Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Người Săn Rắn


MỘT KẺ LẠ LÙNG
 
Đó là ông William Fador, người cao lớn, tóc điểm bạc, da sạm nắng và thật khó có thể đoán được trúng tuổi của ông: 40, 50 hay có thể ông đã tới 60 mặc dầu ông vẫn còn đầy vẻ phong độ của một kẻ không ưa cảnh nhàn hạ, yên ổn mà chỉ thích phiêu lưu. Bộ quần áo của ông ta là cả một sự kỳ khôi: đầu đội mũ rộng vành, quần áo cộc rộng tay bằng vải thô, chân đi bốt da, ông ta mang theo đủ thứ đồ nghề lủng củng mà ta khó có thể đoán được những công dụng của chúng. Trước hết là một cái túi đựng đồ leo núi, bên trong đầy đủ quần áo, đạn dược, thức ăn, sau đến một cây súng săn lúc nào cũng lên đạn sẵn sàng và đặc biệt là một cây gậy dài, thật dẻo, ở đầu có gắn một vòng dây da, đó là dụng cụ đắc lực để giúp ông ta chế ngự một loài vật hết sức nguy hiểm: những con rắn cực độc. Chưa hết, vòng quanh thắt lưng, ông ta còn đeo đủ loại túi da, và một cây kẹp sắt.
 
Đối với William Fador, săn rắn là một nghề thích thú, mặc dầu nguồn lợi đem lại thật không xứng với những nguy hiểm mà ông ta thường trực phải đương đầu. Nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể đua đòi được loại sở thích kỳ cục này. Những tay chậm chạp, những cụ lừng khừng, những bác cà chớn, xin hãy... xê ra cho người ta bắt rắn. Bởi đấy không phải là một trò đùa. Một phút chểnh mảng, một sự quan sát lầm lẫn, một phản ứng chậm chạp, tất cả đều là những lý do sẵn sàng đưa ta về bên kia thế giới.
 
 
BẮT RẮN NHƯ THẾ NÀO?
 
Theo William Fador thì người bắt rắn phải có hai biệt tài chính yếu: một là óc nhận xét sáng suốt, hai là sự phản ứng lanh lẹn, thần tốc. Nhờ óc sáng suốt, ta có thể tỉnh táo ngay cả khi cơ thể mệt mỏi lúc lặn lội trong rừng sâu, sẵn sàng phân biệt được đâu là màu da rắn, đâu là màu cây cỏ, hỏm đá, lại cũng phải biết phân biệt đâu là cành khô rơi vãi, đâu là những thân rắn đang bò. Do kinh nghiệm, kẻ săn rắn cũng phải biết nhìn qua một con rắn là phân biệt được nó thuộc loại nào, độc hay không, phương cách tấn công đặc biệt của nó và biết sử dụng phương pháp chế ngự nó một cách mau chóng.
 
Đối với các loại rắn thông thường thì chỉ cần dùng cây gậy dẻo đập liên hồi cho đến lúc nó ngất ngư.
 
Điều khó là không được đụng chạm đến đầu của nó, để khỏi làm hư túi chứa nọc độc sẽ đem dùng sau này. Chỗ đáng đập nhất là ngay chính giữa thân rắn. Trường hợp gặp loài rắn lớn, thì người ta sử dụng chiếc gậy có vòng da. Với phản ứng mau lẹ, người bắt rắn choàng chiếc vòng qua đầu nó rồi thít lại. Dù vùng vẫy cách nào nó cũng trở nên hết nguy hiểm. Một đôi khi gặp trường hợp khẩn cấp, người ta phải sử dụng tới súng. Bắn thật nhanh, nhắm thật trúng, chỉ có phương pháp ấy mới thoát khỏi những con rắn bất chợt phóng mình từ một hốc nào đó.
 
 
RẮN PHUN NỌC NHƯ THẾ NÀO?
 
Không phải loại rắn nào cũng có khả năng giết người bằng nọc độc. Ngay cả khi loại rắn chứa nọc độc, nhưng khi ta bị cắn cũng không hề hấn gì. Như loại rắn Opisthoglypes tuy có những hạch bài tiết nọc độc nhưng nọc độc lại nằm tận bên trong cùng. Bởi thế khi bị rắn mổ, răng nhả nọc ở sâu quá, không xâm phạm đến da thịt ta, chỉ trong trường hợp một con mồi bị nó nuốt vào, con mồi mới bị thấm nọc. Chúng ta đừng tưởng toàn bộ hàm răng rắn đều chứa nọc độc. Thực ra nọc được chứa từ một túi, Túi này thông tới một hay hai cái răng móc. Chỉ răng móc này mới nhễu được nọc độc mà thôi. Các răng khác chỉ có phận sự đẩy con mồi vào bụng rắn.
 
Khi rắn nghỉ ngơi, răng móc của rắn hạ xuống một khoảng trũng nhỏ trong miệng. Nhưng lúc há ra đề đớp mồi thì nó dựng đứng lên, nhô ra phía trước nhờ xương hàm và nó có thể chuyển động được. Khi cắm vào thịt con mồi, nó gây ra một vết thương nhỏ như nốt chích vì đầu răng móc chỉ nhỏ như một mũi tiêm. Những túi chứa chất độc sẽ thắt lại và chất độc chảy qua ống dẫn, nhễu từ răng móc vào con mồi.
 
 
LẤY NỌC RẮN
 
Rắn bắt được đều chứa trong những túi bằng da. Khi túi đầy nhóc nhách, William Fador đem chúng về trại. Sự nguy hiểm chưa qua. Bởi giai đoạn lấy nọc độc của rắn cũng hết sức nguy hiểm. Nhiều kẻ đã bị rắn cắn chết ngay trong phòng thí nghiệm. Trước hết Fador đem nhốt rắn vào những chuồng riêng, và mỗi tháng lôi chúng ra hai lần để bắt chúng nhả nọc độc. Với một bàn tay thiện nghệ, Fador nắm chặt lấy gáy chúng và đem kề gần một chiếc ly thủy tinh. Nó trở nên hung dữ, hàm răng táp lấy miệng ly mà ngoạm chặt, túi chứa nọc thắt ngay lại để phun ra ở dưới răng những giọt nọc cực độc màu vàng lợt, nhầy nhụa. Số lượng và phẩm chất của nọc tùy theo từng loại rắn. Như rắn lục ở Âu Châu, mỗi con có thể nhễu được 20 milligam nọc mỗi lần còn loại rắn đeo kính lại nhả tới 100 milligam.
 
Đối với các loại rắn lớn, khỏe mạnh, lúc lấy nọc Fador phải dùng những chiếc kẹp sắt thay vì sử dụng tay.
 
 
NỌC RẮN
 
Một vài dân tộc sơ khai ở Phi Châu hay xích đạo, hiện nay vẫn còn dùng nọc rắn để tẩm vào các mũi tên độc để giết người. Họ không bắt rắn để lấy nọc, nhưng lại nhúng các mũi tên vào các hỏm đá, nơi rắn hay nhả nọc. Công việc này do những tay phù thủy kinh nghiệm và khéo léo chuyên chế tạo các võ khí tẩm độc. Tên tẩm nọc rắn có thể bắn chết người (một phương cách sử dụng nọc rắn trong những mục tiêu man rợ nhất) nhưng một đôi khi nó rất hữu ích để hạ một loại thú dữ hung tợn, mạnh mẽ đe dọa tính mệnh dân bản xứ.
 
Đối với thế giới văn minh, nọc rắn được dùng trong những mục tiêu nhân đạo, đặc biệt là chế tạo thuốc chữa bệnh rắn cắn. Trước hết nọc rắn được chế biến cho bớt độc rồi được chích vào một con ngựa một lượng nhỏ vừa đủ để ngựa không chết. Cơ thể con ngựa sẽ phản ứng lại bằng cách máu của nó sẽ tiết ra những chất kháng độc. Sau 200 lần chích như thế, huyết thanh của ngựa đã chứa được một lượng lớn lao chất kháng độc. Người ta dùng huyết thanh này chích vào một con thỏ. Chỉ cần chích hai lần thôi, con thỏ có thể chịu đựng được một liều nọc rắn có thể đủ giết nó.
 
 
NỌC RẮN TỔNG HỢP
 
Có rất nhiều loại huyết thanh kháng độc phù hợp với từng loại nọc độc của rắn. Nhưng điều này thật bất tiện, bởi vì khi chữa một nạn nhân bị rắn cắn, ta khó có thể biết nạn nhân bị cắn bởi loại rắn nào để sử dụng loại huyết thanh đúng cách.
 
Để giải quyết vấn đề này, người ta đã chế tạo một loại huyết thanh hoặc lấy từ một con ngựa đã bị chích nhiều loại nọc rắn khác nhau, hoặc người ta hỗn hợp nhiều loại huyết thanh của nhiều con vật, mỗi con đã bị chích vào một loại nọc rắn.
 
Công việc nghe thì có vẻ dễ dàng nhưng thực ra rất phức tạp.
 
Bởi nọc độc của một loại rắn không chỉ có nguyên một phẩm chất: Nó thay đổi tùy theo con đực, con cái, tùy theo thời tiết và mùa.
 
Ngoài công dụng để chế thuốc trị rắn cắn, nọc độc của rắn còn được dùng làm thuốc tê, thuốc cầm máu, thuốc chống bệnh ung thư.
 
Riêng loại thuốc tê chế từ nọc rắn, có khả năng làm cho bệnh nhân bớt đau đớn. Một vài giống vật sống trong rừng, khi bị thương tích hay đau đớn đã tự để cho rắn độc chích để giảm sự đau đớn. Nọc độc của rắn đã có tác dụng như loại ma túy morphine, nhưng lại hơn morphine ở chỗ không làm cơ thể trở nên quen thuộc và biến thành nghiện.
 
Ở những người bệnh có loại máu thiếu chất làm đông lại (bệnh huyết hữu) nên khi bị thương tích, máu chẩy ra hoài không thể cầm lại được (có người đã chết vì hết máu do một vết thương nhỏ). Với dược liệu chế từ nọc rắn, máu bệnh nhân có thể cầm lại được nhờ tính chất làm đông máu có trong nọc rắn.
 
 
ĐỖ THỊ THUẤN       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 5, ra ngày 12-9-1971) 
 

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Còn Trong Tim


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
Và nếu mai trong cõi đời phố chợ
Ngựa xe buồn lăn bánh nhớ qua tim
Em vẫn còn ruổi dong ngàn dặm mỏi
Chưa trở về theo dõi bước chân chim
 
Thì chị có chờ mong ngày tháng lạnh
Đã mù xa như hạnh phúc yên bình
Bởi quê hương còn bao nhiêu bất hạnh 
Người đợi người sao vắng bặt nguồn tin
 
Và nếu mai vườn xanh xao bóng lá
Chiều quá già thoi thóp giữa vòng tay
Mẹ héo mòn mắt chờ trông trăm ngả
Thu vàng rơi trên tóc lạ vai gầy
 
Lửa nào ấm cho môi hồng mắt ngọc
Để em thơ còn hong tóc đầu đời
Niềm tin nào ngày xưa chưa héo hắt
Có tàn theo cuộc chiến lệ đầy vơi?
 
Thì chị kể như em không về nữa
Những yêu thương còn chan chứa trong hồn
Dù ngàn sau nhiễu nhương đời binh lửa
Máu vẫn hồng luân chuyển bóng quê hương
 
                                             NGỌC THÙY GIANG 
                                    (Quê Hương Một Thời Khao Khát)
 

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

Bạch Thái Bưởi


Hồi năm 1900, cách đây trên nửa thế kỷ, việc lưu thông trên Hồng Hà Bắc Việt, hầu hết vào tay người Huê kiều, họa chăng vài hãng tàu Pháp có mấy chiếc tàu chạy sông vì các nhà doanh nghiệp Pháp có nhiều quyền dễ dàng quá nên nguồn lợi trên sông Hồng họ không thèm nghĩ tới, để mặc cho người Huê kiều thao túng.
 
Ngoài những ghe lớn của Huê kiều, còn có những chiếc tàu "sà lúp" - (chaloupe) - trương cờ của Huê kiều với những tên Long Môn, Phúc Sinh, Thái An, Bảo An, Kim Bằng, Giang Môn v.v... Những tàu nhỏ này chạy đường Hà Nội - Nam Định hay Hà Nội - Hải Phòng, khứ hồi.
 
Vậy mà 10 năm sau, hồi năm 1910, trên Hồng Hà mọi người bỗng thấy phất phơ lá cờ của "Công ty Bạch Thái Bưởi" cắm trước mũi mấy tàu của người Việt Nam và mang tên Việt Nam. Ba tiếng "Bạch Thái Bưởi" đã được đồng bào nói tới.
 
Xuất thân là một người nghèo, phải làm công cho Công sứ Bonnet, tức là Tỉnh trưởng một tỉnh ở Bắc Việt, ông Bạch Thái Bưởi lúc đầu cũng chỉ là một "anh bồi Tây" không hơn không kém, theo danh từ thông dụng hồi bấy giờ. Nhưng "anh bồi Tây" ấy không an phận thủ thường như kẻ khác, và cũng không có cái tâm trạng chung của hạng người nô lệ đi học tiếng Tây để được "chẳng ký, không thông, cũng cậu bồi" như nhà thơ Trần Tế Xương đã mỉa mai chua chát.
 
Học dăm ba "chữ Tây chữ U" cậu bồi Bạch Thái Bưởi cũng không ỷ "thế thần" là người làm cho "quan Công sứ" thì phải biết... Ông Bạch Thái Bưởi nuôi một chí doanh thương lớn, muốn vùng vẫy chốn thương trường để tỏ mặt một phen với đời. Ông có một tinh thần tự lập, nhờ Công sứ Bonnet gởi gấm mà được thầu với sở Hỏa Xa cung cấp vật liệu trong khi sở này lãnh làm cây cầu Doumer (cầu Long Biên) nối liền Hà Nội với Gia Lâm, trên sông Hồng.
 
Nhờ đó ông có được một số vốn vì công cuộc lãnh thầu được trôi chảy. Ông Bưởi hùn hiệp với một nhà giàu có ở Nam Định là ông Lã Quý Chấn, đứng ra thầu nhà cầm đồ (hồi ấy mỗi tỉnh lớn có một nhà cầm đồ chành thức).
 
Ông Bạch Thái Bưởi còn khuếch trương công cuộc doanh thương thêm nữa, đứng ra thầu thuế chợ.
 
Giàu có rồi, ông quyết định thi hành chí lớn : giành lại những nguồn lợi lớn cho xứ sở. Năm 1910 ông nhận thấy hầu hết công việc vận tải ở đường sông trong tay người Tàu, ông lo sau này họ còn nắm nhiều độc quyền khác nữa. Ông bèn đứng ra lập "Công ty Bạch Thái Bưởi" để tranh thương với người Tàu. Không biết gì về nghề thủy vận lại mù tịt cả về máy móc, vậy mà ông cũng dám cạnh tranh với những chủ tàu Huê kiều đã nhiều vốn lại giầu kinh nghiệm và đi trước ông một bước dài trên con đường chuyên chở trên sông ; ông Bạch Thái Bưởi quả là người can đảm và cương quyết.
 
Ông dám bước vào ngành hoạt động nầy là vì lúc ấy ông thấy một cơ hội hiếm có đưa tới cho ông mà ông quyết chộp lấy: một công ty Pháp, tên là công ty Marty d'Abbadie bấy lâu lãnh việc chở thư từ cho nhà bưu điện bằng đường thủy, nay mãn giao kèo không muốn tiếp tục làm nữa, nên cho thuê ba chiếc tàu của họ: chiếc Phénix, chiếc Dragon và chiếc Fai Is Long. Ông Bạch Thái Bưởi nhận liền ba chiếc tàu ấy cho chạy đường Hà Nội - Nam Định và Nam Định - Bến Thủy (Bắc Trung Việt). Ba chiếc tàu mướn được đổi tên Việt Nam là Phi Phượng, Phi Long và Khoái Long Tử.
 
Thấy quyền lợi của mình trên dòng sông từ Hà Nội xuống Nam Định bị va chạm, mấy chủ tàu Huê kiều quyết tâm đối phó. Bấy lâu họ vẫn giữ một độc quyền trong thực tế trên đường nầy, nay lại có người nhảy ra cạnh tranh, họ bèn họp nhau lại tung ra võ khí "kim tiền" để tính đánh ngã đối phương.
 
Sẵn trường vốn, họ nắm tay nhau hạ giá, phá giá để mong Công ty Bách Thái Bưởi bị phá sản. Lúc ấy giá vé hành khách đi Hà nội - Nam Định là ba cắc, họ hạ xuống còn một cắc rưỡi (Một đồng bạc hồi ấy là 10 cắc).
 
Tàu của Công ty Bạch Thái Bưởi cũng hạ giá vé xuống còn một cắc, rẻ hơn tàu của Huê kiều. Đối phương của ông không chịu thua, hạ xuống còn 7 xu (Một cắc ăn 10 xu). Ông Bạch Thái Bưởi hạ xuống còn 5 xu. Huê kiều hạ xuống còn 4 xu.
 
Thấy không còn hạ xuống quá mức ấy được nữa, ông Bạch Thái Bưởi nẩy ra sáng kiến mời hành khách đi tàu của ông uống nước trà. Mà không phải là nước trà Huế, nước trà bình dân đâu nhé. Ông cho mua thứ trà đầu xuân hiệu Ô Long và Liên Tử (ngon hơn những trà trong Chợ Lớn bấy giờ) mà nấu nước mời mỗi hành khách. Huê kiều muốn "bảnh hơn" không những đãi khách uống nước trà mà còn mời mỗi người một miếng bánh ngọt đậu xanh nữa.
 
Cuộc cạnh tranh giữa hai phe làm sôi nổi dư luận trong xứ và được truyền khẩu từ người nọ qua người kia. Người Việt ai cũng thán phục lòng can đảm, chí cương quyết của ông Bạch Thái Bưởi. Về phía ông, ông cũng thấy đồng bào cảm thông nỗi khó khăn của mình. Cuộc cạnh tranh đã tới mức không thể hạ giá hơn nữa vì nếu cứ cạnh tranh bằng lối này thì lo có ngày sẽ hạ giá xuống con số không và tàu sẽ đông nghẹt hành khách có ngày đến phải đi thăm Hà Bá.
 
Ông Bạch Thái Bưởi nghĩ đến cái võ khí tinh thần mà ông chưa dùng là nghĩa đồng bào, lòng ái quốc của người Việt Nam. Ông phóng ra một đoàn tuyên truyền có tài ăn nói, đi trên bến tàu kêu gọi con tim của Việt Nam:
 
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước hãy thương nhau cùng.
 
Một đoàn "hát xẩm" - như kiểu hát dạo cải lương ở lề đường bây giờ - được ông Bạch Thái Bưởi thuê, để ngồi ở bến tàu cổ xúy bằng những điệu hát bình dân, hiệu triệu hành khách "ta về ta tắm ao ta".
 
Cuộc tuyên truyền ấy quả nhiên đã đem lại kết quả mỹ mãn. Thấy không thể nào đem thế lực kim tiền ra mà thắng nghĩa đồng bào của người Việt Nam, các chủ tàu Huê kiều phải bỏ cái võ khí phá giá. Ít lâu sau giá cả trở lại bình thường và tàu Bạch Thái Bưởi vẫn đông khách hơn tàu của Huê kiều.
 
Sẵn trớn nhờ cuộc thắng trận vẻ vang, năm 1912, Công ty Bạch Thái Bưởi cho tàu chạy thêm đường Hà Nội - Hải Phòng nữa. Không đương đầu nổi với sự cạnh tranh của Công ty này, các chủ tàu Huê kiều xếp giáp quy hàng. Họ bán lại tàu của họ cho mấy người Pháp và có mấy người bán cho chính Công ty Bạch Thái Bưởi nữa.
 
Năm 1915 làm ăn phát đạt, Công ty Bạch Thái Bưởi mua được hết cả xưởng chữa tàu và các xà lan máy của Công ty Marty, đã cho ông thuê ba chiếc tàu lúc đầu.
 
Năm 1917 một Công ty Pháp ở Hải Phòng lo việc chuyên chở trên những khúc sông ngắn, bị khánh tận. Ông Bạch Thái Bưởi mua được hết những thuyền máy và xà lan của Công ty này. Thế là số tàu lớn nhỏ của ông đã lên tới 30 chiếc và mang những tên lịch sử: Lê Lợi, Đinh Tiên Hoàng, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lạc Long, Hồng Bàng, Tự Đức, Minh Mạng, Thiệu Trị, Đồng Khánh...
 
Trụ sở của Công ty Bạch Thái Bưởi đặt ở bốn nơi.
 
Trụ sở chánh thiết lập trước nhứt tại Nam Định vì ông Bạch Thái Bưởi muốn ghi nhớ bước đầu của ông vào nghề hàng hải tại tỉnh này. Năm 1916, ông dời nó xuống Hải Phòng và đặt thêm ba trụ sở phụ nữa, ở Hà Nội, Bến Thủy, giao cho hai người Pháp, và trụ sở ở Nam Định trở thành một trụ sở phụ giao cho người bạn cũ là ông Lã Quý Chấn.
 
Tuy đã giàu có lớn, ông Bạch Thái Bưởi còn khai khẩn mỏ than nữa. Ông làm việc tối ngày không biết mỏi mệt. bao nhiêu ngành kinh doanh đã làm ông mất hết ngày giờ. Ông không chịu sống đời trọc phú như người thường chỉ thích vợ đẹp con khôn. Ông còn nghĩ đến công việc văn hóa nữa và xuất bản một tờ nhựt báo tại Hà Nội lấy tên là "Khai Hóa" những mong dìu dắt đồng bào trên con đường sống mới.
 
Có lẽ vì làm việc nhiều quá mà ông mắc chứng tê liệt đến bán thân bất toại. Năm 1932 ông từ trần, gia đình ông an táng ông ở vùng mỏ Đông Triều, nơi ông đã từng khai thác mỏ than. 
 
Bạch Thái Bưởi: một gương tranh đấu cho những ai muốn thành công, có sự nghiệp với đời.
 
 
TẾ XUYÊN      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 6, ra ngày 19-9-1971)
 

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Có Phải Mùa Thu Về


 
 
 
 
 
 
 
 

Có phải cúc chớm nở
Bên hàng giậu đổ nát
Hương nhẹ như hơi thở
Thắm tươi mùa thu vàng

Có phải lá đã rơi
Bên thềm xưa vắng người 
Chỉ có tiếng chim hót
Nghe thời gian chậm trôi

Có phải sương mờ giăng
Gót hài ai bâng khuâng 
Hai bên bờ lau lách
Sông thu gợn lăn tăn

Có phải gió heo may 
Phong kín bờ vai gầy
Vườn xưa tràn cỏ dại
Chiều hoen tím màu mây

Có phải khung cửa gỗ
Từ lâu chỉ khép hờ
Bóng người xưa nào thấy
Chỉ còn trong giấc mơ

Chiều rụng lá vàng phai
Buông lơi cánh mi dài
Phím sầu còn để ngỏ
Bước chăn còn qua đây?

                              Thơ Thơ 
                   (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

Chiều Thu Với Kỷ Niệm


 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
 
 
Tóc phủ vai gầy ru ngủ mùa Thu
Nghe tiếng mưa rơi qua cõi sa mù
Khi gió thu về bâng khuâng mắt nhỏ
Lạc bước xa ngàn bóng dáng thiên thu
 
Khúc nhạc mùa thu tâm thức mơ màng
Ngày về kỷ niệm thánh thót mênh mang
Tìm đến dư âm ngọc ngà xưa cũ
Trong tiếng cung đàn như muốn vỡ tan
 
Tiếc nhớ xa xăm những kỷ niệm hồng
Buổi chiều gió lạnh thả tóc mênh mông
Nghe nắng úa vàng chiều ơi buông thấp
Ngày đã muộn màng rơi trong hư không 
 
Thả mắt nhẹ nhàng chiếu ru tiếng hát
Ướt đẫm sương mờ gió cuốn lao xao
Nỗi nhớ xanh xao lạc loài tóc cỏ
Bóng tối vây quanh tiếng nấc nghẹn ngào
 
Ôi kỷ niệm sao lạ lùng bỡ ngỡ
Những chiều qua mình em đứng thẫn thờ
Chao chiếc lá cơn gió chiều úa rụng
Mùa thu buồn ru kỷ niệm thành thơ.
 
                                         THỤY NGUYỄN
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 57, ra ngày 24-9-1972) 
 

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

Đi Học Đầu Thu

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
Thành phố chiều nay buồn chi lạ
Mưa rơi lướt thướt đỉnh sương mù
Lối nhỏ em về chân êm bước
Khăn cổ ấm choàng, mưa như ru

Mùa gió bay về không nắng ấm
Khung trời ảm đạm rét lê thê
Heo may lành lạnh đùa lá úa
Tà áo tung đùa tay vân vê

Phố nhỏ chiều thu nhiều gió lộng
Khẽ bước đến trường qua lối mưa
Cả trời thu đắm trong mây bụi
Niên học trở về như xa xưa

Tuổi ngày thơ dại còn ngơ ngẩn
Tóc vẫn chưa dài tuổi mười lăm
Thật thà đôi mắt ươm đầy mộng
Như lá xanh hoài theo tháng năm

Buồn nhất những ngày thu chết lịm
Chim thôi rúc rích mãi cành khô
Áo lụa đường về bay lơi lả
Lá úa rủ gầy reo lao xao

Tuổi nào em đong đầy nuối tiếc
Tóc mây nơ thắt dại ngày xanh
Xin giữ cho em ngày tháng lạ
Để hồn kết mộng, chuỗi tinh anh.

                           TRỊNH CÔNG TRUYỀN

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 98, ra ngày 15-7-1973)



Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

Bé Mi Học Giỏi


 
 
 
 
 
  
 
 
 
Vừa đi học về
Chòe đến, bé khoe:
"Coi này, sướng quá
"Hạng nhất đây nè"
 
Chòe reo: "Hoan hô!
"Học giỏi quá ta
"Thế còn tháng trước
"Xếp hạng mấy, bồ?"
 
Bé Mi mắc cỡ
"Nói đừng cười nha
"Toàn thứ băm mấy
"Trong những tháng qua".
 
Chòe bảo: "Ờ ờ  
"Bé đâu có dốt
"Mà sao hồi xưa
"Học hành lại dở?
 
"Có phải tại rằng
"Xưa hay dậy muộn
"Thường không kịp ăn
"Bánh, xôi buổi sáng.
 
"Nên cứ gói đi
"Rồi trong lúc học
"Thấy bụng đói ghê
"Chỉ mong giờ nghỉ.
 
"Cô giáo giảng cho
"Cũng không chăm chú
"Ngồi nghe lơ mơ
"Làm bài hóa dở!"
 
"Lại thức khuya hoài
"Giờ thèm ngũ gật
"Cô gọi trả bài
"Thế là lúng túng!"
 
Mắt bé tròn xoe:
"Ô, sao biết nhỉ
"Đúng vậy đó Chòe
"Bé ngày xưa thế!
 
Nhưng từ khi
"Từ ngày bé quen
"Ngủ sớm, dậy sớm 
"Học bài vui liền
"Không còn thấy chán".
 
Chòe cười: "Đúng rồi
"Cô bé Mi ơi
"Giờ cô ngoan giỏi
"Ai cũng khen thôi".
 
              TRẦN THỊ TUỆ MAI
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 129, ra ngày 15-9-1974)
 

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

Bâng Khuâng

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
 
Mai lối cũ đợi chờ em qua đó,
Nắng thu vàng trải lối bước chân qua.
Tóc nơ tím che nghiêng vành nón lá
Miệng em cười vừa nở một bông hoa.

Cặp sách mới đầu năm vui rộn rã
Trang vở đầu em cẩn thận ghi tên
Nắn nót run run từng nét thon mềm
Sợ mực đậm sẽ nhòe đi nét chữ.

Mắt lơ đễnh nhìn qua khung của sổ
Nắng reo mừng chờ đợi bước em đi
Còn ngày mai... khe khẽ chớp đôi mi!
Gặp bè bạn, trường xưa, thương nhiều quá.

Mai lối cũ đón chờ em qua đó
Chân học trò dẫm nát lối đi quen
Nắng sẽ làm đôi má đỏ hồng thêm
Và gió nữa... vi vu hôn mái tóc...

                                  TH. LUÂN PHIÊN

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 173, ra ngày 15-3-1972)

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

Tổ Ấm (II)

 2. DZỤC GIÀN THUNG và TỰ CHĂN BÒ
 
Buổi trưa, cánh đồng rực nắng. Trời mùa hè oi ả vô cùng. Ông trời đỏ gay bộ mặt, phun lửa hạ xuống quãng đồng rộng lớn.
 
Dzục giàn thung ôm chân, vừa đi vừa xuýt xoa kêu nóng. Nó băng qua cánh đồng, cố nuốt chửng khoảng trước mặt để về nhà kịp bữa cơm trưa. Vừa đi, nó vừa liên tưởng con sông với giòng nước mát mà nó đã ngâm mình suốt buổi sáng nay. Nghỉ hè với bọn cỡ thằng Dzục quả thật là 1 món quà to tát đối với chúng. Nhất là với Dzục, suốt ngày nó la cà cạnh mấy thân cây có chim làm tổ để bắn, với tài thiện xạ sẵn có đã đem 1 nguồn ích lợi cho miệng nó là món chim nướng. Dzục ta thích chim nướng lắm. Nó mà dùng đến giàn thung, là chắc chắn phải có chim bị hạ...
 
Dzục vừa đi vừa chép miệng. Cổ nó nóng bỏng. Khát ơi là khát. Dzục liên tưởng đến 1 bát nước đầy mà lúc về đến nhà, công việc đầu tiên của nó là uống. Mặt trời lên tới đỉnh đầu. Cánh đồng cơ hồ phát hỏa. Dzục hoa cả mắt, mệt phờ cả người. Khi Dzục băng qua gần hết quãng đồng, chợt mắt nó sáng lên mừng rỡ. Một cây khế vô chủ, xòe tán rợp 1 khoảng rộng. Dzục liếm mép. Nó hình dung những trái khế vàng, mọng nước. Nó cơ hồ người lữ hành trong sa mạc bắt gặp 1 hũ nước đầy.
 
Nhanh như 1 con sóc, Dzục ta thoăn thoắt trèo lên. Nắng hạ không xuyên qua tàn cây rậm, Dzục cảm thấy mát mẻ vô cùng. Nó đưa tay chộp lia lịa. Những quả khế vàng mướt, ngọt lịm, chảy qua cổ Dzục, bao nhiêu mệt nhọc của nó vụt biến đâu mất.
 
Trong khi Dzục ta mải mê hái khế, chợt thân cây rung mạnh, Dzục nhìn xuống, nó bắt gặp 1 thằng nhãi, ngước lên quát tháo ầm ĩ:
 
- Hái khế của tao hả? Xuống mau mày.
 
Dzục cắn khế bùm bụp, đốp chát:
 
- Khế của mày hả? Của mày cái này này... Vừa nói, Dzục vừa chìa cùi chỏ ra. Thằng nhãi cáu lắm, nó cúi xuống lượm 1 cục gạch hăm he:
 
- Xuống không? Không xuống tao chọi à.
 
Dzục nghĩ thấy mình đứng trên bất lợi, nó định tụt xuống "uýnh" thằng nhãi 1 mách. Dzục với tay định hái thêm 1 trái trước khi tụt xuống. Thằng nhãi vung tay, Dzục hoảng hốt đưa tay che mặt. Viên gạch đánh trúng bàn tay Dzục, đau điếng. Dzục giận quá, chẳng cần leo xuống gần, nó từ trên cao nhảy vèo xuống. Chân nó chạm đất khô ê ẩm. Dzục hầm hừ:
 
- Chết bố mày con ơi!
 
Thằng nhãi cười:
 
- Bố mày thì có.
 

Dzục gầm lên, nó phóng đến đấm túi bụi. Thằng nhãi không phải tay mơ. Nó đấm trả. Hai thằng nhóc đấm đá kịch liệt. Cuối cùng thì chúng nó ôm nhau vật, lăn tròn trên đất. Dzục đang ra sức đè ngửa thằng nhãi, chợt thấy mông đau nhói. Tiếp theo là tiếng sủa "gâu gâu" loạn xạ. Dzục vùng đứng dậy, ôm đít nhăn nhó. Trước mặt Dzục, 1 con chó vàng đang dựng đuôi, xù lông gầm gừ chực xông vào cắn nữa. Thằng nhãi cũng lồm cồm đứng dậy, nó "xuỵt xuỵt" khuyến khích con chó:
 
- Cắn chết nó cho tao Tủn!
 
Con chó "gâu" 1 tiếng như tuân theo, nó chồm tới. Dzụ chợt nhớ đến cái ná thung. Nó bỏ chạy đến thân cây khế. Con Tủn rượt theo. Dzục lắp đạn. Nó mím môi, thẳng cánh kéo 2 sợi cao su. Véo! Con Tủn "oẳng" một tiếng.
 
Thằng nhãi vỗ tay khuyến khích:
 
- Xông vào Tủn, đừng sợ, có tao đây!
 
Con Tủn nhe nanh chồm tới, Dzục chưa kịp nạp đạn, nó đã tớp ngay cổ tay. Dzục kêu "ối" buông cả giàn thung. Thằng nhãi kêu lên:
 
- Thôi Tủn! Tha nó đi.
 
Con Tủn nghe chủ gọi, ngoắc đuôi chạy về. Dzục nhăn nhó nhìn cánh tay trầy trụa. Nó cúi xuống nhặt giàn thung bước đi. Trước khi từ giã mảnh đất của thằng nhãi, Dzục quay lại hất hàm đe:
 
- Ngày mai nhe! Mai mày biết tay tao nhé con.
 
Thằng nhãi sờ chỗ áo bị rách trong cuộc vật lộn, nó cười bất chấp:
 
- Ừ. Mai thì mai. Ông đếch sợ. Cho mày kêu thêm bạn mày đấy.
 
Đoạn nó cúi xuống vuốt đầu con chó trìu mến:
 
- Nhớ nhé Tủn! Ngày mai mày cắn chết hết tụi bạn nó cho tao, nghe không?
 
Dzục cúi đầu, nó về nhà mang theo niềm đau đớn ê chề.
 
*
 
Nép mình bên hàng rào nhà thằng Hoa, Dzục lom khom bước. Nó dáo dác nhìn quanh, sợ có người bắt gặp hành vi của mình. Nó ngước lên nhìn cây xoài. Chao ôi! Cây xoài nhà thằng Hoa sai trái làm sao! Những quả xoài vỏ vàng lợt, mập ú, trông phát thèm. Dzục ứa nước bọt. Nó nạp đạn, nhắm xoài bắn liên tiếp. Bốn phát đạn bay veo véo. Một quả xoài lìa cuống rơi "thịch" xuống đất. Dzục mừng quýnh. Nó quàng giàn thung vào cổ, nhìn xung quanh một lần nữa. Trời còn sớm, chưa có ai lai vãng ngoài đường. Dzụ vén hàng rào kẽm gai, nằm mọp mình xuống đất, thò tay qua lớp kẽm gai, nó túm lấy quả xoài kéo ra ngoài. Dzục hể hả. Nó rút con dao nhíp trong túi ra. Dzục vừa nuốt nước bọt, vừa cắt 1 cái má của trái xoài. Lưỡi dao sắc, đưa thật ngọt. Dzục ngồi bên hàng rào, quên hết cảnh vật. Đầu óc nó giờ đây đang dán hết vào quả xoài. Xoài nhà thằng Hoa ngọt lịm. Dzục ăn ngốn ngấu. Trong khi tâm trí thằng Dzục đang bao quanh lấy trái xoài, chợt Dzục buông rơi trái xoài còn lại kêu "ối" một tiếng. Nó đưa tay ôm đầu nhăn nhó, 1 viên sỏi từ đâu giáng ngay đầu Dzục thật mạnh. Dzục xoa đầu lia lịa, 1 cục u nổi lên thật mau. Dzục gấp con dao nhíp đút vào túi quần. Nó đứng dậy nhìn quanh quất. Một giọng cười khả ố từ trong vườn thằng Hoa vọng ra:
 
- Vỡ đầu chưa con! Đáng đời thứ ăn cắp, không chết là may!
 
Dzục nghiến răng tức giận. Nó đưa tay lên cổ tìm cái nạng gỗ. Thằng Hoa biết ý, nó chạy tới mở cổng, cuống quýt kêu to:
 
- Tô tô ra cắn nó mau!
 
Dzục giật mình. Một tiếng hộc thật to từ trong vườn thằng Hoa. Con bẹc giê cao lớn chồm ra đuổi kẻ thù của tiểu chủ. Dzục lắp đạn thực nhanh, viên đạn phóng vút. Con bẹc giê "cẵng" một tiếng, máu mũi chảy dòng dòng. Dzục bỏ chạy. Tiếng thằng Hoa giục:
 
- Rượt theo cưng. Cắn chết nó đi Tô.
 
Con bẹc giê phóng theo. Dzục hoảng hốt chạy cuống quýt. Tiếng cười thằng Hoa đuổi theo nó. Dzục phẫn uất, nó thấy mình chạy nhục nhã, trông chẳng khác gì 1 thằng ăn trộm bị rượt. Nó là ăn trộm thực rồi, hiện nó đang chạy đua với chó. Dzục băng qua cánh đồng. Chốc nữa đây nó sẽ chạy ngang qua chỗ đất thằng nhãi. Chắc thằng nhãi khoái lắm khi nhìn nó chạy đua với chó. Khoảng cách giữa nó với con bẹc giê càng lúc càng thu hẹp dần. Dzục thất sắc, cắm đầu chạy thật nhanh. Người nó nóng bừng, thở hồng hộc như trâu kéo cày. Con bẹc giê gầm gừ chồm tới. Dzục nhắm mắt:
 
- Chết rồi! Dzục đau đớn nhủ thầm. Nó liên tưởng tới cây kim thật bự tiêm vào rốn. Eo ơi, đau kinh khủng!
 
Chợt những tiếng "gầu gầu" vang tới tấp. Dzục mở bừng mắt, quay lại. Con Tủn của thằng nhãi hôm qua đang xung đột với con bẹc giê của thằng Hoa. Dzục thở hổn hển, mặt vẫn còn tái ngắt. Tim nó nhẩy thình thịch... Thằng nhãi từ mé ruộng chạy lại, nó huýt sáo kêu:
 
- Cắn mạnh vào Tủn ơi. Cắn chết cái thứ chó Tây cho tao.
 
Con Tủn được chủ khuyến khích, cắn thật hăng. Con bẹc giê đau quá cúp đuôi chạy. Tự nhiên Dzục vỗ tay reo:
 
- Hay quá! Chó Tây thua chó Ta.
 
Thằng nhãi chạy lại. Nó vuốt đầu con chó Tủn.
 
Dzục trở nên lúng túng. Thằng nhãi cười hiền:
 
- Mày bị chó rượt hả?
 
- Ừ, chó nhà thằng Hoa.
 
- Hoa hả. Thằng đó dễ ghét lắm.
 
Thấy thằng nhãi chẳng đá động đến chuyện đập bậy ngày hôm qua, Dzục lân la gạ chuyện:
 
- Mày... mày còn giận tao không?
 
Thằng nhãi đưa tay sờ chỗ áo rách đã vá lại. Nó chớp mắt buồn bã:
 
- Tao đánh nhau với mày, rách áo. Hôm qua về nhà, ba tao đánh tao 1 trận suýt chết.
 
Dzục hối hận, nó cúi đầu, dí chân lên đám cỏ:
 
- Xin lỗi mày nhé! Tụi mình bây giờ "dĩ hòa vi quí".
 
- "Dĩ hòa vi quí" là gì hở mày?
 
Dzục lúng túng:
 
- Là... là huề cả làng. Thành bạn với nhau hết.
 
Nó cúi xuống xoa đầu con Tủn. Chó Tủn ngoắc đuôi lia lịa, nó thè lưỡi liếm tay Dzục ra vẻ trìu mến.
 
Thằng nhãi nhìn Dzục, nó chớp mắt:
 
- Mày ở đâu thế?
 
Dzục chỉ tay phía đàng xa:
 
- Đầu làng ấy. Còn mày?
 
- Gần cầu khỉ! Tao chăn bò ở đây cho ba tao.
 
- Chăn bò sướng lắm. Mày thích cỡi bò không?
 
Thằng nhãi gật đầu. Nó hỏi Dzục:
 
- Mày tên gì nhỉ?
 
- Dzục. Tụi bạn gọi tao là Dzục giàn thung!
 
- Hèn gì mày bắn ná thung cừ quá!
 
Dzục đỏ mặt trước lời khen chân thật của thằng bạn mới. Nó cầm tay thằng nhãi thân mật:
 
- Còn mày?
 
- Tự. Tức Tự chăn  bò. Ba má tao gọi tao là cu Tự, mặc dù tao đã lớn tồng ngồng...
 
Cu Tự kéo tay Dzục đi về phía bầy bò. Nói là bầy bò mặc dù chỉ có 2 con. Tự nhìn Dzục:
 
- Tụi mình cỡi bò nhé?
 
Dzục sung sướng:
 
- Sướng quá! Cỡi bò chắc êm hơn đi xe bò nữa.
 
Hai thằng bé ngồi chễm chệ trên lưng chú bò vàng. Dzục ngồi sau. Nó hãnh diện quá. Niềm vui tràn ngập trong cơ thể, Dzục cất tiếng hát:
 
- "Bình minh làng tôi! Ôi bình minh làng tôi. Lúa vàng ngập nắng thơm lành... Hò là hò lơ..."
 
Tự xuýt xoa:
 
- Mày hát hay quá! Giá tụi mình có sáo nhỉ?
 
- Có sáo làm gì?
 
- Có sáo thổi sướng lắm, và trông nên thơ nữa.
 

Chúng nó nhìn nhau cười rúc rích. Tiếng ru con từ trong thôn nhỏ dịu vợi đưa lại. Tâm hồn 2 thằng bé lắng dịu nhìn sang bên kia bờ ruộng, nắng vàng êm đềm trải 1 quãng dài tươi mát.
 
________________________
còn tiếp
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 53, ra ngày 15-9-1966) 
 

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

Tổ Ấm (I)

1. TÚ THIẾU LÂM VÀ DZỤC GIÀN THUNG
 
Dzục quàng cây súng cao su vào cổ. Cái nạng gỗ hình chữ Y lủng lẳng trước ngực, chân nó dẫm lên một lớp lá tre khô, âm thanh rào rạo, Dzục nghe thích thú lắm! Những lưỡi kiếm nắng xiên thẳng qua đọt ngọn tre ngã dài trên con đường đất, màu nắng vàng tươi dịu mắt vô cùng! Dzục bước đến khu vườn ông Giác, hoa trong vườn ông đang nở rộ, những đóa hoa hàm tiếu ngậm sương lóng lánh, tỏa hương thanh khiết trong ngọn gió sớm của đồng quê trong lành. Một tiếng gà xao xác tận thôn xa. Lòng Dzục vụt hớn hở, nó chúm môi huýt sáo... Dzục chợt nghĩ tới cu Tự, bạn nó - đầu óc nó sắp sẵn một cuộc chơi thích thú trong ngày chủ nhật. Dzục nhìn ra phía cánh đồng, sương đang rủ nhau tản mác, đồng lúa nom vàng tươi dưới màn sương đục.
 
Dzục chợt chộp lấy cái nạng, nó rụt đầu lại, tháo sợi cao su ra khỏi cổ. Nó bậm môi, rón rén bước nhẹ, mắt nó cơ hồ thôi miên vật trước mắt: một con gà trống nhà ai đang chậm rãi, phô thân hình sặc sỡ dưới hàng tre xanh biếc. Dzục cho tay vào túi áo, nó lựa 1 viên sỏi tròn nhẵn, đoạn nạp vào tấm da. Nó hờm sẵn giàn thung, bước y hệt một tay thiện xạ đang rình rập con mồi. Anh chàng gà trống không ngờ thần chết lởn vởn gần đấy, anh ta vẫn trong dáng đi vô tư, cái đầu đỏ chót gục gặc nom đạo mạo lắm! Dzục nước nước bọt; nó nhìn kỹ chú gà. Đôi chân chú ta chắc nịch, lông vàng phủ ngập nửa cặp giò. Chân phải của chú hơi cà nhắc trong bước đi. Dzục nhủ thầm:
 
- Đích thị gà thằng Hoa. Bữa trước thả chó cắn tao, bữa nay tao hạ lại gà mày. Đừng trách nhé!
 
Dzục lại nuốt nước bọt, nó nhìn con gà trống đã đi xa mảnh vườn thằng Hoa, đầu óc nó nghĩ ngay đến một bữa tiệc thịt gà. Nó không sao tưởng tượng nổi, chỉ phác họa trong khối óc đơn sơ của nó hình dáng 1 con gà quay vàng ửng, láng lườm những mỡ... bao nhiêu đó cũng đủ làm cho nước miếng thằng Dzục trào ra, khiến nó phải nuốt ừng ực.
 
Nó gật gù lẩm bẩm:
 
- Phải rủ cu Tự tới chén. Chắc cu cậu khoái lắm.
 

Dzục nhìn quanh quất trước khi ra tay. Ngoài đồng chẳng có một bóng người, con đường tít tắp đằng xa dẫn lên tỉnh, thỉnh thoảng mới có bóng một chiếc xe ba bánh vụt thoáng qua. Im lặng quá! Dzục se sẽ nhón gót lại gần, chú gà nghe động, láo liên cặp mắt, chú vừa "tục tục" trong cổ vừa nhớn nhác chạy. Dzục bước theo, chú gà vỗ cánh chạy càng khỏe. Dzục ức lắm, nó nhủ: "Không khéo để nó chạy vào vườn thì hỏng". Dzục đứng lại, chú gà thấy im lặng, cũng dừng lại. Chú ta cào đất, "tục tục" luôn mồm. Dzục men theo cây tre, lần nầy nó không "xuất đầu lộ diện" nữa. Gần tới rồi không biết sao tim nó đập mạnh ghê. Nó kéo thẳng hai sợi cao su, chú gà vẫn bươi đất, nào có hay biết gì! Chú phơi cái hông tròn trĩnh, làm cái đích cho viên đạn của thằng Dzục. Dzục tưởng tượng mình là Dưỡng Do Cơ, một tay thần tiễn đời chiến quốc bên Tầu, người mà thầy giáo của nó đã kể trong một câu chuyện cho cả lớp nghe. Dzục đã sắp sẵn ý định, miệng nó ngậm một hòn sỏi thứ hai, nó dự tính, nếu viên đạn thứ nhất chưa hạ gục "kẻ thù", nó lập tức xài viên đạn thứ hai. Nhưng, nó nghĩ tới tài thiện xạ của nó, chỉ một viên thôi, chú gà trống tơ cũng đủ lăn quay, thấy trời, trăng, đất, biển.
 
Dzục cầm chắc giàn thung, tay mặt kéo hai sợi cao su căng thẳng, nó nhắm ngay hông chú gà buông dây. Véo! Viên đạn bắn mạnh, thật mạnh vào hông con mồi. "Thịch" 1 tiếng, chú gà kêu "oác" não nùng, chú gà ngã chúi trên mặt đất, Dzục mừng rỡ, phóng ra. Chú gà quên cả vết thương bên mình, hoảng hốt chạy. Dzục gỡ viên đạn ở miệng, nạp nhanh. Con mồi chạy khó khăn, đau khổ lắm! Nó chạy đua với tử thần. Dzục không thương hại kéo nhanh hai sợi cao su. Vút. Viên đạn thứ hai đâm thật mạnh vào đầu chú gà. Một tiếng "oác" thứ hai vang lên, dăm ba chiếc lông văng xơ xác. Chú gà ngã lăn trên mặt đất, đầu vỡ toang, chú nhắm đôi mắt tròn nhỏ như hạt đậu xanh lại, màng kéo che khép. Viên sỏi tròn lấm máu nằm lăn lóc cạnh đấy, con mồi kể cũng khá, đáng xếp vào loại A, theo sự sắp đặt của tay thiện xạ Dzục giàn thung. Dzục bước lại, nó cúi xuống nhìn con gà. Không thương hại, nó túm lấy cổ con mồi xách lên. Sợ có người trông thấy, Dzục ôm gà giấu vào bụi tre...
 
Nó lẩm bẩm khoái chí:
 
- Nướng gà xong mới báo cho cu Tự biết. Trưa nay mình được ăn thịt gà không tốn 1 cắc. Phải dành cho cu Tự một bất ngờ. Thú quá! 
 
Mặt trời lên khỏi ngọn đa đầu làng chừng 1 sào, Dzục đã nướng gần xong con gà trống. Trời xế trưa, cánh đồng lố nhố người cày, kẻ cấy. Từ bờ ruộng văng vẳng tiếng dân ca trong lành vang lên dưới bầu trời trưa. Dzục nhìn cái hố vùi lông gà và ruột gà. Nó thích chí. Cảm giác sung sướng chảy tràn lan trong cơ thể nó khiến Dzục chúm môi huýt 1 bản nhạc thật vui. Con gà được xiên qua 1 thanh tre nhỏ, vót nhọn. Dzục chép miệng, quay quay con gà trên ngọn lửa. Mỡ gà kêu xèo xèo, âm thanh đều đều nghe êm tai lắm! Gà đỏ ửng toàn thân, hơi tỏa thơm phức.
 
Dzục nuốt nước bọt. Chợt nó giật bắn mình, tiếng ai khóc tỉ tê gần đấy. Dzục dáo dác tìm. Mắt nó bắt gặp một thằng nhóc áo trắng, ngồi dưới cội gây tầm ruột bỏ hoang, gục đầu tấm tức.
 
Thằng nhãi chợt ngước lên, nó quệt nước mắt nhìn thằng Dzục. Dzục bị kẻ khác bắt gặp đang nướng gà, nó giận lắm. Mải mê quay chú gà, Dzục quên cả mọi vật, đến nỗi thằng nhãi này đến đây lúc nào cũng không hay. Con gà đã chín hườm hoàn toàn, mỡ rơi rớt từng giọt. Dzục gườm gườm nhìn thằng nhãi. Nó xé 1 tấm lá chuối thật lớn, đoạn đặt con gà quay xuống. Bọc gà thật chu đáo xong, Dzục phủi đít đứng dậy, rảo bước đến bên thằng nhãi. Dzục nhìn nó, thằng nhãi nhìn lại, mắt thằng nhãi tèm nhem nước mắt. Tuy nhiên Dzục cũng phải nhủ thầm:
 
- Mắt nó đẹp thực!
 
Dzục xoắn hai tay vào nhau, nó cảm thấy bối rối, nhìn thằng nhãi, nó ngập ngừng:
 
- Sao mầy khóc?
 
Thằng nhãi quệt nước mắt, nó vén tay áo dài trắng, vén vạt áo sau lưng, vén ống quần, chỉ cho Dzục xem những lằn đỏ rướm máu nằm ngang dọc, trông cơ hồ dây leo quấn chằng chịt quanh 1 thân đại thọ. Nó tức tưởi:
 
- Dì tao đánh tao mầy ạ!
 
Dzục cảm thấy thương thằng nhãi quá! Mặt thằng nhãi chả có gì là du côn, mất dạy. Thằng nhãi nom hiền lành, mỗi lần nó nói, hai má lúm xuống 1 lỗ, Dzục thường nghe má nói đó là lúm đồng tiền. Nó thấy thằng nhãi có duyên ghê!
 
- Mầy... hiền thế mà bị đánh, chắc dì mầy ác lắm?
 
Thằng nhãi mở to mắt:
 
- Sao mầy biết?
 
Dzục lúng túng:
 
- Tao đoán thế thôi!
 
Thằng nhãi sợ hãi:
 
- Mầy nói thế, nhỡ dì tao nghe, tao bị đòn thêm.
 
Dzục gạ chuyện:
 
- Sao mày bị đánh thế?
 
Thằng nhóc buồn rầu:
 
- Ai mà biết. Dì tao muốn đánh thì đánh...
 
Dzục ngồi xuống bên thằng nhãi:
 
- Sao dì mày ác...
 
Thằng nhãi ngắt lời:
 
- Thôi đừng nói chuyện đó nữa!
 
- Thế chuyện gì bây giờ? 
 
- Chán gì chuyện!
 
- Thí dụ?
 
- Tên mày là gì nhỉ?
 
- Dzục. Tụi bạn gọi tao là Dzục giàn thung.
 
Thằng nhãi tự giới thiệu:
 
- Còn tao là Tú. Tao biết vài miếng võ thiếu lâm, nên tụi cùng xóm gọi là Tú thiếu lâm.
 
Dzục trợn mắt, ngắm thằng nhãi. Nét hiền lành của thằng nhãi chưa chứng minh điều đó. Dzục nghi ngờ:
 
- Mày biết võ à? Không dóc chứ? Đâu mày đi thử một vài đường tao coi...
 
Tú khẽ mỉm cười:
 
- Tin hay không tùy ở mày. Tao biết võ thì cũng như mày bắn giàn thung hay vậy. Đâu có gì lạ. Vả lại, võ đâu phải bạ đâu xổ ra đấy. Phải không hở mày?
 
Dzục cứng họng. Thằng nhãi trông khù khờ quá mà lý sự ghê gớm. Dzục nhìn Tú, Tú đứng dậy, kéo tay Dzục về phía cây tre:
 
- Lại xem con gà quay của mày, Dzục nhé!
 
Dzục gật đầu. Nó bê tấm lá chuối bọc gà lên, Tú mở lá ra xem. Nó hít một hơi, mỉm cười:
 
- Mày quay nó bằng cây hả?
 
Dzục gật đầu, dạy thằng Tú:
 
- Quay thế gà chín đều, ăn ngon lắm. Nhiều đứa quay gà, để lửa táp khét lẹt. Tao quay thế tài không hở mày?
 
Tú lắc đầu:
 
- Thế chưa hẳn là tài.
 
Dzục ức lắm, nó cãi:
 
- Sao không tài? Mày quay gà như tao được không?
 
Tú gật đầu:
 
- Cái đó dễ ợt. Hồi tao còn đi hướng đạo, nấu cơm, làm canh tao còn biết, nữa là làm gà.
 
- Dóc hoài. Mày chỉ giỏi khóc.
 
Tú cười:
 
- Đau phải khóc chứ. Bây giờ, giá tao phết cho mày chừng 10 roi, xem mầy có khóc không cho biết.
 
Dzục lại bí. Tú nói tiếp:
 
- Quay như mầy chưa chắc là ngon đâu. Hồi còn đi hướng đạo, tao làm thịt gà cách khác.
 
- Cách làm sao?
 
- Tao vặt sạch lông gà, dùng đất sét trét hết thân hình con gà lại, xong đâu đấy, mới cho con gà đất sét vào lò lửa. Đất sét nóng đến độ đỏ rực lên. Đến độ nóng quá rồi, tao đem ra. Đập vỡ lớp đất sét ngoài, con gà bên trong chín múp, mềm khỏi chê...
 
Dzục nghĩ lại thằng Tú nói đúng thật, ba nó trước kia cũng có làm như vậy. Nó ăn thấy ngon lắm. Nhưng con gà trong đất sét, là cả một nghệ thuậ. Tay non như nó làm sao nổi. Từ cái phục đưa đến cái mến, Dzục nắm tay Tú:
 
- Mày giỏi quá!
 
Tú khiêm nhường:
 
- Thì cũng học mới làm được chớ tao dốt lắm!
 
Dzục mở lá chuối, hỏi Tú:
 
- Mày ăn gà nhé?
 
Tú gật đầu:
 
- Tao với mầy thôi hả?
 
- Không! Còn cu Tự nữa!
 
- Tự nào?
 
- Bạn tao ấy. Để tao gọi nó nhé.
 
 
Rồi không đợi phản ứng của Tú, Dzục rút trong túi ra 1 cái còi. Chiếc còi chỉ bằng 2 ngón tay, làm bằng gỗ, ở đầu thổi có một cái lưỡi gà. Dzục chúm môi, ngậm cái còi thổi rúc. Âm thanh diệu vợi thanh thoát vô cùng. Thổi 1 hồi dài, Dzục hạ còi, nó chùi còi xong đút vào túi trước đôi mắt đầy ngạc nhiên của Tú thiếu lâm. Dzục giải thích:
 
- Tao thổi kèn gọi nó đấy.
 
Tú cười:
 
- Y như người ta gọi bò về chuồng!
 
Dzục buột miệng:
 
- Cu Tự chăn bò mầy ạ!
 
Tú reo lên:
 
- Thích quá nhỉ. Tao khoái chăn bò lắm. Được cỡi bò nhóng nhóng suốt ngày.
 
Ngừng một lát, Tú Thiếu lâm hỏi:
 
- Sao nó biết mày gọi nó được?
 
- Tao với nó, mỗi đứa có một cây còi. Muốn gặp nhau chỉ cẩn thổi lên.
 
- Cu Tự hiền không?
 
- Nó với ông Bụt bên tám lạng, người nửa cân mày ạ!
 
Tú nhìn Dzục:
 
- Mày quen nó lâu chưa?
 
Dzục "à" lên một tiếng:
 
- Tao quen nó trong một trường hợp vô cùng kiếm hiệp tiểu thuyết! Để tao kể cho mày nghe nhá!
 
Tú gật đầu: 
 
- Ừ, kể chuyện nó trong khi chờ nó thì tuyệt...
 
________________________
Xem tiếp PHẦN II
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 52, ra ngày 1-9-1966)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>