Hiển thị các bài đăng có nhãn Trường Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trường Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2026

Ếch, Nhái và Cóc

 
ch nhái và cóc đều có chân dài, nhái có da trơn trượt, trong khi ếch có da sần sùi, cóc thường nhảy từng bước một có da sần sùi và khô - Ếch và nhái thường có thể chết được trong không khí khô nên chúng thường không bao giờ đi quá xa các vũng nước, nếu không có sự ẩm ướt chúng có thể chết: lý do là sự thoát hơi nước qua làn da của chúng rất dễ dàng nên ếch nhái phải thay thế ngay bằng cách trầm mình dưới nước. Loại "Ếch gấu" có thể chết trong vòng 12 giờ nếu bỏ ngoài nước - Loài nhái có thể nhảy rất xa nên nhiều khi người ta còn cho rằng chúng có thể "bay" được, ở Bornéo, Java có một loại nhái cây có chân giống vịt có thể nhảy xa từ 30 đến 40 thước, tại Nam Mỹ cũng có vài loại nhái có thể nhảy xa hơn dù ngón chân của chúng không dính liền nhau. Thực ra loại nhái có một khả năng đặc biệt, khi chúng ta liệng con nhái lên cao, nó lấy thăng bằng dễ dàng và rơi xuống đất an toàn, người ta đã làm một thí nghiệm để chứng minh khả năng này: một con nhái được mang lên một ngọn tháp cao 42 thước và cho rơi tự do, con nhái này đã đáp xuống đất an toàn bằng 4 chân.
 
Những con đực thường có một đôi túi âm thanh trong miệng, công dụng chính là dùng để tăng thanh âm khi ếch nhái kêu, người ta ít chú ý đến những túi này, thường căng phồng trong không khí khi chúng kêu. Một loại nhái dế ở Mỹ châu có túi âm thanh mở ra ở trước miệng, túi này lại dùng để đựng trứng, trong suốt thời kỳ thai nghén, túi này bành trướng lớn, trứng sẽ biến hóa thành nhái con ngay trong túi.
 
Thường thì chỉ có con đực mới kêu, nhưng đôi khi những con cái cũng có thể kêu được khi chúng bị thương hay bị khó chịu. Con đực hầu như chỉ dùng tiếng kêu của mình để "o" chị cái - Khi kêu như thế, con nhái hay ếch nín hơi đóng kín miệng và mũi lại đẩy không khí vào phổi, âm thanh phát ra bởi sức nén của không khí làm rung động các dây thanh âm, những túi âm thanh có tác dụng như những cái "micro" nên âm thanh của ếch nhái rất to so với kích thước của chúng. Ngoài đồng trống chúng ta có thể nghe tiếng kêu của chúng rất xa. Một loại ễnh ương tại Hoa Kỳ có thể phát ra những âm thanh mà người ta nghe được từ xa một hai cây số, hay hơn nữa.
 
Hầu hết ếch, nhái, cóc đều dùng lưỡi để bắt mồi. Lưỡi của chúng được gắn ngay dưới hàm, khi thấy con vật nào bay qua chúng liền tung lưỡi ra, lưỡi này đã được tẩm một chất keo dính do đó con vật khó có thể nào thoát được.
 
Năm 1890, trong một cuốn sách về vạn vật học, người ta đã nhắc nhở đến một loại "Cóc chó" vì tiếng kêu của nó giống tiếng chó tru. Nó được coi như loại cóc độc vì người ta đã thấy một con ngựa bị chết không có một vết thương nào ngoài vết thương do hàm loại cóc chó này cắn vào, do đó người ta có thể dễ dàng kết luận nguyên do cái chết là do con cóc. Thực ra không đúng lắm, vì loại này không độc hại dù chúng rất hung hăng thường tấn công các loại khác. Nó có răng rất dài, thân hình độ 15cm. Nếu bị khiêu khích loại cóc này có thể nhảy vồ và ngoạm lấy đối phương ghìm chặt những cái răng dài vào da thịt đối phương. Khi đó đối phương chỉ có cách giết chết con cóc này mới gỡ ra được. Tuy nhiên, cóc có thể làm chết một con chó là chuyện đã được chứng minh rõ rệt vì người ta đã tìm thấy dưới làn da của ếch nhái và cóc có những tuyến độc do đó nó có thể giết hại một con chó nhỏ, nếu như con này vô phúc cắn phải nó. Dù sao có lẽ loài chó cũng hiểu rõ điều đó nên rất ít khi nó ngậm cóc trong miệng, nếu ta có dịp chứng kiến, con chó thường chỉ dùng chân để vờn cóc thôi.
 
Tại Nam Mỹ còn nhiều loại cóc khác độc hại hơn. Trong nhiều sách vở còn ghi chép rằng người ta đã dùng chất độc của loài cóc để tẩm độc các mũi tên. Một loại nhái ở Hoa Kỳ có thể giết cả rắn, đó là loại "Nhái cá" ở miền Đông, loại này có những đốm đen và đốm vàng trên  da. Người ta đã chứng kiến khi một con rắn vồ một con cóc loại này. Khi ngậm vào miệng, con rắn vội nhả ra ngay và lăn đùng ra chết. Những nhà nghiên cứu về loài ếch nhái thường chẳng mấy thích thú khi gặp loại cóc này vì nếu giam chúng chung với các con vật khác thì chẳng mấy tiếng đồng hồ sau những con khác đều bị chết và ngay cả nhà sưu tầm nếu vô phúc mó tay vào da nó sẽ có thể bị làm độc ngay.
 
Vài loại Cóc có thể ăn được cả cá sấu - điều này thực lạ lùng, nhưng đã xảy ra. Đối với vài loại cóc lớn, nó ăn bất cứ vật gì mà nó có thể bắt được. Kể cả những con cá nhỏ, chim chóc hay cầm thú. Tại Nam Mỹ có loại cóc khổng lồ dài từ 15 đến 20cm là một trong những loại cóc lớn nhất có thể coi là vô địch về môn "nuốt".
 
Một câu chuyện được kể lại rằng tại một Viện Đại học tại Hoa Kỳ, người ta đã bắt nhiều loại cóc nhái về để thực nghiệm, vì thiếu chỗ người ta đã cho các con cóc ở chung với những con sấu nhỏ (dài độ 30cm), mấy ngày đầu chúng sống bình thường, nhưng sau một tuần lễ người ta thấy mất một con sấu, xác của nó cũng biến mất. Sau cùng khi dùng tia X chụp dạ dày của những con cóc, người ta thấy con sấu nằm trong dạ dày một trong những con cóc nhốt chung.
 
Bác sĩ Frank Blair tại viện đại học Texas đã làm chứng cho câu chuyện. Trong trường hợp này con ếch chỉ dài độ 15 phân trong khi con sấu dài tới 25 phân hai con để chung trong lồng. Một buổi sáng con sấu biến mất trong khi bụng con ếch trương to lên chứng tỏ là con sấu đã nằm gọn trong đó - Nhưng dù sao con ếch phải mất ba bốn ngày mới cử động lại bình thường.
 
Con cóc có thể gây ra mụn cóc không? Căn nguyên và hậu quả giữa con cóc và mụn cóc là một truyền thống. Nhiều người tin một cách giản dị rằng nếu sờ vào da cóc sẽ gây ra mụn cóc, một số khác lại tin rằng nước tiểu của cóc có thể gây mụn cóc. Thực ra không đúng như vậy dù rằng da cóc thường chứa chất kích thích hoặc chất độc có thể gây phỏng da hay ngứa ngáy khi cầm cóc không cẩn thận, cũng như cóc thường có thói quen vọt nước tiểu khi người ta bắt nó. Nước tiểu có thể gây nhức nhối nếu trúng vết thương. Nhưng nước tiểu và chất độc không hề gây ra mụn cóc.
 
Hầu hết loài ếch nhái đều ngủ suốt mùa đông, cóc thường đào hố nhỏ và ở đó đến đầu xuân, khi ra khỏi chúng thường bắt đầu sanh đẻ. Tại Hoa Kỳ vào cuối mùa đông khi không khí hầu như bắt đầu trở nên ấm áp, thì đó là mùa ếch nhái sanh nở, nếu du khách dùng xe để đến bờ sông vào một buổi tối, chúng ta sẽ chứng kiến hàng triệu ếch nhái mới nở ra nhảy đầy trên đất.
 
Ếch nhái và nhất là cóc là loài giúp ích nhiều nhất cho con người mà ít ai biết đến. Các nhà sinh vật học ước chừng hàng năm loài ếch nhái đã tiêu diệt dùm cho loài người một số côn trùng có hại cho mùa màng.
 
Trong vài năm gần đây tại Hoa Kỳ người ta đã làm các bản thống kê, cho thấy một nông dân ở Oklahoma đã tiết kiệm được mỗi năm 25 đô la (tiền mua thuốc diệt trừ côn trùng) do công của một con cóc.
 
Cóc có thể ăn bất cứ loại gì nó kiếm được, thông thường người ta tìm thấy trong dạ dày cóc nhiều loại côn trùng (sâu bướm, bọ rầy...) trung bình trong ba tháng dưới điều kiện thông thường một con cóc có thể tiêu diệt được 10 ngàn sâu bọ.
 
Một loại cóc Nam Mỹ gọi là cóc biển rất to (khoảng 10cm) được nhập cảng qua Jamaica và West Indies vì nhờ nó một số chuột phá hoại mía giảm đi rất nhiều. Người ta cũng áp dụng những biện pháp tương tự tại Puerto Rico. Một loại cóc khác được chở qua Hạ Uy Di và các vùng khác với mục đích giúp nông gia bảo vệ mùa màng.
 
Có lẽ đó là lý do khiến cổ nhân ta mới đặt ra câu ca dao:
 
"Con cóc là cậu ông trời,
Ai mà đánh nó thì trời đánh cho".
 
 
TRƯỜNG KỲ sưu tầm       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 104, ra ngày 24-8-1973)
 

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2025

Chuyện Con Rùa


Cuộc chạy đua giữa Rùa và Thỏ cho dù có đem lại thắng lợi cho rùa nhưng rùa vẫn mang tiếng là chậm chạp. Các cuộc nghiên cứu về nhiều loại rùa trên thế giới đã chứng tỏ rùa còn chậm chạp về nhiều phương diện khác nữa, chẳng hạn như sự tăng trưởng. Nhưng càng chậm càng chắc, các chú rùa tà tà sống chừng hai, ba thế kỷ mới chết.
 
Loài bò sát thời tiền sử đã tiến hóa chậm chạp, một số lớn đã biến mất, số còn lại đã thích ứng và biến đổi để trở thành loại bò sát ngày nay như con thằn lằn hay cá sấu, rùa cũng thuộc loại bò sát nhưng hầu như người ta chưa tìm thấy được sự tiến hóa nào đáng kể vì mai rùa càng ngày càng phát triển hầu như mỗi năm một lớp vỏ mới được thành lập trừ ra một loại rùa biển có tên là rùa Linh có sự tiến hóa đôi chút. Rùa có nhiều loại khác nhau như ba ba, đồi mồi, rùa biển, rùa đất, rùa lưỡng thê... đặc biệt đồi mồi là loại rùa có nhiều mầu sác óng ả nhất, mai đồi mồi gốm những tấm cứng như xương hình đa giác màu sắc khác nhau, ở ngực các tấm đó da mỏng hơn nhưng màu sắc lại linh động hơn. Đầu và đuôi rùa rất hoạt động, ló ra thụt vào nhanh chóng, nhưng 4 chân còn lại thì hầu như rùa không biết giấu ở đâu ngay cả khi gặp nguy hiểm, chân trước ngắn hơn chân sau tất cả đều có hai công dụng là vừa bò, vừa bơi.
 
Rùa biển thường sống rất lâu có thể từ 200 đến 300 năm nếu như môi trường sinh sống thuận lợi cho sự tăng trưởng của chúng, trung bình rùa biển chỉ thọ được khoảng 100 năm, chúng thường chết vì những bệnh tăng trưởng hoặc ho lao, rùa biển sống trong các vùng biển nhiệt đới, chúng bơi lội giống như cá  voi, nhưng người ta dễ phân biệt nhờ màu sắc óng ả của bộ mai, muốn tăng trưởng chúng cần rất nhiều vôi trong thực phẩm của chúng do đó chúng có thể ăn ngay cả sò, ốc biển... Rùa mẹ đẻ trứng trong những hố cát, số trứng thay đổi hàng năm từ 10 cho đến một ngàn trứng, sau khi đẻ xong rùa lùa cát lấp đầy hố bỏ đi không hề thắc mắc về số phận của lứa con ra sao, nhờ may rủi và sức nắng, độ ẩm của cát, rùa con có thể nở ra ba tháng sau đó.
 
Một loại rùa có tên là rùa xanh sống tại vùng biển Franlbre nước Pháp có vóc dáng rất to lớn, đường kính của mai rùa khoảng 1m30 và chúng cân nặng trung bình từ 150 đến 180 kilo. Vào thời kỳ đẻ, rùa mẹ đẻ liên tiếp ba lần, cách nhau 15 ngày khoảng 500 trứng vào chung một hố. Trứng rùa rất ngon cũng như thịt rùa do đó các ngư phủ thường chờ đợi chúng trên bãi cát trong mùa đẻ để bắt cả rùa lẫn trứng sửa soạn những bữa tiệc ngon lành. Do đó một thời kỳ người ta có cảm tưởng loại rùa biển này biến mất và chính phủ Pháp đã can thiệp để ngăn chận hành vi của các ngư phủ. Người ta cũng săn rùa bằng thuyền tam bản với một người chèo và hai người kia sẵn sàng lật ngửa chú rùa đang lội trên nước, nhưng dù sao phương pháp này cũng nguy hiểm, do đó tại vùng Antilles và Madagascar người ta câu rùa bằng những sợi dây thật dài và chắc, dĩ nhiên là chỉ có thể bắt được loại rùa nhỏ bé cân từ 5 tới 10 kilo mà thôi.
 
Đồi mồi là một loại rùa biển nhưng nhỏ bé hơn, dài từ 80 đến 90cm, chúng thường sống trong các hốc đá ven biển, mai đồi mồi thường có màu nâu óng ánh rất đẹp mắt. Các ngư phủ thường bắt chúng để lấy thịt và mai được dùng làm đồ trang sức. Loại đồi mồi Luth hay còn gọi là đồi mồi "da", vì mai của nó không còn cứng và nặng nề nữa mà được thay thế bằng lớp da dầy. Các nhà sinh vật học cho rằng đây là một loại rùa tiến hóa nhất. Những ngư phủ già sống nhiều năm tại ven biển vùng Nam Mỹ đã thuật lại, họ đã bắt được những con rùa loại này và chúng thường dài đến 2m2 và nặng trên 500kg.
 
Loại rùa Lưỡng Thê vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước, hàng ngày chúng sống trên bờ bên cạnh những hốc đá vôi và khi nắng lên chúng ùa xuống nước bơi lội và kiếm thức ăn, loại này có răng rất nhọn, khi chúng bơi lội thì các tuyến hơi trong cơ thể phồng lên và tiết ra một chất nhờn chống nước vào cơ thể và áp suất, loại rùa này có rất nhiều tại vùng Địa Trung Hải, vùng Đông Nam Á Châu. Chúng còn có tên là rùa đất vì màu sắc của mai gần giống màu đất, vóc dáng chúng tương đối nhỏ bé hơn hết, con lớn nhất chỉ dài khoảng 50cm. Thực phẩm của chúng có thể là cá, trứng, ếch, nhái... Rùa mẹ đẻ khoảng 12 trứng vào một hố đất, nhờ ánh sáng mặt trời, rùa con sẽ nở ra khoảng 15 tuần lễ sau đó. Sự tăng trưởng đối với loài rùa rất chậm chạp, sau một năm rùa con chỉ cân nặng khoảng 5g, hai năm chúng nặng khoảng 12g, ba năm 20g, và khi chúng nặng được 100g thì phải mất 9 năm trời. Rùa đực được coi là trưởng thành khi chúng được 12 tuổi, còn rùa cái có thể đẻ được khi chúng được 18 tuổi. Loại rùa này chỉ sống lâu khoảng từ 50 đến 100 năm.
 
Với vóc dáng mạnh mẽ, rùa chịu đựng rất giỏi, loại rùa biển có thể chịu đựng một sức nặng đến 10 tấn đè lên trên mà không hề hấn gì. Nhưng đối với những con rùa mới nở chúng lại dễ "vỡ" vì lớp da bên ngoài chỉ là một lớp như vỏ trứng, bởi đó loài rùa đã chứng kiến những cảnh tàn sát man rợ nhất tại vùng biển Madagascar, hàng ngàn con rùa con mổ vỏ để chạy tung tăng trên bãi cát trong khi đó loài ó biển đã chờ sẵn, chúng chỉ cần lượn một vòng hàng chục rùa con đã rơi vào bao tử.
 
Rùa cung cấp cho con người những bữa ăn thịnh soạn và ngon lành nhất, đồng thời rùa còn được dùng làm đồ trang trí, hoặc  nuôi làm thú chơi trong nhà.
 
 
TRƯỜNG KỲ         
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 58, ra ngày 1-10-1972)

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2025

Loài Chim Di Trú


Hàng ngàn năm nay, người ta thường chứng kiến những cuộc di chuyển vĩ đại cùa hàng trăm loài chim, tùy theo từng loài, chúng có thể thực hiện những cuộc hành trình dài hàng chụ ngàn cây số từ Nam lên Bắc, hoặc những cuộc di chuyển ngắn trong một khu vực địa lý nhất định. Mặc dù đã được nhiều viện khảo cứu về chim muông trên thế giới chú tâm tìm kiếm, ngày nay người ta vẫn chưa có một kết luận chính xác về các động lực kỳ bí thúc đẩy chúng. Thật không khó khăn để phỏng đoán rằng sự di trú có một giá trị sống chết như những loài di trú theo điều kiện thời tiết. Chim Petrel, một loài chim biển nhỏ lông đen trắng, cánh dài, làm tổ trong những hốc đá ngoài biển khơi có khuynh hướng bay vòng quanh trái đất giữa hai kỳ sinh đẻ của chúng. Thường thì chúng bay về phía Bắc, về mùa Hạ và Thu để kiếm côn trùng về nuôi đàn con sắp nở ra đồng thời tìm kiếm những vùng đẹp trời hơn để di chuyển đến mỗi khi vùng ở hiện tại khí hậu trở nên oi bức và đồ ăn thiếu thốn.
 
Giống chim Hải Yến Bắc Cực được ghi nhận là có tầm hoạt động xa nhất, trong mùa Xuân chúng đẻ trứng từ vĩ tuyến 82 độ Bắc, chúng bắt đầu di chuyển dọc theo bờ biển Đại Tây Dương để tới vùng Âu Châu và Phi Châu, hoặc theo bờ Đại Tây Dương tới Mỹ Quốc và sau đó chúng có thể xuống tận vĩ tuyến 74 độ Nam. Cuộc di chuyển này có thể xa đến 60.000 cây số. Đối với loại chim sống trên đất liền, chúng cũng có thể thực hiện những cuộc vượt biển như loại Américan Golden Plover (óc câu Mỹ Châu) có tổ ở vùng Alaska, chúng vượt trên 3.000 cây số qua Đại Tây Dương để tới các hải đảo Hạ Uy Di, ngay cả loại chim nhỏ xíu như Rubythroated Hummingbird, chúng có thể bay không ngừng suốt quãng đường từ 100 tới 200 cây số qua vịnh Mễ Tây Cơ.
 
Khi thực hiện những cuộc di trú đó, loài chim không bay riêng rẽ mà thường hợp thành từng đoán bay rợp trời. Khi chứng kiến những cảnh tượng đó chúng ta thường có những mối xúc cảm rõ rệt. Nhất là chúng lại có những thời biểu di trú nhất định từng mùa hay theo thời tiết. Tại Bắc Mỹ, các viện nghiên cứu chim muông đã thống kê được trong khoảng thời gian từ 1920 đến 1958 có đến 7.500.000 chim tụ họp trong vùng và từ đó đến nay hàng năm có khoảng nửa triệu chim đã di trú trong vùng Bắc Mỹ. Khi nghiên cứu các loại chim di trú này người ta phải sử dụng một hệ thống Radar, và chính nhờ đó các viện nghiên cứu lại cho biết, các loài chim di trú thường bay trên độ cao từ 800 đến 900 thước, Radar cũng khám phá được lộ trình của từng loài chim.
 
Cuộc di trú của loài chim thường gây ra bởi nhiều nguyên do, nhưng nguyên do trọng yếu nhất, người ta cho rằng thường sau mỗi kỳ sanh đẻ của chúng trong những ngày ngày ngắn đêm dài, đã làm thay đổi các kích thích tố trong cơ thể chúng, sự thay đổi này khiến chim cần thức ăn để dự trữ trong cơ thể dưới dạng mỡ, nó cũng làm cho chim trở nên hoạt động.
 
Cuộc di trú của loài chim lại thường có một hướng nhất định, và dù có xa hàng ngàn dặm chúng cũng có khả năng để tìm về tổ của chúng. Nhiều cuộc thí nghiệm đã chứng minh rằng chim đã dùng mặt trời và sao làm kim chỉ hướng, bởi vì người ta đã thấy chúng chỉ bị lạc hướng trong bầu trời u ám.
 
Một loài Bồ Câu hoang dã có khả năng tìm về tổ cũ rất chính xác mặc dù người ta có mang chúng đi thật xa. Một cuộc thử nghiệm khác đối với loài chim Manx Shearwater, người ta đã bắt chúng tại ổ trong vùng Skokholm Anh Quốc, sau đó chuyển đến Boston xa hơn 3.000 cây số, loài chim này đã trở về ổ của chúng 12 ngày sau đó. Cũng trong chiều hướng thí nghiệm đó, một loài chim khác, Hooded Crows được bắt từ vùng Rossitten Nga Sô, sau đó được chở về hướng Tây Flensburg Đan Mạch xa hơn 900 cây số, khi thả ra loài chim này lại có những hướng bay y hệt hướng mà nó đã thực hiện khi còn ở đất Nga.
 
Dĩ nhiên cho đến nay ngành "điểu học" vẫn chưa trả lời hết các thắc mắc về sự di trú của loài chim.
 
 
TRƯỜNG KỲ      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 94, ra ngày 17-6-1973)
 

Thứ Hai, 4 tháng 12, 2023

Vén Màn Bí Mật Khu "Tam Giác Vàng"

 

Từ vùng rừng núi hoang sơ rộng trên 156.000km2, một nhóm người bí mật âm thầm chế biến loại độc dược chết người, cung cấp lén lút cho vùng Đông Nam Á và toàn thế giới, hàng năm trên 700 tấn.

Chấm dứt được nguồn năng lực vĩ đại này, số phận nhân loại sẽ biến chuyển tốt đẹp.

Bạch phiến đang được bán lén lút dưới nhiều hình thức trong hầu hết các thành phố đông đúc trên thế giới, các quốc gia đã phải chịu thiệt thòi rất lớn về việc du nhập món hàng độc hại này ; thống kê tại Hoa Kỳ cho thấy hàng năm đã thiệt hại hàng tỷ Mỹ kim, chưa kể đến các hậu quả mà Bạch phiến đang tàn phá một số đông thanh thiếu niên tại đây.

Bạch phiến đã phát xuất từ đâu? Năm 1971 người ta khám phá trong bộ da hình nộm của một con cọp Phi Châu trong chuyến phi cơ từ Vọng Các đê1n Chicago trên 5kg Bạch phiến, trong vịnh Thái Lan người ta bắt gặp những phi cơ lạ thả dù những kiện hàng gói kỹ lưỡng trong các túi nylon rồi được các thuyền đánh cá vớt mang đi... nhiều sự kiện chứng tỏ Bạch phiến xuất phát từ vùng Đông Nam Á.

Trước đây Thổ Nhĩ Kỳ là xứ đứng đầu về việc xuất cảng Thuốc phiện, nhưng chính các nhà máy hóa học tại miền Nam nước Pháp mới đủ khả năng để chuyển hóa thành Bạch phiến trước khi được phân tán tới các quốc gia khác nhất là Hoa Kỳ. Ngày nay dưới những đạo luật cứng rắn, thuốc phiện đã bị cấm trồng tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Trung tâm thuốc phiện tại Đông Nam Á được gọi là khu "Tam giác vàng" rộng trên 60.000 dặm vuông (156.000km2) nằm gác lên lãnh thổ của ba quốc gia: Đông Bắc Miến Điện, Bắc Thái và Tây Bắt Ai Lao. Trên thực tế khu "Tam giác vàng" đã lọt ra ngoài sự kiểm soát của các chính phủ ba quốc gia trên, vì đó là xứ sở của những bộ lạc thiểu số sống rải rác trên các sườn đồi núi hoang vu, đó cũng là nơi dung dưỡng các tổ chức phiến loạn. Chính nơi đây hàng năm đã sản xuất trên 700 tấn thuốc phiện sống, cung cấp 50% bạch phiến cho toàn thế giới.

Việc trồng trọt, chăm bón cây thuốc phiện là do các sắc dân trong bộ lạc San Miến Điện thực hiện. Họ thường khởi đầu trồng cây thuốc phiện từ cuối mùa hè vì khí hậu rất thuận tiện cho loại cây này phát triển, sau đó vào mùa đông họ khởi sự thu lượm kết quả, một loại nhựa nồng cay được trích ra từ trái cây, và được bán ra ngoài, những người trồng trọt không lấy tiền mà chỉ trao đổi để lấy heo, ngựa, trâu hay các sản vật như muối, vải vóc, dụng cụ... Họ thường đổi nửa kí-lô thuốc để lấy 1 con heo hay 1 ký 500 để lấy một con ngựa... Hiện nay có khoảng 60.000 dân thiểu số đang trồng trọt những cây thuốc độc hại này trong lãnh thổ tiểu bang Shaw của Miến Điện. Tại Thái Lan mặc dù sắc luật cấm đoán ma túy đã có hiệu lực từ năm 1958, nhưng các bộ lạc thiểu số phía Bắc vẫn tiếp tục sản xuất trên 200 tấn thuốc phiện mỗi năm. Cuối cùng Ai Lao là cửa ngõ để trao đổi những kiện hàng Bạch phiến qua trung gian của một nhóm người bí mật.
 
Mới đầu người ta vẫn tưởng rằng khu vực này phải do Trung Hoa hoặc Bắc Việt kiểm soát. Nhưng thực tế lại do một nhóm khác nắm quyền. Năm 1949 khoảng 6000 người Trung Hoa từ lục địa di chuyển tá túc trong khu vực này, cũng từ đó họ khởi sự kiểm soát khu vực. Thế lục của họ khá mạnh vì được trang bị đầy đủ súng đạn kể cả các súng lớn. Họ làm trung gian trong việc buôn bán ma túy, chuyển vận hoặc đánh thuế...

Nhóm thứ hai quan trọng hơn được gọi là những người "Mafia" Trung Hoa, họ chiếm giữ phần chế biến thuộc phiện ra bạch phiến, rồi phân phối đi khắp thế giới. Nhóm Mafia này phần lớn là người Phúc Kiến đã bỏ xứ sở từ lâu, sống lưu lạc  trong các quốc gia lân cận. Họ là những nhà mại bản rất giỏi giang và có tổ chức.

Trước đây việc bán thuốc phiện chỉ có giới hạn trong số những người Á Châu nghiện ngập, nhưng khoảng từ 1960 trở đi khi ma túy tràn lan khắp nơi nhất là Hoa Kỳ thì những nhà mại bản này trở nên giàu có và đầy thế lực.

Từ năm 1965, nhóm người này đã chế biến một phần sản phẩm dể dùng hơn gọi là "Khai", đó là một hỗn hợp gồm bã thuốc phiện, chất morphine trộn với Aspirin. Đây là một loại thuốc dễ ghiền và sẽ giết hại người dùng nó trong vòng từ 12 đến 18 tháng.

Tại Ai Lao người ta có thể thấy một số những nhà hút dùng loại thuốc này, trong bóng tối âm u của những căn phòng dơ dáy người ta thấy những người đàn ông da bọc xương đang ngồi ngáp dài, lúc sau không chịu đựng được cơn thèm khát họ đứng dậy mua một gói thuốc khác, hơ nóng trên một ngọn đèn leo lét rồi hút khói qua một ống bằng giấy cuộn tròn.

Việc chế biến từ thuốc phiện qua Morphine dễ dàng hơn qua Bạch phiến. Công việc sau cần nhiều kỹ thuật và phải do các chuyên viên hóa học kinh nghiệm. Từ năm 1967, người Trung Hoa đã mướn một số chuyên viên hóa học từ Đài Loan, Tân Gia Ba và Hồng Kông với số thù lao rất lớn để thiết lập những nhà máy chế biến trong khu "Tam giác vàng", các chuyên viên đó lưu lại trong các nhà máy này khoảng từ 6 đến 8 tuần để chuyển hóa số lượng thuốc phiện từ năm trước ra bạch phiến, dưới sự quan sát của những cặp mắt cú vọ của những người giúp việc. Vài người Trung Hoa địa phương đã gởi con trai họ theo học các trường Hóa học trong vùng Đông Nam Á sau đó trở về tham gia vào công việc chế biến, chính vì thế mức sản xuất hiện nay có thể gia tăng đến khoảng 70% số lượng thuốc phiện trên thế giới.

Các chuyên viên bài trừ Ma Túy quốc tế ghi nhận có khoảng từ 15 đến 20 nhà máy tinh luyện đã được thiết lập trong khu "Tam giác vàng". Thường nếu một nhà máy bị khám phá, lập tức họ di chuyển ngay tất cả dụng cụ đến một vị trí khác trước khi phá hủy.

Khởi đầu những nhà máy này sản xuất phần lớn loại Bạch phiến số 3 mà đa số người ghiền Á Châu ưa chuộng. Thuốc này được vào bao với các nhãn hiệu "Hai con rồng", "nhện vàng" hoặc "Lucky Strike". Từ năm 1965 họ chế thêm loại Bạch phiến 96% được mệnh danh là "cường lực số 4" đựng trong các bao Nylon do chính một nhà máy trong khu "Tam giác vàng' sản xuất.

Những người Mafia Trung Hoa này, nhờ số tiền khổng lồ mà họ thu hoạch được, đã mở rộng thương trường qua sự giúp đỡ của một nhóm người Tây phương, đa số là những người phạm pháp hay lính đào ngũ để tiêu thụ món hàng độc hại này.

Hầu hết Bạch phiến được chuyển vận bằng phương tiện hàng không, có khi được gói kỹ lưỡng rồi được thả dù xuống biển, các thuyền nhỏ vớt lên để chuyển đến một địa điểm tiêu thụ.

Mặc dù các chính phủ trong vùng Đông Nam Á, nhất là ba quốc gia liên hệ trong khu "Tam giác vàng" đã ban hành các luật lệ cấm đoán việc trồng và chế biến Bạch phiến nhưng nếu chưa có các biện pháp tích cực và sự hợp tác quốc tế để chận đứng từ gốc, Ma túy vẫn còn lan tràn gây tệ hại khắp thế giới.


TRƯỜNG KỲ            
 (viết theo Charles Bornay)    

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 114, ra ngày 12-11-1973)

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023

Con Dế Vô Địch

 

Khi Tú Khánh, một cậu bé mười một tuổi, trở về nhà với cha sau một ngày gắng công tìm kiếm vô ích những con dế ngoài ruộng, cậu vẫn phân vân tự hỏi rằng tại sao cha lại có thể ham đá dế như cậu? Tú Khánh là người đa cảm, cậu rất dễ bị xúc động trong bất cứ trường hợp nào. Khi cậu lên năm tuổi có lần vì quá nghịch, cha cậu đã giơ roi định đánh, nhưng chưa đánh mặt cậu đã xanh như tàu lá vì sợ hãi và do đó mà sau này cha cậu chẳng bao giờ dám dùng roi với cậu nữa, tuy thế cậu vẫn sợ cha rất mực.

Với tuổi đó, Tú Khánh lại có một vóc dáng nhỏ bé, cái áo mà thân mẫu cậu may một năm trước đây, lúc đó tưởng cậu lớn mau lắm - nay vẫn còn quá rộng và dài. Vẻ mặt tinh ranh, con nít của cậu nổi bật các đặc điểm như cặp mắt đen nháy nghịch ngợm, hai gò má phính tròn. Cậu thường nhảy hơn đi. Khi anh cậu đến tuổi này thì đã phải giúp đỡ cha mẹ rất nhiều việc nhưng cậu thì chưa mó tay đến việc gì. Bây giờ thì anh đã mất, còn chị cậu lấy chồng tỉnh xa, bởi đó cậu rất được nuông chiều.

Tú Khánh rất thích đá dế cũng như bất cứ cậu bé nào, với tính mẫn cảm của cậu cùng với óc tưởng tượng phong phú, cậu tìm thấy nơi con vật một vẻ cao quý và khỏe mạnh, cậu ngưỡng mộ cái hàm dưới của chú dế và nghĩ rằng không một con vật to lớn nào lại có một bộ giáp đặc biệt và đôi chân khỏe mạnh như chú dế, cũng như chẳng có con vật nào lại có nét đẹp như thế - một con chó, một con mèo, một con heo... thực chẳng thể nào so sánh được. Ngay từ nhỏ con dế là nỗi ám ảnh đời cậu, giống như mọi đứa trẻ khác trong làng, cậu tập chơi dế và hiểu rằng giá trị của một con dế là ở tiếng kêu, bộ càng, góc độ của cặp giò và sự cân xứng của đầu và thân. Tại cửa sổ phía bắc phòng cậu trông ra một cái vườn nhỏ mỗi sáng khi nằm trên giường cậu lắng nghe bọn dế ca hát, tiếng kêu của chúng thật thích thú biết bao, đó là bản nhạc hay nhất đối với cậu. Khổng Tử và Mạnh Tử mà cậu học được của thầy hầu như dễ quên ngay nhưng âm thanh loài dế cậu thấy dễ hiểu và đáng nhớ. Hình như không một đứa trẻ nào cùng tuổi cậu lại hiểu được điều đó, ngay cả cha cậu. Nhưng hôm nay lần đầu tiên ông dẫn Tú Khánh theo để tìm dế.

Hồi sáu tuổi, Tú Khánh có một kỷ niệm đáng nhớ. Khi cậu mang một con dế đá vào lớp học, thày giáo khám phá được, bắt nộp và dẫm nát ra. Tú Khánh rất giận dữ nên lúc thày giáo quay đi cậu đã đứng lên ghế và nhảy lên lưng ông đấm túi bụi với nắm tay nhỏ bé của cậu. Thày giáo đã bình tĩnh nắm áo và đặt cậu xuống đất.

Chiều nay, cậu theo dõi cha cậu đan một cái lồng bằng tre nhỏ xách tay dùng để bắt dế. Khi làm xong cha cậu nói:

- Tú Khánh, con hãy cầm giỏ này và chúng ta sẽ xuống khu đồi phía nam. Hy vọng ở đó chúng ta sẽ bắt được những con dế tốt.

Đó là một buổi chiều nóng nực của tháng bảy, người cha và cậu con trai, giỏ cầm tay, chạy ngang qua những khoảng đồi, những khu rừng thưa, nhảy qua các rãnh nước, lục lọi từng cục đá, hòn đất, tìm kiếm, lắng nghe những tiếng kêu trong vắt, rõ ràng như giọng kêu của loài dế tốt, nhưng hình như họ chẳng bắt được con dế nào ra hồn, toàn những loại chỉ đẹp mã. Tú Khánh dù thế, vẫn cảm thấy thích thú vì có lẽ đây là lần đầu cậu giúp được cha cậu và được thân thiết với ông. Cậu thường nhìn thấy mắt cha sáng lên khi nghe thấy một giọng sắc sảo của một con dế nào đó, nhưng rồi sau đó lại có tiếng thở dài vì con dế đã vuột khỏi tay ông, chui vào một đám cỏ rậm. Khi trở về cha cậu có vẻ như tiếc rẻ một vài con vật đã vuột mất, dù sao cậu vẫn cảm thấy yêu cha hơn lên.
 
Thắc mắc của Tú Khánh - vì sao cha cậu lại thích đi kiếm dế? - được giải đáp trong buổi tối đó, khi chỉ còn hai mẹ con sau giờ ăn chiều.

- Mẹ ơi tại sao cha lại thích bắt dế như thế?

- Không con ạ, cha con chẳng thích những con dế đâu, chẳng qua ông phải thích đấy thôi.

- Tại sao mẹ, ai bắt?

- Quan tổng đốc! Cha con là hương cả trong làng, do đó mới đây quan tổng đốc đã hạ lệnh là phải dâng cho ngài một con dế vô địch. Nếu tốt sẽ được thưởng còn ngược lại thì hình phạt nặng nề lắm con ạ. Cha con có thể mất việc, còn gia đình ta thì con biết, đâu có dư dả gì?

Tú Khánh chợt hiểu và chẳng dám hỏi thêm nữa.

Vào thời đó tại triều đình thường tổ chức các cuộc đá dế giữa các bà phu nhân trong triều, cuộc tranh đua kéo dài từ đầu thu để kết thúc vào giữa xuân. Có lẽ đó là truyền thống cổ xưa của triều đình vì truyền thuyết cho rằng vị hoàng đế đầu tiên, đã mải mê đá dế đến nỗi quân của đại đế Hốt Tất Liệt vào kinh thành mà ngài vẫn không rời cuộc tranh tài quyết liệt của hai chú dế đá. Các chú dế được đem vào triều thường do các viên chức địa phương bỏ tiền thuê nông dân đi bắt ngoài đồng.

Trước khi vào triều, các con dế này đã phải trải qua hàng trăm trận đấu với các con dế khác trong vùng. Tại tổng Hàn Xuyên, nơi ông Chung, cha Tú Khánh làm việc thường nổi tiếng về loại dế vô địch, do đó mà tội vạ đã xảy đến. Là một vị hương cả liêm chính, ông chẳng thể nào có đủ tiền để trả công thuê mướn người bắt dế, nên ông phải đích thân tìm kiếm.

Tú Khánh cảm thấy mối ái ngại của cha, ông hút hết điếu thuốc này sang điếu thuốc khác, ra chiều suy nghĩ. Cuối cùng, ông đã nói với cậu, giọng cầu khẩn:

- Tú Khánh, con phải bắt được một con dế vô địch cho cha, nếu có chúng, ta sẽ có nhiều tiền.

- Sao thế cha?

- Con biết không, cuộc tranh tài chung kết sẽ xảy ra vào mùa xuân này. Kẻ nào thắng cuộc sẽ được hưởng một giải lớn của vua.

- Nhưng vua có thích dế không cha?

Ông Chung nói với vẻ hằn học:

- Dĩ nhiên ông ta thích lắm chứ.

- Như thế chúng ta sẽ giật giải cha ạ, nhưng chúng ta có được diện kiến vua không?

- Không con ạ, chúng ta phải gởi qua quan tổng trấn, rồi qua ngài ngự sử rồi mới đến vua.

- Cha ạ, chúng ta phải thắng, chúng ta phải giật giải.

Tú Khánh giờ đây cảm thấy có trách nhiệm phải bắt một con dế vô địch cho cha và ngay cả cho mẹ cậu nữa bởi cậu vẫn thường nghe bà than về cảnh nghèo khó của gia đình.

Sau ba ngày họ không tìm kiếm được một con dế nào tốt. Nhưng qua ngày thứ tư khi vượt qua khu đồi họ đã gặp một khu mồ mả cổ. Tú Khánh nhận thấy nơi đây có thể có loại dế tốt vì cát đỏ vàng, màu sắc mà loài dế rất thích.
 

Tú Khánh rất cẩn thận, cậu lật một cục đá lớn. Ở dưới có một hang nhỏ. Có một con vật xinh xắn nhảy ra vóc dáng thật hùng hổ. Tú Khánh báo động ngay và hai cha con bắt đầu cuộc vây bắt. Con vật khôn ngoan lại chui ngay vào một hang nhỏ khác, cậu cong người móc tay cố tìm cách kéo con vật ra, nhưng bàn tay cậu chẳng thể nào chui lọt. Hì hục một hồi lâu, Tú Khánh đã để cha cậu ngồi gác trong khi cậu xuống suối gần đó lấy nước để đổ vào hang. Vài phút sau đó chú dế đã nhảy gọn vào trong lồng. Trông chú thật to và đẹp, đó là một loại dế "cổ đen" với hàm rộng, thân hình dắn chắc, cặp đùi khỏe mạnh, cả thân hình phủ một màu đỏ nâu như sơn mài. Tú Khánh và cha cậu vô cùng hãnh diện về công lao của họ.

Trở về lòng sung sướng tràn đầy, người cha cẩn thận để con vật trong một hũ tròn ngay trong phòng của ông, muốn chắc chắn ông còn chặn trên miệng một tấm chắn, ông dặn vợ phải trông coi kỹ lưỡng đề phòng mèo hàng xóm cũng như không cho ai chạm vào.

Tú Khánh thì cảm thấy thích thú vô cùng, lúc đầu còn sợ cha, cậu chỉ đứng ngoài cửa nhìn vào và nghe tiếng gáy ròn rã của chú dế. Bỗng nhiên con dế ngừng gáy, chẳng động tĩnh gì nữa. Chờ một hồi lâu, Tú Khánh nóng ruột đẩy cửa vào, ghé mắt qua những lỗ hổng của tấm chắn, cậu chỉ thấy trong hũ tối đen, chẳng thấy chú dế đâu. Cậu vội kéo tấm chắn ra, đồng thời lúc đó một tiếng động nhỏ, con dế đã nhảy thoát ra ngoài. Tú Khánh hoảng hồn đóng cửa sổ, cậu phải vất vả lắm mới bắt được con dế dưới gầm tủ, nhưng không may mắn con dế bị gãy mất cẳng bên trái.

Tú Khánh sợ hãi điếng người, thế là hết giải vô địch quốc gia. Miệng cậu khô lại, nhưng cậu chẳng thể nào khóc được.

- Chết rồi con ơi, cha con mà về bây giờ thì chết.

Đó là tiếng mẹ cậu than thở. Mặt cậu trắng bệch, bỗng nhiên cậu ù té chạy ra khỏi nhà.

Một thời gian lâu sau đó, khi cha mẹ cậu đã ăn xong bữa chiều và ngồi chờ Tú Khánh. Họ hy vọng cậu trốn nơi nào đó, chắc đói bụng thế nào cậu cũng về. Mười giờ tối, hai ông bà không thể nào chờ đợi thêm nữa, họ bắt đầu tìm kiếm cậu. Vào giữa đêm họ đã nhìn thấy cậu dưới đáy một giếng khô. Nhờ hàng xóm giúp đỡ họ đã mang Tú Khánh ra khỏi giếng, cậu hoàn toàn bất động, chẳng còn sức sống, trán cậu chảy máu nhiều vì vết sứt vào thành giếng, nhưng may mắn, ngoài ra chẳng còn vết thương nào khác. Họ sưởi ấm và băng bó vết thương, lúc này tim cậu đập rất yếu ớt. Tình trạng của cậu thật trầm trọng. Thày lang y được gọi đến nhưng ông có vẻ thất vọng.

Sáng hôm sau Tú Khánh có thể ăn được ít cháo, nhưng cậu thay đổi hoàn toàn, sức sống của cậu không còn, cậu như sống trong một thế giới xa lạ, cậu chẳng còn nhận ra cha mẹ, ngay cả người chị về thăm cậu cũng chẳng nhận ra. Người lang y cho rằng bịnh cậu rất khó chữa, trong giấc mơ cậu vẫn la: - "Tôi đã giết nó, tôi đã giết nó - một con dế cổ đen..."

Dù sao Tú Khánh vẫn còn sống, ông Chung nhớ ra chỉ còn hạn bốn ngày nữa để bắt một con dế khác nộp cho quan Tổng Đốc. Ông trở lại khu mồ mả cổ và bắt thêm được nhiều dế khác nhưng hình như chưa có con nào nổi bật. Khi trở về nhà, trong lúc âu sầu ông bỗng nghe một tiếng kêu sang sảng của một con dế trong bếp. Ông vội vã chạy vào định bắt, nhưng con dế đã nhảy ngay vào tay ông như muốn được bắt. Sự kiện xảy ra thật lạ lùng, tuy nhiên nhìn con dế đen nháy trong tay ông thất vọng vô cùng vì nó nhỏ bé quá, mặc dù cổ nó dài, hai cẳng tốt có dáng dấp của một con dế vô địch. Ông ngần ngừ chưa dám đem trình quan Tổng Đốc.

Một người bạn ông cũng bắt được một con dế quí. Con dế này đã hạ hầu hết con dế khác trong làng nhưng chưa ai hỏi mua, người bạn đó hy vọng đem lại, ông Chung thế nào cũng bỏ tiền ra mua. Đây là dịp tốt ông Chung đem con dế nhỏ ra so tài vì nếu con dế bé nhỏ có bị hạ ông cũng chẳng ân hận gì. Thế là hai chú dế được đặt đối diện nhau, con dế nhỏ trông hoàn toàn yếu thế. Con dế lớn bắt đầu nhe răng tiến tới nhưng con bé vẫn hoàn toàn yên lặng. Người bạn dùng đầu que tăm có lông cứng khiêu khích con bé, thế là hai con bám sát nhau. Một giây sau, cả hai người chứng kiến đều nhận thấy bỗng nhiên con dế nhỏ gáy rút lên, giơ hai hàm nhọn hoắt với dáng điệu vô cùng mạnh mẽ nhảy chồm lên con dế lớn, ngoạm vào cổ đối thủ. Người bạn vội vàng nâng hộp lên lắc mạnh để hy vọng cứu con vật của mình, con dế thắng trận đầu tiên một cách vẻ vang.

Trong khi ông Chung hoan hỉ với con dế quí, ông không chú ý đến con gà từ đâu chạy đến, thấy chú dế con đen nháy ngon lành liền nhảy tới mổ nhưng con dế nhanh nhẹn nhảy đi, gà chồm theo và chú dế bé con đã bị gà nuốt trọn, tưởng đâu thế là hết, con gà bỗng ngắc cổ, chú dể nhỏ nhảy ra khỏi cổ con gà và bám cắn mào con gà - những người chứng kiến đều sững sờ, không phản ứng gì được.

Bây giờ thì ông Chung đã hoàn toàn tin ở chú dế nhỏ, ông quyết định đưa lên trình quan Tổng Đốc. Ông đã kể lai lịch và thành tích con dế nhưng quan Tổng Đốc chẳng tin chút nào. Sau đó trong mọi trận đấu, con dế hoàn toàn thắng lợi bởi thế quan Tổng Đốc tin tưởng vô cùng, ông sai thợ làm hộp vàng đựng dế, rồi gởi vào cung dâng vua.

Ông Chung cũng tin rằng rồi ra con dế bé nhỏ này cũng có thể chữa lành bệnh cho con ông, cậu Tú Khánh hình như vẫn trong tình trạng hôn mê. Mẹ cậu phải cho đồ ăn vào miệng bằng muỗng nhỏ. Bà nhiều lần nhận thấy bắp thịt tứ chi cậu giựt rất mạnh mẽ và đổ mồ hôi nhiều, bởi bệnh trạng đó người lang y càng quyết đoán rằng cậu bị ám ảnh bởi mối thù hận nào đó, hiện tại thì cậu đang sống trong ký ức. Ba ngày sau bịnh tình cậu lại bộc phát, rồi dần dần cậu tỉnh táo hơn. Mẹ cậu vẫn nhớ rõ đó là ngày đầu tháng chạp, cậu đã tươi cười nói với mẹ rằng:

- Con đã thắng mẹ ơi.

- Con nói sao?

- Con đã thắng.

- Thắng cái gì chứ?

Cậu lại hôn mê, lần này kéo dài đến nửa tháng. Vào một buổi sáng, cậu tỉnh dậy và gọi mẹ:

- Mẹ ơi con đói quá.

- Sao con yêu, con đã khỏi rồi sao?

Người mẹ vừa nói vừa lau vội dòng nước mắt sung sướng.

- Con đã ngủ một giấc dài.

- Con đã ngủ những bao lâu hả mẹ?

- Ba tuần con ạ, con làm cha mẹ lo lắng quá.

- Thế mà con chẳng biết gì cả - cha ơi con đã lỡ làm hư con dế đá của cha, cha có tha lỗi cho con không?

- Đừng buồn nữa con ạ, trong khi con đau cha đã bắt một con khác tốt hơn, giờ đây chắc nó đang đoạt thêm thành tích, hy vọng nó sẽ thắng và gia đình ta chắc sẽ giàu có hơn.

Gia đình lại trở về khung cảnh hạnh phúc. Tú Khánh có thể ăn được nhưng bắp thị của cậu vẫn còn đau đớn.

- Điều đó thật lạ mẹ ạ, con cảm thấy hình như con đã chạy hàng trăm cây số.

Ngày sau, Tú Khánh có thể dậy và đi lại được. Sau bữa ăn chiều, cả gia đình quây quần bên đèn, cắn hạt dẻ. Bỗng nhiên, Tú Khánh như khám phá được điều gì.

- Con đã ăn hạt dẻ này ở đâu rồi!

- Ở đâu con?

- Ở triều đình, đúng rồi.

- Con có mơ không?

- Không mẹ ạ, con đã đến đó, trong chiếc lồng vàng, con nhận thấy các bà, các cô ăn mặc đủ màu sắc xanh đỏ.

- Con đã mơ lúc con đau sao?

- Không, điều đó đúng, mẹ tin con đi, con đã đến đó.

- Con nhìn thấy gì nữa?

- Nơi đó con thấy đàn ông mặc áo thụng với mão trên đầu, trong số đó có một người mà con tin là vua, mọi người đều chăm chú nhìn con, chợt nghĩ đến mong ước của cha mẹ nên con đã quyết thắng. Khi lồng vừa mở ra, con nhìn thấy một con dế to lớn với đôi cẳng dài, con sợ hãi hết sức, mãi tới khi nhập cuộc, cuối cùng con thắng. Đêm nào cũng thế, con tranh đấu với ý nghĩ quyết thắng. Đêm cuối cùng con phải đối đầu với một con đầu đỏ, trông thật dễ sợ, nhưng con an tâm, con bình tĩnh tiến về phía hắn, khi hắn nhe hàm ra, con đã chồm lên, chưa lúc nào con lại nhanh nhẹn đến thế, con xé rách cánh trái và cắn gãy chân phải của hắn. Hắn trở nên điên cuồng, hùng hổ tiến về phía con. Con nghĩ đến việc phải làm khi hắn tiến đến, cuối cùng cặp mắt hắn đầy máu, không còn nhìn được nữa thì con đã cắn ngay cổ và kết liễu đời hắn.

Tú Khánh kể chuyện như đang xảy ra trước mặt. Cha mẹ cậu vẫn tin rằng cậu đang kể lại điều đã mơ thấy.

- Như thế con đã đoạt giải sao?

- Con tin thế.

Tại triều đình người ta đã bàn tán với nhau về con dế vô địch, chưa bao giờ họ thấy một chuyện lạ như thế, họ không ngờ một con vật nhỏ lại có sức mạnh phi thường, nó đã thắng bất cứ con vật nào dù lớn gấp hai nó. Hầu hết đầu bị quật ngã bởi ngón đòn sở trường là nhảy lên lưng và cắn đầu. Nhưng đêm cuối cùng khi dế mèn được tuyên bố là vô địch thì sáng hôm sau người ta không còn thấy nó trong lồng vàng nữa.

Tin vui đã được báo cho gia đình Tú Khánh biết, người cha khóc vì quá vui mừng, vị hương cả khoác vội bộ cánh đẹp nhất và mang theo Tú Khánh lên diện kiến quan Tổng trấn. Gia đình Tú Khánh từ đó trở nên sung túc - Tú Khánh có thể đi học trường tỉnh, mặc dù cậu vẫn thích thú với câu chuyện đá dế nhưng cậu chẳng bao giờ dám bắt dế và không dám xem hai con dế đá nhau nữa.
 

Ít lâu sau đó cậu trở nên một học trò giỏi nhất tỉnh, hàng ngày cậu vẫn giúp đỡ cha mẹ vì lúc này ông bà tuổi đã già. Ông Chung thường đem chuyện con dế vô địch ra kể cho trẻ em mãi mà không biết chán. Cuối câu chuyện ông thường kết luận rằng: "Các cháu có nhiều cách để chứng tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ nhưng nếu tâm hồn ta tốt và không có hoàn cảnh thì trời đất sẽ giúp đỡ ta chứng tỏ lòng hiếu thảo đó".


TRƯỜNG KỲ dịch      

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 77, ra ngày 18-2-1973)

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2020

Bài Toán Đố

 

Trong khi ba mẹ đang ngồi cạnh nhau trên ngưỡng cửa trước nhà, Mai Liên và Bích Diệp cúi đầu trên những trang giấy nháp, cắn đầu bút và hai chân lúc lắc dưới bàn. Bỗng nhiên ba hỏi:

- Thế nào, bài toán đã xong chưa?

Hai cô bé đỏ mặt, kéo cán bút ra khỏi miệng:

- Thưa ba chưa, khó quá, có lẽ cô giáo cho sai.

- Cô giáo ra bài, tức là phải làm được, tụi mày lúc nào cũng thế, cứ chơi là giỏi, mà ngu thật, không làm nổi một bài toán.

- Thưa ba, bây giờ hai giờ rồi, mấy đứa bạn con đang chờ Mai Liên nói.

- Này, phải ở nhà buổi chiều nay để làm cho xong bài toán, nhớ nhé nếu không xong thì đừng hòng nghĩ đến đi chơi nữa.

Ba mẹ có vẻ giận dữ lắm, vì không ngờ hai cô bé không thể làm nổi một bài toán, và khi nhìn trên tờ giấy nháp thì tức chưa, Mai Liên thì vẽ hình cô bé choàng khăn đỏ, còn Bích Diệp vẽ một cái nhà với ống khói to, bên cạnh đó một cái ao, một con vịt đang bơi lội, trên con đường dài trước mặt nhà người phát thư đang đạp xe.

Ba nói:

- Thật xấu hổ khi có con như bọn bay.

Thế rồi ba đi đi, lại lại, giơ tay như muốn đánh, thỉnh thoảng nện mạnh gót giày trên nền nhà, con Vện, thức dậy lại gần bọn trẻ, sau khi hiểu rõ mọi chuyện, con chó bèn lên tiếng bênh vực:

- Thưa ông chủ, thật vô lý quá, ông vừa la hét, vừa nện gót giày như thế làm sao mấy cô giỏi toán cho được vả lại ông không thấy rằng ngoài kia trời đẹp quá.

- Đúng đó, nhưng mày nghĩ coi, sau này khi hai mươi tuổi, chúng nó phải lấy chồng, đến khi đó chúng nó biết làm gì đâu?

- Các cô sẽ chỉ cho chồng cách nhảy trừu và thảy banh, có đúng thế không hai cô?

Bọn trẻ nhao nhao lên:

- Đúng đó, đúng đó.

- Im đi, thật không biết xấu hổ, hai con đần kia, không làm nổi một bài toán hử.

- Ông chủ đừng buồn, nếu như hai cô không thể làm được thì dù ông muốn cũng chẳng hơn được, tốt nhất là cho các cô ấy đi chơi.

- Thay vì vẽ bậy... nhưng thôi chẳng mất công với mi, Vện ạ. Tao đi đây, nếu chiều nay không giải xong thì lỗi ở mày đó.

Nói xong ba vào bếp nhặt một vài vật dụng rồi cùng mẹ ra vườn đào khoai tây. Nghiêng mình trên tập giấy nháp, Mai Liên và Bích Diệp nức nở khóc, con vện hai chân đặt trên bàn lấy lưỡi liếm tay hai cô bé ra chiều an ủi. Nó nói:

- Đừng thất vọng, tôi sẽ gọi tất cả các súc vật lại đây, chúng ta hợp sức lại thế nào cũng tìm ra đáp số.

Lập tức con vện nhảy qua cửa sổ, tìm con ngựa đang ăn cỏ ngoài đồng, vện nói:

- Này chú ngựa, khu rừng trong làng rộng 16 mẫu...

- Đúng như vậy sao? Nhưng như thế có ích lợi gì đâu? 


Con chó vội giải thích về sự buồn bã của hai cô chủ bé nhỏ, do đó mới đưa bài toán đố nhờ các gia súc giải hộ. Thế rồi nhảy lên lưng ngựa, chú vện vừa la hét vừa ra hiệu để tụ họp các gia súc lại. Lần lượt, những con gà bỏ sân thóc, những chú vịt xiêm bỏ ao cá, con heo bỏ máng ăn về tụ họp trước sân gần bếp. Ở đó đã có sẵn chú mèo xiêm, chú bò và con lừa mà ông chủ mới mua về, tất cả xếp thành một vòng tròn bao quanh hai cô bé, chú vện và con ngựa. Con vện, trong vai trò của người triệu tập đại hội, lên tiếng giải thích về lý do cuộc họp bất thường này là nhằm giúp Mai Liên và Bích Diệp giải một bài toán đố khó khăn. Và sau đó bài toán được đọc lên:

"- Khu rừng trong làng rộng 16 mẫu..."

Sau khi nghe xong, toàn thể thú vật hiện diện im lặng suy nghĩ. Chú vện nháy mắt nhìn các cô bé đang vui vẻ tràn trề hy vọng. Nhưng mười phút trôi qua, các thú vật nhìn nhau ra chiều thất vọng, những con vịt thì không nghĩ được gì cả còn những con ngỗng có vẻ đau đầu.

- Bài toán có thực khó lắm không?

- Khó lắm chứ Mai Liên đáp thực ra chẳng hiểu gì cả.

- Nếu tôi được biết qua, tôi sẽ giúp ý cho.

Bích Diệp đọc lớn: "Khu rừng trong làng rộng 16 mẫu, biết rằng trên mỗi sào người ta trồng 3 cây soài, 2 cây mít và 1 cây mận. Hỏi có bao nhiêu cây mỗi loại?"

Con Vện nói:

- Tôi rất đồng ý rằng đây không phải là một bài toán dễ gì. Nhưng thế nào là một mẫu đất?

Bích Diệp lớn có vẻ thông minh hơn trả lời lưỡng lự:

- Một mẫu đất thì cũng như một sào, nhưng cái nào lớn hơn thì tao không rõ... Tao tin rằng mẫu lớn hơn.

Mai Liên cãi lại:

- Không phải đâu, sào phải lớn hơn chứ.

- Thôi đừng cãi nữa, sào lớn hơn hay mẫu lớn hơn không quan trọng gì cả, hãy đọc lại bài toán xem nào: "Khu rừng trong làng rộng..."

*

Sau khi nhẩm đi, nhẩm lại và thuộc lòng bài toán, vện ra chiều suy nghĩ, thỉnh thoảng vẫy tai, mỗi lần như thế bọn trẻ lại hy vọng thầm, nhưng sau cùng tình trạng có vẻ không tiến triển hơn. Vện hắng giọng nói:

- Khó quá!

Bọn thú vật đồng thanh kêu lên:

- Đó không phải là một bài toán dành cho chúng tôi, không hiểu gì cả, tôi xin bỏ.

Con chó vội la lên:

- Đừng bi quan chứ, ráng nghĩ thêm đi, đừng bỏ rơi các cô bé tội nghiệp.

Con heo lên tiếng:

- Tốt nhất đừng nghĩ gì cả, vì có ích gì đâu?

Con ngựa can thiệp ngay:

- Dĩ nhiên như thế, nhưng tụi mày nghĩ coi, ông chủ thì dữ lắm và các cô bé thật tội nghiệp.

- Không phải thế, tôi muốn làm giúp lắm chứ, nhưng với bài toán này, thì...

- Im lặng.

Bọn thú vật lại bắt đầu suy nghĩ, cố tìm cho ra lời giải đáp, nhưng kết quả không khả quan hơn được. Chị ngỗng càng ngày càng thấy đau đầu, mấy chú bò thì bắt đầu ngáp ngủ, con ngựa thì dù cố gắng hết sức, đầu vẫn lắc qua lắc lại ra vẻ thất vọng. Bỗng nhiên từ xa chị gà mái le te đi tới. Con ngựa chận ngay chị lại và nói:

- Này chị gà mái, bộ chị không nghe còi triệu tập hay sao?

Gà mái chặn họng ngay:

- Tôi mắc đẻ trứng, này anh ngựa, anh đừng ngăn tôi đẻ trứng chứ.

Nói rồi gà mái chen vào giữa đám súc vật. Sau khi chọn được chỗ tốt trên hàng đầu, chị bắt đầu hỏi về lý do buổi họp. Con chó một lần nữa lại phải giải thích rõ ràng và bài toán được đọc lên: "Khu rừng trong làng, diện tích 16 mẫu...". Nghe xong chị gà mái trả lời ngay:

- Được rồi, không biết các anh nghĩ sao, đối với tôi rất đơn giản.

Tất cả tỏ vẻ ngạc nhiên lẫn nghi ngờ, lao xao bàn tán:

- Nó không tìm ra đâu nó chỉ làm bộ thế nó cũng biết như chúng ta là cùng các bạn nghĩ coi nó chỉ là một con gà.

Con chó vội nói:

- Ô kìa, hãy để cho chị gà nói chứ im lặng đi chú heo và cả chị vịt, chị ngỗng nữa. Nào, bây giờ chị tìm thấy gì chị gà?

Gà mái chậm rãi đáp:

- Tôi nói đơn giản lắm, nhưng tôi ngạc nhiên quá, sao ở đây chẳng ai nghĩ ra cả. Này nhé, khu rừng của làng rất gần đây, vậy thì muốn biết trong đó có bao nhiêu cây mít, bao nhiêu cây xoài, bao nhiêu cây mận, chỉ việc đến đó đếm thì biết ngay chứ gì? đó, các anh có thấy đơn giản không?

- Ý kiến thật hay.

- Chị gà giỏi lắm.

Mỹ Liên và Bích Diệp thì vui vẻ ra mặt, chúng không ngờ lại có thể dễ dàng như thế. Hai cô bé ôm choàng lấy chị gà, vuốt ve bộ lông trắng muốt của chị và nhét mấy hạt thóc vào mỏ. Những con khác vây chung quanh để khen ngợi. Riêng chú heo không giấu được thán phục, la lên:

- Thật tôi không ngờ, một con vật tệ như chị lại có thể nghĩ được điều đó.

Thế rồi, dẫn đầu nhóm súc vật trong trại, Mai Liên và Bích Diệp tiến về phía khu rừng. Tại đây, các con vật phải học để nhận biết thế nào là một cây mít, một cây xoài và cây mận. Rồi chúng chia khu rừng làm nhiều phần, mỗi con phải phụ trách một khu vực. Chú heo được chia một góc, nơi đó không quan trọng lắm, nên nó ủn ỉn ra vẻ không bằng lòng. Gà mái nhận thấy thế liền nói:

- Ông bạn quí ơi, tôi không anh sẽ làm được gì ở cái góc rừng này, nhưng tôi biết rằng người ta thường nói: "ngu như heo".

Heo cãi lại:

- Con vật tệ kia, mày chỉ biết múa mỏ, không biết làm toán thì thôi còn bắt người ta đi đếm cây.

Chẳng mấy ai chú ý đến con heo nữa, mỗi người mỗi việc chạy lăng xăng đếm từng gốc cây, sau đó về báo lại cho Mai Liên và Bích Diệp ghi vào giấy nháp.

Chị ngỗng báo cáo:

- Hai mươi cây mít, mười cây xoài, tám cây mận.

Chú ngựa:

- Mười lăm cây mít, mười ba cây xoài, năm cây mận.

Chỉ vài phút sau, ba phần tư cây rừng được đếm xong, chỉ còn phần chú heo. Chị gà trắng, chị vịt và chú ngựa được giao nhiệm vụ đếm hết phần còn lại. Bỗng nhiên nơi cuối rừng có tiếng chú heo la lớn:

- Cứu tôi với, cứu tôi với.

Bích Diệp và Mai Liên cùng các con vật theo tiếng kêu chạy lại, thì nhận thấy con heo bốn chân đang run lẩy bẩy, trước mặt hắn, một chú khỉ đột mặt đỏ lòm đang tức giận la hét:

- Loài đần độn, mi ở đâu đến đây phá giấc ngủ của ta giữa ban ngày vậy? Ta sẽ cho mi một bài học.

Trong khi đó, một đàn heo rừng con chạy đến vây chung quanh con heo, thế là chú heo vừa nhẩy vừa la, sợ hãi tột độ. Khỉ đột nói:

- Còn các cô này nữa, các cô không biết sợ sao? Người ta mà thấy các cô vào rừng thì không tránh được đòn đâu nhé.

Hai cô bé có vẻ sợ sệt, nhưng nhìn thấy những con heo rừng nhỏ xinh xắn các cô quên ngay chạy vội đến nâng niu vuốt ve như những con heo nhà. Mấy con heo rừng được ôm trong lòng thích thú và mến chuộng hai cô bé lắm. 


 - Chúng đẹp quá nhỉ, chúng dễ thương nữa chứ. 

Chú khỉ không còn vẻ hung dữ nữa, đôi mắt vui vẻ lại, nhưng vẫn còn giận con heo lắm:

- Đàn heo con đẹp thật, vả lại, chúng vô tư chẳng lo lắng gì cả, nhưng còn con heo ngu muội kia... hai cô bé, các cô dẫn đàn súc vật vào giang sơn của ta với dụng ý gì thế?

- Anh khỉ đột này, bọn ta đến  đây không phải để phá phách gì đâu, để chú ngựa sẽ giải thích cho, bọn ta phải làm một bài toán.

Con ngựa tiếp lời, giải thích:

- Anh có thể tưởng tượng được rằng cô giáo đã ra một bài toán thật dễ không?

- Anh ngựa ơi, tôi phải xin lỗi trước, tôi không hề biết đếm đâu nhé, vả lại anh thấy không, sống ở đây tôi thấy quạnh hiu quá, bọn tôi chỉ có thể ra được ban đêm, do đó đời sống trong làng hầu như xa lạ, tôi thật ngu ngốc chẳng biết gì cả, chẳng hạn thế nào là một cô giáo, thế nào là một bài toán?

Con ngựa được dịp để giải thích. Con khỉ co vẻ thích thú được học lắm và tiếc rẻ không được gởi những con heo rừng nhỏ đến học cô giáo.

- Anh ngựa ơi, bài toán như thế nào?

- Đây, anh nghe cho rõ nhé: "Khu rừng trong làng có diện tích..."

Khi ngựa đọc hết bài toán, khỉ bèn gọi mấy con sóc đang nô giỡn trên cành cây gần đấy lại gần và dặn:

- Các anh làm ơn đếm dùm xem khu rừng này có bao nhiêu cây mít, cây xoài và cây mận, đếm cho mau nhé, tôi chờ các anh ở đây.

Mấy con sóc lao xao:

- Dễ ợt mà, anh khỉ ơi anh tin tôi đi, chỉ mười lăm phút thôi.

Thế rồi chúng chuyền biến mất.

Lúc này thì con heo vẫn bị bầy heo rừng con vây vào giữa. Bỗng nhiên nó chợt nhớ đến công việc được giao phó. Thế là hắn vội vã lách mình chạy đi lo đếm các gốc cây còn lại. Nhưng từ xa, con vịt, con gà mái trắng chạy lại:

- Thôi khỏi mệt xác, anh heo mập ạ, chị vịt và tôi đã chia sẻ công việc của anh rồi.

Mai Liên, Bích Diệp cộng bài toán cuối cùng rồi trịnh trọng tuyên bố:

- Đây là đáp số bài toán, khu rừng làng gồm có 3.918 cây mít, 1.214 cây xoài và 1.602 cây mận.

Con heo xen vào:

- Đúng rồi, tôi cũng nghĩ như thế.

Bích Diệp cám ơn những súc vật đã giúp cô giải bài toán và đặc biệt con gà mái trắng đã đưa ra sáng kiến đầu tiên.

Nắng bắt đầu tắt, vện lên tiếng:

- Mặt trời lặn rồi, chúng ta phải về chứ.

Chú khỉ nhắc:

- Các anh phải chờ một chút, các chú sóc đã mang thêm kết quả về kìa.

Con sóc tuyên bố:

- Khu rừng có 3918 cây mít, 1214 cây xoài và 1602 cây mận.

Mai Liên nói:

- Điều đó chứng tỏ chúng ta không hề lầm, ngày mai cô giáo sẽ cho chúng ta 10 điểm, và ba mẹ sẽ mua cho ta một ngòi viết mới...

Con khỉ nêu ý kiến:

- Này các anh các chị, tôi muốn đến lớp học để xem các cô được khen  thưởng như thế nào.

Các súc vật khác nhao lên tán thành.

- Tôi cũng thế.

- Tôi cũng thích đến trường lắm.

- Thế thì ngày mai, chúng ta cùng đến trường nhé.

Khi ba mẹ từ ngoài vườn trở về, Mai Liên và Bích Diệp đang chơi trong sân. Ba hỏi ngay:

- Sao, bài toán của các con thế nào?

- Thưa ba, bọn con đã làm xong nhưng thật vất vả.

Con heo từ xa chạy lại nói thêm:

- Bọn tôi phải vào tận trong rừng mới tìm ra đáp số.

- Được lắm, nhưng để ngày mai xem cô giáo cho bọn bây mấy điểm, chúng mày vốn hay cẩu thả lắm, tao biết.

Bích Diệp và Mai Liên cãi lại:

- Không đâu ba, chắc chắn đúng mà.

Một lần nữa con heo lại xen vào:

- Chính con sóc đã đi đếm lại mà ông chủ.

Ba gắt với nó:

- Con sóc? làm gì có sóc ở đây, thôi đi heo, mày về chuồng mau đi không tao cắt tiết mày bây giờ. 
 
Sáng hôm sau, khi đến lớp học, cô giáo ngạc nhiên vô cùng vì xen lẫn trong đám học trò bé nhỏ của cô còn có ngựa, heo, gà, vịt, chó và trên cành cây giữa sân một chú khỉ đang trố mắt nhìn cô. Cô giáo đang định la lên, thì Mai Liên và Bích Diệp vội chạy đến giải thích:

- Thưa cô đừng sợ, con khỉ này dễ thương lắm.

Các thú vật chạy lại và chó đại diện nói:

- Thưa cô chúng tôi không muốn làm bận rộn cô, nhưng chúng tôi nghe nói lớp học thích lắm nên chúng tôi muốn xin cô một ân huệ.

Cô giáo lưỡng lự, nhưng rồi quyết định cho cả bọn vào lớp.

- Tốt lắm, bọn ta sẽ trở nên giỏi giang hết.

Thế rồi, các con vật sắp hàng một theo nhau vào lớp. Con chó, con khỉ và heo được ngồi gần các cô học trò, chú ngựa vì to lớn quá phải đứng dưới cuối lớp, còn con gà mái trắng được leo lên chồng hồ sơ trên bàn. Lớp học bắt đầu với bài tập viết và sau đó, một bài học lịch sử. Các thú vật thích thú nghe cô giáo kể chuyện Trần Quốc Toản dù còn bé mà chí khí cao. Khi nghe tới đoạn Trần Quốc Toản vì tức không được tham dự cuộc họp mà bóp vỡ trái cam trong tay, chú Heo có vẻ thèm thuồng lên tiếng:

- Tại sao có cam không ăn lại bóp uổng như thế, thưa cô giáo?

Con khỉ có vẻ bất mãn:

- Thật ngu như heo, mi lúc nào cũng nghĩ đến ăn.

Thế rồi khỉ bèn tát cho heo ta một cái nên thân. Heo bỏ chạy, khỉ đuổi theo dưới gầm bàn. Khỉ đuổi heo, vừa chạy vừa la làm lớp học tán loạn. Ngựa và chó vội vã can thiệp. Khi trật tự được vãn hồi, khỉ chạy lên xin lỗi cô giáo:

- Tôi thật vô lễ quá, nhưng con heo khốn nạn này nó không cho tôi học.

Cô giáo viết lên bảng:

- Khỉ không điểm hạnh kiểm. Heo không điểm hạnh kiểm.

Heo và khỉ buồn lắm, nhưng cô giáo thì không muốn bỏ đi tí nào. Trái lại, gà mái trắng, chó và ngựa được 10 điểm hạnh kiểm vì đã tỏ ra ngoan ngoãn và có công giữ lại trật tự lớp học.

Sau giờ chơi là giờ toán. Cô giáo hỏi:

- Có ai giải được bài toán hôm qua không?

Chỉ có Mai Liên và Bích Diệp giơ tay, nhưng khi nhìn vào đáp số cô giáo lắc đầu. Rồi cô cho hai cô bé điểm xấu. Cô bắt đầu giảng giải bài toán, nào là một mẫu có 10 sào, nào là sao phải nhỏ hơn mẫu... như vậy đáp số bài toán là 4800 cây mít, 3200 cây xoài và 1600 cây mận. Chị gà trắng không bằng lòng, hỏi cô giáo:

- Thưa cô, tôi chắc rằng cô đã lầm, vì trong rừng chỉ có 3918 cây mít, 1214 cây xoài và 1602 cây mận, chính chúng tôi đã đếm lại đến hai lần, nếu cô không tin...

- Này chị gà, đây là lớp học, mà chúng ta làm toán tức là học lý luận chứ.

- Không thể được, thưa cô, chúng tôi đã mất cả một buổi chiều để đếm mà.

Chó, heo bổ túc ý của chị gà:

- Đúng thế, thưa cô giáo.

Khỉ nói:

- Chính các con sóc của tôi đếm từng thân cây một.

Cô giáo lại phải giải thích cho các con vật rằng đáp số bài toán không thể so với thực tế được. Mai Liên và Bích Diệp thì không bằng lòng.

Lúc đó, ông giám học đi qua lớp. Thấy ồn ào, ông ghé mắt nhìn vào và cũng ngạc nhiên với lớp học có những con vật lạ lùng như thế. Cô giáo kể lại đầu đuôi câu chuyện. Sau khi hiểu rõ, ông yêu cầu cô giáo cho Mai Liên và Bích Diệp 10 điểm vì dẫu sao hai cô bé cũng đã lo lắng bổn phận và bỏ rất nhiều công phu cho bài toán.

Trên đường về, hai cô bé hớn hở vô cùng vì chắc chắn ba mẹ sẽ phải mua cho hai cô cặp ngòi viết mới. Và các thú vật thì vui vẻ vì hôm nay được đến lớp học.


TRƯỜNG KỲ       

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 65, ra ngày 19-11-1972) 
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>