Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Giấy Trắng Học Trò




 
 
 
 
 
 
 
 
Giấy trắng học trò  áo trắng trong
Mắt ngời theo nắng sáng bên song
Hy vọng tương lai tờ giấy trắng
Tô vẽ niềm vui ngập cõi lòng
 
Ngày lại ngày qua chẳng bâng khuâng
Gửi hồn theo gió nhẹ lâng lâng
Nhìn trời xanh thẳm nhiều mơ ước
Đường dẫu chông gai chẳng ngại ngần

Tương lai ai biết sẽ về đâu
Rền vang mùa hạ tiếng ve sầu
Phượng đỏ ép vào trang giấy trắng
 Hình ảnh một thời tim khắc sâu 

                                           Nhã Uyên

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Danh Nhân Bùi Viện


(Người Việt Nam đầu tiên giao thiệp với Mỹ)
 
Dưới thời Tự Đức, giữa lúc nền đô hộ của Pháp đang đè nặng lên tinh thần dân tộc Việt Nam thì một người Việt đầy nhiệt tình yêu nước đã mạo hiểm vượt Thái Bình Dương sang Mỹ để hy vọng tìm được một sự giúp đỡ nào đó đặng khôi phục lại chủ quyền cho đất nước. Nhà ái quốc mạo hiểm ấy chính là ông Bùi Viện.
 
Bùi Viện quán làng Trình Phổ, huyện Trực Định (sau đổi là phủ Kiến Xương) tỉnh Thái Bình. Ông đậu Tú Tài năm Giáp Tý (1864) và tới năm Mậu Thìn (1869) thi đậu Cử Nhân. Đậu xong ông vào Huế tập văn tại Quốc Tử Giám ở trọ nhà Trạng Bông. Nơi đây ông quen với Lễ Bộ Tham Tri Lê Tuấn và đã giúp Lê Tuấn nhiều mưu lược khi Lê Tuấn ra dẹp giặc Cờ Đen và Cờ Vàng tại miền Bắc. Do đó ông được Triều đình chú ý tới, và rồi Nam Định Doanh Điền Xứ Doãn Uẩn đã giao cho ông mở mang Ninh Hải tức Hải Phòng ngày nay.
 
Năm 1873 Bùi Viện được cử ra xứ ngoài để nghiên cứu tình hình các cường quốc và tìm cách tranh thủ độc lập cho đất nước trong lãnh vực ngoại giao. Ông đi thuyền vượt đường bể tới Hương Cảng. Lúc này Hương Cảng thuộc quyền người Anh nên ở đây Bùi Viện được nhìn thấy tận mắt những công trình kiến thiết và tiện nghi văn minh. Bộ óc của một nho sĩ đã bao nhiêu năm bị nhồi nặn bởi các tư tưởng Khổng Mạnh bỗng nhiên chuyển hướng. Ông tìm cách giao du với các nhân vật Âu Tây với hy vọng học hỏi ở họ kiến thức mới và tìm cách vận động họ giúp đỡ đất nước mình. Nhờ sự giới thiệu của một nhân sĩ Trung Hoa, Bùi Viện đã gặp được vị lãnh sự Hoa Kỳ. Hai người thường đàm đạo với nhau bằng tiếng Trung Hoa và rồi trở nên thân mật. Bùi Viện mới hiểu rằng ngoài nước Pháp hùng mạnh đương đô hộ Việt Nam, còn có nước Mỹ giàu mạnh gấp bội có thể giúp cho dân tộc Việt Nam khôi phục chủ quyền.
 
Không ngại khó khăn, Bùi Viện quyết thực hiện bằng được cuộc hành trình sang Mỹ quốc. Từ Hương Cảng ông tới Hoành Tân (Yokohama) và rồi đáp tàu đi Cựu Kim Sơn (San Francisco), rồi từ Cựu Kim Sơn tìm lên Hoa Thịnh Đốn. Ước vọng của ông là làm sao yết kiến được Tổng Thống Mỹ, nhưng ở địa vị ông lúc ấy ước vọng này quả thực mỏng manh. Dù vậy, ông đã cố gắng tìm mọi cơ hội và trải qua một năm dài đằng đẵng chờ đợi ở Hoa Thịnh Đốn, Bùi Viện được gặp Tổng Thống Hoa Kỳ Ulysse Simpson Grant. Tổng Thống Mỹ hứa sẽ giúp đỡ nhưng tỏ ý ngần ngại vì chưa có quốc thư của Quốc Vương Việt Nam yêu cầu.
 
Bùi Viện cáo từ trở về lấy quốc thư. Nhưng khi ông đang sửa soạn trở về nước thì chính tình hình nước Mỹ đột biến, không cho phép Mỹ can thiệp vào vấn đề của nước khác. Bùi Viện chán nản trở về Hoành Tân rồi đáp tàu về nước đem sự tình tâu lên vua Tự Đức. Lúc ấy ông lại được tin mẹ vừa mất nên xin về quê chịu tang.
 
Ít lâu sau, ông được phong làm Thương Chính Tham Biện lo việc dẹp bọn giặc để bảo vệ thương thuyền và những đoàn thuyền của Triều đình qua lại từ Huế ra Hải Phòng. Ông đã lập ra đại tuần dương, thu nạp những tên giặc Tàu Ô (giặc bể người Tàu) để biến chúng từ những tên cướp trở thành quân đội Triều đình chống lại những tên cướp khác.
 
Công việc của ông đang tiến hành tốt đẹp thì bất ngờ ông nhuốm bệnh rồi mất. Năm ấy là năm 1878, Tự Đức thứ 31 nhằm ngày mồng một tháng 11 âm lịch.
 
Trên đây là sử liệu về Bùi Viện từ Hoa Kỳ trở về, vua Tự Đức và các quan ngồi nghe ông kể lại những chuyện phương xa. Ông tả cảnh tàu chạy ngoài bể không phải dùng buồm và chèo, đèn đốt ngọn lộn ngược xuống và nhiều tiện nghi khác của văn minh. Các quan không tin, cho rằng "đi xa tha hồ nói khoác" và định khép ông vào tội khi quân. Cũng may vua Tự Đức là người thông minh nên không nghe lời tâu xằng bậy của các quan.
 
Khi giữ chứng Thương Chính Tham Biện, ông đã có sáng kiến thu phục bọn giặc Tàu Ô để tổ chức thành đội quân tuần dương hùng mạnh. Ông đã phải dùng tiền mua chuộc họ và phải đối với họ như bậc đàn anh trong chốn giang hồ đối với đàn em, nên sau khi ông mất, bọn đàn em bất phục người chỉ huy mới. Chúng lại trở về đời sống những tên cướp bể. Thêm vào đó sự chi tiêu cho quân đội tuần dương đã vượt trên số tiền Triều đình ấn định nên các quan trong triều đã hạch tội Bùi Viện là hà lạm công quỹ và tổ chức quân đội ô hợp. Quan triều về tận nhà ông để kiểm kê tài sản nhưng thấy gia đình ông vẫn nghèo túng nên sau vua Tự Đức đã bỏ qua vụ án đó.
 
 
LÊ DƯƠNG THẠCH        
(Theo Thái Văn Kiểm Đ.V.T.N.)  
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 44, ra ngày 25-6-1972)
 
 
 

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

Sinh Nhật Em


Ngày xưa, sinh nhật thứ mười ba của em, em ngồi ở ngoài vườn, cũng ở chiếc xích đu này. Sinh nhật buồn rầu. Em đã chơm chớp giọt nước mắt khi nghĩ đến sinh nhật bạn em nhộn nhịp như ngày hội, đầy tiếng nói, tiếng cười, tiếng chúc tụng. Những cái áo đẹp, những ngọn nến hồng lung linh trên chiếc bánh sinh nhật to thật to đặt giữa bàn. Sinh nhật em thật âm thầm, chả ai biết đến. Bố đi làm về ăn cơm xong lăn khoèo ra ngủ, mẹ đan nốt chiếc áo cho em để kịp mặc mùa đông. Chị Thúy, anh Giao bận học, chả ai để ý đến em. Lang thang một mình trong vườn em buồn muốn khóc. Chung quanh em là đêm đen, sương xuống đầy vai. Chỉ có lá, có gió, em thấy giọt nước mắt lăn rất âm thầm...
 
Đêm ấy em đã hỏi mẹ:
 
- Mẹ ơi, đố mẹ năm nay con mấy tuổi?
 
Mẹ mỉm cười, mắng yêu:
 
- Mười ba chứ bao nhiêu, gớm, lẩm cẩm.
 
- Nhưng mà mẹ biết hôm nay là ngày gì của con không?
 
Mẹ ngẫm nghĩ một lát rồi lắc đầu:
 
- Chịu, mẹ chịu thôi, ai mà biết.
 
Em vỗ tay reo lên:
 
- Hôm nay sinh nhật thứ mười ba của con mà mẹ quên.
 
Mẹ thoáng buồn, chợt nhớ đến lúc ngồi ở vườn một mình, em ngồi im, nước mắt dỗi hờn.
 
Mẹ ngừng đan, nhìn em dịu dàng:
 
- Con đi ngủ đi, mai còn đi học.
 
- ...
 
- Đi ngủ đi  con, con lớn rồi mà, phải ngoan chứ.
 
Em òa khóc, mẹ nhìn em khóc rồi thở dài. Mẹ cúi xuống chiếc áo len đan dở, hình như mẹ khóc.
 
Em ngồi với mẹ rất lâu, khi cả nhà đã đi ngủ hết, em hỏi mẹ:
 
- Mẹ ơi, sao sinh nhật con không có bánh, không có bạn bè, không có nến hồng hở mẹ?
 
Mẹ trả lời, giọng thấp xuống như lời thì thầm:
 
- Nhà mình nghèo con ạ. Sinh nhật có mẹ, có bố, có anh chị, có những yêu thương là hạnh phúc rồi. Những đứa trẻ mồ côi đâu có sinh nhật sinh nhiếc gì. Chúng mất mẹ, mất bố, mất gia đình, chúng còn bất hạnh hơn con nhiều. Chủ nhật sau con vào cô nhi viện Sơn Chà với mẹ nhé. Con sẽ không mơ tưởng một sinh nhật rộn ràng, sang trọng như bạn con nữa.
 
Hôm đó em đã ngủ rất ngon lành, trên môi vẫn nở nụ cười. Em thương mẹ quá thôi.
 
Bây giờ sinh nhật thứ mười sáu của em. Em ngồi ở vườn, em muốn được ngồi mãi cho đến sáng. Em không ao ước sinh nhật rộn ràng như hồi xưa. Quà sinh nhật của em hôm nay là lời thì thầm của đêm âu yếm, dịu dàng, là những chiếc lá khô vung vãi trong vườn của cây, là điệu nhạc vi vu êm đềm của gió, là ánh mắt của mẹ bao dung lo lắng "Con mười sáu rồi đấy".
 
- Như ơi, vào đi ngủ.
 
- Chị Thúy ơi, ra xem trăng đẹp lắm.
 
- Thôi đi, vớ vẩn, vào đi ngủ.
 
- ...
 
Em lớn rồi mà, hôm nay em mười sáu. Em lớn rồi mà, mẹ cho em thức cả đêm. Em nhìn trăng lai láng trên lá cây, trong vườn, trong mắt em. Cho em ngồi nhìn trăng mười sáu đưa em sang bờ mười bảy, hẳn có nhiều mới lạ. Cho em nhìn ngày mười sáu qua đi, những giọt nước mắt hồng luyến tiếc mười sáu ngu ngơ tuyệt vời. Em lớn chưa chị Thúy. Em nghe văng vẳng tiếng chị Thúy dài ra : me ơi Như đang làm thơ...
 
 
NHƯ NGUYỆN       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 43, ra ngày 18-6-1972)
 

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

Mèo và Chó


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mèo và Chó thân nhau ghê lắm
Hai anh chàng sống tạm qua ngày
Nhờ công của Chó xưa nay
Đi săn nai thỏ về đây cùng dùng
 
Mèo hai buổi ung dung đi dạo
Chẳng hề lo chuyện gạo chuyện cơm
Mọi điều Chó đã chu toàn
Lo ăn lo mặc lại còn chiếu chăn
 
Mèo chỉ việc lo ăn rồi ngủ
Khi nào buồn... chuột rủ đi chơi
Một hôm gió độc trở trời
Chó đi về bệnh... cả người mê man
 
Mèo giận dỗi lang thang xuống xóm
Lẻn  vào nhà bếp "tóm" giò heo
Đem về Mèo gọi "meo meo!"
Chó liền rán dậy bước theo ăn cùng
 
Nhưng Mèo đã nhẹ tung nhánh ổi
Leo lên ngồi vừa thổi vừa ăn
Mặc cho Chó đứng nhăn răng
Chiếc mồm nhỏ rãi... đầy chăn Chó trùm
 
Bỗng vang dậy nghe "ùm" một cái
Thì ra Mèo làm gãy cành cây
Từ trên rớt xuống tan thây
Chó buồn đứng ngắm lòng đầy tiếc thương.
 
                                                       ANH TRINH
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 92, ra ngày 15-6-1968)
 

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2026

Vua Hề Sạc-lô (Charlot)


Tên thật của ông chính là Charlie Spencer Chaplin, sinh ngày 16 tháng 4 năm 1889 (lớn hơn Hitler 4 ngày) tại xóm dơ bẩn Bermondsey ở Luân Đôn (Anh). Cha ông chết lúc 30 tuổi, bà quả phụ Lily Harley là một nữ diễn viên trên các sân khấu nghèo. Charli và anh là Sydney phải chạy rong trong các quán cháo bình dân kiếm ăn qua bữa.
 
Năm lên bốn, Charlie đi hát trong mấy quán cóc mà người Anh gọi là "Pub". Tám tuổi, chú đi trình diễn xa với một nhóm bé con do một giáo viên hướng dẫn. Nhưng trò hề không làm chú mãn nguyện. Chú muốn sau này thành diễn viên thực thụ, có thể đóng nổi tuồng Hamlet. Song chú chỉ học được nghề hớt tóc.
 
Đoạn đời thích thú nhất của ông đó là ngày trọng đại khi Charlie Chaplin trở thành Charlot. Lúc đó vào năm 1910, Charlie được một tay tìm mầm non đem sang Hoa Kỳ. Năm 1911, ông đến Los Angeles (Hollywood) được Mack Sennett mướn ông với giá 25 Mỹ kim mỗi tuần thay thế cho một diễn viên đòi lương quá cao. Ông chỉ xuất hiện 10 phút trong những phim diễu ngắn.
 
Một buổi tối, ông mượn chiếc quần rộng và dài, cái áo đuôi tôm thật chật, chiếc nón trái dưa, chiếc gậy mềm và đôi giầy rộng, ông mang ngược chiếc mặt bên chân trái và chiếc trái vào chân mặt cho khỏi sút ra. Thêm một chấm râu cứt mũi và hai lọn tóc quăn bên tai. Khán giả cười như điên. Charlot đã thâu lượm được thành công trên màn ảnh từ phút đó.
 
Vài tháng sau, lương của ông tăng lên 200 rồi 1.000, rồi 2.000 Mỹ kim mỗi tuần. Danh vọng nhưng chưa hạnh phúc, ba cuộc hôn nhân tan vỡ trong những năm sau đó. Người vợ thứ nhất của ông 16 tuổi tên là Mildres Harris, người thứ hai là Rita Grey đem lại cho ông hai đứa con là Sidney và Charlie. Người vợ thứ ba là một cô đào lẳng Paulette Goddard sống chung với ông được chín năm.
 
Phim "City Light" (Ánh sáng đô thành) của ông chiếu khắp thế giới. Sau ngày chiếu ra mắt ở Luân Đôn, Charlie nhận được 73.000 bức thư, trong đó có 9 bức tự nhận là mẹ ông.
 
Nhưng những thiên tài thường hay gặp nhiều cay đắng. Nữ diễn viên Joan Barry không lột tả được vai trò trong cuốn phim của ông giao phó, dĩ nhiên là ông cho nghỉ, nàng ta rút súng hăm dọa và kiện ông phải nhìn nhận làm cha đứa con của nàng đang mang trong bụng. Các hội luân lý lên án tẩy chay Charlót. Một nghị sĩ Mỹ tố cáo ông là Cộng sản trong cuốn phim sau cùng của ông là "Lime Light" (Ánh đèn sân khấu) ra mắt Hoàng gia Anh. Bộ trưởng tư pháp Mc Granery của Mỹ tố cáo ông là người ngoại quốc nên dân Mỹ không thích sự có mặt của ông trong xứ họ.
 
Charlie không bận tâm đến dư luận quái ác ấy, vì ông đã tìm được hạnh phúc mà ai cũng tưởng đó là một vụ xì căng đan (scandale) mới. Người yêu của lão già Charlie 54 tuổi là cô gái mới 17 cái xuân xanh, con của kịch tác gia trứ danh Eugene O Neill. Hai người quen biết nhau trong một cuộc thăm viếng của Charlie. Cha nàng nguyền rủa cuộc tình duyên của hai người và cấm người thiếu nữ Ái Nhĩ Lan cứng đầu đó gặp lại cha nàng cho tới ngày ông mất. Họ chính thức làm lễ cưới ngày 16-4-1943. Năm nay, cô Geraldine, con gái lớn nhất của ông 27 tuổi.
 
Qua Charlot, mỗi người thấy một phần thực thể của mình. Đó là một anh hề u buồn với nụ cười thảm não tượng trưng cho lớp người nghèo tiền nhưng giàu tình thương và mộng ước luôn luôn bị cái xã hội độc ác và máy móc không buông tha. Trong đời làm phim của Charlot, không vố nào thất bại nặng bằng thời kỳ có phim nói. Tất cả nghệ thuật đóng trò bị xáo trộn. Các tài tử phim câm ở Hollywood ngã xuống như rạ, chỉ có Charlot dám tiếp tục lội ngược dòng. Ông nói: "Tôi sinh ra để đóng tuồng câm, một cái nháy mắt của tôi nói nhiều hơn năm mươi chữ." Ông nghĩ rằng ngôn ngữ cần phải có người dịch thuật làm trung gian để cho mọi người hiểu, còn tranh vẽ và im lặng là một thứ tiếng quốc tế.
 
Trong một biệt thự hai mươi hai phòng bên bờ hồ Leman (Thụy sĩ) hồi 10 năm trước đây Charlie đã dành mỗi ngày năm giờ để hoàn thành một cuốn sách. Đó là cuốn "My Autobiography" (Đời tôi).
 
(trong T.B.B.T)      
Nguyễn Vũ Thoại Anh 
(T.V.Đ Việt-Nam)    
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 95, ra ngày 24-6-1973)
 

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Khúc Mưa Tháng Sáu


 
 
 
 
  
 
 
 
Tháng sáu trời mưa mau
Cho cây lá xanh màu
Mưa mái tranh, mái ngói
Ướt áo đỏ, áo nâu

Mưa thành phố mưa về
Mưa rào rạt thôn quê
Mưa đồng xa trắng xóa
Mưa trên mái tóc thề

Mưa, mắt lệ trong veo
Mưa, tan tác xóm nghèo
Mưa, gánh hàng trĩu nặng
Mưa, phố vắng đìu hiu 

Một đời chàng nghệ sĩ 
Lang thang hoài trong mưa
Đếm gót giày thầm lặng 
Dệt thành mấy vần thơ

Cô đơn chàng họa sĩ
Thêm màu lên khung tranh
Tô đời muôn sắc thắm
Ngoài trời mưa rơi nhanh

Tóc lùa làn tóc rối
Mong trời mưa thôi rơi
Mắt thôi nhòe nước mắt 
Trên thăm thẳm giòng đời

                               THƠ THƠ 
                        (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

Làm Quen


Em muốn làm quen với cô bé ghê đi. Trông cô bé dễ thương làm sao ấy. Đôi mắt sáng long lanh và đôi má lúm sâu đồng tiền càng làm tăng vẻ đẹp hồn nhiên, thơ ngây của cô bé. Cô bé đang đi dạo trong vườn (nhà em và nhà cô bé ở cạnh nhau, xây kiểu cũng như nhau), dường như cô bé không biết rằng có em đang ngó trộm. Em muốn làm quen mà sao em mắc cỡ ghê đi! Chỉ sợ cô bé kênh kiệu không thèm chơi với mình nên em còn chần chờ chưa ngỏ lời làm quen. Nhưng ô kìa, chắc là cô bé đã thấy em lấp ló ngoài cổng. Cô bé tiến về phía cổng, rụt rè hỏi:
 
- Đằng ấy ơi, làm cái gì thế kia?
 
Em e thẹn:
 
- Tớ đang hái hoa mắc cỡ, đằng ấy ra ngoài này chơi với tớ đi.
 
Cô bé hỏi, đôi mắt thoáng ngạc nhiên:
 
- Ồ, hoa mắc cỡ à?
 
- Bộ đằng ấy chưa bao giờ nghe nói đến hoa mắc cỡ sao?
 
Cô bé trả lời:
 
- Chưa bao giờ cả.
 
Cô bé mở vội cổng, lách ra ngoài ngồi cạnh bên em.
 
Em khẽ hỏi:
 
- À quên, đằng ấy tên gì nhỉ?
 
- Dạ Lan. Còn đằng ấy?
 
- Ôi chà, tên của đằng ấy, à quên, tên của Dạ Lan đẹp ghê nơi. Tớ tên là, à tên của tớ nghèo lắm cơ, tớ tên là Hàn Vi.
 
Dạ Lan ngắt một đóa hoa mắc cỡ, khẽ hỏi:
 
- Tại sao người ta đặt hoa này tên là mắc cỡ nhỉ? 
 
Em trả lời:
 
- Thì cũng như các loại hoa khác vậy, người ta đặt tên hoa Cúc, hoa Hồng vậy đó!
 
Dạ Lan thắc mắc:
 
- Nhưng tại sao lại không đặt khác mà lại đặt cái tên nghe ngộ quá nhỉ?
 
- Ờ, chắc tại vì lá của nó, mình đụng vào cái là khép lại liền, nên người ta cho nó là mắc cỡ, nên người ta đặt tên vậy mà.
 
Cô bé thôi thắc mắc, nhoẻn miệng cười tươi nói:
 
- Vi giỏi ghê đi, cái gì Vi cũng biết hết á!
 
Em đứng lên, cười và rủ:
 
- Lên đồi chơi không Lan? Mình lên đó vào buổi chiều mát như thế này thì thật là tuyệt.
 
Cô bé vui vẻ:
 
- Đi.
 
Buổi chiều trên đồi thật đẹp. Nắng vàng ấp ủ thảm cỏ xanh mượt. Vài lùm hoa dại khoe hương sắc chào đón những chú bướm đa tình. vài cụm mây trông như bông gòn bay nhanh nhanh. Vài chú chuồn chuồn bay rà rà theo những cành cây thấp thấp xinh xinh.
 
Dạ Lan rón rén bước đến định túm đuôi chú chuồn chuồn bé nhỏ nhưng... chú đã bay mất. Cô bé tiu nghỉu trở về ngồi bên gốc cây nơi em vẫn ngồi. Cô bé khẽ nói:
 
- Tại sao chuồn chuồn nó lại khôn thế nhỉ? Mình khó mà bắt được nó.
 
- Ờ, người ta nói là chuồn chuồn có mắt sau đuôi mà. À, mà có bao giờ Dạ Lan nghe nói "chuồn chuồn cắn rốn ba lần biết bơi" không? 
 
Dạ Lan tròn mắt:
 
- Thật hả Hàn Vi?
 
Em cười ròn:
 
- Dạ Lan ngây thơ quá đi, người ta nói đùa, nói xạo con nít đó chứ!
 
Dạ Lan đỏ mặt, khẽ cúi xuống mân mê ngọn cỏ.
 
Em đề nghị:
 
- Thôi bây giờ tụi mình đi hái hoa dại về làm quà cho bé Ti của Vi nhé Lan!
 
Dạ Lan vui vẻ gật đầu. Hai đứa lại tung tăng đi tìm hoa. Một lúc sau, giỏ hoa đã gần đầy, mặt trời cũng sắp lặn, hai đứa đi về.
 
Cùng sánh vai nhau đi về nhà, em chợt nghĩ tới lúc định làm quen với Lan, em cười nói:
 
- Dạ Lan, sao Vi thấy Dạ Lan dễ thương ghê đi, cứ muốn làm quen hoài mà không dám.
 
Dạ Lan khẽ cười, ánh nắng chói chang làm khuôn mặt ửng hồng...
 
 
THIÊN NGA       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 92, ra ngày 3-6-1973)
 

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2026

Từ Giã


 
 
 
 
 
 
 
  
 
Qua mái tóc đen dài
Nụ cười ai mới nở
Cắn bút đùa môi non
Nhìn hạ về rạng rỡ
 
Em nghe thầy giảng bài
Bỗng thương mầu phấn trắng
Tiếng ve sầu râm ran
Ngoài kia thơm mùi nắng
 
Và phượng gọi mây về
Trời đã xanh óng ả
Có giọt nước nào rơi
Cổng trường chừng xa lạ!
 
                   TÔN NỮ QUỲNH TRÂM
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 200, ra ngày 1-5-1973) 
 

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2026

Bóng Quê


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thích quá hè yêu lại đến rồi
Cổng trường khép lại báo tin vui
Ghế đá sân trường đầy phượng đỏ
Hoa bằng lăng tím ngập tường vôi

Lưu bút trao nhau biết viết gì
Ép vào cánh phượng phút chia ly
Thêm vài câu chúc khi từ giã
Bảng vàng ta hẹn gặp mùa thi

Chẳng còn đâu nữa lúc ra chơi
Áo trắng trinh nguyên trắng một trời
Bao trò nghịch ngợm thày khiển trách 
Nhất quỷ nhì ma cả lớp cười

- Nghỉ hè bạn có tính đi đâu
Lên Phan Rang, xuống  tận Cà Mau
Hay đi cắm trại trên miền núi
Bình Định dừa xanh, biển Vũng Tàu

- Mình muốn về quê cũ cách xa
Cách mấy sông sâu, mấy chuyến đò
Nhưng tình quê chẳng hề phai nhạt 
Chiều xuống lòng đau, mắt lệ mờ

Đón chuyến đò ngang in bóng sương
Rộn rã vui quên cả đường trường
Đây khóm dừa xanh, cầu tre nhỏ
Là bóng quê nghèo bao mến thương...

                                                   Thơ Thơ 
                                       (Bút nhóm Hoa Nắng) 
 

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2026

Con Gián


- Đừng tưởng con gián không nguy hiểm nhé! Hãy coi chừng kẻo có ngày bạn mắc bệnh "tràng nhạc" (lao hạch) đấy.
 
- Gián chỉ giúp loài người hai điểm hữu ích rất đáng kể là diệt trừ các chú rệp và báo hiệu thời tiết mà thôi.
 
Cùng thuộc loại trực định (Orthoptera) gồm dế, cào cào, châu chấu, bọ ngựa v.v... Gián chẳng phải là con vật xa lạ gì, vì tại bất cứ nhà nào người ta cũng thấy bóng dáng chúng, ít nhất chừng năm bẩy con trở lên, nhưng sự hiện diện ấy không có nghĩa là loài này được tự do sinh sống đâu. Mấy ai chịu chứa chấp "quân phá hoại" bao giờ, nên hễ bất cứ chú gián nào léng phéng ló mặt ra ngoài là bị giết liền, vậy mà chỉ vài ngày sau, một số đồng bọn ngang nhiên ngao du đó đây, hoặc bay vù vù đuổi nhau trửng giỡn chán, rồi đậu xuống đầu xuống cổ chúng ta bò loạn xạ mới giận chứ.
 
Thân hình nhỏ nhắn, dèn dẹt, gián có thể chui rúc và sống ở khắp mọi nơi, từ hố rác, cống rãnh, nhà cầu, đống củi, đáy chum ngoài sân cho tới những địa điểm kín đáo, chật hẹp trong nhà như hốc tường, khe tủ, giá sách, giầy dép, gậm giường, lưng trạn, dưới thạp gạo, bên cạnh chai lọ đựng mắm muối xếp lỉnh kỉnh khuất trong góc bếp, nhất là chỗ nào tôi tối, ẩm ướt ít người đụng tới. Chính những địa điểm yên tĩnh, hiểm hóc đó, "họ hàng con cháu" nhà gián ẩn núp thật an toàn rồi sinh sôi nẩy nở đông đảo.
 
Với bản tính chuyên hoạt động về đêm, tuy rằng đôi khi ban ngày cũng xuất hiện vì bị động ổ, gián chờ lúc thuận tiện, từ nhá nhem tối trở đi mới "túa" ra ngoài đi kiếm ăn và kiếm ăn suốt đêm, mãi gần sáng mới chịu "trở về nhà" nghỉ ngơi tĩnh dưỡng.
 
Dựa vào "tranh tối tranh sáng" chúng dễ dàng "xâm nhập gia cư bất hợp pháp" để hoành hành y hệt "phường đạo tặc" lợi dụng bóng đêm vơ vét của cải nhà nào "hân hạnh được chúng chiếu cố".
 
Vốn tạp ăn, gián gậm nhấp và sực bất cứ thứ gì "hợp gu" dù đó là chăn, màn, quần áo, giầy dép, bít tất (vớ), sách vở v.v... nhất là các thức ăn để trong trạn - mà vì sơ ý không đậy kỷ, chúng lẻn vào hồi nào không ai thấy - hay vương vãi quanh bếp hoặc vò nước gạo (lon cơm heo), nhiều khi chúng ăn cả phân cùng giấy đi cầu hết sức dơ bẩn. Quả thực gián là con vật ghê tởm và bị liệt vào hàng nguy hiểm chuyên gieo rắc đủ mọi thứ bệnh như ruồi. Nếu chẳng may một chú gián nào đó chết trong bát canh, rồi vì hà tiện tiếc của giữ lại, hay vô tình không biết cứ đem dùng thế là có ngày bạn sẽ bị bệnh "tràng nhạc" (lao hạch) đấy. May mắn thay những thức ăn gián đã nếm thử đều để lại mùi hôi hôi khó chịu cho chúng tiết ra trong lúc "ăn vụng ăn trộm", nhờ vậy, người ta biết trước mà đề phòng.
 
Theo các khoa học gia, gián thuộc loại côn trùng xuất hiện từ lâu trên trái đất. Căn cứ vào địa khai tìm thấy thì chúng đã sống cách đây hàng chục triệu năm trước cả loài chim cùng các thú vật khác, nhưng vóc dáng đồ sộ chứ đâu lại nhỏ bé như ngày nay. Người ta tính ra có tới hàng ngàn loại gián. Loại năng gặp nhất là thứ thường thấy trong nhà.
 
Thân dẹt khum khum hình lòng máng dài cỡ bốn phân lại chạy rất nhanh nhờ sáu chân khỏe mạnh đầy gai sắc và lông nhỏ (chính những lớp gai và lông này dính theo đủ thứ vi trùng khủng khiếp), màu sắc gián thay đổi tùy giống.
 
Gián đực to con, màu nâu đỏ, râu dài, trên đầu điểm thêm khoanh vàng, kế tiếp là hai cặp cánh mỏng, thẳng, óng ánh xếp chồng lên nhau, mà phần chót nầy kèm theo hai sợi đuôi ngắn tỏe sang hai bên. Mới trông, gián đực từa tựa như dế nên nhiều bạn cứ tưởng bở, tranh nhau chộp cho kỳ được, đến lúc coi lại té ra không phải. Rõ chán!
 
Gián cái nhỏ nhắn hơn, râu ngắn, không cánh hoặc nếu có thì cũng chỉ để trang điểm cho "đẹp gái" bởi lẽ cánh bé tí xíu làm sao bay được? Thường thường máu sắc gián cái hoặc nâu đỏ, hoặc nâu đen hay nâu xám với những đốm trắng rực rỡ, riêng phần cuối thân lại nhọn và hai đuôi ngắn cũn cỡn.
 
Gián thích sống từng bầy đông chừng mươi mười lăm con ở những địa điểm thích hợp, còn không thì cũng sáu bẩy con chứ ít chịu lẻ loi. Sau khi đẻ ra một bọc dài một phân, hình trụ hơi dẹt gồm từ mười sáu tới ngót sáu chục trứng nhỏ, gián cái bỏ mặc để "anh chàng" chăm nom. Gián đực lập tức tha đi nơi nào ưng ý mới "dán" bọc trứng đó vào tường hay góc nhà, giẻ rách, khe tủ v.v... bằng cách tiết ra một lớp chất nhờn bao phủ lên trên. Ít lâu sau trứng trở thành gián con. Chúng chọc thủng lớp màng đoạn bò ra ngoài và tự đi kiếm ăn lấy. Trước khi trưởng thành để chính thứ là "người lớn" đầy đủ phong độ hơn, gián con phải lột xác. Trong lúc lột, toàn thân chúng trắng toát rồi mới mang màu khác tùy giống.
 
Tuy cũng có mắt bé tí tẹo, hình hạt đậu, đen lánh, nhưng không thể nhìn thấy gì trong đêm tối, gián ta phải sử dụng cặp râu, được coi như "ăng ten" thu hút mùi vị thức ăn và nhận xét địa thế cùng mọi bất trắc phía trước mặt. Muốn tới hướng nào, gián ta thò hai sợi râu ra ngoáy ngoáy tứ phía để dò dẫm đã, nếu không có chi trở ngại anh chàng mới yên tâm tiến đến, nhược bằng nguy hiểm là lập tức thụt lùi hay chạy trốn lung tung. Vì tính hốt hoảng hay sợ cuống cuồng như vậy, gián dễ bị nhện, thạch sùng, gà, vịt "đớp" ngon lành, hoặc rơi xuống nắm ngửa là chịu chết không làm sao bật trở dậy được nửa để rồi trở thành mồi ngon cho loài kiến. Hơn nữa, khi vướng víu rớt vào chậu nước, cánh bị dính là gián hết đường thoát thân, vì thế loài này "kỵ" nước lắm. 
 
Gián chỉ có hai điểm ích lợi duy nhất đáng kể là chuyên mò mẫm tìm bắt các chú rệp dưới khe hay gậm giường, và mỗi khi chúng bò ra đầy nghẹt là điềm báo hiệu thời tiết sắp thay đổi: có thể mưa to gió lớn hay nắng gắt đến  nơi.
 
Để diệt trừ gián, cách tốt nhất là dùng thuốc nước phun vào các địa điểm khả nghi, hoặc rắc bột D.D.T trên  mọi vật dụng ít sử dụng tới. Riêng mùng, màn, quần, áo, sách vở nên để trong tủ đặt nhiều băng phiến (long não), còn thức ăn cất kỹ trong trạn và đậy cẩn thận. Nhà nên lắp cửa lưới vừa ngăn ruồi, muỗi vừa trừ luôn cả gián nữa.
 
 
ĐẶNG HOÀNG     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 88, ra ngày 6-5-1973)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>