Thứ Năm, 19 tháng 2, 2026

Tìm Hiểu Môn Đấu Vật Cổ Truyền Việt Nam


TA VỀ TA TẮM AO TA
 
Ít lâu nay, nhất là từ khi có bóng dáng người lính chiến Đại Hàn tại nước ta, phong trào "tìm thầy học võ nổi lên như cồn. Nhưng những môn võ các thanh niên thiếu nữ ta đang say sưa luyện tập phần nhiều được mang từ nước ngoài vào, chẳng hạn như Nhu Đạo, Hiệp Khí Đạo, Thái Cực Đạo. Chúng tôi hiểu rằng trên nhiều lãnh vực, nhất là trong lãnh vực thể thao, muốn tiến bộ, ta cần phải thu thập những tinh hoa của xứ người, để bồi bổ những chỗ thiếu sót, yếu kém của ta. Bởi vậy, nếu có nhiều thanh niên, thiếu nữ Việt Nam theo học các môn võ của nước ngoài thì đây là một điều đáng mừng cho tiền đồ thể thao nước nhà nói chung và cho bộ môn quyền thuật Việt Nam nói riêng.
 
Nhưng điều chúng tôi muốn nêu lên ở đây là người Việt Nam vốn là một dân tộc có tinh thần thượng võ, đầy lòng hào hùng, đã từng phá Tống, bình Chiêm, diệt Thanh, đuổi Minh, nhiều phen làm cho quân xâm lăng phải khiếp đảm.
 
Vậy yếu tố nào đã giúp dân tọc ta tạo nên những chiến tích lẫy lừng và những đặc tính quí báu trên, nếu không phải một phần lớn là do sự đóng góp của những môn thể thao cổ truyền của nước nhà, trong đó có môn quyền thuật và môn đấu vật?
 
Nhưng tiếc thay! Từ nhiều chục năm qua, vì lẽ này hay lẽ khác, số người theo học những môn võ cổ truyền Việt Nam đã mỗi ngày mỗi ít. Những võ sĩ danh tiếng chẳng còn được bao. Hoặc giả có còn đi chăng nữa thì những vị này cũng đã già yếu. Chính vì thế mà những ngón võ bí hiểm, những thế đòn tuyệt luân của ông cha ta đã theo thời gian mà mai một đi.
 
Đứng trước tình trạng đen tối đó, là người Việt Nam, ai ai mà chẳng thấy buồn. Chính vì thế mà ít lâu nay, Tổng Nha Thanh Niên, một cơ quan chánh phủ có trách nhiệm rèn luyện cho giới trẻ Việt Nam có một thân hình tráng kiện, hun đúc cho họ một tinh thần yêu nước mạnh mẽ, đã khơi dậy truyền thống thượng võ của dân tộc Việt Nam ta bằng cách phát động lại các bộ môn thể thao cổ truyền như: đẩy cây, u hấp, bơi chải, võ thuật và môn đấu vật, để nói lên cái tinh thần "uống nước nhớ nguồn" và bảo vệ quốc hồn, quốc túy của ta.
 
ĐÔ VẬT HAY ĐẤU VẬT?
 
Phỏng theo ý kiến của ông Phan Quỳnh, một danh sư môn Vovinam Việt võ Đạo, tờ Nguyệt San Chí Trai do Tổng Nha Thanh Niên có viết: Các bạn trẻ của thập niên 70 thường chứng kiến những trận đấu vật nẩy lửa của ngoại quốc trên màn ảnh truyền hình. Võ đài đấu vật cũng như quyền Anh. Hoa Kỳ gọi đấu vật là WRESTLING, Pháp gọi là LUTTE hoặc PANCRACE, Nhật gọi là SUMO. Dưới vòm trời Tây Phương, môn vật được khai sanh ở Hy Lạp từ thời thượng cổ, có tính cách bán tôn giáo. Ngày nay môn vật Tây phương đã trở thành một môn thể thao quốc tế có quy luật hẳn hoi. Mông đấu vật tân thời được trình bày dưới hai khía cạnh khác nhau: Lối đấu Hy Lạp và lối đấu Tự Do. Môn vật tân thời từ 1-1-1970 được chia ra nhiều loại 48 ký - 52 - 57 - 62 - 68 - 74 - 82 - 90 - 100 và trên 100 ký.
 
Vì lầm lẫn vô tình, một số người dịch chữ WRSTLING, LUTTE là đô vật. Thật ra đó là môn vật, còn đấu thủ mới gọi là đô vật. Thời xưa người có sức mạnh phi thường gọi là Đô Lực Sĩ. Về các chức quan võ có Đô Thống, Đô Úy v.v... Theo chữ Hán, Đô còn có nghĩa là đẹp.
 
MÔN VẬT CỔ TRUYỀN
 
Vật cổ truyền không đấu trên võ đài mà tranh tài ở trên một bãi đất rộng. Xưa kia, các cụ tổ chức vật nhân các ngày đình đám hội hè ở thôn quê về mùa Xuân ; đấu vật ở trước sân đình với nhiều nghi lễ cổ truyền, nên một vật Việt Nam xưa cũng có tính cách bán tôn giáo như vật Hy Lạp thời thượng cổ.
 
Đọc lịch sử nhiều người còn nhớ rằng Mạc Đăng Dung trước khi làm vua chỉ là một đô vật khét tiếng gọi là Đô Lực Sĩ và đời nhà Trần, Phạm Ngũ Lão - một vị danh tướng của Hưng Đạo Đại Vương - cũng rất giỏi vật.
 
VÕ PHỤC
 
Võ phục khi tập luyện cũng như khi lên đài đấu của các đô vật là đóng có một cái khố và ở trần, không có đai đẳng gì cả. Khố là một miếng vải dài được cuốn vào như một cái quần sì-líp, khố có nhiều màu nào đỏ, nào xanh, nâu hay trắng, hồng, tím v.v...
 
Về kỹ thuật, vật có nhiều đòn nhiều miếng. Trước hết các đô vật được tập cách đứng thủ và những bộ pháp như cách di chuyển từng bước chân khi tới, khi lui, khi xoay vòng. Họ còn được tập luyện cách té ngã thế nào cho khỏi đập đầu xuống đất, khỏi gãy tay, cách né tránh v.v... Rồi họ được tập những đòn thế sau:
 
- Miếng kê: dùng hông hoặc vai làm điểm tựa để quẳng ngã đối thủ.
 
- Miếng ngáng hay cản: dùng chân quét hay gạt cản đối thủ làm mất thăng bằng cho té.
 
- Các miếng khác như miếng đệm, đội, nằm bò hay hạ thổ, miếng bốc v.v...
 
LỆ VẬT
 
Muốn đánh bại đối thủ trong các cuộc đấu vật thì các đô vật phải theo những luật lệ sau:
 
1) Nhấc bổng địch thủ hổng cả 2 chân lên khỏi mặt đất được coi là thắng, hổng một chân không kể.
 
2) Vật đối phương té ngã ngửa, lưng chạm mặt đất thì thắng, ngã sấp không kể.
 
Tuyệt đối không được đấm, đá, nắm tóc, móc mắt, cù léc, thọc, cắn, phun nước bọt, xẻ khố đối thủ hay khi bị té ngã rồi không được móc chân cho đối thủ ngã theo.
 
GIẢI VẬT
 
Vật có nhiều giải và chia ra làm 2 loại: Giải Thờ và Giải Chính.
 
Giải Thờ (hay Giải Hàng) không có người giữ giải. Ai muốn vật thì ghi tên rồi bắt cặp. Ai thắng thì được làng thưởng tiền.
 
Tranh Giải Thờ chỉ là mở đầu cho cuộc thi vật. Ở giải này đối thủ thường không dùng hết sức lực, mục đích chỉ cốt vật biểu diễn cho đẹp, múa may thật mềm dẻo để mua vui trong ngày hội.
 
GIẢI CHÍNH
 
Có 3 giải, nhất, nhì, ba. Mỗi giải đều có một đô vật xin giữ. Ai muốn phá giải nào thì xin ghi tên để vật với người giữ giải.
 
Trong 3 ngày nếu không có ai dám phá giải thì đô vật giữ giải đương nhiên được lãnh giải mình giữ.
 
Trong 3 giải chính, giải ba phải được phá trước rồi tới giải nhì và giải nhất.
 
Về số đấu thủ lệ làng định như sau:
 
- Giải nhất: trong 6 ngoài 5.
 
- Giải nhì: trong 4 ngoài 3.
 
- Giải ba: trong 3 ngoài 2.
 
Trong 6 ngoài 5 nghĩa là ai giữ giải nhất thì phải thắng liền 6 người mới coi là chiếm giải, còn người phá giải thì chỉ cần vật ngã 5 đối thủ kể cả người giữ giải. Nếu người giữ giải đã thắng 5 keo mà thua 1 thì cũng mất giải. Trong 4 ngoài 3 và trong 3 ngoài 2 cũng tính tương tự như trên.
 
Cuộc đấu thật cam go và đô vật giữ giải lẽ dĩ nhiên phải là người tài ba.
 
THỜI XƯA ĐẤU VẬT CÓ TÍNH CHẤT BÁN TÔN GIÁO
 
Làng mạc miền Bắc thời xưa có tục lệ mở hội hè đình đám vào dịp đầu Xuân, sau khi công việc đồng áng đã tạm xong. Hội hè có khi kéo dài 5, 7 ngày liền. Dân làng cúng tế vị Thần Thành Hoàng một cách linh đình để cầu xin được mùa. Vào dịp này, các cụ mở hội Vật. Các tay đô vật trong làng đều ghi tên dự thi. Đô vật tứ xứ, ở các làng lân cận hoặc các tỉnh khác muốn xin dự thi phải mang lễ vật đến để xin cúng thần. Lễ vật thường là mâm hoa quả (trái cây) và nhang đèn. Sau đó họ mới thi tài cao thấp. hăng say phá giải.
 
Các cuộc đấu vật hùng tráng đã nói lên tinh thần thượng võ của cả một dân tộc.
 
 
VĂN TRUNG      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 115, ra ngày 30-11-1973)
 
 
 

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

Xuân Xanh




 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Xuân đến bên em khi nắng ấm

Tiếng chim ríu rít ở cành đào

Tháng giêng cỏ non màu chưa đậm

Xanh nhẹ như là giấc chiêm bao
 

Chập chờn bướm lượn quanh hoa lá

Lộc xuân trổ nụ khắp trong vườn

Xuân đến làm em hồng đôi má

Nở nụ cười duyên rất dễ thương


Cả năm ngóng đợi ba ngày Tết

Sắp đến rồi đây vui biết bao

Em thích bánh chưng lẫn bánh tét

Mứt đầy trong hộp rất ngọt ngào


Pháo nổ mừng xuân vang phía trước

Em nhẹ lời thưa chúc mẹ cha

Sống lâu khoẻ mạnh trong ơn phước 

Xuân đến nhìn đời đẹp như hoa


Bày biện trước nhà dăm chậu kiểng

Lịch mới, hoa xinh, trái đầy cành

Khách khứa họ hàng qua thăm viếng 

Chúc tụng trọn năm mới an lành


Tết đến cho em thêm tuổi mới

Thắm thoát thời gian trôi rất nhanh 

Ngày qua tháng lại không chờ đợi

Còn bao năm nữa tuổi xuân xanh ?


                                            Nhã Uyên
 

Vui Tết

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Đêm nay ba mươi Tết
Em ngồi canh cái bếp
Đầy những bánh chưng sôi
Và sửa soạn ăn Tết.
 
Bánh chưng đã mang ra
Em ngồi cạnh bên bà
Nhìn bánh chưng thơm phúc
Mà thấy khoái... khoái là.
 
Sáng hôm mồng một Tết
Em diện coi thật "xếp" 
Cùng cha mẹ đi mừng
Họ hàng vui như... Tết
 
Tiền đếm đã hai trăm
Về nhà lại được "thăm"
Hai mươi đồng nữa chứ
Em mừng vui lăng xăng
 
"Thịt bò viên" em ăn
Nhưng bầu cua không "thăm". 
Rồi lại đi rạp Rex
Cao bồi bắn "pằng pằng".
 
Hôm nay đã mồng hai
Nhà cho bánh chưng "xài"
Ôi bánh chưng ngon quá
Ai dại gì không "xơi".
 
Ồ! Hôm nay mồng ba.
Sắp hết Tết rồi nha!
Bạn em bảo như thế
Ôi buồn! Buồn ghê là.
 
                    BÙI VĨNH PHÚC
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa Xuân Bính Ngọ, 1966)
 

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2026

Xuân Ngát Hương

 
Em mở mắt sau giấc ngủ trằn trọc, nằm một mình trong căn phòng vắng lặng buồn ghê là. Em vùng dậy tung mền ra khỏi người, nhảy tọt xuống giường, len lén bước lại gần bàn học, trong bóng đêm. Em bật nhẹ nút đèn.
 
Ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn nhỏ tỏa ra đủ cho em làm việc. Chả là em "khai bút" đây nên cần sự bí mật mới được. Em cắm cúi viết, bên ngoài tiếng pháo nổ ầm ì, mùi thuốc pháo bay vào phòng em nồng nặc khó chịu quá. Loay hoay một lúc lâu sau mới làm xong, sắp xếp lại mấy tờ giấy còn nằm bừa bãi trên bàn đứng lên em thở phào nhẹ nhõm, thế là hoàn toàn cả. Có tiếng guốc khua nhẹ ngoài phòng, em hoảng hốt nhảy phóc lên giường lấy mền trùm kín cả mặt như còn đang ngủ say. Me đẩy cửa bước vào thấy đèn còn cháy. Me bật tắt, miệng lẩm bẩm:
 
- Con cái hư thật! Ngủ mà không chịu tắt đèn để phí quá.
 
Me lại gần bên giường, giở mền ra khỏi mặt để cho em khỏi ngộp thở. Em thương me ghê, me lo cho em quá, me cúi xuống hôn nhẹ lên trán em rồi bước ra ngoài. Em hé mắt, hú vía thoát nạn.
 
*
 
Tạch tạch... đùng... tạch... đùng.
 
- Khải à dậy đi con. Sang năm mới rồi.
 
Em tỉnh giấc vì nghe me gọi, lui cui ngồi dậy. Hồi đêm vì thức khuya nên bây giờ em dậy thật trễ. Tiếng lục đục, chị Thùy bưng ấm vào pha trà thấy em, nhạo:
 
- Cậu bé sao mà dậy "sớm" quá, nằm ngủ nữa đi, chiều dậy luôn thể.
 
Em chu mỏ:
 
- Ghét ghê, ngạo người ta hoài, chị dậy sớm quá mà.
 
- Ừ tui dậy sớm hay trễ cũng hơn cậu bé, đừng nói nhảm, lo sửa soạn theo me đi lễ chùa chứ.
 
Em bước xuống giường, mở toang cánh cửa sổ ra, hít một hơi dài rồi chạy xuống nhà sau rửa mặt.
 
Gia đình em đoàn tụ trong nhà để chờ người đến "đạp đất". Hôm nay ba em ăn mặc chỉnh tề ghê, quần áo phẳng phiu. Em nhìn ba nói:
 
- Ba đẹp ghê.
 
Ba cú vào đầu em:
 
- Cậu bé ngạo ba đấy à.
 
- Không con nói thật mà.
 
Chị Thùy bân áo dài xanh, chân mang hài, anh Dũng bận áo sơ mi, quần tây, trông hai người xinh ghê. Me bưng theo một đĩa mứt cà lên.
 
- Ông cùng các con ăn đi.
 
Anh Dũng:
 
- Me cũng ăn với con chứ.
 
- Ừ.
 
Thế là cả nhà em xúm xít bên đĩa mứt cà. Me làm ngon quá, chỉ một loáng mà đĩa mứt sạch bách. Ba khen:
 
- Bà làm ngon quá.
 
- Hứ, ông chỉ biết nịnh.
 
Ba cười lên khanh khách, chúng em cười theo như để phụ họa, mặt mẹ đỏ gay quày quả bước xuống nhà dưới.
 
*
 
- Dũng, Thùy, Khải ơi! Thay đồ xong chưa?
 
- Thưa mẹ rồi ạ.
 
- Thế thì đi mau cho sớm, kẻo trưa quá rồi.
 
Chúng em lục đục đi lên. Me bận áo dài màu khói hương, trông me thật hiền, tóc bới cao như một bà tiên.
 
Me phân công:
 
- Dũng lo giữ lấy em, Thùy theo me giúp bưng nhang đèn.
 
Anh Dũng phản đối:
 
- Không, để con xách nhang đèn cho.
 
- Mầy mà xách gì, người ta cười cho đấy.
 
Phân công xong xuôi, cả nhà em bước ra khỏi cửa. Ba phải ở nhà để tiếp khách.
 
Trên đường người đi nhộn nhịp, ở đâu cũng có tiếng nói, tiếng cười của lũ trẻ, chúng chơi bầu cua, chúng đốt pháo điếc cả tai. Đoàn người lần lượt đi chùa, tiếng chuông cầu kinh vang lên khắp đó đây. Em ngoan ngoãn như con nai vàng, ngơ ngác nhìn lên tượng Phật đang tham thiền, ngài ngự trên tòa sen ngát khói hương.
 
Tiếng me giục bên tai:
 
- Khải, lễ Phật đi con.
 
 
HOÀI LINH VŨ      
Xuân 71           
Hòa-Lạc           
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Nhâm Tý, 1972)
 

Tết! Tết! Tết!


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tết anh đào khoe sắc
Tết đóa cúc tươi vàng
Tết ngàn mai lộng lẫy
Tết rực rỡ nhánh lan

Tết cặp dưa hấu đỏ
Tết câu đối treo tường
Tết rót tràn ly rượu 
Tết pháo đỏ ngập đường

Tết bánh chưng bánh tét
Tết phơ phất cây nêu
Tết áo quần xúng xính
Tết khăn lụa, hài thêu

Tết củ kiệu, dưa giá
Tết canh hầm khổ qua
Tết thịt kho hột vịt
Tết giò chả, nem chua

Tết giao thừa đi lễ
Tết mồng một lì xì
Tết mồng hai thăm viếng
Tết mồng ba xi nê

Tết cung đàn rộn rã
Tết khúc hát lời ca
Tết bầu cua cá cọp
Tết nhậu nhẹt nhà nhà

Tết chim én lưng trời
Tết cánh diều chơi vơi
Tết bầy ong tìm mật
Tết đàn bướm lả lơi

Tết trời xanh mây trắng
Tết vạt nắng tơ vàng
Tết cõi lòng náo nức
Chào mừng xuân mới sang...

                        Trần Thị Phương Lan
                              (Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

Câu Chuyện Đầu Xuân

Hôm nay gần đến tết rồi, thành phố trông rộn rịp hẳn lên, những cành mai vàng đã bắt đầu đơm bông. Khắp phố, người mua kẻ bán ồn ào, lòng Thủy rộn lên những niềm vui. Xuân này, Thủy sẽ được đi Đà lạt với ba me về quê ngoại ; Xứ có nhiều rừng thông vi vút reo - mà Thủy hằng ao ước. Rồi Thủy sẽ được ông bà ngoại lì xì này. Ồ! Còn dì Linh nữa cơ! Dì thương Thủy lắm kia, mỗi lần viết thư về cho Thủy, là dì không bao giờ quên viết đến câu: "Nếu khi nào có dịp Thủy đi Đà-lạt chơi với dì nhé, cảnh ở đây đẹp lắm cơ. Thủy sẽ tha hồ mà xem Thủy nhé" mỗi lần như vậy là Thủy lại hình dung đến dì, dì Linh có má lúm đồng tiền dễ yêu ghê với mái tóc thật đẹp, Thủy lại vẽ ra trong óc biết bao nhiêu cảnh nên thơ của Đà lạt nữa. Rồi đây Thủy sắp được thấy những cảnh xinh tươi ấy.
 
- Con ba mơ mộng gì đấy? - ba âu yếm.
 
Thủy giật mình quay lại:
 
- Con nhớ dì Linh ghê ba ơi!
 
- Con nhớ dì Linh hả? Nhưng ba cho con xem thư này, có lẽ con lại ghét dì cho xem - vừa nói ba vừa tủm tỉm cười.
 
Anh Minh chen vào:
 
- Hay thôi, Thủy đừng xem nữa, anh chắc là khi đọc xong thư dì, Thủy sẽ "hủy bỏ" cuộc đi Đà lạt đó nhé.
 
- Chuyện gì mà bí mật vậy?
 
- Nếu muốn biết, Thủy cứ xem - vừa nói anh vừa nhìn Thủy ranh mãnh.
 
- Không biết dì Linh nói gì trong thư mà ai cũng chế Thủy như vậy nhỉ, ồ để mình xem - Thủy nghĩ thầm.
 
Rồi Thủy bóc thư ra đọc, tờ đầu dì Linh vẫn hỏi thăm sức khỏe của Thủy và cách đón Thủy vào năm nay.
 
Thủy lẩm bẩm:
 
- Thế mà ba với anh lại bảo...
 
Nhưng Thủy chợt bỏ dở câu nói khi thấy chữ "Hư quá" hình như dì tô đậm hai chữ đó. Dì viết "Thủy của dì hư quá, sao muốn được ba cưng thêm lại không giúp me quét nhà vào những lúc khác mà lại quét nhà vào sáng mồng một tết thế nhỉ? Tết này Thủy có đi Đà lạt ăn tết với dì, sáng mồng một Thủy nhớ đừng quét nhà dì nhé vì bà ngoại là một người cổ nhất đấy, nhớ nhé Thủy".
 
Thủy cảm thấy hai má nóng bừng, hai mi mắt ươn ướt... anh Minh giả vờ cúi xuống tìm tờ báo cũ, me thì quay lại ô trầu, còn ba lại đưa tờ báo ngang mặt, hình như ai cũng cố giấu nụ cười trong những cử chỉ ấy. Thủy mắc cỡ quá, chạy về phòng...
 
- Con gái lớn rồi, phải tập làm giúp trong nhà cho quen chứ, không làm được việc nặng thì làm việc nhẹ chứ.
 
Mỗi lần như vậy, là Thủy lại vạch ra trong óc một "chương trình" để giúp me: " - Này nhé, sáng mình cố gắng dậy cho thật sớm giúp me quét nhà hay tưới hoa cho me" thế mà lần nào cũng vậy, bao giờ Thủy cũng ngủ đến 7 giờ 30 mới dậy. Vừa đủ giờ ăn lót lòng xong là đi học ngay cho nên cái "chương trình" của Thủy không bao giờ được dùng đến. Bây giờ Thủy nhớ lại giao thừa năm ngoái mà buồn cười...

Đì đùng... Đì đùng... tiếng pháo nổ giao thừa làm cho Thủy thức giấc. Ngồi dậy, Thủy nhìn xuống sàn nhà. Sàn nhà còn lấm tấm cát cũng hơi nhớp thôi, Thủy quét giúp me, có lẽ me mệt nên ngủ quên chưa quét nhà. Nghĩ là làm, Thủy vào góc nhà tìm cái chổi. Nghe động, lũ chuột trên đầu tủ chạy kêu chít chít làm cho chiếc lá rơi xuống. Thủy nghe tiếng me hỏi:
 
- Đứa nào làm gì đó?
   
Thủy im lặng để sáng dậy me sẽ ngạc nhiên và sung sướng vì có đứa con gái ngoan. Chờ cho me tiếp tục ngủ Thủy cầm chổi và bắt đầu quét. Tuy cố gắng quét cho nhẹ nhưng sao cái chổi quái này lại kêu lên loạt soạt như vậy nhỉ? Những tiếng lộp cộp vội vã. Me hiện ra, chợt nhìn thấy cái chổi trên tay Thủy, me tức giận giật cái chổi vứt vào góc nhà.
- Thôi chết rồi, mầy làm như vậy suốt năm nay sẽ làm ăn không nổi, mầy hại cha mẹ rồi.
 
Thuận tay, me với cái chổi lông gà quất vào mông Thủy.
 
Thủy ngạc nhiên không hiểu, nỗi nghẹn ngào đưa lên tận cổ, nước mắt trào ra. Tiếng kêu của me làm cho cả nhà thức giấc và cùng tràn vào phòng khách. Những lời qua lại giữa me và ba, Thủy biết là đầu năm phải kiêng quét nhà, sợ tiền tài sẽ bị chổi quét ra khỏi cửa. Bấy giờ Thủy mới vỡ lẽ, nhưng Thủy cũng còn ấm ức khóc. Me kêu:
 
- Mới đầu năm mà đã khóc à? Chưa đáng tội hay sao?
 
Ba bênh vực:
 
- Dù sao Thủy của ba vẫn giỏi mà, phải không. Thôi lại đây ba lì xì cho.
 
Thủy tươi ngay nét mặt, đã được ba bênh, lại còn được lì xì trước nữa. Tiếng thằng Hân (em Thủy):
 
- Ồ năm mới mà chị Thủy đã được me cho ăn "chả lông gồi (chổi lông gà) rồi, sướng quá.
 
Ý nó muốn nói là Thủy vừa bị me dùng chổi lông gà quất vào mông đấy mà. Vừa nói nó vừa vỗ tay đôm đốp. Thủy bẽn lẽn giấu mặt vào lòng ba.
 
- Hân im - ba mắng Hân rồi nháy mắt - Kẻo nó khóc nữa thì có lẽ nhà này...
 
Ba bỏ dở câu nói, có lẽ ba muốn bảo "có đám ma" nhưng nhớ hôm nay mồng một tết, me lại kiêng dữ lắm, ngày thường, ba vẫn chế tính dị đoan của me như thế luôn. Hiểu được câu nói bỏ dở của ba ý muốn nói gì rồi nhưng mẹ lại im lặng vì đầu năm cũng phải kiêng "đấu mồm" nữa mà...
 
Từ đấy Thủy là một đầu đề để cho Hân chế riễu. Nó luôn luôn đem chuyện ấy ra kể mỗi khi hai chị em Thủy xích mích nhau. Thủy nhớ có lần Hân dọa sẽ "truyền thanh" cho dì Linh biết chuyện ấy, tưởng nó cũng quên đi, không dè...
 
Thủy lẩm bẩm:
 
- Mình chả thèm chơi với nó nữa.
 
Nghĩ vẩn vơ, Thủy chìm vào giấc ngủ...
 
 
Hoài Quyên       
(T Q)           
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Mậu Thân, 1968)
 

Đầu Xuân Đi Lễ


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Sáng mùng một, xun xoe áo mới
Bé nức lòng đi với má ba 
Trên đường mai trổ cánh hoa
Ấp e trong nắng kiêu sa giữa trời.
 
Ô xinh quá! Bé ơi chậm tí
Để hoa ta thủ thỉ mí nào!
Gió Xuân thơm ngát ngọt ngào
Đã ru Đông ngủ bước vào tuổi mơ
 
Này bé hỡi tuổi thơ ngà ngọc
Gắng siêng năng chăm học nên người
Chớ đừng giở thói biếng lười
Rong chơi thỏa chí suốt đời hư thân
 
Giờ chị tặng bé nhân năm mới
Hoa mai vàng phất phới cười duyên
Bé cười chào hỏi huyên thuyên:
"Cám ơn Hoa nhé, nàng Tiên má hồng!..." 
 
Đôi chim nhỏ rỉa lông chăm chú
Chợt reo lên thích thú vẫy mừng:
"Úi chà! Vui quá chừng chừng,
Bé ơi mau lại, ngập ngừng mà chi?
 
Kìa bé thấy Đông đi Xuân lại
Chim én bay tận mãi trời xanh!"
Bé nhìn tia mắt long lanh
Cúi đầu chào hỏi chim lành đi đâu? 
 
Ríu rít hót chim hầu bé đấy
Chúc bé thơ xong, vẫy tay chào:
"Bé đi vui vẻ lên nào
Đầu Xuân đi lễ má đào thêm duyên..."
 
Nàng Xuân đẹp dịu hiền đôi mắt
Trôi lững lờ xanh ngắt làn mây
Nụ cười tươi trẻ thơ ngây
Rập rình pháo Tết trên tay nổ đùng!
 
Đi lẽ bé ngại ngùng mắc cỡ
Lúng túng trông cứ ngỡ non nhà...
Nén hương rón rén tay ngà
Vái van Thánh Tổ, Tiên bà ban ơn:
 
"Xin trời phật lòng nhơn tâm phước
Tết nay cho bé được nhiều tì
Thật thà bé chẳng lo gì
Chỉ mong tiền túi lì xì nhiều thôi!"
 
Ra về thấy bồi hồi tấc dạ
Hổng biết rồi ba má có cho...
Nghĩ hoài bé lấy làm lo,
Đi quanh quẩn lại vòng vo về nhà. 
 
Thôi! Bé cứ bầu, cua, tôm cá
Nghĩ làm chi cho lả người ra?
Thế nào đi với mẹ cha
Cũng đòi ăn quà thiệt đã mới nghe!
 
                                   TUYẾT THƯƠNG
                         (Thi văn đoàn Tứ Thương Dạ Vũ)
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Nhâm Tý, 1972)
 

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

Chiều Cuối Năm

 Tay xách giỏ, bà Lê vui vẻ bước chân vào chợ.
 
Phiên chợ ba mươi Tết mới đông đảo làm sao! Tiếng rao mời, tiếng trả giá, tiếng cười nói... vang lên hỗn loạn. Đâu đâu cũng là người, áo quần sặc sỡ chen chúc nhau đi, như cả một rừng hoa muôn màu xao động.
 
Người đã đông, các lối đi lại bị thâu hẹp, vì đồ đạc, hoa quả bày bán khắp nơi. Nhiều nhất là dưa hấu, loại trái đặc biệt của ngày Tết. Những quả dưa tròn trịa xanh mướt, chất thành từng đống to, chiếm cả một mặt chợ. Đống nào cũng có vài quả được cắt mặt, bày cho mọi người thấy ruột dưa đỏ thắm, trông thật dễ thèm. Bên cạnh hàng dưa, quít cam cũng không thiếu. Mấy bà bán hàng luôn miệng mời mọc, giới thiệu những quả cam còn xanh cuống, những quả quít chín vàng của mình với người đi qua.
 
Ở các cửa hàng, đông khách nhất, có lẽ là cửa hàng mứt. Mứt bí trắng nuột, mứt cà mọng đường, mứt gừng, mứt sen, mứt dừa... ngon lành thế kia, nhìn qua, ai lại chẳng dừng chân hỏi mua một ít?
 
Bà Lê lần lượt đi qua các hàng. Đến mỗi nơi, bà ghé mua vài món. Chẳng mấy chốc, chiếc giỏ đã ăm ắp đầy, khiến bà xách đi có phần khó nhọc hơn.
 
Sau đó, bà tiến về phía hàng hoa. Hàng này nằm biệt lập ở cạnh bờ sông, như một khoảnh vườn trăm hoa đột hiện giữa châu thành. Đây là cúc trắng, cúc tía, loài hoa bình dị. Đây là vạn thọ với màu vàng tươi, đóa tròn nhỏ xinh xắn. Đây là hoa hướng dương, đứng kiêu hãnh nhìn người qua lại. Và kia, hoa hồng, hoa giấy, phụng hoàng kê... Hình như hầu hết các loài hoa đẹp của miền Nam đều được đem bày bán cả nơi nầy.
 
Sau khi đi một vòng nhìn ngắm, bà Lê chọn mua một nhánh mai trổ đầy hoa, đoạn gọi xích lô, ra về.
 
Xe chầm chậm chạy giữa vùng phố xá vừa khoác lên một bộ áo tươi mới. Những dãy nhà nối tiếp chạy dài hai bên đường, được sơn phết lại, trông sáng đẹp thế nào! Thỉnh thoảng từ bên trong vọng ra tiếng máy truyền thanh rộn rã một bản nhạc xuân hòa với tiếng cười đùa của trẻ. Vệ đường, người đi lũ lượt. Ai cũng lộ vẻ hớn hở, vui vẻ đón mừng Xuân.
 
Nhìn cảnh yên vui của mọi người, bỗng dưng bà Lê cảm thấy buồn trong dạ.
 
Đã mấy Xuân rồi, bà chưa hề tận hưởng một cái Tết nào trọn vẹn niềm vui. Loạn lạc đe dọa an ninh đất nước, ông Lê cầm súng lên đường chiến đấu đã bao năm, chẳng biết chừng nào mới trở về với bầu không khí ấm cúng của gia đình. Tết nào cũng vậy, bà Lê chỉ sống thui thủi với thằng Linh, đứa con duy nhất của ông bà. Ba ngày Tết, thiên hạ đi dạo chơi khắp nơi. Riêng mẹ con bà vẫn ở nhà, gởi tình thương đến người ra đi, qua chung trà, đĩa mứt. 
 
Bà Lê nhớ đến những năm nước nhà còn tạm thời an lạc, mỗi khi Xuân về, bà lại cùng chồng con dắt nhau về quê ăn Tết. Thuở ấy mới vui làm sao! Cho đến bây giờ bà vẫn còn tưởng tượng ra được bao hình ảnh quen thuộc đẹp đẽ.
 
Thích nhất là đêm hai mươi chín Tết. Bà Lê thường thức rất khuya, cùng mẹ chồng, chị chồng, và hai em chồng ngồi quây quần bên nồi bánh tét, bánh chưng, chờ bánh chín. Bấy giờ, không khí gia đình thật ấm cúng vô cùng. Mọi người cảm thấy ấm áp, không hẳn vì ngọn lửa cháy bập bùng trong lò mà vì những lời trò chuyện thân thiết với nhau. Bà cụ hay ngồi ngoáy trầu cồm cộp trên bộ ván gõ, lẩm bẩm nhắc lại những cái Tết xa xưa. Chị chồng bà lại nghĩ đến việc làm ăn, cầu mong cho năm mới được mưa hòa gió thuận. Hai em chồng thì tranh nhau hỏi han chuyện ở thành, thỉnh thoảng phá lên cười, vui vẻ lắm. Trong lúc đó, bé Linh đang thiếp ngủ trong lòng bà, và ông Lê đã sang chơi nhà bên, bàn về mấy độ gà sắp tới.
 
Mồng một lại càng vui hơn. Bao nhiêu áo mới quần mới đã may sắm sẵn được mang ra mặc. Mọi người rủ nhau đi chúc Tết bà con xóm giềng. Đường quê rộn rã tiếng nói cười của người đi lại. Từng tốp một, đàn ông thì khăn đóng, áo dài đem, đàn bà thì tha thướt với tà áo màu, như đua sắc với muôn hoa thắm nở. Trẻ con được dịp nô đùa, chạy nhảy, đốt pháo vang rân.. Gia đình bà Lê cũng đi chúc Tết, cứ vào một nhà là thêm một lần được mời dùng bánh mứt. Những bánh mứt ấy đều do người trong nhà, thường là các cô, sửa soạn làm từ trước. Nó được trình bày cẩn thận, vì khách viếng, nhất là các bà, không phải chỉ thưởng thức qua mà thôi, họ còn để tâm nhận xét sự khéo vụng của người làm nữa. Thích hơn cả, có lẽ là bé Linh. Cậu chỉ việc đến trước mặt người lớn, khoanh tay bập bẹ vài câu chúc tụng, đã học thuộc từ lâu, lập tức được thưởng mấy đồng bạc mới...
 
Nhưng than ôi! Những cảnh ấy ngày nay làm gì còn, làm sao có? Chúng thoáng qua như những ảo ảnh huy hoàng trong một giấc mơ. Làng quê của bà Lê, của chồng bà đã bị người ta tàn phá tan hoang, một lần bà chợt về đấy, nhìn thấy cảnh vật mà đau lòng: Đường làng bị cuốc xới thành mương rãnh. Cầu cống bị phá hoại, đổ sụp đi. Vườn đất, cỏ mọc um tùm. Nơi đâu cũng có thể là hầm chông, cạm bẫy. Những gốc dừa bị đẽo gọt, sơn phết, khắc chữ, ngả nghiêng một cách đáng thương. Chợ búa, trường học vắng hoe. Đình chùa hoang vu cô tịch. Dân làng tản cư gần hết, bỏ sót nhà cửa trơ trọi, mái đổ vách xiêu. Một số ít người còn ở lại, vì sự sống, cố bám víu lấy mảnh đất quê hương, ngày nào hay ngày nấy. Đau đớn nhất là sự tan nát của gia đình. Bà Lê cũng chịu chung số phận: Mẹ chồng bà vì mãi buồn rầu mà mất. Cô em chồng bị lạc đạn cũng chẳng còn. Cậu em trai thì đã tòng quân như anh. Chỉ mình bà Hai, chị chồng bà Lê, vẫn sống đơn độc nơi mái nhà xưa, lo việc hương khói...
 
Mải để hồn đi sâu vào suy tư vơ vẩn, xe dừng lại, bà Lê mới hay đã đến nhà. Bà bước xuống trả tiền xe. Trong khi Linh thấy mẹ về vội chạy ra, nhanh nhẹn xách giỏ vào nhà.
 
Vào đến bên trong, Linh hỏi:
 
- Mua làm chi nhiều thế hở má?
 
Bà Lê mỉm cười:
 
- Con không thích ăn một cái Tết thịnh soạn hay sao mà hỏi?
 
Trầm ngâm một lúc, Linh đáp:
 
- Không má ạ. Chẳng có ba ở nhà, con chỉ muốn hưởng Tết một cách đơn sơ như mọi năm thôi. Giữa lúc ba đang sống gian khổ ngoài trận mạc, mình yên tâm vui sướng thế nào được, má nhỉ?
 
Bà Lê vỗ vai con, trìu mến:
 
- Con nói đúng. Má cũng nghĩ như vậy, nên bánh mứt má mua đây không phải để mẹ con mình dùng hết đâu. Má đã định đem một phần lớn biếu tặng cho người ta đấy.
 
- Người ta là ai hở má?
 
- Chiều nay con sẽ rõ.
 
- Thôi, con biết rồi. Má định đem biếu cậu Ba chớ gì?
 
- Không. Cậu Ba con dư dả lắm, biếu tặng thêm vô ích.
 
Linh cúi đầu ngẫm nghĩ. Được một chốc, cậu reo:
 
- À phải! Chú Năm ở cạnh nhà mình. Gia đình chú nghèo, nên cho lắm, phải không má?
 
Bà Lê tươi cười:
 
- Con nhắc, má mới nhớ. Ờ, má sẽ đem biếu chú ấy một ít quà... Nhưng, thực ra ý má muốn biếu tặng những người khác. Con biết không? Đó là những người đã hy sinh cho chúng ta rất nhiều, đã vì chúng ta mà xác thân bị hủy hoại...
 
Linh lắc đầu:
 
- Con đành chịu, không đoán nổi rồi đa.
 
Bà Lê cười nói:
 
- Chẳng đoán được thì ráng chờ đến chiều, đi với má tìm đến người ta rồi sẽ rõ... Bây giờ con hãy đi súc cái lục bình, cho má cắm nhánh mai này vào.
 
- Có cần thui gốc nhánh không má?
 
- Chà, rành quá nhỉ! Phải đấy, cũng nên thui cho hoa lâu tàn. Thôi, đi nhúm lửa mau lên chú.
 
- À, chừng nào cúng "rước Ông Bà? má?
 
- Trưa nay con à. Mình không ăn Tết lớn, nhưng cũng chẳng nên quên tục lệ xưa.
 
Chiều lại, dùng cơm xong, bà Lê hối con sửa soạn đi tặng quà cho những người nào đấy.
 
Chị bếp đã xin về nhà từ hôm qua. Nhà chẳng còn ai, ngoài hai mẹ con bà Lê. Trước khi đi, bà khóa trái cửa lại, và cất chìa vào một góc bàn Thiên, bàn thờ nhỏ dựng trước sân. 
 
Linh thấy thế vội hỏi:
 
- Sao má không mang theo? Để đấy rủi ai lấy, thì nguy.
 
- Ai biết mà lấy, con. Ngày trước, ba con còn ở nhà, ổng cũng thường cất chìa khóa cửa ở đấy.
 
Nói đoạn, bà Lê vui vẻ bước ra đường. Linh xách giỏ quà theo sau. Vừa đi, cậu vừa thắc mắc, không hiểu những người mình sắp viếng thăm là ai, quen hay lạ?
 
*
 
Trên đường về, hai mẹ con bà Lê khoan khoái bước đi. Thành phố đã lên đèn. Ba mươi, trời mau tối lạ! Nhưng cả hai như không nhận ra điều ấy, vì trong lòng vẫn miên man sung sướng với một niềm vui cao đẹp.
 
Linh cầm vung vẩy chiếc giỏ không, tươi cười:
 
- Má có để ý đến anh chàng trẻ tuổi hay nói cười đấy không? Anh ấy có vẻ mến con lắm.
 
- Sao con biết?
 
- Anh ấy bảo con, hôm nào rảnh hãy xin phép má vào chơi, ảnh sẽ kể cho nghe nhiều chuyện rất hay.
 
- Vậy à?
 
- Còn cái ông lớn tuổi bịt răng vàng nữa. Tội nghiệp! Ông ta nắm tay con, nói là nhớ đến con mình, nghe cảm động!
 
Bà Lê mỉm cười:
 
- Đi viếng thăm họ như hôm nay con có thích không?
 
- Thích lắm má ạ. Con còn mong sao có dịp đi hoài nữa kia.
 
Mải trò chuyện, chẳng mấy chốc hai mẹ con về đến nhà.
 
Linh xô cửa bước vào sân. Đột nhiên, cậu đứng dừng lại, kêu lên sửng sốt:
 
- Ồ, lạ quá! Má xem kìa!
 
Bà Lê nhìn vào nhà rồi cũng buột miệng kinh ngạc:
 
- Sao có chuyện lạ thế?
 
Cả hai hết sức ngạc nhiên, vì bấy giờ cửa nhà đã hé mở tự bao giờ, lại có ánh đèn vàng vọt từ trong hắt ra.
 
Bà Lê lẩm bẩm:
 
- Rõ ràng lúc đi má đã tắt đèn khóa cửa, thế mà ai đã vào nhà được vậy?
 
Linh bỗng giậm chân tức bực:
 
- Thôi chết rồi!
 
- Con bảo sao?
 
- Ăn trộm! Ăn trộm đã vào nhà mình chứ ai. Con nói có sai đâu? Má cất chìa khóa vào bàn Thiên, người ta đã rình thấy mà!...
 
Bà Lê cuống quít:
 
- Vậy để má chạy đi báo với lối xóm, dí bắt chúng mới được.
 
- Khoan đã má. Biết chúng còn ở trong nhà không, hay đã cút mất rồi?
 
- Vậy chứ con bảo má phải làm gì bây giờ?
 
Tính tò mò táo bạo của tuổi trẻ bỗng nổi dậy, Linh đáp:
 
- Má hãy đứng yên nơi đây. Để con vào nhà xem.
 
Bà Lê run run nắm tay con:
 
- Cẩn thận! Coi chừng chúng làm liều nhé! 
 
 
Linh lặng lẽ gật đầu, nhặt lấy một khúc cây to dựng gần đấy, đoạn rón rén tiến vào trong. Bỗng nhiên cậu như cảm thấy thích thú, xem mình như một nhà thám tử đang xông vào hiểm địa. Rồi cậu lại buồn cười, khi nghĩ đến cử chỉ của hai mẹ con: Nhà của chính mình, mà chẳng dám mạnh bạo đi vào, thế mới lạ chứ!
 
Lúc ấy, bà Lê đang hồi hộp đứng im trong bóng tối. Bà mong sao kẻ viếng nhà là một người quen. Nhưng vô lý thật! Có người nào lại đường đột mở cửa vào nhà, khi chủ nhân đi vắng? Vả lại, đêm cuối năm, ai lại đi thăm viếng nhau?
 
Vụt, bà Lê giật mình hoảng hốt. Có tiếng Linh thét to, và khóc rống lên, chợt vang ra:
 
- Má ơi! Má...
 
Quên cả sợ sệt, bà Lê phóng chạy vào. Con bà đã gặp một tai nạn gì? Sao nó kêu lên có vẻ đau đớn thế?
 
Bà Lê xô vẹt cửa cái, bước nhanh vào trong. Phòng khách không người. Tiếng Linh ấm ứ như bị nghẹn cổ, văng vẳng từ phòng đọc sách. Không do dự, bà đẩy ngã một chiếc ghế cản ngang, băng mình qua bên ấy.
 
Đến cửa phòng, bỗng bà đứng sững lại, tròn mắt nhìn vào.
 
Nơi ghế dựa, một người đàn ông to lớn ngồi ôm chặt lấy Linh. Nghe tiếng động, con bà quay lại. Mắt nó ràn rụa nước mắt, vẻ khổ não chưa từng thấy.
 
Người đàn ông chợt ngẩng nhìn bà Lê:
 
- Em!
 
- Mình!
 
Thì ra, đó là ông Lê. Bà Lê tiến lại bên chồng, một tay ôm ngực, một tay che miệng cười:
 
- Mình làm em hết hồn. Mình về bao giờ thế?
 
- Cũng mới đây. Về tới nơi thấy cửa đóng kín, anh bỗng nhớ đến chỗ cất chìa khóa cửa bí mật của chúng ta ngày trước, nên vội đi tìm. Quả nhiên.
 
Bà Lê ngắt lời:
 
- Còn thằng Linh, sao thấy ba về lại kêu khóc om sòm thế kia?
 
Ông Lê đỡ lời:
 
- Có gì đâu? Nó thấy anh bị mất hết một cánh tay, nên quá buồn đấy thôi.
 
Bà Lê vồ lấy tay chồng, hoảng hốt:
 
- Trời ơi! Thế à?
 
Rồi bà sụt sùi nhỏ lệ.
 
Ông Lê ôn tồn bảo:
 
- Hai mẹ con đừng buồn khổ làm chi. Như vầy là anh đã làm tròn bổn phận người trai rồi đó.
 
Lặng thinh một chốc, ông tiếp:
 
- Vừa rồi, trong một trận chiến, anh bị thương ở tay. Tưởng cũng chả sao, ngờ đâu lại phải cưa đi. Rõ ra, anh buồn bã vô cùng, vì từ đây phải vĩnh viễn rời xa quân ngũ. Song số trời đã định vậy, biết sao.
 
Bà Lê nghẹn ngào hỏi:
 
- Lúc bị thương, sao mình không cho em hay?
 
- Anh không muốn mẹ con mình quá lo lắng, nên mới giữ kín đến nay đấy.
 
Dứt lời, ông Lê cười to:
 
- Mà thôi! Thân hình tôi có thế này, tôi mới được về đây sống mãi với mẹ con bà chứ. Vui lên nào: Tết nhứt không được khóc lóc nhé!... Bây giờ, hai người phải khai cho rõ, chiều ba mươi Tết mà đi đâu từ sớm đến giờ?
 
Thấy ông nói cười vui vẻ, mẹ con bà Lê cũng vơi đi phần nào sự xót xa. Linh lau nước mắt, nhỏ nhẹ đáp:
 
- Thưa ba, má và con vừa đi tặng quà, ủy lạo các thương binh ở bệnh viện đó.
 
Ông Lê reo:
 
- Vậy hả? Tốt lắm, tốt lắm! Hoan nghênh hai mẹ con!
 
Bà Lê bật cười. Bao nỗi lo buồn vụt tan biến mất. Cả ba như vừa nhận thấy hương vị ấm nồng của mùa Xuân thoang thoảng quyện khắp nhà.
 
Ngoài kia đêm vẫn buông, lặng lờ nuối tiếc một năm trời trôi qua thoáng chốc.
 
Chợt có tiếng súng từ miền xa vẳng lại. Không hẹn, ông Lê, bà Lê, và Linh cùng cúi đầu, cầu nguyện sự may mắn cho cho các chiến binh, giờ nầy đang xông pha ngoài trận tuyến...
 
 
Kính tặng các thương binh       
SA BIỆT LƯU              
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa Xuân Ất Tỵ, 1965)
 

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>