Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2026

Tìm Hiểu Loài Kiến (Loại Kiến Trong Nhà)


Nếu có dịp rảnh rỗi, các bạn hãy thử quan sát một tổ kiến ở ngoài vườn hay trong sân để biết những sinh hoạt của chúng, chắc chắn bạn sẽ thích thú vô cùng.
 
Này nhé, bầy kiến di chuyển đông đảo từng hàng rất trật tự. Chúng luôn luôn tuân lịnh cấp chỉ huy hay kiến chúa mà chẳng dám ương ngạnh bướng bỉnh bao giờ. Vì thế, người ta từng thấy nhiều cuộc diễn hành của loài kiến xa tới cả trăm thước hay lên tít trên các cành cây cao mà vẫn ngay hàng thẳng lối.
 
Người ta tự hỏi: "Không biết tại sao chúng đi xa cách tổ như vậy mà vẫn biết đường trở về?". Điều đó thật dễ hiểu. Trong lúc di chuyển kiến đã dựa vào các khúc quanh gồ ghề hay chướng ngại vật làm mốc để trở về tổ. Ngoài ra, không kể mắt, kiến còn nhờ xúc giác và khứu giác giúp chúng nhận được lối đi. Riêng mùi vị, không những chúng phân biệt được ngay trên đường di chuyển mà còn ở cả trong không khí nữa. Mỗi loài kiến đều mang mùi vị riêng của tổ và chỉ có mùi vị này mới hướng dẫn chúng về tới nơi chắc chắn nhất. Nhiều cuộc thí nghiệm chứng minh rằng nếu bạn bắt một con kiến đang di chuyển về tổ rồi đem nó tới một chỗ khác thật xa, nhưng vẫn trên đường đi của nó, đoạn thả ra, thế nào nó cũng lần được về tổ nhờ ở mùi vị của đồng loại tiết ra dọc đường.
 
Kiến có nhiều mắt lắm. Ngay giữa trán là ba con mắt đơn nhỏ li ti, hai bên lại có hai mắt lớn gọi là mắt tổng hợp. Vì vậy, kiến nhận biết mầu sắc giỏi hơn chúng ta nhiều. Nếu bạn dùng những miếng kính mầu cố rọi những tia tím hay xanh lơ vào tổ kiến, tức thì những con có bổn phận chăm sóc lũ kiến non sẽ vội vã đưa tất cả đi chỗ khác, như chúng ta chạy cháy nhà vậy. Nếu bạn dùng nhiều miếng kính mầu khác nhau chiếu ngay trên tổ kiến, chúng sẽ ùa tới vùng có ánh sáng đỏ sậm vì chúng ưa bóng tối. Tuy nhiên, kiến biết dựa vào ánh nắng để định hướng đi. Người ta dùng một tấm gương để thay đổi ánh sáng chiếu rọi xuống đường di chuyển của kiến. Lúc đầu ánh nắng chiếu xuống từ hướng tây, giờ đây nhờ tấm gương phản chiếu, ánh nắng đổi sang hướng đông. Đàn kiến đang di chuyển thấy thế vội rẽ sang lối khác để về tổ.
 
Thường thường kiến xứ nóng mới hay di chuyển từng bầy lũ lượt. Nhờ khứu giác và xúc giác đặc biệt, kiến biết được thay đổi của thời tiết, bởi vậy những ngày sắp mưa to gió lớn, kiến di chuyển chỗ ở lên cao để tránh ngập lụt, mặc dầu tổ kiến thường ẩm ướt, vì chúng vẫn phải hút nước về tưới cho tổ khỏi khô rang, nếu không chúng sẽ chết queo.
 
Tổ kiến thường được đào sâu dưới lòng đất và chia ra nhiều ngõ ngách dẫn tới từng nhà kho thực phẩm, nhà chứa trứng, nơi ấu trùng ở, hốc đựng kén (tức là trứng sắp nở thành kiến), cơ sở cho kiến chúa, kiến cái cùng đàn con. Nhìn qua kính hiển vi, chúng ta mới thấy chúng ăn ở trật tự, ngăn nắp, sạch sẽ vô cùng.
 
Cố nhiên, công việc xây dựng tổ kiến được tất cả đóng góp từ kiến cái, kiến đực đến kiến thợ. Vì kiến thợ là những con khỏe mạnh nên đảm trách việc đào giao thông hào, nhà kho, phòng ở v.v... Ngoài ra kiến thợ còn có bổn phận đi kiếm thức ăn, chúng hay đi lang thang ra ngoài dò dẫm tìm mồi.
 
Khi gặp một con ruồi chết chẳng hạn, nếu lượng sức không thể tha về được, lập tức anh chàng chạy về báo cho đồng bạn biết và hăng hái dẫn đường. Tới nơi, tất cả xúm nhau vào khiêng con mồi. Có điều tức cười là nhiều khi hai ba con hè nhau khiêng mồi nhưng con nào cũng cố lôi về phía mình thành thử chúng cứ loay hoay mãi cho tới khi một con buông ra mới định được hướng về. Nếu con mồi quá lớn, chúng sẽ xẻ ra thành nhiều mảnh nhỏ rồi mới đưa vào nhà kho. Điểm đặc biệt là không bao giờ chúng tha mồi đi chỗ khác để ăn một mình, mà trái lại, tất cả đều góp lại cho cả đàn cùng ăn. Vì thế người ta không thấy chúng ăn uống bên ngoài tổ bao giờ. Trong kho đầy ắp những con vật chết như sâu, bọ, gián, ruồi, muỗi, mảnh vụn bánh, hạt ngô, hạt lúa, gạo v.v... Món ưa thích nhất của kiến là đường và tất cả chất ngọt. Chúng thường hút chất ngọt về tổ rồi nhả ra để dành.
 
Như chúng ta đã biết, kiến rất sạch sẽ, không bao giờ chúng để vương vãi những thức ăn dọc đường. Từ ngõ đi cho tới lối vào các địa điểm đều ngăn nắp, sạch sẽ như chùi. Nếu cần, chúng đào đất chôn những thứ bỏ đi, sau đó lấp cát lên trên.
 
Trong đàn kiến, tất cả đều hăng hái làm việc bất kể ngày, đêm. Chỉ những con ốm yếu, què quặt là được miễn công tác và được săn sóc tới khi khỏe mạnh. Những con chết thì sẽ đưa ra ngoài tổ.
 
Vì có bổn phận sinh sản, nên những con kiến cái ít khi ra ngoài. Nó cứ quanh quẩn trong tổ mà thôi. Nếu phải di chuyển đi chỗ khác, kiến con đi trước, sau đó là kiến cái kiến thợ lo khuân vác trứng còn kiến đực giữ nhiệm vụ chỉ huy tổng quát. Tất cả đều đoàn kết vì lợi ích chung. Người ta ít thấy những vụ đánh nhau lộn xộn giữa những con trong một bầy kiến, do đó vấn đề "giết người" hoặc ăn cắp, ăn trộm gần như không bao giờ xẩy ra trong xã hội loài kiến.
 
 
ĐẶNG HOÀNG       
Sưu Tầm             
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 47, ra ngày 16-7-1972)
 

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

Cụ Già Gân

Người đoạt nhiều giải thưởng nhất trong cuộc đua xe đạp vĩ đại tổ chức tại Thụy Điển (Bắc Âu) năm 1951 không phải là tay đua nhà nghề mà là một cụ già gân tên Gustaf Harkanson. Câu chuyện xem ra thật khó tin vì một ông lão đã sáu mươi sáu tuổi, râu tóc bạc phơ làm sao còn đủ sức để dự thi cơ chứ, nhưng đây là trường hợp có thật, hiếm thấy từ trước tới nay trong làng thể thao quốc gia này và ngay cả thế giới nữa.
 
Được biết sắp sửa có cuộc đua xe đạp, cụ Harkanson cũng sốt sắng tới nộp đơn, nhưng nhân viên trong ban tổ chức đều từ chối. Mặc kệ, cụ cứ nằng nặc bắt họ phải chấp nhận để rồi cuối cùng đành nghe họ lễ phép giải thích:
 
- Xin cụ về nhà nghỉ ngơi cho khỏe, vì cụ đã quá bốn chục tuổi, số tuổi tối đa dành cho các tay đua theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, nên chúng tôi chẳng dám nhận đơn của cụ... Xin cụ vui lòng vậy...
 
Cũng thời gian này, để khuyến khích nhiều người tham dự đông đảo, một tờ nhật báo loan tin sẽ trao tặng giải thưởng đặc biệt cho bất cứ ai về nhất cuộc đua đường trường này nếu hội đủ điều kiện cần thiết về sức khỏe.
 
Trong tổng số hơn một nghìn người ghi tên tham dự cuộc đua dài một nghìn chín mươi tư dặm nghĩa là chạy suốt từ bắc xuống nam Thụy Điển, ban tổ chức chỉ tuyển lựa có năm chục người, tất cả đều được gửi đi Haparanda bằng xe lửa. Tất nhiên, để bảo vệ sức khỏe, họ đều được đài tho ăn, ngủ, nghỉ ngơi trong các câu lạc bộ thể thao đầy đủ tiện nghi, và nhiều thực đơn đặc biệt nhằm gia tăng sức lực mấy ngày trước khi cuộc đua khởi sự.
 
 
TAY ĐUA MANG SỐ KHÔNG
 
Không nản chí, dù bị từ chối cũng như chẳng ai sẵn sàng đài thọ tiền chuyên chở đi Haparanda, cụ già Harkanson đành tự mình đạp xe vượt một nghìn dặm đường để tới địa điểm khởi hành.
 
Đến ngày đã định, sau khi năm chục tay đua chính thức lên đường, cụ Harkanson cũng leo lên chiếc xe đạp cũ kỹ của mình dự thi. Để phân biệt với các tay đua chính thức, cụ tự vẽ con số không to tướng rồi cài lên ngực và lưng. Người ta chỉ có quyền không cho cụ dự cuộc thi, chứ làm sao cấm cụ đạp xe trên lộ trình các tay đua sẽ đi qua.
 
Cho tới lúc ấy, gần như chẳng một ai biết tên tuổi cụ cả, nhưng sau khi vượt một trăm dặm đường, người ta mới bắt đầu nhắc đến cụ một cách khâm phục.
 
Hôm đó, trong lúc băng qua thị trấn hẻo lánh nọ, một đứa trẻ chợt thấy cụ đạp xe tới, chòm râu bạc tung bay theo gió, nó sẽ reo lên: "Ngó kìa! Tay đua đặc biệt: Cụ già gân!" Tình cờ một ký giả kiêm nhiếp ảnh viên thấy thế liền viết ngay một thiên phóng sự về cụ Harkanson rồi gửi cho tòa soạn. Từ đó, người dân Thụy Điển thích thú bàn tán về cụ. Trong suốt tuần lễ, những tin tức liên quan tới tay đua mang số không đều xuất hiện nơi trang nhất với những hàng "tít" lớn.
 
Trong khi đó, cụ Harkanson vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Cuối mỗi ngày, lúc năm chục tay đua nghỉ ngơi tĩnh dưỡng để sáng hôm sau lại lên đường thì "cụ già gân" của chúng ta thong thả đạp xe suốt ba đêm ba ngày mà không cần nghỉ, ngoại trừ một lần cụ ngủ ba giờ trên một chiếc ghế tại trạm cảnh sát hương thôn xong lại lên xe đi nữa.
 
 
NHỮNG CHÁU BÉ GÁI
 
Suốt cuộc đua, cụ Harkanson được các phóng viên báo chí xin phỏng vấn về cảm nghĩ của mình đối với môn thể thao này. Cụ dễ dãi chấp nhận và có dư thì giờ để trả lời họ, vì cụ đã vượt các tay đua kia quá xa trong lúc họ ngủ đêm. Vui vẻ ngồi xuống vệ đường trên đám cỏ xanh tươi mát dịu, cụ cắm cúi ghi chép tất cả rồi trao cho họ với lời đoan quyết: "Chưa bao giờ tôi cảm thấy khỏe khoắn cho bằng lúc này. Tất cả mọi người tại những nơi tôi đi qua đều tử tế, nhất là mấy bé gái. Tôi rất sung sướng thấy chúng vui vẻ và thật dễ thương vì chúng cũng bằng tuổi các cháu nội, cháu ngoại tôi thôi". Điều cần biết là trong bốn ngày liên tiếp, cụ chỉ ngủ vỏn vẹn có năm giờ.
 
Khi đã vượt quá nửa lộ trình, cụ Harkanson mới bằng lòng khám sức khỏe. Vị bác sĩ phụ trách đã công nhận rằng cụ hội đủ các điều kiện như các tay đua thường.
 
 
THẮNG CUỘC ĐUA
 
Một ngày trước khi năm chục tay đua tới đích, "cụ già gân" đã hoàn tất lộ trình. Tính ra, cụ đã vượt hai nghìn dặm đường trong sáu ngày và chỉ ngủ đúng mười tiếng đồng hồ. 
 
Hàng ngàn người vui mừng hoan hô "cụ già gân". Họ trao tặng cụ hoa và giắt lên người cụ. Chưa hết, họ công kênh cụ lên vai rồi kiệu tới trạm cảnh sát để các nhiếp ảnh viên chụp ảnh và quay phim. Dân chúng từ khắp nơi ở Thụy Điển gửi rất nhiều và đủ loại quà tặng cụ, trong đó có cả những chiếc ghế bành dành riêng cho các người có tuổi dùng để nghỉ ngơi nữa.
 
Dĩ nhiên, cụ Harkanson không được trao tặng giải nhất dành cho cuộc đua, vì cụ không phải là tay đua chính thức, nhưng phần thưởng dành cho cụ đáng giá gấp bội. Nhiều hãng chế tạo xe đạp và xe hơi đã trả tiền rất hậu để được dùng tên cụ vào các dịch vụ quảng cáo món hàng của mình.
 
Quả thực cụ Harkanson đã thổi một luồng gió mới vào tâm hồn đồng bào cụ. Cụ nhận được hàng trăm, hàng ngàn lá thư do bạn bè gửi tới chúc mừng. Rất nhiều thư chỉ đề vắn tắt mấy chữ (kình gửi "Cụ già gân") chứ không viết rõ tên tuổi, vậy mà thư vẫn đến tay người nhận.
 
Cảm động nhất là bức thư của một cụ già khác viết cho Harkanson như sau: "Tôi cũng ở lứa tuổi với ông bạn, nhưng trước tôi cứ nghĩ rằng mình già yếu quá rồi, chẳng còn làm được việc gì, thế mà từ khi biết chuyện ông bạn dự thi xe đạp tới giờ, tôi lại cảm thấy mình vẫn còn trẻ, khỏe mạnh và hạnh phúc trở lại. Cầu xin Chúa xuống ơn lành cho bạn".
 
 
ĐẶNG HOÀNG            
(Phỏng theo Supergrandpapa)   
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 97, ra ngày 8-7-1973)
 
 

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

Chị Ngọc Hạnh


Con bé Ngọc Lan nằm ngủ thật thoải mái, hình như con bé mơ thấy cái gì vui lắm, con bé đang mỉm cười trong giấc mơ. Chị Ngọc Hạnh nhìn con bé thật lâu, khuôn mặt bầu bĩnh của Ngọc Lan trong khi ngủ thật vô tư, Ngọc Hạnh chợt thấy thèm giấc ngủ hồn nhiên như Ngọc Lan và chị cảm thấy nuối tiếc tuổi thơ của chị đã đi qua. Chị tự nghĩ: Nếu Ba Mẹ của chị không mất trong kỳ Tết Mậu Thân, thì giờ này có lẽ chị cũng đã ngon giấc ngủ và không cực khổ như hiện tại, cả ngày lo buôn bán để nuôi 2 miệng ăn, tối đến phải săn sóc cho Ngọc Lan và cuối tháng phải chạy đôn chạy đáo cho có tiền để đóng học phí cho em... Một con muỗi từ trong bóng tối bay ra, đậu trên má Ngọc Lan, cắt đứt những ý nghĩ của chị Ngọc Hạnh, chị dùng tay xua con muỗi bay đi và buông mùng cho Ngọc Lan, con bé chợt thức giấc vì bị vải mùng cà vào mặt, mũi, Ngọc Lan mở mắt và nhìn thấy chị Ngọc Hạnh đang lui cui nhét mùng xuống mép chiếu, phía dưới chân Ngọc Lan. Ngọc Lan ngồi bật dậy, hù thật to làm chị Ngọc Hạnh giựt mình, 2 tay chị dằn lên ngực như để đè nén sợ hãi, chị há hốc miệng, mắt mở to. Ngọc Lan chợt hối hận, con bé sà vào lòng chị, miệng ríu rít xin lỗi, khiến chị Ngọc Hạnh cũng phải phì cười. Lát sau, chị đẩy con bé nằm xuống và nói:
 
- Lần sau đừng hù chị như vậy nữa nghe hông, thôi bây giờ nằm xuống ngủ lại đi, để chị xuống sắp rau vào thúng mai đi bán sớm.
 
Ngọc Lan nũng nịu:
 
- Chị Hai cho em làm phụ với nhá, nằm một mình em sợ lắm, với lại em muốn giúp chị cho mau, để chị còn đi ngủ lấy sức nữa.
 
Chị Ngọc Hạnh nheo mắt trêu:
 
- Coi cái mặt nịnh kìa, thôi cô nương ngủ đi, đừng thức khuya rồi mai bắt tôi kêu như... gọi đò mệt lắm.
 
Nói xong chị quay lưng đi xuống bếp, không cho Ngọc Lan kịp năn nỉ thêm một lời nào nữa. Ngọc Lan không còn thấy buồn ngủ nữa, con bé chui ra khỏi mùng, thòng chân xuống đất tìm dép, bàn chân con bé chạm nền đất lạnh cóng, Ngọc Lan không cần tìm dép nữa, con bé chịu lạnh đi chân trần xuống bếp, chị Ngọc Hạnh không hề biết Ngọc Lan có mặt ở cửa hông. Chị ngồi co ro nhặt từng cọng rau tươi để cột thành từng bó, chốc chốc chị lại rùng mình vì lạnh và chị rụt cổ thật thấp để tìm hơi ấm. Ngọc Lan bỗng thấy thương chị thật nhiều, con bé tự hứa sẽ cố học thật giỏi để sau này làm việc nuôi lại chị Ngọc Hạnh. Một cái gì vô hình bỗng thúc dục con bé Ngọc Lan đi lần tới bên chị Ngọc Hạnh, chị ngẩng mặt lên nhìn và thấy Ngọc Lan không đi dép, chị la lên:
 
- Em xuống đây làm gì? Lên ngủ đi, còn dép đâu không chịu mang vào, đi chân không lạnh lắm.
 
Ngọc Lan lắc đầu:
 
- Em hết biết lạnh rồi, em thương chị quá, vì em mà chị phải thức khuya dậy sớm...
 
Chị Ngọc Hạnh ngắt lời:
 
- Biết rồi, khổ lắm, nói mãi...
 
Chị Ngọc Hạnh cúi xuống, giấu mặt vào giữa 2 đầu gối, hai giọt nước mắt long lanh rơi từ mặt chị xuống thúng rau, tưới cho những bó rau tươi mãi, tươi mãi với tuổi thơ của Ngọc Lan.
 
 
PHI THỪA       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 45, ra ngày 2-7-1972)
 

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

Phiến Buồn Quá Khứ

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Như một phiến buồn vừa đậu nhẹ trên vai tôi
chợt thấy tình yêu lá cỏ
Thật xanh xao, mảnh mai như bàn tay em ngày đó.
 
Tình tôi của những ngày lá me xanh
Trong vòng tay cả một bầu trời thương nhớ
và vụt vỡ như giọt nước mong manh
Trong phiến buồn quá khứ.
 
Còn lại đây những xác lá me vàng
của những sáng, những chiều tôi đón em giờ tan học
Cổng trường ngày nào tôi ngỡ đã thênh thang
Để một thoáng nhớ về, em có khóc?
 
Còn trong tôi những mảnh giấy học trò
Lời thương yêu qua những dòng vội vã
Trong tháng ngày dài âu lo
Tình ơi, sao vội qua hối hả?
 
Tôi bỗng muốn hóa bướm bay về một nơi nào đó thật xa xôi
Mà tôi biết vẫn còn em mong đợi
Nhưng đó chỉ là ý nghĩ thôi
Làm sao tôi thực hiện, em ơi.
 
Tôi vẫn nhớ mãi những ngày em vắng xa
Trong linh hồn tôi hoang vu từng hơi thở
Em mắt biếc, em môi hồng đã phai nhòa
Vòng tay nồng nàn, ôi vòng tay khốn khổ
 
Giờ còn đâu quấn quýt những bàn chân
Trên sỏi đá nghe từng âm thanh vỡ vụn
Không có em, lòng tôi rất phân vân
Trong em, trong tôi có bao nhiêu vương vấn?
 
Em muốn tôi mãi gìn giữ hồn nhiên
Như một kỷ niệm muôn đời hồn ta vẫn ấm
Nhưng em biết đâu trong tôi một nỗi nhớ triền miên
Từng mùa qua đi, nhưng tôi vẫn miên man niềm đằm thắm
 
                                                                                    PHAN YÊN
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 4, ra ngày 20-6-1971)
 

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

Xây Mộng Đời

Tối hôm Chúa nhật vào mùa Xuân năm đó, khí trời ấm áp. Một người đàn ông cao lớn dẫn cậu con trai nhỏ đi tản bộ trong công viên thành phố. Lúc trở về, khi đi ngang qua một tòa nhà nguy nga đồ sộ, bên trong đèn thắp sáng trưng, chung quanh nhà là cả một vườn hoa rực rỡ gồm nhiều thứ hoa quí lạ, tỏa ra những hương thơm mát dịu. Hai cha con cùng đứng lại ngắm nhìn thích thú. Lát sau người cha vui vẻ nói với cậu con:
 
- Charles, con thích tòa nhà này lắm phải không?
 
Cậu con chỉ gật đầu chứ không nói gì, và cậu vẫn tiếp tục giương đôi mắt trong sáng, ngây thơ ngắm nhìn tòa nhà như không biết chán. Người cha nghĩ ngợi rồi mỉm cười nói tiếp:
 
- Tốt lắm! Nếu con muốn sau này khi lớn lên, con có thể mua lại tòa nhà này để ở, thì con hãy chịu khó cố gắng làm việc. Chăm chỉ làm việc và luôn tin tưởng.
 
Sau đó hai cha con họ dẫn nhau về nhà.
 
Có lẽ người cha từ đó không còn nghĩ tới, hoặc có nghĩ tới, thì cũng chỉ nghĩ tới thoáng qua vậy thôi. Thế nhưng cậu con thì trái lại, chẳng những cậu đã nghĩ tới luôn, mà còn yêu thích và quyết tâm thế nào sau này cậu cũng phải làm chủ và sống trong tòa nhà đó nữa.
 
Cậu tuy nhỏ người nhưng lại có cái mộng lớn!
 
Mới 11 tuổi đầu mà cậu có những dự tính xa xôi về tương lai. Đã biết xây mộng đời! Nhưng đâu có phải là một mộng đời thường thường, mà lại là một mộng đời sáng lạn.
 
Cậu thật là một em nhỏ khá đặc biệt!
 
Cậu đã sống những ngày vui tươi với cái mộng đời của cậu.
 
Mỗi lần nhớ tới nó là cậu mỉm cười khoan khoái, tin tưởng.
 
Nhưng éo le thay! Cậu mới vui sống với cái mộng đời của cậu được ít tháng thì bỗng một sự thật quá phũ phàng đả xảy đến cho gia đình cậu, khiến cậu không còn có thể vui tươi mỉm cười với cái mộng đời của cậu được nữa. Tuy nhiên niềm tin tưởng của cậu vẫn không bao giờ bị tắt hẳn.
 
Kỳ đó công việc làm ăn của gia đình cậu phải vỡ nợ. Cha cậu liền bị tống giam cho đến khi nào trả xong nợ mới được tha ra. Khi đó gia đình cậu đã phải sống trong những ngày gian lao, chật vật. Riêng cậu tuy còn nhỏ tuổi, nhưng cũng phải tạm từ giã ghế nhà trường và bạn học để đi làm việc, kiếm tiền giúp đỡ gia đình. Cậu được nhận vào làm việc trong một hãng sản xuất xi đánh giày ở gần bờ sông Thames (Luân đôn).
 
Mặc dầu chẳng mấy ưa thích, nhưng cậu đã làm công việc của cậu một cách chăm chỉ, nhẫn nại, và trong cử chỉ, nhất là trên nét mặt của cậu tỏ ra một thái độ nghiêm trang buồn buồn.

Vì còn quá nhỏ tuổi và không quen làm việc nên sức khỏe của cậu từ đó mỗi ngày mỗi bị sút kém. Rồi một hôm khi đang làm việc trong hãng, bỗng cậu tháy đầu óc choáng váng, chân tay run lẩy bẩy và sau cùng cậu ngã lăn ra bất tỉnh.

Ai nấy xúm lại săn sóc, chữa chạy cho cậu. Người ta đặt cậu nằm tạm trên một chiếc thùng gỗ ngay tại chỗ cậu làm việc. Sau đó cậu dần dần tỉnh lại, và đến giờ tan sở nhiều người tỏ ý muốn đưa cậu về, vì họ bảo là không nên để cậu về nhà một mình, sợ rằng cậu có thể gặp tai nạn ở dọc đường chăng. Kể ra khi đó cậu cũng còn hơi yếu mệt thật, nhưng vì không muốn để cho ai biết được chỗ ở khổ cực tồi tàn của gia đình bấy giờ, nên cậu đã khăng khăng từ chối, nhất định không chịu để cho ai đưa cậu về. Cậu quả quyết với họ là cậu đã khỏe hẳn rồi, cậu rất có thể về nhà một mình được lắm. Thấy cậu cứ khăng khăng một mực, nên dần dần người ta đều bỏ ra về, vì không muốn ép cậu quá.

Tuy thế cậu vẫn chưa được tự do đi về một mình đâu, bởi vì có một cậu bé lớn hơn cậu ít tuổi, tên là Bob Fagin, là bạn cùng làm việc với cậu trong hãng, anh này trước sau vẫn cứ nhất định sẽ không khi nào chịu để cho cậu về nhà một mình, vì thế sau cùng cậu đã phải nhượng bộ.

Trời bắt đầu tối.

Đó đây những ngọn đèn trên các đường phố đã cháy sáng.

Hai cậu bé yên lặng đi bên nhau. Không ai nói với ai một câu. Cả hai cùng lầm lì rảo bước. Họ đi, đi mãi, hết phố này qua phố khác khiến cho sau đó một người thấy sốt ruột quá nên hỏi:

- Ê Charles, sắp đến nhà chưa?

- Cũng sắp đến rồi.

Và hai người lại tiếp tục đi, đi nữa. Mãi sau khi tới một ngã tư, Charles quay nói với bạn:

- Tới nhà rồi. Thôi xin cám ơn anh. Chào anh.

Vừa nói cậu ta vừa vội vã bang qua đường, tiến thẳng tới một căn nhà, điềm tĩnh kéo chuông cửa. Trong khi đó Bob Fagin đứng ở bên kia đường nhìn theo cậu ta một lát rồi bỏ đi.

Cánh cửa căn nhà kia từ từ hé mở. Một cô gái xuất hiện ở trong khung cửa, và khi vừa thấy cậu ta, cô này liền cau mày hỏi:

- Em muốn hỏi gì?

Charles liếc vội về phía sau và cậu lấy làm khoan khoái khi thấy người bạn của cậu đã đi khuất sang lối quặt. Tuy thế cậu Charles vẫn lúng túng chưa biết nói gì với cô gái. Cô này liền hỏi lại một lần nữa, giọng gắt gỏng:

- Sao? Muốn gì?

- Có… có phài nhà ông… ông Bob Fagin đây không?

- Không phải.

Rồi cô gái đóng sập cửa lại.

Cậu ta vội vã quay ra, đi thẳng về nơi gia đình cậu đang tạm trú. Đó là một căn phòng nhỏ hẹp tồi tàn trên rầm một sân thượng của một ngôi nhà.

Cậu ta đã giấu không để cho Bob Fagin biết được điều bí mật này!

Trong suốt thời gian ba cậu bị giam giữ, tuần nào cậu cũng đến lao xá để thăm ba cậu.
 
Cậu và gia đình cậu đã phải sống trong những ngày thật là gian lao đau khổ!
 
Sau thời gian bị giam giữ, ba cậu đã được trả tự do. Gia đình cậu không cần cậu làm việc nữa, cậu lại được cắp sách đến trường để tiếp tục việc học hành mà vì hoàn cảnh đã bắt buộc cậu phải tạm gián đoạn lâu nay.
 
Cậu đã học hành một cách chăm chỉ, chuyên cần, và dĩ nhiên cậu vẫn không quên nuôi cái mộng đời của cậu. Cái mộng được làm chủ và sống trong tòa nhà mà có lần cậu và ba cậu đã đứng ngắm cách say sưa, vào một tối Chúa nhật kia.
 
Sau bao nhiêu năm cố gắng làm việc và tin tưởng, cậu đã trở thành một danh nhân, một nhà văn lỗi lạc.
 
Những tác phẩm của cậu đã được cả thế giới hâm mộ, và đã được phiên dịch ra bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.
 
Ngoài ra, sau này cậu cũng đã đạt được cái mộng của đời cậu. Nghĩa là cậu đã làm chủ và sống trong tòa nhà cậu hằng mong ước.
 
Đó là một tòa nhà ở tại Gad's Hill Place.
 
Còn tên của cậu là CHARLES DICKENS.
 
Thiết tưởng một phần lớn là nhờ những kinh nghiệm của quãng thời gian gặp hoạn nạn, phải sống khổ cực trong những xóm lao động tồi tàn, giữa những người nghèo khó, nên Charles Dickens đã cống hiến cho thế giới được những câu chuyện, những tác phẩm hay ho, quí giá.
 
 
TRỌNG ĐỨC    
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 28, ra ngày 25-5-1965) 

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

Viết Cho Tuổi Trăng Tròn (7)


Bạn bè
 
Ngày còn bé, đối với chúng ta bạn bè không phải là quan trọng, có thì tốt, còn không thì ở nhà làm nũng mẹ cũng được, chả cần. Nhưng bây giờ, chúng ta chợt nhận thấy gia đình quá nhỏ hẹp, tình thương gia đình tuy có đậm đà đấy nhưng vẫn không đủ để thỏa mãn nhu cầu muốn được yêu thương của chúng ta. Và bởi vậy chúng ta để lòng hướng về các bạn bè với hy vọng tìm thêm được sự thương yêu, do đấy bạn bè bắt đầu đóng một vai trò quan trọng.
 
Đó là một điều thông thường, hợp với sự tiến triển về tâm lý và tình cảm con người, do đó chúng ta không lấy làm lạ về cái khuynh hướng ấy. Nhưng bạn ạ, cho cũng phải biết cho cho đúng và nhận lãnh cũng phải biết nhận lãnh thế nào cho phải. Bạn muốn được yêu thương, bạn cần phải tìm người biết yêu thương, bạn muốn ban phát tình yêu thương, bạn cũng phải tìm người biết nhận lãnh. Vậy thì hôm nay chúng ta thử tìm hiểu về bạn bè xem sao nhé.
 
Ở đây, chúng ta chưa vội bàn đến tình bạn khác phái, đó là một vấn đề phức tạp, liên hệ nhiều đến những yếu tố khác, nên hẹn bạn, lúc nào tiện chúng ta sẽ trở lại vấn đề đó. Hôm nay chúng ta chỉ tìm hiểu về tình bạn đồng phái.
 
Nhiều người quan niệm quá dễ dàng và quá đơn giản về bạn bè: thấy nhau một lần cũng cho là bạn, và bạn là... bạn chứ không còn gì khác nữa. Những người như vậy quả là tốt lành và dễ tính, nhưng như vậy nhiều khi cũng không lợi. Để rồi bạn sẽ thấy không lợi ở chỗ nào. Thực ra, nếu phân tích tử tế, chúng ta nhận thấy có 3 loại bạn: loại thứ nhất là loại bạn ngoại giao, loại thứ nhì là bạn học hỏi và loại thứ ba, phải nói trước: rất hiếm và rất quý, đó là bạn thân.
 
Chắc bạn đã bật cười và bảo tự dưng lại phân chia ra làm gì cho nó rắc rối thêm. Ấy, khoan đã bạn. Phải biết rằng đời sống thực tế đòi hỏi chúng ta phải có những hành vi, phản ứng cho đúng nơi, đúng lúc, vì vậy, phân tích bạn bè ra từng loại một chỉ có mục đích giúp chúng ta đối xử cho dễ dàng và thích hợp đấy thôi.
 
Thiết tưởng cũng cần phải phân biệt giữa bạn và người quen. Chúng ta quen nhiều người nhưng họ đâu có phải là bạn. Không cần phải nói đến những người quen biết lớn tuổi hơn chúng ta, dĩ nhiên họ không phải là bạn của chúng ta rồi, ngay cả những người quen cùng lứa tuổi nữa họ cũng không phải là bạn của chúng ta nốt. Vậy bạn là thế nào? Chúng ta hãy trở lại với 3 loại bạn đã phân tích ở trên.
 
Loại thứ nhất là bạn ngoại giao. Đó là những người mà thường ngày chúng ta năng gặp, năng giao tiếp, nhiều khi họ không giúp ích gì cho chúng ta và chúng ta cũng chẳng giúp ích gì cho họ, nhưng vì công việc hàng ngày họ và chúng ta vẫn gặp nhau. Họ có thể là những người cùng tuổi ở hàng xóm, cũng có thể là những người học cùng một lớp. Với loại bạn này, tuy họ chả giúp ích gì cho chúng ta, nhưng không phải vì vậy mà thấy họ là chúng ta lẩn mặt hoặc tỏ vẻ lãnh đạm, trái lại để tỏ ra mình là người lịch thiệp, bạn vẫn phải vui tươi trò chuyện với họ.
 
Loại thứ nhì là bạn học hỏi. Những người bạn này không cứ phải là bạn ở trường. Chúng ta có thể có được những người bạn học hỏi ở nơi khác. Tuy vậy, cái hoàn cảnh cùng lớp, cùng thầy vẫn dễ tạo cho chúng ta những người bạn học hỏi hơn. Đối với chúng ta, các bạn này rất cần, bạn đã biết con người không ai hoàn hảo được, ngay cả trong việc học, thường thường không phải môn nào chúng ta cũng giỏi ngang nhau, thế nào cũng có môn trội hơn, môn kém hơn. Những người bạn học hỏi giúp chúng ta hiểu rõ bài vở môn chúng ta kém, và ngược lại, chúng ta cũng có bổn phận giúp đỡ họ như vậy. "Học thầy không tầy học bạn", câu nói của cha ông chúng ta vẫn đúng đấy bạn ạ.
 
Trong số bạn ngoại giao và bạn học hỏi, chắc chắn sẽ có nhiều người làm bạn mến phục, mến vì tính tình dễ thương của họ, phục vì bạn thấy họ giỏi giang. Bạn hãy tiếp xúc nhiều với họ, biết đâu bạn lại tìm được một người bạn thân. Nhưng dù sao, đối với những bạn ấy bạn cũng chưa nên nói vội những tư tưởng thầm kín của bạn, chỉ một bất đồng ý kiến nhỏ, bạn có thể mất bạn bè ngay.
 
Đôi khi bạn lại gặp những người bạn xấu, họ muốn làm hại bạn hoặc quyến rũ bạn cùng làm điều xấu như họ. Lúc này là lúc đòi hỏi bạn phải có ý chí, bạn hãy biết nói tiếng "không" một cách cương quyết và cứng rắn. Những người bạn đó, đúng ra họ không đáng gọi là bạn chúng ta, họ chỉ là những người xấu mà không may trên bước đường đời chúng ta gặp phải. Hoàn cảnh ngày hôm nay thật đáng buồn, cái không may đó chúng ta sẽ gặp luôn luôn, vậy bạn phải cẩn thận đề phòng: Chắc chắn một số bạn sẽ có những lý tưởng thật cao đẹp, bạn muốn cải hóa những người bạn xấu ấy, điều đó rất tốt và bạn cứ việc thi hành, nhưng trước hết bạn cũng cần phải lượng sức bạn đã.
 
Một loại bạn nữa, đó là bạn thân, đây mới chính là người mà chúng ta có thể tìm thấy ở họ tình thương yêu. Có những người bạn thương nhau không tưởng tượng được, sẵn sàng hy sinh cho nhau, sẵn sàng chịu đau khổ vì bạn. Bạn đã có một người bạn nào như vậy chưa? Nếu có thì thật là hạnh phúc. Trên bước đường đời, ngay cả lúc còn thanh xuân, chúng ta gặp biết bao nhiêu đau khổ, những người bạn thân giúp đỡ chúng ta, an ủi chúng ta những lúc ấy.
 
Có người bảo cứ hợp tính nhau thì thân nhau. Điều đó cũng không đúng hẳn. Chắc bạn cũng nhận thấy như vậy, nhiều người rất hợp chúng ta, giống luôn cả dáng người, vẻ đi đứng... nhưng quái, sao chúng ta vẫn không thân với họ được, tuy chúng ta rất thích, rất mến họ. Lại đôi khi bạn có những người bạn thân không hợp tính bạn tí nào, có khi họ lại mang nhiều khuyết điểm, nhưng như là "duyên tiền định" chúng ta vẫn thân với họ như thường. Những lúc ấy, vì tình bạn thân, chúng ta hãy cố gắng sửa chữa những khuyết điểm cho người bạn ấy.
 
Bạn thân rất khó tìm, có người cả đời đi tìm một người bạn thân mà không có. Một người ta có thể tin cậy, ta có thể tâm sự, ta có thể tìm được niềm an ủi chân thành, một sự giúp đỡ thẳng thắn không vụ lợi đâu phải là người dễ tìm. Nếu đã tìm được người bạn thân, bạn hãy cố gắng duy trì tình bạn ấy.
 
Tóm lại, tuy chúng ta có nhiều bạn, nhưng không phải với ai chúng ta cũng đối xử như nhau, bạn phải khôn ngoan, phải đối xử tùy theo "nồng độ" của tình bạn, nếu không coi chừng có ngày vỡ nợ đấy. Bạn bè có thể một phần nào thỏa mãn nhu cầu yêu thương và muốn được yêu thương của bạn với một điều kiện bạn phải biết "chọn bạn mà chơi". Nếu không, sự yêu thương chẳng thấy đâu mà bạn chỉ tìm được những phỉnh gạt, những giả dối.
 
 
Quyên-Di      
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 71, ra ngày 15-6-1967)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>