Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

Xác Chết Nhỏm Dậy



I. - VỤ MẤT TÍCH
 
Tin cụ Bá Nam mất tích làm xôn xao cả tỉnh! Người ta túm năm tụm ba bàn tán... Người ta đồn là cụ bị cướp đón đường hạ sát!
 
Bà con thân hữu của cụ Bá Nam sửng sốt khi hay tin đó. Họ lật đật kéo ùn ùn đến nhà cụ Bá để hỏi thăm thêm chi tiết nội vụ.
 
Cụ Bá là một thân hào giàu có nhất tỉnh, rất được mọi người mến trọng. Cụ chỉ hiềm một nỗi là góa vợ và không có con nối dõi tông đường nên nuôi một người cháu thừa kế tên là Bạch Phi. Khi mọi người đến hỏi thăm thì Bạch Phi không có nhà. Mấy gia nhân thuật chuyện như sau:
 
"Sáng hôm nay cụ Bá gọi chúng tôi đóng ngựa thật sớm để đi Nữu Ước. Trời vừa hừng sáng cụ đã khởi hành với ý định là sớm tối hôm nay thế nào cũng phải trở về tới nhà. Nhưng vào khoảng độ hai giờ sau, chúng tôi hết sức sửng sốt là thấy con ngựa cụ Bá cưỡi lừ đừ quay về nhà một mình! Chúng tôi không thấy cụ Bá đâu và những bì túi đeo theo yên ngựa đều mất hết. Mình con ngựa bê bết những bùn và cổ lủng một lỗ rỉ máu". 
 
Mọi người bàn định hãy thử chờ hết ngày hôm đó xem có thêm tin tức gì mới lạ không.
 
Sáng hôm sau, chuyện cụ Bá mất tích đã rõ ràng: không thấy cụ trở về nhà mà cũng không ai bắt gặp cụ ở nơi nào! Mọi người bèn bàn định và trù tính chia nhau đi tìm xác.
 
Người tỏ ra sốt sắng nhất trong tổ chức đi tìm xác có ông Trác Lân, một người bạn thân của cụ Bá. Ông này nguyên là người xứ khác mới đến nhập tịch xứ sở độ sáu tháng nay. Ông ta là người ngoại giao khéo léo nên làm quen được với hết thẩy thân hào nhân sĩ trong tỉnh. Ông còn gây được cả tín nhiệm với những người giàu có để có thể vay mượn tiền nong một cách dễ dàng.
 
Ngay cụ Bá Nam cũng ưa chuộng ông Trác Lân và đối đãi thân tình như anh em. Hai người thường chè chén với nhau luôn, không tuần lễ nào là không gặp nhau hai ba lần. Ông Trác Lân rất thích loại rượu thết khách của cụ Bá Nam mang nhãn hiệu "Lâu Đài Nàng Ngâu". Đây là thứ hảo hạng của loại rượu quí, nhập cảng của Pháp Lan Tây. Biết sở thích bạn, nhân vui trong một bữa tiệc, cụ Bá bèn hứa sẽ đặt mua biếu ông Trác Lân một thùng Lâu Đài Nàng Ngâu.
 
Bởi có thân tình sâu xa như vậy nên khi nghe tin cụ Bá bị nạn, ông Trác Lân cảm xúc tái mặt, chân tay run rẩy như nổi cơn sốt, tưởng chừng như người bị nạn là anh em ruột thịt hay cha mẹ của ông ta.
 
 
II. - TÌM XÁC
 
Lòng thương bạn quá xúc động đến nỗi ông Trác Lân không thiết làm ăn gì nữa. Ông đành phải cản ngăn bạn bè cụ Bá hãy hoãn việc tổ chức đi tìm xác để nghe ngóng một vài tuần lễ xem thế nào! Nếu thực sự không thấy cụ Bá trở về thì lúc bấy giờ sẽ tính cũng không muộn! Xưa nay những người trong tỉnh vẫn có lòng tín nhiệm ông Trác Lân nên một số người cho ý kiến ông ta là phải. Riêng người cháu cụ Bá là phản đối ý kiến đó. Chàng hăng hái phát biểu:
 
- Về phần tôi, tôi xin đề nghị quí vị giúp đỡ ngay cho việc đi lùng tìm xác người bị ám sát này!
 
Ông Trác Lân không bỏ qua cơ hội, chộp lấy lời nói hớ hênh của Bạch Phi để lưu ý mọi người:
 
- Chết chưa, sao cậu Bạch Phi lại dùng những tiếng "bị ám sát" nghe kỳ dị quá! Cậu đã biết đâu là cụ Bá bị nạn vì lý do gì! Đừng nên nói vậy nữa mà người ta lại hiểu lầm thì khốn!
 
Cách nói của ông Trác Lân gây một ảnh hưởng mạnh trong đám đông. Người ta chất vấn:
 
- Sao ông Bạch Phi lại có thể biết tỏ tường nội vụ là cụ nhà bị ám sát? Ông có biết ai ám sát không?
 
Điều qua tiếng lại ồn ào, người ta tranh luận, bàn tán, gây gổ... Cả ông Trác Lân và chàng Bạch Phi nữa cũng có một trận đấu khẩu kịch liệt! 
 
Sự gây gổ giữa ông Trác Lân và chàng Bạch Phi nữa thì không có gì là lạ, vì hai người vẫn có hiềm khích với nhau từ mấy tháng nay về một vụ ẩu đả. Chàng Bạch Phi đã xô ông Trác Lân ra cửa với lý do là ông này đã quá ư tự do sục sạo, xông xáo vào nhà cụ Bá Nam. Chuyện đó ông Trác Lân đã chịu thua, bỏ ra về. Nhưng ông cũng không thôi làu nhàu:
 
- Mày còn gặp tao nhiều trong trường đời!!! 
 
Sau cuộc bàn cãi sôi nổi, kết cục mọi người theo ý kiến của Bạch Phi là tổ chức đi tìm ngay cụ Bá Nam. Chương trình là chia ra từng nhóm tản mác đi các ngả ngoại ô và đến các vùng làng mạc lân cận.
 
Ông Trác Lân thấy mọi người ngả theo Bạch Phi bèn xoay ngay thế gỡ uy tín bằng mấy lời chen vào:
 
- Chương trình như vậy kể ra thì cũng tạm được, nhưng chưa hẳn đã là chu đáo, còn khuyết điểm! Nay tôi có một kế hoạch cam đoan là hay hơn, không còn sợ sơ sót một điểm nào! Nếu quí vị tín nhiệm nơi tôi thì cứ việc theo tôi ngay bây giờ, chính tôi xin thân dẫn cuộc tổ chức.
 
Ông Trác Lân là người đứng tuổi, dễ gây được tín nhiệm nên được mọi người hoan nghênh ngay ý kiến.
 
Ông Trác Lân hướng dẫn đoàn ngươi, đi sục sạo tìm khắp các nơi, các ngả đường, các bụi rậm, các rừng cây, các hẻm núi... Cuộc đi tìm xác không ngừng luôn trong một tuần lễ, suốt ngày đêm, nhưng không thấy một vết tích nào về cụ Bá Nam!
 
 
III. - CHIẾC ÁO DÍNH MÁU
 
Mọi người đang chán nản đi trên đường cái lớn, cách tỉnh bốn cây số, thì bỗng mấy người reo ầm:
 
- Bà con ơi! Lốt chân ngựa, đúng ngựa cụ Bá rồi!
 
Đoàn người đổ xô đến và phấn khởi lần theo vết chân ngựa. Họ theo lốt chân, đi từ đường cái lớn một quãng, rồi quẹo vào một khu rừng thưa và dẫn đến bờ một cái chuôm có bụi cây um tùm bao quanh. Đến đây, thì lốt chân ngựa biến mất! Quan sát chung quanh, người ta thấy mặt đất có dấu vết giầy xéo long lở như có một cuộc vật lộn dữ dội đã xẩy ra. Người ta còn thấy một vết kéo dài như một vật rất nặng bị lôi đến bờ chuôm. Người ta nghi ngờ cái chuôm! Người ta hô nhau nhẩy xuống nước ngụp lặn để mò xem có gì lạ. Người ta không thấy gì. Người ta vẫn kiên tâm làm lại thật cẩn thận hai lần nữa, nhưng cũng chẳng thấy gì!
 
Nhiều người đã chán nản, có ý muốn bỏ ra về. Thấy vậy, ông Trác Lân bèn đưa ra một ý kiến:
 
- Bây giờ chúng ta thử tìm kỹ lại một lần cuối cùng, nếu không thấy gì thì đi về thật. Tôi xin đề nghị là tát cạn hẳn nước chuôm này!
 
Mọi người đều khen ông Trác Lân là người chu đáo biết việc và hoan nghênh ý kiến đó! Công việc tổ chức tát nước được rầm rộ tiến hành ngay... Mỗi người một tay, ào ạt làm việc, chẳng mấy lúc chuôm đã cạn trơ bùn. Người ta tìm thấy một chiếc áo gi lê nhưng mà hầu hết mọi người trong đám đều nhận ra ngay chủ cái áo đó là ai! Người ta nhao nhao:
 
- Của Bạch Phi, các ông coi có đúng không?
 
- Đúng rồi, cái áo này Bạch Phi vẫn mặc hàng ngày mà! Ai mà không biết!
 
Cái áo gi lê bị rách một miếng và có dính máu. Một người khác nói:
 
- À! Tôi nhớ rồi, chính mắt tôi trông thấy Bạch Phi mặc chiếc áo này sáng hôm cụ Bá ra đi!
 
- Thảo nào! Từ ngày cụ Bá mất tích tôi không thấy hắn mặc chiếc áo gi lê này nữa! Bây giờ mới vỡ lẽ!!!
 
Tuy những lời bàn tán rất ác, nhưng bâng quơ, không ai dẫn chứng rõ được là đã bắt gặp Bạch Phi ở trường hợp nào, nơi nào, lúc nào! 
 
Mặc dầu sao câu chuyện cũng trở nên nghiêm trong cho Bạch Phi: Tất cả mọi người đã bắt đầu dồn sự ngờ vực vào chàng! Trước tình hình đó, Bạch Phi sợ tái mặt, líu lưỡi không thốt được lời nào để giãi bầy mọi lẽ phải trái trước những chất vấn dồn dập. Có mấy đứa bạn, xưa nay vẫn tri kỷ, thắm thiết bám lấy chàng để ăn chơi, bỗng nay trở mặt trước tiên! Chúng hô hào mọi người:
 
- Bắt trói hắn ngay lại còn chần chờ gì nữa? Chứng cớ rành rành đây rồi còn chối cãi sao được!
 
Trái lại, lúc bấy giờ ông Trác Lân lại tỏ ra vẻ nhân đức với những lời lẽ:
 
- Tôi xin cứ lấy công tâm mà nói, tuy trước đây, Bạch Phi cũng có lần nhục mạ tôi thật, nhưng tôi thề là bỏ qua hết vì tôi biết chỉ là chuyện nóng nẩy trong chốc lát. Về phần tôi thì thấy Bạch Phi không có gì đáng ngờ trong vụ này vì chàng ta là người được hưởng gia tài của cụ Bá, không lẽ đâu mà lại có chuyện: Bỗng nhiên đi giết người đem tiền bạc đến cho mình! Vô lý!
 
Ông Trác Lân nói nhiều, hùng biện cho Bạch Phi hơn nửa tiếng đồng hồ! Nhưng thực ra, những lời của ông Trác Lân càng như gây thêm công phẫn và ngờ vực của mọi người đối với Bạch Phi. Ông ta cố ý nhấn mạnh nhiều lần cho mọi người lưu ý đến câu: "Bạch Phi là người thừa hưởng gia tài của cụ Bá Nam, không thể vô cớ mà giết được!".
 
Quả nhiên, sau lần lần người ta liên tưởng nhớ đến chuyện cụ Bá Nam là đã có lần dọa Bạch Phi không cho thừa hưởng gia tài nữa. Tuy vậy, cũng có người hiểu biết chuyện là đấy chỉ là những lời dọa nạt suông của cụ Bá, chứ không có sự sửa đổi lại chúc thư về khoản không cho Bạch Phi thừa hưởng gia tài.
 
 
IV. - CON DAO BẾT MÁU
 
Mặc dầu sao, ngay lúc bấy giờ Bạch Phi bị bắt giữ tại trận. Sau khi sục sạo lại một lần nữa, không tìm thấy gì, đoàn người áp giải Bạch Phi về tỉnh.
 
Trên đường về, ông Trác Lân luôn luôn đi dẫn đầu đoàn người áp giải. Bỗng nhiên, người ta thấy ông ta rẽ ngang vào bờ cỏ mây, bước xuống, rồi cúi nhặt một vật gì. Ông cầm lên xem và với điệu bộ vội vã, đem giấu diếm vào túi áo. Nhưng người ta đã trông thấy rõ những cử chỉ của ông và yêu cầu ông đưa vật vừa nhặt được cho mọi người xem. Đấy là một con dao Tây Ban Nha mà có mấy người nhận ra là con dao của Bạch Phi:
 
- Đấy các ông trông, không phải bàn cãi gì nữa! Chữ gì khắc ở cán dao đây? Bạch Phi chứ còn gì nữa!
 
Con dao mở lưỡi rộng và có dính máu bê bết. Thêm tang vật này người ta không còn hồ nghi gì nữa: Thủ phạm chính là Bạch Phi!
 
Tội trạng của Bạch Phi đã rõ ràng nên khi tới tỉnh người ta giải thẳng chàng đến Biện Lý Cuộc. Tại đây, mọi việc thẩm cứu tiến hành lại càng làm cho nội vụ trở nên trầm trong cho Bạch Phi! Ông Biện Lý thẩm vấn:
 
- Buổi sáng hôm cụ Bá Nam đi Nữu Ước rồi bị mất tích, anh đã đi những đâu và làm gì?
 
Bạch Phi đã can đảm trả lời:
 
- Buổi sáng hôm đó tôi vác súng đi săn và có đi đến vùng cái chuôm mà vừa rồi ông Trác Lân đã tìm thấy cái áo gi lê của tôi.
 
- Vậy, anh đã thú nhận là thủ phạm vụ này?
 
- Xin ông Biện Lý xét, thật quả tôi không hiểu biết một tí gì về vụ này.
 
- Thế cái áo gi lê giây máu?
 
- Thật là một việc lạ lùng, tôi không hiểu ra sao cả!
 
Ông Biện Lý suy nghĩ một lúc rồi cho gọi nhân chứng Trác Lân vào. Ông Biện Lý lên tiếng:
 
- Ông biết gì về vụ cụ Bá Nam?
 
Nước mắt ràn rụa như đau lòng, ông Trác Lân kể lể:
 
- Trước pháp luật nghiêm minh tôi xin trình bày hết những sự thật, mà trước đây tôi đã làm ngơ vì nhân đức. Đây là những điều thực mà mắt tôi thấy và tai tôi nghe được. Tôi rất đau lòng mà nói ra là Bạch Phi đáng nghi ngờ trong vụ này thật. Cụ Bá Nam bị ám sát chính là về chuyện tiền bạc của cải. Trước hôm đi Nữu Ước, cụ Bá Nam có nói cho Bạch Phi biết là, sáng hôm sau cụ cần phải đi Nữu Ước ký gởi vào ngân hàng một số tiền quan trọng. Trong lúc nói chuyện, cụ Bá còn tuyên bố với Bạch Phi là cụ nhất định hủy bỏ bản chúc thư cũ và làm bản chúc thư khác, trong đó ghi phần gia tài để lại cho Bạch Phi ít đi để được bớt thuế.
 
Ông Biện Lý ngồi lặng, suy nghĩ rồi hỏi:
 
- Sao ông rõ chuyện gia đình người ta?
 
- Tôi là người bạn thân của cụ Bá nên thường ra vào lui tới nhà, tự nhiên như người nhà. Vì hôm đó vào chơi nhà cụ Bá, ngẫu nhiên tôi bắt gặp hai chú cháu đang nói chuyện như vậy ở phòng trong.
 
- Thôi, như thế là đủ. Cám ơn những lời khai của ông.
 
 
V. - CÁi VÍ RỖNG
 
Tiếp theo tiếng chuông bấm của ông Biện Lý, người tùy phái bước vào đứng cạnh đầu bàn giấy chờ lệnh. Ông Biện Lý vẫn cúi đầu xem tập hồ sơ trước mặt và nói:
 
- Cho dẫn bị cáo Bạch Phi vào.
 
Ông Biện Lý đem những lời khai của ông Trác Lân ra dẫn chứng hỏi Bạch Phi. Chàng nhận những lời khai đó là sự thật.
 
Ông Biện Lý quay sang nói với viên lục sự:
 
- Ông làm trát phái hai hiến binh đến nhà cụ Bá Nam để khám xét phòng ở của bị cáo xem có tang vật gì khả nghi không? Cho đi ngay, tôi ngồi chờ.
 
Một giờ sau, hai người hiến binh mang về trình Biện Lý Cuộc một cái ví da rỗng, một áo sơ mi và một khăn mùi soa có giây máu. Sơ mi và mùi soa đều có thêu hai chữ tắt B.P. tức Bạch Phi. Còn cái ví da thì sau khi điều tra sơ ai cũng biết là của cụ Bá Nam, dùng đựng tiền đã từ lâu năm. Trong ví trống rỗng, không còn giấy má tiền bạc gì nữa.
 
Ông Biện Lý quay hỏi Bạch Phi:
 
- Anh có biết những vật này của ai không?
 
Bạch Phi ngơ ngác nhìn mấy vật để ở trên bàn rồi nói:
 
- Cái ví là của chú tôi, còn cái áo sơ mi và cái mùi soa thì của tôi.
 
- Vậy chứng cớ đã rành rành, anh nên thú thật đi thì nhẹ tội, số tiền trong ví nầy của cụ Bá, anh giấu đâu?
 
- Thực quả tôi chẳng hiểu biết vụ nầy ra sao cả!
 
Ông Biện Lý cười gằn:
 
- Cái sơ mi và cái khăn nầy là của anh, lính đã tìm thấy ở dưới nệm nằm của anh, vậy anh có biết làm sao mà nó dính máu không?
 
- Thưa ông Biện Lý, tôi thề là không hiểu biết một tí gì về vụ nầy.
 
- Thôi được, anh trở về đề lao vậy!
 
 
VI. - VIÊN ĐẠN CỦA AI?
 
Vừa khi lính vừa dẫn Bạch Phi đi khỏi thì người ta đến bảo là con ngựa bị thương của cụ Bá đã chết.
 
Ông Trác Lân đề nghị xin cho mổ ngựa khám nghiệm để moi đầu viên đạn ở cổ ngựa ra thì tìm ra đích danh thủ phạm.
 
Đề nghị đó được ông Biện Lý chấp thuận và cho thi hành liền. Quả nhiên khi mổ ngựa, ông Trác Lân moi ra được một đầu viên đạn lớn ở vết thương nơi cổ ngựa. Đầu viên đạn đó có cỡ lớn đặc biệt mà người ta biết trong tỉnh không ai có nòng súng bằng cỡ đó! Người ta đem thử vào nòng súng của Bạch Phi thì đúng không sai một ly!
 
Ông Biện Lý đem hỏi Bạch Phi về đầu viên đạn thì chàng ta cũng nhìn nhận là đúng đạn cỡ súng của chàng.
 
Ngoài ra, người ta còn điều tra tỉ mỉ hơn là thấy đầu viên đạn lăn một đường rãnh đúng như tật trong nòng súng của Bạch Phi.
 
 
VII. - XỬ TỬ
 
Sau khi tìm thấy đầu đạn ở cổ ngựa, ông Biện Lý không còn nghi ngờ gì nữa, ký trát tống giam thực thụ Bạch Phi để đưa ra tòa đại hình. Ông cương quyết bác đơn xin tại ngoại hậu tra của ông Trác Lân, mặc dầu ông ta có khẩn khoản xin ký bảo lãnh một số tiền thật lớn, bao nhiêu mà tòa bắt buộc!
 
Đây là lòng sốt sắng của ông Trác Lân đối với Bạch Phi, chứ thật ra thì ông ta không có lấy một xu nhỏ dính túi!
 
Vì là một vụ giết người nên Tòa quyết định đem xử Bạch Phi vào phiên đại hình gần nhất. Với những tang vật có chứng cớ rõ ràng, với những công phẫn của nhân dân trong tỉnh, với những tố giác của nhân chứng Trác Lân, tòa phán quyết là:
 
"Thủ phạm Bạch Phi can tội cố sát, không được hưởng giảm khinh. Tòa tuyên án: tử hình!"
 
Sau khi tuyên án, tòa lại cho áp giải Bạch Phi vào ngục thất để chờ ngày lên đoạn đầu đài!!!
 
 
VIII. - THÙNG RƯỢU QUÍ
 
Danh tiếng hào hoa phong nhã của ông Trác Lân bắt đầu vang dậy trong tỉnh! Những thành kiến xưa nay cho ông Trác Lân là người keo kiệt bủn xỉn vì nghèo túng nay đã tiêu tan. Nhà ông, thường nhật luôn có những cuộc hội họp, tiệc tùng linh đình. Bạn bè khách khứa ra vào rộn rập như phong thế một nhà quí tộc. 
 
Trong cuộc đông vui, thỉnh thoảng ông Trác Lân cũng nhắc nhở tỏ lòng thương tiếc chú cháu cụ Bá Nam là những người bạn thân nhất đời!
 
Sáng hôm đó, ông Trác Lân nhận được một bức thư có ghi người gửi là hãng rượu Sơn Dương ở Nữu Ước. Ông rất khoái chí vì nhận thư hay đón khách đến chơi là một điều hân hạnh đối với ông. Ông lật đật bóc thư ra xem:
 
NỮU ƯỚC, ngày 20 tháng 6 năm 1880
 
Kính gửi ông Trác Lân.
 
Thưa ông,
 
Theo đúng như phiếu đặt hàng của cụ Bá Nam gửi đến chúng tôi cách đây hai tháng, chúng tôi trân trọng tin quí ông rõ:
 
Chúng tôi đã cho gửi sáng hôm nay, đến địa chỉ quí ông, một thùng gồm 30 chai rượu nhãn Lâu-Đài Nàng-Ngâu. Ngoài thùng có dán nhãn Sơn Dương, kiểm dấu tín và đánh số 105/SD.
 
Thùng rượu trên sẽ được giao đến quí ông bằng xe ngựa vào hồi 11 giờ sáng ngày thứ bẩy này.
 
Kính thư          
Cty. SƠN-DƯƠNG  
 
Xem xong bức thư, ông Trác Lân khoan khoái nằm phưỡn người trên ghế xích đu và suy nghĩ... Sự thực thì từ khi cụ Bá chết đi, ông cũng đã quên đứt không còn hy vọng có số rượu này mà cụ Bá hứa cho nữa!
 
Nhưng nay, ngẫu nhiên bỗng lộc tới nhà, làm cho ông vui vô kể. Ông cho đây là một đặc ân Thượng Đế ban cho ông! Ông nghĩ ngay đến sự hãnh diện là mở một bữa tiệc để khoe khoang với bà con bạn bè trong tỉnh những chai rượu quí này!
 
Khi hạ bút đặt giấy mời, ông Trác Lân vấp phải một vấn đề là: lý do mở tiệc rượu Lâu Đài Nàng Ngâu. Ông băn khoăn giữa hai ý kiến: rượu của Bá Nam hay của Trác Lân?
 
Sau cùng, ông quyết định không đả động gì đến việc rượu của cụ Bá Nam cho nữa vì ông nghĩ là không ai có thể biết vụ đó được. Nghĩ vậy, ông thấy khoan khoái và hạ bút thảo ngót một trăm thiếp mời:
 
Thưa quí Ông Bà,
 
Nhân có đặt mua một số rượu quí nhãn "Lâu Đài Nàng Ngâu", tôi hân hạnh mời quí Ông Bà đến dự thưởng thức thứ rượu tuyệt hảo đó vào hồi 11 giờ sáng ngày thứ bẩy này tức ngày giờ giao rượu đến.
 
Số rượu quí này sản xuất tại Pháp Lan Tây mà tôi đã phải đặt mua từ hai tháng trước đây, nay mới tới. Vậy, rất hân hạnh được thù tiếp quí Ông Bà vào ngày giờ nói trên.
 
Kính mời,     
TRÁC-LÂN    
 
 
IX. - THỦ PHẠM
 
Ngày tiệc rượu đã đến. Nhà ông Trác Lân ồn ào những tiếng cười nói. Trong phòng khách đông nghẹt những quan khách sang trọng, phần đông là những thân hào nhân sĩ và những người tai mắt trong tỉnh. Dĩ nhiên, tôi cũng có mặt trong số quan khách đó.
 
Giờ tiệc đã đến, khách đã đông đủ mà rượu vẫn chưa tới! Trong khi chờ đợi, ông Trác Lân vẫn cứ mời  khách vào bàn và tạm thời khai vị bằng rượu của nhà.
 
Một giờ sau, trong khi bàn tiệc đã ngà ngà say, chuyện trò đang nổ ran thì gia nhân vào báo là rượu đã đến cửa. Mọi con mắt bỗng vụt sáng ngời, những tiếng ồn ào thình lình im bặt! Ông Trác Lân trịnh trọng đứng lên báo:
 
- Thưa quí vị, rượu đã đến!
 
Tiếng vỗ tay vang dậy cả phòng. Ông Trác Lân hoan hỉ cho lệnh khiêng thùng rượu vào phòng ăn. Muốn thêm phần hãnh diện nữa, ông Trác Lân còn cao hứng bảo đưa thùng rượu lên đặt giữa bàn tiệc để tất cà quan khách đều mục kích những chai rượu quí báu đẹp đẽ đó!
 
Mọi người ghé tay đưa thùng rượu lên bàn. Tôi cũng có một tay trong đám đó. Thùng rượu được rầm rộ đặt lên bàn bừa bãi làm nghiến vỡ cả mấy cái đĩa cốc! Ông Trác Lân lúc bấy giờ đã gay gắt say, mặt đỏ ửng, loạng choạng ngồi vào ghế đầu bàn. Với một dáng điệu có vẻ lố lăng hài hước, ông cầm cái vỏ chai rượu gõ xuống bàn, lè nhè nói lớn: 
 
- Xin quí vi ra tay danh dự khai mở cho thùng rượu.
 
Tiếng vỗ tay vang dậy, những tiếng xì xào bỗng im bặt, tất cả mọi người đều hướng mắt chăm chú về phía cái thùng để ngạo nghễ giữa bàn.
 
Tôi vui vẻ nhận lãnh ngay hân hạnh được khai mở thùng rượu. Người ta trao cho tôi cái búa và cái đục sắt. Tôi luồn đục sắt vào khe nắp thùng và gõ búa nậy quanh cho đinh long ra. Tôi nện thêm một búa thật mạnh, nắp thùng bật tung, bay vọt lên trần nhà, làm mọi người giật nẩy người và ngay khi đó, một xác người nhỏm ngồi phắt lên trong thùng rượu!!! Người ta rú lên, xô đẩy nhau ngã ngửa với những tiếng la hét:
 
- Cụ Bá!
 
- Cụ Bá Nam, trời ơi!!!
 
Máu me đầy mặt, cụ Bá Nam có vẻ mệt nhọc, đôi mắt lờ đờ nhìn thẳng vào mặt ông Trác Lân một lúc rồi thốt nói với những lời rành rọt:
 
- "Chính là người này!".
 
Nói xong, cụ Bá Nam chúi mình nằm ngã xuống cạnh thùng như không cần nói gì thêm nữa. Tay cụ thõng thẹo, rung rinh trên mặt bàn!!!
 
Trong phòng hỗn độn những tiếng hoảng hốt xô đẩy nhau chạy, kẻ băng ra cửa, người vọt qua cửa sổ, kẻ ngã ngất xỉu, người dẫm bừa bãi xéo lên nhau...
 
Những người mạnh bạo hay kẹt vướng, còn ngồi lại bàn, lúc bấy giờ mới đổ dồn quay nhìn ông Trác Lân!
 
Ngàn năm tôi không quên được cái vẻ mặt thất đảm ngơ ngác của ông Trác Lân lúc bấy giờ. Người cứng đờ như tượng đá, mắt ngây dại mất thần, ông ta ngồi lặng điếng... Được một lúc, bỗng toàn thân ông run rẩy như sợ hãi tội lỗi trước thần linh... rồi thình lình đứng phắt lên, loạng choạng ngã nằm vật xuống bàn, mặt vừa áp tới đầu cái xác cụ Bá Nam! Mắt ông trợn trắng, như đang nhìn vào một cõi huyền bí hư không, miệng lắp bắp:
 
- Chính tôi giết, xin các ông tha cho tôi! Tôi xin thú tội: Tôi đã theo cụ Bá Nam đến bờ chuôm. Tôi đã bắn con ngựa một phát súng lục. Tôi đã lấy báng súng đập chết cụ Bá Nam. Tôi đã kéo con ngựa vào bụi rậm vì tôi tưởng nó chết. Tôi lột lấy ví tiền của cụ Bá Nam. Tôi đèo xác cụ Bá Nam lên ngựa tôi và đem giấu vào rừng xa. Con dao, cái áo gi lê, cái ví tiền, viên đạn, chính tôi đã xếp đặt để trả thù Bạch Phi.
 
Chính tôi đã vận động cho tìm ra cái mùi soa và cái áo sơ mi giây máu.
 
Khai thú xong câu chuyện rùng rợn đó, kẻ giết người ú ớ như líu lưỡi và nghẹn thở! Hắn như hoảng hốt nhỏm dậy loạng choạng đi lùi ra, mắt trợn tròn, miệng thở hổn hển! Vừa được mấy bước thì xỉu ngã vật xuống, kêu ú ớ mấy tiếng rồi tắt thở!!!
 
 
X. - MƯU TRINH THÁM
 
Đây là những cách đã làm cho thủ phạm thú tội!
 
Sự xảo ngôn và giả đạo đức quá đáng của Trác Lân đã làm cho tôi khinh ghét ngay từ khi mới gặp và gieo vào lòng tôi một mối ngờ vực nhân cách của hắn. Chính tôi đã chứng kiến cuộc gây lộn giữa hắn và Bạch Phi. Xét thái độ hắn tôi tin chắc là thế nào sau nầy hắn cũng sẽ tìm dịp trả thù như lời đe dọa.
 
Tôi để ý dò la những hành động của Trác Lân. Những tang vật đã tìm ra để khép tội Bạch Phi, đều hết thẩy do hắn chỉ đường vẽ lối ra cả. Một điều làm tôi tin chắc hành động gian hùng của hắn là chuyện viên đạn vào cổ ngựa. Tôi thì không thể nào quên được vì quan sát kỹ, còn mọi người đều sơ ý không rõ là viên đạn bắn vào cổ ngựa đã xuyên thủng từ bên nọ lọt ra ngoài bên kia, nghĩa là viên đạn không thể nào còn nằm vướng ở trong thịt được nữa. Vậy, một khi viên đạn đã chui ra ngoài rồi, thì không còn lý do gì mà lại còn có thể tìm thấy một viên đạn nữa ở vết thương con ngựa nếu không phải là do một người ấn viên đạn khác vào! Người đó là Trác Lân, tôi biết rõ vậy! Về chiếc sơ mi và cái khăn mùi soa giây máu, tôi để ý xem xét thì thấy là vết rượu vang đặc đổ vào! Rồi bỗng hắn ăn tiêu một cách thật hào phóng như một nhà triệu phú, trong khi xưa nay gia cảnh vẫn túng thiếu. Tôi ngờ là do tiền cướp được của cụ Bá Nam!
 
Tôi cố công theo dõi tìm cho ra những chứng cớ xác thực. Tôi đi dò la, đi tìm xác cụ Bá Nam. Tôi cố ý đến những nơi nào mà Trác Lân không hướng dẫn mọi người đến. Kết quả là sau mấy ngày lặn lội vất vả, tôi tìm thấy xác cụ Bá Nam bị vứt ở dưới đáy một cái giếng cạn, ở giữa bụi rậm um tùm tại một khu rừng xa!
 
Nhớ ra có nghe thấy cụ Bá Nam hứa cho Trác Lân một thùng rượu nhãn Lâu Đài Nàng Ngâu, tôi bỗng nẩy một kế hoạch: Kiếm một cái gọng dù lớn thật tốt, tôi đem cắm sâu vào họng cái xác, cho xiên xuống tận quá hông. Xong, tôi đặt xác vào một cái thùng rượu cũ, nhưng phải bẻ gập thân xác làm hai khúc cúi khom xuống, dĩ nhiên cái gọng dù cũng khum theo. Khi làm như vậy, tôi phải lấy cái nắp thùng ấn cái xác có cần gọng dù cụp xuống và đóng hãm đinh chặt chung quanh. Tôi đã dự liệu trù tính là khi mở ra thì nắp thùng bị bay tung lên do cái xác đẩy để nhỏm lên!!!
 
Sửa soạn xong cái thùng, tôi dán nhãn và đánh số đàng hoàng rồi viết một bức thư cho Trác Lân dưới danh hiệu hãng cung cấp rượu của cụ Bá Nam. tôi bảo riêng người công nhân là xe thùng rượu đến trước cửa nhà Trác Lân rồi chờ khi có mật lệnh của tôi thì gọi cửa giao hàng. Còn về những tiếng nói của cái xác là do thuật nói trong bụng mà tôi đã học được.
 
Sau những biến chuyển vừa qua, dĩ nhiên là Bạch Phi được tha bổng và rút kinh nghiệm trường đời vừa trải qua, sống một đời sung sướng với cái gia tài kếch xù, thừa hưởng của ông chú Bá Nam.
 
 
Bài của LÊ HUY PHIẾU      
Phỏng theo "Thou art the man"  
của Edga Poe      
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 77, ra ngày 15-9-1967)
 

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2026

Cái Kiến Mày Kiện Củ Khoai


Kiến là loài chúng ta đã biết khá nhiều. Đó là những côn trùng thuộc loại mô địch (cánh có màng mỏng) như loài ong. Thân kiến gồm ba phần rõ rệt: đầu, ngực và bụng. Mỗi phần có một nhiệm vụ riêng hầu như hoàn toàn độc lập với nhau, giống như tất cả các giống côn trùng khác. Ngực nối liền với bụng bằng một cái màng mỏng, linh động, chia ra từng khớp, được gọi là cuống. Dùng kính hiển vi để quan sát, người ta nhận thấy ngay sự khác biệt rõ ràng giữa ba phần này.
 
Trước hết, đầu kiến có những sợi râu và một bộ máy nghiền thức ăn. Ngực bao bọc lấy cơ quan thần kinh trung ương, có những cặp chân mọc dài ra. Bụng chứa những cơ quan tiêu hóa và sinh sản.
 
 
RÂU VÀ MẮT KIẾN
 
Bây giờ chúng ta hãy tuần tự đề cập đến ba bộ phận trên. Chúng ta bắt đầu quan sát mấy sợi râu. Đây là bộ phận có thể nói là quan trọng vào bậc nhất. Đặc biệt đối với giống côn trùng, các sợi râu được chia ra làm nhiều đốt linh động, và có thể sinh hoạt tự do (tuy nhiên, điều này vẫn chưa được khám phá đầy đủ). Chính những sợi râu đã giữ vai trò của một bộ máy truyền tin, vì chúng có thể tiếp nhận và phát đi những tin tức, xa hoặc gần. Do đó, râu của kiến đã được ví như một đài phát thanh và thâu thanh.
 
Một cơ quan kỳ diệu khác là đôi mắt lúc nào cũng mở thao láo với những đốm tròn nổi lên làm tăng thêm phạm vi nhìn của kiến. Mắt kiến rất lớn và vì thế đã chiếm hầu như gần hết cái đầu có hình một chiếc gầu dây của nhà nông ta.
 
 
BỘ MÁY NGHIỀN ĐA DỤNG
 
Bộ máy nghiền của kiến còn lạ lùng hơn. Kiến có hai môi: môi trên lớn, môi dưới nhỏ. Hàm kiến ngắn, nhưng khỏe lạ lùng. Tùy theo trường hợp, kiến sử dụng bộ hàm như một thứ khí giới tấn công hay tự vệ rất lợi hại. Khi cần, kiến có thể dùng hàm để cưa, đục, cuốc, kẹp, rũa... y như một cái máy đa dụng. Nhiều con mồi đã phải chết tan xác với những nhát bổ hung bạo như trời giáng của kiến, và lẽ dĩ nhiên cũng có nhiều địch thủ phải quằn quại cách đáng thương dưới sức nghiền như máy xén của hàm kiến, hoặc phải tìm đường vắt giò lên cổ chạy cho thật lẹ để thoát thân.
 
Kiến có ba cặp chân như tất cả giống côn trùng khác. Những chân này rất mỏng mảnh nhưng cũng rất hoạt động và khỏe.
 
 
VŨ KHÍ HÓA HỌC
 
Ngoài việc chứa đựng những cơ quan tiêu hóa và sinh sản, bụng kiến còn có hai nhiệm vụ khá đặc biệt: chế biến ra một thứ át xít rất khó ngửi có thể ngấm được ; và sử dụng chất át xít này như một thứ khí giới hóa học có khả năng làm khiếp đảm các con mồi và đối phương của kiến. Các loại côn trùng còn dùng thứ nước này rải trên lối đi để ghi nhận đường hướng.
 
Chúng ta vừa phác họa những nét đại cương về thân hình của kiến. Bây giờ mời các bạn tiếp tục quan sát những phong tục tập quán, nếp sinh hoạt cùng nơi ăn chốn ở của loài kiến.
 
 
THÀNH PHỐ KIẾN
 
Dưới con mắt quan sát của các nhà chuyên môn, nơi kiến sinh sống trông chẳng khác gì một đô thị tí hon được thiết lập ngầm dưới đất với những hành lang có chia ngăn, xếp tầng rất qui mô. Kiến chúa sẽ chọn một nơi rộng rãi có nhiệt độ thích hợp để làm nơi hạ sinh những trái trứng đầu tiên nhỏ, tròn và trắng. Rồi những trứng này nở ra những ấu trùng có hình thù như những chú sâu con con mềm mại và yếu ớt. Cố nhiên những ấu trùng này chưa đủ khả năng để sống tự lập được.
 
Chính mấy chú kiến thợ phải lãnh nhiệm vụ cung cấp thức ăn cho từng ấu trùng chờ biến dạng thành bọ non. Đây là lúc kiến chúa lo hạ sinh lớp trứng thứ hai với số lượng nhiều hơn. Lẽ dĩ nhiên, chỗ ở của kiến phải được nới rộng để cho lũ kiến nhóc con có nơi sinh sống và đùa giỡn.
 
Trong giai đoạn này, lớp trứng đầu tiên đã nở và trở thành những chú kiến lỏi tì yếu ớt, khật khưỡng trên những chiếc chân bé nhỏ màu vàng nhạt. Nhưng kiến tập tành cũng rất chóng, nên chỉ trong một thời gian ngắn, những chú kiến lỏi tì đã có thể làm ra cái vẻ ta đây người lớn ; nghĩa là chúng đã lăng xăng, nhắng nhít tham gia vào sinh hoạt của kiến thợ. Chúng xun xoe săn sóc lũ kiến em lóc nhóc vừa trong lớp trứng thứ nhì chui ra. Chúng cũng tập tễnh ì à ì ạch đục khoét và lôi kéo các vật liệu để đóng góp vào công việc phát triển chỗ ở và làm cho tổ mình thêm vững chắc.
 
 
SINH HOẠT TRONG XÃ HỘI KIẾN
 
Tổ kiến vào lúc này khác xa tổ kiến lúc ban đầu. Mỗi tổ có tới sáu, bẩy tầng hành lang ăn thông với nhau khi chạy dọc, lúc đâm ngang. Trên cùng là một phòng rộng rãi có mái khum khum được các sợi rơm, hạt giống và sỏi nhỏ chống đỡ. Chính trong những nơi này, kiến thợ đã chất đầy những gì chúng đã mạo hiểm xông pha đó đây để chọn lựa thứ nọ, thứ kia đem về làm gia tài chung cho đoàn kiến.
 
Bên trong tổ là cả một khung cảnh sinh hoạt nhộn nhịp. Hàng triệu chú kiến chạy ngược, chạy xuôi, cõng lên, bỏ xuống thứ này, thứ nọ một cách hăng say. Chúng làm việc không biết mệt và cũng chẳng biết xả hơi là gì. Từ phòng này sang phòng khác, từ tầng nọ tới tầng kia, đoàn đi, đoàn lại không ngừng. Tất cả đều có vẻ vội vã. Có một điều đáng chú ý là mặc dầu chúng đi từng đoàn đông đúc và ngược chiều nhau, nhưng không bao giờ xẩy ra chuyện con nọ ủi đại vào con kia.
 
Trong cái tổ chức kỳ diệu này, mỗi chú kiến đều có bổn phận nhất định. Chú nào chú nấy một mực làm tròn nhiệm vụ từ khi sinh ra cho đến lúc nhắm mắt, không hề chểnh mảng. Hai công việc chính của kiến là tải đồ ăn xếp vào kho và săn sóc lũ kiến nhóc con.
 
 
NHỮNG VÚ EM LÀNH NGHỀ.
 
Trong công tác sau, kiến lớn có bổn phận chăm nom lũ kiến mới sinh từ lúc chúng ở trong trứng nở ra cho đến khi chúng có thể sống tự lập và trở thành công dân hữu ích cho xã hội kiến. Những kiến vú em này sẽ chẳng bao giờ bước ra khỏi tổ, trừ trường hợp nguy hiểm. Chúng sẽ lo di chuyển trứng, ấu trùng, bọ non và những chú kiến con còn quá yếu đuối, từ tầng nọ sang tầng kia trong thành phố kiến. Công việc hùng hục dọn chỗ này trước cái nhìn của nhà quan sát mới vào nghề có vẻ vô ích và lẩm cẩm ; nhưng thật ra rất có ích, vì làm như vậy là để tránh tình trạng thiếu không khí và để thích nghi, đối phó với sự thay đổi nhiệt độ của thời tiết.
 
Thật vậy, nếu nhiệt độ tự nhiên nóng hơn nhiệt độ cần thiết cho trứng, ấu trùng và bọ non thì các kiến vú em phải lo chạy những thứ này xuống tầng dưới có bầu không khí mát hơn. Và khi nhiệt độ ở bên trên đã trở lại bình thường thì công việc dọn chỗ lại được các kiến vú em thực hiện từ dưới lên trên. Còn các kiến thợ khác có phận sự đi kiếm thức ăn về cung cấp cho các kiến vú em.
 
Công cuộc tìm kiếm thức ăn của kiến xét ra không cần phải dài dòng. Chúng ta từng chứng kiến hàng đàn kiến bận rộn vận tải những hạt nhỏ, những miếng vụn và tất cả những gì chúng có thể kéo được vào trong hang để xếp vào kho.
 
 
PHÂN LOẠI
 
Kiến thợ không thể đẻ trứng. Giống này được chia làm hai loại: kiến thợ chuyên môn và kiến binh sĩ. Loại sau có thân hình cường tráng và được trang bị một bộ hàm rất đáng sợ.
 
Nhiệm vụ của loài kiến binh sĩ là lo canh gác bảo vệ nơi ở và rình rập hễ thấy lũ kiến lạ nào hớ hênh, không lo phòng thủ thì a lê hấp uýnh liền. Trong những trường hợp này, lũ kiến an ninh thường thắng trận vẻ vang.
 
Cũng còn nhiều loại kiến khác chuyên lo việc kiếm mồi. Những kiến này có thói quen một năm hai, ba lần, kéo quân tấn công những đô thị kiến yếu kém, hiền hòa hơn. Khi tràn ngập đất địch, chúng tiêu diệt hết lũ kiến thợ và kiến vú em thuộc phe địch, rồi bắt trứng, ấu trùng, bọ con về làm chiến lợi phẩm. Những ấu trùng tù binh này suốt đời sẽ là những tên nô lệ cho đoàn kiến chiến thắng.
 
Vài giống kiến khác chuyên sống theo lối du mục, nghĩa là chúng luôn luôn vác khí giới, đèo bòng vật dụng, sống kiếp lang thang nay đây, mai đó, hoặc để tránh những khu vực nguy hiểm, hoặc để xa lánh những miền cằn cỗi, quanh năm kiếm không đủ ăn để tới những nơi bình yên, màu mỡ hơn.
 
Trong những lúc kiến thực hiện cuộc viễn du này, ta có thể thấy chúng nối tiếp nhau ắc ê thành từng đoàn rất có trật tự: đi tiên phong và án ngữ hai mặt tả, hữu là những binh sĩ thiện chiến, những hướng đạo viên can đảm luôn luôn ở tư thế phòng bị, sẵn sàng báo hiệu khi gặp những nguy hiểm nhỏ. Đi sau là cả một làn sóng kiến thợ khệ nệ tha những vật quí giá.
 
Nếu chẳng may bị một đạo quân kiến khác cản đường thì lập tức một trận thư hùng sẽ xảy ra ngay. Binh sĩ đôi bên, mặt ngước cao, râu vểnh ngược, hàm há lớn xấn tới cắn, xé, lôi, kéo và nện cho nhau những đòn chí tử. Trận chiến sẽ diễn ra mỗi lúc mỗi quyết liệt cho đến khi một bên thấy yếu thế, kéo nhau bỏ chạy.
 
Cuộc sinh hoạt của kiến không phải chỉ diễn ra như ta vừa thấy. Có những chú kiến, chuyên nuôi những côn trùng chỉ sống bám vào cây cối, được kiến bảo vệ, nuôi dưỡng và chăm nom cho béo tốt. Đổi lại, kiến sẽ tự do rút tỉa chất nước ngọt chứa trong thân loài côn trùng này.
 
Có những chú kiến nông dân chỉ lo mang những hạt giống đã được chọn lọc gieo trên những thửa ruộng tròn, nhỏ nằm ở xung quanh tổ và chăm nom rất cẩn thận. Chờ đến vụ mùa, chúng gặt về chứa vào kho. Rồi những trận mưa dữ dội đổ xuống ; nước ngấm qua mặt đất làm ẩm ướt đồ dự trữ của kiến. Báo hại, kiến ta lại vội vã mang thực phẩm ra ngoài phơi dưới ánh nắng và chọn hạt nào hỏng thì bỏ đi.
 
Còn có một giống kiến chuyên nghề trồng nấm. Chúng sửa soạn kỹ lưỡng mảnh ruộng rồi đặt vào đó những chiếc lá đã được nhai nát ra hí hoáy kết những miếng lá thành những cây nấm kiểu mẫu!
 
Một số các nhà bác học và văn sĩ đã hiến một phần đời mình cho thế giới loài kiến. Chúng ta có thể kể ra đây vài vị như Reaumur và hai nhà côn trùng học Fabre và Maurice Maeterlinck.
 
 
VĂN TRUNG         
(Theo Tout Connaitre)    
   
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 108, ra ngày 21-9-1973)
 

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

Mười Con Vật Tinh Khôn Nhất


Các bạn đã từng có dịp xem nhiều màn thú vật trình diễn điêu luyện trong gánh xiếc, nơi rạp hát hay đôi khi ngoài đường phố do các tay bán thuốc rong tổ chức trên vỉa hè để quảng cáo món hàng của họ. Những con vật này tỏ ra rất khôn ngoan, khéo léo, lôi cuốn sự ham mê thích thú của khán giả, nhưng đồng thời cũng gây cho họ thắc mắc: "Phải chăng chúng hành động vì biết suy nghĩ hay hoàn toàn do bản năng thúc đẩy?"
 
Bác sĩ Reid W. Blair - người đã sống gần gũi với loài vật hàng chục năm trời - sẽ nói lên cảm nghĩ của ông về vấn đề này.
 
Là cựu giám đốc vườn bách thú trong công viên Nữu Ước, bác sĩ Blair cho biết: "Theo sự nhận xét của riêng tôi thì loài vật cũng suy nghĩ lúc hành động hẳn hoi. Khi thấy một con vật tỏ ra hiền lành, dễ thương, đáng ghét hoặc cáu giận chúng ta thường tự hỏi: "Không hiểu những cảm xúc ấy có được tư tưởng hướng dẫn không?"
 
Dưới đây là kết quả cuộc theo dõi, tìm hiểu mà bác sĩ tin tưởng là có thể căn cứ vào đấy để xếp hạng mười con vật thuộc loại tinh khôn nhất:
 
1) Khỉ hắc tinh tinh. 
2) Khỉ đột.
3) Voi.
4) Đười ươi.
5) Chó.
6) Hải ly. 
7) Ngựa.
8) Hải cẩu.
9) Gấu.
10) Mèo.
 
Ông giải thích như sau:
 
- Ellen, một con khỉ cái hắc tinh tinh - gốc Phi Châu - biết mặc áo lót bằng cách chùm qua đầu và biết sử dụng muỗng, nĩa tại bàn ăn thành thạo như một đứa trẻ tám, chín tuổi. Trước đây, một con khỉ khác cùng loại có thể may vá đàng hoàng.
 
Một con khác nữa trông thấy quả chuối treo trên sợi dây bên ngoài chuồng liền lấy một cái que cố thò ra để khều, nhưng cái que ngắn quá không tới được, nó đành phải kiếm thêm một que khác rất dễ nối lại với nhau mà người ta cố tình dựng trong chuồng. Nhờ vậy nó lấy được quả chuối và ăn một cách ngon lành.
 
Không phải chỉ riêng chú khỉ hắc tinh tinh đó mới biết dùng phương tiện này nọ mà ngay cả con khỉ đột nổi tiếng tên Dohong cũng tài tình chẳng kém. Bữa nọ nhân lúc nó ra ngoài hóng mát, nhân viên vườn bách thú lén bỏ vào chuồng một ống kim loại rỗng, dài chừng một thước, bên trong có nhét một quả chuối. Ngay sau khi trở vào, Dohong ngửi thấy mùi chuối thơm phức, nó liền đi tìm và khám phá ra ngay nơi cất giấu. Loay hoay mãi và tức giận vô cùng vì ngón tay quá ngắn không sao chạm tới quả chuối nó bèn đặt ống đó xuống để kiếm thêm vật dụng ngay trong chuồng khả dĩ giúp nó đạt ước muốn. Cuối cùng nó lôi ra một cái que có móc mà người ta cũng cố ý đặt sẵn bên cạnh đống rơm, rồi dùng phía có móc luồn vào trong ống. Lần đầu, với hai mươi phút cố gắng nó mới lấy được quả chuối, nhưng những lần sau thì chỉ cần nửa phút thôi, vì nó biết rằng phải nhét đầu có móc vào mới lấy được quả chuối ra. Từ đấy, gặp trường hợp tương tự, nó lại áp dụng phương pháp đó ngay.
 
Bác sĩ Bair tiếp:
 
- Tôi xếp loài khỉ hắc tinh tinh lên hàng đầu trong số những con vật khôn ngoan nhất, kế đó là khỉ đột. Nếu ta hiểu rõ đười ươi hơn nữa, có lẽ chúng ta sẽ đặt nó vào hạng ba, nhưng vì đười ươi rất khó luyện tập, nên mọi dự tính dậy dỗ loại này rất khó kết quả. Bởi vậy hạng ba phải dành cho voi.
 
Thực tế, không có con vật nào khỏe mạnh và khó bắt cho bằng voi nhưng khi đã sa cơ thì voi lại tỏ ra rất thông minh, nó hiểu ngay được quyền lực tối cao của con người cũng như nhận biết một cách bén nhậy rằng tốt hơn thì đừng chống cự mà hãy chấp nhận hoàn cảnh để sống cho thích hợp. Trong số những con vật như chó, ngựa, sư tử, hổ thì chỉ trừ trường hợp tỏ ra xuất sắc với điều kiện phải còn non mới dễ dàng huấn luyện được hoàn hảo, nhưng với voi thì vấn đề đó không gặp trở ngại dù nó đã già hay còn trẻ. Người ta thấy một vài con voi rất tài giỏi sau khi được dậy dỗ thuần thục.
 
Tại vườn bách thú Nữu Ước, vào những đêm đông lạnh lẽo, một số voi vẫn tự động đóng cửa sau khi đã vào chuồng mà không cần ai giúp đỡ. Ngược lại, những ngày hè oi ả, chúng thường để mặc cửa mở cho mát mẻ. Một con voi đến từ Ấn Độ biết cất giấu lạc (đậu phọng) trong ngày chủ nhật là ngày có nhiều người thăm viếng và để dành lại hôm sau mới lấy ra ăn, vì ngày thứ hai ít khách hơn.
 
Một con voi khác tên Khartum, trong những năm đầu mới tới, rất ưa phá phách. Nó húc đổ cả hàng rào hoặc dẫm nát những gì bắt gặp. Vậy mà trong hai năm sau, nó "cho phép" một đôi chim tới làm tổ ngay trên hàng rào trước mặt. Với tư cách "chủ nhân", nó thích thú ngắm nhìn những con chim non xinh xắn trong tổ. Gặp ngày nóng nực, Khartum thường chĩa cao vòi trên tổ chim chừng vài tấc rồi phì hơi xuống cho lũ chim được mát. Chắc chắn nó phải biết suy nghĩ ghê lắm mới hành động như vậy.
 
Còn điểm khác nữa là voi nhớ rất dai, ít khi quên những gì xuất hiện chung quanh nó. Bằng chứng là con Gunda rất ghét một em bé giúp việc cho vườn bách thú nên mỗi khi bắt gặp em này là y như rằng nó muốn gây chuyện. Ba năm sau đó, khi đã thôi không làm nữa, em nhỏ có dịp ghé thăm chỗ cũ, vậy mà Gunda vẫn còn nhận ra. Nó cuốn vòi lại tựa như muốn tấn công. Điều này chứng tỏ là nó vẫn còn nhớ tới kẻ mà nó ghét cay ghét đắng từ hồi nào.
 
Để đo lường trí thông minh của loài vật, người ta dùng một phương pháp gọi là "mê lộ": Đặt một hộp thức ăn ngay chính giữa khu vực thí nghiệm, chung quanh vây kín trừ một đường vào duy nhất, nhưng đường này lại uốn khúc quanh co, chen lẫn với những đường cụt khác rất dễ nhầm lẫn. Theo dõi cuộc thí nghiệm để xem con vật nào tìm ra đường đưa tới đích nhanh nhất, kết quả, người ta thấy các con ốc, gián, kiến, cóc, đồi mồi và chim sẻ là có trí nhớ tốt và thành công mà thôi.
 
Vẫn theo bảng xếp hạng của bác sĩ Blair thì con hải ly tuy trên con ngựa nhưng lại ở dưới con chó. Chưa từng ai có thể trắc nghiệm con hải ly theo phương pháp trên, vì nó rất nhút nhát. Chỉ nhờ quan sát những hoạt động tự nhiên của nó ta mới biết được hải ly có khả năng sắp đặt và xây dựng.
 
Một lần kia, hai con hải ly trốn khỏi chuồng trong vườn bách thú tại Nữu Ước. Người ta khám phá ra là chúng đào hầm sâu tới hai thước bên dưới bức tường bê tông. Hai con vật bị bắt lại và trả về chuồng sau khi miệng hầm đã được ngăn chặn bằng một tảng đá lớn. Hai hôm sau người ta lại thấy chúng tha những mẩu gỗ để đắp với bùn thành mô đất cao tới một thước rưỡi gần hàng rào sắt chung quanh chuồng. Ý định của chúng thật rõ ràng: Nếu không đào hầm bên dưới được thì chúng trèo qua vậy. Nhưng nhân viên vườn bách thú ngăn chặn kịp thời và lập tức san bằng ngay.
 
Những con vật khôn ngoan khác thường ít có ý định đào tẩu. Giống như voi, loài hải ly cũng nhận biết được uy quyền của con người nên ít chống cự lại.
 
Con hải ly có trí nhớ đặc biệt chẳng thua gì voi, lại dễ huấn luyện. Tính thuần thục, chịu khó học hỏi cùng khả năng bắt chước của chúng đã cho phép chúng đứng bên trên loài gấu là những con vật chậm hiểu biết hơn.
 
Loài gấu tựa như một anh chàng tài ba, có thể trình diễn những trò nhào lộn khó khăn nhất để chỉ nhận những tràng pháo tay khích lệ của khán giả hơn phần thưởng. Nhưng hải cẩu thì trái lại rất mong được cho vài con cá hay những món ưa thích.
 
Một con gấu to lớn miền Alaska tên Ivan đóng vai hề tự nhiên vô cùng. Hình như nó rất khoái đứng dưới tấm bảng ghi hàng chữ: "Đừng cho gấu ăn! Nếu không sẽ bị phạt mười xu!". Tuy thế nó vẫn được mọi người đi xem thưởng cho đồ ăn.
 
Cuối cùng, bác sĩ Blair kết luận:
 
- Thật là lầm lẫn khi cho rằng những con vật sống gần gũi và thân mật với chúng ta là dấu hiệu của sự khôn ngoan, tỷ như con mèo chúng ta vẫn nuôi trong nhà chẳng hạn. Con vật này tuy khéo léo nhưng rất tự chủ và có đời sống riêng nên rất khó luyện tập.
 
 
Tác giả : GEORGE W. GRAY       
 
Phỏng dịch : ĐẶNG HOÀNG       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 11, ra ngày 24-10-1971)
 

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2026

Dấu Xưa


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
  
Một mình trở lại thăm trường xưa
Ngàn thương trăm nhớ nói sao vừa
Em thôi áo trắng chiều tan học
Kỷ niệm nhạt nhòa theo dấu xưa

Em về dẫm bước trên lá me
Lối xưa trường cũ vắng bạn bè
Ngỡ chừng trong gió lời ai đó
Vội đáp để rồi chỉ em nghe.

Một mình em đứng xây tháp mơ
Sách vở mùa thi với đợi chờ
Cùng cô bạn nhỏ thân yêu cũ
Một thoáng nghe hồn nhớ ngẩn ngơ

Đại lộ hàng cây ngả bóng dài
Sao em còn đứng để chờ ai
Áo trắng đơn sơ giờ thay đổi
Áo mới kiêu sa lạ tháng ngày

                                ĐĂNG VƯƠNG

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 111, ra ngày 12-10-1973)


Thứ Ba, 20 tháng 10, 2026

Bác Ái


"Con ơi, ngày con mới sinh, đôi mắt con vừa nhìn thấy ánh sáng, mọi người đều mỉm cười với con, mà con lại khóc. Con hãy sống thế nào, để một ngày kia ; đến giờ sau hết, mọi người đều tràn lệ mà... con được mỉm cười".
(Guy de Larigaudie)
 
 
Sống thế nào để được như vậy bạn nhỉ? 
 
Chỉ có một cách duy nhất: gieo vào tâm hồn những người xung quanh mình một tình thương mến để đến giờ cuối đó họ phải khóc vì thương tiếc, và chúng ta mỉm cười vì đã thực thi được tình người.
 
Muốn như vậy, cần phải biết yêu. Tuổi chúng ta đang thích yêu và cần được yêu. Bạn không e ngại khi chúng ta bàn về vấn đề này chứ? 
 
Bạn đã thấy rất nhiều người yêu nhau, nhất là tình yêu nam nữ. Tình yêu đó đẹp lắm nhưng không phải là tất cả. Muốn được mỉm cười trong giờ sau hết, bạn phải yêu rộng rãi hơn nữa. Chúng ta bước vào lĩnh vực bác ái.
 
Yêu rộng rãi, không phải là chỉ yêu một vài người, không phải chỉ yêu những người thân, những người bạn thấy dễ thương, những người làm vừa lòng bạn. Như thế thì dễ dàng quá. Và chưa gọi là bác ái được. Trong tập "những bài ca khai phá của Ban Trầm Ca, một bài hát của anh Nguyễn Đức Quang có câu: "Công bình bác ái không phải là những điều nói hoài rồi từ trời cao vội vàng bay ngay tới. Để tìm cho ra con đường thương mến nhau, ngang bằng nhau, hãy bước vô ngay trong gian nan, trong khổ đau". Đúng vậy, để trở thành con người bác ái chúng ta phải có nhiều cố gắng và hy sinh, phải yêu tất cả mọi người không trừ ai, yêu cả những người không thân, cả những người dễ ghét và những người làm phật ý chúng ta. Với những tâm hồn đôi tám đầy hăng hái và độ lượng, chắc rằng chúng ta sẽ thực hiện được điều đó mặc dù nó khó khăn.
 
Trong một thế giới đầy bạo lực và hận thù theo câu nói của Nietzche: "Các bạn, chúng ta hãy trở nên các thù địch, hãy gắng công chống đối nhau" thì điều cần nhất của những tâm hồn yêu sự thiện là phải để cho hoa Bác Ái nở trong tâm hồn mình. Hãy tập yêu đi bạn, những người bên cạnh đang trông đợi nơi bạn một cái gì, hãy tập cho đi.
 
Nói đến Bác Ái, chúng ta nghĩ ngay đến những công cuộc bố thí, những tổ chức từ thiện, những tặng phẩm. Những cái đó dĩ nhiên phải cần đến vật chất tiền bạc. Mà tiền bạc, vật chất chúng ta đâu có dư dả một khi còn sống bám vào gia đình. Nếu thế chẳng lẽ chúng ta chịu bó tay sao? Và chỉ những ai có một nếp sống cao trong xã hội mới bác ái được sao? Sai cả. Con người có nhiều cái để cho ngoài vật chất: những lời an ủi, những nụ cười, những lời khuyến khích... bao nhiêu người cần được ban phát những cái đó, những cái nhất định chúng ta sẽ không thiếu. Như vậy, bạn không thiếu điều kiện để thực hành bác ái, chúng ta hãy bắt tay đi, và trước đó cũng như trong lúc thực hành bạn hãy nhớ điều kiện sau đây:
 
Bác Ái không có nghĩa là đứng trên nhìn xuống mang một thái độ kẻ cả, mọi sự bố thí vì thương hại. Bạn phải cho với một ý nghĩa thương yêu chứ không phải thương hại, giúp đỡ nhau trong tình nhân loại bình đẳng chứ không phải kẻ trên người dưới.
 
Và chúng ta có thể thắc mắc: mình thương yêu ai đây? Giúp đỡ ai đây? Thì ngay những người cạnh chúng ta đấy, những người cùng trong một gia đình, trong một lớp học. Anh bạn đi học trong hoàn cảnh gia đình eo hẹp kia, cô bạn nhỏ ngồi bên cạnh hôm nay buồn tủi vì mẹ mới qua đời... Những người chúng ta cần phải thương yêu đấy, hãy yêu họ với tình yêu nhân loại chân thực: "hãy giúp đỡ họ trong những bước khó khăn, yên ủi họ những khi buồn rầu, chia vui với họ những lúc được may mắn,  giúp ý kiến cho họ trong lúc băn khoăn".
 
Hãy biết khuyến khích người khác bạn ạ. Người bạn mà bạn gặp sáng nay đang sống trong những giây phút buồn phiền và hẳn khi gặp bạn, anh đã trông chờ nơi bạn một cái gì. Chỉ một cái vỗ vai của bạn, một ánh mắt thông cảm anh ta đã thấy bớt đắng cay. Cô bạn hôm nay bị một điểm kém trong giờ Vật lý, mặc dù cô ta đã hết sức cố gắng, cô đang chán nản đấy ; đến với cô ta đi bạn, hãy nói với cô ta một câu tưởng lệ để giúp cô tiếp tục chăm chỉ học hành.
 
Lòng bác ái cũng đòi hỏi chúng ta phải biết đoán ý của người khác. Bác ái làm chúng ta rõ cả những lối đi quanh co của tư tưởng và tâm hồn người khác. Mẹ bạn đang ngồi kia, dáng mệt nhọc. Bạn biết ngay mẹ vừa ở bếp ra, đang cần một ly nước lạnh. Rót nước cho mẹ đi bạn, mang thêm chiếc quạt nữa. Vừa là một cách đền ơn, vừa thực thi tinh thần Bác ái.
 
Ngày sinh nhật cô bạn, bạn đi mua đồ mừng và nói với người chủ tiệm: "Tôi muốn mua bất cứ cái gì làm quà sinh nhật cho bạn tôi". Biết nhớ đến cô bạn ấy, bạn thật là người tốt tính, nhưng thực ra bạn chưa chu đáo trong công việc bác ái. Nếu để ý, bạn đã đoán ra được cô nàng đang thích món gì hay đang cần vật dụng nào và bạn đã nói với chủ tiệm: "cho tôi cái ví này" hay "cho tôi quyển sách kia", không phải là "bất cứ cái gì".
 
Bạn hãy biết đón tiếp khi người ta thiếu thốn và chạy đến với bạn. Nhưng bạn cũng hãy đến với người ta khi thấy rõ nhu cầu hoặc sự thiếu thốn của họ, đừng chờ đến lúc họ cầu khẩn bạn, bạn mới "ra tay tế độ", Con em đang bóp đầu bóp trán tìm ý làm cái mở đề của bài luận, nó chưa dám hỏi bạn nhưng bạn thấy rồi đấy, lại giúp nó đi. Thằng bạn hôm nay xem ra có vẻ buồn, bạn đã biết rõ cảnh xào xáo ở gia đình anh chàng vì ông bố luôn luôn say sưa. Chắc anh chàng bị mắng oan rồi. An ủi anh ta một câu đi bạn.
 
Bạn hãy tập làm sao để:
 
"Đâu có thù hằn, bạn đem đến tình yêu,
Đâu có xúc phạm, bạn đem đến tha thứ,
Đâu có chia rẽ, bạn đem đến đoàn kết,
Đâu có sai lầm, bạn đem đến đức tin,
Đâu có thất vọng, bạn đem đến cậy trông,
Đâu có tối tăm, bạn đem đến sự soi sáng".
 
Hãy hành động như vậy rồi bạn sẽ thấy:
 
"Cho đi là nhận được,
Quên mình là tìm thấy bản thân,
Tha thứ là được thứ tha".
 
Và sống như vậy thì đến giờ sau hết, mọi người đều tràn lệ, bạn sẽ được mỉm cười, đền bù lại lúc bạn đã khóc giữa nụ cười của mọi người khi bạn vừa mở mắt chào đời.
 
 
Quyên Di         
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 79, ra ngày 15-10-1967)
 
 

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2026

Cô Đơn


Có bao giờ bạn cảm thấy cô đơn không? Hẳn là có, và biết đâu tình trạng ấy xảy ra đang trong lúc bạn đọc những dòng này đây, bạn nhỉ?
 
Cô đơn! Hai âm thanh rời rạc, biểu lộ hoàn toàn một tình trạng trống vắng, có thể là trống vắng về thể chất, và cũng có thể là trống vắng của tâm hồn. Bạn là người thích đời sống tập thể, thường tham dự những buổi họp bạn, những sinh hoạt cộng đồng, nhưng một lúc nào đó, vì hoàn cảnh bó buộc bạn phải chịu "cảnh vò võ một mình", thiếu hẳn những gương mặt thân yêu, những khung cảnh và âm thanh quen thuộc, bạn cảm thấy nhớ nhung, buồn buồn. Bạn đang cô đơn đấy, một loại cô đơn mà ta cứ tạm gọi là cô đơn về thể chất. Nhưng có một loại cô đơn khác nữa, cô đơn trong khi mình đang ở trong khung cãnh quen thuộc, giữa những bạn bè, anh em, những người thân thuộc. Bạn cô đơn vì tâm hồn bạn và tâm hồn những người xung quanh bạn không có một sự gặp gỡ, một sự hòa hợp ; nói thẳng ra là những người xung quanh như là không ai chịu hiểu bạn cả, không ai chịu thông cảm cho bạn, đó chính là lúc bạn thấy tâm hồn bạn cô đơn, không biết bám víu vào đâu cả.
 
Ai cũng phải nhận rằng những giờ phút chịu cô đơn thực là cay cực và đau khổ, tuy chẳng ai làm gì mình, chẳng ai... cào cấu gì nhưng mình vẫn thấy trong người nó làm sao ấy. Tuy vậy, với loại cô đơn về thể chất, ta có thể xua đuổi nó một cách dễ dàng, hay nói cho đúng hơn: tạm quên nó đi được để chờ đến khi không còn cô đơn thực sự. Chẳng hạn vì một lý do nào đó, bạn phải ngừng lại những buổi họp bạn, những giao tiếp với bạn bè trong một thời gian. Lúc ấy thì quả thật là buồn và nhớ ghê lắm, mình như lọt thỏm vào một bầu không khí hoang vắng đến... lạnh người - Nhưng nếu khôn một tí, bạn có thể tìm về hình ảnh của những ngày cũ, xem đó như một vật để bấu víu và hầu tạm quên cái cô đơn hiện tại. Bạn có thể mở tập Album ra xem lại những tấm hình đã chụp, nhìn lại khuôn mặt mấy đứa bạn chụp chung với mình, đứa nào cũng cười toe, miệng lớn như chiếc hoa hồng đã nở đến mức tối đa. Vui lắm chứ! Hoặc là xem lại nhật ký, ghi những câu chuyện vui. Hoặc chẳng cần Album hay nhật ký cũng được, cứ việc chịu khó hồi tưởng lại những gì đã xảy ra trong khoảng thời gian trước, hẳn là có nhiều chuyện tếu ghê lắm. Chỉ nghĩ lại đã thấy tức cười, đôi khi tức cưới đến độ nằm lăn ra giường mà khanh khách một mình. Lúc đó thì cô đơn thật đã mất ngôi ở con người bạn. Dĩ nhiên sau những lúc bị tạm quên, cô đơn lại quay về, nhưng không hề gì, nó sẽ không làm hại bạn lắm.
 
Nhưng sự cô đơn tâm hồn! Ác thay, nó là một ngọn sóng ngầm phá hoại tâm hồn ta không ít. Sự cô đơn này đến với chúng ta trong những trường hợp bị mất một nguồn yêu thương. Một trận la mắng của ba me, một lần gây gổ với anh chị em, một hiểu lầm hay "phản bội" của bạn bè đều là những dịp rất tốt để đưa chúng ta vào cô đơn. Tâm hồn ta lúc đó sẽ đâm ra trống trải và cảm thấy tủi ghê lắm. Ta thấy ba me không còn thương mình nữa, anh chị em không còn yêu thương mình nữa, bạn bè như quay mặt đi. Buồn tủi đã là một ác hại, nó biến ta thành một con người khác, không còn dễ dàng trong việc giao tiếp, không còn nghĩ đến vị tha, bác ái nữa. Tình trạng này dễ đưa ta đến ích kỷ và tàn ác. Nhưng ác hại hơn: chúng ta phải nhớ rằng một tâm hồn cô đơn là một tâm hồn dễ nổi loạn nhất. Và nếu tâm hồn đã nổi loạn thì hậu quả của nó thật là khó đo lường: bao nhiêu nền tảng đạo đức, luân lý được xây dựng trong chúng ta có thể trong phút chốc hoàn toàn sụp đổ ; chúng ta rất dễ dàng đi theo những khuynh hướng xấu, những khuynh hướng mà trong lúc tỉnh trí ta đã ghê tởm, nhưng giờ đây thì không cần gì nữa, ta chỉ còn biết cố vơ vào, không phân biệt tốt xấu, vơ vào thật nhiều để lấp cho đầy khoảng trống tâm hồn. Nguy hiềm hơn, nếu trong lúc này ta lại có ý tưởng "trả thù đời". Có thể chúng ta nghĩ: "Ừ, bấy lâu nay mình sống nép mình trong khuôn khổ, kính yêu cha mẹ, nhường nhịn anh chị em, thương yêu bè bạn... nào có thấy lợi lộc gì đâu! Tất cả đều quay mặt đi rồi, tất cả đều không đáp lại tình thương của mình. Đã thế, mình phải hành động cho họ biết tay". Và "hành động" của chúng ta tức là quay lưng lại, đi ngược con đường bạn đi từ trước, xem cha mẹ, anh em, bè bạn như kẻ thù và kết bạn với những gì mà trước kia ta vẫn từng lên án. Chúng ta nghĩ rằng với một sự liên kết mới như thế, ba me, anh chị em, bè bạn sẽ lấy làm tức giận, chúng ta sẽ hả lòng và... để rồi kết cuộc, chỉ vì một vài hành động điên rồ trong lúc cô đơn, chúng ta hoàn toàn bị hủy hoại về mặt tinh thần.
 
Cô đơn tâm hồn! Chúng ta cần phải huấn luyện con người để đối phó lại với nó. Trong những lúc buồn tủi vì cảm thấy như bị mọi người xa lánh, chúng ta hãy cố gắng đưa con người chúng ta trở lại vòng đai thân ái của gia đình, của tình bằng hữu. Hãy nhớ đến những gì ba má, anh em, bè bạn đã làm cho mình, những việc làm biểu lộ tình thương yêu. Có thể nhớ lại như thế, chúng ta càng tủi, đến cái độ khóc nức lên. Nhưng không sao cả, dần dần chúng ta sẽ thấy ta không bị ghét đến độ ta tưởng đâu. Ta vẫn được mọi người thương mến, và rất nhiều người hiểu ta, thông cảm ta. Kèm theo những ý nghĩ ấy, chúng ta có thể hăng say làm việc, đó là phương pháp hay nhất để tránh cô đơn. Hãy làm những việc mình thích, học những môn mình ưa và chơi những trò giải trí mình mến chuộng. Và cuối cùng, với những bạn có tín ngưỡng, chúng ta hãy cầu nguyện đi. Trong tình thương của đấng bạn hằng tôn thờ,, bạn sẽ gặp được bao nhiêu là an ủi. Người đời không hiểu bạn (có thể bạn chỉ tưởng như thế thôi) nhưng đấng bạn tôn thờ thì luôn luôn hiểu bạn và hướng dẫn cuộc đời bạn. Bạn hãy tin tưởng rằng Người sẽ dẫn dắt bạn ra khỏi hoàn cảnh cô đơn đau khổ hiện tại, tin tưởng để được an ủi vô biên. Người hữu thần hơn người vô thần ở chỗ đó.
 
Với một tâm hồn và thể xác đang độ phát triển, chắc chắn chúng ta sẽ gặp nhiều xáo trộn và đã bao lần chúng ta cảm thấy cô đơn. Cố phấn đấu đi bạn nhé, phấn đấu để rồi sau khi đã thoát hiểm, bạn sẽ vui mừng nhận thấy cuộc sống của mình là cuộc sống có giá trị và đáng sống.
 
 
Quyên Di       
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 78, ra ngày 1-10-1967) 
 

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2026

Sâu Đậm

Không khí lớp học bỗng nhiên cứ ồn náo cả lên, chả là hôm nay tụi Thủy có ông giáo sư toán mới. Tụi bạn Thủy cứ bàn mãi về ông thầy, nào là ông phải già này, hiền này. Thủy thì chỉ biết ngồi nghe vì Thủy có biết gì đâu. Không khí bỗng im lặng khác thường khi thầy giám thị "dẫn" vào lớp Thủy một người.
 
- Đây là giáo sư mới của các chị, gắng mà học nhá.
 
Nói xông ông ta đi mất hút. Tiếng ào ào lại tiếp tục nổi lên. Thầy mới đứng im trên bục, nhìn sơ qua lũ học trò, khi mắt thầy du hành qua bàn Thủy, thầy chợt cười nhẹ. Con Oanh quay sang Thủy:
 
- Đố mày nhá, thầy này hiền, dữ, có tận tâm không?
 
- Chịu, tao làm sao biết?
 
Tuy nói thế, nhưng ông giáo sư kia là anh Tư của Thủy cơ mà. Con Oanh bỗng cười bằng mắt, khác thường.
 
Hai giờ sau ngày thứ bảy hôm nay lại là hai giờ toán, lũ bạn của Thủy bảo rằng thầy này dạy dễ hiểu và hay. Thủy nở mũi ghê là. Thủy định nói cho con Oanh nghe, nhưng mà thôi, cứ để cho nó khám phá mới hay.
 
- Thủy ơi! Ra kia chơi!
 
Thủy nhìn nó gật đầu rồi đứng lên.
 
- Thủy ơi! Mày làm hai bài toán hình học chưa?
 
- Mới có một thôi.
 
- Ơ! Vậy thì ở lại làm đi, không có tí thầy khám thì nguy à nha.
 
- Không có sao đâu, rồi mày xem, ông í có gọi tao vẫn được bình yên mà.
 
Thủy thoáng nghe nhột nhạt, quay lại, Oanh đang nhìn Thủy với đôi mắt là lạ, như bất đồng ý kiến. Nhưng Thủy không cần tìm hiểu làm chi. Những viên xí muội đã lôi tụi Thủy vào những chuyện khác rồi.
 
Thoáng đấy chuông lại reo báo hiệu giờ nhập học. Con Oanh kéo Thủy lè lẹ vào lớp. Gớm! Thầy toán đúng giờ ghê cơ.
 
Lời tâm niệm đọc xong, thì thầy mở sổ điểm ra kiểm soát.
 
- Nguyễn thị Kiều Oanh.
 
Con Oanh giật mình mang vở lên. Nó làm đủ hết nên được chữ chăm tròn trịa. Khoảng ba, bốn đứa nữa rồi thầy gấp sổ lại. Thủy nhìn con Oanh nghênh mặt một cái. Nhưng...
 
- Đỗ Bảo Ái Thủy!
 
Thủy giật bắn người lên, lưng lạnh như đồng. Thủy run run mang vở lên cũng vừa nghe con Oanh nói nhỏ:
 
- Hay à! Ta nói từ nãy mờ.
 
Ôi! Con đường lên bàn thầy sao mà ngắn thế, nhưng Thủy cũng hơi yên lòng - thầy là anh Tư mình cơ mà.
 
- Chị có làm bài không?
 
- Dạ có.
 
Thầy đọc lẩm nhẩm một tí rồi dựng đứng lông mày lên:
 
- Chỉ có một bài thôi ư?
 
Đã rét run lên rồi, nhưng Thủy cũng rán cười gượng, thầm cầu mong thoát nạn, thế rồi:
 
- Lười nhé, không điểm này, quì góc lớp này.
 
Thủy trợn mắt nhìn thầy, từ ngạc nhiên sang giận dỗi chả bao xa. Thủy đứng ỳ ra, thầy quát lên:
 
- Có nghe không nào?
 
Thế rồi con bé đành thi hành bổn phận học sinh vậy, một giờ sắp trôi qua, thầy giảng bài tỉnh bơ như không thấy đôi mắt nửa năn nỉ, nửa hăm dọa về méc ba. Thủy tức rồi, nước mắt tràn dài lên má, lăn đùng đùng xuống đất, ức thật, nhỏ Ngọc Thanh khi nãy không làm bài mà thầy chỉ nhỏ nhẹ bảo:
 
- "Lần sau chị chăm lên nhé".
 
Thủy thì làm một bài mà ra góc lớp, bộ thầy ghét Thủy lắm sao chứ?
 
Những đôi mắt của lũ bạn nhìn Thủy như trêu chọc, và đôi mắt con Oanh lặng lẽ, làm Thủy tự ái và oán hận thầy hơn bao giờ hết. Chuông ra chơi reo lên, thầy nhìn lại:
 
- Thủy về chỗ, biết tội đấy.
 
Thủy đứng phắt dậy, lườm thầy rồi về chỗ, gục mặt lên bàn khóc nức nở, một lát Thủy nghe giọng con Oanh:
 
- Thủy ôi! Mày đừng có khóc nữa, thầy nhìn kìa.
 
- Mặc chứ bộ.
 
Thủy gắt trong nước mắt. Con Oanh im một lúc rồi nói:
 
- Thủy, bộ mày ghét thầy lắm hở, thầy buồn cho mày xem.
 
- Mặc kệ ông í!
 
- Ơ! Mày nói mí anh mày vậy ư?
 
Thủy ngạc nhiên ngẩng lên:
 
- Sao mày biết ông í là anh tao?
 
- Ừa, chỉ cần nghe Đỗ Bảo Quốc Việt với Đỗ Bảo Ái Thủy, tao đã đủ biết, phương chi ông ấy giống mày như đúc, ai chả biết.
 
Thủy gục đầu làm thinh, mà mắc cỡ nữa, Thủy vừa hiểu cái nhìn tinh nghịch của Oanh giờ chơi rồi.
 
Giờ học cuối tuần bắt đầu, Thủy lặng lẽ theo dõi bài học và tránh nhìn thẳng thầy, có một lúc thầy buồn, tự nhiên Thủy cũng buồn, nhưng Thủy còn giận dỗi. Thủy chỉ cắm cúi làm việc.
 
Khi về đến nhà, Thủy thấy anh Việt đã có mặt tự bao giờ, mà đang chờ cơm Thủy. Thủy thưa ba me, anh Hai, anh Ba nhưng chỉ lườm anh Tư, rồi lên phòng chờ, một lúc lâu không thấy Thủy xuống nên anh Việt lên tìm, Thủy đang nằm úp mặt khóc ròng trên giường. Anh đến cạnh nâng Thủy lên:
 
- Bé giận anh đấy à? Thôi nhé, bé phải biết rằng, anh là thầy, mà khi em thầy làm lỗi thầy phải phạt nhiều hơn học trò chứ lỵ. Bé nghĩ anh không thương bé sao. Anh thương bé nhất chứ, thôi xuống ăn cơm mí anh nha. Học đệ thất rồi còn chi nữa. Bé con!
 
Thủy thương anh nhất rồi, nên tặng cho anh gương mặt ướt nhem nước mắt, với nụ cười đầy đủ răng, rồi theo anh xuống nhà. Ba nhìn dáng khóc còn lại của Thủy và hỏi:
 
- Ô hay! Sao bé khóc vậy? Lại chuột cắn rồi ư?
 
- Bé không làm bài, vào lớp bị con phạt nên dỗi đấy ba ạ!
 
Thủy mắc cỡ quá, bám chặt tay anh Việt rồi he hé mắt nhìn lên. Anh Việt đang nhìn Thủy cười, Thủy bèn cười theo một cú rồi chạy lại bàn ăn...
 
 
Cỏ Dại H.V.          
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 113, ra ngày 1-9-1969)
 

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

Ánh Sáng Trong Tim


Trời sáng dần, tiếng ồn ào náo nhiệt phát xuất từ chơ Xóm Chiếu vang đến những âm thanh rộn rã nghe thật vui tai. Trời lạnh, sương mù buổi sáng quyện khắp xóm nhỏ nghèo nàn. Tung bừng tỉnh, chớp chớp đôi mắt mù lòa khẽ vươn vai ngồi dậy, ngáp dài. Một làn gió mát từ cửa sổ thổi vào, Tung mỉm cười khoan khoái, bầu trời trước mặt vẫn đen tối như những ngày qua trong cuộc đời của anh. Bỗng nhiên anh thấy buồn, tâm tư chợt man mác. Anh mường tượng bầu trời bây giờ chắc đẹp lắm, khu phố này tuy nghèo, dơ bẩn, anh cũng muốn được nhìn nó để tận hưởng cái ánh sáng chan hòa của vầng thái dương mà bấy lâu anh đánh mất.
 
Anh nhớ lại quãng đời thơ ấu, chuỗi ngày mà bây giờ đối với anh xa xôi quá, ngày mà mắt anh còn sáng và bóng tối chưa ngự trị trong anh. Cái thôn làng nhỏ bé với những lũy tre xanh, với những cánh đồng lúa chạy dài tít chân trời, anh vẫn còn nhớ rõ, ngôi trường nho nhỏ với vách phên nứa đơn sơ, nơi đó anh đã nô đùa trửng giỡn với thằng Tèo, thằng Tý. Anh vẫn chưa quên, những giờ đi câu cá, chọi khâu, những cuộc bắn nhau, núp mương, nhảy cây v.v... cứ ngày qua ngày lởn vởn trong tim anh trọn vẹn. Nhớ đến nó, anh muốn tìm trở lại, nhớ đến nó anh cảm thấy mình gần gũi với xã hội hơn, nhưng đôi mắt mù lòa đã ngăn cản tất cả, chung quanh anh chỉ còn lại màu đen thăm thẳm, màu đen của cuộc đời anh. Tung thù ghét chiến tranh, vì chiến tranh đã giết chết linh hồn anh từ thuở nhỏ. Vâng! Chiến tranh bom đạn đã cướp mất đôi mắt anh. Anh thù ghét chúng lắm, buồn bã Tung nhớ lại cái ngày đau khổ đó. Trước mặt anh cả vùng sáng ghê rợn bùng lên và anh gục xuống. Tỉnh dậy giữa tiếng khóc nức nở của mẹ, anh mở to mắt ra nhưng anh không còn trông thấy gì nữa, một cái gì chẹn tim anh làm anh nghẹn ngào bật tiếng khóc. Anh muốn gào lên, trời ơi! Hôm ấy anh bắt đầu bước vào cuộc đời mù lòa, màu đen phủ tràn vào tâm hồn anh.
 
- Anh Tung ơi. Sáng rồi.
 
Tung mỉm cười:
 
- Ừ, anh biết. Em rửa mặt còn sửa soạn đi học nữa chớ.
 
Ngọc, đứa em trai độc nhất, sà vào lòng anh. Tung âu yếm ôm nó, bàn tay gầy guộc xoa đầu thằng bé, anh ao ước được nhìn khuôn mặt nó, ngày xưa nó còn bé, bây giờ chắc nó đã lớn lắm rồi.
 
- À, anh Tung ơi!
 
- Gì vậy em?
 
Đứa bé ngập ngừng. Tung im lặng chờ đợi, anh mở to tròng mắt như muốn nhìn những gì trên mặt nó. Giây lát Ngọc đáp:
 
- Nhà... có tiền chưa anh?
 
- Chi vậy em?
 
- Quyển sách đó... anh!
 
Tung chợt hiểu, anh à lên một tiếng, phải rồi, một tuần nay anh đã hứa với nó, đến nay... Anh buồn lắm chớ. Mẹ anh ngày đêm vất vả làm việc, không thể ngồi yên được, anh lê đôi chân với cặp mắt mù lòa đi khắp nẻo đường hành nghề bán vé số để phụ giúp thêm cho gia đình. Dù nghèo, dù khổ anh cũng không muốn đứa em độc nhất phải buồn, anh cố chìu lòng nó, nguồn yêu thương còn tồn tại trong lòng anh. Vì thế, Ngọc đi học, áo quần tươm tất, sách vở đầy đủ không ai có thể, ngoài cô giáo, nghi ngờ được. Ngọc là đứa bé thông minh. Cha mất từ thuở còn thơ. Nhìn mẹ, anh lam lũ với cuộc sống nó hiểu lắm rồi buồn cho số phận, không phải cho riêng mình nó mà cho cả gia đình. Vì thế nó không dám đua đòi, nhõng nhẽo, chỉ những gì cần thiết lắm thằng bé mới bảo nhỏ với anh nó mà thôi. Điều đó làm cho Tung thương em hơn.
 
Thấy anh im lặng, Ngọc ngỡ anh buồn, nên rụt rè khe khẽ bước xuống. Tung ôm em lại, anh nói:
 
- Ờ, ơ! Để chiều nay bán nốt vé số, anh sẽ cho tiền mua sách.
 
Ngọc cúi đầu rồi nhìn anh, buồn bã:
 
- Thôi, hay là để em mượn sách thằng Hoàng...
 
Thằng bé thoát khỏi vòng tay Tung, anh nghe tiếng chân nó xa dần. Bóng tối vẫn vây quanh, anh bực tức rồi buồn lặng anh khẽ thở dài...
 
*
 
Tung mân mê xấp bạc trong tay, hôm nay gặp dịp anh bán được cả lô cho bọn nhậu đầu phố, anh đã đủ tiền mua sách cho Ngọc, anh khoan khoái bước đi.
 
- Ê! Tung.
 
Tung dừng lại, anh đưa hai tay quơ quơ trước mặt nói:
 
- Mầy hả Bẩy. Tao bán hết vé số rồi.
 
Chợt nghe tiếng cười sau lưng anh quay lại mỉm cười chữa thẹn. Bẩy, bạn đồng nghiệp của anh:
 
- Mầy hên quá. Tao còn 5 tờ lận. Vậy mà phải ra bến xe đón mà tao dưới Gò Đen lên sợ không kịp...
 
Một ý nghĩ chợt nảy ra, anh hỏi:
 
- Bây giờ chừng mấy giờ hả mậy?
 
- Mới 11 giờ hà.
 
Tung lẩm bẩm "11 giờ. Đúng! Trời chưa nóng lắm". Từ giờ đến chiều chắc bán được, anh nói:
 
- Mầy để lại tao bán dùm cho.
 
- Ừ, tốt quá. Nè cầm đi.
 
Một tay anh quờ quạng nhận vé số, một tay anh cho vào túi.
 
- Trả tiền hả. Thôi để đó đi, ngày mai đưa tao cũng được.
 
Nói xong, nó bỏ chạy. Tung vui vẻ nắm chặt 5 tờ giấy số, rao to:
 
- Giấy số đây, ngày mai xổ rồi nghen bà con.
 
Đến chiều, những làn gió mát thổi vào mặt Tung mát rượi. Đặt cây gậy sát bờ tường, anh nghỉ mệt. Cho tay vào túi quần, Tung lấy chiếc khăn tay đã nhạt màu lau mồ hôi, anh lẩm bẩm:
 
- Chắc ba bốn giờ chiều rồi. Hôm nay hên thiệt. Còn có 1 tờ, mình đi về ghé quán Bẩy Râu bán nốt.
 
Bụng đói, Tung chợt nhớ hồi sáng đến giờ chưa có hạt cơm vào ruột, anh nắm lấy cây gậy thân yêu dọ dẫm bước đi. Tiếng xe cộ đều đều vang trong tai, tiếng cười nói của người qua lại làm anh vui lòng, khiến cơn đói như muốn dịu đi. Tung đưa tay dò đường.
 
Một tiếng nói trong trẻo đập vào tai:
 
- Nầy anh, còn vé số không?
 
Có lẽ là thằng bé, anh cười vui:
 
- Còn chớ.
 
Rồi đưa tờ vé số độc nhất trong lòng bàn tay, anh nói:
 
- Đây nè.
 
- Anh đi theo tui. Ba tui mua.
 
- Xa không em?
 
- Gần thôi.
 
Thằng bé nắm tay Tung dẫn đi, anh bước theo, hình như có tiếng chân bước theo, có lẽ người đi đường. Đi một chặp, anh hỏi:
 
- Gần tới chưa em?
 
- Tới rồi.
 
Và nó vụt bỏ chạy. Tung ngơ ngác: "Mẹ! Bọn nhóc nầy gạt mình rồi đây". Mỉm cười, anh bước đi, cây gậy trên tay bỗng quơ trúng cái gì sột soạt. Ùm!
 
Tung ngã nhào, sình đất dính đầy. Anh lồm cồm ngồi dậy giữa tiếng cười của bọn trẻ.
 
- Ha! Ha! Đáng đời chưa. Ai bảo em anh uýnh tui.
 
Tung giận run lên. Nếu anh có mắt anh sẽ đánh cho chúng chừa. Bỗng anh nghe tiếng chân thình thịch chạy tới và giọng nói quen thuộc của thằng Ngọc vang lên:
 
- Nè! Mầy xô anh tao.
 
Và những tiếng của bọn trẻ:
 
- Quánh nó đi!
 
- Cho nó xuống sình với anh nó!
 
Tung gọi to:
 
- Ngọc! Đừng em. Tụi bây dừng tay lại.
 
Nhưng mặc. Anh gọi thì cứ gọi, bọn chúng vẫn đập tưng bừng. Anh quơ gậy hét to:
 
- Dừng lại.
 
Giữa tình thế đó, một người đàn bà chạy đến, bọn trẻ túa chạy. Thằng Ngọc áo quần lem luốc bước đến dẫn anh lên khỏi vũng sình bị đọng lại bởi cơn mưa đêm qua.
 
Người đàn bà, có lẽ mẹ thằng bé khi nãy, nắm tay nó đến trước anh. Tung ôm em vào lòng im lặng.
 
- Mầy xin lỗi anh mau lên.
 
Thằng bé mếu máo:
 
- Em... xin lỗi.
 
Người đàn bà nhìn anh:
 
- Cháu nó lỡ dại anh đừng chấp.
 
Tung gật đầu thông cảm. Chợt nhìn thấy tấm vé số trên tay anh ướt nước, người đàn bà nói:
 
- Ồ! Để tôi đền anh tấm vé số này.
 
Tung xua tay:
 
- Không. Thưa bà, không sao. Bà đừng bận lòng, tôi sẽ bán được. Thôi, chào bà.
 
Tung dẫn em bước đi. Chợt nhớ lại điều gì, anh quay lại gọi to:
 
-  Bà ơi!
 
- Gì vậy anh Tung?
 
Tung nghiêm trang:
 
- Thưa bà, xin bà đừng đánh nó.
 
Người đàn bà nhìn anh, nếu không mù, anh sẽ đọc được những gì thương yêu trong đó. Tung bảo em:
 
- Thôi, về đi Ngọc.
 
*
 
Tung im lặng đếm những đồng bạc 10 đồng trong túi. Anh lắc nhẹ, âm thanh vui vui của nó làm anh thích thú. Ngọc có tiền mua sách rồi, dù rằng không nhìn thấy vẻ mặt nó nhưng anh biết nó sung sướng lắm. Anh lẩm bẩm:
 
- Chắc nó đi học sắp về. Không hiểu hôm nay có tin gì đặc biệt không. Bắt nó đọc báo cho mình nghe mãi, cũng tội.
 
Anh lắng nghe. Có tiếng chân của thằng Ngọc, hình như có ai khác nữa. Ngọc chạy vào, trên tay cầm tờ báo, ngày nào cũng thế, đi học về nó đều mua cho anh một tờ. Nó gọi khẽ:
 
- Anh Tung.
 
- Gì hở em?
 
- Có cô giáo em đến.
 
Rồi để phân bua, nó bảo:
 
- Không phải em dẫn cô ấy tới đâu. Cô biết nhà, anh à.
 
Tung cười xòa, tội nghiệp thằng bé, nó sợ không dám cho cô giáo biết nhà, anh nói trấn an nó:
 
- Không sao, cô đến thì phải tiếp chớ. Em vào rót nước đi.
 
Cô giáo cất tiếng:
 
- Chào anh, chắc tôi làm phiền anh lắm.
 
Tung mỉm cười nhã nhặn:
 
- Thưa cô, không sao ạ. Mời cô tự nhiên.
 
Nghe tiếng nói nhẹ nhàng và đầm ấm của cô giáo em mình, Tung thầm nghĩ chắc cô còn trẻ và hiền lắm. Anh chợt nhớ tới mái trường quê nhỏ bé và ông thầy luôn luôn mang vẻ mặt nghiêm trang của thời niên thiếu. Tung hỏi:
 
- Thưa cô, em Ngọc có điều gì làm cô buồn?
 
- Không! Ngọc ngoan lắm. Hôm nay tôi đến đây có chuyện muốn nói cùng bác gái.
 
- Ồ, tiếc quá, mẹ tôi đi vắng. Cô vui lòng chờ tí. À, cô có thể cho tôi biết chuyện gì không?
 
Cô giáo im lặng, nhìn gian nhà nghèo nàn nhưng gọn ghẽ, rồi nhìn vào đôi mắt mù lòa của Tung, cô nói:
 
- Vâng, tôi sẽ nói cho cậu biết.
 
- Quên chớ. Mời cô xơi nước, trà hình như không được đậm cho lắm.
 
- Không sao, cậu để mặc tôi.
 
Chợt nhớ điều gì, Tung cho tay vào túi rút tấm vé số hôm qua, bảo Ngọc:
 
- Nầy, dò dùm anh cái nầy. Hôm qua mệt quá, quên bán.
 
Cô giáo nhìn Tung giây lát, ôn tồn:
 
- Tôi có chuyện nầy muốn nói. Số là thấy em Ngọc ngoan ngoãn và hoàn cảnh eo hẹp của gia đình cậu, tôi muốn nhận đỡ đầu nó, tôi sẽ cho nó tiếp tục sự học một cách chắc chắn...
 
Tung khẽ đáp:
 
- Cám ơn cô, nhưng mà...
 
Tung dừng lại. Anh sợ điều mình sắp nói, sẽ làm mất lòng cô giáo. Anh hiểu lòng tốt ấy, nhưng anh không muốn mất em, nó là đứa em độc nhất, anh không muốn rời nó, anh ngập ngừng... Chợt có tiếng chân đến gần quen thuộc. Anh lẩm bẩm:
 
- Mẹ về.
 
Rồi bỗng ngạc nhiên, anh mở to tròng mắt sửng sốt. Ủa! Sao im lặng thế? Tại sao vậy? Anh muốn phá tan bầu không khí nghẹt thở. Có chuyện gì? Anh bỗng cảm thấy lo sợ. Thời gian sau, anh nghe tiếng cô giáo:
 
- Chị Tâm, có phải là chị?
 
- Vâng - tiếng mẹ trả lời - còn cô có phải là cô Hiền không?
 
- Vâng, thế mà bấy lâu tôi không biết.
 
Tung cảm thấy nhẹ hẳn người lên. Mẹ nắm tay anh:
 
- Này, cô giáo đây là con cụ Cả Mạ cùng làng. Cụ Cả Mạ ngày xưa là bạn thân của ông con đấy.
 
Rồi cô giáo vui vẻ kể cho mẹ Tung nghe, cô vừa được đổi về trường Vĩnh Hội dạy thế cho thầy Cẩn đi lính. Cô mến Ngọc và sau khi khéo léo hỏi cô hiểu gia cảnh. Cô cũng nói rõ ý định giúp đỡ Ngọc cho bà Tâm nghe.
 
Vừa lúc ấy Ngọc trong bếp chạy vụt ra, rồi đứng sững lại trấn áp mừng rỡ, nó ấp úng:
 
- Mẹ, mẹ! Mình trúng 100.000 đồng!
 
Tung giật hẳn người lên: 
 
- Em bảo sao?
 
- Mình trúng 100.000 đồng.
 
Căn nhà bỗng sáng hẳn lên, màu đen xung quanh anh mờ nhạt đi. "May quá", anh thốt. Cô giáo bỗng đứng dậy:
 
- Thật không ngờ. Tôi xin chia vui cùng gia đình chị. Và... tôi xin rút lại ý kiến khi nãy.
 
Chợt hiểu cô giáo sợ mang tiếng lợi dụng, bà Tâm xua tay lia lịa bảo:
 
- Không. Không sao ạ. Cô cứ xem nó như con cháu mà dạy dỗ dùm tôi, tôi biết ơn vô vàn. Nhưng chỉ có hai đứa con nên tôi không muốn xa nó, chứ không phải là... xin cô đừng hiểu lầm.
 
Cô Hiền khẽ đáp:
 
- Vâng, tôi sẽ cố gắng giúp đỡ cháu.
 
Tung không nghe gì được nữa. Anh nắm chặt tờ vé số cơ hồ muốn bóp nát nó ra. Tương lai Ngọc sẽ vững chắc, anh sẽ không mất nó, ngày mai, ngày mai đẹp lắm, bóng tối dù còn, nhưng ánh sáng đã chớm nở trong tim anh, anh lẩm bẩm:
 
- Ồ! Ánh sáng kỳ diệu quá.
 
 
Trọng Châu        
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 79, ra ngày 15-10-1967)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>