Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

Những Cánh Hoa Thu

Bên thềm lá tan tác
Từng chiếc rụng lả lơi
Mùa thu về man mác
Sương thu đọng chiều rơi

Hoa cúc đón thu sang
Nở bao cánh vội vàng
Hương thoảng bay trong gió
Thơm ngát cả chiều hoang

Dọc bờ sông lau lách
Ộp oạp lũ ễnh ương
Bầy dế kêu canh trường 
Đàn chim bay về tổ

Bên giậu thưa xơ xác
Đàn gà đứng lạnh run
Bươi đất mổ côn trùng
Trong gió thu hiu hắt

Ven sông con đò nhỏ
Như ngóng đợi khách sang
Ráng chiều hoen sắc đỏ
Ngẩn ngơ mùa thu vàng

Bâng khuâng người lữ thứ
Hái đóa cúc cầm tay 
Hương thu thoáng đâu đây
Nhẹ nhàng như gió thoảng...

                     Trần Thị Phương Lan 
                     (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

Lạc Đà Nam Mỹ (Lamas)


Loại lạc đà này chỉ được biết đến vào thời kỳ miền Nam Mỹ châu bị các nước Âu Châu xâm chiếm, khoảng đầu thế kỷ thứ 16.
 
Khi người Y pha nho chiếm đế quốc INCAS vào thời kỳ đó bao gồm các nước Chí lợi, Equateur. Pérou, Bolivie và một phần Á Căn Đình ngày nay - ngoài các báu vật, cổ vật họ còn khám phá ra loại gia súc rất hữu ích đó.
 
Loại lạc đà này nhỏ như con nai, không có bướu. Có một bộ lông mịn và dài rất nhiều mầu lộng lẫy. Mỗi mùa hớt lông đem lại cho gia chủ một nguồn lợi về len đáng kể. Tiếng kêu của nó giống hệt tiếng con trừu, nhưng nghe lanh lảnh nhất là vào những buổi hoàng hôn. Hình dáng thì là lạc đà, nhưng lại không có bướu, tiếng kêu là tiếng con chiên (trừu) người thời ấy không biết gọi nó là con gì nên đành đặt cho nó một cái tên rất ngộ nghĩnh "Oveyas" nghĩa là "nửa chiên nửa trừu". Thực ra nó là con LAMA theo tiếng gọi của dân INCAS, có nghĩa là lạc đà không có bướu, một loại gia súc tiện dụng. Vì cái hình dáng mập mờ của nó mà mỗi nơi đặt cho nó một cái tên, nhưng dù sao đi nữa nó cũng có những đặc tính thuộc về dòng họ của lạc đà nên ngày nay theo các nhà vạn vật học thì chúng được xếp vào loại lạc đà và mang một danh hiệu đặc biệt "Lạc đà không bướu".
 
Tuy với một thân hình mảnh khảnh, dáng dấp nhỏ bé, một lối đi không lấy gì làm vững cho lắm, thế nhưng LAMA lại rất khỏe, thích hợp với những đường mòn hiểm trở, dốc núi cheo leo. Nó có thể vận tải đến những nơi mà người ta khó có thể tới được. Trái ngược hằn với những chú lạc đà dong ruổi đường trường, vượt sa mạc của Phi Châu hay Á Châu, đây là những con vật của núi cao rừng thẳm và của cả những cánh đồng rộng bao la bát ngát.
 
Nhờ ở sức lực dẻo dai, bộ lông dầy óng mượt, nhất là cách nghỉ ngơi dưỡng sức, Lama có thề sống trên những đỉnh núi cao trên 3.500 thước, và những nơi có thời tiết luôn thay đổi. Đối với những người Bắc Mỹ, chỉ vận chuyển bằng ngựa hay bằng xe cơ giới, họ rất ngạc nhiên về loại lạc đà này, và họ cũng hiểu được rằng nhờ phương tiện nào mà hàng bao thế kỷ trước, dân INCAS đã giao dịch, vận chuyển và nhất là đã có những kinh thành vĩ đại trên các đỉnh núi cao hiểm trở, các đô thị ở các triền núi cheo leo! Ngoài tính cách vận chuyển chuyên chở rất phổ thông cho dân INCAS, Lama còn cung cấp thịt, sữa và len.
 
LAMA còn được dùng trong cả những thời kỳ chiến tranh như các dân tộc khác dùng ngựa. Nó tải khí giới, người, dụng cụ nào cần thiết của cuộc chiến và sau cùng nó lại chính là nguồn lương thực cho đoàn quân. Điểm đặc biệt nhất của loại súc vật này là sinh sôi nẩy nở rất mau nhất là ở vùng Pérou. LAMA cũng còn được các pháp sư dùng làm vật tế thần. Tại đền Cutzco, nơi chính điện, các thầy pháp, hàng ngày đặt trên bàn thờ một con Lama cạo trắng, sạch sẽ để tế thần mặt trời.
 
Sau cuộc xâm chiếm của người Âu Châu, số lượng Lama càng ngày càng giảm. Lý do chính là Lama bị lây dịch bởi các đoàn súc vật mang từ địa phương khác tới. Ngày nay, Lamas chỉ còn là loại gia súc thân mật, bất khả phân của đồng bào miền thượng tại Pérou và Bolivie.
 
Lamas có thể chuyên chở một sức nặng trên 50kg di chuyển trên các triền núi dốc, hiểm trở hay nếu cần, chạy suốt ngày không biết mệt với tốc độ 40km/giờ.
 
Sau một ngày chuyên chở mệt nhọc, lúc dừng chân Lamas được thả lỏng trong một khu vực rộng rãi nào đó nhưng vẫn bị dây thừng buộc cổ và cột ở một gốc cây hay một cái cọc. Khi được nghỉ ngơi như vậy, chúng nằm quây quần bên nhau, thật yên tĩnh, đầu hướng về phía mặt trời lặn. Khi vầng thái dương chiếu hắt những tia nắng vàng yếu ớt trên các ngọn cây, đồi núi báo hiệu một ngày sắp tàn thì các chú Lamas bắt đầu kêu lên những tiếng thảm thiết bi ai: càng lúc cổ càng vươn lên, kêu mãi cho tới khi mặt trời tắt hẳn và màn đêm buông xuống chúng mới thôi. Lúc đó Lamas mới từ từ đứng lên, tản mát mỗi nơi một con gặm cỏ hay lá cây.
 
Sau một giấc ngủ lấy sức, khi bình minh trở lại, Lamas lại hướng về phía mặt trời mọc, kêu la ầm ĩ cho tới khi mặt trời ló dạng. Người ta bảo chúng than khóc cho mặt trời bị chết và chào mừng mặt trời tái sinh.
 
Tính tình Lamas bình thường rất dễ thương: Cần mẫn, dễ dạy, vâng lời chủ... nhưng cũng hãy coi chừng vì khi chúng bị chọc tức, bị đánh đập, chúng sẽ để tâm trả thù. Nó trả thù bằng cách phun nước miếng và đồ ăn đang nhai trong miệng vào địch thủ.
 
Nếu một mai thảo cầm viên Saigon có nuôi mấy chú Lamas, chúng ta không nên đứng gần chuồng. Chúng sẽ coi chúng ta như là cừu địch và tất nhiên sự trả thù sẽ xẩy ra.
 
Ngoài loại Lamas được nuôi như gia súc, người ta còn tìm thấy một loại súc vật tương tự, nhưng sống hoang dã tại các vùng núi cao miền đất đỏ tại Pérou, chúng có tên là Ganaco, cũng có những đặc tính của một dòng họ lạc đà.
 
Đặc điểm của chúng là rất hung bạo. Khi tranh chức đầu đàn, hoặc tranh ăn... hai con đực có thể đánh nhau cho tới chết để giành phần thắng. Khi một con Cuanacoi biết mình phải bệnh không thể chung sống với đàn được chúng tự tách rời và đi lang thang kiếm một nơi nào đó sống lẻ loi chờ ngày chết. Phần đông những con Cuanacoi già sống lẻ loi cô độc cho tới ngày gục ngã, không thích sống chung cùng bầy.
 
Loài Cuanacoi ngày nay cũng hầu như gần bị tiêu diệt vì người ta thích săn nó để lấy lông làm len, lấy da để thuộc, vì da nó rất quí. Dân miền thượng còn dùng xương nó để chữa bệnh và làm khí giới. Một điểm nữa cũng làm cho chúng hao mòn dần, là các con Cuanacoi nhỏ không được mẹ bảo vệ kỹ càng nên hay bị các giống vật khác ăn thịt, nhất là loài kên kên và diều hâu.
 
 
VƯƠNG HUYỀN        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 62, ra ngày 29-10-1972)
 

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

Cây Thầu Dầu


Nguyên thủy, cây thầu dầu mọc tại các thung lũng và đồi thấp tại miền trung Phi Châu. Sau khi khám phá được những lợi ích của nó, người ta đem giống về trồng tại Ấn Độ và từ đây nó lan tràn khắp các vùng nhiệt đới, ôn đới, tràn sang đến Mỹ Châu. Tại Âu Châu, mãi đến thế kỷ 16 người ta mới trồng loại cây này để làm cảnh, chưa nghĩ đến tính cánh kỹ nghệ của chúng. Ngày nay, người ta đã trồng thầu dầu để khai thác về thương mại và kỹ nghệ. Ngay tại Pháp, diện tích trồng thầu dầu đã chiếm một tỷ số khá cao so với các loại cây khác. Trái lại, ở Việt Nam cũng như một số vùng nhiệt đới nó mọc lên như một cây hoang ngoài đất trống, bên vệ đường chen lấn với các cây khác và chỉ sống được từng năm một.
 
Thầu dầu mọc tại Việt Nam rất nhiều (nhất là miền Bắc, các vùng đồng bằng, đồi núi như Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm Phả, Thái Bình, Hưng Yên...) nó thuộc về loại thầu dầu thấp, cao không quá 2 thước và chỉ có 2 loại: Thầu dầu tía và thầu dầu trắng.
 
Hình dáng thầu dầu rất thô kệch, thân tương đối to, khẳng khiu và có từng đốt như cây khoai mì (sắn tàu), ruột cây xốp, lá tương đối lớn, cuống lá mọc từ đốt cây và mỗi cuống mang một tàu lá chia làm 7 mảnh trông từa tựa như lá sắn tàu, nhưng thanh và rất đẹp mắt. Bông thầu dầu trổ không theo mùa, mầu vàng nhỏ li ti kết thành chùm ở ngay kế cuống lá và thân cây. Khi hoa tàn kết trái cũng thành từng chùm mầu xanh và bao bởi một lớp bì dầy. Ngoài vỏ có gai lởm chởm trông tựa như trái chôm chôm. Quả chín mang mầu nâu sẫm và tự tách ra làm 3 phần mang một hột thầu dầu no tròn đầy dầu hoặc mầu nâu hoặc mầu đen tùy loại.
 
Tại những vùng khai thác thầu dầu, người ta đã nghiên cứu cách trồng tỉa rất có kết quả.
 
Thầu dầu ưa những vùng đất ẩm thấp và khuất gió. Ở những điều kiện này thầu dầu tăng trường rất mau. Người ta bắt đầu trồng thầu dầu vào giữa mùa xuân, khi khí trời tương đối ấm áp và gió mưa dìu dịu. Trồng thầu dầu bằng hột, mỗi hốc cách nhau chừng 1 thước. Năm tháng sau, thầu dầu sẽ nở bông và trái chín. Trái thầu dầu chín ở dưới thấp trước và trên ngọn sau. Hái trái phải rất cẩn thận và dùng nhân công chứ không thể dùng máy móc như các loại trái cây khác. Trái được đem về mang phơi tách lấy hột và ép dầu, gọi là dầu thầu dầu.
 
Người cổ Hy Lạp xa xưa đã biết đến dược tính của loại dầu này. Họ chế biến thành một thứ cao dán ngoài da để chữa các mụn ung nhọt. Ngoài ra họ còn dùng như là một mỹ phẩm dùng để giữ gìn cho da dẻ các bà các cô khỏi khô và mốc, nhất là làm mịn da mặt. Tuy vậy, mãi đến thế kỷ thứ 18 thầu dầu mới được khảo sát một cách tường tận trong giới y khoa và năm 1788, các nhà y học tại Luân Đôn mới cho liệt kê cây thầu dầu vào tự điển y khoa và được coi như một dược phẩm quan trọng.
 
Cũng vào thời kỳ này tại Hoa Kỳ ngành điều chế thầu dầu đã trở nên một kỹ nghệ quan trọng và rất phát đạt. Riêng tại Âu Châu tỷ lệ dầu thầu dầu chiếm tới 50%, một tỷ lệ kỷ lục so với các dầu khác.
 
Dầu thầu dầu chính hiệu con nai vàng là thứ có mầu vàng phơn phớt xanh, khi lắc lên thấy hơi lợn cợn đục. 
 
Ngày nay dầu thầu dầu rất thông dụng trong các nhà máy vì những đặc điểm riêng của nó:
 
- Có thể tồn trữ tại một nhiệt độ rất cao hay rất thấp mà không thay đổi tính chất.
 
- Mềm dẻo.
 
- Không hay bắt lửa.
 
- Tinh khiết tự nhiên.
 
Những bộ máy nhỏ và tinh vi người ta đều bảo trì bằng loại dầu này. Ngoài các đặc tính trên, người ta còn dùng nó để:
 
- Chế tạo mầu vẽ.
 
- Thuộc da.
 
- Làm savon thơm.
 
- Thuốc chải đầu làm cho tóc mềm và óng mượt.
 
Trong dầu này chứa chất ricimine và chất ricine, chất alebumine và một số lượng chất độc. Tuy nhiên không có quá nhiều trong dầu. Nhưng trái lại, hột thầu dầu phải hết sức cẩn thận khi dùng nó. Chỉ cần một vài hột thầu dầu lẫn trong thực phẩm cũng đủ làm cho chúng ta bị ói mửa, đau bụng kinh khủng rồi đi tả rất khó chữa. Nếu ăn phải nhiều sẽ mắc phải chứng kiết lỵ, ói ra máu đôi khi chết người.
 
Vì những chất độc hại như vậy mà sau khi ép lấy dầu, bã còn lại chỉ đem bón cây không thể dùng để nuôi súc vật được.
 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 60, ra ngày 15-10-1972)
 

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Cá Bốn Mắt


Tại các lạch nước, khe suối, ao, hồ, đầm lầy từ Mễ Tây Cơ trở xuống tới các quốc gia miền Nam Mỹ Châu thường thấy xuất hiện một loại cá đặc biệt rất giống với cá vàng vì mầu sắc đẹp đẽ. Nếu chỉ như vậy thì đâu có gì đáng nói, đằng này nó mang đôi mắt tròn, khá to mà nửa phần trên lại lồi ra kỳ dị khiến nhiều người mới gặp lần đầu đều ngạc nhiên chú ý nhưng chắc chắn họ không thể biết rõ công dụng của chúng ra sao. Chính nhờ cặp mắt này mà nó được gọi là cá bốn mắt (tứ noãn ngư). Tại sao vậy?
 
Sau nhiều lần theo dõi, phân tích, tìm hiểu, người ta khám phá ra rằng: Tuy mang danh là cá bốn mắt - mặc dù chỉ có hai mà thôi - nhưng thực ra hai mắt này gần như là mắt tổng hợp bao gồm bốn mắt đơn, hay nói cho rõ hơn, mỗi bên là hai con ngươi phân cách bởi một lằn chỉ đen chạy ngang. Bời thế trong lúc cá nhởn nhơ, tung tăng bơi lội đó đây, khi nổi lên mắt nước để kiếm ăn thì phần mắt phía trên giúp nó tìm mồi và quan sát cảnh vật hai bên bờ. Nhờ vậy, hễ nhận ra thức ăn trôi trên mặt nước là nó sấn tới táp ngay, đồng thời nếu thấy vẻ khác lạ hoặc dấu hiệu hiểm nguy là lặn xuống liền. Lúc đó, phần mắt phía dưới mới thực sự "làm việc" để hướng dẫn nó thảnh thơi ngao du đáy nước hay kiếm ăn một cách an toàn hơn.
 
Sở dĩ nó có khả năng này vì mỗi bên mắt đều mang hai thủy tinh thể (con ngươi) cùng chung một tiêu điểm (võng mô). Dù bị phân chia rõ ràng như vậy, nhưng khi cần tập trung thị giác, nó vẫn không gặp khó khăn chút nào bởi lẽ hai thủy tinh thể đó đều hội tụ trên một võng mô duy nhất, nên tất cả những gì xuất hiện bên trên hay bên dưới mặt nước vẫn được mắt thu nhận để cho hình ảnh rõ ràng mà không gặp trở ngại. Hơn nữa, hai mắt này không có mí lại thiếu tuyến lệ (tuyến nước mắt làm cho con ngươi lúc nào cũng ướt, khỏi bị khô ran lúc hoạt động) vì đã có nước ở ngay trong môi trường sinh sống giúp nó giải quyết chuyện này dễ dàng.
 
Cá bốn mắt là một sản phẩm đặc biệt chỉ thấy ở Trung và Nam bộ Mỹ Châu mà thôi. Chúng thường bơi hàng đàn qua lại trên mặt nước, trông rất đẹp mắt.
 
Điểm đáng nói là phần mắt phía trên luôn luôn nhô lên khỏi mặt nước đúng ở lằn chỉ đen mà thôi.
 
 
ĐẶNG HOÀNG       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 59, ra ngày 8-10-1972)
 

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Lời Chào

 
 
Đáng lẽ bài này phải ra mắt các em từ số 1. Nhưng, "không có cái gì hoàn hảo ở đời", cho nên chị cũng lầm lẫn mà quên phăng mất tầm quan trọng của nó. Nhưng "lầm lẫn mà biết sửa chữa vẫn được tha lỗi" phải không các em. Cho nên, dầu trễ còn hơn không, hôm nay, ta nói về tiếng chào.

Xưa các cụ nói: "Tiếng chào cao hơn mâm cỗ", đó là các cụ ví dụ cụ thể cho dễ hiểu. Rằng người ta quí tiếng chào hơn là món quà vật chất. Các em ơi! Tại sao đáng lẽ phải bàn về lời chào trong số 1. Vì thế này. Các em có đồng ý rằng khi em gặp người nào đó, mà họ chào em, lòng em nẩy ngay một mối thiện cảm, còn nếu họ chẳng chào gì em mà cứ nhìn em câng câng thì em ghét ghê lắm phải không nào. Thí dụ nghe tiếng chuông, em ra mở cổng, gặp một cô bé hay cậu bé, nó chẳng chào gì em, nó chỉ hỏi thăm đến em của em mà thôi, thì chị nghĩ, có mát tính đến mấy, lòng em cũng thấy bừng bực, sao mà cái nhỏ này vô lễ thế. Đúng không nào. Vậy thì chính em, em phải ráng nhớ nhé. Đến nhà ai, em phải chào hỏi lễ phép. Gặp bất cứ ai ở nhà bạn, em phải tùy theo tuổi tác mà xưng hô, chào hỏi cho có lễ phép. Em cứ nhận xét mà xem chị nói có đúng không, là nếu em mà chào rồi thì chắc chắn trăm phần trăm là họ sẽ chào lại, nét mặt họ sẽ bớt vẻ căng thẳng, biết đâu họ sẽ thấy vui lòng hơn và có thể sẽ tránh được buồn bực. Vậy là ta giúp ích mọi người rồi đó. Như thế, thay vì đem bộ mặt khó đăm đăm nhìn mọi người để được nhận lại những bộ mặt khó chịu không kém, em vui vẻ và lễ phép, em sẽ được nhìn thấy những bộ mặt tươi tỉnh dễ thương. Vậy chào thế nào? Gặp bất kỳ người quen nào ở ngoài đường, nếu có đội nón, em giở nón ra và cúi đầu chào:

- Thưa ông, (bà, bác, chú, cô, dì, thím, anh, chị v.v...) với nét mặt tươi tình. Tới lớp, em chào thầy, chào bạn, đến nhà ai, em chào tất cả mọi người.

Luôn luôn, với nét mặt tươi tỉnh, em sẽ được đời trả lại bằng cả bầu trời tươi đẹp chung quanh em. Chìa khóa của sự vui sống chính là tinh thần cởi mở, mà lời chào là tên quân tiền phong đó.

Một lần nữa chị xin nhắc lại:

"Lễ phép không hề là sợ sệt hay hèn kém, mà chỉ chứng tỏ một điều duy nhất rằng một người có lễ độ chính là một người được lãnh hội một nền giáo dục hoàn hảo".
 
 
Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 12, ra ngày 31-10-1971)
 

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

Tổ Ấm (VI)


Chúng nó chia tay nhau ngay đầu con hẻm nhỏ dẫn vào nhà Tú thiếu lâm. Hai thằng Dzục và Tự không quên hẹn hò:
 
- Chiều mai tới trường tao đá banh nhé Tú thiếu lâm, ba tao mới cho 1 quả banh "tê-nít" mày ạ!
 
- Chiều mai nhé, đá banh xong, ra đồng tụi mình cỡi bò đánh trận thú lắm!
 
Tú thiếu lâm siết chặt tay 2 thằng bạn, nó không quên 1 câu từ chối quen thuộc:
 
- Chưa chắc chúng mày ạ! Tao sợ dì tao...
 
Dzục phá lên cười:
 
- Kệ nó đi mầy, thiếu mầy đá banh mất hứng, buồn chết.
 
Tự phụ họa:
 
- Ừ, đúng hẹn tụi tao tới kêu mày. Ráng lựa kế chuồn êm nhé!
 
- Tao sẽ ráng. Thôi, tao về nhé. 
 
- Ừ, chúc mày ngủ ngon tối nay.
 
Hai thằng kia chạy biến vào nhà, còn lại mình Tú, nó lững thững bước. Nó vụt nghĩ đến thầy Du. Nó hình dung gương mặt hiền từ của thầy. Quái, không hiểu sao suốt tuần nay, nó cứ nghĩ đến thầy Du mãi thế! Từ cái trưa gặp thầy, chẳng biết sao, từ đó, hình ảnh thầy đã ăn sâu vào tâm khảm Tú. Xa thầy vài hôm là nó nhớ thầy kinh khủng. Từ hôm gặp thầy, mua dầu xong trở về nhà, may cho nó, dì nó đã ngủ say, Tú hú hồn 1 phen. Chiều hôm đó, dì nó vừa xách nón đi khỏi, lập tức ba chân bốn cẳng Tú chạy tới nhà thầy Du thăm thầy.
 
Thầy tiếp nó ân cần, thương nó như một người ruột thịt. Cứ mỗi buổi, hễ dì nó vừa ra khỏi nhà là a lê hấp! Tú thiếu lâm một mạch chạy bộ đến nhà thầy chơi. Hình như vắng bóng thầy độ chừng hai hôm là nó chịu không được, nó tương tư giọng nói đầm ấm của thầy, những cử chỉ vuốt ve trìu mến mà ngày thường Tú vẫn hằng mong ước. Ở nhà có ai vuốt ve nó, nói với nó một lời trìu mến, thiết tha đâu, chỉ có là roi mây, bợp tai của dì nó thôi.
 
Tú đem chuyện của nó với thầy Du ra kể với thằng Dzục, thằng Tự, tụi nó ngẩn người ra nghe, nghe say mê lắm, thằng Dzục tâm sự là nghe chuyện của Tú thiếu lâm còn hấp dẫn, sung sướng hơn là truyện "Dế mèn phiêu lưu ký" mà thầy nó đã đọc cho cả lớp nghe dạo nọ...
 
Tú vừa đi, vừa vẽ sẵn 1 chương trình ngày mai, nó sẽ trốn đến nhà thầy Du, chơi ở thiên đàng ngày xanh của nó suốt buổi mai đó. Tú cân nhắc, trận đòn của dì nó với cuộc chơi với thầy, trận đòn nhẹ quá, hai cái chênh lệch nhau như hòn đá và tờ giấy cùng đặt lên cân...
 
Tú bỗng cảm thấy sung sướng, nó bước vào nhà, mọi hôm cứ đặt chân vào nhà là nó đã có một cảm giác rờn rợn, thế sao hôm nay nó xem thường quá.
 
Nó cảm thấy tự nhiên mình trở nên dũng cảm quá! Tú tự tin mình vô tả!
 
Vừa đặt chân ở thềm cửa, Tú chợt giật mình. Có tiếng ai nghe quen thuộc quá, Tú nhớ ra, giọng nói mà ngày thường nó hằng kính nể, mến yêu. Phải rồi, tiếng thầy Du! Tú ngạc nhiên, nó đặt dấu hỏi to tướng trong đầu. Thầy Du đến nhà nó, mà có chuyện gì? Tú hoàn toàn mù tịt. Nó lấp ló ở cửa, ghé mắt nhìn vào. Thầy Du ngồi đối diện với dì nó, hai người nói chuyện nho nhỏ, lắng tai nghe kỹ Tú mới nghe được:
 
- Cám ơn bà, thật may cho tôi quá!...
 
- Không có chi thầy giáo ạ. Chẳng qua là tôi nghĩ đến tương lai của thằng Tú thôi.
 
Tú lại thót ruột, không biết có chuyện gì mà lại có tên nó trong đó nữa. Lòng Tú thiếu lâm đang thấp thỏm chợt có tiếng dì nó gọi:
 
- Tú làm gì đứng ngoài đó, vô đây dì nói chuyện này...
 
Giọng dì hôm nay sao ngọt ngào êm dịu thế, Tú nghe cơ hồ như uống 1 cốc nước chanh ngọt lịm, à, hôm nay chắc dì nó tu, chả ngày rằm là gì. Tú rụt rè bước vào, thấy nó, dì nó rời khỏi ghế bước lại kéo nó vào lòng. Dì vừa xoa đầu Tú vừa nói chuyện với thầy:
 
- Thầy cho biết là hôm nào đi để tôi còn sửa soạn cho nó.
 
Tú sững sờ, dì nó quả tu thật, hôm nay trông dì chả khác ông sư già ở chùa Linh Bảo, ông sư hiền đã in sâu hình bóng vào tâm hồn Tú dạo nó còn nhỏ, thường theo mẹ lên chùa.
 
Thầy Du nhìn Tú, tia mắt của thầy dịu hiền, bao la như lòng đại dương xanh thẳm, Tú cảm thấy mình bé nhỏ lại như 1 con ốc nhỏ giữa lòng đại dương. 
 
- Thưa bà, mốt ạ. Cũng dư thời giờ thu xếp cho Tú.
 
Tú giương to đôi mắt nhìn dì, nhìn thầy giáo, nó ngơ ngẩn. Dì nó đỡ lời bảo Tú, giọng thiết tha:
 
- Tú, còn thêm ngày nữa là con rời khỏi làng này rồi con ạ! Dì cho con theo thầy giáo lên tỉnh học hành, để nối tiếp sự học dở dang của con ngày xưa...
 
Tú bàng hoàng:
 
- Rời khỏi làng này hở dì? Thế còn dì?
 
Dì nó xoa đầu đứa con ghẻ, vẫn thiết tha:
 
- Dì ở lại với em Phi. Con theo thầy giáo nhé!
 
Thầy Du nãy giờ im lặng, chợt xen vào:
 
- Tú, thầy hết dạy ở trường làng nữa rồi, thầy được thuyên chuyển lên tỉnh dạy học. Con đi theo thầy con nhé. Tú, con bằng lòng không?
 
Tú sững sờ, đời của nó thay đổi mau quá, ngã rẽ hiện lên trong đầu óc nó, hai con đường của cuộc đời, của ngày xanh. Một con đường có bóng thằng Dzục, thằng Tự, kỷ niệm ngày xanh của nó đấy. Thiên đàng của chuỗi ngày tủi nhục.
 
Con đường kia vẽ tương lai của Tú thiếu lâm, có thầy Du, tình thương bao la ôm lấy hình hài khổ cực của nó đấy!
 
Tú hoang mang. Tiếng thầy Du dịu hiền:
 
- Con bằng lòng không Tú? Thầy không ép buộc con, tuy nhiên thầy thương con, Tú ạ, thầy thiếu nguồn an ủi của tuổi già. Thầy muốn con ở mãi bên thầy. Con nhé!
 
Dì nó cúi xuống vuốt tà áo cho nó, dì hỏi:
 
- Con bằng lòng không Tú?
 
Tú giật mình, tự nhiên không hiểu tại sao nó lại gật đầu. Nó sẽ xa tụi thằng Dzục, thằng Tự, xa làng nhỏ thân yêu, xa nơi gởi tuổi thơ, kỷ niệm ngày xanh đầy tiếc nuối. Tự dưng, Tú thiếu lâm khóc. Dì nó rút khăn lau nước mắt cho nó:
 
- Sao lại khóc, con. Vui lên chứ!
 
Thầy Du ái ngại nhìn Tú thiếu lâm, thầy an ủi:
 
- Đừng buồn con ạ, con sẽ quên đi những nỗi buồn đó. Thầy sẽ ở mãi cạnh con, khuyến khích con trên bước đường học vấn mai ngày của con.
 
Thầy Du nói, nhưng Tú còn nghe gì đâu, nó đang chìm trong biển sương mù mịt, Thằng Dzục, thằng Tự hiện ra, Chúng nó nhìn Tú cười rạng rỡ.
 
 
7.
 
Đá bóng xong, Bọn nó rủ nhau ra đồng cỡi bò tập trận. Chúng nó chơi miễn cưỡng, chơi cho quên nỗi sầu ngày mai, mặt thằng nào cũng dàu dàu như 3 cái giẻ rách nhúng nước...
 
Thằng Tự khơi mào câu chuyện:
 
- Thôi nghỉ chơi, buồn quá chúng mày ạ!
 
Dzục giàn thung nhìn chân trời, hoàng hôn đang xuống, chân trời tím nhạt, lúa vàng lao xao điệu ru trong gió. Nó buồn nghẹn ngào:
 
- Tú ơi!
 
Tú thiếu lâm buồn không kém, nỗi sầu đùn lên mắt 3 đứa trẻ, nghe bạn gọi, nó dàu dàu:
 
- Gì vậy Dzục?
 
Dzục giàn thung ngớ ngẩn:
 
- Ngày mai mày đi rồi hả Tú?
 
Tú thiếu lâm gõ nhẹ lên sừng bò, buồn não nề:
 
- Ừ, nhưng thôi đừng nói chuyện đó nữa, buồn lắm!
 
- Nói cho hết buồn mày ạ!
 
Tú gục đầu, nó nghe tiếng lúa reo trong gió chiều, lòng nao nao. Dzục giàn thung lại hỏi:
 
- Ngày mai mấy giờ mày đi?
 
- Sáu rưỡi sáng. Sớm quá mày nhỉ?
 
- Tao sẽ ra tiễn mày với thầy, Tú nhé!
 
- Tùy ý mày đấy.
 
Tự chăn bò gục mặt, buồn thấm thía. Nó chép miệng:
 
- Giá mày đừng đi Tú nhỉ.
 
Thằng Tú không trả lời. Chiều đang xuống. Có tiếng mục đồng trên ruộng lúa đàng xa gọi trâu về chuồng.
 
Chúng nó chia tay.
 
 
8.
 
Thầy Du ôm Tú vào lòng, sưởi ấm cho nó.
 
Thằng bé lim dim ngủ. Bến xe buổi sáng đìu hiu quá, gió sớm vù vù lạnh buốt. Thấp thoáng trên con đường cái quan, một hai khách bộ hành co ro rảo bước. Một hai chiếc xe đã nổ máy khởi hành, máy kêu vang trong cái bến nhỏ.
 
Tú chợt mở choàng mắt, nó ngước mắt nhìn thầy Du:
 
- Xe chưa khởi hành hở thầy?
 
- Chưa con ạ. Buồn ngủ không, cứ ngủ đi.
 
Tú lắc đầu. Sương mù chưa tan, làng thôn thiêm thiếp ngủ, cây tre đầu xóm của nó kia, nhỏ quá, mấy vì sao chưa lặn điểm mờ mờ trên bầu trời xám.
 
Tú nằm trong lòng thầy, nó vẽ trong đầu miền tỉnh lỵ nó sẽ đặt chân đến. Nó sẽ đi học lại, học trò trường tỉnh ra sao? Tú đâm ra sợ hãi.
 
Tú ngồi dậy, hành khách lúc này đang lục tục kéo lên xe. Hai cái bóng nhỏ in dưới bầu trời giăng sương sớm, Tú reo lên:
 
- Tụi nó tới!
 
Thầy Du nhìn theo, nét mặt lộ vẻ vui mừng:
 
- Thằng Dzục!
 
Tự, Dzục hớt hải chạy tới, chúng nó chạy tới bên xe bá lấy chân thầy hổn hển reo:
 
- Thầy!
 
- Tú!
 
Thầy Du ái ngại nhìn đứa học trò, thầy âu yếm xoa đầu nó:
 
- Trò không ngủ à?
 
Dzục giàn thung rơm rớm nước mắt, nó ôm thầy, tay kia bá chặt vai Tú thiếu lâm, nức nở:
 
- Thầy ra đi mạnh giỏi.
 
Nó xoay sang nhìn thằng bạn:
 
- Mày lên đó ráng học nhe!
 
Tự siết tay Tú thiếu lâm, nhỏ nước mắt:
 
- Gắng học nhé Tú. Rảnh viết thư về thăm bọn tao nhé!
 
Tú thiếu lâm rớm lệ, ôm lấy hai thằng bạn nghẹn ngào:
 
- Chúng mày ở lại mạnh khỏe!
 
Thầy Du nhìn chúng ứa nước mắt. Tuổi ngọc của chúng đó! Thầy nhớ lại tối qua, bọn học trò lũ lượt kéo đến nhà thầy, chúng nó đỏ hoe mắt nhớ thương thầy giáo. Thầy mủi lòng, tuổi thơ của thầy thể hiện ở đấy, thầy tìm những ngày xanh của thầy cũng ở đấy. Tình thầy trò cao đẹp như 1 đóa hoa chớm nở. Ba thằng bé chụm đầu tâm sự, chúng gởi tình thương cho nhau, mấy cụ già nhìn chúng cũng rơm rớm nước mắt... Xe sắp chuyển bánh, Dzục và Tự rời xe. Khói xe phun mù mịt đem Tú thiếu lâm lên miền tỉnh lỵ. Bóng Dzục giàn thung và Tự chăn bò vẫn đứng sững. Ngày xanh của Tú thiếu lâm gởi lại ở đây...
 
 
Hà-Thúc-Khánh        
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 57, ra ngày 15-11-1966)
 

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

Tổ Ấm (V)

 
Dzục xốc lại mấy cuốn vở, nó băng qua đường đất, rẽ vào con đường mòn giữa 2 rặng tre xanh um, nó vẽ trong đầu óc gương mặt thằng Tú...
 
... Dzục lấp ló bên hàng rào nhà Tú thiếu lâm, chúm môi huýt sáo báo hiệu gọi Tú ra. Nó thoáng thất vọng. Bên trong im ỉm. Nó huýt sáo lần nữa chẳng có tiếng trả lời. Dzục kiên nhẫn chờ. Buổi trưa, xóm thằng Tú thật mát, tre xanh rợp kín um tùm. Cảnh vật thật tĩnh mịch. Tiếng tre buồn bã nghiến cót két tâm sự cho nhau nghe sao buồn lạ. Dzục mất kiên nhẫn, nó huýt sáo lần chót. Sau khi nhướng mắt nhìn vào nhà Tú lần chót, nó định dợm bước quay về, chợt từ trong nhà bếp, đầu thằng Tú ló ra. Thấy nó, Dzục mừng rối rít, nó vẫy bạn lia lịa. Tú lấm lét nhìn vào trong đoạn chạy vụt ra vườn.
 
Một thằng bên trong, một thằng bên ngoài, gặp nhau chúng nó hân hoan ra mặt. Dzục đút tay vào túi lấy ra 1 gói nhỏ bọc giấy học trò. Nó chuồi qua hàng rào cho Tú, miệng dục:
 
- Chén đi. Mãng cầu bà tao cho hồi sáng đó!
 
Tú thiếu lâm cảm động nhìn Dzục giàn thung qua ánh mắt. Nó thò tay qua hàng rào siết chặt tay bạn:
 
- Sao mày không ăn?
 
Dzục nói dối:
 
- Ăn rồi! Sáng nay bà tao cho những 2 trái lận.
 
Tú cầm món quà của bạn trong tay, nó cầm thật chắc, cơ hồ sợ quả mãng cầu bay đi. Dzục nhìn bạn, ngập ngừng 1 giây nó nói:
 
- Tuần trước, thầy tao cho tả luận. Tao tả mầy Tú ạ!...
 
Tú thiếu lâm nhìn nó, ngạc nhiên:
 
- Tả tao à! Tao xứng cho mầy tả lắm sao hở Dzục?
 
Dzục sung sướng nói, như lúc nó lên lãnh bài của mình lúc ở lớp học:
 
- Tả mày là tao sướng lắm rồi. Và mày biết không?...
 
- Biết gì cơ?
 
- Tao được thầy giáo chấm nhất lớp mày ạ. Mọi khi làm luận tao bét tỉ, thế mà tả mày tao lại được nhất. Ngộ quá há.
 
- Ừ ngộ thật!
 
Tú quay nhìn vào nhà. Mặt lo âu. Nó dục bạn:
 
- Còn chuyện gì nữa không? Tao vào nhé?
 
Dzục níu bạn:
 
- Vào gấp thế. nãy giờ mày làm gì trong ấy?
 
- Rửa chén bát. Tao phải vào kẻo dì tao gặp, dì tao đánh chết.
 
Dzục quyến luyến nhìn bạn. Nó mong kéo dài giây phút êm đềm của 2 đứa, nhưng giây phút đó sao ngắn ngủi, mong manh quá! Nó sắp đứt rồi đây.
 
Dzục nắm tay Tú, trìu mến:
 
- Chiều nay bắn chim với tụi tao nhé Tú?
 
- Cả cu Tự nữa?
 
- Ừ.
 
- Không chắc đâu Dzục ạ! Nếu mắc việc chắc tao phải ở nhà.
 
Dzục vớt vát:
 
- Nếu không bận việc, đi chơi nghe. Nhớ Tú nhé!
 
- Ừ. tao nhớ!
 
- Tao về!
 
- Ừ, mày về.
 
Dzục quay đi. Nó lầm lũi đi theo con đường mòn nhỏ hẹp. Mang theo trong đầu óc hình ảnh thằng bạn đáng mến.
 
Tú đứng nhìn theo, niềm thương dâng trào trong người nó. Đến khi bóng Dzục mất hút cuối xóm, nó thẫn thờ quay vào như đánh mất 1 vật quí báu vô hình. Đến ngưỡng cửa bếp, nó chợt khựng lại, dì nó sừng sững hiện ra trước ngưỡng cửa. Tú cảm thấy mình bỗng chốc bé lại, nó trở nên sợ hãi...
 
Dì nó đay nghiến:
 
- Đi chơi đấy hả? Chén bát chất đống thế không lo rửa, lại lẻn đi chơi. Biết ngay mà, hở mặt tôi là có xem ai vào đâu...
 
Chợt nhìn thấy gói giấy trên tay thằng bé, dì giật lấy, mở ra xem. Tú nghẹn ngào, nó nhìn quả mãng cầu, nhìn dì nó. Cảm giác tủi hờn dâng nghẹn cổ nó. Dì nó cầm quả mãng cầu mỉa mai:
 
- Chà, xài sang dữ! Tiền đâu "ông" mua thế? 
 
Tú ấp úng:
 
- Bạn... bạn con cho.
 
Dì nó "hừ" 1 tiếng. Bà ta cho tay vào túi móc ra tờ giấy 5 đồng nhàu nát đưa cho Tú, bảo:
 
- Vào bếp lấy chai ra quán cóc mua cho tôi 1 lít dầu phụng, lẹ lên!
 
Tú tiếp lấy 5 đồng. Nó vào bếp lấy chai, lủi thủi đi ra con đường mòn ngoài xóm. Tú cầm cái chai, hôm nay cái chai con sao mà nặng thế! Nó nghĩ đến món quà của Dzục, nó đánh rơi mất rồi...
 
Trời trưa, nắng mùa thu không gay gắt, hàng cây hai bên vệ đường nhuộm một màu vàng thật nhạt. Tú bỏ đường mòn, đi ra phía lộ lớn.
 
Cơn mưa phùn hồi sáng đã dứt. Ông trời đã ngưng khóc rồi. Mặt đường lấm tấm nước mưa. Những hạt mưa lấp lánh như muôn ngàn vì tinh tú trên bầu trời mỗi lúc về đêm. Tú cắp chai vào nách, rảo bước vội... Có tiếng ai gọi từ vệ đường bên kia vọng sang: 
 
- Em bé ơi! Lại đây giúp hộ tôi một tí!...
 
Tú ngoảnh mặt sang nhìn. Một người đàn ông ngồi chồm hổm cạnh chiếc xe đạp cũ mèm. Hai bàn tay ông ta dính bùn và dầu đen bẩn. Nó chạy sang:
 
- Bác gọi cháu hả?...
 
Ông khách nhìn nó, nở một nụ cười thân mật. Tú cũng cười. Nó cảm thấy cơ hồ đã quen ông khách tự thuở nào. Ông khách khẩn thiết:
 
- Xe tôi nó sút dây sên... em giúp hộ tôi một tay nhé!
 
Tú ngần ngại. Nó nghĩ đến dì nó rất nhanh. Dầu chưa mua, về trễ. Chừng đó lý do cũng đủ ăn đòn. À lại thêm đống chén bát chưa rửa ở nhà nữa chứ. Thoáng thấy nét ngần ngại trên mặt Tú, ông khách cho bàn tay bẩn vào túi quần "Kaki" vàng cũ, rút ra tấm giấy bạc mười đồng. Ông ta nhét vào tay Tú thiếu lâm:
 
- Em cầm lấy chút tiền này ăn quà nhá! Rồi giúp hộ tôi một tí. Một tí thôi. Nhé em!
 
Tú đỏ bừng mặt, nó rụt tay lại, tờ giấy bạc không điểm tựa, lao đao rơi xuống đất. Tú đứng sững. Ông khách nhìn nó, thoáng ngạc nhiên:
 
- Không nhận sao em? Hay em chê ít?
 
Tú lúng túng. Nó chưa kịp phân trần, ông khách rút thêm tờ giấy năm đồng nữa, ông ta chìa trước mặt Tú, ân cần:
 
- Em cầm thêm nhé!
 
Tú lại lắc đầu, tự nhiên nó buột miệng:
 
- Cháu không dám nhận đâu...
 
- Sao thế em?
 
- Để cháu giúp cho bác một tay bác nhé!
 
Ông khách ngạc nhiên nhìn Tú thiếu lâm. Ông lượm tờ giấy mười đồng ở dưới đất lên. Tay cầm hai tờ giấy bạc, ông cũng bối rối chưa biết nói cách nào. Tú để chai xuống đất. Nó sà tới chỗ chiếc xe đạp, đỡ lời cho ông:
 
- Xe bác hư dây xích hở bác? Để cháu sửa cho.
 
Ông khách nuốt nước bọt, hiền từ nhìn nó. Ông lặng lẽ đút tiền vào bọc, đỡ chiếc xe lên:
 
- Dây xích này lâu ngày, không có nhớt thành thử khô cứng, đến khi bỏ vào thật là nhọc công.
 
Tú nâng cái bánh xe trước lên. Nó ướm thử sợi dây xích, rồi máng vào cái đĩa lớn của chiếc xe. Dây xích quả thật cứng, bỏ vào được một nửa cái đĩa lớn, thì đĩa phía sau không lọt.
 
Ông khách cũng biết thế, nên ông khuyến khích Tú luôn miệng. Hai người lui hui bên chiếc xe "cà tàng" lâu lắm. Trán Tú thiếu lâm rỉ cả mồ hôi. Lưng áo nó ướt đẫm. Ông khách nhìn nó, thoáng một nét ái ngại hiện lên mắt ông. Hai người mệt lử.
 
Bỗng Tú thiếu lâm reo lên:
 
- Được rồi bác. Hay quá!
 
Nó quay mạnh bánh xe sau cho dây xích chạy đều, bánh xe chạy vo vo, cái niềng bạc xoay tít, bắn những mảnh bùn ướt tứ tung. Ông khách vui mừng. Ông đứng dậy vươn vai, vẹo mình kêu răng rắc. Quệt mồ hôi trán, ông vỗ vai Tú thiếu lâm:
 
- Cháu mệt không?
 
Tú thiếu lâm quần áo xốc xếch, thở hổn hển:
 
- Dạ mệt.
 
Ông khách không biết làm gì hơn, ông ta nhìn Tú thiết tha:
 
- Bác thành thật cám ơn cháu. Cháu tốt quá.
 
Tú ngước lên nhìn ông, mắt ông khách qua cặp kính trắng nom hiền từ quá. Lòng Tú bồi hồi. Nó nắm tay ông khách thân mật:
 
- Bác ở đâu vậy bác?
 
Ông khách chỉ tay về phía xa:
 
- Tận kia, xa lắm cháu ạ!
 
Bây giờ, Tú chợt nhớ đến dì nó. Về bây giờ muộn mất rôi. Quán "cóc" còn khá xa. Lòng Tú nôn nao, cảm giác rờn rợn chạy khắp xương sống nó. Tú trách mình suy xét nông nổi, giúp ông khách chẳng được mập thêm kí lô nào, mà còn ăn thêm trận đòn chốc nữa. Tú trách mình ngu quá ngu, ngu còn hơn con phèn của nhà thằng Túy cuối xóm nữa. Tú lo sợ, mặt nó xanh mét, người toát mồ hôi. Ông khách cầm tay nó, hiền từ:
 
- Cháu tên gì nhỉ?
 
- Dạ Tú!
 
Ông khách chợt nhíu mày, ông "à" lên một tiếng, vỗ vai Tú thiếu lâm:
 
- Cháu có thằng bạn tên Dzục phải không?
 
Tú trố mắt:
 
- Dạ đúng rồi, mà làm sao bác biết?
 
- Bác là thầy thằng Dzục. Cháu là Tú thiếu lâm, biết võ thiếu lâm phải không?
 
Tú ngẩn ngơ. Ông khách, tức thầy thằng Dzục, tức thầy Du, đoán hay quá. Không chừng ông biết luôn cả cuộc sống tối đen của nó cũng nên. Tú ngập ngừng:
 
- Sao... sao bác biết hết thế?
 
Thầy Du vỗ 2 tay vào nhau cho đi đất bẩn:
 
- Đố cháu đấy!
 
Tú nhíu mày, suy nghĩ lâu lắm, nó reo lên:
 
- Cháu đoán ra rồi!
 
Thầy Du nheo mắt:
 
- Sao?
 
- Thằng Dzục làm luận tả cháu trong ấy, đúng không hở bác?
 
- Đúng rồi. Sao cháu biết vậy?
 
Đến lượt Tú đố ông khách, nó cười:
 
- Cháu đố bác đấy! 
 
- A, bác đã đoán ra. Lại thằng Dzục bảo với cháu chứ gì? Phải không?
 
Tú gật đầu. Ông khách nhìn trời, chép miệng. Chợt nhớ ra điều gì, ông quay lại:
 
- Mà cháu đi đâu vậy, Tú?
 
Bây giờ, Tú thiếu lâm sực nhớ đến bổn phận của mình. Nó giật nẩy người, cầm vội chai lên hớt hải:
 
- Chết mất, bác cho cháu đi...
 
- Đi đâu giờ này, cháu?
 
- Cháu đi mua dầu cho dì cháu bác ạ! Thôi, thưa bác, cháu đi.
 
Thầy Du nắm lấy vai Tú:
 
- Để bác chở đi. Mua dầu ở đâu?
 
- Ở quán "cóc" bác ạ...
 
Nó ngập ngừng tiếp:
 
- Cháu... cháu làm phiền bác quá. 
 
Thầy Du cười phá lên, vui vẻ xốc Tú lên yên xe:
 
- Cháu làm phiền bác cũng chưa bằng bác làm phiền cháu. Phải vậy không. Hơn nữa chở cháu đi luôn tiện bác cũng tập thể dục để chút nữa về ăn cơm mới ngon.
 
Cả hai cùng cười vang. Lòng Tú ấm lại. Nó quên cả trận đòn sẽ xẩy ra. Nó ôm ngang eo ếch thầy Du, tự nhiên nó phát sinh 1 cảm nghĩ trong đầu óc:
 
"Giá thầy Du là cha của nó nhỉ?"
 
Tú chợt mỉm cười, lòng nó nở hoa đỏ...
 
________________________
Xem tiếp PHẦN VI
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 56, ra ngày 1-11-1966)
 
 

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Chiều Phai


 
 
 
 
 
 
 
 
Chiều thu có đôi nai vàng
Lặng lẽ ngắm mùa thu sang
Ánh chiều hoàng hôn hiu hắt 
Gió heo may nhẹ mơn man 

Chiều thu có rặng thông già
Vì vút trên đồi mơ xa
Rừng thu chân ai dẫm nát
Xác lá khô chờ thu qua

Chiều thu có giòng suối nhỏ
Trôi biết bao đời rêu rong
Ven bờ hái cành hoa tím
Thả xuôi về chốn hư không 

Chiều thu đám mây biêng biếc
Xanh như ánh mắt thu nào
Hồn ai chìm trong nuối tiếc 
Một đời vàng úa hư hao

Chiều thu còn ai ngồi đây
Dáng thu tóc xõa vai gầy
Chiều thu còn ai chờ ai
Nỗi buồn rơi xuống chiều phai...

                                         Thơ Thơ 
                             (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Tổ Ấm (IV)

Thầy Du vào lớp thì bọn học trò đâu đấy đã ngồi yên chỗ của mình. Thầy bước lại bàn. Vừa định ngồi xuốn thầy đã cau mặt nhìn xuống lớp:
 
- Hôm nay đội nào coi về vệ sinh thế?
 
Một thằng cuối lớp đứng dậy, mặt thoáng sợ hãi:
 
- Dạ thưa thầy, đội em ạ!
 
Thầy chỉ tay xuống ghế, bảo nó:
 
- Đội trò hả? Sao bàn ghế không lau gì cả vậy?
 
Thằng học trò lúng túng:
 
- Dạ... dạ tại hôm nay em mắc việc ở nhà nên đến trễ.
 
Thầy dễ dãi vẫy tay cho nó ngồi xuống, đoạn kéo ghế ngồi.
 
Bọn học trò nhìn xấp giấy trên tay thầy, biết đấy là giấy làm bài luận tuần trước, chúng bấm nhau, nét vui thoáng trên những khuôn mặt chúng nó.
 
Thầy Du mở sổ ra. Biết sự xôn xao, náo nức của học trò, thầy vờ hỏi:
 
- Bữa nay học Toán hả mấy em?
 
Bọn học trò nhao nhao:
 
- Thưa thầy luận ạ!
 
- Mai mới toán!
 
- Thưa thầy hôm nay phát Luận tuần trước!
 
Thầy Du mỉm cười, vỗ tay xuống bàn:
 
- Im!
 
Thầy mở bao "ni lông", rút xấp giấy làm bài của học trò ra, thầy nói với chúng:
 
- Được rồi. Bữa nay thầy sẽ phát luận cho các em, và hôm nay giờ cuối các em sẽ được giải trí nếu buổi học bữa nay các em ngoan...
 
Bọn học trò náo nức, chúng tíu tít:
 
- Thưa thầy giải trí gì cơ?
 
- Chúng em hứa sẽ ngoan suốt buổi hôm nay.
 
- Thầy cho chúng em biết đi thầy...
 
Thầy Du chờ cho bọn học trò tới tấp hỏi xong xuôi, thầy từ từ:
 
- Bí mật, điều đó sẽ tiết lộ sau. Bây giờ thầy phát luận cho mỗi em đây.
 
Bọn học trò ngồi ngay ngắn, thẳng người. Chúng mở to mắt nhìn thầy, nhìn xấp giấy trên tay thầy giáo, món quà học hành của chúng đó! Đứa nào cũng háo hức, mong thầy phát sớm.
 
Thầy Du gọi tên từng đứa một. Mỗi thằng học trò rời khỏi ghế lên bàn thầy, là tim chúng nó nhẩy thình thịch, chúng nó hồi hộp liếc nhanh con số điểm đỏ chót. Nét vui, buồn thoáng hiện trên mặt mỗi thằng. Xấp giấy trên tay thầy vơi dần...
 
Dzục thấp thỏm nhìn thầy, nó cảm thấy lo âu. Niềm lo âu của nó tăng dần theo sự vơi dần của xấp giấy. Giấy trên tay thầy giáo đã gần hết mà vẫn chưa thấy bài nó. Dzục bồn chồn. Nó đặt giả thuyết trong đầu. Dzục mường tượng ngay đến tờ giấy làm bài của nó biến thành chiếc tầu bay, tầu thủy cho con thầy giáo chơi. Giả thuyết đó bị bác bỏ ngay. Dzục cười, thầy Du đến vợ cũng chưa có chứ đừng nói đến con. Thầy sống độc thân, mặc dù tuổi đã già, với hai thứ tóc trên đầu. Nó đặt giả thuyết khác: Thầy quên chấm bài nó? Nó đã mắng mình đã nghĩ lầm cho thầy. Hình ảnh tận tụy, cẩn thận của thầy đã ăn sâu trong trí não nó. Nó làm sao quên được!...
 
Bọn học trò lên lãnh bài tấp nập. Dzục đếm đủ 38 đứa, không hơn, không thiếu. Dzục ngạc nhiên, nó chưa thấy thầy giáo gọi đến tên thằng Hóa. Không lẽ "tay tổ" luận lớp nhất B này cũng bị bỏ quên nữa sao? Dzục ngước mắt nhìn thầy. Niềm an ủi chợt đến với nó. Trên tay thầy còn 2 tờ giấy. Hy vọng rằng có nó trong ấy. Lòng Dzục thấp thỏm, bồn chồn còn hơn những lúc nó giương giàn thung rình rập để bắn bọn se sẻ, chào mào. Thầy Du đưa mắt nhìn lũ học trò. Chúng nó đang lúi húi cất bài của mình vào cặp. Thầy hắng giọng, nói to:
 
- Hôm nay cũng như mọi khi, thầy để dành lại cuối cùng 2 bài xuất sắc nhất. Bài chiếm giải đầu hôm nay, các trò hãy đoán thử em nào?
 
Bọn học trò nhìn quanh quất, 78 con mắt đều đổ dồn vào thằng Hóa. Chúng nó lại nhao nhao như ong vỡ tổ:
 
- Thằng Hóa thưa thầy!
 
- Giải "ngao đầu" chắc chắn về tay "cu" Hóa nhà ta!
 
Thầy Du cười mỉm, rút tờ giấy thứ nhất đưa lên, dõng dạc:
 
- Đứng nhất môn luận hôm nay về tay trò Dzục!
 
Lời tuyên bố của thầy giáo cơ hồ tiếng sét đánh ngang tai lũ học trò cũng như đánh ngang tai Dzục.
 
Nó giật mình. Lũ học trò đều đổ dồn mắt để "chiêm ngưỡng" vị tân khoa hôm nay. Vị tân khoa của chúng ngày thường chỉ giỏi toán và giỏi giàn thung, thế mà hôm nay đè bẹp "cu" Hóa bất ngờ ngoài tưởng tượng. Thầy giáo tuyên bố lần thứ hai:
 
- Giải nhì về tay trò Hóa. "Đệ nhị Tân khoa".
 
Thầy vẫy tay ra hiệu cho Dzục. Nó bỡ ngỡ bước lên, ngày thường trông nó nghịch đến thế, mà hôm nay nom như học trò mới được dắt vào lớp. Thầy cười trong bụng, như chia vui trước niềm vui bất ngờ của Dzục. Dzục bước lên bàn thầy, nó thoáng đỏ mặt trước những cặp mắt của lũ học trò. Thầy Du trao bài cho nó, xoa đầu khen:
 
- Trò tả xuất sắc lắm! Thầy có lời khen đấy. Làm luận chỉ hay khi nào mình biết tả thực, nhận xét đúng. Với lối tả của trò, thầy mong rằng, những bài kế tiếp sau này trò sẽ vượt hơn!
 
Dzục đỏ mặt, đáp lí nhí trong miệng. Nó kính cẩn đưa 2 tay nhận bài luận của mình cơ hồ 1 anh học trò lên lãnh phần thưởng cuối năm.
 
Dzục về chỗ. Đặng Thanh Hóa không đợi thầy nhắc đã bước lên. Thầy Du trao trả bài luận cho nó, dặn dò:
 
- Sở dĩ bài Luận của trò hôm nay không được chiếm giải nhất vì sao trò biết không?
 
Thằng Hóa gãi tai, lúng túng. Thầy vỗ đầu nó cười:
 
- Vì trong bài luận nầy, trò tả không thành thực. Lỗi nặng hơn là trò ghép văn người khác vào văn của mình. Làm như thế, bài luận sẽ trở nên ngớ ngẩn, không mạch lạc với nhau. Trò hiểu chưa? Lần sau, tự mình viết. Gắng lên xem nào. Nhé!
 
Thầy luôn đặt chữ "nhé" cuối mỗi câu lúc thầy khuyên bảo, răn dạy học trò. Tiếng "nhé" của thầy sao mà đầm ấm thế. Thằng học trò nào dù bị thầy rầy la cách mấy, tiếng "nhé" cuối câu của thầy vẫn làm lòng nó dịu vợi, man mác. Tiếng khuyên bảo của thầy như tiếng mẹ ru con, khuyên bảo con lúc thằng con làm điều trái.
 
Thằng Hóa cúi mặt, nó ghi vào óc lời khuyên của thầy. Nó bước về chỗ ngồi, mặc dù "thua trận", nhưng lời khuyên của thầy đã cho nó 1 kinh nghiệm, 1 kho tàng vô giá...
 
Bọn học trò đã hết xôn xao giờ ồn ào trở lại.
 
Chúng đang bàn tán, suy nghĩ về món quà bí mật của thầy. Thầy nhìn chúng, như trả lời qua ánh mắt. Lũ học trò im lặng. Thầy rút trong bao "ni lông" ta 1 cuốn sách cũ. Giấy đã ngả sang màu vàng. Thầy lật sách ra ; nhìn chúng thầy nói:
 
- Món quà cho các trò hôm nay là 1 món quà tinh thần, tuy nhiên nó quí giá vô ngần...
 
Bọn học trò ngơ ngác, chúng hỏi nhau qua ánh mắt, ngạc nhiên nhìn thầy. Thầy Du đưa cuốn sách lên, cười với chúng:
 
- Hôm nay, để thay cho 2 giờ hoạt động thanh niên, chút nữa, thầy sẽ đọc cho các em nghe 1 câu chuyện của tác giả...
 
Ngừng ở đấy, thầy cười bí mật:
 
- Tác giả gì. Đố các em biết được?
 
Học trò im lặng, rồi lao xao:
 
- Thưa thầy ông Thế Lữ!
 
- Chắc ông Trần Tiêu!
 
- Khái Hưng, phải không hở thầy?
 
Thầy Du lắc đầu. Bọn học trò thất vọng. Thầy nói:
 
- Tô Hoài các em ạ!
 
Dưới lớp vang lên một vài tiếng "à" hiểu biết.
 
Thầy muốn kéo dài sự bồn chồn của chúng, nên lại hỏi:
 
- Có em nào đọc văn của ông Tô Hoài rồi?
 
Dưới lớp, khoảng 10 cánh tay giơ lên. Thầy ra hiệu cho chúng bỏ xuống rồi hỏi:
 
- Các em đã đọc truyện của ông Tô Hoài rồi. Vậy các em đọc truyện gì của ông ấy?
 
Bốn năm cái miệng nhao nhao:
 
- Ngày xưa!
 
- Xóm giếng!
 
- O chuột!
 
- Quê người!
 
Thầy mỉm cười gật đầu. Chỉ tay vào cuốn sách trên tay, thầy bảo học trò:
 
- Những truyện các em đã đọc của ông ta đều là những truyện xuất bản từ xưa. Cuốn mà thầy sẽ đọc cho các em đây là chuyện giáo dục nhi đồng. Một câu chuyện mà ông Tô Hoài đã viết về loài vật. Nhan đề "Dế mèn phiêu lưu ký".
 
Bọn học trò vừa nghe thầy giáo giới thiệu đã xuýt xoa với cái nhan đề hấp dẫn. Thầy ngồi xuống ghế, nhìn chúng:
 
- Các em nên tìm đọc cuốn sách nầy. Thầy giới thiệu với các em đây là 1 cuốn truyện rất hữu ích, vừa để giải trí vừa trau dồi thêm Việt văn của mình phong phú. Truyện này thầy sẽ riêng tặng 2 em Dzục và Hóa.
 
Dứt câu thầy nhìn 2 đứa bé, mỉm cười:
 
- Được không hai em?
 
Lũ học trò nhao nhao đáp thay:
 
- Dạ được!
 
- Hoan nghinh thầy!
 
Thầy cúi xuống nói nhỏ:
 
- Bắt đầu nhé!
 
Giọng trầm ngâm của thầy nổi lên chơi vơi giữa cái không khí lắng đọng của lớp học. Lũ học trò thao láo mắt nhìn thầy giáo đăm đăm, chúng cơ hổ vểnh cả tai, cố thu hút tất cả những lời đọc của thầy vào tai, ghi sâu vào tâm não. Qua khung cửa gỗ mọt gặm nghèo nàn của lớp học, bầu trời mùa thu xam xám, dăm cây ngâu ủ rũ trơ cành. Dzục nhìn chúng, thằng bé tưởng tượng chúng đang nghe lời thầy giáo kể chuyện. Gió thu lành lạnh. Lớp học sao im lặng thế!
 
Tiếng thầy trầm trầm êm dịu quá! Nó êm ái như tiếng mẹ hiền ru con ngủ, như tiếng sáo diều êm ả trong không gian. Thời gian bò chậm chạp, cơ hồ chiếc xe bò khấp khểnh trên đường làng...
 
"Đó là những ngày đẫm máu của tôi và các đồng chí trong xứ kiến. Mỗi một buổi sớm, chúng tôi trông ra trước mặt, ngó ra sau lưng, lại thấy man mác những thành, những lũy mà bọn kiến lửa, kiến gió đắp để bổ vây chúng tôi." (1)
 
Câu chuyện hấp dẫn quá, nó thu hút tâm thần của lũ học trò. Chúng nó ngẩn người ra cơ hồ những tượng đá. Câu chuyện đang đến hồi gay cấn. Bọn dế mèn và bọn châu chấu voi đồng minh đang ở trong vòng vây của bọn kiến lửa... Dzục chống hai tay lên cằm. Nó nhìn thầy giáo, thầy hiền từ quá! Tự nhiên nó thấy thương thầy vô hạn. Không gian yên lặng triền miên. Một tiếng hò của ai văng vẳng từ bờ ruộng lúa vọng vào ; lòng Dzục nao nao...
 
- "Trong những ngày còn lưu lạc ở quê hương, tôi chép lại tập chuyện này. Giờ đương là mùa thu. Mùa thu, hoa cúc nở vàng lưng giậu, lối mòn đầy lá rơi. Từ hôm vào mùa mới, có mưa phùn luôn luôn. Cảnh buồn mà lòng ngơi lo lắng.
 
Thưa cùng bạn đọc rất yêu quý. Mèn tôi xin phép chấm dứt thiên truyện, ước ao rằng sẽ có dịp, chúng ta gặp nhau nhiều nữa".
 
Thầy xếp sách lại, ngẩng lên, sửa lại cặp kính. Lũ học trò ngơ ngẩn bàng hoàng như vừa lọt vào 1 giấc mộng. Chúng xuýt xoa, nhiều đứa chắc lưỡi tiếc rẻ.
 
Truyện "Dế mèn phiêu lưu ký mau hết quá, chấm dứt cũng đột ngột quá, nhiều đứa kêu lên:
 
- Thưa thầy còn truyện nào kế không ạ?
 
- Giá thầy đọc chậm hơn, lâu hết!
 
Thầy Du khẽ mỉm cười, trả lời chúng:
 
- Ông Tô Hoài về sau chẳng thấy viết cuốn dế mèn nào kế tiếp cả. Thế nào, hay không mấy em??
 
Bọn học trò lại 1 phen nhao nhao:
 
- Hay quá thầy ơi!
 
- Ông Tô Hoài tả cứ như ông là con dế ấy!
 
Một vài đứa ngây thơ hỏi thầy:
 
- Tô Hoài ở đâu hở thầy?
 
Thầy Du rời khỏi chỗ, bước xuống, đi đi lại lại giữa hai dãy bàn:
 
- Ông ấy hiện ở ngoài Bắc em ạ. Không biết còn sống hay chết!
 
Ngừng một lát, thầy ngẩng lên hỏi cả lớp:
 
- Các em biết ông Tô Hoài đã tả loài vật sống động như người là nhờ gì không?
 
Thằng Hóa giơ tay:
 
- Dạ, nhờ ông ấy biết nhìn sâu sắc và nhận xét tinh tế. Ông ấy đã nhân cách hóa loài vật như người!
 

Thầy gật đầu:
 
- Giỏi. Trò biết như thế là tốt lắm. Sở dĩ ông ấy tả hay vì ông ấy đã nhận xét rõ từng khía cạnh đặc biệt của mỗi loài vật. Các em hiểu không?
 
- Dạ hiểu!
 
- Thưa hiểu rồi!
 
Thầy nhìn qua cửa sổ. Mặt trời lên tới đỉnh đầu. Trời đã trưa. Thầy ra lệnh cho tan học. Bọn học trò lục đục ôm cặp, ôm vở nối đuôi nhau chui ra khỏi lớp...
 
_________________________
Xem tiếp PHẦN V
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 55, ra ngày 15-10-1966)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>