Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

Người Khuất Mặt Đêm Noel


Tôi đến Saigon thăm căn gác trọ của anh Kim vào buổi chiều lễ Giáng sinh thật vui thật đẹp. Con đường Cao Đạt 5 giờ chiều nay mang một bộ mặt sáng sủa dễ thương hơn trước nhiều. Niềm vui dào dạt lâng lâng trong lòng tôi, đung đưa trên những chiếc đèn ngôi sao đủ màu đủ kiểu trước cửa nhà hai bên đường. Tôi muốn dành cho anh Kim một ngạc nhiên bất ngờ nên không báo trước, nhưng tiếc thay anh lại đi vắng. Biết lắm mà ba má mới cho Honda sức mấy mà anh không "đi một đường lả lướt" ra chợ Bến Thành hay ngoài xa lộ vào buổi chiều Noel một năm mới có một lần nầy. Tôi chợt khám phá ra một thích thú khác trong dự định xem xét kiểm soát cái "dinh cơ" của anh Kim một lần cho biết.

Khom người bước lên mười mấy bậc thang gỗ chật hẹp đưa tới gác trọ, suýt nữa tôi đã xỉu khi nhìn thấy tận mắt cái "ổ chuột" khổng lồ của ông anh yêu quí. Thế mà những lần về quê nghỉ hè, anh vẫn lớn tiếng dạy đời chị em chúng tôi nào là vô trật tự, mất vệ sinh nào là không có con mắt thẩm mỹ. Tôi che miệng cười một mình không biết quan niệm trật tự vệ sinh và thẩm mỹ của anh Kim thế nào với bàn ghế giường chiếu ngổn ngang, quần áo sách vở vất lung tung và tàn thuốc rác rến bừa bãi ra cả sàn gác đó. Đã bảo với anh nhiều lần là nơi nào thiếu vắng bàn tay phái đẹp sắp xếp dọn dẹp thì đừng hòng có sạch sẽ ngăn nắp, mà có bao giờ anh chịu chấp nhận "chân lý" đó của tôi đâu! Một lần anh vênh mặt hỉnh mũi bảo tôi Đàn bà con gái như cô suốt đời bận tâm lo nghĩ những cái vụn vặt, tỉ mỉ, tầm thường nhỏ mọn đó, còn thì giờ đâu mà biết đến đại sự Quốc gia, xã hội. Tôi ức lòng thấy phe phái mình bị xúc phạm quá đáng mà không biết đối đáp làm sao nên khóc òa chạy đi mét má. Anh Kim xanh mặt đuổi theo giữ tôi lại rồi xuống nước năn nỉ ỉ ôi xin rút lại những lời miệt thị và đấm ngực ăn năn sám hối "tội tình". Đến lúc đó, tôi mới quẹt nước mắt làm hòa và bỏ qua vụ đó. Sau nầy tôi mới hiểu ra anh Kim đã đóng kịch thần tình trong màn "xin lỗi" giả vờ đó Thế mà hồi ấy tôi ngu, cứ ngỡ anh Kim hối hận thật lòng rồi cảm động tha thứ cho anh mới chết chứ! Chắc anh không khỏi cười thầm con nhỏ mắc mưu "cáo già quỷ quyệt" Nhớ lại cảnh anh Kim quì dưới chân tôi, mặt mày nhăn nhó, tay đánh vô ngực thùm thụp, đồng thời, uốn ba tấc lưỡi van lơn thảm thiết mà tôi thầm phục cái tài "mị dân" của anh. Tôi vẫn thường "khen" anh có cái miệng duyên dáng của Khả Năng và điệu bộ hài hước của Phi Thoàn, nên có thể theo làm đồ đệ xách va li cho hai nghệ sĩ ấy được lắm Câu trước, anh khoái phổng lỗ mũi, nhưng câu sau, anh rượt tôi chạy có cờ...

Tôi ra áo ngắn kiên nhẫn quét dọn sắp xếp lại căn gác bê bối với niềm sung sướng hãnh diện đã giúp anh Kim giải quyết một vấn đề có lẽ hết sức khó khăn với anh. Tôi muốn nói lên tất cả sự thương yêu kính mến tôi dành cho anh trong công việc tầm thường nầy. Tội nghiệp anh một mình cô đơn gác trọ, buồn vui một bóng lẻ loi trên căn gác chật hẹp tối tăm nầy Tôi không hiểu làm sao anh có thể chịu nổi những buổi chiều trời mưa tầm tã, hay những đêm khuya giật mình thức giấc giữa cảnh vắng lặng đìu hiu của khu phố còn vương vất bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu kỷ niệm của người em trai xấu số ba năm trước khắng khít hủ hỉ bên anh. Nhìn khuôn hình anh Tiên (lúc nào anh Kim cũng mang theo đặt trên bàn viết) tôi nghĩ đến anh Tiên và hai mắt tôi nồng nàn cay xé. Ba năm rồi anh đã bỏ đi! Ba năm rồi anh đã vắng mặt trong gia đình thân yêu cũng như trong cuộc sống bấp bênh nầy! Tôi biết thời gian rồi sẽ xóa bôi tất cả. Nhưng cho đến bây giờ hình ảnh và những kỷ niệm về anh chưa phai mờ trong ký ức chúng tôi. Ba má tôi không bỏ qua một dịp nào để nhắc nhở, để khêu gợi những xót xa, những nhớ tiếc. Và như một vết thương trong tâm hồn, nỗi đau buồn tang chế đó vẫn thường xuyên được đào sâu rướm máu mãi không thôi. Tội cho anh Tiên số phần vắn vỏi. Đâu phải anh giận đời, buồn thế sự mà tự ý tìm về bên kia cõi sống. Chắc anh đâu muốn xuôi tay nhắm mắt giữa tuổi hoa niên yêu đời mười tám với tương lai hứa hẹn sáng ngời. Chính Tử Thần đã đến và bất ngờ cướp mất anh đi trong một tai nạn lưu thông hết sức tầm thường. Làm sao anh Kim quên được căn gác trọ. Con đường Cao Đạt, trường Rousseau, tất cả còn in rõ dấu vết của anh Tiên. Nhất là trên căn gác kỷ niệm nầy, mỗi một phân vuông nào anh Kim cũng gặp thấy hơi hám, chứng tích của anh Tiên lưu lại. Chỉ có mình tôi hân hạnh được anh Kim cho đọc những dòng nhật ký ghi lại khoảng thời gian ba năm chung sống đó. (Bao nhiêu đó cũng đủ chứng tỏ anh Kim "cưng" tôi nhất nhà). Tôi sung sướng hãnh diện vừa là em gái vừa được đóng  vai người bạn tri kỷ của anh, mặc dù mỗi lần xáp lại là in như có chuyện tranh luận cãi nhau Nhiều lúc ba má bực mình phải dùng tới quyền "phủ quyết tuyệt đối" mới dàn xếp ổn thỏa được. (Chúng tôi đã đồng ý chọn đường lối "dân chủ" mà lỵ tự do ngôn luận, tự do phát biểu ý kiến và tự do bênh vực lập trường của mình!) Ôi! Những năm "du học" đầu tiên nghèo nàn thiếu thốn giữa đô thành hoa lệ. Sách vở, tập viết cũng như mọi thứ cần dùng quá đắt đỏ - gia đình tôi dưới quê cũng chẳng dư dả gì - cho nên hai anh tôi phải thường xuyên nhịn ăn nhịn mặc, hạn chế tiêu xài mới dành đủ tiền đóng học phí hàng tháng đều đều. Làm sao anh Kim quên được hai anh em thuở đó Có những buổi sáng nhịn đói đi học Có những buổi trưa thèm khát một ly nước mía. Những bận đi về đạp xe máy áo ướt mồ hôi. Và biết bao nhiêu lần đi ngang rạp hát, nhưng dám đâu nghĩ tới một chầu xinê hay hơn nữa một suất cải lương chưa biết bao giờ Có những đêm chung đèn ngồi học, chung một tâm sự xa nhà, chung niềm ao ước một chiếc Honda đỡ chân, đỡ tủi... Ba hứa phần thưởng anh Tiên thi đậu tú tài sẽ cho anh em một chiếc Honda 67. Anh Tiên cố gắng học hành đỗ cao năm đó, nhưng xe còm-măng chưa về tới Sàigòn thì anh đã chết. Cho nên tôi nghe anh Kim nói hoài Mỗi lần nhẩy lên Honda là bùi ngùi thương nhớ anh Tiên ray rứt không nguôi. Những bức thư sau nầy anh gửi về nhà, ba má chị em tôi đọc khóc hết nước mắt. Anh bảo Tội nghiệp em Tiên không rán sống đến bây giờ để hưởng được sự bao dung rộng rãi của ba má cũng như để bù lại mấy năm trước thiếu thốn nhọc nhằn. Tôi cũng cảm thấy anh Kim thay đổi lạ lùng. Những năm gần đây anh tỏ ra chìu chuộng dễ dãi với chúng tôi hơn. Mỗi dịp nghỉ hè anh không bao giờ quên phần quà bánh cho chị em chúng tôi bốn đứa. Gương mẫu thương yêu đó không hiểu tại sao chị em tôi bắt chước cũng khá dễ dàng Dường như khi có một đứa trong gia đình mất đi vĩnh viễn những đứa còn lại mới nhận ra nhau ruột thịt máu mủ và từ đó mới biết đùm bọc thương mến nhau hơn...

7 giờ tối, chú Tám chủ nhà dọn cơm mang lên anh Kim vẫn chưa về. Tôi hỏi chú Tám giờ giấc đi về của anh. Chú bảo ít khi anh ấy về trễ giờ cơm, nghĩa là thường trước 7 giờ. Tôi nói anh Kim chiều nay vui chân rồi đó. Chắc anh đâu ngờ tôi đang ngồi nhà mong đợi. Tôi cũng chưa thấy đói. Có thể nói tôi đang no đầy niềm vui. Chú Tám bỏ xuống nhà dưới. Tôi ra bao lơn phía trước nhà. Sàigòn ban đêm dưới mắt "nhà quê" của tôi vui đẹp làm sao! Ước chi bây giờ tôi được theo anh Kim đánh một vòng xem đèn, xem máng cỏ. Chắc là thích thú mê ly phải biết! À, lát nữa anh Kim về, thế nào tôi cũng đề nghị với anh sau lễ khuya ở nhà thờ Chợ Quán, hai đứa sẽ đi dạo Sài thành ban đêm, đặc biệt trong đêm Noel 68 nầy. Quay vào nhà tìm sách đọc giải khuây, tôi ngạc nhiên biết được anh Kim của tôi, sinh viên Luật năm thứ hai rồi mà cũng mê Tuổi Hoa như điên! Bằng chứng là một chồng báo Tuổi Hoa còn mới toanh không nghe nói anh mua hồi nào xếp đầy cả một góc rương sách đó. Tôi cứ ngỡ "sinh viên người ta" đâu có thèm coi chuyện con nít như mình Hay anh biết mình có bài được đăng trong đó nhỉ Mình giấu tên mà Sức mấy ảnh nhìn cho ra. Thôi chết rồi! Anh Kim mà biết được bài nào của tôi, anh sẽ mang đọc to cho cả nhà nghe rồi phê bình chọc quê, tôi có nước độn thổ luôn! Làm sao bi giờ? Vái Trời cho anh Kim không hiểu được tôi viết về anh, về anh Tiên và cả tôi trong Tuổi Hoa đó...

Có tiếng xe rồ máy trước nhà. Tôi liệng sách băng xuống nhà dưới, nhẩy hai ba bậc thang một lượt suýt nữa té nhào, hồi hộp lẫn hy vọng anh Kim về tới.

- Chú Tám ơi! Chú Tám ơi!

Đúng tiếng anh Kim, không thể lầm lẫn được. Tôi la lên mừng rỡ vừa chạy bay ra cửa cái.

- Anh Kim ơi! Có Lan lên thăm anh nè.

- Trời ơi! Lan đó hả, mong anh đã đời chưa?

Sao giọng anh Kim lạc đi như vậy. Anh xúc động chuyện gì thế nhỉ?

Chú Tám bước ra vội vã. Dường như có điều gì bất thường, tôi đọc thấy trên vẻ mặt lo lắng của chú.

- Có chuyện gì mà quýnh lên vậy Kim?

- May quá chứ ơi! Con vừa bị xe đụng suýt chết. Tưởng gẫy giò rồi đó chú.

Chú Tám và tôi đồng giật mình kêu "Chúa ơi!" một lượt rồi vây lấy anh Kim hỏi han rối lên. Anh Kim mặt còn xanh lè sợ hãi, hổn hển thuật lại tai nạn vừa rồi. Anh lách tránh thằng nhỏ trong hẻm vọt ra, bị xe Jeep ủi văng xuống lộ, nhưng nhờ "có nghề võ" nên không sao cả (Ghét anh Kim ác! Đến nước nầy mà anh cũng diễu được!) Anh thấy rõ ràng có Ơn Trên che chở đáng lẽ nó cán nát người ra rồi. Ghê khiếp quá, tôi ôm mặt le lưỡi dài cả khúc. Chú Tám ngồi xuống mân mê chiếc xe.

- Có hư hao gì không vậy Kim?

- Sơ sơ hà chú. Còn chạy về tới nhà được đó chú.

Chú Tám dắt hộ chiếc Honda vào nhà xe, tôi dìu anh Kim lên căn gác trọ. Giọng anh bình tĩnh vui vẻ trở lại.

- Tưởng đâu theo chân anh Tiên rồi chớ. Anh sẽ nhớ Sinh Nhật năm nay trọn đời. Lan biết tại sao không?

- Chắc anh muốn nịnh rằng đêm nay có Lan ở đây với anh chứ gì?

- Cha! Nghèo mà ham quá vậy em cưng? Ừ, thôi, cho Lan 5 điểm thông minh đó. Anh muốn nói Chúa Hài Đồng năm nay đã dành cho anh em mình một lễ Noel đẹp nhất với niềm vui thật trọn vẹn đó Lan. Lát nữa trước Máng Cỏ, Lan đừng quên hợp ý với anh cảm tạ lòng nhân lành của Ngài nhé.

Tôi thấy yêu thương anh Kim hơn bao giờ hết. Tí nữa, tôi đã mất anh rồi. Tạ ơn Chúa Chúa không để Tử Thần cướp đi niềm vui Sinh Nhật của anh em tôi Chúa không nỡ để tôi đổ lệ trong ngày Chúa giáng thế Chúa đã muốn giữ gìn đêm nay mãi mãi là một đêm trọng đại Chúa đến, đem Tin Mừng Cứu Độ, cũng như mãi mãi là một kỷ niệm êm đềm hoan hỉ cho tôi, cho gia đình tôi.

Tôi ngước mắt nhìn anh Kim và nhận ra những nét đặc biệt quen thuộc của anh tiên. Tôi tin tưởng trên cõi trời cao Thiên Đàng bên Chúa, anh Tiên chắc mỉm cười nhìn thấy tình thương và niềm vui thanh cao trong sạch đang nở hoa căn gác nghèo nàn nầy. Nơi đó, anh Kim và tôi, những người thân yêu của anh đang nghĩ rằng anh vẫn hiện diện, gần gũi bằng hình ảnh, bằng kỷ niệm, nhất là bằng sự cầu bầu hữu hiệu, thường xuyên.


HUYỀN MAI


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 98, ra ngày 15-12-1968)

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

Đêm Noel Đầy Nước Mắt


- Chị Kim ơi.

Có tiếng bé Oanh gọi ở ngoài sân, tôi vội buông cuốn sách đang học xuống khẽ hỏi:

- Gì thế Oanh?

Oanh tất tả chạy vô nhà thở hồng hộc:

- Sắp... sắp...

- Sắp gì?

Oanh trợn mắt cố nói cho rõ ràng:

- Sắp... tới... tới lễ Noel rồi...

Tôi thở dài buồn bã:

- Ừ.

Oanh không chú ý đến khuôn mặt buồn rầu của tôi, nó thao thao liên tục:

- Nhà con Huệ đó chị Kim, má nó mua hang đá nè, cây thông nè, đèn ngôi sao nè, đủ thứ hết trơn đó. Sao bây giờ mà hông mua như năm ngoái hé. À nè chị Kim, con Huệ nó thi với em coi ông già Noel cho ai đồ chơi đẹp hơn đó.

- Thôi Oanh đừng thi với nó nữa, lỡ Oanh thua làm sao.

Oanh lắc đầu phụng phịu:

- Hông, em cứ thi, năm ngoái em thắng nó mà. À chị Kim, có phải đứa nào ngoan thì ông già Noel cho đồ chơi đẹp phải không?

- Ừ.

Oanh sung sướng, toét miệng cười:

- Vậy thì em thắng nó rồi, má biểu em ngoan lắm đó.

Tôi nghe vậy chép miệng thở dài, tôi muốn nói cho bé Oanh biết rằng sự thực không có ông già Noel nào cả. Người mà cho các em bé đồ chơi trong các đêm Giáng sinh chính là cha mẹ các em đó. Mà bây giờ ba má đang túng thiếu làm sao mua đồ chơi đẹp cho Oanh được. Nhưng tôi không muốn cho giấc mộng của nó bị tan vỡ. Ông già Noel hoặc chị Hằng phải có mãi mãi trong đầu óc non nớt của trẻ thơ. Tôi nhìn Oanh rồi thở dài:

- Thôi Oanh đi ngủ đi, chiều chị dắt đi dạo phố.

- Vâng.

Oanh ngoan ngoãn leo lên giường ngủ.

Một tuần lễ trôi qua một cách êm đềm, chỉ còn một ngày nữa là đến lễ Noel rồi. Bé Oanh náo nức lắm, nó cố tỏ ra ngoan ngoãn để ông già Noel cho nó đồ chơi đẹp. Trong lúc đó thì tôi lo âu hết sức, vì nếu không mua cho nó thứ gì thì tội nghiệp nó quá, nó ngoan ngoãn lắm chứ đâu có hư hỏng gì. Mà nếu mua thì không có tiền, bây giờ đồ chơi Noel rẻ lắm cũng ba bốn trăm chứ không như ngày xưa. Sau một hồi suy nghĩ, tôi quyết định mua cho nó chiếc ô tô nhựa ở tiệm chú Ba. Tôi sẽ bỏ ra mười đồng, số tiền mà cậu Tín cho tuần trước và xin má thêm năm đồng cho đủ. Năm phút sau tôi từ hàng chú Ba về, tay cầm chiếc ô tô nhựa, tôi giấu kín đi không cho bé Oanh thấy.

*

- Gì mà ríu rít thế Oanh?

- Em kiếm cái giầy của ba.

- Để chi?

- Để tối nay ông già Noel nhét đồ chơi vào.

- Ủa sao bé không lấy cái giầy của bé?

- Giầy em bé lắm, ông già Noel cho ít, giầy ba to ông gia Noel cho nhiều.

Tôi phá lên cười, cười sặc sụa, cười chảy nước mắt:

- Bé Oanh của chị tham quá, lêu lêu xấu hổ.

Bé Oanh mắc cỡ bỏ chạy mất hút, lát sau nó xách đôi "bốt" thật to của ba đưa cho tôi nói:

- Chị Kim, khiêng cái giầy này để lên cửa sổ giùm em đi.

Tôi đặt chiếc giầy lên cửa sổ, bên ngoài gió đông lạnh lẽo thổi ập vào kèm theo hơi thở của Chúa hài đồng Giêsu và tiếng chuông đổ liên hồi của một ngôi giáo đường nào đó.

*

Gà vừa gáy sáng bé Oanh vội phóng vọt xuống giường không kịp xỏ dép, Oanh hấp tấp chạy ra cửa sổ xem cụ già Noel cho nó cái gì. Từ đằng xa nó trông thấy một vật gì đo đỏ lòi ra ở đôi bốt, nó reo lên:

- A ha, em có đồ chơi rồi chị Kim ơi.

Nó chạy lại đôi "bốt" lôi vật màu đỏ ra. Gương mặt đang hớn hở vui tươi của Oanh bỗng dưng xịu xuống, vì vật mà ông già Noel cho nó không phải là những đồ chơi đẹp đẽ đắt tiền như máy bay, xe tăng hay búp bê v.v... mà chỉ là chiếc ô tô bằng nhựa thô sơ. Một thoáng buồn len lỏi vào tim nó, đôi dòng lệ lóng lánh từ khóe mắt tuôn ra, nó khẽ nấc lên một tiếng. Rồi bỗng nó sực nhớ đến cuộc thi giữa nó với con Huệ, bây giờ thì nó chẳng dám đi khoe đồ chơi với ai nữa. Ngăn không nổi xúc động nó khóc òa lên. Tôi nãy giờ chứng kiến không sót một cử chỉ nào của đứa em bất hạnh nên cũng xúc cảm theo. Đôi dòng lệ chợt tuôn rơi. Tôi đưa tay chùi nước mắt khẽ gọi:

- Oanh.

Oanh thấy tôi càng khóc to hơn, nó chạy lại ôm chầm lấy tôi nức nở:

- Hu hu, Kim ơi, hu hu, ông già Noel hu hu ổng... ổng hông thương em hu hu.

Tôi vuốt nhẹ lên mái tóc đen huyền của nó, an ủi:

- Thôi nín đi Oanh, ổng không cho Oanh đồ chơi đẹp thì thôi, cần gì hé Oanh.

Oanh vẫn khóc nức nở trong khi đó ở nhà bên cạnh con Thu đang ngâm nga bài "đêm đông":

- Đêm dông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa...


ANH VIỆT   


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 167, Giáng Sinh, ra ngày 15-12-1971)

Thứ Năm, 14 tháng 12, 2017

Những Thiên Thần Bằng Sành


1

Anh Danh thả bé xuống sau khi đã chở bé đi hết con dốc. Anh vuốt tóc lại cho bé, và quàng dây chiếc cặp qua vai cho bé.
 

- Vào trường đi! Chiều anh tới đón.
 

- Nhớ nghen! Anh Danh không được trốn đi nữa đó.
 

Anh bẹo má bé, và bỗng nhìn thật lâu vào đôi mắt đang mở tròn to ngơ ngác. Chắc bé không hiểu gì đâu! Bé hẳn đang nghĩ rằng anh Danh kỳ quá, cứ biết trêu chọc con nít thôi, ngoài ra không làm được gì hết. Có một nỗi vui chợt đến cùng lúc với một nỗi buồn. Anh muốn cười to, và đồng thời cũng thấy muốn khóc. Bé ngây thơ vô tả. Bé xinh xắn giống như mọi đứa bé trên thế gian. Bé vui tươi khôn cùng. Mà anh thì già khụ hơn ông lão. Anh xấu xí đen đúa so với bé. Và anh hay buồn. Thật vô duyên như một đám mây đen lẻ loi giữa bầu trời xanh. Bé đã quay lưng. Anh muốn theo bé vào trường. Nhưng thôi. Đám mây đen phải theo gió mà bay đi.

Bé ngoảnh lại, dặn thêm:
 

- Chiều anh nhớ đến đón.
 

Anh gật đầu, rồi leo lên xe đạp. Có tiếng “cót két” dường như ở yên xe, nơi bàn đạp, hay trước tay cầm – không biết. Nhưng đó là một sự tố cáo rằng anh đã lâu không dùng đến chiếc xe này. Ai cũng có sở làm xa, cũng đi xe gắn máy. Bé nhỏ xíu thì đi học phải có người đón đưa. Chỉ có anh xa nhà quá lâu. Hơn nửa năm còn chi! Anh trở về khi mùa đông gần tàn lụi. Anh gặp lại chiếc xe đạp vẫn để ở trong căn phòng sau lưng buồng ngủ, như gặp lại những người thân, gặp lại bé. Chiếc xe đạp giúp anh đi chơi trong những ngày giờ trống, và chở anh với bé thả dốc, leo dốc, đưa đón bé đi học. À, thế thôi. “Kỷ niệm” là như vậy thôi. Anh còn vài ngày nữa để “làm kỷ niệm” trong tâm trí bé. Khi anh tiếp tục đi xa nhà như bao lâu nay, bé sẽ nhớ, ít ra là nhớ những ngày gió lộng được anh chở đi học – Con dốc dài có nhiều hoa Cúc vàng mọc bên đường, ngang qua lò gốm và dẫn đến ngôi trường nhỏ – Những ngày cuối đông nghe lạnh hơn mọi khi – Những cụm mây xám trên nền trời buồn – Và tiếng “cót két” của chiếc xe đạp cũ kỹ thân mến – Kỷ niệm là đó, bé!

Anh đạp xe leo lên con dốc cũ. Không có bé sau lưng, anh vẫn cảm thấy nặng nề. Bởi con dốc khá cao. Nhưng đã nói trời lúc này lạnh hơn mọi khi, nên anh không thấy mệt. Anh bỗng nhớ lại lúc mình mới mười ba, mười bốn tuổi, chiều nào cũng rủ bạn bè đua xe đạp với nhau, vượt những quãng đường thật dài, chạy đến toát mồ hôi mới chịu. Thuở bé ai cũng có những ngày giờ và những việc làm thật vô ích – người lớn sẽ nghĩ như vậy. Nhưng phải là con nít mới cảm thấy thú vị, sung sướng khi rong chơi, nghịch ngợm và đấm đá nhau. Bé sẽ lắc đầu và trề đôi môi mỏng hồng thắm ra mà cười khi biết anh thuở nhỏ như thế. Vì bé là con gái. Bé có nhiều trò chơi hiền dịu, dễ thương hơn của anh. Bé có ba bốn đứa bạn ngoan quá là ngoan. Bé có một con búp bê nhỏ bằng củ khoai lang. Bé có một con chó bằng len của chị bé làm cho, trắng như bông gòn. Và bé có một rổ đựng son, chảo, chén, đũa bằng nhựa quá xinh. Anh không biết chơi kiểu như bé. Nhưng không ai cấm được anh thích thú khi nhìn bé bày hàng. Anh muốn ngồi xuống chơi với bé. Anh muốn giả giọng “bà cụ non” nói với bé:
 

- Bán cho “tui” năm đồng chè đậu đen đi “bà”!
 

Không ai cấm được anh ngắm bé ôm búp bê ru ngủ. Anh không phải nhà thơ nên không biết nói gì để ca tụng bé. Chỉ biết rằng đứa bé nào ôm một con búp bê, một cái gối hay một khúc gỗ giả làm em bé mà ru ngủ thì cũng đều dễ thương cả.

Anh gò lưng đạp xe lên dốc, nhưng dừng lại ở ngang lò gốm. Những hũ, bình, chén, đĩa phơi ở trước sân trông đẹp quá! Anh leo xuống, nhặt một mẩu đất sét. Đất kêu nhẹp nhẹp giữa mấy ngón tay. Anh lại đang làm một công việc vô ích đây chăng? Có gì đẹp đẽ ở mẩu đất sét? Anh không có bàn tay khéo léo để làm ra những chén đĩa lọ bình như mấy người thợ kia, nên đất sét vào tay anh trở thành vô dụng. Anh hờ hững quăng mẩu đất sét đi. Mấy ngón tay anh còn dính lại một chút đất sét. Quái, hình như hồi còn bé có lần anh đã lẩn thẩn hỏi: “ Tại sao việc gì qua đi cũng để lại dấu vết nhỉ?”. Rồi anh lại tự cho rằng đó là lẽ đương nhiên, nó phải như thế. Như bị đòn thì phải còn lại dấu roi, ăn vụng thì thường dính mép, khóc xong thì mắt phải đỏ, và đạp xe mãi thì chân phải mỏi. Nghĩ như vậy đó, thật là trẻ con và lẩm cẩm. Tự nhiên anh nghĩ giá anh là một người thợ lò gốm chắc anh sẽ làm cho bé thật nhiều đồ chơi bằng sành, bé sẽ thích lắm vì đẹp hơn đồ chơi nhựa. Vì anh muốn mai kia anh đi rồi anh sẽ còn để lại cho bé một vài dấu vết. Ít ra bé sẽ nhớ hoặc nghĩ đến anh một lần trong mỗi ngày, khi nhìn các món đồ chơi bằng sành đó. Uổng quá! Anh không làm nên tích sự gì cho bé cả. Vậy mà ở ngoài đời, anh hăng hái vô cùng. Khi trở về anh mới thấy rằng anh đang bỏ bé quá xa. Anh đang bỏ quên tuổi thơ của anh, của bé. Nhưng bây giờ anh đang yêu những gì bé dại, nhỏ nhắn đây. Anh đang muốn làm một cái gì cho bé. Thương con nít, không phải chỉ ngồi ngắm nó hay viết văn, làm thơ ca tụng nó – mà phải làm gì cho nó. Ít ra, trong đời sống anh, cũng đang có bé.


2

Bé Thơ sáng đôi mắt lên khi thấy anh Danh đón ở trước trường. Anh cũng đi bằng chiếc xe đạp ấy. Và đã đúng như lời hứa là anh không trốn đi chơi. Bé thích được anh chở leo lên dốc. Khi anh khom lưng đạp xe, bé vịn chắc yên trước, hỏi:
 

- Anh Danh mệt không?
 

- Không mệt.
 

Bé không tin, hỏi nữa:
 

- Không mệt sao anh thở?
 

Anh cười khì:
 

- Người sống thì phải thở chứ sao!
 

Anh trả lời gàn như ông cụ. Nhưng tự nhiên câu nói của anh làm bé thấy thương anh chi lạ! Lúc trước, anh đi đâu lâu quá không về, đôi khi bé thắc mắc không biết anh có đang thở, đang ăn, đang ngủ, đang nói… giống như bé và mọi người trong nhà đây không. Bé có nhiều câu hỏi tự đặt ra và tự trả lời. Bé không nhờ ai giải thích. Ai cũng có việc riêng của người ấy. Chỉ có anh Danh là bé muốn để dồn nhiều thắc mắc về hỏi anh. Không phải vì anh là người hay giải đáp. Mà vì bé biết anh là Ông Già Nô-en đến bỏ quà bên cạnh bé trong khi bé ngủ say – Anh chỉ làm như thế vào một đêm trong mùa đông của mỗi năm thôi. Mỗi lần nhận quà bé đều tin rằng đó là quà của Ông Già Nô-en cho bé. Bé cám ơn “ông ấy” mà không cám ơn anh. Nhưng anh vui lắm chứ anh có giận đâu! Đến nay anh vẫn chưa biết là mẹ đã tiết lộ bí mật cho bé rồi. Nhưng bé sẽ im lặng, để anh lại tiếp tục làm Ông Già Nô-en tặng quà cho bé. Anh đã về đúng lúc mùa đông gần hết. Gió lạnh nhắc bé rằng bé sắp được có quà. Nếu anh không về nhằm lúc này thì sao nhỉ? Chắc là mẹ sẽ nói với bé rằng năm nay Ông Già Nô-en bận việc không đến, hoặc “ông ấy” hết tiền rồi… Ý nghĩ đó làm bé bật cười, và hỏi anh không do dự:
 

- Anh Danh! Anh còn tiền không?
 

- Hết rồi. Bé muốn ăn kẹo hở?
 

- Dạ đâu có!
 

Xe đạp đã đến ngang lò gốm. Anh Danh ngừng xe lại, đỡ bé xuống. Anh bảo:
 

- Tới đây, xem người ta nắn đồ sành. Rồi có muốn ăn kẹo, anh cho.
 

Tiếng của anh lùng bùng trong gió. Bé ôm chặt chiếc cặp vào người. Anh còn nói gì nhiều chữ nghe không rõ. Anh và bé ngồi xuống trên sân phơi đồ sành. Anh cũng đang nói nữa. Bé thích thú khi thấy anh vừa nói vừa móc trong túi áo lấy ra hai chiếc kẹo:
 

- Bé muốn có một món đồ chơi bằng sành không? Anh sẽ làm cho. Một trái bưởi nhé! Một trái khế nhé! Hay là một con chuột bạch? Hay một ông tiên bồng đứa bé giống như hình vẽ trên cái đĩa này?
 

Bé lắc đầu:
 

- Không, bé không thích mấy thứ đó. Để nghĩ coi… Anh Danh làm cho bé… nhiều thật là nhiều thiên thần đi!

Bé không biết rằng anh đang trố đôi mắt nhìn bé, ngẩn ngơ. Thật là nhiều THIÊN THẦN cho bé! Chết anh rồi! Anh nào có biết nắn đất sét thành thiên thần. Anh cũng chưa bao giờ nhìn kỹ hình hay tượng của thiên thần. Anh chỉ còn nhớ những khi ngắm nhìn hang đá bày bán ngoài phố, anh thấy những vị thiên thần dường như là trẻ nhỏ, có cánh trên vai và gương mặt thì dịu hiền ghê lắm.

- Ừ, anh sẽ làm. Nhưng xấu thì ráng chịu nghe!
 

Bé dạ. Anh lại dẫn bé ra nơi có đống đất sét. Anh nhặt lên một mẩu. Không đủ đâu. Bé đòi có nhiều thật là nhiều thiên thần. Anh phải xin nhiều đất sét đem về nhà. Anh sẽ làm cho bé nhiều tượng thiên thần, cho bé sắp dài trên bàn học. Bé sẽ có một thứ đồ chơi độc đáo mà tụi bạn bé không có: Những thiên thần bằng đất sét – a, nói như thế nghe không hay chút nào – những thiên thần bằng sành, bé hở!
 

Nhưng anh lại ngẩn ngơ. Làm sao để có mẫu mà nặn đây? Anh lại phải ra chợ mua một bức tượng thiên thần về bắt chước theo ư? Anh chẳng muốn thế chút nào. Anh sẽ làm bằng óc tưởng tượng của riêng anh.

Khi bé lúi húi leo lên yên sau xe đạp, anh bỗng dưng có ý nghĩ rằng bé cũng đẹp như một thiên thần. Vì rõ ràng trước mắt anh, bé xinh xắn ngoan hiền và thanh khiết vô vàn. Anh nhớ đến một dạo nào người ta đã ví tuổi thơ như thiên thần. Nhiều người đã viết, và nhiều người đã lập lại như thế. Anh không thích bắt chước họ, cũng không thích viết văn. Ca ngợi con nít là thiên thần, đối với anh không có lợi ích gì. Anh chỉ muốn nhìn bé và nắn cho bé nhiều bức tượng thiên thần, thế thôi. Anh giản dị vô cùng bé hở!

Bé biết không, anh cũng là một thứ “thiên thần” đó! Một thứ thiên thần không có cánh mà bay được. Anh không muốn nhận một thứ danh xưng nào cả. Anh chỉ muốn làm anh của bé, của một đứa trẻ thơ thanh khiết. Bỏ qua cái hiệu “thiên thần” của anh đi. Anh còn một số ngày để ở lại với bé trong mùa đông này. Mai mốt trên bàn học của bé sẽ có nhiều thật nhiều thiên thần bằng sành để thành một hàng. Anh chưa dám hứa với bé là sẽ có bao nhiêu, vì anh sẽ bắt đầu làm, ngay chiều nay, suốt ngày, cho đến khi anh tiếp tục đi xa nhà.

3

Mùa đông sẽ tàn lụi. Bé Thơ biết như thế. Cả những cơn gió lạnh rồi cũng sẽ không còn. Còn một thứ vui thích của bé là nhận những món quà của “Ông Già Nô-en” cũng mất cả ‎ ý nghĩa. Bởi vì lần này, chính tay anh Danh đã viết vào mảnh giấy để bên gối bé, rằng: “Anh là Ông Già Nô-en, đêm nay đến tặng cho bé Thơ món quà này. Ông Già Nô-en hết tiền, nên chỉ cho bé hai mươi thiên thần bằng sành. Cho bé ngoan mãi”. Và sáng hôm sau anh đã đi thật sớm. Đã đến ngày anh đi rồi. Tượng thiên thần thứ hai mươi chưa hoàn thành. Có một cái cánh gắn chưa kỹ vào vai. Dù thế, bé vẫn cho nó nhập bọn với những tượng kia. Bé sắp cho các thiên thần đứng chung với nhau thành một dãy dài trên bàn học. Bé ngắm những đồ chơi đó và mỉm cười một mình. Tự nhiên bé thấy nhớ anh Danh kỳ lạ. Khi đó anh đang đi ở một nơi nào. Anh không có mặt ở nhà để thấy bé vui với những thiên thần nhỏ. Bé phải đi học với chị Thi. Và những hôm chị Thi bận, bé phải đi học một mình. Bé leo về con dốc cao, đường có nhiều hoa Cúc, dừng lại một chốc ở trước lò gốm. Người ta tiếp tục làm những chén đĩa hũ bình, phơi đầy sân và chờ đem bán.

Bé muốn reo lên cho người ta biết rằng chưa có ai nghĩ ra việc làm những thiên thần bằng sành cho trẻ nhỏ. Chỉ có anh của bé mới làm được mà thôi. Người ta sẽ hỏi rằng anh của bé là thợ trong lò gốm, là họa sĩ hay nhà điêu khắc? Bé sẽ đáp rằng anh của bé chỉ là một người biết đạp xe đạp chở em đi học và biết mua kẹo cho em ăn – ngoài ra anh còn biết đi xa nhà nữa thôi. Anh đi xa để làm gì bé không biết. Chẳng có ai nói cho bé biết hết.


Chẳng có ai nói cho bé biết hết! Nhưng một hôm nhà nhận được một mảnh giấy. Bé thấy ai cũng khóc. Chỉ có anh Danh thiếu mặt nơi đây. Bé biết có việc gì đã xảy đến cho anh Danh. Không ai dám cho bé biết, để mặc cho bé tưởng tượng những hình ảnh quái gở trong đầu. Ai cũng đi thăm anh Danh mà không cho bé đi theo. Ngày nào, tuần nào mẹ cũng đem thức ăn ngon đi cho anh Danh. Bé biết rồi, anh Danh không chết.

Anh Danh không chết. Nhưng bé biết rằng sự chết chắc cũng không ghê gớm bằng. Chết là hết – người lớn vẫn hay nói một cách tự nhiên như thế. Còn anh của bé vẫn còn sống nhưng chịu nhiều đớn đau. Bé khóc òa nhìn những thiên thần vô tư đứng trên bàn học. Có một-thiên-thần-đã-gãy-cánh. Đó là thiên thần thứ hai mươi mà anh đã làm vội vàng vì đã đến ngày đi. Có một thứ vỡ nát nào trong tâm tư non dại của bé. Có một đổi thay chua xót nào trong đời sống của anh rồi!!!

Buổi chiều nay tan học bé hờ hững đi về con đường quen. Những bụi Cúc vàng vẫn nở tươi vui. Ngang lò gốm vẫn thấy khoảng sân nhộn nhịp. Nhưng bé muốn khóc quá! Không còn thấy anh Danh khom người nhặt đất sét. Và trên con dốc này không còn anh Danh gò lưng đạp xe chở bé đi học. Dù anh có về nhà – bé biết – dù anh có về nhà, anh cũng không còn đạp xe được nữa. Không bao giờ anh đạp xe được nữa! Bé thương anh, thương bé, bé khóc ngon lành trên đường về.

Anh Danh xuất hiện ở cửa nhà, chờ đợi bé. Anh dang tay muốn ôm bé vào lòng. Bé nhìn anh như nhìn một người quen, một kẻ lạ. Anh đỡ cặp trên vai bé, vuốt tóc lại cho bé, và bẹo má bé. Những cử động quá quen và trở nên nhu cầu. Anh cười. Nhưng bé khóc.

4

Bé Thơ ơi! Đừng khóc. Anh đã thấy có nước mắt trong khoảng đời thơ ấu của bé rồi. Anh đã thấy có sự khắc nghiệt trong đời sống của anh. Anh đã thấy có một thiên thần gãy cánh trong đám thiên thần để trên bàn học của bé. Bé còn quá nhỏ dại nên khi thấy những mất mát, những đau đớn, bé khóc. Rồi đây, khi lớn lên, bé sẽ thấy có những định mệnh thê lương trong đời sống chúng ta, mà người như anh, như bé cũng phải nhận lãnh. Đáng lẽ thiên thần làm bằng cao su, thiên thần sẽ không bao giờ gãy cánh. Nhưng vì anh đã làm thiên thần bằng đất sét nên thiên thần phải chịu đớn đau. Thiên thần gãy cánh thì thiên thần không bay được. Anh đã không còn gì để đạp xe chở bé đi, về con dốc – ngang qua lò gốm để ngắm những chén đĩa lọ bình.

Nhưng bé Thơ, đừng khóc nữa. Anh sẽ đến đó, nhặt thêm một mẩu đất sét. Anh sẽ gắn lại cánh cho thiên thần. Anh không còn phải vội vàng bỏ bé mà đi như một sáng sớm mùa đông kia nữa. Anh sẽ chắp lại cánh cho thiên thần như nhóm một chút tin yêu trong tuổi thơ của bé, trong đời sống của anh. Đâu có ai cấm chúng ta thắp lại một ngọn đèn, trồng lại một bông hoa, bé nhỉ!

Rồi một sớm mai khi thức dậy bé sẽ thấy trên bàn học có đầy đủ hai mươi thiên thần quỳ ngay ngắn bên nhau. Bé sẽ cười thật sung sướng. Anh sẽ cười thật đau khổ. Rồi sẽ có lúc anh kể cho bé nghe về cuộc đời anh, về những ngày gian nan của anh. Bé sẽ cảm thấy sự sung sướng và sự đau khổ là một. Thiên thần cũng có lúc biết khóc vậy bé nhỉ!

Anh sẽ còn làm cho bé nhiều thiên thần nữa, những thiên thần bằng đất sét – bằng sành. Dù anh không còn đạp xe được nữa, anh cũng sẽ đến đó – lò gốm, giữa con dốc thân yêu của anh Danh, và của bé Thơ.


Nguyễn Thị Mỹ Thanh  


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 215, số Giáng Sinh, ra ngày 15-12-1973)

Bìa của Vi Vi : Mơ Giáng Sinh

Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

Người Mà Tôi Không Giết


Sáng hôm đó trời lạnh 28 độ dưới số không. Đất đóng giá kêu boong boong như gạch lát trong giáo đường, còn cành cây sương đóng gẫy răng rắc như thủy tinh. Không khí lạnh buốt như cắt da.

Trên thế giới ít có người quen với khí hậu đó. Chúng tôi là người Pháp đa số ở những miền ấm áp hơn, chứ không phải là người Gia Nã Đại, Na Uy, Phần Lan gần Bắc cực, nên không chịu được cái lạnh ghê gớm như vậy.

Hồi đó là tháng hai năm 1940, trong miền núi Vosger, vào thời "chiến trang kì cục", như người Pháp chúng tôi thường nói (...) Một ngày như hôm đó thì không có gì xảy ra một cách bình thường được, cho nên dù không có lệnh đi tuần để nhận định vị trí của địch thì chúng tôi cũng không sao quên được buổi ấy.

Vậy khoảng bảy giờ sáng tôi đi với một trung sĩ và ba người lính. Tôi là đại úy và đã quen với công việc dò thám đó rồi. Nhưng lần này không phải như những lần khác. Công việc gì cũng hóa ra khó khăn. Làm quân nhân thì phải lắng nghe từng tiếng động nhỏ, nhưng trời lạnh 28 độ dưới số không, hé mở cái mũ trùm đầu để lộ một lỗ tai ra là một việc nguy hiểm. Phải luân phiên, mở tai bên này và bịt tai bên kia thật mau cho tai nghe được mà không kịp đóng giá. Lại phải chùi khí giới cho không còn một vết dầu mỡ nào, mà phải đeo bao tay để làm công việc đó, nếu không thì đụng vào thép, tay sẽ buốt như rờ vào sắt nung đỏ.

Mới đầu chúng tôi tiến tới một căn nhà ở rừng, bỏ hoang ở bên một bờ suối giữa hai phòng tuyến. Phía Đức và chúng tôi đều không muốn chiếm hẳn căn nhà đó. Nó cách xa những ngọn đồi mà quân hai bên đương đóng ở hai bên thung lũng. Nhưng ban đêm, bọn đi tuần chúng tôi thường đụng đầu với bọn đi tuần bên họ và bên nào tới trước, tất nhiên là có lợi thế. Chiếm được căn nhà đó là làm chủ được cả thung lũng, nhưng không bên nào giữ vị trí đó được lâu và không ai biết được lúc nào nó trống, lúc nào nó có lính núp.

Muốn chắc chắn không bị phục kích, hôm đó chúng tôi bao vây căn nhà, rồi tinh thần căng thẳng, tay lăm lăm khẩu súng, chúng tôi xông vào những phòng trống rỗng, và cười rộ, y như con nít, thấy mình hơi lố bịch, có quái gì đâu mà sợ. Tưởng là một bi kịch mà rốt cuộc thành một trò khôi hài.

Chú trung sĩ bảo:

- Trời hôm nay lạnh quá. Quí vị đó đâu có ra khỏi đồn... Họ không ngốc như chúng mình.

Một lát sau, chúng tôi trở ra tiếp tục đi tuần thành hai hàng, kẻ trước người sau. Ruộng, rừng, bờ suối, sườn đồi, chỗ nào cũng có vẻ hoang vắng hơn ngày thường. Không có một cánh chim trên trời, một bóng thú trong bụi. Cảnh hoang vu tĩnh mịch đó có cái gì đáng lo ngại.

Chúng tôi nằm xuống bò tới ; tôi cảm thấy mặt đất ở dưới mình tôi, chỗ thì chỉ là đất chỗ thì phủ thêm lớp bụi tuyết hoặc vài mảng băng, cơ hồ như đất ở một thế giới khác. Bỗng tôi thấy người lính đương bò cách tôi vài thước ở bên phải ngừng lại, đưa vài ngón tay lên làm dấu báo nguy. Chắc anh ta đã thấy một cái gì mà ở chỗ tôi không nhìn ra được. Tức thì tôi bò lại gần anh ta và cả năm chúng tôi đều ở trên một cái mô cao, nhìn xuống một thung lũng nhỏ.

Anh lính đó nói phào phào:

- Một tên Đức!

Khoảng sáu chục hay tám chục thước phía sau chúng tôi, ở dưới khe, có một cái hầm núp để rình, với một hàng bao đất chất thành hình bán nguyệt ; trong hầm có một người quay lưng lại chúng tôi, dưới chiếc nón sắt, còn trùm thêm một cái mũ đen lớn che kín gáy và hai tai.

Các bạn tôi lặng lẽ chĩa mũi súng vào người lính đó. Tôi nhớ lúc đó đưa tay ra dấu bảo: "Để đó cho tôi" và tôi quay lại để bình tĩnh nhắm người lính lẻ loi đó, như nhắm bia ở sân tập bắn vậy. Các bạn tôi đợi tôi nổ súng. Tôi nhắm một mắt, chĩa súng nhắm giữa gáy người đó (mà tôi không thấy mặt) vào cái vết đen chiếc mũ trùm, phía dưới nón sắt. Nhưng đúng lúc tôi sắp bóp cò thì hắn nhẩy lên lắc lư như một con gấu.

Tôi sửng sốt, mất đường nhắm rồi. Tôi mở cả hai mắt ra, cảm thấy rằng mấy giây trước, hình đó đối với tôi chỉ là cái đích để nhắm thì bây giờ là một người rồi, một người cũng như tôi, bị rét cắt da, một người chân nhức nhối, tay cóng, tai lạnh buốt, chỉ nghĩ cách chống chọi với cái rét và quên cả chiến tranh.

Tôi không nhớ lúc đó tôi có nghĩ ngợi gì không. Tôi không phải quyết định. Tôi không cân nhắc nên hay không nên. Nòng súng của tôi tự nhiên hạ xuống, và tôi không nhắm lại nữa. Tôi đưa tay ra dấu cho anh em rút về phía sau. Chúng tôi bò trong khe rồi đứng thẳng dậy, chạy lại núp trong căn nhà ở rừng. Chú trung sĩ bảo tôi:

- Đại úy hành động như vậy là phải. Hắn lạnh quá..., không được giết hắn.

Mấy người lính đều cười, tỏ ý biểu đồng tình.

Chúng tôi đã làm xong nhiệm vụ, đã biết bọn dò thám của địch đóng theo tuyến nào rồi. Chúng tôi cũng biết điểm tựa của địch ở trên ngọn đồi nữa.

Chú trung sĩ bảo:

- Xong nhiệm vụ.

Một người lính đáp:

- Còn thằng tướng đó thì nó lạnh quá.

Cơ hồ cái lạnh hôm đó đã làm cho mất chiến tranh.

*

Tại sao việc xảy ra hôm đó tầm thường, trào lộng như vậy lại ghi sâu vào tâm khảm tôi hơn biết bao ngày khác có những biến cố bi đát trong thời nước tôi thua trận và bị chiếm đóng? Người lính do thám mà tôi không thể bắn đó, tôi không biết mặt, chỉ còn nhớ cái gáy xo ro trong cái mũ trùm dày, nhớ cái điểm đen đó mà tôi đã nhắm trong mấy giây.

Một buổi tối, giữa mùa đông 1943, dưới cơn gió bấc lạnh buốt tôi đứng đợi một chuyến xe trên sân ga Montauban. Một đoàn toa chở hàng ngừng ở trước mặt chúng tôi. Đoàn đó chở một bọn bị lưu đày tới một thế giới khác, một thế giới mà lúc đó chúng tôi chưa biết, thế giới trại giam, thế giới đêm tối và sương mù. Trong khi đoàn xe ngừng, mấy người lính Đức đứng canh ở trước mỗi toa. Một cảm giác rùng rợn xâm chiếm tôi. Tôi không thể nhúc nhích được và thình lình, cách tôi khoảng năm chục thước ở bên phải, dưới cái nón sắt, sau lớp mũ trùm đen, tôi thấy cái gáy của một lính canh. Tôi có cảm tưởng rằng hắn chính là người tôi không nỡ bắn. Chính hắn. Tôi tin chắc rằng đã nhận ra được hắn. Và tôi ân hận lần đó tôi đã nhắm hắn rồi mà không cho hắn một phát.

Trong mấy năm bi thảm đó, đã bao lần tôi ân hận, gần như điên lên, rằng sao để cho hắn sống. Mười lần, hai mươi lần, trong cảnh nô lệ, nhìn cái gáy một người đội nón sắt, tôi đứng trân trân, như bị thôi miên ; chẳng cần nhìn mặt kẻ đó, tôi cũng nghĩ bụng: "Chính hắn đấy và mình đã để cho hắn sống..."

Nhưng thời gian trôi qua, và từ khi hòa bình trở lại, kẻ thù hôm trước đã thành người lân bang. Kẻ đó đối với tôi không còn là một cái gì trừu tượng tàn khốc trong những năm chiến tranh nữa.

Tôi nhớ lần đầu tiên gặp các văn sĩ và nhà trí thức Đức trong một hội nghị quốc tế ở miền Forêt-Noire. Buổi tối đó, trong một khu vườn, tôi bỗng nhận thấy một trong những vị đó, đứng cách tôi vài thước, phía bên phải, cổ quấn một chiếc khăn che mũi đen. Tôi đăm đăm nhìn gáy ông đó mà thấy một cảm giác như choáng váng. Đúng lúc đó một anh bạn lại nắm cánh tay tôi. Anh muốn cho tôi làm quen người đó. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy mặt ông ta. Nét mặt một học giả, hơi nghiêm, hơi buồn, nhưng bình tĩnh. Như đa số chúng tôi, ông ta có vẻ một người sống sót sau một tai ách ghê gớm. Ông ta cũng thích những cái tôi thích, cũng nghiên cứu môn của tôi, và chẳng bao lâu chúng tôi thành bạn bè với nhau.

Trong khi nói chuyện với ông có cái gì thay đổi trong đáy lòng tôi, ngoài ý muốn của tôi. Nỗi ân hận đã để cho quân thù sống sót, nỗi ân hận đó day dứt lòng tôi trong những năm quốc gia lâm nguy và bị nô lệ, bây giờ biến thành một nỗi hoan hỉ và tôi bỗng cảm thấy mừng rỡ là đã tha chết cho người đó.

Tôi nghĩ bụng nếu trước kia tôi đã biết ông ta như lần này thì không thế nào tôi có thể bắn ông ta được. Thật là một sự ngẫu nhiên kỳ dị, một phép màu, mà hôm đó ông ta nhày lên, giậm chân, gợi trong lòng tôi cái tình liên đới giữa hai người. Vì chịu chung cái lạnh ghê gớm mà trong lòng tôi nảy ra tình huynh đệ. Nhưng tình huynh đệ đó tầm thường quá so với tất cả những tình huynh đệ khác thực sự liên kết loài người với nhau. Trong chúng ta, ai là người còn có thể giết kẻ đồng loại được khi biết rõ kẻ đó, biết nhân tính, đời sống của kẻ đó? Người ta có thể hạ sát một tên lính địch, một con người máy không tên tuổi, không mặt mũi, nhưng làm sao có thể giết một người thợ mộc, một người thợ tiện, một nông dân, một họa sĩ, một nhà ngôn ngữ học, một người có vợ có con, có cha có mẹ, một người có thể đói rét, sống trong cảnh rầu rĩ hoặc trong niềm hi vọng, một người như chúng ta?

Hình ảnh người lính do thám Đức mà tôi không nỡ bắn trong ngày mà thời tiết lạnh nhất đó đã làm cho tôi hiểu một cách sâu sắc hơn là dùng trí óc để suy tư, rằng nếu mỗi người trong chúng ta có thể giảng cho những người đồng loại cảm thấy được rõ mỗi đời người có sự trang nghiêm ra sao, mỗi con người chắc chắn có những nhu nhược ra sao, giảng được như vậy thì sẽ không thể có chiến tranh nữa.


ANDRÉ CHAMSON  
Nguyễn Hiến Lê dịch  
(trong Ý Cao Tình Đẹp)  

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 133, ra ngày 15-12-1974)

Thứ Ba, 12 tháng 12, 2017

Đỉnh Yên Bình


Dáng nhỏ nhắn của Như Nguyện nghiêng nghiêng dưới hoa nắng. Hai bên đường cây cỏ xanh xao rủ lá quên hẳn lời ru phiền muộn của em. Chừ là những ngày giao mùa rạng đông nghe nhung nhớ miền quê hương có con suối hiền hòa, thung lũng triền miên trong giấc ngủ chi lạ. Từng sáng đứng ngắm mây giăng kín khung trời quen thuộc. Từng chiều lang thang dưới hàng sầu đông trụi lá. Em thấy mình thật cô đơn, thật lẻ loi. Nỗi buồn ngu ngơ đang đầy, giấu kín một đời ở khung tim non.

Thấy em không nói, Như Nguyện gợi chuyện:

- Ông Huân dạo ni tếu ghê mi nợ.

- ...

- Răng hôm ni mi buồn rứa?

Em cười héo hắt:

- Tau buồn chẳng hiểu vì sao mà buồn.

Nguyện gạn:

- Thầy mạ mi làm mi buồn phải không Giao?

Em thổn thức gật đầu:

- Đừng nghĩ chi hết Giao nợ. Thầy mạ đi thì lại về. Chẳng lẽ ông bà giận nhau hoài hoài răng.

- Vẫn biết thế.

- Giờ mi tính đi mô đây?

- ...

- Thôi lại nhà ta chơi nghe. Bữa ni mạ tau làm bún đe. Mi buồn mà gặp nhỏ Phượng "đứt đuôi" vui ngay. Tau bảo đảm đó. Con nớ nghịch không thể tưởng.

Chẳng đắn đo suy nghĩ, em bằng lòng ngay. Đi và ở đâu bây chừ cũng được hết. Miễn đừng bắt em trở về nhà, trở về căn phòng nhỏ có cửa kính khép hờ nhốt chim khuyên nhỏ bé Đông Giao lại. Em sợ cô đơn lắm, nó có thể giết chết nguồn sinh lực trong em.

Tiếng guốc gỗ khô khan của hai đứa nhịp đều trên vỉa hè nghe thương nhớ chi lạ. Đến cổng nhà Nguyện, cô bé lay cánh cửa sắt chấn song, thò tay vào mở. Bước vô sân đã nghe giọng Bích Phượng líu lo:

- A, chị Nguyện về, có cả chị Giao đến nữa mạ nợ.

Em buông nón lá quai nhung, cặp sách lên bàn, vẫy Phượng lại. Cô bé lí lắc chớp chớp đôi mắt (À! Tên ni bắt đầu giở trò nghịch ra, mình phải đề phòng mí được).

- Chị Giao kể tiếp chuyện hôm nớ đi.

- B8àng lòng. Nhưng với điều kiện Phượng phải quạt một trăm cái cho chị.

- Nhiều rứa, bé mỏi tay thì răng?

- Chứ chị kể chuyện không mỏi miệng à?

Đuối lý, cô bé nghĩ ngợi:

- À, hay bé đem kẹo ra, hễ chị mỏi miệng thì đút một viên vào. Chịu nhá!

- Phượng làm như chị là con nít chẳng bằng.

Mẹ Nguyện đang dọn chén và bày đĩa ra, nghe em nói bà lên tiếng:

- Giao nhớn với ai đây.

Em vòi vĩnh:

- Với bác nè.

Bích Phượng lay vai em:

- Chị kể đi chị Giao.

- Hôm nớ chị nói đến đoạn nào rứa Phượng, bé nhớ không?

- Đoạn tráng sĩ Anh dũng đánh mí bảy bộ xương người.

- Rồi, chị kể tiếp đây.

Bích Phượng ngồi ngay ngắn, vẻ nghịch ngợm thường ngày biến mất. Cô bé đan mười ngón tay búp măng lại. Mười ngón ngà ngọc đã một lần tấu khúc Chopin cho em nghe. Mê chi lạ cái âm thanh réo rắt của người nhạc sĩ tài ba.

... "Tên phù thủy vẫn lâm râm đọc câu phù phép. Trong lúc đó, tráng sĩ Anh dũng gần đuối sức, vì cứ vừa chém được một đầu lâu thì cái khác lại mọc lên thay thế. Con ngựa thần thấy chủ sắp lâm nguy đến tính mệnh, liền vươn đôi cánh bay về phía tên phù thủy, lấy hết sức bình sinh đá thật mạnh đạp đổ bàn thờ. Tức khắc bảy bộ xương ngã xuống trở thành cát bụi. Lão phù thủy sợ hãi hóa ra dơi bay đi. Ngựa thần và tráng sĩ đuổi theo lên tới đỉnh tháp. Ở đây sương mù giăng tứ phía, mùi tử khí bốc lên rờn rợn. Nhưng Anh Dũng không nản chí. Tráng sĩ tuốt gươm đập vỡ hộp kính có đựng bông hồng xanh, cậu nhanh nhẹn ngắt bỏ vào túi. Lão phù thủy trong hiện thân dơi tức giận dùng mỏ mổ lia lịa vào người chàng. Nhờ bộ giáp sắt không thì Anh Dũng đã ngã quỵ. Ngựa thần lao vào người tên phù thủy cứu chủ. Biết mình sắp chết, tên phù thủy dùng chân mấu vào tay Anh Dũng định lôi đến lưng chừng núi thì buông ra. Ngựa thần bay theo, Anh Dũng rơi đúng trên lưng nó. Còn tên phù thủy rớt xuống vách đá hun hút tan xương. Người và vật vui mừng ca khúc khải hoàn về trong chiến thắng. Nhờ bông hồng xanh, Thủy Tiên công chúa lại xinh đẹp như xưa, và được vua cha cho phép thành hôn với tráng sĩ Anh Dũng".

- Hay quá. Chị kể chuyện tuyệt cú mèo.

Em cười hồn nhiên rất ư trẻ con. Như Nguyện dụ khị:

- Đó mi thấy ta nói hay không? Ai buồn mà gặp chị em nhà tau cũng phải vui. Thôi chừ ở lại ăn bún ốc mí tau. Chiều hãy về.

- Tau ký cả hai tay.

Bích Phượng kể lể:

- Bữa mô chị Giao ở lại ngủ với bé, kể chuyện cho bé nghe nhé! Ở nhà chị Nguyện dữ lắm, ngủ với chị ấy, bé bị đạp xuống giường hoài hoài.

- Em vuốt tóc Bích Phượng:

- Rứa hở. Tội nghiệp bé tôi ghê. Để chị đánh đòn Như Nguyện mới được.

Em đuổi Như Nguyện chạy nhắng nhít. Nhỏ cáu la:

- Con ni giỡn vừa vừa đó. Sập nhà tau chừ.

Vui ghê!

*

- Giao nè, sao cháu khóc hoài vậy? Cháu có biết như vậy là hại cho mắt lắm không?

Giọng u Thục chùng xuống đầy mật ngọt yêu thương. Dáng u ngồi già nua, gầy yếu dưới ngọn néon hắt hiu. Màu thời gian đã biến đổi tóc u ra vẻ khắc khổ. Đôi môi khô cằn chưa một lần chứa đựng nụ cười mãn nguyện. Em chẳng đáp, tiếp tục gục đầu nức nở.

U giận cháu bây chừ. Cháu không thương u hở Giao? Vâng lời u không? Ừ, được rồi u đi đây.

- U Hạnh.

Em nhoài người ra gọi. Chỉ có tiếng của đôi vành khuyên đáp lời. Còn u Hạnh thì không trở lại. U ghét cháu rồi. Không ai yêu cháu cả. Buổi chiều ngồi nghe gió bấc mong manh thì thầm, em buồn ghê gớm. Tờ thư nhàu nát, được em đọc đi đọc lại chẳng biết bao nhiêu lần. Vẫn giọng văn cố hữu, bố viết:

- "Giáng sinh này không về thăm con gái được, bố phải theo chiếc tàu "thuận khanh" đi Phú Quốc. Gửi cho con gái món quà nhỏ ni, bông hồng cài áo có ảnh hình mẹ Maria chắc Đông Giao thích lắm nhỉ! Bố gửi bác Tấn mua ở Hong-Kong đấy. Bằng lòng nhé cô bé."

Hôn con gái yếu đuối, 
Bố: Trần Hoàn Kiếm  

Lá thư với nét chữ xa lạ. Chắc bố nhờ cô Nguyệt  thư ký  viết hộ. Bố nào có nhớ đến con. Bố thương những chuyến tàu hơn Đông Giao cơ mà. Me nữa. Bà bỏ đi biền biệt từ sau cuộc cãi vã mí bố.

... "Ông ích kỷ lắm. Ông là một người nhỏ nhen.

Bà biết gì mà nói..."

Em ù cả tai. Con gái không muốn nghe chi hết. Bây chừ con gái chỉ cần tình thương. Mùa đông rét lắm, buồn nữa. Con gái sợ lẻ loi, sợ cô đơn. Nhiều đêm mưa to nằm một mình trong căn phòng nhỏ, con thổn thức để nước mắt lăn dài ướt đẫm rèm mi. Nghe côn trùng gọi tên mấy mươi lần trong giấc ngủ miên triền ác mộng.

Bố ơi! Noel đến rồi đó. Năm nay gia đình mình không đi lễ nhà thờ, không về Đà-lạt tìm lại hương ấu thời hở bố? Ông Noel cao cả và gần gũi với trẻ con nhất, bé chả thích có quà đẹp đâu, bé chỉ muốn ông ban xuống một phép mầu nhiệm khiến bố mẹ trở về với bé.

Mẹ ơi, bố ơi, người có nghe con gái gọi tên chăng?

*

Dù u Thục khuyên lơn và Như Nguyện vỗ về an ủi, em vẫn còn buồn. Nỗi muộn phiền chẳng thể nguôi ngoai được. từng tờ lịch bóc dần. cuối năm dương lịch. Giáng Sinh đến. Mọi người chúc tụng. Carte Noel, happy new year gửi đến nhà như bươm bướm lượn. Nhưng em chẳng có chi. Tình thương, vô nghĩa. Nhiều ý nghĩ dại dột đến trong đầu óc bé con. Tự tử. Hai tiếng ấy vang lên đều đều ở tâm thức. Bài học công dân đầu đời như nhắc nhở  chỉ có những kẻ hèn nhát mới quyên sinh để trốn tránh cuộc sống.

- Giao ơi, có nhà không nè?

- Nguyện đó hở? Vào chơi cô bé.

- Nhà ngươi trang hoàng phòng ni đẹp rứa. Chỉ tau cách cắm hoa Nhật Bản nghe mi.

Em kéo tay Như Nguyện, cô bé bỏ nhánh hồng nhung lên bàn. Rồi tưởng chừng Như Nguyện là một người thân, em kể hết tâm sự mình.

- Tau có cách ri, thế nào thầy mạ mi cũng trở về với con gái.

- Răng, nói ta nghe đi.

- Thế này...

Như Nguyện lau khô những giọt nước lóng lánh đọng trên bờ mi em.

- Thôi chừ không buồn nữa nghe. Tụi mình cắm hoa chơi.

*

Thảo Trang ba me 24-12-197...

Như Nguyện thương rất thương,

Mình về ngoài ni được ba ngày rồi đó. Nhớ Sàigòn, trường lớp, bạn bè, nhất là Như Nguyện không thể diễn tả được. Nằm ngủ mí me mà cứ ngỡ như hôm nào với Như Nguyện. Cám ơn cô bé thật nhiều đó nghe. Nhờ Nguyện giả vờ điện tín nói dối với ba me mình là con gái ốm sắp chết, nên người hốt hoảng trở về. Nguyện biết không? Đông Giao đã nức nở gục đầu trong vòng tay âu yếm của mẹ hiền. Nhìn vóc dáng thương sầu của ba tội ghê. Con gái yêu ba me. Con gái muốn sống với ba me. Nước mắt con gái đã cảm được lòng người. Ôi, sung sướng thay giờ phút mình cầm tay ba đặt vào tay me. Hai người âu yếm tha thứ cho nhau.

Ba me đem mình lên Bảo Lộc tìm lại hương ấu thời suốt lễ Giáng sinh này. Mùa đông chừ có rét bấy nhiêu đi nữa mình cũng chả sợ. Vì Đông Giao đã có lửa tim gia đình soi sáng rồi Nguyện nhỉ!

Quê hương mù sương thật đẹp. Nó ấp ủ gia đình mình bằng những hồi chuông đêm thánh thiện, bằng tiếng reo của lũng thông say sưa ngủ. Trê đỉnh bình yên này, mình tin chắc sẽ được sống trong yêu thương miên viễn với thời gian.


TRƯƠNG THỊ NGỌC DUNG    


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 16, đặc biệt Giáng Sinh, ra ngày 20-12-1971)

Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

Lời Buồn Thánh














Gió nhẹ lay ngày đông về chớm nở
Quả khô vàng rụng cháy những mùa xưa
Cho bừng lên tự cơn gió giao mùa
Dòng nến lụa lung linh vào thánh thót
Lời thánh ca trên vùng trời mật ngọt
Gọi em về những nẻo nhớ ngày xưa
Loài hải âu bay biết mấy cho vừa...

Nghe chuông đổ trên sapins xao xác
Giọt sương nhỏ thì thầm trong tiếng nhạc
Là pha lê rơi vỡ nát trên tay
Tiếng dương cầm đùa ánh nến lả lay
Giòng thánh thiện lướt bay như sóng cuộn
Em đã khóc nào đâu em có muốn
Như hai hàng bạch lạp cháy bâng khuâng
Thắp hư huyền trên vai áo mùa đông
Là kim tuyến của muôn dòng sao bạc
Mắt em buồn nhìn đêm về bát ngát
Hương mật mơ phảng phất cuối chân ngày
Em muốn về đan khẽ những bàn tay
Cho nhung nhớ dong buồm lên biển cũ
Hạt  cẩm thạch xoay mình trong điệu vũ
Của rừng cây của ngàn lá xôn xao
Ơi mùa đông xin hãy dẫn em vào
Ngàn thương mến của dòng sông phẳng lặng
Em bé bỏng như loài chim cánh trắng
Em hiền ngoan như lá cỏ xanh mơ
Mắt thời gian là những bóng sương mờ
Như ảo giác cho hàng cây rũ lá
Em chợt xanh một nỗi buồn rất lạ...

Gió vàng đêm xoay rất nhẹ trong cây
Những vì sao ướt mắt sáng đêm nay
Ru em khẽ bài thánh ca ngày cũ
Hoa mùa đông trong lòng đêm kết nụ
Là vườn sao, là ánh mắt ươm mơ
Là nhịp tim em đập những mong chờ... 
Nghe chuông đổ trên sapins xao xác
Giọt sương nhỏ thì thầm trong tiếng nhạc
Là pha lê rơi vỡ nát trên tay...

                                                        GAMMY

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 16, ra ngày 20-12-1971)

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

Huyền Thoại Mùa Đông


1

Trời vào đông với những giọt nắng màu vàng nhạt, mây trắng giăng từng phiến dài trên nền trời trông như những sợi khói vương thật nhẹ. Một cơn gió lạnh lùa qua cửa sổ nơi Trà My ngồi, Trà My gấp sách nhìn ra bên ngoài, chung quanh tất cả đều im lặng, hàng cây trước cửa thư viện với những cánh hoa tím nhạt xinh xinh trông thật dịu mắt. Đã nhiều lần Trà My nhặt những cánh hoa đó ép vào sách, những cánh hoa tím dễ thương chi lạ, hoa màu tím nhạt lạ mắt mà Trà My không biết tên, có người bảo đó là "hoa tóc tiên", cái tên nghe cũng lạ và dễ thương như hình dáng của nó. Nhắc đến hoa tóc tiên tự nhiên Trà My nhớ đến Thủy Tiên, cả tuần nay không thấy Thủy Tiên đến thư viện, khoảng trống thư viện vẫn dành cho Thủy Tiên nhưng bây giờ chỉ có Trà My ngồi buồn một mình nơi đây. Cô bé áo vàng thường ngày ngồi đối diện với Trà My hôm nay cũng vắng mặt, Trà My thấy nhớ nụ cười dễ thương của cô bé, dù chưa một lần nói chuyện nhưng cô bé đã chiếm cảm tình Trà My bằng những nụ cười dễ mến. Trà My nhìn quanh khắp thư viện, mọi người hầu như say mê với những cuốn sách dầy đặc chữ. Trà My càng thấy nhớ Thủy Tiên nhiều hơn, buổi sáng nơi đây yên tĩnh quá, dù đã quen với không khí yên lặng của thư viện nhưng hôm nay sao Trà My thấy như thiếu một cái gì. Ngày nào cũng thế, cả thời gian buổi sáng Trà My dành cho khoảng không gian giới hạn bởi bốn bức tường thư viện, con đường dài với hai hàng cây, lối đi có nhiều cỏ non xen lẫn những cánh hoa dại, từng chỗ ngồi, từng vị trí những cuốn sách, tất cả đều quen thuộc với Trà My. Có buổi sáng Trà My đến thư viện thật sớm, thư viện chưa mở cửa, Trà My đi dọc theo con đường dài hái những cánh hoa dại đủ màu đem về cắm vào bình hoa nơi bàn học. Sáng nay Trà My đến thư viện khi hơi sương còn phủ kín lớp cỏ non, ở đây chưa đầy một giờ nhưng Trà My cảm thấy thời gian như dài ra, mọi hôm có Thủy Tiên ngồi bên Trà My thấy học bài mau thuộc và thời gian qua nhanh hơn. Tự nhiên Trà My sợ những trang sách đầy chữ, những giòng chữ đó không quyến rũ Trà My được nữa, Trà My chợt nhớ đến Thủy Tiên và ngôi giáo đường thân yêu, gần một tuần nay Trà My không đến đó. Mọi ngày, sau những giờ học ở thư viện, Trà My và Thủy Tiên thường đến nhà nguyện đọc kinh, Trà My thích những phút lặng yên nguyện cầu nơi nhà nguyện, trước Thánh giá Chúa với những ngọn nến hồng thắp sáng Trà My say mê quỳ hàng giờ nguyện xin ơn trên và lần chuỗi mân côi Trà My nhớ đến lời nói của Thủy Tiên:

- Sao Trà My đi đâu cũng mang theo chuỗi tràng hạt?

- Tại Trà My thích đó Thủy Tiên ạ! Thủy Tiên có biết rằng Trà My thương chuỗi hạt chừng nào không? Mẹ My bảo chắc My muốn theo Chúa nhưng My chỉ cười, My cũng chẳng hiểu vì sao My thương chuỗi tràng hạt như thế.

Trà My nhớ tới Thủy Tiên, nhớ tới chuỗi hạt và nhớ đến Chúa nên vội xếp sách vở để đến nhà nguyện vì biết rằng ngồi lại đây cũng không học được thêm gì nữa.

Rời khỏi thư viện, Trà My bước thật nhanh hướng về phía ngôi giáo đường, mặt trời như trốn đâu mất, gió lạnh kéo đến làm tóc Trà My bay bay theo với vạt áo lụa trắng, Trà My thấy chân mình bước những bước ngập ngừng vì gió thổi mạnh. Trà My chợt nhủ: "mùa đông đến rồi ư?" Nhìn bên lề đường Trà My thấy hàng cây dài với những cành trơ lá trông thật buồn, mùa thu đã đem lá đi xa dần những cành cây khẳng khiu không một đám lá che phủ. Trà My nhớ những ngày hạ Trà My và Thủy Tiên vẫn thường đi trên đường này đến thư viện, ngày đó hàng cây còn xanh lá che bóng mát cho con đường, nhưng bây giờ mùa đông đến nên không còn những cơn nắng gay gắt mùa hạ và lá cây cũng theo gió cuốn bay mất. Một cơn gió lạnh thổi đến, Trà My bước chậm lại, xa xa bóng ngôi giáo đường thoáng hiện sau làn sương mờ.


2

- Trà My.

Nghe tiếng gọi, Trà My giật mình quay lại, anh Phong ngừng xe nhìn Trà My mỉm cười:

- Sáng nay Trà My không học ở thư viện?

- Có, Trà My vừa học một giờ ở đó.

- Sao Trà My không ở lại học tiếp?

Trà My nhíu mày có vẻ suy nghĩ:

- Tại Trà My muốn đến nhà nguyện đọc kinh.

Anh Phong cười:

- Lại đọc kinh, lúc nào cũng thấy Trà My đọc kinh, cô bé ngoan đạo quá nhỉ.

Trà My nhìn anh Phong cười thật tươi, anh Phong bảo Trà My lên xe anh chở về nhưng Trà My từ chối:

- Thôi, để My vào đọc kinh, hay là anh Phong vào nhà nguyện đọc kinh với My nhé.

- Anh đang bận, cô bé ở lại một mình, anh về đây.

Trà My bước dần vào khuôn viên nhà nguyện hướng đến hang đá Đức Mẹ, anh Phong nhìn theo bước chân Trà My với nụ cười thật dễ thương.

Trà My dừng chân trước tượng Đức Mẹ, những ngọn nến thắp sáng lung linh trong hang đá trông như những ánh sao lấp lánh trên nền trời. Trà My cúi đầu cho những phút lặng im cầu nguyện, tất cả đều yên lặng ngoài âm thanh của tiếng hót chim sẻ. Chẳng biết từ bao giờ, có lẽ từ một ngày đã lâu Trà My không nhớ rõ, tình cờ một buổi chiều Trà My theo chị Hằng đi lễ tại giáo đường này, điều làm Trà My chú ý khi đặt chân vào giáo đường là tiếng hót của những chú chim sẻ, tiếng chim hót như hòa điệu với những lời thánh ca vang vọng tạo nên thứ âm thanh thật tuyệt vời, Trà My tưởng chỉ nơi giáo đường này mới có. Thế là từ hôm đó, ngôi giáo đường như có gì quyến rũ Trà My, mỗi buổi sáng đến thư viện Trà My không quên ghé vào đọc kinh.

Bây giờ Trà My cũng đang hiện diện nơi giáo đường này trong không khí yên lặng cố hữu, buổi sáng nơi nguyện đường thật vắng, Trà My hướng lên Thánh giá Chúa và cầu nguyện, bên ngoài một vài âm thanh êm dịu xen lẫn tiếng gió thổi nhẹ.


3

Buổi trưa không có nắng, trời dìu dịu như mùa thu. Trà My đi bộ suốt con đường dọc theo chân đồi, nhà Thủy Tiên hiện ra phía cuối đường, căn nhà màu trắng nổi bật với cây hoa Ngọc Lan. Trà My dừng chân trước cửa nhà Thủy Tiên, hoa Ngọc Lan tỏa hương thơm ngát. Trà My cúi xuống nhặt một cánh Ngọc Lan vương dưới gốc cây, cánh hoa vẫn còn tươi và tỏa hương thơm, Trà My cài cánh hoa lên tóc và cất tiếng gọi:

- Thủy Tiên.

Thủy Tiên chạy ra mở cửa trong bộ áo lụa màu trắng trông thật dễ thương, mái tóc che nửa khuôn mặt càng làm nổi bật vẻ đẹp của Thủy Tiên. Trà My chăm chú nhìn Thủy Tiên:

- Hôm nay Thủy Tiên xinh quá.

Thủy Tiên mỉm cười khoe đôi má ửng hồng.

Thủy Tiên và Trà My bước chậm dọc theo con đường dốc, gió thổi đến làm tóc hai đứa bay bay, Thủy Tiên đưa tay vuốt những sợi tóc vương trước mặt và hỏi:

- Trà My thuộc bài chưa?

- My thuộc rồi nhưng sao My vẫn lo sợ, chưa gì mà My đã thấy run run.

Thủy Tiên cười:

- Sao My nhát thế?

Trà My nói vu vơ:

- My cũng chẳng biết nữa.

Thủy Tiên hướng mắt xuống rừng thông dưới chân đồi và hỏi Trà My:

- Trà My có thấy trời lạnh không?

- Có chứ, My thấy nắng dịu và gió lạnh nhiều.

- Mùa đông đến rồi My nhỉ.

- Ừ, mùa đông đến lúc nào mà My không biết.

Thủy Tiên nhìn Trà My không chớp mắt:

- Trà My thật ngớ ngẩn, đố Trà My biết mùa đông có gì lạ đấy?

- My thấy mùa đông đến mang theo cái lạnh cắt da, nhất là nơi miền cao nguyên này.

- Dĩ nhiên mùa đông thì phải lạnh nhưng còn đặc biệt khác cơ. Trà My quên lễ Giáng Sinh rồi sao?

Trà My như nói một mình:

- Lễ Giáng Sinh, ừ nhỉ, vậy mà My quên.

- Dạo này Thủy Tiên thấy My thay đổi nhiều, hình như... nhưng thôi, mình đi mau kẻo trễ học My ơi.


4

Trà My mở cửa sổ căn phòng nhìn xuống rừng thông, gió thổi mạnh khiến Trà My rùng mình, Trà My kéo vội chiếc áo len khoác lên người. Trời đông thật lạnh, Trà My cảm thấy cái lạnh như thấm buốt tận cùng những tế bào trong cơ thể. Mùa đông cao nguyên mang một sắc thái đặc biệt, đặc biệt hơn đối với Trà My. Gần hai tháng không rời khỏi bốn bức tường này, Trà My thấy cái lạnh của mùa đông gần với mình nhất. Hai tháng với từng giờ không mơ ước, Trà My giật mình khi nghĩ đến thời gian, thời gian của khoảng không gian quanh mình. Ngoài kia rừng thông xa xa ẩn hiện sau làn sương mờ nhẹ như lớp khói. Trà My ngồi sát cửa sổ để nhìn thật rõ từng cây thông dài cao vút, con dốc dẫn xuống chân đồi, con đường nhỏ sát rừng thông, một vài căn nhà dưới đồi và những hàng cây không lá trên đường đi đến nhà nguyện. Trà My cảm thấy cảnh vật chung quanh xa lạ quá, tất cả đều thực sự ngăn cách Trà My với căn phòng nhỏ nầy. Thật xa vời gần như cuối giới hạn tầm mắt, Trà My mờ mờ nhìn thấy Thánh giá Chúa trên đỉnh giáo đường cao vút, tự nhiên Trà My muốn đến nhà nguyện đọc kinh, đến với Chúa để cầu nguyện thật nhiều, Trà My mơ hồ nghĩ đến ngày Lễ Giáng Sinh sắp tới.


5

Chập chờn với những hình ảnh thoáng đến rồi đi, Trà My mơ màng nhìn thấy bóng Thủy Tiên hiện đến trong chiếc áo lụa hồng trông thật dễ thương, trên tay Thủy Tiên cầm một gói giấy thắt nơ màu xanh. Trà My nghe rõ giọng nói Thủy Tiên vang lên thật êm dịu, rồi Thủy Tiên rủ Trà My cùng đi lễ. Trà My cũng mặc áo lụa nhưng không phải màu hồng, chiếc áo lụa trắng mà mẹ mới may cho Trà My để dự lễ đêm Giáng Sinh. Hai đứa bước tung tăng trên đường. Trà My thấy thành phố khoác lên mình một chiếc áo mới, không khí tưng bừng khác hẳn ngày thường, những cây thông xanh được tô điểm bằng những trái bóng đủ màu nổi bật với màu sắc lấp lánh của những sợi dây kim tuyến. Thành phố cao nguyên được thắp sáng bởi những ngọn đèn xanh đỏ lộng lẫy. Trà My cảm thấy lòng rộn rã và yêu mến tất cả mọi vật chung quanh. Ngôi giáo đường thân yêu đã hiện ra trước mặt. Thủy Tiên chỉ chiếc ngôi sao thật lớn sáng chói trên đỉnh giáo đường và hỏi Trà My:

- Trà My thấy gì không?

- Ngôi sao đẹp quá Thủy Tiên nhỉ!

Thủy Tiên và Trà My bước dần lên những bậc thềm giáo đường. Hôm nay không khí nhộn nhịp quá, mọi người hầu như cùng đến giáo đường để chờ dự lễ nửa đêm. Thủy Tiến kéo Trà My đi qua đám dông tiến về phía hang đá. Tượng Chúa Hài Đồng nằm trên đám cỏ trong hang lừa trông thật dễ thương. Trà My quỳ trước hang đá chắp tay đọc những lời kinh cầu nguyện. Một lúc sau Trà My quay lại, không thấy bóng Thủy Tiên đâu, tất cả mọi người trong giáo đường cũng biến đâu mất. Rồi những ngọn đèn màu, những ngọn nến thắp sáng trong giáo đường đều vụt tắt. Trà My không thấy Chúa Hài Đồng trong hang đá, không thấy mọi vật chung quanh. Trà My sợ hãi thét lên: "Chúa ơi!".


6

Trà My mơ màng nhìn thấy ngọn đèn vụt sáng trong phòng, nghe vẳng bên tai tiếng mẹ và anh Phong gọi tên mình, có cả giọng nói của Thủy Tiên. Thủy Tiên bước đến bên giường trao cho Trà My gói quà thắt nơ màu xanh, đúng là gói quà Trà My vừa thấy trong mơ. Trà My nghe thật rõ giọng nói trầm ấm của anh Phong:

- Thủy Tiên tặng quà cho My kìa, còn đây là món quà Giáng Sinh đặc biệt anh dành riêng cho My.

Trà My muốn mở mắt nhìn mọi người, muốn nói những lời cám ơn anh Phong và Thủy Tiên nhưng sao đôi mắt nặng trĩu và lời nói như nghẹn lại.

Thủy Tiên cầm tay Trà My nói thật nhẹ như riêng để Trà My nghe:

- Thủy Tiên đến rủ Trà My đi lễ đây, lễ nửa đêm vui lắm My ạ. Nhưng My còn mệt thì làm sao đi được, chắc Thủy Tiên phải đi xem lễ một mình.

Trà My nghe Thủy Tiên nhắc đến lễ Giáng Sinh. Hình ảnh ngôi giáo đường thân yêu với lời thánh ca vang dậy như lôi cuốn Trà My đến với Chúa. Xa xa, tiếng chuông giáo đường vang lên khỏa lấp khoảng không gian còn sót lại với những hình bóng chập chờn, tiếng chuông như rộn rã kêu gọi mọi người. Trà My nói trong hơi thở: "Chúa ơi, hãy cho con đến cùng Chúa". Rồi Trà My khẽ gọi tên những người thân yêu và mở mắt nhìn mẹ, anh Phong và Thủy Tiên. Khoảng không trước mặt sao mơ hồ xa vời quá. Trà My thấy mọi vật như quay cuồng và tất cả đều nhạt nhòa, chỉ còn lại âm thanh tiếng nức nở của mẹ, của Thủy Tiên và tiếng anh Phong gọi Trà My trong hơi nghẹn:

- My ơi.

- ...


giáng sinh 71          
LYNH THANH THẢO 


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 168, ra ngày 1-1-1972)

Bìa của Vi Vi : Đêm Thanh Bình

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>