Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2025

Góc Phố Quen Mùa Đông

 

 

 

 

 

 

Góc phố quen mùa đông

Bỗng chiều nay tưng bừng

Nhạc giáng sinh rộn rã

Vọng về tiếng chuông ngân


Góc phố quen mùa đông

Đã đến mùa Noël

Đèn lung linh chớp tắt

Soi ngõ vắng không tên


Góc phố quen mùa đông

Giữa khung trời đêm vắng

Những ánh sao lóng lánh

Như trái châu cây thông


Qua cửa hiệu đầu đường

Sau lớp cửa bóng loáng

Bánh thơm lừng bắt choáng

Mùi kem, bơ, rượu nồng


Góc phố quen mùa đông

Giờ trang hoàng lộng lẫy

Giấy trang kim bóng bẩy

Tô điểm cành cây thông


Góc phố quen mùa đông

Chào đón đêm giáng sinh

Lũ trẻ nôn nao nhất:

Đợi quà ông Noël...

                       Thơ Thơ
            (Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2025

Buổi Chiều Ở Bãi Biển


Buổi chiều mặt trời sắp sửa đi ngủ thì bầu trời mang một khuôn mặt hồng hào và êm dịu như một bản nhạc cổ điển mà em vẫn nghe vào buổi tối. Ở trong nhà em, những ngọn đèn màu vàng đã rủ nhau thức giấc, tia nhìn nóng nảy của chúng khiến em cảm thấy nhức mắt và muốn chạy trốn. Một mình em lững thững ra vườn để được ngắm nhìn vẻ tàn tạ của hoàng hôn và để được những luồng gió biển chạy vào trong tóc. Khu vườn nhà em bây giờ trông có vẻ buồn bã quá. Những chiếc lá cây trong vườn đã chuyển màu xanh thẫm và những bông hoa thì ủ rũ không mỉm cười đòi "bắt bồ" với em như vào lúc sáng sớm nữa. Tất cả đều mang một vẻ buồn ngủ và trên khuôn mặt hình như còn lộ vẻ luyến tiếc một buổi chiều thật đẹp ở miền biển. Từ khu vườn em đi dần ra bãi biển, những gót chân của em in dài trên bãi cát mà không sợ bị ai xóa nhòa hết. Vì giờ này mọi người đều không thích ra biển đâu. Họ còn bận ngôi xung quanh một chiếc bàn tròn trong khu vườn để kể cho nhau nghe những điều vui buồn trong một ngày ở bãi biển. Cũng có người mơ mộng lắm cơ. Họ không nói chuyện mà chỉ ngồi im, đôi mắt thì xa xăm nhìn lên bầu trời. Em chắc rằng họ đang nghĩ dến một người thân yêu nào đó ở phương trời xa xôi. Chắc chắn là như vậy rồi vì em thấy những người ấy đang mỉm cười. Giống như em, khi nghĩ đến những người thân yêu em cũng hay mỉm cười và đôi mắt xa xăm nữa. Bãi biển bây giờ vắng lặng. Chỉ có gió, em và những con dã tràng nhỏ xíu. Tụi nó chạy lăng xăng trên bãi cát khiến em cảm thấy nhớ những đứa em bé bỏng của em ở nhà quá. Những đứa em của em cũng thường chạy đùa lăng xăng trên cát như những con dã tràng vậy. À em quên, ở bãi biển còn có sóng nữa chứ. Ban nãy em quên kể đến nó nên bây giờ sóng cứ chạy vào bíu chặt lấy chân em hoài. Như muốn bảo "hãy để ý đến tôi với nhé!"
 
Em ngồi trên bãi cát để nhìn ra khơi. Biển màu xanh. Mây ở trên trời cũng xanh xanh nữa. "Chắc mây và biển nó là chị em với nhau hay sao mà thường mặc áo có màu giống nhau như thế?" Đó là câu hỏi mà em Liên của em thường nhắc đến khi hai đứa em đến thăm miền biển. Bây giờ cứ nhìn màu xanh ấy mà em thấy nhớ nhà, nhớ những người thân yêu đang sống ở thành phố. Bởi vì màu xanh khiến em nghĩ đến những lá thư tha thiết và thân yêu của những người đó gửi đến cho em vào mỗi buổi sáng. Từng làn sóng ở ngoài khơi tràn vào bờ và bao bọc lấy bàn chân của em. Sóng muốn rủ em ra ngoài kia, có nhiều gió mát hơn nhưng em không thích. Bây giờ em chỉ muốn ngồi im một chút để nghĩ đến những người thân yêu. Em miên man nghĩ đến mái tóc đang xanh như một rừng cây bỗng lấm tấm những điểm trắng của bố, đến nụ cười hiền dịu như một ngọn nến của mẹ và những khuôn mặt láu lỉnh, nghịch ngợm như làn sóng của những đứa em ở nhà. Tất cả những hình ảnh đó em đều đặt tên là "tình thương", vì nó đã khiến cho lòng em cảm thấy êm dịu mỗi khi nghĩ đến. Nhưng một đôi khi "tình thương" cũng khiến em cảm thấy buồn bã nữa. Đó là khi em nghĩ rằng mái tóc của bố sẽ càng ngày càng bạc trắng, nụ cười của mẹ sẽ ngày càng yếu ớt như ngọn nến nhỏ tàn dần và những khuôn mặt láu lỉnh của các em em sẽ có ngày phải cau lại vì những buồn bực, chán nản chưa từng có trong chuỗi ngày thơ ấu. Ôi! Có gì buồn hơn nữa hay không? Khi những hình ảnh đó cứ như những nốt nhạc buồn ẩn nấp trong trái tim em và thỉnh thoảng lại rung nhẹ lên khiến cho trái tim em phải se sắt? Những lúc chợt nghe thấy những nốt nhạc buồn ấy em chỉ còn muốn khóc và nhắm mắt lại để mà ước mơ mà thôi. Vì ước mơ nó là người rất trung thành của em. Những lúc em buồn thì ước mơ hay tìm đến. Nó nhẹ nhàng dỗ dành và ngăn cản thật dịu dàng để những giọt nước mắt của em chỉ se sẽ dâng lên khóe mắt như chiếc hồ nhỏ chứa một ít nước mà không bị tràn ra ngoài một chút nào cả. Những lúc như vậy ước mơ thường thì thầm kể cho em nghe một câu chuyện thần tiên. Ở trong đó có rất nhiều hình ảnh vĩnh cửu làm cho em sung sướng. Đó là một rừng cây cứ xanh mãi, một ngọn nến không bao giờ tàn lụi theo thời gian và cả những  làn sóng chỉ biết đùa nghịch vui vẻ như một đàn bươm bướm mà không bao giờ phải trôi một cách lặng lẽ cả. Em đã cám ơn ước mơ. Vì câu chuyện thần tiên của ước mơ đã khiến em được vui vẻ. Ước mơ đã bảo với em là mái tóc của bố, nụ cười của mẹ và nét vui vẻ của các em em đều giống như những hình ảnh trong câu chuyện thần tiên mà ước mơ đã kể. Nhưng... buồn làm sao! Khi ước mơ bỏ em đi rồi thì em chỉ còn biết buồn bã và khóc mà thôi. Bởi vì em biết không bao giờ, không bao giờ mái tóc của bố, nụ cười của mẹ và nét vui vẻ của các em em có thể vĩnh cửu như những hình ảnh của ước mơ được...
 
Buổi chiều tàn dần. Những tia nắng màu hồng cuối cùng của mặt trời đã dần dần biến mất. Ông trời đã thổi xong nồi cơm chiều và sửa soạn tắt bếp để dùng bữa cơm tối. Bây giờ em phải trở về nhà thôi. Biển ở đằng sau lưng em. Gió và sóng cũng ở đằng sau, chúng tiễn chân em một quãng ngắn và hẹn hò: "chiều mai nhé!!!..."
 
 
DAISY       
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 56, ra ngày 1-11-1966)
 

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

Còn Gì Đẹp Hơn Quê Hương Ta


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tặng Bích Thy (T.V)
 
Trời bỗng đẹp trên đường quê ngập nắng
Nước reo mừng hy vọng ngát xanh sông
Vững niềm tin mạch sống lớn trên đồng
Muôn sóng lúa rải vàng thơm đất mới
 
Từ muôn nẻo sóng ngoan về phơi phới
Chở tình thương gieo rắc khắp thôn nhà 
Góp phù sa nuôi dưỡng đất ông cha
Thêm sức sống cho bao người chất phác
 
Dân rộn rã rải thuyền đông biển mát
Cá tôm hiền nhóm hội lưới xôn xao
Chợ vừa khai mở rộng cánh tay chào
Xe hớn hở ra vào nươm nướp khách
 
Cây chĩu nặng trái lành in bóng lạch
Chim thanh bình nhí nhảnh hót thương yêu
Trời trong veo lơ lửng mấy con diều
Em bé nhẩy tim hồng reo hạnh phúc
 
Ngôi trường nhỏ mỗi ngày thêm đông đúc
Tiếng đọc bài lảnh lót khắp môi xinh
Các em ngoan mê mẩn sách thơm tình
Chăm gắng học dõi gương hùng lịch sử
 
Chim dân tộc thả tin mừng khắp xứ
Ngày quê hương trỗi dậy phất cao cờ
Bà mẹ già đôi mắt mở hiền mơ
Ra trước cửa đón chờ con trở lại
 
Khói xưởng máy chẳng còn nghe ái ngại
Quyện niềm tin cao mãi tận mây xanh
Vườn thêm hoa cây cỏ hát yên lành
Thơ mộng quá quê hương mình bất diệt.
 
                                                   THẬP CẨM
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 115, ra ngày 30-11-1973)
 

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2025

Jenner và Phương Pháp Chủng Đậu


Bệnh đậu mùa gây nên bởi một loại cực vi khuẩn hình hộp, phát ra khắp ngoài da tạo thành những nhọt có mủ. Bệnh đậu mùa truyền nhiễm, làm hại không riêng gì trẻ em mà cả người lớn và người già đều có thể chết vì bệnh này. Có hai thể bệnh:
 
- THỂ BỆNH NẶNG : nhọt mọc ở cả phổi, gan ruột ; khi nhọt bắt đầu vỡ mủ, cơn sốt nổi lên kịch liệt, người bệnh bị trúng độc, ngạt thở rồi chết.
 
- THỂ BỆNH NHẸ : đến ngày thứ 19, người bệnh bớt dần và nhọt bắt đầu vỡ mủ, dẹp đi, đóng vảy rồi vài ngày sau, vảy bóng dần để lộ ra nhiều vết sẹo.
 
Ngày nay, đối với chúng ta, bệnh đậu mùa không còn đáng sợ ; nhưng, cách non một thế kỷ trước, chứng bệnh truyền nhiễm này đã gây nên những thảm trạng kinh khủng. Đa số bệnh nhân đều chết, một số ít thoát nạn thì lại mang chứng tích trên khuôn mặt đầy sẹo, rỗ chằng rỗ chịt.
 
Hồi thế kỷ thứ XVI, ở Âu Châu có 6 trận dịch đậu mùa lớn. Mỗi năm, hơn năm trăm ngàn người chết vì chứng bệnh quái ác này. Chỉ cần đụng chạm vào quần áo hoặc tay chân của người mắc bệnh là bị truyền nhiễm tức thì.
 
Tuy nhiên, từ thời xa xưa, người ta cũng đã từng nhận xét rằng, một người sau khi may mắn lành khỏi chứng bệnh hiểm nghèo này sẽ không bao giờ mắc lại nữa. Người đó đã có tính miễn nhiễm trong cơ thể. Và người ta nghĩ rằng có lẽ những người may mắn thoát chết là những người chỉ mắc một loại bệnh đậu mùa nhẹ. Như vậy chỉ cần để cho nhiễm dịch bởi những "con bệnh nhẹ" ấy là chắc chắn suốt đời chẳng lo mắc bệnh đậu mùa nữa. Chính người Trung Hoa, đầu tiên, từ thế kỷ thứ 6 đã áp dụng biện pháp nhiễm dịch này. Họ cho trẻ con mặc quần áo của những người mắc bệnh đậu mùa nhẹ. Phương pháp này truyền bá sang Âu Châu và được thực hành nhiều nhất hồi đầu thế kỷ thứ XVIII. Một vị y sĩ danh tiếng người Ý, ông Antonio Vallisneri đã từng viết, năm 1726:
 
"Người ta mua đậu mùa ở khắp xứ Lombardie ; với một đồng quatrain (đơn vị tiền tệ thời bấy giờ) trẻ em có thể sờ tay một người bệnh và như vậy sẽ được miễn nhiễm suốt đời"
 
Về sau, các vị y sĩ đích thân đảm nhiệm công tác "cấy đậu" cho dân chúng bằng chính chất mủ lấy trong các mụn nhọt của những người đang mắc bệnh đậu mùa. Thoạt đầu, phương pháp này được mọi người hưởng ứng, nhưng càng ngày càng tỏ ra vô hiệu : trên 300 người, ít nhất có 4 người chết. Những người khác không khỏi hoàn toàn ; tinh độc còn trong máu, bệnh đậu mùa tái phát và bệnh nhân chết.
 
Mãi đến cuối thế kỷ 18, Edouard Jenner, một y sĩ hương thôn ở một làng nọ bên Anh Cát Lợi, được các nông dân cho biết nhiều người trong bọn họ đã mắc bệnh đậu mùa và đã khỏi chỉ trong vòng vài ngày. Họ còn xác nhận là đã lây bệnh từ những con cái của họ. Jenner để tâm nghiên cứu và khám phá rằng bò cái có thể mắc một bệnh đậu tương tự như bệnh đậu mùa của người. Bệnh "đậu bò" này cũng phát hiện ra ngoài da con vật những nhọt nhỏ đầy mủ. Sau nhiều lần quan sát, ông nhận xét rằng những nông dân lây bệnh "đậu bò" chỉ mắc bệnh rất nhẹ và các nốt đậu không để lại sẹo. Không còn nghi ngờ gì nữa : quả thực chứng bệnh "đậu bò" không làm chết người. Nhưng không hiểu một khi đã nhiễm bệnh "đậu bò", người ta có thể được miễn nhiễm khỏi bệnh "đậu mùa" không?
 
Edouard Jenner bèn thực hiện một thí nghiệm táo bạo ngày 14-5-1796. Ông chủng vào cánh tay một đứa bé nhà quê chất mủ lấy trong mụn đậu của bò cái, sau vài ngày ông chủng tiếp cho nó chất mủ đậu mùa của người. Jenner hồi hộp và lo sợ chờ đợi kết quả. Không biết cuộc thí nghiệm liều li4ng chảu ông có làm thiệt mạng đứa trẻ không? May mắn thay, cậu bé không những không phát bệnh mà lại được miễn nhiễm luôn khỏi bệnh đậu mùa nữa.
 

Vấn đề đã sáng tỏ : Chủng "đậu bò" cho người, có thể phòng ngừa cho người thoát khỏi mắc bệnh "đậu mùa" được.
 
Chứng bệnh nguy hiểm và truyền nhiễm đã bị đánh bại. Từ đó về sau, phương pháp "trực tiếp nhiễm dịch" được thay thế bằng phương pháp "chủng đậu" của y sĩ Jenner. Phương pháp này truyền bá rất mau lẹ trên thế giới. Chính Hoàng đế Nã Phá Luân Đệ I, khi được biết kết quả của phát minh lớn lao này, đã cho chủng đậu cho chính Hoàng Nam của ngài và ra lệnh thiết lập 26 trung tâm chủng ngừa đậu mùa trong toàn quốc.
 
Năm 1800, quận công De La Roche foucault Liancourt phổ biến phương pháp này vào nước Pháp. Năm 1801 ở Luân Đôn, hơn 10.000 người được chủng đâu. Năm 1903, Vua xứ Tây Ban Nha ra lệnh cưỡng bách chủng đậu cho dân chúng.
 
CHẾ THUỐC CHỦNG ĐẬU NHƯ THẾ NÀO?
 
Bây giờ các em nên biết qua phương thức điều chế thuốc chủng, cách chủng và công hiệu của sự chủng ngừa bệnh đậu mùa như thế nào.
 
Muốn có thuốc chủng, người ta cạo sạch lông sườn một con bê lành mạnh, rồi rạch nhẹ vào da hàng trăm nhát nhỏ để bôi mủ đậu bò vào đó. Bốn ngày sau, các nhọt mọc lên rồi mưng mủ. Người ta cạo lấy mủ và vảy nghiền nhỏ ra, thêm glycerol vào để vi khuẩn khác không sinh sản được. Đoạn cho nước ấy vào ống thủy tinh đã tiệt trùng trước, hàn cẩn thận để thuốc chủng khỏi hỏng.
 
Trước khi chủng phải sát trùng da cánh tay hay đùi. Dùng một ngòi chủng đặc biệt, lấy một ít thuốc vào ngòi rồi khía một vài nhát nhẹ vào da cho khỏi chảy máu. Chủng xong mà đậu lên thì thấy nhọt mọc, mưng mủ rồi đóng vảy. 21 ngày sau, vảy bong để lại vết sẹo trắng.
 
Chủng được 8 ngày, cơ thể mới có tính miễn nhiễm, có thể lâu tới 10 năm.
 
Tới bán thế kỷ thứ 19, việc chủng đậu bị bắt buộc thi hành khắp các xứ văn minh trên thế giới.
 
Các em thiếu nhi thân mến.
 
Đã đọc qua "lịch sử" của phương pháp chủng đậu, hãy cùng nhân loại nhớ ơn cha đẻ ra phương pháp này: Y sĩ Edouard Jennr (1749-1823) người Anh Cát Lợi.
 
 
Giáo Sư NGÔ HƯNG ĐAN      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 16, ra ngày 29-11-1971)
 
  

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2025

Hình Như Mùa Đông Đã Về

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hình như mùa đông đã về 
Mưa lất phất bay ngoài phố
Đèn đường võ vàng cuối ngõ
Sương mù nhẹ từng hơi thở

Hình như mùa đông về rồi
Từng cơn rét ngọt tinh khôi
Lá úa rã rời từng cánh
Điếu thuốc nghe đắng đầu môi

Hình như mùa đông vừa sang
Nên lòng chợt nghe bàng hoàng
Giáo đường chiều buông chầm chậm
Tiếng chuông ngân trong hôn hoàng

Hình như mùa đông đã về 
Gót chân ai trên gác nhỏ
Đâu đây thoảng hương dạ lý
Nhớ hoa cài mái tóc thề

Hình như mùa đông lại đến
Có chàng thi sĩ xao xuyến
Viết vội vàng vào tập thơ
Một câu chuyện tình vu vơ

Hình như mùa đông lại sang
Có chàng nghệ sĩ phong sương
Áo bạc màu trên phố vắng
Nghe gió đông sầu mênh mang...

                         Trần Thị Phương Lan 
                         (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2025

Vụ Đắm Tàu Birkenhead


Những lúc gặp nguy hiểm trên biển cả, các nhà hàng hải Anh Cát Lợi thường nhủ thầm với nhau: "Hãy nhớ lấy vụ Birkenhead!" Họ biết được câu chuyện dũng cảm này khi con tàu chở lính danh tiếng Birkenhead gặp nạn vào năm 1852. Chuyện Birkenhead đã trấn an họ trong những lúc lo âu và thường giúp họ biết cách tự chủ để thoát hiểm. Cũng có lúc nó đã đưa họ đến cái chết thật anh dũng.
 
Người ta còn nhớ, vào ngày 28-3-1954, một cuộc cấp cứu vĩ đại trong lịch sử hàng hải đã giúp hàng trăm người thoát cảnh chết chóc. Trước 7 giờ sáng hôm đó, con tầu chở lính Impire Windrush của Anh Cát Lợi đang lướt sóng trong Địa Trung Hải cách bờ bể Phi Châu 50 dặm, hành khách trên tàu đã thình lình thấy con tàu rùng mạnh và chồm tới. Khói đen bắt đầu bốc lên, một âm thanh rùng rợn phát ra từ lòng tầu.
 
Cháy trên biển
 
Một thủy thủ ở phía dưới hấp tấp chạy lên boong tầu, tóc tai, lông mi, lông mày mất sạch, mặt mũi đen xì, một bên má loét ra dễ sợ, anh ta hét: "Cháy! Phòng chứa nồi súp de bị nổ!" Nói đoạn, anh ta lăn đùng ra chết. Ba thủy thủ khác cũng đã chết trong phòng nầy. Lửa tràn lan dữ dội ; chỉ trong ít phút, phần giữa con tầu đã biến thành một lò lửa vĩ đại.
 
Các sĩ quan và thủy thủ đoàn đã hành động mau lẹ. Họ cố dập tắt ngọn lửa, vài sĩ quan chạy vội lên boong để trấn an hành khách. Sau khi thấy không còn ngăn chặn nổi ngọn lửa nữa, Đại úy William Wilson ra lệnh bỏ tầu. Mọi người đều biết cái chết đã kề bên vì một số thuyền cấp cứu đã bị thiêu rụi mà trên tầu lại đông người. Nó chở những viên chức phục vụ tại Viễn Đông nay hoặc đã mãn nhiệm kỳ, hoặc được lệnh về quê nghỉ phép. Nhiều người mang theo cả gia đình. Có tất cả 1515 người trên tầu, trong số đó có 125 đàn bà, 87 trẻ em và 17 người đau ốm. Vậy mà chỉ có 12 chiếc thuyền cấp cứu, mỗi chiếc chỉ có thể chở được từ 49 đến 100 người. Rõ ràng là thiếu chỗ, nhưng không ai tỏ ra khiếp sợ và không một người nào tranh xuống thuyền.
 
Với giọng bình tĩnh qua loa phóng thanh, Đại tá chỉ huy đoàn quân ở trên tầu ra lệnh cho binh sĩ của ông áp dụng "kỷ luật Birkenhead". Theo kỷ luật này, tất cả đàn ông trên tầu phải lên boong xếp hàng ngay ngắn, không ai được nhúc nhích cho đến khi có lệnh mới. Cũng nên biết rằng chỉ khi nào phải bỏ tầu, người ta mới sử dụng từ ngữ này. Nó đòi hỏi tất cả các bậc mày râu đứng trước bất cứ nguy hiểm nào, cũng phải đứng nghiêm bất động trong khi đàn bà con trẻ được tập trung xuống thuyền cấp cứu.
 
Xuống thuyền
 
Các bậc tu mi nam tử trên con tầu Empire Windrush đã lấy chuyện Birkenhead làm phương châm hành động. Những nhân viên thuộc thủy thủ đoàn, mặc dầu khói than mù mịt, vẫn ở lại làm việc tại chỗ, trong khi các hành khách quân nhân lặng lẽ xếp hàng trên boong tầu cùng với các sĩ quan. Đàn bà trẻ con được đưa xuống thuyền cấp cứu. Chồng, cha của họ đứng trong hàng cởi hết áo ngoài ra ném xuống thuyền để họ mặc cho ấm nếu tầu cấp cứu đến trễ.
 
Khoảng 7 giờ 20 phút, tất cả đàn bà trẻ con và các người đau yếu đã xuống thuyền hết. Ngọn lửa bây giờ đã lên đến cực độ. Kính tại các cửa sổ của tầu nổ lách tách. Thuyền cấp cứu chỉ còn dư một ít chỗ. Theo lệnh của Đại tá Scott, các sĩ quan lựa ngay những binh sĩ trẻ tuổi rồi ra lệnh cho họ xuống những thuyền cuối cùng này. Trong số những người còn lại, nếu chỉ một người xô tới thuyền cũng đủ khiến nhiều người khác làm theo, nhưng không ai đã làm như vậy. Vì không có sự hỗn loạn nên tất cả thuyền cấp cứu đã được hạ thủy bình yên, không có cái nào bị lật mặc dầu hành khách xuống thuyền đều rất kinh hoàng.
 
Khi con thuyền sau chót được hạ thủy vào lúc 7 giờ 32 phút, 300 viên chức và nhân viên thủy thủ còn lại trên tầu không hề nao núng. Bộ đồng phục của Đại úy Wilson đã rách tả tơi, giầy của ông ta đã bị cháy xém đến tận chân. Nhưng ông ta vẫn chạy khắp tầu, lục lọi mọi nơi mọi chốn để biết chắc rằng không còn sót một người nào ở dưới tầu nữa mới thôi. Rồi ông điều khiển các thủy thủ thâu lượm các thùng, các miếng ván và bất cứ thứ gì nổi được trên mặt nước thì ném xuống biển để lát nữa thủy thủ và binh sĩ có cái mà bám vào.
 
Bỏ tầu
 
Đại tá Scott ra lệnh chót cho binh sĩ của ông : "Hãy bỏ giày và áo ngoài ra, và hãy rời tầu, nhưng không được bơi tới thuyền cấp cứu!". Binh sĩ của ông liền nhảy xuống biển trong khi lửa đã bén chân họ. Không thấy một con tầu nào khác, không ai biết đến bao giờ họ mới được cứu lên. Một người đầu bếp đã bị phỏng nặng ở mặt và cháy gần hết tóc, vẫn tiếp tục lượm những ghế tựa trên boong tầu quẳng xuống biển để làm phao cho những người ở dưới nước. Làm xong, ông ta lao mình xuống nước. Đại tá Scott và Đại úy Wilson cũng nhảy theo. Đó là những người cuối cùng rời bỏ con tầu.
 
Thành tích cuối cùng
 
Những thuyền cấp cứu nặng nề còn cách họ một khoảng ngắn đầy cám dỗ. Phần lớn những người ở dưới nước đều có thể bơi tới những thuyền này một cách dễ dàng. Nhưng họ đã tuân theo mệnh lệnh, vẫn giữ khoảng cách và cố bám vào bất cứ vật nào nổi mà họ vớ được. Có người còn chống đỡ dùm cho những người không biết bơi nữa. Về sau Đại úy Wilson thuật lại: "Không hề có một dấu hiệu hoảng hốt, kỷ luật thật phi thường!"
 
Đến 8 giờ 15, những người trên thuyền đều thấy vui mừng : một tầu chở hàng đã hiện ra ở phía chân trời, đang tiến tới cứu họ. Trong vòng nửa giờ, có ba tầu nữa xuất hiện. Những người đang bơi được vớt lên thật cẩn thận. Cuộc cấp cứu đã hoàn tất vào lúc 10 giờ 15 phút. Sau đó, xác con tầu Empire Winrush đỏ rực cũng chìm lỉm.
 
Kỷ luật cổ truyền
 
Không mất một người nào ngoại trừ bốn người bị chết do tiếng nổ lúc ban đầu. Kỷ luật Birkenhead đã được triệt để đề cao. Trong nhiều tai nạn khác xẩy ra trên mặt biển, người ta cũng đã noi theo thứ kỷ luật hào hùng này. Khi con tầu Cộng Hòa của người Anh gặp nạn trong một đêm tối trời năm 1909, người ta đã làm sống dậy truyền thống Birkenhead. Đàn bà và trẻ con được đưa xuống các thuyền cấp cứu, sau đó đến những người bị thương tích và đau yếu, rồi những nam hành khách, sau cùng mới tới chính thủy thủ đoàn.
 
Năm 1913 con tàu chở hàng Zemplemore của người Anh đã phát hỏa ở phía đông bờ bể Virginia 800 dặm. Hàng ở trên tàu đều là dầu, gỗ và bông đã bắt lửa và cháy thật khủng khiếp. Vậy mà tất cả thuyền cấp cứu đã được hạ thủy an toàn. Bốn giờ sau, một tàu cấp cứu đến và thủy thủ đoàn được vớt lên hết không sót một ai.
 
Trường hợp lừng danh là chiếc Titanic bị vỡ đôi khi đâm phải băng đảo tại Bắc Đại Tây Dương. Hàng ngàn người trên con tàu lộng lẫy của người Anh này đều biết là chết tới nơi rồi. Vậy mà họ vẫn tuân theo luật "Ưu tiên cho đàn bà con trẻ".
 
Những nhân vật quan trọng trên thế giới đã lùi lại nhường bước cho các nữ du khách xuống thuyền cấp cứu. 37 kỹ sư trông nom nồi súp de và phòng máy đã chết một cách hiên ngang. Tám nhạc sĩ đã vẫn ở lại trên boong cử lên những bài thánh ca. Tất cả đều chết hết. 
 
Đàn ông trên những con tàu này cũng như những tàu khác đã hành động theo truyền thống kỷ luật và lòng can đảm mà con tàu Birkenhead đã tạo dựng nên. Dân Anh sẽ không bao giờ quên được con tàu danh tiếng ấy.
 
Chuyện con tàu Birkenhead
 
Vào lúc 2 giờ sáng, con tàu Birkenhead đang trên đường chuyển vận binh sĩ và gia đình họ tới Nam Phi thì đâm phải một tảng đá cách Capetown 40 dặm. Mười phút sau, trong khi người trên tàu sợ hãi kéo lên boong thì con tàu lại bị đụng vào đá một lần nữa rồi bị xẻ làm hai. Phần trước chìm xuống nhưng mọi người đều kịp di chuyển sang phần sau của con tàu. Trong số 630 người ở trên tàu, có 170 người là đàn bà và con nít. Lính trên tàu đều là tân binh, một số sĩ quan còn trẻ. Ba thuyền cấp cứu được hạ xuống, mỗi thuyền chỉ chứa được 60 người.
 
Con tàu đang vỡ ra từng mảnh và chỉ còn dăm ba phút nữa là chìm. Đứng trước cái chết đang cầm chắc trong tay - vì nước đang ập vào tàu và biển đầy cá kình - nhưng không một ai đã lo giành thuyền cấp cứu cho mình. Viên Tư lệnh quân đội, Đại tá Sidney ra lệnh cho đàn ông tập họp trên boong tàu. Hàng trăm binh sĩ lặng lẽ chấp nhận số phận. Họ sắp hàng dưới ánh đuốc trong khi vợ con họ được đưa xuống thuyền cấp cứu.
 
Khi con thuyền cuối cùng đã đi xa, người trên thuyền còn nhìn thấy những hàng áo đỏ của các binh sĩ vẫn còn đứng hiên ngang trên boong tàu. Thủy thủ đoàn cùng đứng chung với những binh sĩ này. Tàu chìm xuống tất cả vẫn đứng nghiêm mặc cho nước dâng lên quá đầu. Khi con tàu đã chìm sâu dưới nước, vài người cố vùng vẫy trên mặt bể và bám vào những mảnh vụn của con tàu. Đến trưa, một tàu cấp cứu đã đến vớt họ lên, nhưng trước đó, 436 người đã chết. Trong số này có Đại tá Sidney, ông đã bám được vào một miếng ván, nhưng khi trông thấy hai anh thợ máy đang ngắc ngoải chìm xuống, ông liền choải miếng ván lại phía họ. Khi nhận thấy miếng ván không thể đỡ hết cả ba người, ông liền buông tay ra và chìm xuống. Theo lời kể lại của Đại úy John Wright, một sĩ quan sống sót, thì kỷ luật thật tuyệt vời, lệnh ban ra mọi người răm rắp theo, không một tiếng xì xào.
 
Hồi chưa xẩy ra vụ Birkenhead, mỗi khi có tàu nào gặp nạn, người ta thường "phận ai nấy lo". Kẻ mạnh tìm cách giành lấy thuyền cấp cứu, còn đàn bà con trẻ bị mặc kệ cho chết. Cái truyền thống "ưu tiên cho đàn bà con trẻ" đã được con tàu chở lính danh tiếng năm 1852 làm cho bất diệt. Truyền thống này đã cứu sống không biết bao nhiêu nhân mạng. Trong vụ cháy tàu Empire Windrush khủng khiếp vào tháng 3 năm 1954, nó đã cứu 1.511 người nữa.
 
 
VĂN TRUNG             
(Phỏng theo Keith Monroe)   
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 64, ra ngày 12-11-1972)
 

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2025

Chớ Nên Kiêu Ngạo


Thói thường, hễ tuổi trẻ mà đã tài cao thì sẽ sinh kiêu ngạo. Xưa ông Lê Quí Đôn là một người cực kỳ thông minh, nổi tiếng là thần đồng. Nhưng ông cũng kiêu ngạo vô cùng. Những giai thoại về tật kiêu ngạo của ông nhiều lắm, và cũng vì cái tật đó mà ông làm mất lòng nhiều người. Nhưng ông cũng đã được lãnh hội những bài học tỉnh người.
 
Năm mới 19 tuổi, ông đã đậu Bảng Nhãn, nên càng kiêu ngạo hơn lên. Ông nghĩ rằng trên đời chẳng ai bằng được mình, bèn dựng một tấm bảng để mấy chữ "Thiên hạ nghi nhất tự lai vấn" nghĩa là "có ai thắc mắc về chữ gì thì đến mà hỏi".
 
Khi cụ thân sinh ông qua đời, đang lúc tang ma trọng thể, thì có một cụ già ung dung đến viếng, tự xưng là bạn cố tri của thân sinh ông. Hỏi danh tánh, cụ chỉ nói:
 
- Cháu ít tuổi không biết. Bác là bạn học với cha cháu khi xưa, nhưng công danh lận đận, nhà thì nghèo, đường thì xa, nên ít khi tới thăm cha cháu được. Nay nghe tin cha cháu tạ thế, bác có đôi câu đối khóc bạn. Cháu lấy giấy bút ra bác đọc cho mà viết.
 
Ông Lê Quí Đôn lấy giấy bút. Cụ già mới dọc:
 
- Chi...
 
Ông Lê Quí Đôn còn đang ngập ngừng vì chưa biết viết chữ chi nào. Chữ nho thường chỉ một âm mà nhiều nghĩa, nếu đọc cả câu, thì ông mới biết là dùng chữ với nghĩa nào, và sẽ viết được ngay. Nay vì mới có một chữ chi, nên ông còn đang ngần ngại, không biết nên viết chữ "tri" là "biết" hay "chi" là "chưng". Đang băn khoăn thì ông cụ lại đọc thêm:
 
- Chi...
 
Ông mới đành hỏi:
 
- Thưa cụ, chữ "chi" nào ạ?
 
Cụ già thở dài:
 
- Chết nỗi! Cháu đã đỗ Bảng Nhãn mà có chữ "chi" cũng không biết viết! Thế lỡ có ai thắc mắc, đến hỏi cháu chữ này thì cháu viết làm sao được.
 
Đoạn ông cụ đọc luôn hai vế:
 
- "Chi chi tam thập niên dư, Xích huyện Hồng châu kim thương tại.
- Tại tại sổ thiên lý ngoại. Đào hoa Lưu thủy tử hà chi?"
 
Nghĩa là:
 
- Thấm thoát hơn ba chục năm, Xích huyện Hồng châu nay còn đó.
- Hỡi ơi ngoài xa nghìn dặm, Đào hoa Lưu thủy bác về đâu?
 
Câu đối rất hay, Lê Quí Đôn và các quan đều giật mình. Ông cụ phủ phục xuống trước quan tài mà khóc rống lên:
 
- Ới anh ơi! Anh bỏ con anh mà đi, con anh nó đỗ đến Bảng Nhãn mà có chữ chi là chưng nó cũng không biết, có khổ không anh ơi!
 
Khóc chán rối đứng dậy bỏ đi, để mặc ông Lê Quí Đôn mặt mày xám ngoét bên cạnh các vị đại khoa đang còn ngơ ngác.
 
Nhưng, sau hôm đó, thì tấm biển tỏ thái độ coi người bằng nửa con mắt được triệt hạ luôn, không thấy đâu nữa. 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 109, ra ngày 28-9-1973)
 

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2025

Nhớ Hoài Thầy Xưa


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Theo năm tháng con dần dà khôn lớn
Trong khi thầy cằn cỗi thêm lên
Bao lời giảng bấy nhiêu lời ngà ngọc
Vun bón cho hồn con lớn khôn
 
Rồi sau sáu năm trời khổ nhọc
Con xa thầy đến học trường xa
Ngày chồng chất lòng nhớ chẳng phôi pha
Thương thầy quá thầy ơi thầy có biết
 
Đêm từng đêm con nhớ ngày ly biệt
Dáng khom khom thầy tiễn con đi
Con đau xót rơi lệ bước chân đi
Ôi thương quá lòng thầy như biển rộng
 
Đã dạy con lại còn lo lắng
Yêu thương con như thể mẹ cha già
Ôi lòng thầy thật quá bao la
Con nhớ mãi hình thầy trong tâm tưởng.
 
                                                     YÊN ĐĂNG
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 109, ra ngày 28-9-1973)
 

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2025

Nắng Nhạt Đầu Đông

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Có phải mùa sang đông
Cơn gió khuya lạnh lùng 
Ánh đèn qua khe cửa
Sưởi ấm chút đông phong

Có phải mùa sang đông
Tạt lá khô một phía
Xạc xào lá kêu khẽ
Nhuộm tím phố đông về

Có phải mùa sang đông
Tìm đâu cánh đào hồng
Trên má ai e ấp
Người phiêu lãng buồn không 

Có phải mùa sang đông
Chuông giáo đường ngân tiếng
Giọt sương sầu quyến luyến 
Rớt xuống bờ vai mềm

Có phải mùa sang đông
Cô đơn niềm chăn chiếu
Bàn tay nào nắm níu
Chút dĩ vãng thương đau

Có phải mùa sang đông
Trên phố khuya ngập ngừng 
Ghế công viên giá lạnh
Hương khuya dâng ngập lòng...

                                               TTPL


Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

Phải Học trước Đã


13 giờ thứ bảy 22/2...
 
Còn ba mươi phút nữa mới tới giờ đi học, dư sức để mình thảo sẵn chương trình đi chơi ngày mai, ngày chúa nhật, một ngày xả hơi của mình hôm qua.
 
Hồi chiều hôm qua tụi thằng Thành, thằng Dũng đề nghị đi Sở Thú nhưng mình không đồng ý, vì mình định sẽ thảo một chương trình du hí thật mới lạ, thật hấp dẫn...
 
Lại bị chị Ba kêu! Sao lúc nào mình cũng không yên với cái miệng như ống loa của chỉ vậy hổng biết! Chỉ hỏi sao mình còn để cuốn tập Vạn Vật ở ngoài đó. Cuốn tập Vạn Vật? Sao mình lại để ở ngoài đó???... À! Phải rồi! Hồi tối mình đem tập Vạn Vật ra định học liền bị cúp điện, mẹ không cho mình học bằng đèn dầu sợ mắt mình sẽ yếu đi, người bảo để sáng nay hãy học. Và... Chết chưa! Sáng nay mình theo chị Hai về thăm nội gần 12 giờ mới về. Thành thử bài Vạn Vật đến giờ nầy mình vẫn chưa thuộc. Rồi bây giờ... Sắp đi học rồi! Bài Vạn Vật... chắc dễ thuộc! Mình lấy dò sơ cho biết đại khái, khi trả bài mình tán thêm!... Ối lo gì! Tháng nầy mình hạng nhất mà! Lỡ một bài Vạn Vật có sao. Mà chắc gì thầy Vạn Vật kêu mình! Khéo lo! Cứ tỉnh bơ đi học thử coi có sao không?
 
20 giờ, thứ bảy 22/2...
 
Phải ghi lại chuyện hồi chiều mới được. Một kỷ niệm mình sẽ ghi nhớ suốt đời học sinh của mình. Lần đầu tiên và có lẽ cũng là lần cuối mình thưởng thức trọn vẹn "hỉ, nộ, ái, ố" của tâm trạng một đứa học trò lười biếng không học bài.
 
Mình đã sống những phút lo âu sợ sệt của giờ đầu và hồi hộp run sợ khi đến giờ Vạn Vật. Dù 10 phút ra chơi mình có ngồi lại để dò bài, nhưng những phút đó càng làm nỗi lo sợ trong lòng mình cuống lên chứ chả ích lợi gì.
 
Hôm nay rủi cho mình, khi không ông thầy Vạn Vật lại nổi hứng tuyên bố một câu nghe nẩy lửa: 
 
- Bài Vạn Vật hôm nay ngắn rất dễ thuộc, nhưng có em nào lỡ quên học bài cứ giơ tay tôi xem cho biết, tôi sẽ không gọi cả lớp trả bài hôm nay!
 
Nghe qua mấy lời tuyên bố nẩy lửa đó trái tim mình đánh lô tô trong ngực. Mình quay trái quay phải nhìn cả lớp thật nhanh xem có ai đưa tay lên không hòng tính phần mình. Nhưng ác hại, cả lớp đều ngồi im, mình cũng vội vòng tay lên bàn ngồi im thin thít.
 
Không hiểu tụi nó có đứa nào quên học bài như mình không mà thầy Vạn Vật hỏi thêm hai lần nữa vẫn không có ai nhúc nhích gì cả, làm thầy Vận Vật giận nên quyết định gọi tượng trưng 2 người trả bài, nếu có ai không thuộc sẽ bị phạt tối đa. Nghe vậy mình càng sợ quýnh lên không biết có nên thú thật việc mình quên học bài hay cứ ngồi im phó cho sự may rủi. Đắn đo suy tính mất mất phút, cuối cùng mình đành im lặng ngồi nín thở nhìn theo đầu bút của thầy rà tới rà lui trên sổ. Và mình tưởng chừng ngạt thở khi đầu bút của thầy dừng lại. Nhưng mình thở ra cái khì thật mạnh sau tiếng thầy gọi Hạnh. Vậy là coi như thoát nạn 90% rồi, còn 10% mỏng manh nữa.
 
Thằng Hanh thuộc bài nên nghe kêu nó mừng rỡ cầm tập chạy lên bàn thầy thật nhanh và đọc làu làu không vấp một chữ. Mình ngồi nhìn cái miệng đọc bài lia lịa của nó mà nghe tức làm sao. Bài dễ thật. Phải lúc chưa đi học còn bình tĩnh mình dò sơ cũng có thể thuộc. Thằng Hạnh đọc bài xong thầy khen giỏi rồi gọi: Hải!
 
Mình giật bắn người như bị điện giựt khi nghe thầy gọi ngay tên mình và sững sờ mất mấy phút mới uể oải cầm tập đứng dậy kéo lê gót nặng nề bước lên bàn thầy.
 
Thấy vả mặt thiểu não của mình thầy biết rồi nên mỉm cười hỏi trêu:
 
- Hải không thuộc bài?
 
Lúc đó lưỡi mình đã líu lại nên không sao thốt được ra lời. Mình chỉ còn biết nhìn thầy với ánh mắt van xin thầy tha lỗi. Nhưng vẻ mặt thầy Vạn Vật lúc đó lạnh như tiền và thầy gằn từng tiếng:
 
- Không học bài! "Zê Rô! Còng Sinh"!
 
"Zê Rô! Còng Sinh!" Hai hình phạt thật hãi hùng. Vừa nghe qua tai mình đã ù, mắt đã hoa lên, tim đập loạn xạ trong lồng ngực và mình không còn biết gì nữa cả. Đến mấy phút sau khi nghe tiếng thầy Vạn Vật đuổi về chỗ ngồi mình mới hoàn hồn, vội cầm tập lách bàn đi nhanh về chỗ ngồi để khỏi nghe thấy những lời bàn tán hay chế nhạo của tụi bạn. Vậy mà mình vẫn nghe được tiếng của thằng Lam và thằng Hùng nói với nhau:
 
- Thằng Hải bị "Còng Sinh" đáng hén mậy?
 
- Ờ! Ỷ học giỏi rồi làm phách hổng học bài. Bị phạt một lần cho nó hết kênh cái mặt thấy ghét...
 
Nên về đến chỗ mình ngồi trân người không nhúc nhích được vì xấu hổ cứng cả chân tay.
 
Đến bây giờ ngồi nghĩ lại mình vẫn còn nghe sượng sùng làm sao "Zê Rô! Còng Sinh!".
 
Vậy là tháng nầy hạng của mình sẽ xuống! Mình phải nói sao với cha mẹ về con "Zê Rô" đó?
 
Rồi ngày mai? Chúa nhật! Mình phải tập làm đứa học trò hư! Phải giấu cuốn tập trong bụng trước khi ra khỏi nhà. Phải nói dối cha mẹ. Chỉ nghĩ đến thôi sao mình đã nghe xấu hổ quá chừng!
 
Cũng tại chưa gì mình đã quên chuyện học rồi. Đã nghĩ đến chuyện du hí du thực cho ngày nghỉ.
 
Giờ mình quyết định : PHẢI HỌC TRƯỚC ĐÃ!
 
 
THƯƠNG NGỌC HẢI        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 65, ra ngày 19-11-1972)
 
 

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

Chủ Nhật Hồng


Tiếng gâu... gâu của Lulu ngoài sân và... tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả quít bên giường đủ để đánh thức Mi Mi, cô bé giật mình nhổm dậy tung chăn.
 
- Chết, trễ giờ học.
 
Rôi nhanh như chim MiMi "bay" xuống cầu thang. Một... hai... năm... Ái! Không may cho MiMi, trong lúc "nhanh tay nhanh chân" đã đâm phải anh Côn đang "tơn tơn" đi lên. Cả hai xuýt xoa ; anh Côn trố mắt:
 
- Trời ơi, dập cái lỗ mũi tao rồi, ai rượt mày?
 
- Trễ giờ học của em rồi... hic... (vừa tức vừa đau)
 
- Ơ... chủ nhật... 3-10.
 
- Ơ... ơ... ơ...
 
Thế là câu chuyện "lỡ tầu" của MiMi được đem ra làm để tài "sôi nổi" trong bữa điểm tâm. Chỉ tội cho MiMi, cô bé xấu hổ cắm đầu ăn mãi không nói lời nào.
 
Anh Côn được dịp "khai thác tù binh":
 
- Này nhé, bài toán số học chưa làm, tối xem TV 9 giờ rưỡi... 
 
Chị Châu chen vô:
 
- Và... vào mùng còn bắt tui kể Lỗ Bình Sơn nữa. MiMi - sáng chủ nhật dậy muộn... đi học cơ.
 
MiMi nóng bừng cả tai và... nước mắt trào ra tức tưởi. Anh Côn và chị Châu sợ quá không nói nữa. Thấy vậy ba ôn tồn:
 
- Thôi đừng chọc em nữa, dễ lần này MiMi nó quên.
 
MiMi thầm cảm ơn ba, cô bé đưa tay quệt nước mắt. TiTi thấy chị khóc, nó xuýt xoa:
 
- Thôi nín đi, chóng ngoan.
 
Cả nhà cười ròn rã. Mẹ để bánh vào ly sữa MiMi dục:
 
- Ăn đi chứ!
 
Nắng đã lên cao, ánh sáng "bò" hết ra sân, "leo" qua cửa sổ vào nhà nữa. Ba đi công chuyện, chị Châu và mẹ đi chợ. Ở nhà chỉ còn mỗi anh Côn, MiMi và TiTi. MiMi buồn quá chỉ muốn qua nhà con Thụy chơi thôi. Cô bé gọi TiTi:
 
- TiTi này có qua nhà con Thụy chơi không?
 
Khi ấy TiTi ở ngoài sân loay hoay với chiếc tàu bay, lắc đầu quầy quậy:
 
- Không, không.
 
MiMi vọng ra:
 
- Sao thế, đi đi TiTi ạ! Nhà con Thụy vừa mới nở bầy gà con xinh lắm cơ.
 
Nghe nói, nhóc ta phóng vào nhà. Lulu không biết gì thấy TiTi chạy nó cũng "dzọt" theo.
 
 
Ánh nắng của buổi trưa luôn luôn gay gắt, mọi vật đếu im lặng, tất cả chỉm mình vào giấc ngủ trưa. Riêng MiMi thì không ngủ được.
 
- Nóng quá, thôi hay ta ra sân vậy.
 
MiMi đong đưa trên xích đu dưới gốc cây me cành lá đủ để che mát cả một mảng lớn. Lòng cô bé lâng lâng sung sướng khi nghĩ đến tối nay ba hứa sẽ thưởng cho mỗi đứa, tùy theo cái bảng danh dự mấy "è". Ôi thế nào ba cũng khen MiMi nhiều nhất, anh Côn thua MiMi một hạng nè, chị Châu một hạng nè, TiTi hai hạng cơ. TiTi chỉ làm nũng với mẹ thôi. Mẹ chẳng bảo thế là gì. Sướng nhé! Một làn gió nhẹ thổi qua, mí mắt MiMi trĩu xuống... Một vài chiếc lá me khô rụng rơi lảo đảo rồi nằm im trên tóc. MiMi mỉm cười...
 
*
 
- Nguyễn thị MiMi lớp sáu A hạng nhất, một cuốn "Chuyện bé Phượng".
 
- Ô! - MiMi sung sướng cầm lấy, lí nhí cám ơn ba. Ba tiếp tục;
 
- Nguyễn Huy Côn hạng nhì, một tạp chí "Phi thuyền Apollo".
 
Anh côn cười toe, "quyển sách ta hằng mơ ước đây rồi". (Đưa sách lên mũi hít mấy cái).
 
- Nguyễn thị Thục Châu, đồng hạng, sách "làm bánh".
 
MiMi reo:
 
- A! Chị Châu làm nội trợ đấy. 
 
Còn một cái bảng danh  dự trên tay, ba lật qua lật lại:
 
- TiTi thì hạng ba ư, cho một tấm "baby" chịu không?
 
TiTi buồn thiu, nó cầm lấy, nhìn vào hình rồi chạy đến bên mẹ:
 
- Mẹ ơi, con nhỏ phải học ít ít thôi.
 
Cả nhà cười vang. TiTi thẹn thùng xoay xoay tấm hình. Mẹ mắng yêu:
 
- Hư đấy! Nhỏ phải học chăm chứ.
 
Lulu ngồi chồm hổm nãy giờ dưới ghế cũng chạy ra vẫy đuôi.
 
Trên tường, đồng hồ thong thả gõ chín tiếng...
 
 
NGUYỄN THỊ THA ANH      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 13, ra ngày 7-11-1971)
 

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2025

Xin Cảm Tạ


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nắng đổ vàng dìu em vào ngày mới
Áo lụa trắng trong lần đầu reo vui
Em náo nức đón chờ bao xa lạ
Xin yên tâm, em cảm tạ ơn đời...

Cùng nắng ban mai, em bước lên sân trường rực rỡ,
Cùng gió lao xao, em nhoẻn miệng cười
Em còn đây tháng ngày vàng thơ ấu,
Xin yên vui, em cảm tạ ơn trời...

Chuông reo vang, đưa em vào lớp học
Thỉnh thoảng, bâng khuâng dõi mắt trên hè
Tinh nghịch nhịp theo bước chim nhún nhẩy
Ngày ngày vui, xin cảm tạ bạn bè...

Chuông reo vang, gọi em về tổ ấm
Nói với bạn thân : mai gặp nhau mà...
(Nô nức về kể chuyện trường, rộn rã)
Ngày no lành, xin cảm tạ mẹ cha...

                                           KHÁNH MINH

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 141, ra ngày 15-11-1970)

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2025

Ngày Tháng Mưa Bay


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Anh biết không, có những buổi chiều mưa về rất vội,
Bong bóng ngoài trời nở vội theo mưa
Em đứng bên song sầu mấy cho vừa
Như loài mây xám trên không buồn trĩu nặng

Đỉnh mây cao mang lệ sầu lắng đọng
Em ngẩng nhìn và gọi khẽ tên ai...
Hồn ngẩn ngơ nghe mưa khóc bên tai
Và... nhẹ trách sao em buồn vớ vẩn

Tuổi ô mai, em ươm tròn tuổi sống
Và ô kìa, bong bóng vỡ trong mưa
Em ước sao mình bé bỏng như xưa
Tung tăng chạy cho mưa làm ướt tóc...

Ngày vào đông, nên có những buổi chiều trời khóc
Em lạy xin, xin buổi chiều cứ mãi giăng mưa...
Để em được nhìn những mảnh mây xám lưa thưa,
Trôi thật chậm trả em mầu mây trắng.

Nhưng hãy khoan xin trời đừng làm nắng
Cho em được nhìn gió thổi hạt mưa sa,
Mưa nghiêng nghiêng gió rít lạnh ngoài da
Môi em xám nhưng lòng em vẫn thích...

                                                    NGÂY NGÔ

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 10, ra ngày 20-9-1971)


oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>