Thứ Năm, 7 tháng 5, 2026

Nghệ Thuật Hiểu Nhạc


Tại sao đối với ta bản nhạc này hay, bản khác lại dở. Ma lực nào khiến khúc nhạc hay làm ta say mê khi nghe, trong lúc khúc nhạc nọ làm ta mau chán thêm. Tại sao nhạc của một nhạc sĩ trứ danh, từ hàng thế kỷ trước, luôn luôn vang lên một âm điệu mới lạ bên tai ta, trong khi nhạc của một nhạc sĩ tầm thường, ngay trong thời đại chúng ta dường như hoàn toàn vô vị, cũ kỹ như được xào đi xào lại, dù ta mới nghe lần đầu.
 
Ta nên tin chắc rằng câu hỏi trên có sẵn lời đáp hiển nhiên và giản dị: "Nhạc nào tôi thích là nó hay, tôi không thích thì nó vô giá trị". Nhưng không phải vậy. Nhận định bằng một tiêu chuẩn non nớt, kém suy luận đó quả dễ lắm. Thật vậy, ta nên nhớ thời đại nào, các nhạc sĩ xuất chúng thường bị kẻ đồng thời quên lãng vì tác phẩm của họ không ai thích. Vậy phải cần một yếu tố khác để ta hiểu thế nào là một bản nhạc hay và tại sao. Muốn thưởng thức nhạc đúng cách, điều kiện trước tiên là tập trung hết tâm trí vào đấy. Ta hãy tập xét đoán ngõ hầu hiểu rõ thêm.
 
Biết nghe
 
Ngôn ngữ của loài người gồm nguyên âm và phụ âm. Ngôn ngữ của âm nhạc được tạo ra từ âm thanh và tiết điệu. Tiếng ngân chạm vào thính giác một cách dễ chịu ít hay nhiều, nên tai là một yếu tố quan trọng để đo lường giá trị. Tai là cửa ngõ để âm nhạc đến bên ta. Ai có "tai biết nghe âm nhạc" là được bẩm phú rất quí. Kẻ ít được ân huệ về phương diện đó sẽ gặp khó khăn lúc ban đầu nhưng như thế không có nghĩa họ bị cấm chỉ hưởng cái thú của âm nhạc. Chỉ cần chút thiện ý mà thôi vì tai có thể luyện tập được. Trước hết ta kiên nhẫn và chăm chú nghe thật nhiều nhạc. Phương pháp hay nhất là nghe nhiều lần một bản vừa tìm cách nắm giữ trong trí các nốt nhạc của giai điệu chính. Tiếng hát trở nên tối cần lúc này. Quả vậy, một điệu nhạc với lời lẽ nghĩa lý rõ rệt, sẽ dễ nhận ra hơn, như một bài hát hoặc điệu ca trên sân khấu.
 
Và từ thanh nhạc ta chuyển sang phần khí nhạc bằng cách chọn những tác giả có nhạc pháp dễ hiểu như Haydn, Bach, Mozart, Schubert rồi từ từ đến Beethoven, Chopin, Schumann, Brahms. Hãy chú ý lắng nghe, cố tìm xem nơi nào nhạc chỉ được lập lại, thấu đáo các âm điệu khác nhau, phân biệt âm sắc của những nhạc khí: đó là cách tập luyện hữu hiệu nhất nếu ta muốn tạo cho tai ta biết nghe âm nhạc.
 
Biết các thể nhạc
 
Tai đón nhận âm thanh (âm điệu và hòa điệu) âm tiết âm sắc, kế đó ta chuẩn bị phần kỹ thuật để nhận thức được những gì ta nghe ; chính cuộc dự bị đó cho ta đủ tư cách phân tích những cái đã nghe, vì chúng ta ai ai cũng có óc phê phán. Ý nghĩ nảy nở trong đầu óc một người soạn nhạc sẽ không nghĩa lý gì đối với ông nếu nó không được đem ra thực hành một cách cụ thể, nếu nó không mang một thể thức rõ rệt. Âm nhạc thành hình từ một kỹ thuật, tùy theo cái hay hoặc dở của nó mà kỹ thuật đó đưa ra kết quả tương xứng.
 
Làm sao thu thập một số kiến thức tối thiểu cần thiết để phân tích được một kỹ thuật và biết kỹ thuật đó giá trị hay không? Ta không cần phải tốt nghiệp từ trường Quốc gia âm nhạc, ta sẽ tiến bộ trông thấy nếu nhất thiết tuân theo một vài qui tắc. Trước tiên ta phải biết nhận ra những thể nhạc, đó là những chiếc khuôn chính yếu của các tác phẩm nghệ thuật.
 
Một khi bản lược đồ các thể nhạc được vạch rõ như cầm khúc (sonate), thể nhạc phách (menuet), một thể nhạc vui (rondean), ta có thể nghe nhạc và theo dõi chăm chỉ. Nếu sau đó ta chọn nghe những thể nhạc đó sáng tác bởi nhiều nhạc sĩ khác nhau ta sẽ nhận thấy mỗi cá nhân có một cách hoàn toàn khác biệt để soạn bản nhạc.
 
Một lần nữa tốt hơn hết ta lại chọn những tác phẩm của các nhạc sĩ cổ điển (Mozart, Haydn, Bach), rồi tiến đến các nhạc sĩ lãng mạn nhưng có ý vị nhất (Beethoven, Brahms, Chopin) và từ từ đến các nhạc sĩ hiện đại (Debussy, Ravel, Stravinsky).
 
Sự học hỏi các thể nhạc đưa ta đến chỗ hiểu nhạc pháp. Mỗi thời đại có một phương pháp, liên quan tới sở thích và thời trang, với sự biến đổi và cải tiến không ngừng về kỹ thuật hòa âm và nhạc cụ.
 
Ta lấy ví dụ: nhạc pháp của một tác giả thế kỷ thứ XVIII êm đềm, có vẻ tao nhã khiêm tốn nhưng cũng hơi cầu kỳ nữa, như Mozart hay Haydn, trái lại nhạc pháp các tác giả thế kỷ XX, như với Stravinsky hay Bartok, nghe rắc rối hơn nhiều, lời nhạc sắc bén hơn nhiều.
 
Sự khác biệt đó phần nhiều xuất phát từ cá tính của người soạn nhạc nhưng cũng do vô số phương tiện kỹ thuật mà họ sử dụng. Hiểu biết tận tường cảnh vực và đặc tính của thời đại, tiểu sử và nhạc pháp của tác giả, biết cả cách cấu tạo bản nhạc ta nghe (cầm khúc hay sonate) hòa tấu khúc (symphonye), tẩu khúc (fugue) sẽ giúp ta rất nhiều trong việc định giá trị bản nhạc.
 
Nghe một cầm khúc (sonate) tức là theo dõi một hay nhiều luận đề chính thức, và sự tiến triển của luận đề trong một thời gian cấu tạo nhạc. Thưởng thức một hòa tấu khúc (symphonie) là theo dõi phần tiến triển và kết luận qua bốn biến điệu từ khúc nhạc cấp điệu mở đầu (allégro initial) đến chung khúc (allégro final). Ta phải tuyệt đối chú ý để nhận xét cố theo dõi tư tưởng của tác giả qua từng chi tiết nhỏ của bản nhạc.
  
Cho tâm hồn tham dự 
 
Một thính quan tốt, một cuộc chuẩn bị về kỹ thuật sẽ chẳng thấm vào đâu nếu điều kiện thứ ba, chẳng kém phần quan trọng, không được trọn vẹn. Ta thưởng thức nhạc không riêng gì cho vui tai hoặc tìm hiểu một cách tẻ nhạt, nhưng đúng hơn để đáp lại lời đòi hỏi trong lòng, thỏa mãn nhu cầu của tâm hồn. Có lúc ta không thể không vặn lên một đĩa nhạc, đó là những giây phút sung sướng nhất mà ta đang tiến gần đến các huyền bí của âm nhạc. Có sự khác biệt giữa sản phẩm của kỹ thuật và nghệ thuật. Kỹ thuật có thể nhắc đi nhắc lại mãi với một lô bản tương tợ và đồng giá trị như nhau. Còn nghệ thuật không bao giờ lập lại vì các đặc biệt của nó. Tại sao?
 
Vì trước hết một kiệt tác là sản phẩm của khối óc. Nó đòi hỏi những năng lực cao quí nhất của con người để diễn tả tình cảm và khát vọng thầm kín của họ. Vì thế người xưa khoác lên cho âm nhạc một nguồn gốc thần thánh.
 
Câu chuyện thần thoại của Orphée đã giải thoát cho Euridice khỏi tay thần chết bằng giọng ca êm ái, biểu hiệu rõ quan niệm thần bí về âm nhạc. Cái mà người ta gọi là "nguồn cảm hứng" không gì khác sự tham gia của nhân trí vào công việc soạn nhạc trên mảnh giấy trắng bằng kỹ thuật và vật chất. Đó là luồng hơi mang sức sống đến cho bức tượng đất sét, tuy có một hình thù nhưng chưa có sinh khí. Saint Saens có viết: "Trong nghệ thuật âm thanh, phải có một cái gì xuyên được qua tai và qua cả lý trí để vượt cao hơn nữa. Nhạc mà thiếu điều đó không phải là nhạc nữa".
 
Như thế, hiểu nhạc không phải chỉ lãnh hội được các âm thanh mà thôi, mà phải nhận thấy được thông điệp cao cả của nó. Nghe nhạc thường xuyên với tất cả lòng thiết tha, đó là con đường phải theo để làm giàu tâm hồn và để tâm hồn tham dự được vào vẻ đẹp tích lũy trong mỗi đoạn nhạc hay.
 
 
LÝ THU THỦY        
phỏng dịch Tout l' Univers  
số 215 năm 1965  
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 127, ra ngày 15-4-1970)
 

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

Danh Ngôn số 200


Nhờ biết cười mà thế giới tiến bộ

R. TAGORE.
 

Kẻ nghèo khổ thỉnh thoảng được vui cười, cũng như tiết đông giá thỉnh thoảng được mặt trời soi sáng.

A. DAMAS.

 
Đứa dại dột không bao giờ biết cười.
Bà DE GIRARDIN.
 
Trong tất cả mọi ngày, ngày "vô tích sự" nhất là ngày mà ta không cười.
CHAMFORT.
 
Thấy miệng cười mà mắt không cười, chớ có tin.
A. D' HOUDETOT.
 
Những kẻ không bao giờ cười, không phải là người trang nghiêm.
A. ALLAIS.
 
Các cô hiện diện ở mặt đất để chứng tỏ với các cậu rằng Thượng đế cũng có... óc khôi hài!
 
(Theo N. FLECKENSTEIN)
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 200, ra ngày 1-5-1973) 
 

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2026

Vòng Quay Bao Năm Tháng


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Chiều nay qua chốn cũ
Chiều đổ xuống ngàn cây
Búp lá non vừa nhú
Ngang trời mây vẫn bay

Sân trường sao lạnh vắng
Rền rĩ tiếng ve kêu
Lũ chim gù trong nắng
Bằng lăng tím lối rêu

Đây trường cũ lớp xưa
Nghiêng nghiêng khóm lá dừa
Song cửa đầy kỷ niệm
Cả một thời nên thơ

Bạn bè yêu dấu hỡi
Dĩ vãng đã chìm sâu
Gót chân mòn đá sỏi
Giòng đời cuốn về đâu

Chiều trên sân trường vắng
Bao cánh phượng  rơi rơi
Vẫn màu hoa sắc thắm
Nghe lòng sao chơi vơi

Vòng quay bao năm tháng
Sao chẳng ngưng một lần
Xưa một thời áo trắng 
Giờ giọt lệ rưng rưng...

                             Thơ Thơ 
                     (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2026

Xẩm Lai


 - Ê! Xẩm Lai! Xẩm lai!
 
Lũ trẻ thay phiên nhau réo gọi mỗi khi Phương đi qua. Phương ôm cặp chạy vội về nhà khóc nức nở, mẹ Phương ôm con vào lòng rươm rướm nước mắt, Phương tức tưởi nói qua tiếng khóc:
 
- Mẹ, sao con là xẩm lai hả mẹ? Sao mẹ không sanh con là Việt Nam có họ Lê như mẹ? Sao mẹ là người Việt mà con là xẩm?
 
Mẹ Phương chỉ biết thở dài nhìn con khổ sở vì những lời trêu chọc của lũ trẻ cùng xóm.
 
Thật ra tên Phương chả Tàu tí nào, nhưng nếu xem đến giấy tờ thì có lẽ Ủy viên hộ tịch sẽ sắp khai sanh của Phương vào danh sách của những người Minh Hương vì cái họ sực nức tiếng Tàu: Lâm Quế Phương - và cũng vì cái họ như thế mà Phương khổ tâm không ít.
 
Trong xóm không ai chơi với Phương cả, vì chúng đã từng đọc vanh vách những bài sử Việt oai hùng nói về công cuộc đánh đuổi xâm lăng Trung Hoa. Phương thường nhìn lũ trẻ chơi bán hàng với đôi mắt thèm thuồng, buồn bã, vì Phương thừa hiểu rằng nếu Phương mon men đến gần, lũ trẻ sẽ nói với nhau những câu tương tự như:
 
- Nó là Tàu lai đó mày.
 
- Ừa, nó là Mã Viện mày hé?
 
- Ừa, đúng! Ê! Mã Viện "dìa" Tàu đi mày.
 
Thế là Phương chạy về nhà sà vào lòng mẹ nức nở và hỏi những câu đầy vẻ oán trách, những lần như thế mẹ Phương chỉ vuốt tóc con chứ không nói được lời nào vì bà cũng đang dằn sự xúc động, chính Phương đã gợi cho bà một quá khứ xa xưa với người chồng bà tôn kính mến yêu mà giờ đây bà đã dồn hết lòng yêu thương ấy về Phương - đứa con gái độc nhất của bà.
 
Phương được bà cho học Việt ngữ và Phương học rất khá về môn Việt Sử, Phương thường tức giận vì sự xâm lăng đô hộ của quân Tàu. Vì thế khi cô gọi lên đọc bài là y như Phương bị hai thước kẻ vào tay vì mỗi một lỗi: các danh từ riêng không viết hoa. Và lần nào cũng như lần nào các chữ ấy đều mang tên của những tướng Tàu đã đem quân xâm chiếm nước Việt.
 
Bây giờ Phương không còn bé bỏng nữa, với tuổi mười lăm Phương đang đi học ở một trường Trung học công lập. Phương đã hiểu biết về lịch sử nước Việt, Phương đã vui những cái vui của dân Việt. Ôi! Những trang lịch sử của một dân tộc bất khuất với những liệt nữ như bà Trưng, bà Triệu ; những anh hùng như Hưng Đạo, Ngô Quyền, Nguyễn Huệ... đã góp công vào việc giải phóng đất nước, tất cả những vị ấy đã ghi vào lòng Phương một sự kính mến, quí phục. Phương đã đọc qua những bài địa lý Việt Nam, với nước Việt bé bé, xinh xinh hình chữ S, có những dãy núi hoành tráng, những bình nguyên mầu mỡ, những con sông hiền hòa và Phương không quên rằng mảnh đất này đã tạo nên những hột cơm nuôi Phương từ khi dứt sữa mẹ. Phương đã học qua văn học Việt Nam có những câu hò đượm tình quê hương dân tộc, những câu ca dao ví von gợi cảm. Phương đã làm những vần thơ ca ngợi quê mẹ, những bài luận nói về quê hương Việt Nam thân yêu này. Tất cả những điều trên cũng không cho phép Phương làm một người Việt Nam thuần túy, mặc dù ngày ngày cắp sách đến trường với áo dài trắng thướt tha, với mái tóc óng ả, đôi mắt to tròn đen láy và đôi má bầu bĩnh dễ thương. Bề ngoài Phương đã là một thiếu nữ Việt Nam hoàn toàn, nhưng Phương vẫn biết suy tư về cuộc sống, về cái mỉa mai trong câu nói mà thỉnh thoảng Phương nghe các bạn thì thầm với nhau về mình, cái mặc cảm xẩm lai kia xâu xé tâm hồn Phương không ít!
 
Rồi một hôm Phương ôm cặp vào lớp, khi đi qua hai dãy bàn trên, Phương đã nghe các bạn nói về mình mà trong đó có một câu làm cho Phương tủi hổ và nhục nhã:
 
- Nó kìa, đừng nói nữa, thứ xẩm lai ấy ngu lắm mà thính tai nữa.
 
Và một trận cãi vã giữa Phương và các bạn ở đấy nổi lên.
 
Trưa về, Phương lầm lũi bước đi, nước mắt chảy dài, Phương nghĩ đến cuộc gây gổ mà oán trách các bạn quá độc ác, mà oán trách ba Phương đã là người Tàu để Phương phải khổ. Đến nhà Phương ôm mặt khóc, mẹ Phương đã đoán biết chuyện gì xảy ra, bao giờ cũng với khuôn mặt hiền từ và chịu đựng bà ngồi xuống bên Phương. Phương ngẩng lên nhìn bà, nước mắt đầm đìa:
 
- Mẹ! Con tủi thân quá! Mẹ hãy nói cho con biết ba con là ai, người là gì mà sanh con ra rồi trốn tránh để bây giờ con phải chịu nhục nhã vì cái dòng máu của người bỏ rơi... Mẹ! Con oán hận ba con...! Hu hu...!
 
Mẹ Phương lau nước mắt cho con. Bà dịu dàng nói:
 
- Con! Con hãy nín khóc mà nghe mẹ nói, con không nên oán hận ba con, vì không phải người trốn tránh trách nhiệm với con mà tại vì...
 
- Mẹ, tại vì sao hả mẹ?
 
- Ba con tuy là người Tàu nhưng nói rất rành tiếng Việt, người có theo đuổi một cuộc cách mạng giành độc lập ở bên Trung Hoa, bị bắt và bị tù đầy, nhưng ba con vượt ngục trốn sang đây và gặp mẹ. Lúc đó nước ta đang bị Pháp Nhật tranh chấp. Ba con tình nguyện vào đoàn Thanh niên Tiền Phong chống lại bọn thực dân bằng những vũ khí thô sơ, nên thường có các cảnh lùng bắt các thanh niên theo cách mạng diễn ra. Rồi một hôm...
 
Bầu trời đêm trong, cao vút. Các vì sao lấp lánh như muôn ngàn viên kim cương đính trên tấm nhung đen. Vầng trăng sắp lặn để lại những ánh sáng lờ mờ huyền hoặc. Từng cơn gió lạnh nhè nhẹ thổi... xa xa có những tiếng súng tuần tiễu nổi lên rải rác. Bấy giờ, dưới ruộng lúa nếu ta nhìn kỹ sẽ thấy hai đầu người, một đội kết, một đẩu trần đang lô nhô tiến về hướng đường nhựa. Một trong hai người lên tiếng:
 
- Bao giờ thì tôi gặp lại anh?
 
- Lối năm giờ sáng ở ngôi miễu cuối làng này, đến đường lớn rồi kìa chú.
 
- Được, để tôi xem động tĩnh ra sao.
 
Người để đầu trần bò sát mí ruộng nhìn hai bên đường, nhưng chợt thụt lại vì một loạt đạn nổ ròn ở đầu đường.
 
- Nằm xuống chú! Có xe tuần tiễu.
 
Hai người nằm yên, một ý nghĩ thoáng qua người đội kết: "gần gặp vợ con rồi mà chết thì vô lý quá nhỉ?" rồi ông liên tưởng đến vợ ông, người vợ hiền lành đảm đang có lẽ buồn tủi lắm. Vì vắng ông trong ngày sinh nở và con ông... ờ, con ông không biết gái hay trai, ra đời đã tròn một tháng mà ông chưa biết mặt. Tiếng súng càng lúc càng gần, cắt đứt dòng tư tưởng của ông. Trên đường, một chiếc xe tuần tiễu chở bốn người lính Pháp đang nã súng vào hai bên bờ ruộng. hai người nghe rõ từng viên đạn bay veo véo trên đầu. Rồi xe chạy qua chỗ hai người nấp, họ thở phào nhẹ nhõm. Chờ tiếng súng nhỏ dần, người đầu trần quan sát hai bên đầu đường rồi chạy vụt qua, người đội kết cũng chạy sang bên kia đường và hụp xuống đám ruộng và ông nhô lên nhìn căn nhà ở cuối mẫu ruộng nằm im lìm trong bóng tối. Cúi xuống ông nói nhỏ với người kia:
 
- Thôi chào chú! Hẹn năm giờ sáng nhớ chớ?
 
- Vâng, chúc anh gặp vợ con vui vẻ.
 
- Cám ơn chú.
 
Khi còn cách nhà độ mười thước, ông đứng lên chạy vụt vào hành lang, nhưng... một loạt đạn nổ, ông xoay mình đau đớn rồi ngã gục trước thềm. Người lính Tây thản nhiên bỏ đi. Cửa mở, người đàn bà bước ra đến cạnh người bị đạn:
 
- Trời ơi! Mình!
 
- Anh đây... Mình rán nuôi con của chúng ta... Khi con lớn, mình nhớ dạy nó biết sự nhục nhã của người dân mất... tự do... vĩnh biệt...
 
Người đàn bà gục xuống khóc ngất.
 
*
 
Mắt mẹ Phương rươm rướm lệ:
 
- Đấy, con thấy ba con là một người đã chiến đấu giành tự do, đã chết vì tự do đó. Con! Con đã hiểu mẹ muốn nói gì rồi chứ?
 
- Vâng, thưa mẹ con hiểu, ba con cao cả quá! Vậy mà con... 
 
Ba ơi xin ba tha tội cho đứa con bất hiếu này. Ba đã chiến đấu giành độc lập cho dân Trung Hoa. Ba đã chiến đấu giành tự do cho nước Việt Nam nhỏ bé này.
 
Ba đáng được coi là vị anh hùng! Phải, anh hùng vô danh, bây giờ con mới cảm thấy hối hận vì những lời con oán trách ba. Chắc ba sẵn sàng tha tội cho con gái ba rồi phải không? Rồi đây ba sẽ hài lòng vì con ba đã ý thức được sự tự do, một thứ quyền mà nhân loại không thể không có được... Bây giờ thì con hình dung lờ mờ được ba rồi đó: ba với nước da rám nắng, mặt ba nghiêm nghị nhưng lòng ba rộng lượng. Và ba yêu con. Ba đã hy sinh cuộc đời ba để về thăm con. Ôi! Ba của con, một chiến sĩ vô danh!...
 
*
 
Cửa mở, Ngọc bước vào đến bên Phương, cầm tay bạn:
 
- Xin lỗi Phương nhé! Ngọc quả là một người bạn xấu, đã dùng những lời không đẹp với Phương. Ngọc hứa sẽ sửa đổi tính mình để được Phương xem như một người bạn thân.
 
Phương nhìn Ngọc mỉm cười, nước mắt còn đầm đìa, hai người bạn xiết chặt tay nhau...
 
Ngoài kia ánh nắng vàng nhẩy múa dưới những gốc cây bờ dậu như để cầu chúc cho đôi bạn sớm hiểu nhau.
 
 
Thúy Ái      
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 128, ra ngày 1-5-1970)
 

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

Lối Cũ


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Một thoáng trôi về trong dáng xưa
Trên lối xa kia thoảng mịt mờ
Từng giọt mưa đem lời tưởng nhớ
Từng cọng nắng vàng gợi ước mơ.

Em gọi mây về trong đôi tay
Những phiến mây xa trả những ngày
Những ngày xưa cũ em gom góp
Kết từng thơ dại trong đôi tay.

Em thấy mây buồn nên xa xăm
Ngày tháng vu vơ chợt lại gần
Áo trắng tung bay trời lộng gió
Lá me rụng đầy nên bâng khuâng!

Ngày đó hoa cười trên bước chân
Trống đổ vang vang những sáng hồng
Thắt bím tóc dài em đi học
Mẹ còn tựa cửa ngước mắt trông.

Ngày đó mây trời xanh rất xanh
Những sớm tinh mơ nắng lại gần
Chào mừng cô bé tròn thêm tuổi
Réo rắt ngọc ngà theo bước chân.

Ngày đó yên vui bỗng đậm đà
Hoa buồn trong lá thoảng qua mau
Lối cũ em về trên quê Mẹ
Nắng ấm còn reo, vẫn đẹp màu.

Ngày đó đi hoài mãi ra khơi
Theo bóng thời gian, chẳng bồi hồi
Bao lần xuân đến nào ai biết
Vẫn lời chúc tụng trên đôi môi.

Để chợt mơ về trong dáng xưa
Một sáng mây trôi trả lại ngày
Những mùa xưa đã xa tay với
Nên lối cũ còn theo bóng mây!

                               PHONG HẰNG
                             (Bút nhóm hoa nắng)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 176, ra ngày 1-5-1972)
 

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Như Cánh Chim Hòa Bình


Thầy giáo Việt văn đưa đôi mắt sáng như hai hạt kim cương nhìn chăm chú vào quyển sổ khuyên điểm. Ánh mắt thầy lướt qua một lượt từ trên xuống dưới như một ánh kiếm bằng thép nước. Tim tôi đập thình thịch liên hồi. Có những đôi mắt thật sáng, thật trong ngước nhìn lên chờ đợi. Có những nụ cười hé nở để lộ hai hàm răng trắng nõn như những hạt bắp nếp giữa cặp môi son hồng mấp máy. Riêng tôi, một nỗi sợ sệt lo âu đang dâng tràn lên khắp trí não. Hai chân, hai tay tôi run rẩy như một người vừa nhảy từ dưới nước lên đứng trước làn gió rét mướt của mùa đông ảm đạm. Chưa lần nào tôi run sợ trước ánh mắt lạnh lùng của thầy như hôm nay. Một luồng cảm giác tê cóng chạy dọc theo đường sống lưng. Tôi có cảm tưởng thật kỳ lạ và vô lễ. Thầy là một vị tử thần đang gọi tên những kẻ đi vào cõi chết. Bỗng nhiên ánh mắt thầy dừng lại như bị một sức thu hút nào thôi miên. Đôi môi thầy hé mở, một giọng nói thật sắc, rời rạc vang lên như một lệnh truyền:
 
- Nguyễn Ngọc Hoàng Nga.
 
Tôi giật mình sung sướng như một kẻ vừa thoát khỏi cơn hoạn nạn. Hoàng Nga thong thả rời chỗ ngồi, chậm rãi bước lên bàn thầy giáo, đầy vẻ bình tĩnh và tự tin. Cô bé ngoan ngoãn đứng vòng tay trước mặt thầy giáo sau khi mở quyển vở Việt văn đặt lên bàn. Miệng cô bé mấp máy, đọc liên hồi không dứt. Những âm thanh nhỏ bé không đủ sức vang xuống đám học trò ngồi ở cuối lớp. Thầy cầm cây bút đỏ, trịnh trọng ghi vào vở của Hoàng Nga. Tôi đoán có lẽ đó là những lời ngợi khen cho một cô bé học trò chăm chỉ. Thầy đưa vở lại, cô bé đón lấy bằng hai tay một cách kính cẩn rồi cúi chào trước khi trở về chỗ ngồi. Thầy gọi tên một trò khác. Lần này đến phiên một đứa học trò con trai: Trần Ngọc Lâm. Nó ngồi ở bàn đầu, vội vã chạy lên, đọc một mạch, thầy phê vào vở, rồi nó hí hửng chạy xuống. Cứ thế lần lượt, một đứa học trò con gái rồi đến một đứa học trò con trai. Mỗi khi thầy sắp gọi tên một đứa học trò con trai là trống ngực tôi lại đánh liên hồi. Nhất là lúc ngòi bút của thầy đưa qua đưa lại nơi cuối sổ, chỗ có tên tôi, là tim tôi như muốn nhảy tung ra khỏi lồng ngực...
 
Hôm nay là lần đầu tiên tôi đi học trở lại, sau hai tháng vắng mặt ở lớp. Từ ngày cha tôi bị tử trận ở Pleiku, cuộc sống của mẹ con tôi càng thêm vất vả. Tuy vậy, mẹ con tôi vẫn đùm bọc lẫn nhau, kéo lê cuộc sống lầm than nghèo khổ. Từ tờ mờ sáng, mẹ tôi đã thức dậy thật sớm. Sau khi ăn qua loa mấy hạt cơm nguội còn thừa từ tối hôm qua, mẹ tôi vội vã vào xóm đếm những bó rau muống còn ướt sũng sương đêm của người ta gánh ra chợ bán để kiếm lời độ nhật. Ở nhà tôi làm những việc lặt vặt như kiếm củi, nấu cơm, nấu nước, quét dọn nhà cửa, xay bột để trưa về, mẹ nấu chè xôi nước, chiều đem bán rong trong xóm. Khi mẹ sắp sửa đặt gánh hàng lên vai, thì tôi cắp sách đến trường sau khi đã ăn xong một chén chè xôi nước tráng miệng.
 
Cách đây chừng hai tháng, một tai họa khác lại đến cho gia đình tôi. Một buổi sáng mùa thu, trời hơi lành lạnh, sương mù giăng đầy trên những khóm tre xanh trước nhà. Sau khi bước ra khỏi cửa một lúc lâu, mẹ tôi chợt quay trở lại và bảo tôi đưa cho mẹ chiếc áo len màu xám tro, một kỷ vật của ba tôi tặng mẹ tôi từ khi hai người mới cưới nhau. Chiếc áo đã cũ và ngả sang màu xám bạc nhưng mẹ tôi yêu quý nó vô cùng.
 
Ít khi mẹ mặc, chỉ những hôm trời thật lạnh mẹ mới dùng đến. Và mỗi lần khoác áo vào, mẹ thường nói với tôi: "Mỗi lần cầm đến chiếc áo, là mẹ nhớ ba con quá". Khi cha tôi còn sống, mỗi lần nói xong câu ấy là mẹ thường chắc lưỡi thêm: "Không biết giờ này ba con đang làm gì, ở đâu? Tội nghiệp quá! Chiến tranh chi mà cực khổ thế này?". Từ ngày cha tôi mất đi, mẹ tôi thay câu nói ấy bằng những hạt nước mắt đọng lại nơi khóe mi. Tôi cũng thấy lòng mình xao động và một nỗi buồn man mác len sâu trong từng mạch máu. Buổi sáng hôm ấy, mẹ tôi không hề đánh rơi một giọt nước mắt nào, tôi thấy hình như mẹ tôi có vẻ lưỡng lự khi cầm chiếc áo trên tay. Tôi không hiểu tại sao và tôi cũng không muốn hỏi mẹ làm gì, sợ khơi lại những nỗi buồn dấy lên từ trong tâm khảm. Mẹ tôi vội vã bước ra khỏi cửa và vói dặn một câu hơi khác thường:
 
- Ở nhà rán học nghen con. Có lẽ trưa nay mẹ về hơi trễ đó. Con cứ ăn cơm trước rồi để phần cho mẹ. Nếu mẹ chưa về thì cứ khóa cửa lại rồi đi học, đem chìa khóa qua gởi bà nội. 
 
Tôi dạ một tiếng rồi lặng thinh nhìn theo chiếc bóng xương xẩu nhỏ bé của mẹ như một cành cây khô biết chuyển động. Tự dưng tôi cảm thấy có một cái gì buồn bã khác thường. Tôi muốn gọi mẹ tôi trở lại, nghỉ bán hôm nay, ở nhà với tôi. Nhưng đó chẳng qua là một ý nghĩ chợt hiện đến trong trí não mình, chớ đời nào tôi dám thực hiện. Tôi hiểu hơn ai hết: Mẹ tôi nghỉ bán một ngày là mẹ con tôi phải nhịn đói một ngày. Điều đó, dĩ nhiên dù yêu thương tôi cách mấy mẹ tôi cũng không thể chiều chuộng tôi một cách vô lối như thế được.
 
Mẹ tôi đi rồi, tôi ở nhà chờ đợi bằng sự lo âu bồn chồn. Hình như linh tính báo trước cho tôi biết một việc chẳng lành sẽ xảy đến cho mẹ tôi, và dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng sâu xa đến đời sống của tôi. Để đánh tan sự nghi ngờ ấy, tôi lấy tập ra học bài, làm bài. Tôi đang ngồi ê a bài Địa lý, thì một người bạn của mẹ tôi cùng bán hàng với mẹ tôi, hớt hải chạy về la lên: "Nam ơi! Nam, mẹ con trúng gió nằm ngoài chợ kìa". Tôi run lên như cầy sấy: "Trời ơi, có sao không dì Tư?" - "Trúng gió mà không sao? Nhưng nhờ có người biết cạo gió nên cũng đỡ bớt rồi. Má con kêu dì chạy về cho con hay. Nói nội coi chừng nhà giùm rồi con chạy ra với má con". Tôi dạ rồi nói: "Thôi dì Tư ra ngoài ấy trước đi. Con chạy qua nội con rồi con ra bây giờ. Mà má con nằm ở đâu hở dì Tư?" - "Sạp vải của bà Ba Long đó. Con biết chớ?" "Dạ biết". Tôi ba chân bốn cẳng chạy qua cho nội hay và đưa chìa khóa cho nội tôi. Tôi chạy một mạch ra chợ rồi đến thẳng sạp vải của bà Ba Long. Mẹ tôi đang nằm trên một chiếc sạp đóng bằng gỗ tạp sần sùi. Ánh mắt lờ đờ ngước nhìn đứa con yêu dấu như muốn trối trăn một điều gì. Không, tôi không tin rằng mẹ tôi sẽ chết, giống như tâm trạng của một đứa trẻ mồ côi trong một bài thơ của Xuân Tâm mà giáo sư Việt văn đã dạy cho tôi: "Độ nhỏ tôi không tin. Người thân yêu sẽ mất. Hôm ấy tôi sững sờ, và nghi ngờ trời đất". Mẹ tôi vẫn còn mặc chiếc áo len màu xám bạc. Gương mặt bà trở nên xanh tái, trông hốc hác hẳn đi. Mẹ tôi không nói một điều gì! Tôi ghé miệng sát bên tai mẹ tôi: "Con đưa mẹ về nhà nghe". Mẹ tôi khẽ gật đầu. Ánh mắt bà long lanh. Dì Tư phụ tôi dìu mẹ tôi ra khỏi chợ, dì đưa tay ngoắc một chiếc xích lô đạp. Trả giá xong, dì đỡ mẹ tôi lên xe, tôi bước lên sau. Chiếc xe bắt đầu chuyển bánh, dì Tư lẽo đẽo đi theo sau trông thật tội nghiệp. Tôi thấy thương dì quá. Chị em ruột với má tôi chưa chắc đã được như thế. Về đến nhà, tôi thấy nội tôi đứng đợi trước cửa. Nội bước vội ra, đỡ mẹ tôi, dìu vào giường nằm. Tôi rót đưa mẹ tôi một ly nước âm ấm, nội tôi mới nấu lúc nãy. Mẹ tôi chỉ hớp một miếng rồi trả ly nước lại cho tôi. Một lúc sau dì Tư bước vào hỏi tôi:
 
- Hôm nay con có đi học không?
 
- Dạ không.
 
Nội tôi thêm vào:
 
- Thôi, ở nhà một bữa đi con, coi chừng mẹ mày.
 
Nhưng mẹ tôi vẫy tôi lại, bà thì thầm bên tai tôi: "Mẹ không... sao đâu... Con cứ đi... học... đi". Tôi nói với mẹ:
 
- Mẹ yên tâm, đừng lo cho con. Con nghỉ học một bữa cũng không sao mà. 
 
Mẹ tôi không nài ép tôi nữa. Nghỉ học một hôm tôi cũng tiếc lắm nhưng biết làm sao bây giờ. Sức khỏe của mẹ vẫn quý hơn muôn vàn buổi học. Mất một buổi học, sau này tôi có thể tìm lại được, nhưng mất một người mẹ, làm sao tôi có thể tìm thấy một người mẹ thứ hai?
 
Nhưng Trời Phật vẫn không thương mẹ con tôi. Khuya hôm ấy, trong lúc tôi đang chập chờn trong giấc ngủ vì suốt đầu hôm tôi phải thức để trông chừng mẹ tôi, thì nội tôi hốt hoảng gọi tôi dậy. Tay chân mẹ tôi lạnh ngắt, hơi thở thoi thóp. Nội tôi đang lúi húi lấy dầu nóng xoa bóp khắp thân thể mẹ tôi. Nội bảo tôi qua gọi dì Tư sang rồi sai tôi xuống bếp quạt lò lửa để hơ cho mẹ. Không có cục than nào trong bếp, tôi phải chạy qua nhà dì Tư xin. Khi lò lửa bắt đầu đỏ, nội tôi dùng khăn hơ ấm rồi đắp lên người mẹ tôi. Dì Tư đỡ mẹ tôi nằm sấp xuống, dùng đồng bạc kim khí cào trên thân thể mẹ kêu rào rạo nhưng mẹ tôi vẫn nằm im mà không cảm thấy đau đớn gì. Tôi càng lo sợ hơn. Nội tôi và dì Tư đều chăm chú lo săn sóc cho mẹ tôi, không nói năng một lời nào. Một lát sau mẹ tôi ú ớ một tiếng thật to, rồi buông hơi thở cuối cùng. Nội tôi rươm rướm nước mắt. Gương mặt dì Tư thất sắc. Tôi òa lên khóc và réo gọi mẹ tôi trong nỗi tuyệt vọng. Mẹ tôi vẫn nằm bất động... Người đã chết rồi, mà trước khi chết mẹ tôi cũng chẳng trối trăn với tôi một điều gì cả. Tôi thấy cả một bầu trời sụp đổ trước mắt tôi. "Tôi thấy tôi mất mẹ. mất cả một bầu trời". Lời thơ của Xuân Tâm đối với tôi trở nên thấm thía vô cùng.
 
Sáng hôm sau, đám ma mẹ tôi cử hành một cách thật đơn giản. Chỉ có một người đội khăn tang và mặc đồ trắng đi sát chiếc hòm của mẹ là tôi. Nội tôi đi phía sau với dì Tư, và một vài người bạn láng giềng của mẹ tôi. Bốn người đàn ông trong xóm khiêng chiếc hòm bằng gỗ tạp đi thật vội vã, tôi phải chạy theo mới kịp. Chiếc khăn tang trắng của ba tôi chưa kịp gỡ xuống thì tôi đã quấn lên đầu một chiếc khăn tang thứ hai của mẹ. Tôi không còn khóc được nữa. Tôi chỉ biết im lặng và chấp nhận mọi nghịch cảnh khổ đau.
 
Và bắt đầu từ đó, tôi nghỉ học suốt hai tháng trời vì nội tôi đã già, không làm gì ra tiền để lo cho tôi ăn học. Căn nhà rách nát của mẹ tôi được đóng cửa chờ người đến mua. Tôi về sống với nội để bà cháu sớm hôm có nhau. Cách đây mấy hôm, căn nhà ấy đã có người mua nên tôi mới đi học trở lại được.
 
- Trần văn An.
 
Tôi mãi miên man trong những ý tưởng kéo lui về dĩ vãng. Bỗng nghe tiếng gọi của thầy giáo, tôi giật bắn người đứng lên như một kẻ bị điện giật. Tôi vội vã cầm cuốn tập lên bàn thầy. Giáo sư ngước nhìn tôi một cách kỳ lạ. Hình như trong mắt của thầy đã nói cùng tôi những lời trách móc: "Lâu nay em nghỉ học phải không?" Tôi đang chờ đợi những câu hỏi và những lời rầy la của thầy.
 
- Thuộc bài không?
 
Tôi do dự chưa dám trả lời.
 
- Sao em làm thinh? Tôi hỏi em thuộc bài không?
 
- Thưa thầy không.
 
Thầy có vẻ giận dữ, bảo tôi:
 
- Đưa tay ra. Năm thước.
 
Tôi đưa bàn tay trái ra trước mặt thầy nhưng chẳng hiểu sao thầy lại không đánh. Thầy cầm lấy quyển tập của tôi mở ra rồi hỏi:
 
- Tại sao em không thuộc bài?
 
- Thưa thầy em nghỉ học từ hai tháng nay. Em mới đi học lại hôm nay.
 
- Em có xin phép văn phòng không?
 
- Thưa thầy có.
 
- Ai xin phép cho em?
 
- Thưa thầy bà em.
 
- Ba em đâu sao không xin phép mà bà em xin phép?
 
- Thưa thầy ba em chết đã hai năm nay rồi.
 
- Còn má em?
 
- Má em mới mất cách đây hai tháng!
 
- Hiện giờ em ở với ai?
 
- Thưa thầy em ở với bà em.
 
Tôi thấy đôi mắt thầy nhuốm một vẻ buồn sâu xa.
 
Và tự nhiên hai ánh mắt tôi cũng cay cay, nước mắt bỗng ứa ra ở khóe mi.
 
- Emj có còn anh em gì không?
 
- Thưa thầy không!
 
Thầy chắc lưỡi và quay sang hướng khác. Ánh mắt thầy trở nên hiền từ và khoan dung làm sao. Gương mặt thầy như tràn ngập tình thương. Và tia nhìn của thầy như thầm bảo tôi: "Thầy rất thông cảm với hoàn cảnh của em" Giọng thầy trở nên cương quyết nhưng đầy ngọt ngào:
 
- Tuần sau, em phải chép bài đầy đủ nghe không? Nếu không thuộc bài tôi sẽ cho hai số không đó.
 
- Dạ.
 
Thầy đưa cuốn tập lại tôi. Nỗi buồn vẫn đậu trên hai ánh mắt và phảng phất trên gương mặt thầy. Tôi thấy từ đó tỏa ra một tình thương bao la dịu dàng như một thứ tình thương của một người cha đối với con, đầy bao dung và đại lượng.
 
Thầy xếp sổ lại, đứng lên cầm cục phấn trên tay, đi về phía bảng đen, bảo cả lớp:
 
- Các em lấy tập ra chép bài mới.
 
*
 
Suốt hai tháng nghỉ học, bài vở đối với tôi bây giờ trở thành một thế giới mênh mông và đầy bí mật. Tôi phải mượn tập của tụi bạn chép lại cho đầy đủ để kịp thi kỳ đệ nhất lục cá nguyệt. Từ hồi đi học đến giờ, tôi thuộc vào hạng học trò khá trong lớp. Tuy không đứng đầu lớp một cách thường xuyên nhưng vị thứ vẫn được xếp trên trung bình. Bây giờ phải học lại những bài vở bấy lâu bị thiếu sót, tôi vẫn không cảm thấy chán nản mà chỉ thấy lo âu. Tôi sợ năm nay mình sẽ không được lên lớp, nếu thế, chắc tôi sẽ buồn ghê lắm, mà ba mẹ tôi có lẽ cũng chẳng yên lòng nơi chín suối.
 
Tôi đang hý hoáy chép lại bài vở cũ thì bỗng nhiên dì Tư hối hả chạy vào, trên tay cầm một tờ nhật báo. Dì hỏi tôi bằng một giọng hết sức quan trọng:
 
- Nội con đâu rồi An?
 
- Dạ nội con mới đi đâu qua bên xóm đó.
 
- Thôi được rồi. Con đọc cái tin này coi. Dì Tư mới xem qua mà vẫn không hiểu có phải là ba con còn sống hay không? Người ta nói cái gì trao đổi tù binh, dì Tư cũng không hiểu nữa.
 
Tôi sửng sốt:
 
- Dì Tư nói sao? Ba con còn sống hả? Đâu?
 
Dì Tư cầm lấy tờ báo rồi chỉ cho tôi:
 
- Nè con đọc chỗ này nè. Có phải tên ba con không?
 
Tôi chụp lấy tờ báo, đọc nơi mục danh sách tù binh được thả về ngày...
 
- Dạ, Đúng rồi, tên ba con: Binh nhì Nguyễn văn Bình, sinh năm... tại Ba Xuyên. Đúng rồi. Chắc tên ba con chứ còn ai nữa. Nhưng...
 
- Nhưng... sao?
 
- Lẽ nào ba con còn sống. Người ta nói ba con chết rồi mà.
 
Dì Tư cũng tỏ vẻ nghi ngờ:
 
- Biết đâu. Ba con chỉ bị mất tích trong trận đánh ở Pleiku.
 
Tôi nhớ lại ngày má tôi nhận được bức điện tín nơi đơn vị ba tôi gởi về: "Binh nhì Nguyễn văn Bình đã đền nợ nước ngày...". Như thế là ba tôi đã chết rồi chứ còn gì nữa. Sao hôm nay, trong danh sách tù binh được trở về lại có tên ba tôi? Phải chăng ba tôi chỉ bị mất tích mà người ta tưởng lầm là ba tôi đã chết. Có lẽ nào đơn vị trưởng lại không biết binh sĩ của mình bị chết hay không? Vô lý quá. Không thể nào tin được. Chỉ là một hy vọng hão huyền mà thôi. Có lẽ là có một sự trùng tên chăng? Sao lại trùng cả họ, năm sinh và nơi sinh được? Thật khó lòng mà tin được là ba tôi hãy còn sống. Và sẽ trở về sum họp với gia đình, một gia đình thiếu vắng hình ảnh một người đàn bà mà ba tôi hằng yêu quí, đó là mẹ tôi. Nhưng dù sao tôi vẫn cứ bám lấy một sợi dây hy vọng mong manh.
 
Cuộc chiến tranh tàn khốc đã bắt đầu kết liễu từ ngày 28-1. Tôi nghe thấy nói rồi hòa bình sẽ đến cho dân tộc Việt Nam anh hùng. Một dân tộc đã từng chiến thắng quân Hán, quân Nguyên, quân Mãn Thanh, đã từng đánh đuổi thực dân ra khỏi lãnh thổ, một dân tộc đã từng vang danh trên năm châu bốn bể mà ngoại bang đã bao phen kinh hồn đảm vía...
 
Và ngày mai ba tôi sẽ trở về dù là trở về trong thân thể tàn tật mất mát. Bấy nhiêu cũng đủ an ủi tôi rồi. Và con sẽ được ba săn sóc thương yêu dạy dỗ phải không ba? Con sẽ lớn lên, học hỏi, thành tài, khai hóa dân hiền để cho quê hương này được bền vững và chiến tranh sẽ không còn có cơ hội tái diễn nữa phải không ba?
 
- Bác ơi, anh Bình còn sống nè bác.
 
Tiếng dì Tư kéo tôi trở về thực tế. Nội tôi từ ngoài cửa bước vào, sửng sốt:
 
- Mày nói gì vậy Tư?
 
- Anh Bình còn sống.
 
- Chuyện gì lạ vậy? Nó đâu?
 
- Anh ấy có tên trong danh sách tù binh. Mai mốt anh ấy sẽ về.
 
- Thiệt không?
 
- Dạ thiệt.
 
- Ai nói vậy?
 
- Dạ báo nói.
 
Nội tôi vẫn nghi ngờ:
 
- Báo nói mà làm sao tin được.
 
- Thiệt mà, có đăng tên tuổi đàng hoàng.
 
- Đâu?
 
Tôi đưa tờ báo cho nội tôi;
 
- Đây nè nội.
 
Nội tôi quay sang tôi:
 
- Thiệt không An?
 
- Dạ thiệt.
 
- Trời ơi!
 
Nội tôi òa lên khóc thật ngon lành. Hai tay nội nắm chặt lấy tờ báo, ý chừng như đang nắm lấy hình bóng đứa con trai của nội. Tôi thấy hai khóe mắt dì Tư sáng lên rồi rươm rướm nước mắt. Một bầu trời trong xanh hiện ra trước mắt tôi với muôn ngàn cánh chim bồ câu bay lượn. Ánh vàng sưởi ấm những chồi non xanh biếc và giữa một con đường đất nhỏ bé còn mùi thơm rạ ướt, hình dáng ba tôi hiện ra thật rõ ràng, với gương mặt hồng tươi rạng rỡ và ánh mắt chan chứa thương yêu. Bất giác tôi ôm chặt lấy nội và để cho dòng nước mắt mặc sức tuôn trào... Tôi nghe văng vẳng bên tai tôi một giọng nói ngọt ngào âu yếm: "Con! Mẹ con đâu rồi hở An?"
 
 
TRINH CHÍ         
 
(Trích từ bán nguyệt san Thằng Bờm số 24 (bộ mới), ra ngày 1-4-1973)
 

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Bệnh Ăn Vụng Trong Lớp


Mến tặng các cô bé Thiếu nhi
 
 
Nguyên nhân
 
Bịnh phát sinh bởi sự tiết tâm linh (thèm ăn), do "vi trùng" cóc, ổi, me, chùm ruột... Bịnh rất hay lây và thường có ở trường con gái, dân húi cua rất ít khi mắc phải.
 
 
Triệu chứng
 
Khi mắc bịnh, bịnh nhân thấy khó chịu trong người. Hàng triệu con kiến "xuống đường" treo biểu ngữ đòi ăn trong bao tử. Ruột non, ruột già cũng phụ hoa với những âm thanh "réo rắt. Miệng bịnh nhân lép nhép không ngừng và nuốt nước miếng ừng ực. Tay chân táy máy không yên. Đôi mắt bịnh nhân sáng như mắt mèo săn mồi ban đêm (quả không hổ danh "nữ thực như miu!"). Sau khi liếc ngó tứ phía, bịnh nhân từ từ cho tay vào hộc bàn chứa đủ "cao lương mỹ vị": me chua, xoài tượng, quít ngọt, đậu phọng, ô mai, chùm ruột... Ôi thôi! Không bút nào kể xiết. Dò xét một lần nữa thật kỹ càng (nghề của nàng mờ lỵ!) bịnh nhân nhanh tay cho thức ăn vào miệng. Triệu chứng cứ như thế tiếp tục tái diễn. Bịnh nhân cảm thấy ăn ngon miệng, sợ hãi nhưng thích thú trong việc ăn vụng.
 
 
Đề phòng
 
Bởi vì cái kết quả của việc ăn vụng trong lớp rất tai hại (bịnh nhân trở thành "đại lý hột vịt") cho nên chúng ta cần phải ngừa bịnh kỹ càng. Tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có một nhà bác học nào tìm được thuốc chủng ngừa bịnh ăn vụng. Mặc dù vậy chúng ta có thể ngừa bịnh bằng cách: ở nhà ăn cho no trước khi đi học. Vào lớp chẳng may có người mắc bịnh, ta phải vận dụng lý trí đánh đuổi mọi cám dỗ me chua, xoài tượng, Biện pháp hay nhất là viết 6 chữ "không nên ăn vụng trong lớp" to tướng, chắc các bạn sẽ khó bị "truyền nhiễm".
 
 
Trị bịnh
 
Phải nhờ giáo sư bổ cho một liều cảnh cáo. Nếu bịnh không thuyên giảm nên tặng "một cặp kiếng mát" hay "cho" vài điểm hạnh kiểm, chắc chắn sẽ công hiệu. Còn nếu vẫn vô hiệu quả, hết thuốc chữa!
 
 
KA BÌNH PHƯƠNG      
Sinh viên năm thứ 5       
trường thuốc Lê Ngọc Hân   
  
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 123, ra ngày 1-4-1974) 
 

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Lời Xin


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Xin giấc ngủ xanh hương từng kỷ niệm
bầy chim về hót bài hát thần tiên
em ngây thơ trên lối cỏ xanh mềm
đôi mắt ngọc bay bay từng ngọn tóc
 
Xin giấc ngủ em bé con hay khóc
môi dỗi hờn như ngày mới lên năm
hai bàn tay ôm vở sách thơm hương
em vẫn bé quanh đời hoa lá hát
 
Xin giấc  ngủ vỗ về lời bát ngát
bài ca dao ru chín trái mơ hồng
mẹ ru em xanh đôi mắt chờ mong
như thuyền nhỏ trôi theo dòng thơ ấu
 
Xin giấc ngủ êm đềm muôn cánh bướm
mùa cây xanh em bé hát bên nhà
hương trên đồi bông cỏ nở, bao la
có một tuổi chớm trên bờ tóc rối.
 
                                                  VI VU
                            tặng Hoa Trang và ngày sinh nhật
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 123, ra ngày 1-4-1974) 

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

Thương Kiến


Bé ngồi xổm, chống cằm nhìn những chú kiến mun bé tí ti đang lũ lượt nối đuôi nhau tạo thành một vệt đen ngoằn ngoèo ở trên tường. Dưới chân tường bé nhìn thấy hai chú kiến đang ì ạch khiêng nửa hạt gạo bò lần lên, bé thấy thương tụi nó ác! Giống như hôm bác Tám già gò lưng vác bao than: tội tội là!
 
Ờ mà sao ai cũng ghét kiến hết há? Con Linh, con Tường thấy kiến là dẫy nẩy lên! Anh Huy thì từ hôm bị kiến cắn lại càng thù kiến hơn! Rồi cả đến ngay chị Lan là người cưng bé nhất cũng ghét kiến. Hôm vừa rồi chị để đồ ăn ở garde manger mà không chịu... à... không chịu gì nhỉ? Để bé nhớ lại xem... à, theo tiếng của "người lớn" thì họ kêu là... "cách thủy" chi đó, nên kiến vào: chị Lan bị má la và...
 
Vậy là ở nhà này chỉ có bé và thằng Tí là hơi hơi ưa kiến thôi. Ba thì hổng kể, má cũng thôi! Mà thằng Tí mỗi lần có tiền bé lại phải "lót" cho nó độ 1 đồng nó mới chịu về phe bé, không thôi nó "xúc" bé ra liền hà...
 
- Hùùù! 
 
- Á! Làm người ta hết hồn à! Méc má à nghe!
 
- Thôi mà... em mới bắt được ba con ruồi bự nè: thưởng 1 đồng ăn "cà rem" đi!...
 
Ba con ruồi được lần lượt đặt vào ổ kiến, bé lại ngồi chồm hổm nhìn những chú kiến chạy lăng xăng, rồi mỗi chú cắn một chân con ruồi, chậm chạp đi lần đến lúc khuất sau góc nhà...
 
*
 
- Á nè chị Ái ơi! hu hu! Em hổng biết đâu: hu hu... đồ lũ kiến quỷ! Nè chị Ái: tụi nó "thui" con dế của em rồi nè hu hu...
 
Bé chạy vội xuống nhà: thằng Tí đang bù lu bù loa đứng cạnh cái hộp giấy bật tung nắp, chi chít những chấm đen di động. Ở góc hộp một chú dế nằm ngửaphơi cái bụng láng bóng...
 
- Đó! Em hổng biết đâu! Chị "thền" em đi: mấy con kiến của chị đó hu hu...
 
Bé lên giọng "người lớn":
 
- Ờ ờ, để khi nào Ái có tiền, Ái cho Tí 5 đồng mua con khác...
 
- Không, em hổng chịu đâu! Con dế này đá chì ác mà... Rồi Tí dậm chân, khóc lớn hơn nữa! Bé bỗng thấy tức lạ... Xí! Làm như người ta cần lắm sao? Cái mặt dễ ghét! Thấy người ta xuống nước... lại làm tàng!
 
- Ê ê! Con trai khóc cái mặt như cái bánh bèo!
 
Tí quay phắt lại, bậm môi rồi ... đưa tay quệt vội dòng nước mắt nhễ nhại trên mặt, nó hét lên:
 
- Được rồi há, để đó mà coi!...
 
Rồi Tí vụt chạy lên nhà cầm xuống cái bình xịt muỗi. Ái cuống lên:
 
- Á... Tí! Bộ Tí tính thiệt hả?!
 
Tí bĩu môi một cái rồi bắt đầu... Từng bầy kiến túa ra thành 1 đám lộn xộn, hoảng hốt.
 
Ái sợ quá hét lớn rồi nước mắt chạy quanh. Ba má, anh Huy và cả chị Lan nữa đều chạy vội xuống. Ba la Tí:
 
- Tí sao con ác dữ vậy? Chúng nó làm gì mà con...
 
Tí phụng phịu:
 
- Tụi nó... mà... tụi nó "thui" dế của con!
 
Ba trợn mắt lên làm bé hết hồn nín khóc ngay:
 
- Hả...! Dế hả? Ba đã cấm con mấy lần rồi?
 
Má lúc đó ôm bé vào lòng, vỗ về làm bé thích ghê á! Má còn bảo:
 
- Ái của mẹ ngoan quá: biết thương cả đến con vật bé teo này nữa! Thôi nín đi...
 
Rồi trong lời nói ngọt ngào của má, bé chỉ còn nghe loáng thoáng tiếng gắt của ba, tiếng thút thít của thằng Tí nhỏ dần... nhỏ dần... bé mơ thấy mình là Công Chúa sống giữa đám thần dân là những con vật bé li ti...
 
 
Lâm-Đức-Hiền       
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 88, ra ngày 1-4-1968)
 

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2026

Hình Như

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hình như trời đã vào hè
Nhưng chưa nghe thấy tiếng ve thì thầm
 
Hình như nắng đổ ngoài sân
Nên giàn mướp lá khô cong rã rời
 
Hình như những áng mây trời
Ung dung thong thả trò chơi trốn tìm
 
Để em thơ thẩn trước hiên
Ngắm bầy chim sẻ lim dim thẫn thờ
 
Hình như bé cún ngủ mơ
Nhưng bầy vịt vẫn nhởn nhơ ao bèo
 
Hình như gió cuốn lá reo
Thuyền nan róc rách mái chèo bên sông
 
Hình như khóm bắp ngoài đồng
Cứ kêu xào xạc vì mong ngóng hè
 
Hình như suốt nẻo miền quê
Có bầy em bé đợi hè sắp sang!

                          Trần Thị Phương Lan 
                          (Bút nhóm Hoa Nắng)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>