Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

Hoa Dạ Hương


Dạ hương ngày nay đã tràn ngập thị trường hoa tươi ở Á châu cũng như ở Âu châu. Loài hoa này có tên khoa học là Liliasées thuộc dòng giống hoa huệ. Nguyên gốc nó ở vùng Viễn đông nhưng vì tính chất dễ trồng, thích hợp với mọi khí hậu nên ngày nay khắp thế giới xứ nào cũng có sự hiện diện của nó.
 
Hoa dạ hương nhỏ bé, xinh xắn, mầu sắc tươi mát, hương thơm bát ngát, nở vào đúng dịp đầu xuân nên được mọi người ưa chuộng không kém gì các loại hoa khác. Dạ hương có khoảng 2.000 giống khác nhau tùy theo mầu sắc và hình dáng của hoa nhưng tựu trung thì cách cấu tạo và đời sống của chúng giống nhau. Người ta cũng tìm cách gọt tỉa củ dạ hương để cho hoa nở vào thời kỳ nhất định nhưng đòi hỏi một kỹ thuật khéo léo, giống như các cụ nhà ta tỉa giò thủy tiên trong dịp Tết.
 
Dạ hương thuộc dòng giống huệ có lẽ vì hình dáng của nó. Một cây dạ hương bao giờ cũng có 2 phần: Phần nổi trên mặt đất là lá, bông. Phần chìm dưới mặt đất là củ và rễ.
 
Lá mọc thành từng túm, xuất phát từ củ mọc thẳng lên ; mầu xanh, dẹp, đầu lá hơi nhọn và dầy như lá huệ vào cuối đông, ở giữa những tàu lá này mọc len một cái ngồng thẳng đứng để rồi vào đúng tiết xuân nở ra một chùm hoa mầu sắc rực rỡ hay trắng nõn nà như bông tuyết.
 
Phần chìm dưới đất mà ta gọi là "củ" thực ra chỉ là những bẹ hay là phần dưới của cuống lá bao bọc chung quanh một cái lõi hình nón. Cái lõi này chính là "thân cây dạ hương" và cũng từ thân cây hình này mà hễ đến mùa lại phát sinh ra ngồng hoa.
 
Rễ dạ hương thuộc loại rễ chùm mọc thẳng không có rễ phụ.
 
Về mùa hè, Dạ hương tàn lụi, phần trên mặt đất khô héo, nhưng phần chìm dưới mặt đất vẫn sinh hoạt. Những bẹ lá bao bọc thân rút nhựa để nuôi cây. Chính lúc này, mầm hoa phát khởi để thay thế cho lớp hoa vừa nở trong mùa xuân qua. Sang thu, Dạ hương như bắt đầu sống. Những mầm lá tươi xanh bắt đầu lú lên khỏi mặt đất và cành hoa cũng lú dần lên cao để chờ tiết xuân ấm áp về là hoa bung nở!
 
Hoa Dạ hương có nhiều loại mầu: Hồng, Xanh, Trắng và Vàng nở thành chùm, mỗi cây chỉ có một cành bông duy nhất. Hoa có 6 cánh xòe ra trên một đài hoa giống hình cái ly. Nhụy đực và cái nằm trong đài hoa không ló ra ngoài. Đài hoa chia làm 3 phần đều nhau, cũng vì thế khi kết quả, trái Dạ hương trở thành 3 múi riêng biệt, lúc chín tự tách ra 3 phần bên trong có nhiều hột dính thành từng hàng đều nhau.
 
Mặc dầu dạ hương có hột, nhưng những nhà trồng tỉa không khai thác dạ hương bằng hột, chỉ dùng củ mà thôi vì củ dễ trồng, sống mạnh.
 
Muốn có một chậu Dạ hương nở vào ngày đầu xuân như ý, người ta chọn một củ Dạ hương tốt, cắt tỉa vỏ và rễ, để củ này trên một miệng bình trong có đựng đầy nước. Khi rễ tiếp xúc với mặt nước, chùm hoa từ từ lú lên và nở rất lẹ. Nhưng "củ" Dạ hương chóng héo và hoa cũng mau tàn không bền như cây trồng ngoài vườn vì không đủ chất nuôi cây.
 
 
HUY YÊN          
(theo Sciences naturelles) 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 122, ra ngày 1-3-1974) 
 

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

Trương Minh Giảng


Trương Minh Giảng, người làng Vân Trình huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên (Trung phần) làm quan triều Nguyễn với tước Bình thành bá dưới đời Minh Mạng (1820-1840). Ông có công lớn trong việc bảo hộ Chân Lạp (1) và đại thắng quân Xiêm (2) nhiều trận oanh liệt.
 
Năm 1811 thời Gia Long (1802-1819), nước Xiêm mất quyền bảo hộ Chân Lạp, vì thế người Xiêm vẫn nuôi mộng trở lại thống trị quốc gia này, tuy nhiên họ lại e sợ thế lực nước ta quá hùng mạnh nên chưa dám làm gì. Cuối năm Quý Tỵ (1833) nhân vụ Lê Văn Khôi chống triều đình thất bại đành phải bỏ đất Gia Định chạy trốn rồi cho người sang cầu cứu. Gặp dịp may, vua Xiêm bèn đưa năm đạo quân thủy bộ sang đánh Việt Nam. Đạo thứ nhất toàn thủy quân với một trăm chiếc thuyền nhắm Hà Tiên ; đạo thứ nhì đánh Nam Vang trước sau đó sẽ tràn xuống Châu Đốc, An Giang ; đạo thứ ba tấn công Cam Lộ ; đạo thứ tư tới Cam Cát, Cam Môn ; đạo thứ năm phá Trấn Ninh.
 
Được tin cấp báo, vua Minh Mạng xuống chiếu sai quân phòng ngự khắp nơi. Để chống các đạo quân địch, nhà vua sai Nguyễn văn Xuân lo mặt Trấn Ninh, Phạm văn Điển giữ Nghệ An, Lê văn Thụy đảm trách Cam Lộ, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân xuống vùng An Giang, Châu Đốc. 
 
Tiếp được lệnh vua, Thảo nghịch hữu tướng quân Phạm văn Thụy đóng tại Gia Định cắt cử Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân tuần tiễu An Giang và Châu Đốc.
 
Chỉ trong vòng một tháng, sau ngày đại phá quân Xiêm trên sông Cổ Cẳng (An Giang), Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lấy lại Châu Đốc cùng Hà Tiên dễ dàng. Thừa thắng, quân ta đánh thốc lên tận Nam Vang, đồng thời đưa Nặc Ông Chân về nước. Trương Minh Giảng, tham tán Lê Đại Cương ở lại lập đồn lũy gần Nam Vang để bảo hộ. Cuối năm Giáp Ngọ (1834), Nặc Ông Chân mất nhưng không có con trai, Trương Minh Giảng xin lập con gái Nặc Ông Chân là Angmey (Ngọc Vân) lên làm quận chúa rồi đổi tên Chân Lạp là Trấn Tây Thành gồm ba mươi hai phủ và hai huyện dưới quyền một tướng quân, một tham tán đại thần, một đề đốc, một hiệp tán và bốn vị chánh phó lãnh binh người Việt trông coi. Riêng những yếu điểm thì đặt tuyên phủ hoặc an phủ để phòng ngự. Năm 1840 vua Minh Mạng sai Lê văn Đức, Doãn Uẩn là các vị chánh phó khâm sai đại thần sang tiếp xúc với Trương Minh Giảng rồi đi kinh lý mọi việc ở Trấn tây thành như khám xét việc buôn bán, đo ruộng đất, định thuế đinh, thuế thuyền bè.
 
Một thời gian sau, người em Nặc Ông Chân là Nặc Ông Đôn, được quân Xiêm giúp đỡ, nổi lên cướp phá khắp nơi, quan quân đánh dẹp mãi không xong. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) Tạ Quang Cự xin bỏ Chân Lạp để rút về giữ An Giang, vua Thiệu Trị chấp thuận. Trương Minh Giảng phải lui binh.
 
Buồn bực vì không giữ yên được Trấn Tây Thành, cuối năm 1841, Trương Minh Giảng về tới An Giang thì mắc bệnh rồi mất.
 
 
ĐẶNG HOÀNG (Sao lục)    
 ______________
(1) Tức Cao Mên hay Khmer ngày nay.
(2)Tức Thái Lan. 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 82, ra ngày 25-3-1973)
 

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Trưa Lục Bình


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nắng chói chang về khô lá non
Nắng trưa gay gắt nẻ môi hồng
Nắng se ủ rũ giàn thiên lý
Vạt nắng hanh hao cháy ruộng đồng 

Lũ gà con chíp chíp bình yên
Giậu mướp vàng hoa rợp trước thềm
Cầu ao bầy vịt bầu núp nắng
Khóm dừa xõa tóc trong gió hiền

Thuở ấy nô đùa dưới tán xanh
Đồng quê thơ ấu nắng thơm lành
Vườn vắng vẻ gió lùa xao xác
Chim chóc im lìm bên mái tranh

Bồng bềnh những khóm lục bình trôi
Hoa tím đơn sơ quyến luyến hoài
Cả bầy trẻ nhỏ ra sông tắm
Đập nước văng tung tóe ré cười 

Dõi mắt nhìn trông chốn xa mờ
Tháng ngày xanh thắm những mộng mơ 
Lục bình tim tím đầy thương mến
Có người dệt mãi một vần thơ 

Ai đi tìm lại chuỗi ngày xanh
Rợp nắng vàng tươi trưa lục bình 
Có bầy em nhỏ bên sông vắng
Yêu mãi màu hoa tuổi mộng lành

                                Trần Thị Phương Lan 
                                (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

Cô Ba Lợn


"Tôi sanh ra đời dưới một ngôi sao xấu". Thật vậy các bạn ạ! Sao số mạng của tôi có cái tên là "Trư Bát Giới". Hay nói rõ hơn là tôi tuổi Heo.
 
Chính vì con giáp thứ mười hai này mà ông anh cả của tôi có một sáng kiến là đặt cho tôi một cái tên thật kêu. Do đó cái mỹ danh "Cô Ba Lợn" ra đời. Từ đó cái tiên "Nguyễn thị Ngọc Lan" thanh tao dần dần tan biến trong quá khứ để nhường chỗ cho "Cô Ba Lợn" bước lên đài danh vọng và được phổ biến rộng rãi trong quần chúng con nít trong nhà.
 
Đã nhiều lần tôi đưa đơn kiện việc xúc phạm "danh dự cá nhân" này, nhưng chỉ thoát được giờ xử án mà thôi. Lúc ra ngoài anh ấy nheo mắt nói với bọn "đồng lõa":
 
- Tụi bây xem mặt đắc thắng của cô Ba Lợn kìa! Lỗ mũi phổng lên còn hơn lợn thiệt nữa. Hè... hè...
 
Thế là cả bọn lăn ra cười chết thôi. Tôi ức lắm nhưng đành bấm bụng làm ngơ bỏ đi một nước vì phiên tòa đã bế mạc nên đành chịu nhục. Và rồi điệp khúc "Cô Ba Lợn" vẫn được nhắc đi nhắc lại hằng ngày.
 
Cũng vì cái tên này mà tôi gặp nhiều chuyện lỡ khóc lỡ cười như sau:
 
Số là một hôm tôi cho cô bạn mới quen địa chỉ để mời cô ấy đến nhà chơi. Nhưng hôm đó mẹ tôi lại sai đi có việc. Gặp ông anh tôi đứng xớ rớ ngoài sân chị ấy liền hỏi:
 
- Dạ thưa anh có phải đây là nhà của chị Ngọc Lan không?
 
Ông anh tôi đáp tỉnh bơ:
 
- Đây chỉ có "Cô Ba Lợn" chứ chẳng có Ngọc Lan nào cả.
 
Thế là chị ấy lí nhí xin lỗi về tội lộn nhà rồi bỏ đi một nước. Hôm sau vào trường tôi lân la đến nói chuyện thì chị ấy "tụng" cho một hồi bảo là nói láo, nói dối đủ chuyện rồi cho tôi "de" luôn để đi kiếm bồ mới thành thật hơn.
 
Tôi ức lắm về kể lại cho má tôi nghe thì anh tôi kể chuyện hôm qua ra khiến cả nhà cười bò lăn, còn tôi thì sững sờ chẳng biết nói sao hơn đành vuốt giận bỏ đi sau khi lườm anh ấy một cái thật dài. Vì cái tên quái gở này mà tôi mất bạn. Thật là đau khổ!
 
Vậy mà anh ấy có tha cho tôi đâu. Một hôm không hiểu vì giác quan nào mà anh ta bắt gặp tác phẩm đầu tay của tôi giấu ở tận đáy tủ. Thế là anh ta mang ra gôm mất bút hiệu "Mỹ Lan" đẹp đẽ đi mà đề vào chữ "Cô Ba Lợn". Tôi vẫn vô tình gởi đi và than ôi! Ngày mà tôi mừng rỡ cầm trên tay tờ tuần báo có đăng bài của mình lại là ngày tôi khám phá ra rằng tác phẩm của mình chẳng còn gì là bí mật nữa. Vì tôi đã thấy ba chữ "Cô Ba Lợn" nằm tận cùng bài. Tôi đem tờ báo vào khóc bắt đền ba mẹ. Anh ấy bị ba tôi "bố" một trận, tỏ vẻ hối hận ghê lắm, khiến tôi mát dạ vô cùng. Dầu sao bài của mình cũng được đăng không vào sọt rác là may lắm rồi.
 
Đến bây giờ thì anh ấy bớt chọc tôi vì hiện nay tôi là "con nhạn đưa thư" hay còn gọi là "nhịp cầu thông cảm" giữa anh ấy và chị hàng xóm. Nếu để cho "Tạc giăng nổi giận" thì còn lâu mới có thư. Nhưng mỗi khi hồi tưởng lại, tôi vẫn bật cười một mình và cho rằng đó là những kỷ niệm khó quên trong thời thơ ấu của tôi.
 
 
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 31, ra ngày 26-3-1972)
 

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2026

Các Loại Sinh Tố (Vitamin)


SINH TỐ A (C20H30O)
 
Sinh tố này rất cần thiết cho cơ thể con người. Thiếu sinh tố A trẻ con không lớn được. Người bị chứng quáng gà, ung nhọt, các mô khô đi, hay bị mù cũng là vì thiếu sinh tố A.
 
Các thức ăn có sinh tố A là dầu của các loại hạt thảo mộc, các loại bơ thảo mộc trong hoa quả như cà rốt, cà chua, ớt đỏ, rau dền và trong các loại mỡ động vật, gan cá thu, dầu cá thu, cá mòi v.v...
 
Sinh tố A này bị hủy diệt ở nhiệt độ cao cho nên các loại đồ hộp không có sinh tố này.
 
 
SINH TỐ B1 (C12H17N4OS) 
 
Sinh tố này rất cần thiết cho cơ thể con người. Thiếu sinh tố B1 sẽ mắc phải chứng bệnh phù thũng.
 
Các thức ăn có sinh tố B1 là gạo lứt nhưng chất cám của bột gạo lứt vẫn có nhiều sinh tố B1 hơn. 
 
 
SINH TỐ B2 (C17H20O6H4) 
 
Sinh tố này cần cho sự dinh dưỡng và hô hấp của các mô. Thiếu sinh tố B2 mọi sự tăng trưởng ngừng, nhiệt độ cơ thể giảm, cơ thể ốm yếu và dễ sinh bệnh.
 
Các thức ăn có sinh tố B2 : lòng đỏ trứng, sữa, men bia,  hạt ngũ cốc và các loại thịt sống.
 
Sinh tố B2 này sắc vàng dễ bị hủy hoại dưới ánh sáng.
 
 
SINH TỐ B12 (C63H16O14H14PCO) 
 
Sinh tố này giúp cho da dẻ hồng hào. Sinh tố B12 có trong huyết, gan tươi, các thứ nấm thực vật. Được kết tinh màu đỏ.
 
 
SINH TỐ C (C6H8O6) 
 
Sinh tố này dùng để trị các bệnh như : chứng da bầm, hôi miệng, răng chảy máu, răng chảy mủ và chứng đau khớp xương.
 
Nhưng nếu ăn nhiều đồ chua sẽ sinh ra chứng : đầu hóa gầu, tóc rụng, nhức đầu, xót ruột, ợ chua v.v...
 
Các thức ăn có sinh tố C như cam, chanh, bưởi, cà chua, thơm, chuối... động vật như : gan, thận.
 
Sinh tố này dễ bị hủy hoại khi hấp chín, nướng. Tất cả đồ hộp đều không giữ được sinh tố C trừ nước ép nguyên chất.
 
 
SINH TỐ D (C28H44O)
 
Sinh tố này có nhiệm vụ giữ muối Calci lại trong xương để xương tăng trưởng. Thiếu sinh tố D trẻ con sẽ sinh ra bệnh ốm còi.
 
Các thức ăn có sinh tố D : sữa, bơ, lòng đỏ trứng, dầu cá thu, cá mòi, lươn... Ngoài ra dưới ánh nắng ban mai (nhất là ở biển) có tia tử ngoại tác dụng dưới da biến thành sinh tố D.
 
 
SINH TỐ E
 
Có thể nói sinh tố E là sinh tố ân nhân cho con người. Thiếu sinh tố E đàn bà sẽ dễ bị sẩy thai.
 
Sinh tố E có trong sà lách son, mầm lúa mì, đậu phộng, thịt sống...
 
 
SINH TỐ K
 
Sinh tố này ít cần thiết, nó chỉ có nhiệm vụ làm đông máu.
 
Sinh tố K có trong các loại cá, bắp cải, đậu nành.
 
 
SINH TỐ PP
 
Thiếu sinh tố này sẽ sanh bệnh : lở loét, nổi mụn đỏ trên da, bộ máy tiêu hóa rối loạn, hệ thần kinh bị ảnh hưởng xấu, ngứa da.
 
Sinh tố PP có trong men bia, rau sống, bắp cải, vỏ đậu xanh, sữa và rất ít trong thịt bò.
 
 
KIM YẾN       
(Sưu-Tầm)       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 81, ra ngày 18-3-1973)
 

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

Những Cánh Diều


Chiều qua, tình cờ tôi nhìn thấy một cánh diều đơn sơ, thảnh thơi lặng lờ bay lượn trong trời chiều thành phố. Lòng chợt bồi hồi lẫn bâng khuâng, tôi đâm ra nhớ đến những tháng ngày tuổi nhỏ. Tại sao vào thời buổi này mà vẫn còn có đứa trẻ nào đó, lạc lõng đến nỗi lại chơi diều, mà lại là một cánh diều đơn giản nhất, sơ sài nhất như thuở tôi còn là một đứa bé? Hay giòng thời gian đã ngừng trôi?

Tôi thường hay tưởng tượng mình còn là một đứa trẻ, được ngả mình trên bãi cỏ mùa hè, đầu tựa lên cánh tay và ngước nhìn lên bầu trời xanh trong vắt buổi chiều, lòng lâng lâng, lặng lẽ ngắm những cánh diều bay tha thướt. Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến một cây viết mà tôi ưa chuộng nhất trong báo Tuổi Hoa, đó là Du Tử, có một đoản văn mang tên Diều No Gió. Cho đến giờ này, tôi vẫn không biết Du Tử là ai, và là nam hay nữ. Dù viết không nhiều, nhưng những lời văn của cây viết ấy điêu luyện và trác tuyệt đến nỗi tôi đã lấy làm khuôn mẫu, hay nôm na gọi là bắt chước, vào văn của mình.

Những cánh diều ấy ở nơi nào cũng đẹp dù nơi thôn quê hay trong thành phố. Khi còn nhỏ, tôi cũng thích chơi diều lắm, nhưng chẳng bao giờ biết cách làm, nên chiều chiều, tôi và các anh tôi thường hay ngồi ở sân sau nhà và cùng lặng lẽ ngắm những cánh diều ấy bay chơi vơi. Thỉnh thoảng chúng tôi còn nghe tiếng chúng nó, những đứa trẻ đang chơi diều ấy, reo cười và chuyện trò với nhau nữa, nghe thật thanh bình. Họa hoằn lắm mới có một con diều bị đứt dây rơi xuống nóc nhà chúng tôi, và tụi tôi đã chẳng chần chờ gì mà không leo vội lên chộp ngay lấy để chơi gỡ được chút nào hay chút nấy.

Lâu rồi tôi không được ngắm những cánh diều ấy, và cũng lâu rồi tôi cũng chẳng còn dịp nào để được ngồi với các anh tôi như thuở còn thơ, để cùng ngắm những cánh diều, để cùng thả hồn vào cõi mộng mơ...
 

Trần Thị Phương Lan      
(Bút nhóm Hoa Nắng)      
 

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

Chim Vịt


Giống chim vịt làm gì và sinh hoạt ra sao trong mùa đông tăm tối dài hàng bảy tháng tại miền Nam cực? Không ai biết rõ điều này.
 
Sống giữa miền băng giá bao quanh bởi mặt Nam Băng Dương rộng lớn, chúng đã làm thế nào để có thể tìm về tổ cũ một cách rất chính xác sau một cuộc hành trình dài?
 
Mỗi lần di cư lánh thời tiết trở về, một chú chim vịt vẫn nhận ra đâu là tổ xưa, chốn cũ của mình, cho dù những nơi này đã bị tuyết vùi, băng dập hầu như không còn mảy may vết tích, Chú cũng vẫn "tay bắt mặt mừng" nhận ra bà con xa gần mà cách đó mấy tháng, chú đã phải tạm từ giã để thực hiện một cuộc viễn du nơi đất khách quê người.
 
Người ta rất lấy làm sửng sốt và phục giống chim này sát đất khi theo dõi, nghiên cứu một cách có hệ thống những hành vi kỳ lạ của chúng. Một chú chim vịt bị bắt tại Murdo ở Mỹ Châu, được đưa tới Myrny bên Liên Sô cách vị trí cũ tới 4.500 km đường "thẳng cánh cò bay". Sau khi được miễn cưỡng nhập tịch Nga Sô trong vòng một năm, chú chim này được thả ra và lại tìm đường vượt trùng dương trở về nơi "chôn nhau, cắt rún" của mình một cách bình yên vô sự.
 
Đây chỉ là một trong những điều bí ẩn của giống chim vịt đã từng thu hút sự chú ý của nhiều nhà bác học. Tuy là chim, nhưng chúng lại thích sống trên mặt đại dương hơn là bay lượn nhởn nhơ trong không trung. Bởi vậy, đôi cánh của chúng đã biến dạng và trở nên những chiếc bơi chèo vững chắc.
 
Khi đứng trên mặt đất, người chúng chẽn lại trong bộ lông đen có chừa ra một khoảng lớn màu trắng ở phía trước, trông chẳng khác một chiếc áo dòng. Nhìn vào thân hình chúng với loại y phục đặc biệt này, người ta không khỏi liên tưởng tới hình bóng những vị tu sĩ mập mạp với dáng điệu bệ vệ, uy nghi.
 
Nhưng theo những nhà sinh vật học thì người ta chưa hiểu cơ quan điều nhiệt trong thân thể loài chim vịt làm việc ra sao mà có thể chống chọi nổi thứ khí hậu khó chịu bậc nhất thế giới, tại một lục địa mà từ đầu năm tới cuối năm, ngay cả giữa mùa hạ, nhiệt độ luôn luôn ở dưới số không (nhiệt độ trung bình hàng năm là -12° bách phân).
 
Mặc dầu đã có một số điều lạ được phanh phui, nhưng còn nhiều khía cạnh khác trong những sinh hoạt tập thể của loài chim này vẫn là mục tiêu khám phá của các nhà cầm thú học. Chẳng hạn như những cử chỉ hài hước, những dáng điệu có vẻ đê mê, ngây ngất mà người ta thường nhận thấy ở giống chim này.
 
Công cuộc tìm hiểu về loài chim vịt thường gặp phải nhiều trở ngại: giông tố thường xẩy ra trong mùa đông ; những vách đá và băng giá cao ngất nối tiếp nhau chạy dài theo mép lục địa Nam cực như bức trường thành ngăn cản các đoàn thám hiểm, hằng hà sa số những băng sơn hoặc nổi lềnh bềnh trên mặt nước, hoặc ở cái thế lơ lửng con cá vàng một cách rất ư là nguy hiểm, đã làm sờn lòng những thủy thủ có ý định tiến sâu vào miền băng giá lạnh lẽo này. Ấy là chưa nói tới thực hiện một cuộc hành trình tới Nam cực là một việc đòi hỏi rất nhiều tốn kém.
 
Tuy vậy, các nhà vạn vật và sinh vật học trong những năm gần đây đã cố gắng nghiên cứu có phương pháp những khía cạnh của đời sống, cũng như những hành động, cử chỉ của loài chim vịt, mặc dù địa bàn hoạt động của những người này rộng bao la với hàng chục ngàn cây số bờ biển vây xung quanh.
 
Một phái đoàn thám hiểm sẽ phụ trách một nhiệm vụ riêng biệt. Họ nghiên cứu có tổ chức và đều đặn về những yếu tố điều hành thân nhiệt đã giúp cho loài chim vịt chịu đựng thời tiết gắt gao của miền địa cực.
 
Cứ theo sự giải thích của Jean Prévost, một nhà sinh vật học trong phái đoàn thám hiểm địa cực của người Pháp tại lãnh thổ Adélie, quê hương của giống chim vịt, thì công việc xem ra có vẻ giản dị, nhưng lại đòi hỏi một sự làm việc đều đặn và tích cực. Nghĩa là không chỉ hằng tháng, mà còn phải tiếp tục năm này qua năm khác, Mỗi người trong phái đoàn phải làm việc tới 16 giờ mỗi ngày để lập cho mỗi chú chim một "tấm căn cước" giống như chiếc thẻ kiểm tra của bạn và của tôi.
 
Rồi phải theo dõi hành vi của từng "đương sự", ghi chú vào hồ sơ để tại Martin. Tất cả những tin tức liên quan tới mỗi chú chim vịt phải được loan báo và chú thích vào hồ sơ trung ương đặt trong viện Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên ở Ba-lê. Cứ như vậy, 4.000 chú chim đã được lập phiếu lý lịch và được kiểm soát mỗi năm năm lần.
 
Người ta nhận thấy giống chim vịt cũng có tính "Tào Tháo đa nghi", nhưng lại gần chúng là một việc tương đối dễ dàng. Chúng di chuyển chậm chạp: từ 4 tới 6 cây số mỗi giờ, Người ta cũng thấy chúng thường có tính hung hăng... con bọ xít không những giữa giống đực... rựa với nhau, mà còn thường xuyên xẩy ra giữa đời sống vợ chồng và con cái.
 
Theo lời kể của Michel Barré, trưởng đoàn người Pháp tham gia vào Năm Địa lý Quốc tế, thì các chuyên gia đã tìm cách đặt một cái hàn thử biểu vào trong dạ dày của một chú chim để theo dõi nhiệt độ và sự biến chuyển của thức ăn liên quan đến sự điều hòa thân nhiệt ra làm sao. Vì người ta muốn biết ở một nhiệt độ quá thấp, đôi khi là -55°, một con chim vịt đã đối phó như thế nào để giữ cho nhiệt độ trong cơ thể vẫn ở cái mức từ 35° tới 39°?
 
Hễ trả lời được nghi vấn này là các nhà sinh vật học đã có thể giúp con người tìm ra cách chống lại những độ lạnh khủng khiếp của thiên nhiên.
 
Người ta cũng từng thí nghiệm để xem loài chim vịt đã dựa vào những yếu tố nào mà có thể nhận ra đường xưa, lối cũ một cách quá tài tình. Người ta bắt năm con chim vịt đực lớn loại Adélie gần trạm Wilkes và chở bằng đường hàng không đến Murdo cách đó gần 2000 cây số, rồi thả chúng ra.
 
Đến mùa xuân năm sau, ba con đã trở về được tổ cũ mà 10 tháng trước, chúng đã bị lôi ra khỏi đây và mang đi. Còn 2 con kia thì bay đi đâu mất tiêu, chẳng thấy tăm hơi gì cả. Có lẽ chúng đã bị bác Báo Biển xực rồi? Vì theo sự tìm hiểu của nhà vạn vật học Wilson, Báo Biển là một con vật rất khoái thịt chim vịt Adélie. Năm 1602, Wilson đã đếm được trong dạ dày của một con Báo Biển háu ăn này tới 18 con Adélie!
 
Trong một cuộc thí nghiệm khác, 20 con Adélie gốc tịch tại mũi Crozier được đem thả trên miền băng sơn cách bở biển hàng mấy chục cây số. Hai tuần sau, 15 con trong bọn chúng đã trở về được chỗ ở cũ. Còn 5 con kia thì bặt vô âm tín.
 
Những nhà chuyên môn nhận thấy, ngoài những yếu tố phụ thuộc khác, mặt trời đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc dẫn lối đưa đường giúp chim vịt tìm lại được nơi ở xưa.
 
Họ thấy trong những ngày trời quang mây tạnh, một con Adélie không bao giờ bị lạc đường. Nếu trời hơi u ám, con Adélie sẽ tỏ ra do dự. Nhưng nếu mặt trời bị mây đen che kín hết, bấy giờ con Adélie sẽ hoàn toàn rối loạn và sẽ đi ngược chiều với đường dẫn về tổ cũ của nó. Nhưng nó điều chỉnh được ngay và rất chính xác hướng đi khi mặt trời lại hiện ra sáng sủa. Cứ thế, mỗi lần điểm làm chuẩn (tức mặt trời) bị lu mờ là mỗi lần nó bối rối và lạc đường...
 
 
VĂN TRUNG        
(Theo Pierre Arvier)    
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 121, ra ngày 15-2-1974) 
 

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

Cây Hải Quì

Nói về màu sắc rực rỡ và hình thù kỳ lạ thì không cảnh nào trên trái đất có thể bì kịp những cảnh dưới đáy bể.
 
Không phải ở đâu xa, chỉ cách bờ biển độ năm, ba mét, ta cũng có thể nhận thấy những kỳ quan của đại dương hiện diện rải rác dọc theo những nơi có thủy triều lên xuống. Trong một cái vũng nhỏ, sóng ập vào cuốn ra khiến hàng đàn cá con lật mình lấp lánh dưới ánh mặt trời ; những con tôm, con sò có lớp vỏ cứng trông như mảnh sành, mảnh sứ, thường đội đá chui ra nhởn nhơ trong nước, rồi bất thần biến dạng sau các khe hở của lòng đất, những sợi rong rêu mảnh dẻ trong suốt với các màu sắc vàng, xanh đỏ nằm rải đều trên cát như những tấm thảm, hoặc chảy dài trên những tảng hoa cương, tạo thành những thác rêu mỹ lệ.
 
Nhưng kỳ lạ hơn là những vật có hình thù tròn tròn, mềm mại nhưng những cánh hoa lúc xòe ra, lúc cụp vào trông như những lùm cây với những thân dài mảnh khảnh. Tất cả đôi khi đã hiện ra như một cây cầu vồng tuyệt đẹp!
 
Bây giờ chúng ta hãy lại gần, nghiêng mình xem cho rõ hơn. Ta sẽ nhận ra đây không phải là loài hoa thường thấy, mà là những con vật được cấu tạo đơn sơ không nguy hại cho loài người, nhưng lại rất tàn nhẫn đối với những chú cá nhỏ và các loài tôm tép nếu lớ quớ đụng đến chúng.
 
Loại "hoa động vật" này gồm nhiều chi họ. Hôm nay chúng ta chỉ đề cập tới giống "hải quì" và giống "bạch đầu ông" thông thường nhất. Nhưng nếu chúng ta muốn hiểu mạch lạc và phân biệt được từng chi nhánh trong loãi hải quì và bạch đầu ông này, chúng ta phải dùng những danh từ liên quan đến loài hoa.
 
Hải quì là thành phần của giống xoang tràng, thân không có xương nên mềm mại và có thể co dãn với những bộ phận khác nhau loe ra cân xứng.
 
Một cái lỗ độc nhất, ta gọi là cái miệng, có những vòi bám ở xung quanh như những cánh hoa bám vào đài hoa. Miệng này có thể hút nước vào, phun nước ra, có sức nuốt chửng một con mồi và là nơi bài tiết ra những cặn bã, đồng thời ăn thông với dạ dày bằng một cái gọi là cuống họng hay thưc quản. Tại dạ dày có những thớ thịt dựng đứng chia làm nhiều ngăn lởm chởm những gai nhỏ. Thân thường hình ống có khả năng co dãn nên có thể biến thành nhiều hình dạng khác nhau.
 
Đặc biệt là loài Pô-li-pa-ri-om có thể di chuyển, bò, leo như giống sên ; và loài A-đam-xi-a hình tròn, do đặc tính cộng sinh, chuyên sống trên các vỏ cứng của loài ẩn sò.
 
Loài A-đam-xi-a khác hẳn loài Pô-li-pa-ri-om ở điểm loài A-đam-xi-a ở đâu thì ở hẳn một chỗ, không di động.
 
Giống ẩn sò rất thích sống với loài A-đam-xi-a. Mỗi khi thay đổi chỗ ở, ẩn sò lấy những cái móc nhỏ nhẹ nhàng gỡ bạn nó ra, đặt lên chốc cái vỏ mới khác mà nó vừa chọn được. Con A-đam-xi-a cũng vậy, nó sẽ không thể nào sống được nếu vắng bóng con ẩn sò, người bạn cộng sinh của nó. Hai giống vật này thường sống gắn bó với nhau như keo sơn.
 
Thật vậy, nếu người ta lôi con ẩn sò ra khỏi cái vỏ cứng nó đang ở thì con A-đam-xi-a biết ngay là nó đang sống trong tình trạng cô đơn, thiếu người bạn đường nên sẽ buồn rầu gieo mình xuống vực sâu để chết lần chết mòn dưới đó!
 
Phần lớn giống hải quì ưa sống trên đá và trên những vỏ ngao sò để chống lại sức sóng vỗ, đồng thời để chờ đợi những sinh vật nhỏ bé léng phéng đi vào tầm với là nó "úm ba la" chụp liền.
 
Để bắt một con mồi và trong những trường hợp tấn công hay tự vệ, giống hải quì thường sử dụng hàng chục cái vòi được "võ trang" bằng những thứ khí giới thích hợp.
 
 
Như ta đã biết, mình chúng có nhiều ngăn nhỏ. những ngăn này chứa sẵn một số chất độc màu đen. Khi cần, chúng sẽ phun ra cho chất độc bám chặt vào con mồi hay địch thủ để cho đối phương yếu đi.
 
Giống hải quì sinh sản theo 2 lối trực phân và đâm chồi. Trong trường hợp thứ nhất, con vật sẽ tự tách ra làm hai phần, mỗi phần sẽ có khả năng sống riêng biệt ; trong trường hợp thứ hai, một bên của con vật sẽ mọc ra một cái chồi, rồi chờ lúc thích hợp, chồi này sẽ tách ra mà sống riêng rẽ. Lối sinh sàn này tương tự lối sinh sản ta thấy trong thế giới thực vật.
 
Người ta thấy giống hải quì có rất nhiều ở khắp các đại dương, nhất là tại Địa Trung Hải. Tiêu biểu nhất là loại Ác-ti-ni-a có màu đỏ tươi mà dân chài thường gọi là "cà chua biển". Ta có thể nhìn qua cái mình trong suốt của chúng mà biết được các loại rong rêu đã tỉnh bơ bò vào nằm đây trong cái lỗ rỗng ở giữa mình chúng.
 
Những chi họ thuộc giống hải quì và bạch đầu ông nhiều khi sống dưới đáy biển đầy cát nên không thể bám vào đâu được. Nhưng nhờ có cái miệng mở ra, ngậm vô dễ dàng nên chúng có thể phồng to để tự động nổi lên mặt biển giống như những tiềm thủy cầu tí hon.
 

Một vài giống hải quì chuyên sống dưới các đáy biển có độ sâu rất lớn, tiêu biểu nhất cho loại này là con Ác-ti-nốt-ti-ca có một cái mồm khác hẳn với mồm của nhũng con khác. Thay vì có hình tròn thì mồm của con Ác-ti-nốt-ti-ca lại có hình một cái rãnh xẻ con vật ra làm hai phần bằng nhau và làm cho con vật biến thành một nhuyễn thể có hai vỏ cứng che chở hai bên.
 
Các nhà nghiên cứu vạn vật thời xưa đã gọi giống hải quì này là "cây động vật". So với thế giới động vật trên mặt đất, chúng ta thấy thế giới thực vật ở dưới các đại dương có những hình ảnh và biến thái thật lạ lùng và kỳ diệu!
 
 
VĂN TRUNG       
(sưu tầm)          

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 79, ra ngày 4-3-1973)
 

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2026

Em Dấu Yêu Hồn Mềm Như Lá Cỏ...



Em với chút hương nồng nhen buổi sáng
Ngàn mây bay xanh đỏ tím chen vàng
Em có bận tâm tư đời nứt rạn
Gió đu đưa xóa mất vết thương tràn...
                                                   THƠ LA TY
 
 
Thứ sáu...
 
Buổi sáng nay em chẳng nhét vô đầu được thứ nào. Sao hôm nay em nản ghê. Tiếng dì giám học vẫn đều đều những định đề, công thức toán thoáng qua rồi biến mất trong óc em. Em lơ đãnh nhìn ra cửa sổ. vài con chim vành khuyên nhảy nhót bên cành mai. Những chiếc lá non màu nâu nhạt, bóng loáng dưới ánh mặt trời. Những cánh hoa vàng nổi bật trên cây mai được tước sạch lá già. Xa xa, hoa "bông giấy" nở đỏ trên giàn. Nhỏ Thu yêu hoa "bông giấy" như em yêu hoa hồng. Hoa "bông giấy", một loài hoa đơn sơ, không hương, không sắc và cành đầy gai nhọn. Tay nhỏ Thu đã rướm máu vì muốn hái một cành hoa dâng cho thánh Thérèse. Tiếng dì giám học làm em giật bắn người: "Hoài Hương đừng lo ra" Em bẽn lẽn cúi gầm mặt xuống bàn. May thay, tiếng chuông ra chơi vang lên lanh lảnh. Nhỏ Thu nhìn em mỉm cười...
 
 
Buổi chiều...
 
Em ngồi soạn bài Anh văn cho sáng mai, nhỏ Thu thì nằm xem truyện. Hình như là truyện "Chim hót trong lồng" của nhà văn Nhật Tiến. Truyện này em xem rồi. Nhỏ Thu quăng cuốn truyện vào góc giường.
 
- Sao không xem nữa? Hết chưa?
 
Nhỏ Thu nhìn lên trần nhà đầy những hình thù kỳ lạ do nước mưa tạo nên.
 
- Tao không xem nữa, để tối xem tiếp. Truyện này cảm động ghê mày nhỉ?
 
Em vừa cười, vừa nói:
 
- Có cảm động bằng truyện của tao không?
 
Nhỏ Thu ngồi chồm dậy:
 
- Hình như... mà thôi. Mẹ của Hương mất mấy năm rồi?
 
Em bỏ viết xuống:
 
- Thấm thoát đã ba năm rồi. Ba năm vắng tình thương mẹ.
 
Mắt em hướng ra cửa sổ. Nơi xa xăm có đám mây trắng trôi nhẹ, thật nhẹ.
 
- Hồi mẹ tao chết, tao buồn lắm, nhưng lâu rồi tao cũng quen. Nhiều đêm tao khóc ướt cả gối - Nước mắt em chảy thật nhanh trên má. Em gượng gạo nói: nhưng mà buồn gì. Tao còn bố tao, còn anh Trình, còn chị Hài nữa chi.
 
Nhỏ Thu đến bên em:
 
- Thôi đừng buồn nữa, Hoài Hương. Tao xin lỗi mày vì... tao...
 
Em cười nhẹ, cắt ngang:
 
- Nhất là tao còn một người mẹ thứ hai. Luôn luôn gần tao, che chở cho tao. Thánh Thérèse. Và còn mày nữa cơ mà...
 
 
Thứ bảy...
 
Buổi trưa tại ngôi trường này thật vắng vẻ. Em vừa dâng hoa ở nhà nguyện về. Em đi lang thang dưới sân không lên phòng. Cái không khí buổi trưa ở Đà Lạt không oi nồng như ở Saigon. Chỉ có hơi nóng hơn buổi sáng đủ cho đôi má em hồng lên một tý. Gặp dì Thiện Tâm, em nhờ dì kèm thêm cho em môn sinh ngữ. Kỳ đệ nhất này, em kém môn Anh văn nhất trong tất cả các môn. Dì cười, hứa sẽ kèm sau khi "bắt" em lên phòng.
 
Nhỏ Thu ngủ ngon lành. Trông nhỏ y như nàng công chúa ngủ trong rừng. Nhỏ hiền ngoan như một con mèo thích làm nũng, nhất là làm nũng với mẹ. Thu còn mẹ, còn được mẹ chăm sóc thương yêu. Còn em, em chỉ có một mình, cô độc và buồn tẻ. Đôi khi em cảm thấy ghen ghét nhỏ. Hình như em ganh tị "tình thương" với nhỏ Thu. Em cười nhẹ: "Sao mình lại ích kỷ thế nhỉ? Một tính xấu phải chừa bỏ ngay". Em đến bên bàn học. Ngồi yên lặng. Buồn quá! Chẳng có "cái gì" cho qua cái buổi trưa buồn tẻ này.
 
 
Buổi tối...
 
Đồng hồ thong thả gõ mười một tiếng. Em bỏ tờ báo Tuổi Hoa, ra bàn học ngồi. Sao hôm nay em khó ngủ ghê. Em đã coi hết tờ báo Thiếu Nhi, từ truyện dài sang đến mục lặt vặt. Em lại xem sang tờ Tuổi Hoa mà chẳng ngủ được. Căn phòng lung linh ánh nến vàng. Ngôi trường vắng lặng, chỉ có tiếng dế kêu rả rích. Sương mù mờ nhạt, loáng thoáng qua những hàng thông cao vút...
 
Giờ này, ở Sài gòn... không biết bố đang làm gì nhỉ? Bố còn trầm ngâm bên điếu thuốc cháy đỏ không? Chị Hài còn vùi đầu vào những cuốn vạn vật dầy cộm hay những cour toán nhức óc? Anh Trình vẫn còn nghe nhạc Trịnh Công Sơn không nhỉ?
 
Em thấy mình cô độc, muốn chắp cánh để bay về với gia đình. Muốn nhìn bố nhăn mặt khi uống tách cà phê mà con gái của bố quên bỏ đường. Muốn nhìn nét mặt rạng rỡ của chị Hài khi tìm ra một đáp số toán khó khăn. Muốn nhìn anh Trình vò đầu khi học những cour triết dài, khó "nuốt"... Và em muốn tất cả... Em muốn trầm mình trong hạnh phúc gia đình.
 
Em lôi giấy bút ra viết thư cho bố. Một phút em gần gũi gia đình qua những dòng chữ.
 
... Bố ơi! Ô mai của con hết rồi, bố nhớ gủi gói khác cho con nha bố... Tết này con về mí nhỏ Thu, bố đừng lên đón con... Con gửi cho chị Hài mấy cành hoa tím... Bố ăn thử quả dâu con gửi về, có ngon không bố?...
 
Mắt em nặng trĩu, em lên giường ngủ khi bức thư còn dở dang. Trong giấc ngủ, em mơ thấy những giấc mộng tuyệt vời. Em mỉm cười trong giấc mơ...
 
 
HOÀI HƯƠNG      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 80, ra ngày 11-3-1973)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>