. Bé không dám sà vào lòng bố nũng nịu, không dám nhổ tóc bạc cho bố như con Hạnh vẫn làm. Mẹ cũng bận công việc của mẹ, bận tiệc tùng này nọ. Mẹ giao bé cho Vú nuôi. Cả ngày bé chỉ lủi thủi bên Vú, chơi với Mi Mi hay con Tô Tô mà thôi.

Hôm qua trong lớp học con Hạnh, con Hiền, con Thiện họp nhau dự cuộc thi chi đó. Chúng rủ bé tham dự. Con Thiện bảo:

- Năm nay Trung Thu bà tao hứa làm cho tao đèn kéo quân. Chắc ba tụi bây cũng làm cho tụi bây. Mình thi thử xem ba đứa nào làm đèn đẹp nhất.

Cả bọn đồng ý. Con Hạnh bảo:

- Nhưng con Nghi không được mua đèn đấy. Đèn mua tụi tao nhìn biết liền. Mày mà ăn gian tụi tao loại đèn mày ngay, không thèm chơi với mày nữa.

Bé nghẹn ngào nhìn lũ bạn mà nói nhỏ:

- Tao không chơi ăn gian. Bố tao biết làm đèn và làm đẹp nữa cơ. Hôm thi tụi bây sẽ biết.

Trước mặt bạn bé bé nói thế nhưng về tới nhà bé lo vô cùng. Làm sao để nói với bố đây? Bố đâu có thì giờ làm đèn cho bé. Hồi tối bé có đem chuyện này nói với mẹ, mẹ nạt bé:

- Con nít chỉ bày đặt lôi thôi. Bố đâu biết làm đèn, mà biết bố cũng không có thì giờ làm. Con muốn đèn chơi ra tiệm mua khối gì, làm chi cho mất công.

Nghe mẹ nói bé không dám năn nỉ thêm. Sáng nay bé đón bố để nhờ bố làm nhưng bố cũng từ chối. Bé biết sao bây giờ? Chỉ còn ba hôm nữa phải thi với mấy con bạn rồi.

Trưa bố không về ăn cơm. Mẹ ăn vội miếng cơm rồi cũng đi ngay. Nhà chỉ còn mình bé và bé vẫn khóc gần một ngày rồi. Vú Tám theo bé dỗ dành:

- Đừng khóc nữa con, lớn rồi khóc xấu lắm. Thế nào ông cũng mua đèn cho con mà, năm nào chẳng có.

Rồi Vú kể lể:

- Tội nghiệp thằng con của Vú. Nó vừa nhờ người viết thư lên bảo Vú kỳ này về mua cho nó chiếc đèn con cá thiệt bự nhưng Vú làm cho nó đèn ông sao cơ, để tiền đó mua bánh trái cho mấy đứa em nó. Tội nghiệp nó lắm con ơi! Nó đi chăn trâu gặp phải mìn mù cả đôi mắt. Vú thương nó quá!

Giọng Vú đầy nước mắt, đau đớn. Bé nghe Vú kể chuyện thằng Hoàng con của Vú hoài. Giọng Vú kể buồn buồn. Bé rúc đầu vào lòng Vú và ngủ thiếp đi.

*

Có tiếng ồn ào ở phòng khách rồi tiếng Vú Tám reo to:

- Nghi ơi! Đèn của con này. Chu choa con rồng lớn quá, đẹp quá! Ra mà xem Nghi này.

Bé tung chăn nhảy phóc xuống giường và chạy vội lên nhà trên. Bé mở to mắt nhìn chiếc đèn con rồng màu sắc rực rỡ, lộng lẫy. Đèn này bố mua ở tiệm về, không phải của bố làm. Bố ngồi ở sa lông hỏi bé:

- Con thích không? Bố chọn mãi mới được con rồng này đó. Nếu con thích thêm đèn con cá, con thỏ bố sai vú Tám mua cho.


Bé nghẹn ngào nhìn bố. Miệng bố vẫn ngậm ống "píp". Bố vẫn không cười với bé. Có phải ống "píp" làm bố không cười được với bé chăng? Bé giật lấy chiếc đèn trên tay Vú Tám rồi quăng mạnh chiếc đèn xuống đất. Bé hét to trong tiếng khóc:

- Không! Không! Con không cần chiếc đèn này. Con cần một chiếc đèn do bố làm cơ. Đèn này tụi nó sẽ không cho con dự thi.

Phản ứng của bé thật bất ngờ, nhanh chóng. Bố đứng lên ngạc nhiên. Vú Tám mở to mắt nhìn bé. Mẹ ở phòng ngủ chạy sang hỏi: "Chuyện gì thế? Nó không ưng chiếc đèn à?" Rất nhanh, bé nhìn thấy những nét ngạc nhiên trên mặt mọi người. Bé chạy vụt về phòng nằm khóc nức nở.

Thế là bé ngã bệnh. Hơn một ngày không một hạt cơm, hạt cháo trong bụng. Miệng bé khô và đắng. Đầu bé nhức nhối, người nóng ran. Trong cơn sốt bé chập chờn mơ thấy mình mặc chiếc áo đầm hồng, tay cầm chiếc đèn con rồng đến dự thi. Mấy đứa bạn xua đuổi bé, chúng chê đèn của bé. Con Hạnh, con Thiện, con Hiền xấn tới đánh bé. Chúng xé rách đèn của bé. Bé vừa khóc vừa bỏ chạy. Rồi bé nghe hình như có tiếng bố:

- Tôi đổi chiếc đèn con rồng này cho Vú để lấy chiếc đèn ông sao của Vú làm. Vú đem về cho thằng Hoàng chơi.

- Nhưng, thưa ông đèn tôi xấu thế này mà... mà...

Bố gắt nhẹ:

- Không sao! Nhưng Vú nhớ nhé đừng cho con Nghi biết chuyện này. Vú nói với nó đèn này tôi làm.

Rồi con Thiện, con Hạnh, con Hiền cầm đèn đuổi theo bé. Bé sợ hãi chạy mau hơn. Bỗng bé vấp phải rễ cây ngã chúi xuống đất. Bé hốt hoảng kêu thét lên.

Bé giựt mình thức giấc, rên khẽ. Mẹ ngồi cạnh đang quạt cho bé. Mắt mẹ có quầng đen. Chắc hôm qua mẹ thức canh cho bé cả đêm. Gương mặt mẹ đượm buồn. Mẹ lo cho con phải không mẹ? Mẹ thương con nhiều lắm phải không mẹ? Còn bố đâu? Bố cũng thương con nhiều lắm phải không mẹ? Con cũng thương bố, thương mẹ nhiều lắm. Con muốn bố mẹ hỏi con "Nghi ơi! Con thương bố, thương mẹ bằng chừng nào hở con" Để con được trả lời "Bằng ông trời", phải không mẹ. Hồi còn bé con hay nói thế phải không mẹ?

Bé trở mình. Mẹ đặt nhẹ cái quạt xuống giường âu yếm hỏi bé:

- Con mệt nhiều không? Ráng uống thuốc cho mau lành bệnh mà đi rước đèn. Bố làm cho con chiếc đèn ông sao này.

Bé mừng rỡ gượng ngồi lên. Mẹ lại bàn lấy chiếc đèn ông sao đưa cho bé. Bé cười rạng rỡ, nói như trong cơn mơ:

- Bố làm đèn cho con hở mẹ? Bố tài quá! Bố làm đẹp quá! Đèn của bố phải hạng nhất.

Mẹ gật đầu, mắt mẹ long lanh. Mẹ khóc hở mẹ? Không, mẹ mừng thấy con sắp lành bệnh. Mẹ thương con nhiều hở mẹ? Mẹ may áo cho con nghe mẹ. Mẹ thêu khăn cho con nghe mẹ. Mẹ gật đầu, nước mắt chảy dài xuống má nhưng mẹ cười Bé yêu nụ cười của mẹ quá!

Bố đẩy cửa bước vào. Trên tay bố những gói nhỏ đựng nho, táo, thêm một con gấu bông thiệt lớn nữa. Bố hỏi:

- Khỏe không con? Bố làm đèn cho con đấy, xấu quá phải không Nghi?

Bé sà vào lòng bố nũng nịu:

- Không, bố làm đẹp lắm! Đèn của bố sẽ hạng nhất.

Bố cười lớn xoa nhẹ đầu bé. Bố cười với con mãi nha bố. Bé ngước nhìn bố, hỏi:

- Bố biết công kênh không?

- Biết!

- Bố biết làm ngựa không?

- Biết. Bố biết làm mọi da đỏ nữa. Con chơi bắn súng với bố không?

Bé sung sướng gật đầu. Bố tài lắm, bố biết tất cả phải không bố. Bé nhìn bố, nhìn mẹ, nhìn chiếc đèn ông sao, nói khẽ "Con hết bệnh rồi" và hoa Hạnh Phúc đang nở trong lòng bé.


TRẦN THỊ HẬU    

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 54, ra ngày 17-9-1972)

Trăng Tuổi Thơ













Trăng rằm xinh đẹp mỉm cười

Thanh xuân khoe dáng vàng tươi ngọc ngà

Bên trăng em  nhỏ múa ca

Ánh trăng huyền diệu thướt tha êm đềm

Rì rào tiếng động trong đêm

Lá reo theo gió, cỏ mềm dưới chân

Trăng thanh gió mát thật gần

Mến thương quá đỗi tần ngần ngắm trăng.


                                                  Nhã Uyên

Ánh Trăng Thơ Ấu















Một hai ba bốn năm
lồng đèn chiếu lung linh
Sáu bảy tám chín mười
vì sao thắp bầu trời

Rộn ràng bầy bé thơ
Mắt long lanh đợi chờ
Tiếng múa lân vang vọng
Dưới vầng trăng êm mơ

Mấp mô đường làng nhỏ
Đèn rước khắp xóm thôn
Trăng rằm xuyên khóm lá
Đẹp như khúc Nghê Thường

Tùng tùng cắc tùng tùng
Trống rộn rã ngoài sân
Ngoại bầy mâm ngũ quả
Con cháu vui quây quần

Ngoại kể chuyện cổ tích
Cháu nhâm nhi bánh, trà
Làn gió đêm đưa tới
Thoang thoảng mùi hương hoa

Trăng nghiêng soi bờ giếng
In đáy nước dịu dàng
Rì rào bao khóm trúc
Biêng biếc ánh trăng tan

Làng thôn vang câu hát
Khúc khích trẻ vui cười
Nhịp nhàng hòa điệu múa
Mừng trung thu ngàn nơi.....

Trần Thị Phương Lan
(Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2018

Chiếc Đèn Trung Thu


Trẻ con trong xóm đã lục tục kéo nhau ra đầu con hẻm, sửa soạn rước đèn.

Ánh nến lung linh theo nhịp bước, chúng nối đuôi thành hàng dài, đèn đưa cao ngang tầm mắt. Mấy chiếc phi cơ mở rộng cánh, và con cá chép vẩy bạc. Đôi con bướm vòi uốn cong, cánh xòe điểm hoa lốm đốm. Dăm ba con thỏ lông trắng, vài quả bí sọc, tròn xinh xinh... Tất cả, gợi nhớ đến một đêm trăng huyền diệu, khi Đường Minh Hoàng mơ du nguyệt điện thuở xa xưa.

Bé Du hấp tấp mở cặp, lôi ra chiếc đèn xếp.

Chiều này, giờ thủ công, cô giáo đã dạy lũ học trò xếp đèn, chuẩn bị đón Trung Thu. Bạn bè Du, đa số xếp đèn để lấy điểm ; chứ đứa nào cũng khoe ở nhà đã có mua đèn ở tiệm cả. Chả vì đèn ở hiệu đẹp gấp bội.

Du đưa chiếc đèn xếp ra chỗ có ánh sáng. Hai tờ giấy Thế Giới Tự Do được dán liền, gấp theo nếp. Đèn cũng có cả chỗ đốt nến, cọng kẽm để treo.

Du đốt ngọn đèn cầy nhỏ xíu, đặt cẩn thận vào đèn rồi tìm một que tre nho nhỏ, cột chặt vào cọng kẽm. Du đưa đèn lên cao ngắm nghía.

Tờ giấy quá dầy bên ngoài đã ngăn cản ánh nến! Đèn coi có vẻ hơi kỳ dị! Phải chi Du có tiền mua giấy bóng làm, chắc đèn sẽ đẹp hơn nhiều! Do dự một lát, Du đứng lên, nói với vào trong:

- Má ơi! Con chơi rước đèn chút nghe má.

Má nó đang làm gì phía sau bếp, cao giọng:

- Chơi gì mậy! Đèn đâu mà đòi?

Du đưa cao đèn lên:

- Có nè má! Cô con mới dạy làm hồi chiều đây!

Má Du bước ra, lau tay vào vạt áo đang mặc:

- Đâu...? Đèn gì "kỳ" vậy mậy? Dầy mo! Ối! Đèn với đuốc! 11, 12 tuổi rồi!

Nghe mẹ chê, Du bỗng khó chịu, dù nó cũng thấy chiếc đèn kỳ kỳ làm sao ấy! Trong lớp, chả có cái đèn nào giống của nó cả! Du vùng vằng, quay về phía cửa:

- Kỳ gì? Xin má tiền mua đèn chơi, má hỏng cho, rồi xin tiền mua giấy bóng làm, cũng hỏng cho. Đứa nào cũng có, hai ba bữa rồi...

Má nó nạt ngang:

- Tao biểu hỏng có mua chác gì hết! Dẹp đi!

Du rơm rớm nước mắt, im lặng. Lúc nào mẹ nó cũng dễ nóng giận! Nó cũng bướng bỉnh nhưng cũng biết sợ đòn. Mẹ nó đã to tiếng mà nó còn lải nhải là có chầu ốm đòn!

Du thấy mẹ nó nhiều lúc thật khó chịu, chả bù với cô giáo trong lớp. Chiều này, khi bạn bè dè bỉu chiếc đèn này, cô giáo nó đã ôn tồn giảng giải:

- Mấy em có giấy bóng làm đèn càng tốt. Không có, dùng giấy có sẵn ở nhà như Du đây, cũng chẳng sao! Tuy giấy hơi dầy, nhưng cũng đẹp. Không hề gì. Giấy của Du tuy vậy, song được lợi điểm là gấp dễ và giữ nếp hơn...

Du bỗng thấy yên chí, đi mau ra đầu hẻm.

Tụi nó đã xếp thành hàng cả rồi. Du thấy lòng nao nức. Mấy hôm nay, Du vẫn thèm thuồng nhìn tụi nó chơi. Xin mẹ mấy lần không được, Du đành chịu. Vả lại, có lần cô giáo đã từng dặn dò:

- Các em chớ nên suy bì với bè bạn. Mỗi em có một hoàn cảnh gia đình khác nhau. Kẻ giàu, người nghèo. Cô nghĩ rằng cha mẹ em nào cũng thế, ai cũng hết lòng lo lắng, hy sinh cho các em cả. Những gì cha mẹ không làm được cho các em, chính vì cha mẹ thiếu khả năng, phương tiện. Đòi hỏi quá đáng, chỉ làm khổ tâm cha mẹ các em mà thôi. Các em nên sung sướng trong hoàn cảnh của mình, dù nghèo nhưng vẫn được mẹ cha cho đến trường học hỏi. Còn hơn biết bao trẻ con bất hạnh khác...

Mà Du thấy ba má cũng lo cho nó thật. Nhà nó nghèo. Ba nó ngày ngày còm lưng trên chiếc xích lô đạp. Nhiều khi, như hôm nay chẳng hạn, gần 8 giờ đêm rồi, ông vẫn chưa được về nghỉ ngơi. Mẹ Du, khuya đã thức dậy, xuống tận khu ruộng mua vài chục mớ rau muống gánh về chợ. Mẹ nó thường bảo nghề này ít vốn, mỗi ngày kiếm hơn trăm bạc lại có rau ăn. Có lần, người hàng xóm đến hỏi ba má nó cho nó đến phụ giữ em, mỗi tháng trả cho vài ngàn bạc. Nhưng ba má nó quyết liệt từ chối. Ba má nó muốn nó học hành đàng hoàng, dù nhà nghèo, phải chạy gạo từng bữa...

Đám trẻ con quay hẳn về hướng Du khi có một đứa reo lên:

- Con Du ra rước đèn kìa bây ơi! Á! Đèn của nó ngộ quá!

Có giọng chế nhạo:

- Đèn đặc biệt, đèn đặc biệt!

- Đèn gì "quê" quá! "Cù lần" quá bây ơi!

Mỗi đứa một tiếng nói, một tiếng cười. Du tức tối, bao nhiêu náo nức tự nãy, giờ tan biến nhanh chóng. Nó sừng sộ:

- Ừ! Đèn tao làm đấy! Đứa nào làm được như tao chưa?

Bọn trẻ con cười rộ:

- Làm xấu òm mà cũng khoe! Này! Xem đèn tụi tao mua này! Coi có phải đẹp "dễ nể" hông? Dẹp đi mày ơi! Mua đèn khác mà chơi!

Du hằn học:

- Tụi bây làm tàng há! Khỏi thèm chơi với tụi bây đi. Hừ! Để tao mua đèn khác, đẹp gấp trăm lần bây.

Bọn trẻ cao giọng, thách thức:

- Ừ! Mua đi rồi đem ra đây! Làm tàng hoài!

Du bực tức trở về nhà, liệng đèn trước cửa không do dự, tiếc rẻ. Đèn cầy ngã xuống gặp giấy, bắt cháy. Nỗi bực tức hầu như tan dần theo ngọn lửa. Du tần ngần đứng nhìn, buồn chán.

Mẹ Du hốt hoảng khi thấy ánh lửa trước hiên nhà. Cơn giận vụt đến khi bà thấy đứa con gái đang đứng yên lặng nhìn. Bà tru tréo:

- Trời ơi là trời! Hổng cho tiền mua đèn, bây giờ mày làm nư với tao hả? Trời ơi là trời! Nó muốn hại tui nè! Mày muốn cháy nhà hả? Con này?

Thế là Du bị một trận đòn nên thân, mông ê ẩm. Nó nằm chèo queo trên giường, thút thít...

Du lén mẹ, đi lần ra đầu ngõ. Bọn trẻ lúa nãy đi đâu cả rồi! Du lần đến cửa tiệm bán đèn Trung thu, nơi mấy hôm nay nó vẫn thường đứng lặng hàng giờ ngắm nghía.

Đèn đủ kiểu vẫn còn treo la liệt. Người mua, người xem vẫn đông đảo như mọi lần.

Du thích thú nhìn chiếc đèn con cá Tàu với vẩy bạc lấp lánh dưới ánh đèn. Mồm cá đỏ tươi, há rộng. Cái vây mới tuyệt, dài và đẹp như cánh áo mấy nàng tiên.

Đèn phi cơ dang cánh y như thật. Có cả đèn tàu thủy với những nét sóng gợn hai bên hông tàu. Đèn bươm bướm, phi thuyền, con voi, con thỏ... cái nào cũng đẹp nhưng Du không thích bằng con cá Tàu lúc nãy. Có tiếng trầm trồ:

- Cái đèn kéo quân này mới "số dách" ta!

À! Chiếc đèn kéo quân độc đáo thật! Nhưng cũng đắt gớm! Con cá 120đ mà đèn này những 600đ.

Đèn làm thật công phu! Những chùm tua ren vàng thả mềm mại theo từng góc của chiếc đèn khối bát giác. Đèn cao cỡ 5 tấc là ít! Mặt đèn không dán giấy bóng kính như các đèn kia, mà là bằng lụa mỏng màu hồng nhạt. Một bóng điện tròn được đặt bên trong, soi tỏ dạng những hình người đang di chuyển trên mặt lụa.

Trẻ con chung quanh ý chừng cũng thích chiếc đèn kéo quân này nhất. Chúng chỉ chỏ, trầm trồ.

Du chợt nhớ đến lũ bạn trong xóm. Mình mà có chiếc đèn này thì phải biết! Cho tụi nó lác mắt! Cả xóm, chả có đứa nào được chiếc đèn như thế này! Phải làm sao có chiếc đèn này mới được! Hết đứa nào còn bộ mặt khinh khỉnh! Tha hồ cho tụi bây vuốt ve, ngắm nghía...

Du cho tay vào túi. Nó thở dài ngao ngán! Túi rỗng không! Tiền không có để mua đèn cá Tàu mà nó vẫn thích, nói chi đến đèn kéo quân này! Nhưng giọng nói thách thức của lũ bạn ban nãy lại vang lên trong đẩu Du. Tức thật!

Một ý nghĩ chợt lóe lên! Cô giáo vẫn thường khuyên nhủ đám học trò, nghèo cho sạch, rách cho thơm, phải ngay thẳng, thật thà... Nhưng tức lắm cơ! Mặc kệ! Phải làm sao có chiếc đèn này mới được!

Du đưa mắt quan sát. Bà hàng đang mải lo gói bánh tận trong quầy. Người mua, kẻ ngắm chẳng ai buồn để ý đến nó. Chiếc đèn treo tận mé ngoài để câu khách, không quá tầm tay với của Du, cọng kẽm treo ơ hờ.

Do dự một chút, Du cả quyết đưa tay lên cọng kẽm, cầm giật mạnh. Nó xách đèn, chạy cắm cổ.

Người Du nhẹ như bông, hai chân sải nhanh. Chiếc đèn trên tay không gây một trở ngại nào. Nó bỏ lại sau lưng tiếng người nhốn nháo, tiếng kêu, tiếng la thất thanh của bà hàng.

Chạy quanh co mãi hơn chục con hẻm, Du mới đến hẻm nhà! Quái! Hôm nay sao đường xa thế nhỉ? Chạy mệt, người nó loạng choạng, chập chờn. Du đứng lại khi biết chắc đã thoát hiểm. Nó thong thả tiến vào hẻm.

Lũ trẻ con ban nãy đang từ trong đi ra, miệng hát to, thích thú:

"Tết Trung Thu rước đèn đi chơi
Em rước đèn đi khắp phố phường
Đèn ngôi sao với đèn bươm bướm
Đèn thiên nga với đèn cá chép
Em đốt đèn này đến cung Hằng"

Lũ trẻ chạy xô lại, bỏ cả hàng ngũ, vây quanh Du chúng reo lên:

- Trời ơi! Con Du ngon quá! Mày có cái đèn số dách! Bao nhiêu đó mậy?

Mặc cho lũ bạn lao nhao, ngắm nghía, vuốt ve. Du đắc thắng đứng im, cười hãnh diện.

Một đứa nổi tiếng tinh quái nhất trong đám, bỗng nhìn nó soi bói, ranh mãnh:

- Thôi! Tao biết rồi! Mày ăn cắp! Phải hôn? Sức mấy mày có tiền mua cái đèn này? Chết mày rồi!

Du đứng chết lặng. Nó cố gắng to giọng:

- Ai bảo mày thế? Tao mua đó.

Lũ trẻ bỗng nhốn nháo hẳn lên. Chúng hạch hỏi rồi lại chế nhạo. Du lúng túng, giật nhanh chiếc đèn, bỏ chạy.

Đám bạn Du đuổi theo phía sau, hò hét như đám giặc. Du hốt hoảng, cố sức chạy nhanh hơn. Có giọng đe dọa:

- Chết mày rồi! Vô trường tao mét cô. Cho mày bị đuổi học chơi...

Lỗ tai Du lùng bùng, mồ hôi nó toát ra. Chết thật! Cô giáo biết được, không khéo bị đuổi thật chứ không lôi thôi đâu!

Hoảng sợ, Du vứt nhanh chiếc đèn, tiếp tục cắm cổ chạy. Trong cơn hấp tấp, Du bỗng vấp phải một chiếc ghế. Ghế đâu mà đặt tai ác! Du nhoài người đứng lên. Bỗng, Du hồn phi phách tán! Trời ơi! Bà hàng! Bà đang đứng chắn ngay trước mặt nó. Tiện tay, bà nắm lấy tóc con bé, miệng rít:

- Con nhà mất dạy! Đồ lưu manh! Đồ ăn cắp! Này! Ăn cắp! Này...

Mỗi tiếng này, bà ta lại giơ thẳng cánh tay, vả vào mặt Du bốp bốp.

Trong cơn thảng thốt, Du tự hỏi, làm gì bà ta biết được? Hồi Du lấy, làm gì có ai thấy? Bây giờ, Du đang tay không cơ mà!

Du cố gỡ bàn tay to lớn của bà hàng, nó van vỉ:

- Hỏng có! Bà ơi! Con đâu có lấy gì của bà! Bà xem con này! Đâu có gì.

Mặc cho Du van lơn, bà hàng thẳng tay tiếp tục. Du đau đớn gục đầu, nức nở chịu trận đòn...

Ba Du mệt nhọc đẩy xe vào hàng hiên. Gương mặt sạm nắng lấm tấm mồ hôi. Hơn chín giờ đêm rồi! Hôm nay chạy xe có mòi khá hơn thường lệ. Ông đưa mắt nhìn vào nhà, tìm kiếm:

- Bà đâu? Con Du đâu rồi hỏng thấy vậy ha?

Mẹ Du ngồi trên ghế, chống tay lên cằm, dài giọng:

- Nó kìa! Ngủ trên tấm vạt đó! Đòi chơi đèn, đòi mua đèn! Tôi hổng cho! Kiếm đâu được cái đèn, giấy dầy mo, đốt cháy rồi! Tôi mới cho một trận nên thân đó đa!

Mẹ nó kể lể:

- Nhà nghèo mà hổng theo phận nghèo! Cứ đòi đèn với đuốc, thiệt tức mình!

Ba Du giọng dễ dãi:

- Nghĩ cũng tội nghiệp nó chứ bà! Mấy năm nay có được cái nào đâu! Toàn là chơi đèn lon sữa bò! Đây nè! Bữa nay chạy xe khá, tui mua cho nó cái đèn đây! Kêu nó dậy đi!

Mẹ Du đứng lên. Ba Du từ cửa bước vào, lủng lẳng trên tay chiếc đèn. Mẹ nó giọng tiếc xót:

- Trời ơi! Nghèo mà xài sang! Bao nhiêu vậy?

- Trăm đó! Tui kèo nài, người ta bớt được hai chục. Không thì tới trăm hai. Kệ, cho nó chơi năm nay đi bà. Du à! Dậy chơi đèn đi con!

Mẹ Du im lặng. Nghĩ cũng tội con bé!

Tiếng thút thít của Du làm mẹ nó giật mình! Nãy giờ bà cứ tưởng con đã ngủ. Tội chưa! Khóc từ đó tới giờ.

Bà cất giọng, nhẹ nhàng:

- Thôi! Dậy lấy đèn chơi đi, khóc gì nữa?

Du vẫn thút thít nằm im, tiếng ú ớ trong cổ họng, tay đưa về phía trước, bâng quơ. À! Con bé chắc đang nằm mơ! Chiêm bao sao mà khóc dữ vậy kìa!

Mẹ nó nghe thoáng hối hận trong lòng. Hồi nãy bà đánh con bé cũng hơi quá tay. Đến bên con, bà lay vai Du:

- Du! Du à! Dậy chơi đèn đi con! Du!

Du bàng hoàng mở mắt. Ánh ngọn đèn dầu lung linh. Đúng bà hàng đang nắm vai nó. Du tiếp tục van vỉ, nước mắt chan hòa:

- Dạ! Con hỏng có! Tha con đi!

Mẹ Du thấy điệu bộ của con, từ ngạc nhiên, bước sang hoảng sợ, càng lay mạnh vai nó:

- Gì vậy con? Du? Má làm gì mà tha?

Ba Du đưa chiếc đèn đến bên nó:

- Bà đánh nó dữ lắm sao? Coi nó hoảng sợ kìa! Du! Ba mua cho con nè!

Nó hoang mang nhìn ba, nhìn má, chiếc đèn:

- Bà hàng đâu rồi, ba má? Đèn nào vậy?

- Con này ngớ ngẩn! Bà hàng nào đem đèn vô nhà mình bán? Ba mày ổng mới mua về cho mày đó. Xách đi chơi đi. Đòi cả mấy bữa nay!

Du dụi mắt, cố định thần. Rõ ra một cơn ác mộng! Thật hú vía! Sung sướng thay, vừa rồi chỉ là một cơn mơ!

Du càng sung sướng hơn với sự thật trước mắt. Trên tay ba nó, con cá Tàu vây dài mà Du từng ao ước, đang há mõm, vẩy lấp lánh.

Du quẹt vội nước mắt. Nó nhảy thót xuống đất, đến bên cha, cẩn thận đón lấy chiếc đèn. Thích mê đi! Cho lũ bạn hết chê đèn xấu.

Ba má Du tần ngần đứng dựa cửa, nhìn con đang hân hoan xách lồng đèn ra nhập bọn với lũ trẻ. Hai người đều thấy lòng mình mở hội, miệng không giấu được nụ cười.


ÁI THƠ     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 106, ra ngày 7-9-1973)

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

Một Truyện Cho Các Bé Của Chị


Một lần nữa, mùa thu lại về cùng chúng ta bé nhỉ. Mùa khai trường cũng bắt đầu, nhìn các bé tung tăng xách cặp đi học chị lại nhớ đến những năm bé thơ của chị. Chị cũng mừng được gặp thầy, gặp bạn như bé bây giờ vậy. Nhưng chị còn mong một ngày vui khác nữa cũng trong mùa tháng tám này đây: ngày tết Trung Thu hay ngày rằm tháng 8 cũng vậy. Và về sau này nó còn được chọn làm ngày Tết Nhi Đồng khác với ngày Tết Nguyên Đán "hình như" để dành riêng cho người lớn. 

Năm nay Tết của các bé lại đến, bé mơ gì nào? Bé háo hức chờ đón những gì? Cho chị đoán được không bé? Này nhé: có phải bé mơ một mâm cỗ thật to, đầy bánh trái với những con chó bông làm bằng bưởi, những con giống bằng bột xanh đỏ, rồi những chiếc lồng đèn lộng lẫy, những chiếc đèn xinh xinh. Bé ạ, mâm cỗ bé mơ ước ấy chị không tặng cho bé được, nhưng chị có một câu chuyện muốn gửi đến các em bé. Bé bằng lòng nghe chị kể không? Đây là một câu chuyện xưa thật là xưa. Và cũng như các chuyện lâu đời khác, nó cũng được bắt đầu bằng hai tiếng:

"Ngày xưa... Ở trên một đỉnh núi cao thật là cao kia, có ba chú thỏ xinh xinh vui sống. Đó là các chú thỏ Nâu, Đen và Trắng.

Nhưng rồi một năm kia, trời làm lạnh lẽo không cùng: tuyết phủ kín mặt đất, tuyết rơi suốt ngày. Ba chú thỏ vì thế không kiếm ăn được. Mà làm sao cỏ non có thể mọc được với lớp tuyết phủ càng ngày càng dầy kia... Các thức ăn dự trữ cũng đã gần hết mà trời vẫn làm lạnh mãi không thôi. Củi khô để sưởi cũng đã gần hết rồi. Ba chú lo lắng quá. Nếu trời cứ lạnh mãi như thế này...

Đêm tối đã xuống từ lâu, chú thỏ Nâu đang ngồi sưởi bên cạnh những gốc than hồng, bỗng chú nghe những tiếng gõ cửa. Chú tự hỏi:

- Đêm khuya lạnh lẽo như thế này ai mà lại đến gõ cửa nhà ta thế.

Tuy nhiên chú vẫn đi ra cửa. Cửa mở, một ông lão rách rưới, run rẩy đứng lom khom:

- Lão lỡ độ đường, xin chú thương cho lão vào trú tạm, qua cơn bão rồi lão đi.

- Không sao, mời cụ vào đây sưởi cho ấm.

Chú thỏ Nâu dắt ông lão vào ngồi cạnh bếp lửa xong chú ra sau lấy lên vài củ khoai lang. Khoai nướng, bốc hơi thơm ngào ngạt. Chú bóc ra và mời ông cụ dùng. Lát sau ông cụ có vẻ lại sức thì mưa cũng bớt hột. Ông lão đứng lên ngỏ lời cảm ơn và xin từ giã ra đi đến nhà chú thỏ Đen. Chú thỏ Đen cũng tốt bụng như chú thỏ Nâu vậy, chú mời ông lão ăn súp và còn tiễn ông lão một thôi đường. Và bây giờ ông lão đến căn lều chót: Lều của chú thỏ Bạch. Chú thỏ Bạch đang buồn lắm, vì trưa chú đã phải ăn đến củ khoai dự trữ cuối cùng rồi, và hiện trong nhà chỉ còn vài que củi nhỏ, chú không dám đốt nhiều vì sợ sẽ không còn đủ cho qua đêm.

Chợt có tiếng gõ cửa, chú đi ra và cũng như những chú thỏ Nâu và Đen, người gõ cửa không ai khác hơn ông lão nghèo. Chú vội mời ông cụ vào bên cạnh nhúm than đã gần tàn, và chú ra sau để ôm nốt những que củi cuối cùng lên.

- Tội nghiệp quá, chắc ông cụ đói và lạnh lắm đây, nhưng ta biết làm gì để mời cụ bây giờ?

Chú suy nghĩ mãi và chú đã quyết định cho hết vào đống lửa, chú thổi cho lửa bén củi cháy bùng lên. Lửa hồng rực rỡ, reo vui tí tách. Chú ra sau mang lên một cái đĩa to cùng với muỗng nĩa đặt trước mặt ông lão.

- Cháu chắc cụ đi đường xa đói lắm. Vậy cháu có một món ăn muốn xin mời cụ. Mong cụ dùng tạm cho!

Dứt lời chú nhẩy ngay vào đống lửa. Ông lão, đó là vị tiên cải trang để thử lòng dạ các chú thỏ, đưa chiếc gậy ra đỡ, không cho chú thỏ Bạch phải chết cháy.

- Con thật có lòng thương người bao la, từ nay ta sẽ đưa con lên cung Quảng sống đời đời hạnh phúc.

Và cũng từ ấy, trên cung Hằng có thêm một chú thỏ trắng, thường được gọi là thỏ Ngọc..."

Các bé của chị,

Chắc có nhiều bé đã biết chuyện này rồi phải không bé? Nhưng bé ơi! Khi kể lại cho bé nghe câu chuyện này, chị không mong các bé phải hy sinh đến như thỏ Ngọc đâu, chị chỉ mơ rằng:

Bé ơi! Hẳn các bé đều thương bố mẹ lắm phải không? Vậy bé ạ, bé hãy giống như chú thỏ Ngọc bằng cách đừng vòi vĩnh bố mẹ nhân dịp Trung Thu bé nhé. Bố mẹ dạo này phải vất vả nhiều mới đủ lo cho các bé. Bây giờ lại phải thêm một món tiền lớn cho ngày Tết này, bố mẹ sẽ lo lắng đến đâu. Bé hãy vui nhận những gì bố mẹ có thể lo cho bé ngày ấy: có thể, bé cũng đã là một chú thỏ Ngọc của Tuổi Hoa rồi đó.

Chúc các bé vui và mong gặp lại các bé.


UYÊN THU     

(Trích từ Trang Tóc Dài, tạp chí Tuổi Hoa số 227, ra ngày 1-10-1974)

Thứ Năm, 20 tháng 9, 2018

Chinh Phục Chị Hằng


Kế hoạch Apollo bắt đầu từ tháng 5-1961 khi Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy cam kết với dân chúng Mỹ sẽ đưa con người đổ bộ lên Nguyệt cầu "trước khi thập niên này chấm dứt".

Hơn 350.000 người gồm khoa học gia, kỹ sư, chuyên viên nam nữ được huy động để thực hiện lời cam kết lịch sử đó.

Bảy năm đầu 1961-1968 là giai đoạn chuẩn bị, gồm hai chương trình Mercury và Gemini, tổn phí lối 1 tỷ 800 triệu mỹ kim. Các chuyến bay trong hai chương trình này nhắm chứng minh sức chịu đựng của con người, rằng con người có thể sống, hoạt động và thực hiện những cuộc ráp nối (hội ngộ) trong không gian giữa hai phi thuyền.

Các dữ kiện và kinh nghiệm thâu thập được qua các chuyến bay trên sẽ bảo đảm cho sự thành công của các phi vụ Apollo sau này:

APOLLO 7, mở đầu cho các phi vụ Apollo 3 người, bay 163 vòng quỹ đạo trái đất trong 11 ngày từ 11 21.10.1968.

APOLLO 8, với 3 phi hành gia Borman, Lowell và Anders. Đây là 3 con người đầu tiên tiến vào vùng tiếp cận của một thiên thể ngoài địa cầu - chỉ cách mặt trăng 112 cây số. Trong 10 vòng bay quanh quỹ đạo Nguyệt cầu, phi hành đoàn Apollo 8 đã thực hiện một loạt những bức hình quan trọng, đặc biệt là hình mặt trái Nguyệt cầu lần đầu tiên được ghi vào ống kính thật chính xác và rõ ràng. Các bức hình này còn giúp các khoa học gia chọn những địa điểm đổ bộ trong tương lai.

Kéo dài 6 ngày và 3 giờ, từ 21 đến 27.12.68 với 1 vòng rưỡi quỹ đạo trái đất và 10 vòng quỹ đạo Nguyệt cầu.

APOLLO 9. Từ 3 đến 10.3.1969 với 151 vòng quỹ đạo trái đất. Chuyến bay trắc nghiệm thành công cuộc hội ngộ giữa phi thuyền mẹ do David Scott điều khiển và phi thuyền con do hai phi hành gia Mc Divitt và Schneickart lái.

APOLLO 10. Trở lại với Nguyệt cầu trong một phi vụ 8 ngày, từ 18 26.5.69. Trong lúc PHG. Young điều khiển phi thuyền chỉ huy bay quanh quỹ đạo Nguyệt cầu, Stafford và Cerman đáp phi thuyền con sà xuống chỉ cách mặt chị Hằng 15 cây số. Đây là hai người được đến gần chị Hằng nhất từ trước.

APOLLO 11. Lúc 20g 17 (giờ quốc tế) ngày 20.7.1969, Nguyệt xa Phượng Hoàng của Apollo 11 nhẹ nhàng đáp xuống vùng Biển Yên Lặng trên Nguyệt cầu. Từ một thiên thể cách 384.294 cây số trong không gian, phi hành gia Armstrong gọi về địa cầu: "Nhắn Houston, đây là Căn cứ Yên lặng. Phượng Hoàng đã đổ bộ".

Hơn 6 giờ sau, lúc 2 giờ 56 ngày 21.7.1969, phi hành gia Hoa Kỳ Neil Armstrong, 38 tuổi, chỉ huy phi vụ Apollo 11, đặt bước chân đầu tiên của nhân loại lên mặt nguyệt cầu. Ông tường trình: "Đây là bước chân nhỏ bé của con người nhưng là một bước tiến nhảy vọt vĩ đại của nhân loại... Mặt đất rắn tối và đầy cát bụi. Nguyệt cầu có một vẻ đẹp riêng của nó... Rất đẹp".

15 phút sau đến lượt Edwin Aldrin bước xuống mặt trăng. Và cả hai khởi sự tản bộ quanh vùng đổ bộ, đặt những máy móc và dụng cụ trắc nghiệm khoa học.

Trong thời gian này phi hành gia Michael Collins lái phi thuyền chỉ huy bay trên quỹ đạo nguyệt cầu.

17g ngày 21.7.69, nguyệt xa Phượng Hoàng rời khỏi nguyệt cầu sau 21 giờ 37 phút viếng thăm, mang theo Armstrong và Aldrin cùng 22, 5 Kgs mẫu đá mặt trăng. Kỷ vật loài người để lại gồm 1 tấm bảng khắc những lời chào mừng thân thiện của loài người (xem đầu bài) mang chữ ký của phi hành đoàn Apollo 11 và của Richard Nixon, Tổng Thống Hoa Kỳ, cùng với các bức thông điệp thiện chí của 73 nhà lãnh đạo khắp thế giới, và một lá quốc kỳ Mỹ.

Các kỷ vật này, cũng như những dấu giầy của các phi hành gia để lại trên mặt đất đầy bụi của Cung Trăng, sẽ còn tồn tại hàng thế kỷ vì mặt nguyệt cầu không bị các hiện tượng xoi mòn như ở mặt đất.

21g 35, nguyệt xa Phượng Hoàng được phi thuyền mẹ đón ở độ cao 110 cây số cách mặt trăng.

16g 50 ngày 24.7.69, Apollo 11 an toàn hạ xuống Thái Bình Dương, kết thúc "Chuyến mạo hiểm vĩ đại nhất của loài người"

APOLLO 12. Phi vụ thứ hai đưa người lên nguyệt cầu. Hai PHG. Conrad và Bean đổ bộ xuống vùng Biển Bão ngày 19.11.69 trong khi Gordon lái phi thuyền chỉ huy bay quanh nguyệt cầu. Phi vụ kéo dài 10 ngày từ 14 24.11.69 gồm 1 vòng rưỡi Trái đất và 45 vòng quỹ đạo mặt trăng, thâu thập 33, 5 Kgs đá nguyệt cầu.

APOLLO 13. Từ 11 17.4.70, phi vụ "nửa đường đứt gánh" vì trục trặc hệ thống dưỡng khí. Các phi hành gia được lệnh trở lại ngay địa cầu trong khi đang tiến đến gần chị Hằng. Tuy nhiên cuộc trở về an toàn. Con số 13... định mệnh?

APOLLO 14. Từ 31.1 đến 9.2.71 gởi hai PHG. Shepard và Mitchel lưu lại 34 giờ trên nguyệt cầu, thu nhặt 41, 5 Kgs đá. PHG. Roosa điều khiển phi thuyền mẹ.

APOLLO 15. Lần đầu tiên một nguyệt xa tên Rover được dùng để di chuyển trên mặt trăng. Hai PHG Scott và Irwin lưu lại 67 giờ, mang về 76, 5 Kgs đá và đất. PHG Worden chỉ huy phi thuyền mẹ bay trên quỹ đạo nguyệt cầu và thực hiện những cuộc quan sát khoa học trong phi thuyền. Phi vụ gồm 74 vòng quỹ đạo mặt trăng kéo dài từ 26.7 đến 7.8.71.

APOLLO 16. Gồm ba khi hành gia Young, Mattingly và Duke, từ 16 27.4.72. Trong khi Mattingly bay quanh quỹ đạo nguyệt cầu chụp hình chị Hằng, Young và Duke thám hiểm một vùng cao nguyên trên mặt trăng, thực hiện ba cuộc thám du bằng chân và bằng nguyệt xa Rover tổng cộng 20 giờ 15 phút, thời gian ở ngoài phi thuyền đổ bộ lâu nhất từ trước đến nay.

Họ cũng thiết lập các dụng cụ quan sát vũ trụ lần đầu tiên trên mặt trăng, và máy thâu hình, cho thấy quang cảnh lúc phi thuyền đổ bộ mang họ rời khỏi mặt trăng trở về địa cầu.

APOLLO 17. Phi vụ chót của chương trình Apollo gồm các phi hành gia Cernan, Schmitt và Evans từ 7 19.12.1972. Lần đầu tiên một nhà địa chất học Schmitt được gởi lên mặt trăng. Ông cùng với Cernan lưu lại 75 giờ, thiết lập các dụng cụ máy móc nghiên cứu địa chất và mang về một lượng đá và đất nhiều nhất trong 6 phi vụ đổ bộ nguyệt cầu.

TỔNG KẾT: Kế hoạch Apollo gồm 11 chuyến bay 3 người, hai quanh quỹ đạo trái đất và 9 quanh quỹ đạo mặt trăng. Sáu trong số 9 phi vụ này mỗi lần có hai phi hành gia đổ bộ nguyệt cầu, tổng cộng là 12 phi hành gia. 12 phi hành gia khác chỉ bay quanh quỹ đạo mà không đổ bộ. Có 3 phi hành gia đi về 4 lần giữa địa cầu và mặt trăng: James A. Lovell Jr trên Apollo 8 và 13, John W. Young trên Apollo 10 và 16, và Eugene A. Cernan trên Apollo 10 và 17.

Với chuyến bay Apollo 17 kết thúc trong tốt đẹp, Hoa Kỳ tuyên bố sẽ không trở lại Nguyệt cầu trong vòng thế kỷ này.

Giã từ chị Hằng, và trả lại chị thế giới im lặng từ ngàn năm nay của chị bị loài người quấy động suốt thập niên vừa qua.


T. Th.   

-----------------------
HÌNH TRÊN : Một trong hai người đầu tiên của nhân loại đặt chân lên Nguyệt Cầu : Phi hành gia Edwin Aldrin đang dò dẫm ở bậc thang cuối cùng trước khi nhảy xuống mặt Nguyệt Cầu.


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 208, ra ngày 1-9-1973)

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

Niềm Vui Đêm Trung Thu


Bạch Liên vừa sắp đặt bàn ghế, vừa hát vang nhà. Bạch Liên vui lắm, vì bà cô của Bạch Liên vừa ra phố mua bánh Trung Thu cho Bạch Liên thết các bạn. Trung Thu năm ngoái, Bạch Liên chỉ có hai bạn là Khôi-Việt. Năm nay, Bạch Liên lại có thêm nhiều bạn mới. Bạch Liên bấm đốt ngón tay, tính nhẩm lại số người để đặt cho đủ ghế: Anh Khôi, anh Việt này, anh Hùng, chị Ngọc Nga này, anh Tuấn này - và Bạch Liên reo lê: A! Còn anh Lê Vinh và chị Mỹ Dung nữa chớ! Phải mời cho được anh chị ấy tới nữa mới "giui".

Nhân vụ bắt được tên trộm đồ của bà Hương (1), Lê Vinh và Mỹ Dung quen biết nhau hơn. Sau đó ít lâu, anh chị đã làm lễ thành hôn với nhau và về ở tại Sàigòn. Tuấn được phép cha nuôi cho cùng về ở với anh chị. Anh Hùng và đặc biệt hơn nữa, là chị Ngọc Nga em ruột của Hùng, cũng được người anh cả đem lên Sàigòn cho ăn học. Tuy ai ở nhà nấy, nhưng thỉnh thoảng tất cả lại họp mặt tại nhà bà cô Bạch Liên để ăn kẹo và kể truyện cho nhau nghe. Ồ, nhiều truyện lắm: anh Hùng, chị Nga thì kể truyện miền Hậu giang, anh Khôi, anh Việt thì kể truyện bắt bọn buôn lậu, bắt kẻ trộm v.v... Thỉnh thoảng, Việt lại nhắc truyện bắt ma (2) làm cho Bạch Liên và Ngọc Nga ôm bụng cười bò.

Bạch Liên đang mơ màng ôn lại những truyện cũ, thì bỗng thấy em bé ở nhà bên cạnh, hát vang bài "Rung răng rung rẻ", Bạch Liên vội chạy lại cửa sổ nhìn sang: năm đứa con bác Hiền đang nắm tay nhau vừa nhẩy vừa hát trước sân nhà. Mấy em bé nầy dễ thương lắm. Thỉnh thoảng Bạch Liên sang chơi và tập cho các em hát. Ba các em là quân nhân đang phục vụ tại một đơn vị ở Mỹ tho. Ông ta là binh nhì, con cái đông, nên hơi túng thiếu. May có bà ngoại các em ở cùng nhà, nên bà Hiền có thể đi bán hàng rong để kiếm thêm tí tiền. Mấy đứa nhỏ đang chơi, thấy má gánh hàng về, vội chạy ra đón:

- A má về! Hôm nay má có mua bánh Trung Thu cho chúng con không má?

Bà Hiền nhìn bầy con, nét mặt dàu dàu:

- Mấy hôm nay hàng ế quá! Thôi, các con đi chơi rồi chiều má mua cho.

Bạch Liên ứa nước mắt nhìn mấy em nhỏ "xìu như cái lốp xì hơi":

- Tội nghiệp bác Hiền và mấy em nhỏ!

Bạch Liên trở vào tiếp tục lau bàn ghế, trong óc cô nảy ra một ý định. Bỗng có tiếng chuông xe đạp kêu leng keng ngoài cổng, Bạch Liên vội chạy ra mở cổng reo lên:

- Chu cha! Anh Khôi, anh Việt, anh Hùng, cả chị Ngọc Nga nữa vui quá! Cô Tư em vừa đi ra phố mua bánh Trung Thu. Em chờ cô em về, sẽ đi mời các anh và chị Nga đến chiều tới chơi đây! May quá, chưa đi thì các anh chị đã tới!

Việt dựng xe mô-by-lét, hấp tấp chạy vào nhà:

- Sao, Bạch Liên đợi chúng tôi à? Có bánh Trung Thu chưa?

Khôi cười ngặt nghẽo:

- Cu cậu này tham ăn quá! Bạch Liên có nhớ năm ngoái, Việt mải lo ăn bánh Trung Thu, mà không nghĩ ra tên trộm bức họa của giáo sư Minh Đăng không? (3)

 Bạch Liên cũng cười:

- Nhớ chứ, Bạch Liên ân hận mãi, vì bị anh Việt lừa mà không biết!

Hùng và Ngọc Nga chưa hiểu truyện, vội hỏi. Nghe Bạch Liên thuật lại, cả bọn cười phá lên. Sực nhớ lại ý định lúc nãy, Bạch Liên bảo các bạn:

- Các anh và chị Nga ngồi xuống ghế, cho Liên bàn một truyện bí mật này!

Cả bọn ngạc nhiên, nhao nhao hỏi:

- Truyện gì thế?

Bạch Liên kể lại nho nhỏ câu truyện gia đình bác Hiền và thêm:

- Liên còn một trăm bạc, ba má cho kỳ khai giảng mà chưa xài hay là tụi mình mua bánh Trung Thu biếu mấy em đó cho vui?

Khôi bảo:

- Thế Liên định làm việc nghĩa một mình không cho chúng tôi góp phần à? Khôi bàn như thế này: tụi mình có 5 đứa, mỗi đứa sẽ bỏ ra 20 đồng, vị chi là một trăm để mua bánh Trung Thu cho các em nhỏ đó. Bây giờ thì Liên cho mượn tạm trăm bạc chúng tôi sẽ góp trả lại sau.

Hùng quay lại hỏi em gái:

- Bánh Trung Thu bao nhiêu đồng một cái? Một trăm có ít quá không?

Việt nhanh nhảu đáp:

- Một trăm được rồi. Bánh Trung Thu nhân đậu xanh chỉ có 5 tì một cái thôi. Trăm bạc vị chi được 20 cái!

Bạch Liên nhăn mặt:

- Bánh Trung Thu đâu mà rẻ thế anh? Thứ xoàng nhất cũng phải 6$ một chiếc!

Việt móc túi lấy ra tờ giấy quảng cáo đỏ, trải lên mặt bàn:

- Đây ai cầm tờ quảng cáo này đến hiệu Tân Tân mua bánh Trung Thu sẽ được bớt. Loại 6 đồng sẽ được bớt 1 đồng, loại 10 đồng được bớt 2 đồng, loại 20 đồng được bớt ba...

Ngọc Nga cười:

- Trời đất ơi! Làm sao mà anh Việt lại lượm được tờ quảng cáo đặc biệt này?

- Ấy, một thằng bạn cho tớ, tớ định đi mua về thết đãi các bạn nhưng mà mới kiếm được 20 tì, không đủ chia, nên chưa đi mua.

Bạch Liên có vẻ sốt ruột:

- Thôi, truyện mua bánh bàn xong rồi, bây giờ làm cách nào mà đem bánh cho các em ấy?

Hùng thiết thực:

- Có gì khó đâu? Cứ gói lại tử tế, rồi Bạch Liên đem qua cho bác ấy, nói là để biếu các em ăn Tết Trung Thu cho vui.

Ngọc Nga tế nhị hơn:

- Anh Hùng bàn như vậy cũng được, nhưng mà em nghĩ, nó có vẻ bố thí quá, làm cho người cho và người nhận cảm thấy thế nào ấy!

Việt đề nghị:

- Ta cứ đợi đến tối, lẳng lặng đừng cho ai biết, đem sang trước cửa nhà, sáng ra, bác ấy mở cửa sẽ thấy, chứ gì!

Bạch Liên cười rũ ra:

- Như thế, thì qua ngày Trung Thu rồi còn gì? Lại nữa, nếu họ nghi có thuốc độc ở trỏng, họ vất đi thì sao? Ý kiến anh Việt cổ quá!

Khôi nãy giờ dựa đầu vào thành ghế, trầm tư, bỗng ngồi thẳng dậy mỉm cười bảo các bạn:

- Khôi có ý kiến này: Bạch Liên đưa tiền cho Việt đi mua bánh đem về đây, còn Khôi sang nhờ anh Lê Vinh, chiều nay, bận đồ quân nhân, đem gói bánh đến cho bác gái Hiền, nói là của bác trai ở Mỹ tho gởi nhờ anh đem về, nhân dịp anh đi Sàigòn có việc. Như thế có ổn không?

Cả bọn nhao nhao tán thành:

- Tuyệt kế! Tuyệt kế! Đồng ý!

Ngọc Nga hơi thắc mắc:

- Nhưng mà về sau họ cũng biết!

Khôi giải thích:

- Họ chỉ biết là có người hảo tâm nào đó biếu cho, chớ họ không biết đích danh ai!

Hùng gật đầu:

- Đúng thế!

Khôi đứng lên:

- Bây giờ Việt đi mua bánh, Khôi mượn xe đạp của Hùng sang gặp anh Lê Vinh, để bàn với anh xem sao. Nếu anh ấy thuận ý kiến tụi mình thì Khôi trở lại lấy gói bánh.

Bạch Liên dặn Khôi:

- Và anh Khôi nhớ mời anh chị Vinh và anh Tuấn chiều đến dự tiệc Trung Thu với chúng mình nữa nhé!

Khôi và Việt vừa ra khỏi nhà thì cô của Bạch Liên đi phố về. Bà mang kè kè hai gói nặng. Bạch Liên và Ngọc Nga tươi cười chạy ra đỡ cho bà. Ba cô cháu dẫn nhau xuống nhà dưới, mặc Hùng ngồi xem sách một mình. Bà Tư nghe nói đến chiều vợ chồng anh Lê Vinh cũng tới chơi nữa, bà mừng lắm, bà rất mến đôi vợ chồng trẻ này.

*

Việt vừa mua bánh về giao cho Bạch Liên, thì Khôi cũng trở lại. Cả bọn hỏi tíu tít:

- Sao anh Khôi? Được việc không?

Khôi treo mũ lên giá, ngồi phịch xuống ghế, thở dốc mấy cái rồi trả lời:

- Được việc lắm. Anh chị Vinh rất tán thành ý kiến chúng mình. Anh ấy hẹn đúng 6 giờ rưỡi chiều nay, anh sẽ đem gói bánh lại nhà bác Hiền và sau đó, anh sẽ về nhà đón chị Mỹ Dung và Tuấn đến đây dự tiệc Trung Thu với chúng mình.

Cả bọn vỗ tay reo mừng:

- Hoan hô anh Khôi! Bộ ngoại giao này được lắm!

Khôi mỉm cười giơ tay bảo các bạn:

- Còn một tin sốt dẻo nữa: là nội chiều nay, chị Mỹ Dung sẽ đi phố mua một lô bánh kẹo. Số bánh kẹo này sẽ chia làm hai gói. Đố các bạn biết, để làm gì?

Bạch Liên nhanh nhẩu đáp:

- Một gói để biếu thêm cho bác Hiền, còn một gói để cho tụi mình chứ gì?

Khôi cười:

- Khá lắm, khá lắm! Nào Bạch Liên đưa gói bánh cho tôi, để chiều tôi đưa lại cho anh Lê Vinh. Và bây giờ thì chúng ta tạm, biệt nhau. Lối 5 giờ rưỡi, hay 6 giờ chiều, chúng ta sẽ trở lại đây để hồi hộp đợi chờ giây phút anh Lê Vinh khoác lại bộ áo quân nhân, cầm gói quà đem đến cho bác Hiền!

Cả bọn tươi cười đứng lên từ giã Bạch Liên để về nhà ăn cơm trưa.

Sáu giờ chiều hôm đó, bọn trẻ đã hội họp đủ mặt tại nhà bà cô của Bạch Liên. Các cô cậu mạnh ai nấy tìm một chỗ nấp, có thể ghé mắt nhìn sang nhà bác Hiền mà không ai trông thấy. Bác Hiền đi bán đã về từ lúc 5 giờ rưỡi. Bác chỉ mua cho mấy đứa con được mấy cái kẹo, nên chúng nó hơi buồn. Sáu giờ rưỡi, có tiếng xe đạp kêu leng keng trước cổng nhà bác Hiền, tiếp theo có tiếng gọi:

- Có ai ở nhà trỏng không?

Bà Hiền ngạc nhiên chạy ra. Mấy đứa con nghe tiếng người gọi cũng chạy theo má. Một thanh niên bận quân phục, vẻ mặt dày dạn phong sương, tay cầm một gói lớn, đi vào hỏi:

- Thưa bà, đây có phải nhà bà Hiền có chồng đi lính hiện đang ở Mỹ tho không?

- Thưa phải!

Người quân nhân trẻ tuổi tỏ vẻ vui mừng:

- Thưa bà, tôi là quân nhân cùng đơn vị với ông nhà. Sáng nay tôi có việc phải lên Sàigòn, ông nhà nhờ tôi đem gói bánh này về cho các cháu ăn tết Trung Thu. May quá, tôi đi tìm nhà, hỏi hai, ba nhà phía dưới đây mà họ bảo không biết!

Bà Hiền cảm động đỡ lấy gói bánh. Bà ứa nước mắt nghĩ đến chồng nơi xa vẫn không quên gia đình, con cái. Bà ân cần mời người lính vào uống nước, nhưng anh xin từ giã vì có việc cần phải lo cho xong kẻo trời tối. Mấy đứa nhỏ được ba gởi bánh về cho, vừa ăn vừa chạy nhảy trước sân nhà rất là vui vẻ.

Một lúc sau, một chiếc tắc-xi đậu lại trước cửa nhà bà cô của Bạch Liên: Anh Lê Vinh bận đồ trắng, cùng chị Mỹ Dung và Tuấn tươi cười bước xuống. Chị Mỹ Dung ôm một gói lớn. Bọn trẻ trong nhà reo cười chạy ra đón vào nhà. Việt nói oang oang:

- Chu cha! Anh Vinh cải trang thật khéo, tí nữa tụi em nhận không ra.

Anh Lê Vinh để tay lên môi, ra dấu bảo Việt nói nhỏ kẻo nhà bên họ nghe được. Khôi kể lại cho anh Vinh nghe:

- Hồi nãy, tụi em mỗi đứa nấp một chỗ để nhìn. Lúc anh đi xe đạp tới trước cổng nhà bác Hiền, tụi em hồi hộp lạ, chẳng khác gì hôm đi bắt tên trộm của bà Hương vậy!


Chị Mỹ Dung, Bạch Liên và Ngọc Nga giúp bà Tư dọn bánh kẹo lên bàn. Bạch Liên và Ngọc Nga tranh nhau ngồi cạnh chị Mỹ Dung tíu tít hỏi chị truyện này đến truyện khác, làm cho chị không biết đàng nào mà trả lời. Bà Tư ngồi nhìn bầy trẻ ăn uống, cười đùa vui vẻ, khiến bà cũng lây cái vui của trẻ, nét mặt bà rạng rỡ, bà xuýt xoa:

- Trung Thu năm nay vui quá xá!


NHẬT LỆ GIANG    
------------------------------ 
1-2 - xem Tuổi Hoa số 3 bộ mới và số 7 bộ cũ.

3 - xem Tuổi Hoa số 5 bộ cũ.


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 9, ra ngày 25-9-1963)





Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

Chiếc Lồng Đèn Xếp


Dũng ôm chiếc cặp tồi tàn lê những bước nặng nề trên lề phố. Gọi là cặp cho có danh từ để chỉ vật dùng đựng sách vở của học sinh, chứ đó chỉ là vang bóng một thời của chiếc cặp mà thôi. Màu da đã biến thành màu đen sẫm. Những đường chỉ may cặp đã đứt từng khoảng, mà nó đã dùng vài sợi dây kẽm để "vá" lại. Quai xách bên trên đã đứt để lộ hai dấu vết đã khâu chiếc quai ấy cùng với những lỗ chỉ như bức họa Picasso. Cái khóa cặp cũng đã biến mất. Hai cái dây gài cũng biến mất theo. Tóm lại những gì khâu bằng chỉ trên cặp Dũng đều được thời gian làm biến mất. Và chiếc cặp của nó lỗ chỗ dấu vết của những gì đã mất trông như bức họa lập thể. Những hôm nào trời mưa, Dũng phải vất vả lắm mới giữ được tập vở bên trong khỏi thấm nước. 

Dũng vừa đi, vừa nhìn chiếc cặp để nhớ hoàn cảnh gia đình. Nhà nó nghèo lắm ở trong một xóm lao động xa trường đến 2 cây số. Hàng ngày nó phải đi về 4 cây số trên con đường nóng bỏng vì nhựa đường dưới sức nóng của ánh mặt trời, bằng phương pháp di chuyển từ thời thượng cổ: "lô ca chân"! Con đường từ nhà nó đến trường chỉ được che bằng những mái nhà tôn nhỏ hẹp, chiếm một tỉ lệ nhỏ nhất dưới bóng nắng của mặt trời. Vì thế, nó rất vất vả trong sự di chuyển đến trường. Mẹ nó mất năm nó lên sáu, ba nó hàng ngày đạp xích lô để nuôi gia đình gồm: ba nó, em nó và nó. Nhờ học khá nên sau 5 năm tiểu học, nó thi đậu đệ thất. Đó là niềm vui duy nhất của ba nó từ khi mẹ nó mất. Mấy tháng nay, nó vẫn đi học với sự vui vẻ. Nhưng chiều nay, lời cô giáo vẽ đã làm nó lo âu:

- Gần đến Trung Thu, mỗi em làm một chiếc lồng đèn xếp.

Nó ra về với một nỗi lo âu trong lòng, bước đi những bước nặng nề trên lề phố sặc sỡ đèn con cá, tàu thủy, xe tăng, các chiếc lồng đèn xếp nho nhỏ xinh xinh v.v... Những vật mà hàng ngày, trên đường về nó dừng lại một chút để ngắm. Nhưng hôm nay, nó không buồn đứng lại vì mối lo trong lòng. Từ bé đến giờ nó có biết làm lồng đèn xếp đâu. Nó chỉ biết làm đèn ông sao. Mà đèn ông sao nó làm "tuyệt cú mèo". Bằng cớ là mỗi năm đến Trung Thu em nó đều có một chiếc lồng đèn ông sao tuyệt đẹp đi rước đèn với lũ trẻ trong xóm. Ban chiều cô giáo viết đến chữ lồng đèn, nó hy vọng là ông sao, nhưng éo le thay chữ xếp đã làm nó tiêu tan hy vọng đang dâng tràn. Trong khi các bạn reo hò vì "trúng tủ", nó lại lo lắng và cảm thấy bực bội trước sự vui mừng của các bạn. Nó thầm nghĩ:

- Nếu làm đèn ông sao, tao chấp hết tụi mày, đừng có mừng.

Dũng chợt nhớ đến ba nó. Nó nhớ lại ngày xưa khi nó còn nhỏ. Những dịp Trung Thu ba nó làm ít nhất là ba cái lồng đèn xếp, phòng khi nó đi rước đèn bị cháy. Vì vậy, khi còn nhỏ, nó mong đến Trung Thu để được xách lồng đèn chơi với lũ trẻ trong xóm. Những ngày đó Dũng thấy ngây thơ và êm đẹp quá. Rồi từ khi mẹ nó mất, cha nó phải vất vả vì công việc. Và nó cũng đã lớn lên vào những dịp Trung Thu, nó không còn thú vui cầm đèn chạy tung tăng với lũ trẻ trong xóm. Nó nghĩ:

- À! Phải rồi, mình nói với ba chỉ cách làm lồng đèn xếp.

Nhưng sự vui vẻ của nó cũng biến đi bất ngờ như khi đến. Vì nó vừa nghĩ đến nỗi vất vả của ba nó. Ngày đi làm đến khuya lơ, khuya lắc, thật vất vả với gia đình. Nó không muốn ba nó phải vất vả thêm vì nó. Mải lo lắng, Dũng đã về đến nhà lúc nào không biết.

Dũng cặm cụi bên đống giấy báo và hộp hồ từ sáng đến giờ. Nó đã làm hơn chục cái nhưng không có cái nào hoàn mỹ cả, vì chưa quen tay, vì chỉ biết mập mờ về cách làm. Nhưng nó vẫn kiên nhẫn. Chiều hôm qua, nó đã hỏi Đức bạn cùng lớp về "phương pháp" làm. Đức chỉ cho nó một cách mập mờ về cách làm. Nó cố gắng nhớ và sáng hôm nay nó lục chồng giấy báo cũ để làm thử. Nhưng đã tốn công khá nhiều mà nó vẫn chưa hoàn thành được, lại gần đến giờ đi học. Dũng chán nản đem "công trình" của mình xếp lại một xó sửa soạn đi học. Nó đóng cửa lại, gửi chìa khóa bên hàng xóm rồi đi đến trường. Nó vừa đi, vừa nghĩ đến ngày mai: ngày nộp chiếc lồng đèn xếp. Vì cô giáo ra hạn có một tuần, mà hết ba ngày nó phải vất vả với bài tập toán lý-hóa, Anh văn, trừ ngày ra đề và ngày nộp còn hai ngày. Mà hai ngày nay nó đã cố gắng làm nhiều lần, nhưng vẫn không xong. Đang nghĩ vẩn vơ, Dũng chợt nghe:

- Dũng! Dũng!

Dũng quay lại:

- À! Đức.

Đức dừng chiếc xe mới toanh lại, mời:

- Bồ lên đây tôi chở đi.

Dũng không ngần ngại lên yên sau ngồi. Đức thong thả đạp, hỏi:

- Bồ làm cái lồng đèn xếp xong chưa?

Dũng ngượng nghịu đáp:

- Chưa. Làm hoài mà vẫn không được!

- Cái của tôi đẹp lắm. Mai tôi đem vô cho xem.

Dũng nghe bạn nói, thấy ngường ngượng trong lòng.

*

Chú Tám đẩy chiếc xích lô vào xóm. Chú ngạc nhiên thấy nhà còn để đèn. Nhà chú cũng như bao căn khác trong xóm lao động này. Khoảng 9 giờ mọi người đều ngủ sau những giờ làm việc mệt mỏi, để lấy lại sức làm việc ngày hôm sau. Trễ lắm là 10 giờ nhà nhà đều tắt đèn. Khu xóm không thấp thoáng ánh đèn, nên trông rất âm u. Thỉnh thoảng mới có một người đi làm về khuya như chú Tám, anh Tư khuân vác v.v... mở cửa tạo nên một âm thanh khô khan, ngoài ra không có một âm thanh nào khác tạo cho vẻ âm u của xóm có không khí tịch mịch. Dũng cũng như mọi người trong xóm đều ngủ theo giờ tối đa đã ấn định: 22 giờ, cái giờ mà đài phát thanh "yêu cầu quí vị sử dụng máy thu thanh vặn vừa đủ nghe, để khỏi làm phiền lòng hàng xóm đang cần sự yên lặng nghỉ ngơi..." . Nhưng đêm nay sao Dũng thức khuya thế? Vầng trăng đã xế gần đến đỉnh đầu, chứng tỏ lúc này khoảng 11 giờ. Chú Tám dừng lại nơi cửa sổ nhìn vào. Chú thấy Dũng đang ngồi cặm cụi dưới đất cạnh chiếc đèn dầu. Chung quanh Dũng bừa bãi giấy báo và một hộp hồ đã cạn gần phân nửa. Lúc đầu chú Tám hơi ngạc nhiên chẳng biết Dũng làm gì. Nhưng nhìn cử động của tờ giấy và bàn tay của Dũng chú biết ngay. Chú "à" một tiếng:

- À! Nó làm chiếc lồng đèn xếp.

Chú nhớ lại ngón "nghề" của mình. Chú khẽ đẩy cửa bước vào, cười:

- Dũng! Con làm gì mà thức khuya quá vậy?

Dũng ngẩng lên:

- Dạ! Ba mới về. Con làm cái lồng đèn xếp.

Chú Tám cất chiếc xích lô xong. Chú trở ra cầm chiếc lồng đèn xếp của Dũng vừa làm xong. Chú cười:

- Con làm như vầy không bao giờ cái lồng đèn của con xong. Con phải biết cách làm mới được.

Chú ngồi xuống cạnh Dũng hỏi:

- Ai chỉ con làm vậy?

- Dạ mấy đứa bạn.

- Nó chỉ hơi sai. Mình phải xếp mấy đường răng cho đều thì đèn mới đẹp. Mà muốn vậy lần xếp đầu tiên phải xếp cho ngay.

Nói xong, chú Tám lấy tờ báo bên cạnh Dũng xếp từng nếp nhỏ. Dũng chăm chú xem. Xong chú xếp mấy đường răng. Xong rồi chú dán hai mép lại. Tờ báo vô dụng trở nên chiếc lồng đèn xếp tuy không đẹp lắm vì làm bằng giấy báo mà, nhưng khá hơn cái của Dũng. Đắc ý, chú Tám xếp lại và mở ra cho Dũng xem.

Vốn sáng trí, nên Dũng nhớ lại từng chi tiết. Dũng lấy tờ giấy báo kế bên làm lại. Một lát, Dũng đã có chiếc lồng đèn xếp như chiếc lồng đèn của chú Tám. Để chắc chắn, Dũng làm lại thêm một, rồi hai cái. Dũng kêu lê vui mừng:

- Xong rồi.

Chú Tám cười với con:

- Bây giờ con có thể làm bằng giấy trắng rồi đó.

Dũng rút tờ giấy đôi giữa tập để làm chiếc lồng đèn xếp. Dũng chợt nảy ra ý nghĩ: vẽ cái hình trên lồng đèn xếp. Dũng liền phác hình cậu học trò xách cặp đi học trên tờ giấy trước khi xếp. Mười phút sau, Dũng có chiếc lồng đèn xếp với hình cậu học trò vẽ ở trên thật đẹp. Chỉ còn dán đáy dưới và vành trên nữa là xong. Dũng cắt tờ bìa tập làm đáy dưới và vành trên. Dũng có chiếc lồng đèn xếp nho nhỏ xinh xắn. Dũng nghĩ đến ngày mai nó cũng có một chiếc lồng đèn xếp khỏi sợ thua sút các bạn. Và rồi mỗi Trung Thu, em Dũng sẽ có một chiếc lồng đèn ông sao và vài chiếc lồng đèn xếp, để rước đèn với lũ trẻ trong xóm. Dũng nhìn cha mỉm cười thầm cám ơn. Chú Tám cũng mỉm cười, nhìn kết quả do chú dạy. Hai nụ cười nở trên môi đầu bạc, đầu xanh...


Trúc Giang     

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 54, ra ngày 1-10-1966)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>