Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hùng Trác. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hùng Trác. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

Voi, Con Thú Thông Minh


Một buổi xế, khi viên thanh tra lâm vụ Bere và tôi lái xe chạy qua công viên Queen Elizabeth, chúng tôi trông thấy một đàn voi đang dắt con đi. Đảo mắt nhìn chúng tôi, đàn voi ve vẩy tai nhưng chẳng để ý đến chúng tôi nếu Bere không ngưng xe lại cho tôi chụp hình. Đa số vểnh tai lên, lắc đầu dữ dội, kêu hét ầm ĩ. Chúng đứng dừng lại cách chúng tôi chừng sáu thước.
 
Lấy làm lạ tôi hỏi:
 
- Tại sao đột nhiên chúng lại trở tính như vậy?
 
Bere trả lời:
 
- Có lẽ chúng kinh hoảng vì nhận ra chiếc xe đi săn của mình. Hay chúng ăn phải cái gì khó tiêu. Cũng có thể vì ruồi muỗi, vì đôi khi ruồi muỗi cũng làm cho voi phát sùng lên. Chẳng bao giờ người ta hiểu được loài thú này. Phản ứng của chúng thật là bất ngờ... y như là phản ứng của con người vậy.
 
Nhiều chuyên viên nghiên cứu cũng đồng ý như thế: Voi có nhiều đặc tính y như chúng ta vậy. Donald Kert cho chúng tôi xem một bản phúc trình mang chữ ký của hai người thợ săn. Truyện kể lại hai con voi cứu sống một đồng bọn bị thương. Dùng ngà đỡ cặp ngà của con thú bị thương, dùng thân mình từ hai bên dặp sát lại để nâng thân mình của con vật bị nạn, hai chú voi cấp cứu đỡ hẳn bạn của chúng lên cao. Vượt qua mặt người thợ săn ngơ ngác, chúng lao vào bụi rậm. Những người thợ săn theo dấu và khám phá ra rằng dù có bị rơi rớt đôi ba lần, con voi bị thương ít nhất cũng được dìu đi xa đến ba cây số. Đến lúc đó nó tỉnh lại và có thể đi được và cả ba tiếp tục đi tìm đồng bọn.
 
Bill Ryan là một tay thợ săn kỳ cựu. ông đã bỏ ra suốt bốn mươi hai năm để nghiên cứu tính tình của loài voi. Ông nói với tôi:
 
- Chúng có thể suy luận được, y như chúng ta vậy. Và đôi khi chúng còn tỏ ra ranh mãnh hơn người ta nữa. Có một bầy voi hay vào trang trại của chúng tôi phá phách vườn tược để kiếm ăn. Chúng tôi bèn rào lại. Chúng tìm cách vượt qua hàng rào. Thế rồi chúng tôi cho chạy máy điện để chuyền vào vòng rào. Chỉ cần hai hay ba buổi tối, đám voi biết rằng khi ánh đèn tắt, vòng rào không còn nguy hiểm nữa. Và một lần nữa, chúng phá hàng rào để xông vào! Chúng tôi phải cho chạy máy điện suốt đêm, nhưng những con thú khổng lồ này vẫn tiếp tục lẩn quẩn bên ngoài thử phá dây điện cho đến lúc một con voi chợt biết rằng đôi ngà của chúng không dẫn điện. Thế là bọn chúng không còn e dè gì nữa. Cuối cùng chúng tôi phải đặt người gác với đầy đủ súng đạn hẳn hoi.
 
Ở Ouganda, tại công viên Murhison Falls, khi dựng một lâu đài cho khách, đám thợ thuyền bị một con voi đực to ba tấn rưỡi đuổi chạy có cờ vì con voi này coi đó là khu đất riêng của nó. Ngay khi tòa nhà được dựng lên xong, "ông voi chúa" này vẫn đến nhiều lần, đi rảo chung quanh và kiêu hãnh dừng bước cho người ta chụp hình.
 
Vào một đêm đẹp trời, nó ngửi thấy mùi rượu bia, thứ bia thổ sản gọi là pombe cất bằng chuối, con voi hất tung một mái lều để tìm một chút chuối nghiền. Sau đó, nó lục lọi tất cả các xe cộ từ vùng Paraa đến hy vọng tìm được chuối là món ăn ưa thích của nó. Vớ được một chiếc xe mui trần, chú voi xé mui vải, nếu gặp một chiếc xe thường, chú ta cho vòi qua cửa để lục lọi hay dùng sức mạnh nhấc xe lên mà rung. Một bận có đám du khách ngủ trong xe, họ đã vô ý để thực phẩm dưới xe mà trong thức ăn lại có chuối. Nửa đêm họ chợt giật mình thức giấc, sợ khiếp đảm vì cảm thấy chiếc xe rung lảo đảo. Đám du khách hoảng hồn vía trong khi "ông voi chúa" ung dung thưởng thức món chuối ưa thích.
 
Tại Amboseli, một khu bảo trì thú vật ở Kenya, có một con voi đầy óc hài hước. Nó thích nấp cạnh một đường quanh rất ngặt, chờ cho đến lúc trông thấy một chiếc xe xuất hiện trên đường, nó gầm lên một tiếng to và hùng hục lao ra, hai tai vểnh ra sau. và khi biết chắc đã làm cho chủ xe khiếp hãi, nó từ từ lùi lại sau, đưa mắt nhìn theo chiếc xe đang chạy. Cặp mắt nhỏ của nó ánh lên một tia sáng ranh mãnh.
 
Khi sắp sửa sanh con, voi mẹ đi tìm một bà bạn lớn tuổi hơn, khôn ngoan hơn để nhờ giúp đỡ. Voi có mang đến hai mươi mốt tháng. Suốt thời gian này, bà mẹ tương lai đi cạnh "cô đỡ" của mình. Bà mẹ nuôi sẽ chăm sóc rất cẩn thận, canh giữ rất gắt, đuổi bất cứ chú voi nào lại gần khi voi con mở mắt chào đời.
 
Voi con mới sinh nặng lối 90 ký, và chỉ vài phút sau khi ra đời, nó có thể đứng vững và ít lâu sau, nó có thể đi lại được. Không phải voi con dùng vòi để bú vú mẹ dù voi con còn quá bé, chưa với tới. Thực ra, nó cuộn vòi lại và dùng miệng để bú sữa.
 
Voi mẹ chăm sóc con cái đầy vẻ âu yếm chẳng khác chi người mẹ chăm sóc cho con. Voi mẹ nâng con khi lội qua dòng nước, bẻ cành cao quá tầm cho con ăn lá, và khi cần cũng biết trừng phạt khi voi con không vâng lời.
 
Một buổi chiều, Bere và tôi nhìn một đàn bốn voi cái với năm chú voi con đang đi gần kênh đào Kasinga. Một chú voi con mập mạp đi lang thang ở bãi cát đốc, y như là một chú bé tò mò muốn biết bãi cát chạy đến đâu mới chấm dứt. Đột nhiên đất sụp dưới chân chú voi con, và chú kêu lên một tiếng kinh hoàng, rơi tòm xuống nước.
 
Đàn voi cái quay vòng lại, vểnh tai lên và chạy xô lại phía con kênh, đưa vòi hướng về chú voi con ngỗ ngáo. Nhưng vì quá sợ hãi, chú voi con không thể nào vớ được những chiếc vòi cấp cứu. Bốn chân mắc lầy, chú ta chỉ còn biết dẫy dụa không ngừng.
 
Hai con voi cái quỳ xuống bãi cát. Hai con khác thận trọng lội xuống nước, vừa gầm gừ để khích lệ chú voi con, chúng đưa vòi dưới thân chú và nâng chú lên cho đến lúc chú chạm được hai con voi đang quỳ trên bãi cát. Hai con voi này dùng vòi nâng chú, kéo chú. Rồi một con, chắc chắn là mẹ của chú bé, kéo chú về phía nó, thì thầm khích lệ cho chú cố gắng thêm. Voi mẹ đưa vòi quật lên quật xuống cho đến lúc chú voi con chạm được. Chú voi con run rẩy, mửa nước lênh láng. và cuối cùng, khi biết rằng chú voi con không sao, voi mẹ dùng vòi quất cho chú một cái nên thân, rồi giận dữ đuổi chú chạy khỏi mé nước.
 
Một trường hợp cảm động vì sự đau khổ của voi mẹ đã xảy ra ở công viên Murhison Falls. Đại tá Trimmer giám đốc lâm vụ đã trông thấy một con voi cái dùng ngà mang một con voi mới sinh. Voi con đã chết. Nhưng suốt ba ngày voi mẹ vẫn mang xác con như thế và chỉ đặt xuống đất khi nó uống nước mà thôi. Ít lâu sau, người ta trông thấy voi mẹ đứng cạnh một gốc cây, không còn mang xác con nữa. Nó đứng sừng sững như thế qua nhiều ngày không ăn không uống và đe dọa bất cứ ai muốn lại gần. Cuối cùng nó bỏ đi. Sau đó Trimmer khám phá ra rằng voi mẹ đã đào một cái huyệt nông dưới gốc cây để chôn xác con.
 
Dường như voi có bản năng bảo vệ nhau. Khi một con voi đực quá già, nó rời bầy, có lẽ vì nó trở nên quá chậm chạp không thể đi xa được nữa. Thường thường có một hay hai con voi đực còn trẻ tuổi đi theo "vị tiền bối" này. Nhiều thợ săn tin rằng voi già đem sự khôn ngoan của mình ra dạy cho voi trẻ để được voi trẻ bảo vệ đền công. Khi gặp nguy hiểm, voi trẻ đưa voi già đi tránh xa rồi trở lại chiến đấu chống lại kẻ thù. Hai voi trẻ này ở lại làm vệ sĩ mãi cho đến lúc voi già chết đi. Và voi thường sống đến sáu mươi tuổi.
 
Trái lại sự tin tưởng thông thường, những con voi này không tỏ ra cục mịch chút nào cả. Chúng có thể đi trên trái dừa khéo léo đến nỗi đủ để đạp tróc vỏ mà không làm bể trái dừa, chúng biết nhổ khoai lang mà không làm tróc vỏ. Voi cũng có khuynh hướng thuận bên mặt hay bên trái như chúng ta vậy. Thế nên luôn luôn chúng dùng chiếc ngà thuận để đào khoai.
 
Voi rất ít ngủ, chỉ ngủ bằng một nửa thời gian của chúng ta. Cũng may nó không cần ngủ nhiều vì nó còn phải dành hầu hết thì giờ ăn uống. Để ăn đủ ba trăm ký cỏ và lá cây khẩu phần mỗi ngày, voi phải tốn hết mười sáu giờ. Và nó còn phải đi tìm nước uống nữa vì nó cần từ một trăm mốt đến một trăm chín mươi lít mỗi ngày.
 
Chắc chắn là voi không bao giờ quên. Một trong những điều mà nó nhớ mãi mãi là hơi người. Những nhà khảo cứu quả quyết rằng nếu bị săn đuổi một lần, voi có thể phân biệt được hơi của một người da trắng khác với hơi của một người da đen khi còn ở cách xa năm cây số nhờ dùng vòi của nó. Sydney Downey nói về con voi đực mà ông ta đã theo đuổi suốt nhiều năm: "Nó đi vòng vòng, quay qua phải, quay qua trái, nhưng lúc nào cũng dẫm lên dấu chân cũ để làm mất dấu. Thỉnh thoảng nó dừng lại, đưa vòi đánh hơi và tiếp tục lên đường nếu không thấy có gì lạ. Nếu đánh hơi một người thổ dân, nó bèn đi trốn biệt cho đến lúc thấy không còn nguy hiểm mới chịu ra. Nhưng nếu nó ngửi hơi một người da trắng, nó giận dữ dẫm nát đất rồi lao nhanh với tốc độ tám chục cây số hay hơn, nó biết rõ người da trắng có vũ khí lợi hại đến mức nào."
 
Đại tá Bruce Smith ở Kenya cho rằng voi nhớ mãi những sự chăm sóc tử tế và những nguy hiểm nó đã trải qua. Một hôm ông bắt được một con voi con đang mang một vết thương nặng ở chân sau. Lúc trị thương cho nó, Đại tá Bruce Smith phải nhốt voi con vào trong một cái chuồng chật làm bằng những thân cây to để cho con thú không thể cử động được. Lần đầu tiên khi người ta xức thuốc cho nó, con voi đau quá nổi điên lên. Nhưng Bruce Smith vẫn làm xong công việc và dỗ dành con voi.
 
Sau ba bốn lượt chữa trị, con voi kiên nhẫn chịu đựng, nhưng người ta vẫn phải nhốt nó lại mới thay băng được. Sau cùng, người ta thả nó ra. Từ đó, mỗi lần gặp Bruce Smith, nó đều chạy ngay lại dùng vòi cuộn tay ông ta đưa lại phía vết thương bây giờ đã lành lặn hẳn và thành sẹo rồi.
 
 
BRIAN O' BRIE         
Bản dịch : NGUYỄN HÙNG TRÁC
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 101, ra ngày 3-8-1973)
 

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2025

Ốc Sên


c sên là một con vật lạ lùng. Nó có thể sống trên đỉnh núi cao, vùi mình trong vùng sa mạc nóng bỏng, ẩn mình trong rừng sâu thuộc miền nhiều mưa lũ. Người ta bắt gặp ốc sên ở khắp nơi : trên ngọn Everest cao 8945m, người ta có thể thấy ốc sên ở sa mạc Sahara mênh mông, ốc sên cũng có mặt ở rừng rậm Phi châu. Ốc sên là một con vật vừa phá hoại lại vừa có ích. Nó tàn phá vườn rau nhưng trái lại thịt của nó ăn rất ngon, nó còn là một con vật thí nghiệm dùng trong khoa học.
 
Giống ốc sên sống trên mặt đất ra đời cách đây nhiều triệu năm và có mặt ở khắp nơi. Tất cả có lối 18.000 loại khác nhau.
 
Con ốc sên mà ta hay gặp thường ngày quả là một con vật phi thường. Trong thân thể nó không có một đốt xương nào cả mà chỉ là thịt và thịt mà thôi. Dù nhỏ nhắn mảnh mai, nhưng loại Helix pomatia, một loại ốc sên thịt ăn rất ngon, có thể chở nổi một sức nặng gấp 200 lần. Theo tỷ lệ đó thì một thiếu nhi nặng 40kg phải vác nổi một tảng đá nặng 360kg và kéo nổi một chiếc xe nặng 3,6 tấn.
 
Ốc sên ngủ rất nhiều, khi mùa đông chưa đến, nó đã bắt đầu ngủ giấc đông miên dài đến sáu hay bảy tháng trời. Ngoài ra, khi thấy một chút tia nắng mặt trời, ốc sên vội thu mình vào vỏ vì sợ bị hong khô thân mình, và khi trời mưa cũng vậy, ốc sên lập tức thu mình lại để ngủ. Ốc sên có thể ngủ một giấc hay ngủ suốt nhiều ngày liên tiếp trong lớp vỏ sau lớp nước nhờn. Ốc sên ở sa mạc có thói quen ngủ lâu kinh khủng, nó có thể ngủ một giấc li bì suốt ba hay bốn năm trường.
 
Khi di chuyển, ốc sên là một con vật thướt tha, yểu điệu trông thực đẹp mắt. Thân hình vặn vẹo của nó thay đổi màu sắc từ màu xám đến màu bạc, lướt nhẹ nhàng dường như không cần đến một chút cố gắng. Những bắp thịt nhỏ bé co rút nhịp nhàng như làn sóng điện, và như thế thân hình của ốc sên từ từ tiến tới.
 
Bất cứ đi đến đâu, ốc sên cũng tạo ra một lớp màn phía dưới để bảo vệ nó. Tấm màn này không có màu sắc và vô cùng hữu hiệu đến nỗi ốc sên có thể bò dọc theo lưỡi dao cạo bén ngót mà không hề bị một vết trầy nào cả.
 
Trong cuộc sống hàng ngày, ốc sên rất cần sự ẩm ướt. Sự ẩm ướt là yếu tố cần thiết cho thân thể của ốc sên, sự ẩm ướt cần thiết trên đường đi lại, sự ẩm ướt còn cần thiết để nuôi sống các mầm non là món mà ốc sên ưa thích nhất. Đến tháng tư, tháng năm, khi thời tiết dịu, và khi cơn mưa đầu mùa bắt đầu tắm ướt phong cảnh, ốc sên choàng thức giấc, cái đầu nhỏ nhắn của nó bắt đầu nhô ra khỏi vỏ cứng, các vòi của nó rà khắp đó đây để xem có gì ăn được. Cặp sừng trên có thể kéo dài đến ba phần tư đốt (1) hay hơn nữa, trên cặp sừng này là mắt của ốc sên ; ở sừng dưới, ngắn hơn, là cơ quan xúc giác hết sức tinh.
 
Bữa ăn đầu tiên tiêu hóa xong, ốc sên cảm thấy đói, thân hình của nó lại bắt đầu vươn ra khỏi vỏ. Thân hình của ốc sên dài khoảng 3 đốt (1), to một phần tư đốt (1). Ốc sên cận thị rất nặng, nó không thể nhìn xa được, nhưng nhờ thích giác cực mạnh có thể bù trừ cho thị giác cực kỳ yếu kém của nó. Thính giác cực nhạy giúp cho ốc sên bắt đầu hoạt động. Dù miệng của nó chỉ to bằng đầu kim gút nhưng có đến 25.600 cái răng bé tí nhưng cực kỳ hữu hiệu. Ta cứ thử nhốt ốc sên vào trong một hộp giấy, chẳng bao lâu sau, ốc sên sẽ dùng hàm răng tí ti này cắn rách hộp để chui ra. Nếu răng của ốc sên bị mòn hay gẫy, răng khác sẽ mọc lên thay liền cũng dễ dàng như khi ốc sên thay vỏ.
 
Thường thường ốc sên ăn vào ban đêm, nhưng các ngày có mây bay, những ngày có mưa nhẹ lất phất bay cũng là thời gian rất thuận tiện và ốc sên sẽ bò khi ăn. Khi ăn, ốc sên ăn không ngừng. Còn những lúc khác, ốc sên thu mình ẩn kín trong lớp vỏ để trốn ánh nắng.
 
Mỗi năm hai lần, một lần vào mùa xuân, một lần vào mùa thu, ốc sên đột nhiên ngưng ăn và đi lang thang không ngừng. Râu của nó vươn ra phía trước quờ quạng tìm kiếm khắp nơi. Ốc sên đang trên đường đi tìm bạn. Ốc sên là loài lưỡng tính, có 2 bộ phận sinh dục ở cổ, ngay phía bên phải.
 
Cưu mang mười lăm ngày, ốc sên sẽ đi tìm nơi sinh sản. Ốc sên đào một lỗ nhỏ ở gốc cây hoặc giữa đám cỏ gần nơi có thức ăn. Sau mười hai tiếng đồng hồ, ốc sên sẽ để lại đó 25 trứng nhỏ bé. Sinh xong, ốc sên lấp dấu và bỏ trứng ốc sên ở đó.
 
Ba hay bốn tuần lễ sau, trứng sẽ nở ra ốc sên con. Mới ra đời, ốc sên con tuy nhỏ bé nhưng đã có hình dạng gần hoàn hảo rồi, nhưng vỏ của nó chỉ mỏng mỏng như tờ giấy. Ngay khi vừa ra đời, ốc sên con đã đầy đủ khả năng để đương đầu với cuộc sống. Nó bắt đầu bò ra khỏi vỏ, tự tìm lấy thức ăn và tự biết tìm nơi ẩn trú khi cần. Vừa mở mắt chào đời, ốc sên đã có ngay cái đặc tính di truyền là sợ mặt trời, nó chỉ đi lại vào ban đêm.
 
Mỗi năm ốc sên lớn thêm độ một phần mười đốt (1) ở ngoài vỏ. Mức lớn và lối sinh sống của ốc sên hoàn toàn tùy thuộc vào thời tiết và việc ăn uống. Ở Pháp, người ta bắt ốc sên hoài, chỉ để cho chúng sống lâu nhất là hai năm do đó ít gặp được ốc sên to lớn. Tuy nhiên, thỉnh thoảng người ta cũng tìm thấy ở Pháp những con ốc sên khổng lồ, do người ta mua từ nhiều nơi khác chở về, vì ở các nơi đó người ta để cho ốc sên sống lâu hơn.
 
Dù lớn dù nhỏ gì, ốc sên cũng là một món ăn ngon miệng. Mỗi năm ở Pháp người ta thưởng thức lối 250 triệu con ốc. Ốc được nấu nướng một cách khéo léo trở thành một món ăn vô cùng ngon miệng. Ở Mỹ, mỗi năm người ta ăn hết 24,8 triệu con ốc mà phần nhiều là ốc nhập cảng.
 
Mỗi lần vào mùa Xuân, trường Y Khoa Ba Lê mua cả mấy trăm cân ốc. Số ốc này được đem nuôi ở nhiệt độ thấp để cho hơn 100 chuyên viên nghiên cứu. Ốc sên giúp ích rất nhiều cho khoa học. Nghiên cứu các dịch vị của nó tiết ra, các nhà khoa học đạt được những bước tiến quan trọng trong việc tìm hiểu các chất kích thích tố (hormone). Nghiên cứu máu và chuẩn độ nước tiểu của chúng, người ta còn tìm hiểu được vài loại ung thư.
 
Quả thật ốc sên là một con vật lạ lùng.
 
 
NGUYỄN HÙNG TRÁC      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 98, ra ngày 15-7-1973)
 
___________
(1) Inch : đốt, đơn vị đo chiều dài của các quốc gia nói tiếng Anh, dài 2,54cm

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2023

Một Chuyện Cảm Động Quanh Bộ Râu Của Tổng Thống Lincoln

 

Abraham Lincoln (A-brơ-ham Lin-cơn) là vị Tổng Thống thứ 16 của Hoa Kỳ từ năm 1861 đến năm 1865. Ông chỉ để râu vỏn vẹn trong nhiệm kỳ Tổng Thống bốn năm thôi thế nhưng ngày nay mỗi lần người Hoa Kỳ nghĩ về vị Tổng Thống thứ 16 của họ, bao giờ họ cũng nhớ đến bộ râu khá đẹp của ông. Trong những câu chuyện về Tổng Thống Abraham Lincoln được kể hằng năm tại Hoa Kỳ, câu chuyện lý thú nhất vẫn là câu chuyện về một bức thư của một cô học sinh nhỏ bé và bức thư trả lời của Tổng Thống Abraham Lincoln.

Chính Tổng Thống Abraham Lincoln thường hay nhắc đến cô bé ở tiểu bang New York (Niu-Ioóc), người đã khiến cho ông để bộ râu nổi tiếng tạo nên nét duyên dáng độc đáo. Nhưng ít người biết cô bé này là ai. Trong những bộ sách vĩ đại viết về Abraham Lincoln, người ta ít nhắc đến tên Brace Bedell (Gờ-rê-xờ Bơ-đen). Nhưng Abraham Lincoln hay kể lại câu chuyện này và chấm dứt bằng một cái tặc lưỡi :"Dù một việc nhỏ đến đâu đôi khi cũng làm biến đổi cả cuộc đời của chúng ta!"

*

Grace Bedell ngồi trong căn phòng nhỏ bé chăm chú nhìn bức ảnh cha cô vừa đem về. Đó không phải là một bức vẽ than, cũng không phải là một bức tranh sơn dầu, không màu không sắc gì cả ; tuy nhiên nhìn vào đó người ta có thể trông thấy rõ cả các sợi tóc, các lằn nếp trên bộ áo của ông Abrahm Lincoln. Đó là bức ảnh lần đầu tiên bé Grace Bedell được nhìn thấy. Bức ảnh tạo cho cô bé cái cảm tưởng kỳ lạ là người đàn ông gầy gò này đang đưa mắt nhìn mình.

Ngọn đèn dầu leo lét của Grace rọi bóng trên bức ảnh đen trắng. Nét mặt trên bức ảnh càng tăng thêm vẻ sống động, một chút bóng đen nằm chung quanh gương mặt gầy guộc, làm cho nó càng trở nên đầy đặn hơn. Đôi má hóp biến mất và bóng đen bao quanh . Râu! Phải rồi, cần có một bộ râu mới đẹp!

Grace ngồi suy nghĩ. Phải có người nói cho ông ấy biết điều này mới được. Cô bèn đi lấy giấy bút và bắt đầu viết:

Westfield, Chautanqua, Co, N4

Ngày 15 tháng 10 năm 1860.

Kính gởi 

Ngài A.B. Lincoln.

Kính thưa Ngài (1)

Cháu là một đứa bé gái 11 tuổi, nhưng cháu rất mong Ngài trở thành Tổng Thống của Hoa Kỳ đến nỗi cháu hy vọng ngài không nghĩ rằng cháu quá táo bạo khi viết thư cho một người lớn như ngài.

Ngài có cô con gái nào trạc tuổi cháu hay không, nếu có xin chuyển đến họ (2) lòng yêu thương của cháu và bảo cô ấy (3) viết thư cho cháu nếu ngài không thể trả lời thư này được. Cháu có bốn người anh và một trong số bọn họ sẽ bỏ thăm cho ngài, và nếu ngài để bộ râu, cháu sẽ cố gắng thuyết phục những người còn lại dồn phiếu cho ngài nữa. Ngài sẽ trông đẹp trai hơn nhiều lắm, hiện giờ gương mặt của ngài quá gầy. Tất cả những mệnh phụ phu nhân đều thích râu và họ sẽ xúi dục phu quân bỏ phiếu cho ngài và thế là ngài sẽ đắc cử Tổng Thống.

GRACE BEDELL

Lúc bấy giờ Abrahm Lincoln đang vận động tranh cử Tổng Thống, trung bình mỗi ngày bộ tham mưu của ông nhận được khoảng 50 bức thư. Chỉ những bức thư của các bạn thân hoặc của các nhân vật quan trọng mới được hai người thư ký trẻ tuổi chuyển đến tận tay Abraham Lincoln. Hai người thư ký trẻ tuổi đó là John Nicolay (Gion Ni-cô-lay) và John Hay (Gion Hê). John Nicolay làm việc hết sức sốt sắng.

John Hay đang ngồi dựa ngửa trên ghế lựa thư, bỗng anh kêu lên:

- A, có một cô bé chỉ cho ông xếp làm thế nào để đắc cử.

Nicolay nói:

- Quẳng vào sọt rác đi!

Hay bèn phản đối ngay:

- Cô bé này có một ý kiến độc đáo lắm. Cô ta cho rằng ông xếp nên để một bộ râu cho gương mặt đẹp ra.

Nicolay phản đối:

- Quẳng đi, và tiếp tục làm việc đi.

- Tôi không bao giờ làm một việc như thế. Vả lại đây là lời thốt ra từ miệng một cô bé.

Bỗng có một người để râu ùa vào phòng mà không thèm gõ cửa. Ông ta lên tiếng:

- Chào các bạn tôi là Herndon (Hơn-đông).

Nicolay chẳng thèm để ý đến ông ta, vẫn tiếp tục:

- Không có râu ria gì hết. Không có chuyện con nít. Hãy làm việc đàng hoàng một chút đi.

- Một cô bé à?

Herndon dịu giõng và tiếp tục:

- Ông ấy rất yêu trẻ con. Không bao giờ ra đường mà ông không đứng lại nói chuyện với các cô bé cả, mỗi đứa đều là "em gái" của ông ta. Các bạn đang nói gì về cô bé đó?

Nicolay nổi giận:

- Tôi bảo quẳng thư của cô ta vào sọt rác cho khuất mắt. Này, Hay, anh lo trả lời gấp cho vị Thống Đốc tiểu bang Pensylvania (Pen-sin-va-ni-a) đi. Thư đó gấp lắm!

- Sao? Ông Thống Đốc đã lớn tuổi, ông ấy có đủ kiên nhẫn chờ trả lời.

Đó là giọng nói của Abraham Lincoln đang vang ra từ trong phòng phía sau.

Thế là chẳng bao lâu sau, Grace Bedell nhận được bức thư trả lời sau đây:

Thư riêng.

Springfield, Ill ngày 19 tháng 10 năm 1860.

Kính gởi

Cô Grace Bedell

Westfield, N.Y.

Thưa cô bé, (4)

Tôi vừa nhận được bức thư dễ thương của cô đề ngày 15. Tôi rất tiếc phải nói rằng tôi không có con gái. Tôi chỉ có ba trai, đứa lớn được mười bảy, đứa bé chín và đứa nhỏ lên bảy tuổi. Ba cậu con trai và bà mẹ của chúng, đó là tất cả gia đình tôi. Còn về bộ râu, lâu nay không có, thế mà bây giờ lại bắt đầu để râu, cô có nghĩ rằng người ta sẽ cho đó là cái tật khùng tầm bậy không? Thành thật chúc cô mọi điều như ý.

A. Lincoln

Chuyện kể rằng ngày 16 tháng giêng năm 1861, chuyến xe lửa đặc biệt chở vị Tổng Thống vừa đắc cử Abraham Lincoln đến Tòa Bạch Ốc, phải dừng lại tại một nhà ga ở Westfield. Gia đình Bedell cũng như mọi người ở địa phương đều hân hoan ra đón vị Tổng Thống mới.

Tại sân ga, người ta đen nghẹt, Grace Bedell phải cố kiễng chân lên cao để nhìn. Nhưng vì cô quá bé bỏng nên chỉ trông thấy toàn mũ, mũ và mũ mà thôi. Hết sức cố gắng, bé Grace Bedell chỉ trông thấy một chiếc mũ rất cao, rất đen nhô lên trên tất cả. Cô bé chỉ trông thấy ngần ấy thôi! Người ta reo vang:

- Đọc diễn văn đi! Đọc diễn văn đi!

Grace nín thở lắng tai nghe. Đột nhiên chung quanh im phăng phắc. Bỗng có một giọng người vang lên:

- Thưa đồng bào.

Tôi không chuẩn bị sẵn một bài diễn văn nào để đọc, và tôi cũng không có thì giờ để đọc diễn văn nữa. Tôi chỉ xuất hiện trước đồng bào để có thể trông thấy đồng bào và đồng bào trông thấy tôi thôi.

Grace Bedell choáng váng. Đúng là ông ấy đây rồi. Ông ấy chứ không còn ai cả. Cô bé cố vươn người, nhưng cô cũng chỉ trông thấy được chiếc mũ cao mà thôi.

Abraham Lincoln pha trò mấy câu, đám đông reo cười vui vẻ. Rồi, vị Tổng Thống vừa đắc cử lại tiếp tục:

- Tôi chỉ có một câu hỏi khi tôi đứng đây, bên cạnh lá quốc kỳ. Liệu đồng bào có chịu đứng cạnh tôi như tôi đang đứng cạnh lá quốc kỳ hay không?

Các nắm tay, mũ và khăn tay của các bà, các cô vung lên cao giữa tiếng reo hò như sấm dậy:

- Vâng - Vâng - Chúng tôi sẽ ủng hộ Tổng Thống.

Thêm một lần nữa, cô bé được nghe giọng nói đặc biệt, giọng nói có thể làm cho người ta nhớ đời đời.

Và Tổng Thống Abraham Lincoln nói tiếp:

- Tại nơi này, tôi có giao dịch với một cô bé. Cô tiểu thư đó là người đầu tiên nhìn thấy được cách sửa lại bộ mặt của tôi. Nếu cô ấy có ở đây, tôi muốn nói chuyện với cô ta. Cô ấy tên là Grace Bedell.

Cha của Grace cầm tay con và dẫn về phía trước. Cô bé bước đi theo cha mà bàng hoàng không biết vì sao, không để ý đến một con đường vừa được mở ra cho cha con cô đi, cô cũng không biết chung quanh người ta đang chỉ trỏ bàn tán. Cô đi đến bên người vừa nhắc đến tên cô.

Còn mấy bước nữa, cha cô nhấc bổng cô lên trước mắt cả ngàn người. Cô được nhấc lên đến ngang sàn xe lửa, cô nhìn thấy đôi chân đi giày đen. Cô nghe được một giọng nói từ bên trên đầu:

- Cô ấy đã viết thư cho tôi nói rằng nếu tôi chịu để râu, tôi sẽ dễ coi hơn.

Ông cúi người xuống. Grace bỗng cảm thấy có đôi tay dắn chắc nâng dưới hai tay cô. Đột nhiên cô nghe như mình nhẹ như bông, cô được nâng lên cao, và có người hôn vào hai bên má của cô, rồi được nhẹ nhàng đặt xuống. Hai má của cô nghe đau không phải vui sướng mà vì bị cào rát.

Grace quên bẵng cả đám đông, cô nhìn thẳng và cười to sung sướng vì cô đã nhìn thấy rõ Tổng Thống Abraham Lincoln : bộ râu rậm rạp mọc bao quanh hàm, gò má, che suốt cả bộ mặt trừ làn môi trên.

Lincoln nói:

- Này Grace, tôi đã để râu rồi đó.

Grace không biết làm gì khác hơn là nhìn đăm đăm vào người đàn ông cao, gầy và giản dị. Ông ta nắm tay cô. Cô còn nghe ông ta nói rằng ông hy vọng thỉnh thoảng được gặp lại cô bạn bé nhỏ của ông.

Grace Bedell hiểu rằng đã đến lúc chấm dứt. Tổng Thống đỡ cô xuống và cô ngoan ngoãn bước lại phía cha. Người cha đã hãnh diện chờ đợi đứa con nhỏ bé của mình.

Grace nghe tiếng còi rú lên, người ta hoan hô, người ta vẫy tay khi đoàn tàu chuyển bánh. Nhưng riêng Grace, cô bé chỉ nghe vỏn vẹn mấy tiếng đang âm vang mãi mãi "cô bạn bé nhỏ của tôi..."

Nếu bạn có đến Spring field thuộc tiểu bang Illinois, các bạn sẽ có dịp viếng ngôi nhà của Abraham Lincoln, một ngôi nhà giản dị màu trắng, cao 2 tầng với mái rộng và có hàng rào bao quanh. Người ta nói rằng ngôi nhà này trông giống y như từ thuở Abraham Lincoln còn đang ở, cả bên trong lẫn bên ngoài ngôi nhà cũng vậy. Trong ngôi nhà này, người ta giữ lại tất cả vật kỷ niệm. Trên một bực tường trong phòng, có treo một mảnh giấy viết bằng nét chữ học trò.

"Kính thưa Ngài

"Cháu là một đứa bé gái mười một tuổi..."

Còn bức thư viết tay cẩn thận của Abraham Lincoln được cất giữ trong gia đình họ Bedell mãi cho đến năm 1966, hơn một trăm năm sau, bức thư trứ danh này được ba người cháu của Grace bán đấu giá được 20.000 Mỹ kim (gần 10 triệu bạc Việt Nam theo giá ngày nay. Người mua được bức thư trứ danh này là một nhà sản xuất máy vô tuyến truyền hình tên David We... một chuyên viên sưu tập các vật kỷ niệm.


NGUYỄN HÙNG TRÁC  
 
__________________
(1)  Grace Bedell còn quá bé, chưa biết dùng dấu phẩy (,) sau lời mở đầu.
(2) Them : họ
(3) Her : cô ấy. Trong bức thư, Grace Bedell viết lộn xộn, khi thì dùng số nhiều (them), khi thì dùng số ít (her).
(4) Nguyên văn : My dear little ...
 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 92, ra ngày 3-6-1973)
 

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2019

Cứu Người Qua Đường Dây Điện Thoại


Đối với hàng triệu người, thành phố quả là chốn địa ngục vì ở đó người ta cảm thấy cô đơn và phiền muộn mà không biết tìm đâu ra một tâm hồn thông cảm để giãi bày khi gặp những nỗi khó khăn quá mức của cuộc đời. Tuy nhiên cách đây mươi năm, có một nhà truyền giáo người Anh ở Luân Đôn đã tìm cách chống lại sự phiền muộn mà đã khiến cho những người ở thành phố phải nản lòng. Mục sư Edward Chad Varah và các cộng sự viên tình nguyện đã giúp đỡ và mang nguồn hy vọng đến cho gần bảy ngàn rưỡi người chán nản.

Những người tình nguyện này tự gọi mình là những người "Samaritains" (theo chuyện ngụ ngôn trong phúc âm nói về tình nhân loại). Số điện thoại của họ, Mansion House 9.000 được nổi tiếng khắp cả nước Anh. Họ trả lời điện thoại suốt cả ngày đêm, bất cứ lúc nào có người gọi đến.

Thành phố Luân Đôn đắm chìm trong sương mù. Cô Millie G... , một thiếu nữ mười chín tuổi, đang nhắm hướng sông Tamise đi đến. Cô muốn gieo mình xuống dòng sông tự tử. Mổ côi mẹ, đau khổ vì bị phụ rẫy, cô viết thư cho người bạn: "Khi anh nhận được giòng chữ này, thì em đã chết rồi."

Khi lục túi kiếm mấy xu để gửi thư, cô chạm tay vào mảnh báo nhàu nát cô đã cất giữ từ lâu nay và mang luôn bên mình suốt hai năm nay: "Nếu bạn bị tuyệt vọng, nếu bạn nghĩ đến việc tự tử, hãy gọi số Mansion 9.000." Cô đọc lại mảnh giấy.

Millie ngập ngừng. Đột nhiên cô thấy cần phải sống. Cô quay nửa vòng và đi về phía phòng điện thoại công cộng. Một lát sau, có tiếng trả lời:

- Đây Mansion 9.000, tôi có thể giúp cô được gì?

Giọng nói thân mật và đầy vẻ thông cảm. Millie vừa thổn thức vừa tâm sự với "người bạn" này như chưa bao giờ cô thố lộ cùng ai. Cô chấm dứt bằng những lời quá quen thuộc với những người Samaritains:

- Tôi hết chịu đựng nổi rồi.

Tiếng nói trong điện thoại hỏi:

- Sao cô không đến đây nói cho rõ thêm một chút.

Rồi tiếng người trong điện thoại chỉ đường cho cô đi.

Millie tìm đến địa chỉ. Cô vừa gõ nhẹ thì cánh cửa mở rộng, cô trông thấy một căn phòng bài trí nghèo nàn với mấy chiếc ghế què quặt nhưng có đầy đủ hơi ấm thoát ra từ lò sưởi.

Một người đàn ông cao, mang kính và mặc áo nhăn nheo chìa tay ra mời cô:

- Tôi là mục sư Varah. Mời cô vào, cô dùng cà phê nhé.

Mục sư Varah khuyên nhủ Millie:

- Ngày mai cô sẽ đi mua một chiếc áo mới và cô sẽ đi thẩm mỹ viện làm tóc. Cô hãy còn trẻ.

Đêm hôm đó, Millie ngủ ở nhà một thiếu nữ tình nguyện. Chẳng bao lâu những người Samaritains trở thành bạn thân của cô. Một người đứng ra giới thiệu cho cô làm việc cho một nhà buôn lớn.

Không ai đem chuyện tôn giáo ra nói với cô cả. Nhưng một hôm chính cô nói:

- Tôi muốn học kinh để cầu nguyện. Tôi cần phải cầu nguyện để tỏ lòng tri ân của tôi.

Bây giờ Millie trở thành một cộng sự viên tình nguyện dùng phần lớn thì giờ của mình để cùng bạn bè giúp đỡ những người thất vọng. Một phần ba số cộng sự viên của Mục sư Varah chính là những "khách hàng" cũ nghĩa là những người đã được tổ chức này cứu thoát chết. Họ mang đến cho những người tuyệt vọng một giọng nói thân mật, hai tai chăm chú nghe lời tâm sự, và một trái tim cởi mở.

Gần bốn mươi phần trăm "khách hàng" của mục sư Varah là những kẻ định tự tử vì những nguyên do trầm trọng. Những kẻ còn lại họ muốn chết chỉ vì những lý do không quan trọng. Họ gồm đủ các giai tầng trong xã hội: từ một kẻ bần cùng đến một nhà triệu phú, từ một anh tài xế đến một bà nội trợ... Những người phạm tội cũng tìm đến để trút nỗi tâm sự. Cảnh sát cũng biết thế nhưng họ kính trọng những lời thú tội trước mặt Mục sư.

Mục sư nói với những cộng sự viên:

- Chúng ta ghét tội ác nhưng đừng ghét bỏ kẻ phạm tội.

Trước kia Varah là một sinh viên ban Tâm lý học và Triết học tại đại học Oxford, đã trải qua những thời kỳ nghi ngờ, thất vọng trong cuộc sống, sau đó Varah mới trở thành mục sư. Một hôm Varah đi đưa đám ma một cô bé mười bốn tuổi. Cô bé đáng thương đi tìm cái chết vì cô lần đầu nhìn thấy chu kỳ kinh nguyệt của mình đã tường là dấu hiệu bắt đầu một chứng bệnh ghê tởm và nguy hiểm. Và cô đã tự tử!

Mục sư Varah tự nhủ:

- Lẽ ra cô bé phải được cứu sống. Nếu cô thổ lộ nỗi khổ tâm với một người lớn đáng tin cậy.

Hai mươi năm sau ngày đưa đám tang cô bé xấu số kia, mục sư Varah được bạn bè đưa đi khắp nơi, vào nhà thương, viện phân tâm học, nhà tù. Mục sư biết rằng cứ cách tám giờ thì có một người dân Luân Đôn tự tử. Mục sư thấy rằng người ta tự tử vì thiếu một niềm tin đích thực, gặp những nỗi khó khăn, buồn khổ và bị khủng hoảng tinh thần. Mục sư đã nói:

- Những lý do thường xuyên nhất là sự cô đơn. Nỗi phiền muộn này giày vò con người ghê gớm.

Varah tìm được một mối dây ràng buộc con người với cuộc sống: đó là đường dây điện thoại, vì ở Luân Đôn không khi nào người ta không gặp một buồng điện thoại công cộng.

Khi mục sư xin số điện thoại, ông nghĩ ngay đến số 999, số cấp cứu để gọi cảnh sát, cứu hỏa hay xe cứu thương, va ông xin được số Mansion 9.000.

Hiện giờ tổ chức của mục sư có một vị tu sĩ nữa làm phụ tá, một nữ phụ tá xã hội và phân tâm học, nhiều thư ký, nhưng chính những cộng sự viên tình nguyện là những người đảm trách phần lớn công việc.

Thỉnh thoảng mục sư Varah gởi đến bác sĩ và những nhà phân tâm học những "khách hàng" cần điều trị.

Mục sư cho biết:

- Cứ có một người cần thuốc men trị liệu thì có đến sáu người cần đến tình thân hữu và sự thông cảm để họ khỏi buông trôi tuyệt vọng.

Những người Samaritains thỉnh thoảng phải đưa "khách hàng" đi xem chiếu bóng, mời họ về quê nghỉ vài tuần để lên tinh thần, và thường nhất là đi thăm viếng họ.

Những người tình nguyện sẵn sàng đi bất cứ nơi nào và làm bất cứ việc gì để cứu người. Một buổi chiều mưa, một thiếu nữ trong nhóm Samaritains được cử đi gặp một người nữ "khách hàng" ở một góc đường. Hai giờ sau. mục sư Varah nhận được điện thoại của cô "khách hàng" này. Cô cho biết vì không đủ can đảm đến nơi hẹn nhưng bây giờ muốn xin gặp lại.

Varah trả lời:

- Cô cứ đi đến chỗ đã hẹn lần trước, người đó vẫn chờ cô.

Đúng thế, cô gái đáng thương được tiếp đón vì người ta không bao giờ muốn bỏ rơi cô.

Varah nhận thấy rằng sau những vụ thất vọng bao giờ cũng có một hối hận bí ẩn nhưng khủng khiếp, sự hối hận này như ngòi nổ chậm của quả bom. Thường thường người ta thổi to quá mức lỗi lầm của mình. George là một công nhân, có lần ham vui đánh bạc thua cả một số tiền lớn hơn cả một năm lương. Ông cảm thấy xấu hổ. Thay vì thú thật với vợ, ông ta tự giày vò âm thầm, và cuối cùng định tự tử. Ông ta đã đưa đầu vào bếp hơi, đột nhiên ông ta nghĩ đến ba đứa con còn thơ dại, ông gọi điện thoại cho nhóm Samaritains.

Một người tình nguyện đưa ông ta đến bà phụ tá xã hội và phân tâm học. Bà này giải nghĩa cho ông biết điều mà ông tưởng đâu là một tội lỗi tày trời chẳng qua chỉ vì điên rồ. Vợ ông tỏ ra rất biết điều. Bây giờ hai người cố gắng dành dụm để trang trải nợ nần.

Mục sư Varah hy vọng rằng những tổ chức như của ông sẽ được lập ra trên khắp thế giới để không còn ai nghĩ đến việc tự tử nữa.

Hai mươi sáu thành phố ở Anh và hai vùng ngoại ô của Luân Đôn đã thành lập những chi nhánh. Nhiều tổ chức tương tự của Thiên Chúa cũng như Tin Lành ra đời ờ Âu Châu: ở Ba Lê, Bruxelles, Genève, Tây Bá Linh, Hambourg, Stuttgart, Stockholm, Helsinborg, Vienne, Francfort, Rotterdam, La Haye.

Ở các tổ chức này, cũng như tại tổ chức của mục sư Varah, điện thoại là con tim của mọi sinh hoạt. Bất cứ giờ giấc nào, không kể ngày hay đêm bao giờ cũng có một người bên điện thoại chờ nghe những lời thất vọng chán chường để rồi sau đó dịu dàng khuyên giải và tìm đủ cách để giúp đỡ những kẻ đáng thương.


Charlotte và Denis Plimmer    
NGUYỄN HÙNG TRÁC dịch   

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 94, ra ngày 17-6-1973)  

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

Một Chỗ Dừng Chân


Chiếc xe Lam đang ì ạch bò trên con đường lồi lõm. Lớp bụi mù bốc lên dày kịt làm đỏ cả phía sau. Bắt đầu vào ấp, chúng tôi vừa vượt qua được một đoạn đường đầy nguy hiểm, ai cũng buông một hơi thở dài nhẹ nhõm. Bỗng tài xế hãm xe thật nhanh, quay đầu trở lại.

- Cái gì thế?

Một bà hành khách vội la thất thanh:

- Mô!

Một tiếng đáp khô khan nhưng đủ làm cho mọi người hoảng sợ. Những đôi mắt thau láu nhìn ra chung quanh. Những ụ đất thấp có, cao có nằm choáng cả mặt đường. Đầu chiếc xe chạy ra lề. Tài xế lùi lại. Bưng! Một tiếng nổ to làm điếc tai. Đất, cát, bụi bắn túa vào. Tôi ngột ngạt, há miệng ra, ngậm một bộng cát. Hành khách trên xe la ơi ới. Chiếc xe đâm sầm xuống lề đường.

- Có ai làm sao không?

- Không! Không!

Tất cả ùa xuống xe, cố gắng đẩy chiếc xe nặng nề lên đường. Anh tài xế vừa lau bụi vừa nói:

- Hú hồn! Thật là nhờ Trời Phật độ mạng nên không ai làm sao cả.

Trong xe nhiều người lâm râm cầu khẩn.

Nhìn mặt đường bị phá một lỗ, anh tài xế nói:

- Lựu đạn đó bà con, nếu là mìn thì mình lãnh đủ rồi.

- Thôi, đừng nói gở.

Chiếc xe bỏ con đường chính, chạy vào trong xóm, quanh quẩn mãi để vòng tránh khoảng đường có thần chết đang rình rập.

Tôi xuống xe mà trống ngực vẫn còn đập mạnh. Không thèm phủi đất cát vì biết có phủi cũng vô ích, tôi lững thững đi về phía nhà trọ để tắm rửa trước khi vào lớp.

Lớp học đã đông đủ cả rồi. Tin chuyến xe đầu tiên gặp lựu đạn nổ lan truyền rất nhanh. Đám học trò đến trường bằng xe lam, xe đò, xe đạp, từ chợ đi lại, chúng đã nghe người ta nói và đã kháo nhau rồi. Tôi bước vào lớp trong không khí xôn xao. Chúng ùa lên vây lấy tôi, chúng tranh nhau hỏi, có đứa nghịch ngợm như khỉ, có đứa mặt mày tái mét. Tôi mỉm cười:

- Các em im lặng đi. Thầy vẫn sống đây.

Mấy năm rồi tôi vẫn từ Sàigòn lên cái tình nhỏ bé này để dạy học. Đám học trò nửa tình, nửa quê, có đứa bàn chân vẫn chưa quen với đôi giày, đôi vớ, tôi đành để chúng kéo lê đôi dép, có đứa hãy còn bé bỏng mà bàn tay đã chai cứng, lóng cóng khi cầm viết. Ngày nhận được tờ giấy của Nha Trung Học, tôi không biết ở đâu có ngôi trường Khiêm Cương lạ lùng này, tôi phải đi lùng hỏi khắp nơi mới biết được. Con đường thực cũng không xa, nhưng phải vượt trên mười cây số đường đất đỏ đầy ổ gà, mùa nắng bụi mù trời, mùa mưa lầy ngập bánh xe.

Ngày tôi đến trình Sự vụ lệnh, trường vẫn chưa mở cửa vì chưa ai đến đây nhận nhiệm sở. Một ông giáo sư đã đến, nhìn thấy thị trấn nhỏ bé này với lèo tèo mấy căn nhà và một con phố chính đi chưa mỏi chân đã cùng, ông chán nản bỏ về Sàigòn. Ông Hiệu Trưởng trường tiểu học kiêm nhiệm trường Trung học tân lập này không biết làm sao khai giảng, gặp tôi, ông chộp lấy, để kể lể sự tình. Một chút máu Don Quixotte ngủ im trong người tôi từ lâu bỗng dưng xao dậy. Và tôi chấp nhận ở lại đây với ý nghĩ rằng phải có người thứ nhất để có người thứ hai.

Từ đó, ngày ngày tôi ngược xuôi đi về trên đoạn đường đầy bụi và đầy mìn bẫy. Không tuần lễ nào thiếu tiếng mìn, tiếng lựu đạn. Khi thì một chiếc xe đò lật nhào, khi một chiếc xe lam đưa bốn bánh lên trời, khi một chiếc xe ngựa đứt đôi, khi một chiếc xe bò nằm lăn ra đó, hai con bò cổ còn trong xe nằm chương phình dưới ánh nắng. Rải rác những cái miếu nho nhỏ dựng lên thay cho trụ cây số, khói hương tỏa ra từ đó làm rờn rợn cho khách đi xe, nhất là vào những chiều có mưa bay. Thế mà tuần này nối tuần kia, cứ sáng lên, chiều về tôi vẫn chưa thấy ngại. Có hôm phải giảng lại một đoạn bài, khi cho học trò tan học, tôi ra bến xe, mới hơn bốn giờ chiều một chút mà chiếc xe cuối cùng trong ngày đã rời bến, chỉ còn bỏ lại một đám bụi mù. Đứng tần ngần nhìn đám bụi bốc cao, bay tản mác tôi nghe bâng khuâng khi nghĩ đến một đem ngủ đỡ. Đêm đó, những tiếng đại bác 155 ly câu đi rồn rập làm tôi không thể nào chợp mắt.

Có hôm tôi khảo bài, một đứa, hai đứa, hàng chục đứa không thể nào trả lời được dù một câu hỏi dễ nhất. Tôi ngạc nhiên vì ngay cả những đứa học trò chăm chỉ cũng tỏ ra ngơ ngác khi bị gọi lên bảng. Hỏi lý do tôi mới được biết đêm qua có đụng nhau khá lớn, bọn chúng phải chui cả xuống hầm nấp đạn, không làm sao học bài được. Thế là cả thầy lẫn trò chỉ còn biết cười trừ.

Trường thêm được mấy lớp, giáo sư thêm được mấy người. Thị trấn ngày một phát đạt, mọc thêm ra những ngôi nhà mới với những khu vườn xinh xinh mà cây hãy còn nhỏ. Nhưng vẫn có những đứa học trò mặt mày cháy nắng vì ngoài giờ học còn phải ra đồng lam lũ làm ăn với cha mẹ. Có những đứa quần quật suốt ngày với công việc nặng nhọc, rồi đến đêm còn phải tránh đạn, sáng hôm sau vào lớp nằm ngoẹo đầu ngủ một cách say sưa. Nhưng tất cả đều là những học trò yêu thương của tôi, từ những đứa cứng đầu cứng cổ đến những đứa nghiêm nghị như một người trưởng thành, từ những đứa giễu cợt giỏi như một anh hề chuyên nghiệp đến những đứa chăm chỉ siêng năng, từ những đứa học mãi không thuộc bài đến những đứa xuất sắc hết các môn, từ những đứa ngang tàng đến những đứa mười một, mười hai tuổi hiền như con cừu, rưng rưng nước mắt khóc trong tiệc tất niên khi thấy thầy bị ép uống rượu.

Một buổi trưa ở lại nhà trọ thấp lè tè, tôi phải xoay trần ra để chịu đựng sức nóng như thiêu như đốt tỏa ra từ mái tôle bỏng cháy ; bỗng tiếng súng nổ ròn rã, đạn bay rít veo véo trên không. Thay vội quần áo tôi đi nhanh ra trường. Cô Sơn Trà đã có mặt tự hồi nào. Đám học trò vào sớm đang vây quanh cô. Tiếng súng vẫn chưa ngưng. Tôi thét bọn chúng nấp vào một góc phòng. Tiếng đạn rớt trên những mái tôle nghe rang rảng. Tôi đốt một điếu thuốc để bớt lo âu. Một chập sau tiếng súng dứt hẳn. Lần lượt học trò đổ về trường. Chúng ồn ào kể cho nhau nghe những hồi hộp, những sợ hãi đã trải qua. Buổi học bắt đầu rất muộn. Cơn buồn ngủ kéo đến thình lình, tôi cố gắng giảng bài, thỉnh thoảng nghe giọng nói của mình rơi vào buổi trưa tĩnh mịch.

Trong cái tình trạng như thế thầy trò chúng tôi lần lượt chấm dứt từ năm học này sang năm học khác. Trường mỗi ngày một phát triển, học trò vẫn có đứa giỏi, có đứa không làm sao học được.

Có hôm tôi vào lớp, ngạc nhiên trông thấy một đứa bé đứng khép nép trong góc phòng. Một đứa học trò đứng dậy ngập ngừng:

- Thưa thầy, nó là em của con. Nhà con không có ai hết, mỗi ngày đi học con phải đem nó đi gởi nhờ. Hôm nay không ai nhận cả. Xin thầy cho nó ngồi trong lớp với con.

Nói đến đây, cô bé khóc mùi. Đứa bé ngơ ngác lại kéo áo chị. Thực chưa trường nào như trường của tôi, chưa lớp nào như lớp của tôi, chưa học sinh nào như học sinh của tôi. Nhưng tất cả được bao trùm bằng một bầu không khí thân mật của yêu thương. Có những đứa học trò phải đi xe đạp năm bảy cây số mới đến trường, có đứa phải vay bạn từ năm, mười đồng bạc để đi xe. Có hôm chúng đến trường rất trễ, bộ đồng phục trắng lốm đốm đất, bùn, cát ; có đứa mất giày, có đứa mất dép, có đứa chỉ còn mỗi một chiếc guốc. Mìn đã nổ trên đường đi học.

Bài vở có ích gì không? Những lời giảng của tôi có ích gì cho chúng không? Đôi khi tôi cảm thấy không thể dạy gì được cho chúng. Khoảng cách giữa sách vở  và thực tế thực hết sức mênh mông. Mệt mỏi và chán nản cho nên có lúc sau những cuộc vui giả tạo ở Sàigòn, tôi không còn muốn đến trường nữa. Nhưng rồi một chút gì đó thực mong manh, một nỗi niềm hối hận nào đó đã nhè nhẹ nổi lên ray rứt tôi, thế là tôi lại lên đường, lại vượt qua đoạn đường nguy hiểm để đến ngôi trường nghèo nàn với những đứa học trò thực hồn nhiên.

Những bài học nhạt nhẽo trong hoàn cảnh này nhưng ít ra cũng có một chút gì đó có ích cho đám học trò bé bỏng. Người ta kiên nhẫn đãi cát lấy vàng, còn đám học trò của tôi, chúng cũng cố gắng gạn lọc, tìm tòi trong những hoàn cảnh khó khăn của chúng. Những danh từ lớn lao đối với thầy trò chúng tôi đã trở nên vô nghĩa. Những đứa bé có thể đạp xe năm, mười cây số, có thể vay mượn năm đồng bạc để đi xe lam, có thể đội nắng lội đồng đi học. Còn tôi, tại sao tôi không thể đến đây để gặp gỡ chúng? Lựu đạn, mìn đã phá vỡ đường lộ, nhưng vẫn còn lối cho những bàn chân nhỏ bé đi đến trường, những trận đánh nhau khủng khiếp nếu có làm cho đám học trò hoảng vía không học được bài thì hôm sau chúng tôi sẽ bắt đầu học lại.

Chút máu Don Quixotte ngày trước đẩy tôi đến đây và giữ chân tôi ở lại. Ba năm học trôi qua, những đứa học trò đã lớn, vẫn có những đứa cứng đầu, ngỗ nghịch, vẫn có những đứa ngoan ngoãn, vẫn có những đứa vượt xa chúng bạn. Và tất cả đều là những đứa học trò thương yêu của tôi. Suốt ba năm không biết chúng đã học được điều gì ở tôi hay không, còn tôi, tôi học được ở đám học trò ngây thơ hai điều quan trọng: sự chịu đựng và tình yêu thương. Tuổi thơ của chúng chưa có được một ngày bình yên. Chúng đã lớn lên trong lửa đạn, chịu đựng như một người trưởng thành, rồi vội vã vào đời, vào cuộc sống bon chen, chật vật. Trong hoàn cảnh khó khăn đó nhiều lúc nụ cười của chúng cũng vẫn thực tươi, thực mát như đóa hoa làm đẹp cho cuộc đời chan chứa yêu thương.

Bảy năm rồi tôi chưa có dịp về thăm trường cũ, thăm thị trấn ngày trước tôi đã dừng chân hơn ba năm dài. Đám học trò ngày nay đã lớn, có đứa đã vĩnh viễn nằm xuống để không còn bao giờ phải nghe tiếng đạn pháo kích giữa đêm làm kinh hoàng giấc ngủ, để không còn bao giờ phải thức trắng đêm lo dỗ mấy đứa em nheo nhóc không mẹ rồi buổi sáng ngủ ngon lành trong lớp. Còn lại những khuôn mặt khác, những khuôn mặt thân yêu bây giờ cũng đã phân tán đi các nơi. Nhiều khi tôi tự hỏi mình đã dạy gì được cho chúng?


NGUYỄN HÙNG TRÁC    


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 113, ra ngày 2-11-1973)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>