KỲ QUAN THỨ NHẤT:
KIM TỰ THÁP CHÉOPS
Vào khoảng 2640 năm trước Tây lịch, Chéops, vị vua thứ tư của triều đại xứ Ai cập, đã truyền lịnh rằng ông ta muốn xây cất một ngôi mộ mà sự đồ sộ và vẻ tôn nghiêm của nó làm lu mờ cả vầng thái dương. Hàng trăm ngàn nô lệ phải làm công tác đó ròng rã trong 20 năm. Ba giống dân Nubi, Do thái và Berbères đã cùng gắng sức làm việc, đã cùng chia xẻ những nỗi nhọc nhằn, đã cùng chịu những làn roi tàn bạo của bọn giám thị, và sau hết, đã cùng chết vì công trình xây cất đó...
Theo sử gia Hérodote, nhà mồ đục sâu vào một tảng đá, làm thành hình một hòn đảo. Được bao bọc bởi nước sông Nil, do một dòng nước ngầm chảy vào Kim tự tháp được xây từng bậc một và tiếp tục cho đến chót thì hoàn tất.
Suốt 20 năm, Ai cập chìm đắm trong sự thống khổ. Người ta phải đóng cửa đền thờ, hạn chế các lễ nghi tôn giáo, đặt ra các sắc thuế mới và ra lịnh cho dân chúng phải trợ lực với nô lệ. Để xây dựng Kim tự tháp cao 146,59m nầy, người ta đã sử dụng hết 2.300.000 khối đá, mỗi khối nặng 2 tấn rưỡi.
Người ta đã dùng những thân cây thấm ướt, chêm vào kẽ hở của những tảng đá để đẩy chúng bể ra, sau đó dùng bè gỗ chuyển qua sông Nil, rồi dùng những xe trượt lôi tuột chúng trên cao nguyên Al Gizah. Nô lệ đã dùng tay đem những tảng đá từ bậc nầy lên bậc kế tiếp, chớ không sử dụng đến những máy cất đồ nặng thô sơ làm bằng thân cây mà trước kia người ta đã biết.
Từ đó đến nay, đã gần 5.000 năm trôi qua. Trong tất cả những kiệt tác mà người xưa mệnh danh là 7 kỳ quan thế giới, chỉ còn Kim tự tháp là tồn tại hầu như nguyên vẹn. Nó chính là vết tích của một nền văn minh xa xưa còn tồn tại đến thời đại chúng ta, bởi vì với thời gian nó đã trở thành một sản phẩm của thiên nhiên.
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 2, ra ngày 22-8-1971)
KỲ QUAN THỨ NHÌ:
VƯỜN TREO BABYLONE
Chính ở Nabuchodonosor có những vườn treo, mà theo một truyền thuyết vô căn cứ phát xuất sau nầy, cho rằng đó là của vua Semiramis. Ông đã phá hủy khu Ninive l' Assyrieune vào năm 606 trước Tây lịch, vì muốn xây cất một thành phố có một không hai. Người ta kể rằng, ông đã quyết định thiết lập khu vườn lừng danh nầy để tặng vợ ông là Charisse, con gái vua Hèdes.
Trước hết, đó là một công trình kiến trúc vô cùng táo bạo. Vườn treo thu gọn trong một cơ sở hình vuông, mỗi cạnh dài 140m, gồm nhiều tầng nóc bằng, gác lên nhau theo một lối, mà nếu từ dưới nhìn lên, người ta thấy giống như những bậc thềm có trồng cây cối hiếm hoi, quí giá và bông hoa rực rỡ. Dưới mỗi tầng là một hành lang, mà theo sử gia Strabon kể lại, thì những hành lang nầy có trần được chống giữ bằng những cột vuông lớn đặt cách khoảng nhau. Lòng cột rỗng, được dồn đầy đất để nuôi cây và để rễ cây lớn có thể ăn sâu xuống. Những hành lang nầy được trang hoàng lộng lẫy và sắp xếp khéo léo nên người ta có thể dùng làm nơi tổ chức những buổi lễ. Một hệ thống dẫn nước phức tạp có thể đưa nước lên tận đỉnh của những tầng cao nhất, nơi đó nước phun thành những tia lấp lánh trông rất đẹp mắt. Trên trần của mỗi hành lang, người ta đặt một cái vỉ bằng sậy phết nhựa lên, một dãy gạch nung gắn dính nhau bằng thạch cao, rồi đến những tấm chì mỏng, sau cùng là đất phân. Ngay vào thời Alexandre, vườn treo Babylone vẫn còn giữ nguyên được sắc thái của nó.
Ngày nay, các nhà khảo cổ đã tìm ra được những dấu vết của vườn treo này.
KỲ QUAN THỨ BA:
LĂNG TẨM HALICARNASSE
Mặt nhìn ra biển, cách Halirarnasse, thủ đô xứ Carie một quãng ngắn, một ngôi nhà mồ sừng sững hiện ra. Nó được xây cất từ năm 1.100 sau Tây lịch, được chú ý bởi những cột cẩm thạch, bởi sự chạm trổ tinh vi ; nó đã làm chóa mắt người xem bởi sự trang hoàng rực rỡ và bởi kích thước phi thường của nó.
354 năm trước Chúa giáng sinh, sau một triều đại thanh bình thịnh trị, vua Mausole của xứ Carie thăng hà, hoàng hậu Artémise, vợ của nhà vua, quyết định xây cất cho ông một ngôi mộ để làm sống lại những kỷ niệm của hoàng đế trong lòng bà. Bà cho mời những nghệ sĩ tài danh của Hy Lạp, điêu khắc gia như Seopas, Briaxys, Timothée, Léocharès và những kiến trúc sư như Saturos, Pythis... Hàng đoàn tàu chở đá cẩm thạch từ Doclécanèse, nô lệ và ngay cả thường dân, thúc đẩy bởi sự tri ân để làm vinh dự cho vị vua tiếng tăm của họ, đã đến để bắt tay vào việc. Hoàng hậu luôn luôn hiện diện để khích lệ và hối thúc họ làm nhanh vì bà sợ rằng mình sẽ chết trước khi hoàn tất công trình. Thật thế, bà đã chết sau chồng bà hai năm. Dân chúng đã đặt bà nằm cạnh người chồng mà bà hết lòng thương mến. Ngôi mộ Mausole cao 22m, chu vi 133m và được bao quanh bởi vô số cột.
Mười tám thế kỷ sau, công trình kiến trúc đó đã bị tàn phá bởi những quân trộm cướp. Vào năm 1856, người Anh đã tìm ra di tích và đưa những mảnh vỡ, những khúc gẫy về Luân Đôn.
KỲ QUAN THỨ TƯ:
ĐỀN THỜ NỮ THẦN DIANE Ở EPHÈSE
Mảnh đất mà ngày nay làng Aia Soluk của Thổ Nhĩ Kỳ tọa lạc, ngày xưa là thánh địa của thần nữ Diane. Dân chúng vùng Ephèse đã tìm thấy ở vị thần linh nầy một năng lực sáng tạo thiên nhiên. Bà được tượng trưng bằng con ong, và vị đại tư tế được gọi là vua của loài ong. Bà được mô tả dưới hình dáng xác ướp của một người con gái để trần lộ ngực.
Đền thờ ở Ephèse đã bị phá hủy và đã xây cất lại nhiều lần, nhưng bao giờ cũng giữ được vẻ huy hoàng tráng lệ.
Khắp Á châu người ta đều nói đến một kho tàng chôn giấu dưới hầm của ngôi đền, vì thế các nhà tư tế canh giữ rất nghiêm mật. Người ta cũng đã tán dương lối kiến trúc lộng lẫy của ngôi đền, do thiên tài Chersifron và Métagène, công trình điêu khắc để trang hoàng ngôi đền của điêu khắc gia Scopas và Praxitèle.
Ngôi đền Ephèse được chú ý, không phải vì kích thước như Kim tự tháp, mà vì sự cân xứng và hòa hợp tuyệt vời của nó. Nhưng vào năm 356 trước Tây lịch, Erostate, một người loạn trí, sống nhờ vào của bố thí của khách hành hương từ các làng Hy Lạp ở Á châu về đã phóng hỏa ngôi đền với ý định làm cho mình bất tử bằng một hành động phạm thượng. Lúc bấy giờ đang đêm, mọi người đắm chìm trong giấc ngủ. Ngọn lửa đã thiêu hủy công trình có một không hai này một cách vô tình. Không ai lấy ra được một vật quí báu nào. Mãi nhiều năm sau, ngôi đền mới được xây cất lại theo đồ án cũ. Sử gia Pline Strabon đã mô tả lại rằng ngôi đền mới nầy dài 138m, rộng 71,5m, tường lát cẩm thạch, mái làm bằng gỗ cây bá, 127 cột của xứ Ionie cao 18m bao quanh chính điện, nơi đặt tượng nữ thần. Trong số đó, có 36 cột được trang hoàng, chạm trổ, do Crésus vua xứ Lydie, dâng biếu. Mặt tiền của ngôi đền, phía trên các cột, là một hình tam giác lớn, chạm trổ rất tinh vi, tao nhã. Bên trong đền, những bức họa trên tường đã lôi cuốn sự chú ý của du khách.
Hoàn tất năm 323 trước Tây lịch, kiến trúc nầy bị hư hại quá nửa, khoảng giữa những năm 260 và 268 sau Chúa giáng sinh, dưới triều đại của Gallien, do sự phá hoại của bọn lưu manh Goths, thuộc nước Đức. Sau đó, dân Aia Soluk, một giống người không biết thưởng thức vẻ đẹp, đã lôi những tảng đá của ngôi đền xuống mà xây cất nhà cửa.
KỲ QUAN THỨ NĂM:
TƯỢNG THẦN JUPITER
Từ năm 668 trước Tây lịch cho đến năm 393 sau Tây lịch người Hy Lạp cứ bốn năm một lần, đã tổ chức lễ Quốc Khánh với nhiều nghi thức trọng thể.
Họ đã gặp gỡ và chúc tụng lẫn nhau ở thung lũng Élide, trong một cánh đồng nhỏ, phía Bắc và Tây Bắc giáp dãy núi Cornius và Olympe, phía Nam giáp sông Alphée, phía Tây giáp sông Cladeus. Họ hiến tế thần Jupiter Olympieu. Tên Olympic không phải để chỉ một thành phố mà đúng ra, để chỉ một sự hợp nhất các đền thờ và những di tích công cộng được xây cất lên vào những dịp lễ đó. Trong số các đền, ngôi đền thờ thần Jupiter được coi là đẹp nhất, tượng thần được đặt trên bệ thờ giữa đền. Kiệt tác nầy của Phidias. Tượng được làm bằng ngà voi un khói để giống màu da người. Tay phải ngài cầm một vật tượng trưng cho sự chiến thắng, vậy nầy bằng vàng khối cũng như bộ y phục khoác ngang hông của ngài.
Điêu khắc gia Phidias đã làm việc ròng rã suốt bốn năm trường. Người ta kể lại rằng : khi kiệt tác đã hoàn tất, trên không, một vầng hào quang rực rỡ bao phủ ngôi đền và sau đó sa xuống chân nhà nghệ sĩ.
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 3, ra ngày 29-8-1971)
KỲ QUAN THỨ SÁU:
PHO TƯỢNG KHỔNG LỒ THÀNH RHODES
Vào năm 672 sau Chúa giáng sinh, khi dân Á Rập chiếm thành Rhodes, họ rất đỗi ngạc nhiên khi chợt trông thấy những mảnh vụn của một pho tượng khổng lồ. Nó đã nằm đó trong suốt 8 thế kỷ, bao phủ đầy rong rêu và sò ốc đủ loại. Tứ chi sứt, gãy, mặt úp xuống bùn: đó là tất cả những gì còn lại của pho tượng khổng lồ của thành Rhodes.
Pho tượng được khởi đầu bởi Charès de Linde, một người học trò của Lysippe, nhưng sau đó Lachès đã hoàn tất pho tượng với một phí tổn vĩ đại : 300 tấn đồng đỏ đã được dùng để đúc tượng nầy.
Bức tượng được dâng hiến cho thần Thái dương. Hai chân tượng giang ra, mỗi chân đặt một bên cửa vào hải cảng. Tay mặt tượng cầm một bó đuốc, tay trái, một chiếc cung và một giỏ tên đeo sau lưng.
Mỗi chiều, khi vầng thái dương sắp khuất ở chân trời, người gác dan lục đục leo lên gian phòng trên cao bằng một chiếc thang, châm lửa vào bó đuốc bên tay phải tượng để đôi mắt tượng sáng ngời lên và cũng để soi đường cho các thủy thủ ngoài khơi.
Năm mươi sáu năm sau khi hoàn thành, pho tượng khổng lồ đã ngã xuống trong một trận động đất và không một ai bận tâm đến việc dựng pho tượng lại. Người ta đã lôi những mảnh vỡ lên và dùng vào những công trình xây cất mới.
KỲ QUAN THỨ BẨY:
HẢI ĐĂNG XỨ ALEXANDRIE
Hải đăng được phát minh và sử dụng ngay từ thời xa xưa, Homère cũng đã nhắc đến.
Ngọn hải đăng lâu đời nhất, mà sử sách đã ghi chép lại, là Hải đăng ở mũi đất Sigée, nhưng, nếu nói về danh tiếng, người ta phải kể đến hải đăng Ptolémée Philadenphe, do Sostrate de Cnide xây cất vào năm 279 trước Thiên Chúa, ở đảo Pharos ngay cửa vào hải cảng Alexandrie. Ngọn tháp Pharos cao khoảng 150m.
Giữa nhiều giả thuyết khác nhau, có một giả thuyết được xem là đáng tin nhất là: Ngọn hải đăng gồm ba phần. Phần thứ nhất là một tòa nhà hình chữ nhật, dùng làm nền tháp. Phần thứ nhì là một tòa nhà hình bát giác dùng làm văn phòng quan thuế và vọng canh. Phần thứ ba là chóp của ngọn tháp, để đốt lửa.
Ông đã dùng một loại gương phản chiếu bằng kim loại rất lớn, gương được đặt trên một trục dao động, vì thế ánh sáng phản chiếu tắt sáng từng hồi khiến ánh sáng hải đăng không bị nhầm lẫn với ánh sáng của các vì tinh tú.
Ngọn hải đăng Alexandrie rất kiên cố và bền bỉ với thời tiết bất thường nhưng cuối cùng đã bị phá hủy vào thế kỷ thứ bảy, theo lệnh của Tổng đốc xứ Alexandrie vì người ta tin rằng nơi đó ẩn giấu một kho tàng.
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 4, ra ngày 5-9-1971)








