Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

Phan Thanh Giản

 
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình nay thuộc làng Bảo Thạnh, quận Ba Tri tỉnh Kiến Hòa.
 
Ông mồ côi mẹ từ thuở vừa 7 tuổi, lức nhỏ theo học nhà sư Nguyễn văn Noa tại chùa Phú Ngãi.
 
- Năm 1815 ông phải khổ sở một thời gian vì cụ thân sinh ông đương làm quan, bị người vu cáo đến phải tù tội.
 
- Năm 1825, ông thi đỗ cử nhân tại Gia Định.
 
- Năm 1829, dưới triều Minh Mạng được tiến chức Hình bộ Lang Trung, rồi đến Phủ Doãn Thừa Thiên.
 
- Năm 1834, được thăng Đại Lý Khanh sung Cơ Mật Đại Thần
 
- Năm 1835, được bổ làm kinh lược Trấn Tây. 
 
- Năm 1836 vì tội can vua đình ngự giá đến núi Ngũ Hành, nên bị giáng chức làm lục phẩm thuộc viên, lo việc quét dọn bàn các công đường.
 
Khi các quan xử kiện ông khoanh tay đứng hầu, các quan thấy vậy lấy làm ái ngại, nói với ông:
 
- Xin quan lớn tìm chỗ ngồi, nếu quan lớn hầu chúng tôi như thế, chúng tôi làm sao ngồi yên để làm việc!
 
Ông đáp:
 
- Xin các ông cứ chu tất công việc các ông. Riêng tôi, vua phán sao tôi nghe  vậy.
 
Hai tháng sau ông lại thăng Thị Lang Hộ bộ sung cơ mật viện Đại Thần.
 
- Năm 1840, ông làm phó chủ khảo Thừa Thiên, bị giáng một cấp vì lẽ chấm bài thi không kỹ. Sau đó lại được thăng Binh Bộ Thị Lang.
 
- Năm 1841, dưới triều Thiệu Trị ông thăng lên Tham Tri Bộ Binh sung Cơ Mật Viện. Cũng năm này, ông có lệnh làm chánh chủ khảo Hà Nội.
 
- Năm 1851, làm Tổng Đốc Gia Định.
 
- Năm 1852, ông cùng Nguyễn Tri Phương dâng sớ về triều tâu các điều lợi hai công ích, nên được vua ân thưởng tấm kim khánh có khắc bốn chữ: "Liêm, Bình, Cần, Cán".
 
- Năm 1862, ông có lệnh của triều đình Huế vào Gia Định, điều đình với Pháp.
 
- Năm 1863, được cử làm chánh sứ sang Pháp chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng thất vọng vì sự thiếu thành thực của người {háp.
 
- Sau năm 1865 được phong chức Kinh lược Đại Thần 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).
 
Trước sự tấn công vũ bão của người Pháp, quân ta chống cự không nổi, chỉ trong 5 ngày đã mất 3 tỉnh.
 
Ông đau buồn cho vận nước, đành bưng uống chén thuốc độc tự tử, sau khi căn dặn các con, và xin người Pháp không được tàn sát dân chúng.
 
Ông tạ thế vào giờ Tý, đêm mùng năm, tháng bảy, năm Đinh Mão, tức nhằm ngày 4-8-1867, hưởng thọ 71 tuổi.
 
Đọc qua tiểu sử của ông, chúng ta thấy ông là một bậc học rộng, tài cao. Đã một lòng vì nước trải suốt 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
 
Trong cuộc đời công danh, trên bước đường hoạn lộ, ông đã có bao lần vinh thăng, rồi cũng mấy lần giáng chức.
 
Tuy cuộc đời thăng trầm như thế nhưng vẫn không hề thay lòng đổi dạ, vẫn giữ tròn tiết tháo của kẻ sĩ và triệt để tuân theo lệnh của triều đình.
 
Trước khi chết, ông còn quay mặt về hướng Bắc, lạy tạ vua 3 lạy, rồi ngồi xếp bằng, nước mắt rưng rưng, tay nâng chén thuốc độc đưa vào miệng.
 
Trước cái chết vì nước quên mình của ông, không làm sao tránh khỏi xúc động, cho dù là người ngoại quốc chăng nữa, cũng thấy đau lòng, và không sao ngăn giòng lệ xót xa!
 
Cái chết của Phan Thanh Giản là cái chết tiêu biểu một tinh thần bất khuất cho cả dân tộc Việt Nam, cái chết oai hùng của một nhà Nho đầy tiết tháo...
 
(Theo Xuân Hàm Luông)
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 51, ra ngày 13-8-1972)
 

Không có nhận xét nào:

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>