Một buổi xế, khi viên thanh tra lâm vụ Bere và tôi lái xe chạy qua công viên Queen Elizabeth, chúng tôi trông thấy một đàn voi đang dắt con đi. Đảo mắt nhìn chúng tôi, đàn voi ve vẩy tai nhưng chẳng để ý đến chúng tôi nếu Bere không ngưng xe lại cho tôi chụp hình. Đa số vểnh tai lên, lắc đầu dữ dội, kêu hét ầm ĩ. Chúng đứng dừng lại cách chúng tôi chừng sáu thước.
Lấy làm lạ tôi hỏi:
- Tại sao đột nhiên chúng lại trở tính như vậy?
Bere trả lời:
- Có lẽ chúng kinh hoảng vì nhận ra chiếc xe đi săn của mình. Hay chúng ăn phải cái gì khó tiêu. Cũng có thể vì ruồi muỗi, vì đôi khi ruồi muỗi cũng làm cho voi phát sùng lên. Chẳng bao giờ người ta hiểu được loài thú này. Phản ứng của chúng thật là bất ngờ... y như là phản ứng của con người vậy.
Nhiều chuyên viên nghiên cứu cũng đồng ý như thế: Voi có nhiều đặc tính y như chúng ta vậy. Donald Kert cho chúng tôi xem một bản phúc trình mang chữ ký của hai người thợ săn. Truyện kể lại hai con voi cứu sống một đồng bọn bị thương. Dùng ngà đỡ cặp ngà của con thú bị thương, dùng thân mình từ hai bên dặp sát lại để nâng thân mình của con vật bị nạn, hai chú voi cấp cứu đỡ hẳn bạn của chúng lên cao. Vượt qua mặt người thợ săn ngơ ngác, chúng lao vào bụi rậm. Những người thợ săn theo dấu và khám phá ra rằng dù có bị rơi rớt đôi ba lần, con voi bị thương ít nhất cũng được dìu đi xa đến ba cây số. Đến lúc đó nó tỉnh lại và có thể đi được và cả ba tiếp tục đi tìm đồng bọn.
Bill Ryan là một tay thợ săn kỳ cựu. ông đã bỏ ra suốt bốn mươi hai năm để nghiên cứu tính tình của loài voi. Ông nói với tôi:
- Chúng có thể suy luận được, y như chúng ta vậy. Và đôi khi chúng còn tỏ ra ranh mãnh hơn người ta nữa. Có một bầy voi hay vào trang trại của chúng tôi phá phách vườn tược để kiếm ăn. Chúng tôi bèn rào lại. Chúng tìm cách vượt qua hàng rào. Thế rồi chúng tôi cho chạy máy điện để chuyền vào vòng rào. Chỉ cần hai hay ba buổi tối, đám voi biết rằng khi ánh đèn tắt, vòng rào không còn nguy hiểm nữa. Và một lần nữa, chúng phá hàng rào để xông vào! Chúng tôi phải cho chạy máy điện suốt đêm, nhưng những con thú khổng lồ này vẫn tiếp tục lẩn quẩn bên ngoài thử phá dây điện cho đến lúc một con voi chợt biết rằng đôi ngà của chúng không dẫn điện. Thế là bọn chúng không còn e dè gì nữa. Cuối cùng chúng tôi phải đặt người gác với đầy đủ súng đạn hẳn hoi.
Ở Ouganda, tại công viên Murhison Falls, khi dựng một lâu đài cho khách, đám thợ thuyền bị một con voi đực to ba tấn rưỡi đuổi chạy có cờ vì con voi này coi đó là khu đất riêng của nó. Ngay khi tòa nhà được dựng lên xong, "ông voi chúa" này vẫn đến nhiều lần, đi rảo chung quanh và kiêu hãnh dừng bước cho người ta chụp hình.
Vào một đêm đẹp trời, nó ngửi thấy mùi rượu bia, thứ bia thổ sản gọi là pombe cất bằng chuối, con voi hất tung một mái lều để tìm một chút chuối nghiền. Sau đó, nó lục lọi tất cả các xe cộ từ vùng Paraa đến hy vọng tìm được chuối là món ăn ưa thích của nó. Vớ được một chiếc xe mui trần, chú voi xé mui vải, nếu gặp một chiếc xe thường, chú ta cho vòi qua cửa để lục lọi hay dùng sức mạnh nhấc xe lên mà rung. Một bận có đám du khách ngủ trong xe, họ đã vô ý để thực phẩm dưới xe mà trong thức ăn lại có chuối. Nửa đêm họ chợt giật mình thức giấc, sợ khiếp đảm vì cảm thấy chiếc xe rung lảo đảo. Đám du khách hoảng hồn vía trong khi "ông voi chúa" ung dung thưởng thức món chuối ưa thích.
Tại Amboseli, một khu bảo trì thú vật ở Kenya, có một con voi đầy óc hài hước. Nó thích nấp cạnh một đường quanh rất ngặt, chờ cho đến lúc trông thấy một chiếc xe xuất hiện trên đường, nó gầm lên một tiếng to và hùng hục lao ra, hai tai vểnh ra sau. và khi biết chắc đã làm cho chủ xe khiếp hãi, nó từ từ lùi lại sau, đưa mắt nhìn theo chiếc xe đang chạy. Cặp mắt nhỏ của nó ánh lên một tia sáng ranh mãnh.
Khi sắp sửa sanh con, voi mẹ đi tìm một bà bạn lớn tuổi hơn, khôn ngoan hơn để nhờ giúp đỡ. Voi có mang đến hai mươi mốt tháng. Suốt thời gian này, bà mẹ tương lai đi cạnh "cô đỡ" của mình. Bà mẹ nuôi sẽ chăm sóc rất cẩn thận, canh giữ rất gắt, đuổi bất cứ chú voi nào lại gần khi voi con mở mắt chào đời.
Voi con mới sinh nặng lối 90 ký, và chỉ vài phút sau khi ra đời, nó có thể đứng vững và ít lâu sau, nó có thể đi lại được. Không phải voi con dùng vòi để bú vú mẹ dù voi con còn quá bé, chưa với tới. Thực ra, nó cuộn vòi lại và dùng miệng để bú sữa.
Voi mẹ chăm sóc con cái đầy vẻ âu yếm chẳng khác chi người mẹ chăm sóc cho con. Voi mẹ nâng con khi lội qua dòng nước, bẻ cành cao quá tầm cho con ăn lá, và khi cần cũng biết trừng phạt khi voi con không vâng lời.
Một buổi chiều, Bere và tôi nhìn một đàn bốn voi cái với năm chú voi con đang đi gần kênh đào Kasinga. Một chú voi con mập mạp đi lang thang ở bãi cát đốc, y như là một chú bé tò mò muốn biết bãi cát chạy đến đâu mới chấm dứt. Đột nhiên đất sụp dưới chân chú voi con, và chú kêu lên một tiếng kinh hoàng, rơi tòm xuống nước.
Đàn voi cái quay vòng lại, vểnh tai lên và chạy xô lại phía con kênh, đưa vòi hướng về chú voi con ngỗ ngáo. Nhưng vì quá sợ hãi, chú voi con không thể nào vớ được những chiếc vòi cấp cứu. Bốn chân mắc lầy, chú ta chỉ còn biết dẫy dụa không ngừng.
Hai con voi cái quỳ xuống bãi cát. Hai con khác thận trọng lội xuống nước, vừa gầm gừ để khích lệ chú voi con, chúng đưa vòi dưới thân chú và nâng chú lên cho đến lúc chú chạm được hai con voi đang quỳ trên bãi cát. Hai con voi này dùng vòi nâng chú, kéo chú. Rồi một con, chắc chắn là mẹ của chú bé, kéo chú về phía nó, thì thầm khích lệ cho chú cố gắng thêm. Voi mẹ đưa vòi quật lên quật xuống cho đến lúc chú voi con chạm được. Chú voi con run rẩy, mửa nước lênh láng. và cuối cùng, khi biết rằng chú voi con không sao, voi mẹ dùng vòi quất cho chú một cái nên thân, rồi giận dữ đuổi chú chạy khỏi mé nước.
Một trường hợp cảm động vì sự đau khổ của voi mẹ đã xảy ra ở công viên Murhison Falls. Đại tá Trimmer giám đốc lâm vụ đã trông thấy một con voi cái dùng ngà mang một con voi mới sinh. Voi con đã chết. Nhưng suốt ba ngày voi mẹ vẫn mang xác con như thế và chỉ đặt xuống đất khi nó uống nước mà thôi. Ít lâu sau, người ta trông thấy voi mẹ đứng cạnh một gốc cây, không còn mang xác con nữa. Nó đứng sừng sững như thế qua nhiều ngày không ăn không uống và đe dọa bất cứ ai muốn lại gần. Cuối cùng nó bỏ đi. Sau đó Trimmer khám phá ra rằng voi mẹ đã đào một cái huyệt nông dưới gốc cây để chôn xác con.
Dường như voi có bản năng bảo vệ nhau. Khi một con voi đực quá già, nó rời bầy, có lẽ vì nó trở nên quá chậm chạp không thể đi xa được nữa. Thường thường có một hay hai con voi đực còn trẻ tuổi đi theo "vị tiền bối" này. Nhiều thợ săn tin rằng voi già đem sự khôn ngoan của mình ra dạy cho voi trẻ để được voi trẻ bảo vệ đền công. Khi gặp nguy hiểm, voi trẻ đưa voi già đi tránh xa rồi trở lại chiến đấu chống lại kẻ thù. Hai voi trẻ này ở lại làm vệ sĩ mãi cho đến lúc voi già chết đi. Và voi thường sống đến sáu mươi tuổi.
Trái lại sự tin tưởng thông thường, những con voi này không tỏ ra cục mịch chút nào cả. Chúng có thể đi trên trái dừa khéo léo đến nỗi đủ để đạp tróc vỏ mà không làm bể trái dừa, chúng biết nhổ khoai lang mà không làm tróc vỏ. Voi cũng có khuynh hướng thuận bên mặt hay bên trái như chúng ta vậy. Thế nên luôn luôn chúng dùng chiếc ngà thuận để đào khoai.
Voi rất ít ngủ, chỉ ngủ bằng một nửa thời gian của chúng ta. Cũng may nó không cần ngủ nhiều vì nó còn phải dành hầu hết thì giờ ăn uống. Để ăn đủ ba trăm ký cỏ và lá cây khẩu phần mỗi ngày, voi phải tốn hết mười sáu giờ. Và nó còn phải đi tìm nước uống nữa vì nó cần từ một trăm mốt đến một trăm chín mươi lít mỗi ngày.
Chắc chắn là voi không bao giờ quên. Một trong những điều mà nó nhớ mãi mãi là hơi người. Những nhà khảo cứu quả quyết rằng nếu bị săn đuổi một lần, voi có thể phân biệt được hơi của một người da trắng khác với hơi của một người da đen khi còn ở cách xa năm cây số nhờ dùng vòi của nó. Sydney Downey nói về con voi đực mà ông ta đã theo đuổi suốt nhiều năm: "Nó đi vòng vòng, quay qua phải, quay qua trái, nhưng lúc nào cũng dẫm lên dấu chân cũ để làm mất dấu. Thỉnh thoảng nó dừng lại, đưa vòi đánh hơi và tiếp tục lên đường nếu không thấy có gì lạ. Nếu đánh hơi một người thổ dân, nó bèn đi trốn biệt cho đến lúc thấy không còn nguy hiểm mới chịu ra. Nhưng nếu nó ngửi hơi một người da trắng, nó giận dữ dẫm nát đất rồi lao nhanh với tốc độ tám chục cây số hay hơn, nó biết rõ người da trắng có vũ khí lợi hại đến mức nào."
Đại tá Bruce Smith ở Kenya cho rằng voi nhớ mãi những sự chăm sóc tử tế và những nguy hiểm nó đã trải qua. Một hôm ông bắt được một con voi con đang mang một vết thương nặng ở chân sau. Lúc trị thương cho nó, Đại tá Bruce Smith phải nhốt voi con vào trong một cái chuồng chật làm bằng những thân cây to để cho con thú không thể cử động được. Lần đầu tiên khi người ta xức thuốc cho nó, con voi đau quá nổi điên lên. Nhưng Bruce Smith vẫn làm xong công việc và dỗ dành con voi.
Sau ba bốn lượt chữa trị, con voi kiên nhẫn chịu đựng, nhưng người ta vẫn phải nhốt nó lại mới thay băng được. Sau cùng, người ta thả nó ra. Từ đó, mỗi lần gặp Bruce Smith, nó đều chạy ngay lại dùng vòi cuộn tay ông ta đưa lại phía vết thương bây giờ đã lành lặn hẳn và thành sẹo rồi.
BRIAN O' BRIE
Bản dịch : NGUYỄN HÙNG TRÁC
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 101, ra ngày 3-8-1973)

Không có nhận xét nào:
Không cho phép có nhận xét mới.