Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

Bạch Thái Bưởi


Hồi năm 1900, cách đây trên nửa thế kỷ, việc lưu thông trên Hồng Hà Bắc Việt, hầu hết vào tay người Huê kiều, họa chăng vài hãng tàu Pháp có mấy chiếc tàu chạy sông vì các nhà doanh nghiệp Pháp có nhiều quyền dễ dàng quá nên nguồn lợi trên sông Hồng họ không thèm nghĩ tới, để mặc cho người Huê kiều thao túng.
 
Ngoài những ghe lớn của Huê kiều, còn có những chiếc tàu "sà lúp" - (chaloupe) - trương cờ của Huê kiều với những tên Long Môn, Phúc Sinh, Thái An, Bảo An, Kim Bằng, Giang Môn v.v... Những tàu nhỏ này chạy đường Hà Nội - Nam Định hay Hà Nội - Hải Phòng, khứ hồi.
 
Vậy mà 10 năm sau, hồi năm 1910, trên Hồng Hà mọi người bỗng thấy phất phơ lá cờ của "Công ty Bạch Thái Bưởi" cắm trước mũi mấy tàu của người Việt Nam và mang tên Việt Nam. Ba tiếng "Bạch Thái Bưởi" đã được đồng bào nói tới.
 
Xuất thân là một người nghèo, phải làm công cho Công sứ Bonnet, tức là Tỉnh trưởng một tỉnh ở Bắc Việt, ông Bạch Thái Bưởi lúc đầu cũng chỉ là một "anh bồi Tây" không hơn không kém, theo danh từ thông dụng hồi bấy giờ. Nhưng "anh bồi Tây" ấy không an phận thủ thường như kẻ khác, và cũng không có cái tâm trạng chung của hạng người nô lệ đi học tiếng Tây để được "chẳng ký, không thông, cũng cậu bồi" như nhà thơ Trần Tế Xương đã mỉa mai chua chát.
 
Học dăm ba "chữ Tây chữ U" cậu bồi Bạch Thái Bưởi cũng không ỷ "thế thần" là người làm cho "quan Công sứ" thì phải biết... Ông Bạch Thái Bưởi nuôi một chí doanh thương lớn, muốn vùng vẫy chốn thương trường để tỏ mặt một phen với đời. Ông có một tinh thần tự lập, nhờ Công sứ Bonnet gởi gấm mà được thầu với sở Hỏa Xa cung cấp vật liệu trong khi sở này lãnh làm cây cầu Doumer (cầu Long Biên) nối liền Hà Nội với Gia Lâm, trên sông Hồng.
 
Nhờ đó ông có được một số vốn vì công cuộc lãnh thầu được trôi chảy. Ông Bưởi hùn hiệp với một nhà giàu có ở Nam Định là ông Lã Quý Chấn, đứng ra thầu nhà cầm đồ (hồi ấy mỗi tỉnh lớn có một nhà cầm đồ chành thức).
 
Ông Bạch Thái Bưởi còn khuếch trương công cuộc doanh thương thêm nữa, đứng ra thầu thuế chợ.
 
Giàu có rồi, ông quyết định thi hành chí lớn : giành lại những nguồn lợi lớn cho xứ sở. Năm 1910 ông nhận thấy hầu hết công việc vận tải ở đường sông trong tay người Tàu, ông lo sau này họ còn nắm nhiều độc quyền khác nữa. Ông bèn đứng ra lập "Công ty Bạch Thái Bưởi" để tranh thương với người Tàu. Không biết gì về nghề thủy vận lại mù tịt cả về máy móc, vậy mà ông cũng dám cạnh tranh với những chủ tàu Huê kiều đã nhiều vốn lại giầu kinh nghiệm và đi trước ông một bước dài trên con đường chuyên chở trên sông ; ông Bạch Thái Bưởi quả là người can đảm và cương quyết.
 
Ông dám bước vào ngành hoạt động nầy là vì lúc ấy ông thấy một cơ hội hiếm có đưa tới cho ông mà ông quyết chộp lấy: một công ty Pháp, tên là công ty Marty d'Abbadie bấy lâu lãnh việc chở thư từ cho nhà bưu điện bằng đường thủy, nay mãn giao kèo không muốn tiếp tục làm nữa, nên cho thuê ba chiếc tàu của họ: chiếc Phénix, chiếc Dragon và chiếc Fai Is Long. Ông Bạch Thái Bưởi nhận liền ba chiếc tàu ấy cho chạy đường Hà Nội - Nam Định và Nam Định - Bến Thủy (Bắc Trung Việt). Ba chiếc tàu mướn được đổi tên Việt Nam là Phi Phượng, Phi Long và Khoái Long Tử.
 
Thấy quyền lợi của mình trên dòng sông từ Hà Nội xuống Nam Định bị va chạm, mấy chủ tàu Huê kiều quyết tâm đối phó. Bấy lâu họ vẫn giữ một độc quyền trong thực tế trên đường nầy, nay lại có người nhảy ra cạnh tranh, họ bèn họp nhau lại tung ra võ khí "kim tiền" để tính đánh ngã đối phương.
 
Sẵn trường vốn, họ nắm tay nhau hạ giá, phá giá để mong Công ty Bách Thái Bưởi bị phá sản. Lúc ấy giá vé hành khách đi Hà nội - Nam Định là ba cắc, họ hạ xuống còn một cắc rưỡi (Một đồng bạc hồi ấy là 10 cắc).
 
Tàu của Công ty Bạch Thái Bưởi cũng hạ giá vé xuống còn một cắc, rẻ hơn tàu của Huê kiều. Đối phương của ông không chịu thua, hạ xuống còn 7 xu (Một cắc ăn 10 xu). Ông Bạch Thái Bưởi hạ xuống còn 5 xu. Huê kiều hạ xuống còn 4 xu.
 
Thấy không còn hạ xuống quá mức ấy được nữa, ông Bạch Thái Bưởi nẩy ra sáng kiến mời hành khách đi tàu của ông uống nước trà. Mà không phải là nước trà Huế, nước trà bình dân đâu nhé. Ông cho mua thứ trà đầu xuân hiệu Ô Long và Liên Tử (ngon hơn những trà trong Chợ Lớn bấy giờ) mà nấu nước mời mỗi hành khách. Huê kiều muốn "bảnh hơn" không những đãi khách uống nước trà mà còn mời mỗi người một miếng bánh ngọt đậu xanh nữa.
 
Cuộc cạnh tranh giữa hai phe làm sôi nổi dư luận trong xứ và được truyền khẩu từ người nọ qua người kia. Người Việt ai cũng thán phục lòng can đảm, chí cương quyết của ông Bạch Thái Bưởi. Về phía ông, ông cũng thấy đồng bào cảm thông nỗi khó khăn của mình. Cuộc cạnh tranh đã tới mức không thể hạ giá hơn nữa vì nếu cứ cạnh tranh bằng lối này thì lo có ngày sẽ hạ giá xuống con số không và tàu sẽ đông nghẹt hành khách có ngày đến phải đi thăm Hà Bá.
 
Ông Bạch Thái Bưởi nghĩ đến cái võ khí tinh thần mà ông chưa dùng là nghĩa đồng bào, lòng ái quốc của người Việt Nam. Ông phóng ra một đoàn tuyên truyền có tài ăn nói, đi trên bến tàu kêu gọi con tim của Việt Nam:
 
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước hãy thương nhau cùng.
 
Một đoàn "hát xẩm" - như kiểu hát dạo cải lương ở lề đường bây giờ - được ông Bạch Thái Bưởi thuê, để ngồi ở bến tàu cổ xúy bằng những điệu hát bình dân, hiệu triệu hành khách "ta về ta tắm ao ta".
 
Cuộc tuyên truyền ấy quả nhiên đã đem lại kết quả mỹ mãn. Thấy không thể nào đem thế lực kim tiền ra mà thắng nghĩa đồng bào của người Việt Nam, các chủ tàu Huê kiều phải bỏ cái võ khí phá giá. Ít lâu sau giá cả trở lại bình thường và tàu Bạch Thái Bưởi vẫn đông khách hơn tàu của Huê kiều.
 
Sẵn trớn nhờ cuộc thắng trận vẻ vang, năm 1912, Công ty Bạch Thái Bưởi cho tàu chạy thêm đường Hà Nội - Hải Phòng nữa. Không đương đầu nổi với sự cạnh tranh của Công ty này, các chủ tàu Huê kiều xếp giáp quy hàng. Họ bán lại tàu của họ cho mấy người Pháp và có mấy người bán cho chính Công ty Bạch Thái Bưởi nữa.
 
Năm 1915 làm ăn phát đạt, Công ty Bạch Thái Bưởi mua được hết cả xưởng chữa tàu và các xà lan máy của Công ty Marty, đã cho ông thuê ba chiếc tàu lúc đầu.
 
Năm 1917 một Công ty Pháp ở Hải Phòng lo việc chuyên chở trên những khúc sông ngắn, bị khánh tận. Ông Bạch Thái Bưởi mua được hết những thuyền máy và xà lan của Công ty này. Thế là số tàu lớn nhỏ của ông đã lên tới 30 chiếc và mang những tên lịch sử: Lê Lợi, Đinh Tiên Hoàng, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lạc Long, Hồng Bàng, Tự Đức, Minh Mạng, Thiệu Trị, Đồng Khánh...
 
Trụ sở của Công ty Bạch Thái Bưởi đặt ở bốn nơi.
 
Trụ sở chánh thiết lập trước nhứt tại Nam Định vì ông Bạch Thái Bưởi muốn ghi nhớ bước đầu của ông vào nghề hàng hải tại tỉnh này. Năm 1916, ông dời nó xuống Hải Phòng và đặt thêm ba trụ sở phụ nữa, ở Hà Nội, Bến Thủy, giao cho hai người Pháp, và trụ sở ở Nam Định trở thành một trụ sở phụ giao cho người bạn cũ là ông Lã Quý Chấn.
 
Tuy đã giàu có lớn, ông Bạch Thái Bưởi còn khai khẩn mỏ than nữa. Ông làm việc tối ngày không biết mỏi mệt. bao nhiêu ngành kinh doanh đã làm ông mất hết ngày giờ. Ông không chịu sống đời trọc phú như người thường chỉ thích vợ đẹp con khôn. Ông còn nghĩ đến công việc văn hóa nữa và xuất bản một tờ nhựt báo tại Hà Nội lấy tên là "Khai Hóa" những mong dìu dắt đồng bào trên con đường sống mới.
 
Có lẽ vì làm việc nhiều quá mà ông mắc chứng tê liệt đến bán thân bất toại. Năm 1932 ông từ trần, gia đình ông an táng ông ở vùng mỏ Đông Triều, nơi ông đã từng khai thác mỏ than. 
 
Bạch Thái Bưởi: một gương tranh đấu cho những ai muốn thành công, có sự nghiệp với đời.
 
 
TẾ XUYÊN      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 6, ra ngày 19-9-1971)
 

Không có nhận xét nào:

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>