Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

Lạc Đà Nam Mỹ (Lamas)


Loại lạc đà này chỉ được biết đến vào thời kỳ miền Nam Mỹ châu bị các nước Âu Châu xâm chiếm, khoảng đầu thế kỷ thứ 16.
 
Khi người Y pha nho chiếm đế quốc INCAS vào thời kỳ đó bao gồm các nước Chí lợi, Equateur. Pérou, Bolivie và một phần Á Căn Đình ngày nay - ngoài các báu vật, cổ vật họ còn khám phá ra loại gia súc rất hữu ích đó.
 
Loại lạc đà này nhỏ như con nai, không có bướu. Có một bộ lông mịn và dài rất nhiều mầu lộng lẫy. Mỗi mùa hớt lông đem lại cho gia chủ một nguồn lợi về len đáng kể. Tiếng kêu của nó giống hệt tiếng con trừu, nhưng nghe lanh lảnh nhất là vào những buổi hoàng hôn. Hình dáng thì là lạc đà, nhưng lại không có bướu, tiếng kêu là tiếng con chiên (trừu) người thời ấy không biết gọi nó là con gì nên đành đặt cho nó một cái tên rất ngộ nghĩnh "Oveyas" nghĩa là "nửa chiên nửa trừu". Thực ra nó là con LAMA theo tiếng gọi của dân INCAS, có nghĩa là lạc đà không có bướu, một loại gia súc tiện dụng. Vì cái hình dáng mập mờ của nó mà mỗi nơi đặt cho nó một cái tên, nhưng dù sao đi nữa nó cũng có những đặc tính thuộc về dòng họ của lạc đà nên ngày nay theo các nhà vạn vật học thì chúng được xếp vào loại lạc đà và mang một danh hiệu đặc biệt "Lạc đà không bướu".
 
Tuy với một thân hình mảnh khảnh, dáng dấp nhỏ bé, một lối đi không lấy gì làm vững cho lắm, thế nhưng LAMA lại rất khỏe, thích hợp với những đường mòn hiểm trở, dốc núi cheo leo. Nó có thể vận tải đến những nơi mà người ta khó có thể tới được. Trái ngược hằn với những chú lạc đà dong ruổi đường trường, vượt sa mạc của Phi Châu hay Á Châu, đây là những con vật của núi cao rừng thẳm và của cả những cánh đồng rộng bao la bát ngát.
 
Nhờ ở sức lực dẻo dai, bộ lông dầy óng mượt, nhất là cách nghỉ ngơi dưỡng sức, Lama có thề sống trên những đỉnh núi cao trên 3.500 thước, và những nơi có thời tiết luôn thay đổi. Đối với những người Bắc Mỹ, chỉ vận chuyển bằng ngựa hay bằng xe cơ giới, họ rất ngạc nhiên về loại lạc đà này, và họ cũng hiểu được rằng nhờ phương tiện nào mà hàng bao thế kỷ trước, dân INCAS đã giao dịch, vận chuyển và nhất là đã có những kinh thành vĩ đại trên các đỉnh núi cao hiểm trở, các đô thị ở các triền núi cheo leo! Ngoài tính cách vận chuyển chuyên chở rất phổ thông cho dân INCAS, Lama còn cung cấp thịt, sữa và len.
 
LAMA còn được dùng trong cả những thời kỳ chiến tranh như các dân tộc khác dùng ngựa. Nó tải khí giới, người, dụng cụ nào cần thiết của cuộc chiến và sau cùng nó lại chính là nguồn lương thực cho đoàn quân. Điểm đặc biệt nhất của loại súc vật này là sinh sôi nẩy nở rất mau nhất là ở vùng Pérou. LAMA cũng còn được các pháp sư dùng làm vật tế thần. Tại đền Cutzco, nơi chính điện, các thầy pháp, hàng ngày đặt trên bàn thờ một con Lama cạo trắng, sạch sẽ để tế thần mặt trời.
 
Sau cuộc xâm chiếm của người Âu Châu, số lượng Lama càng ngày càng giảm. Lý do chính là Lama bị lây dịch bởi các đoàn súc vật mang từ địa phương khác tới. Ngày nay, Lamas chỉ còn là loại gia súc thân mật, bất khả phân của đồng bào miền thượng tại Pérou và Bolivie.
 
Lamas có thể chuyên chở một sức nặng trên 50kg di chuyển trên các triền núi dốc, hiểm trở hay nếu cần, chạy suốt ngày không biết mệt với tốc độ 40km/giờ.
 
Sau một ngày chuyên chở mệt nhọc, lúc dừng chân Lamas được thả lỏng trong một khu vực rộng rãi nào đó nhưng vẫn bị dây thừng buộc cổ và cột ở một gốc cây hay một cái cọc. Khi được nghỉ ngơi như vậy, chúng nằm quây quần bên nhau, thật yên tĩnh, đầu hướng về phía mặt trời lặn. Khi vầng thái dương chiếu hắt những tia nắng vàng yếu ớt trên các ngọn cây, đồi núi báo hiệu một ngày sắp tàn thì các chú Lamas bắt đầu kêu lên những tiếng thảm thiết bi ai: càng lúc cổ càng vươn lên, kêu mãi cho tới khi mặt trời tắt hẳn và màn đêm buông xuống chúng mới thôi. Lúc đó Lamas mới từ từ đứng lên, tản mát mỗi nơi một con gặm cỏ hay lá cây.
 
Sau một giấc ngủ lấy sức, khi bình minh trở lại, Lamas lại hướng về phía mặt trời mọc, kêu la ầm ĩ cho tới khi mặt trời ló dạng. Người ta bảo chúng than khóc cho mặt trời bị chết và chào mừng mặt trời tái sinh.
 
Tính tình Lamas bình thường rất dễ thương: Cần mẫn, dễ dạy, vâng lời chủ... nhưng cũng hãy coi chừng vì khi chúng bị chọc tức, bị đánh đập, chúng sẽ để tâm trả thù. Nó trả thù bằng cách phun nước miếng và đồ ăn đang nhai trong miệng vào địch thủ.
 
Nếu một mai thảo cầm viên Saigon có nuôi mấy chú Lamas, chúng ta không nên đứng gần chuồng. Chúng sẽ coi chúng ta như là cừu địch và tất nhiên sự trả thù sẽ xẩy ra.
 
Ngoài loại Lamas được nuôi như gia súc, người ta còn tìm thấy một loại súc vật tương tự, nhưng sống hoang dã tại các vùng núi cao miền đất đỏ tại Pérou, chúng có tên là Ganaco, cũng có những đặc tính của một dòng họ lạc đà.
 
Đặc điểm của chúng là rất hung bạo. Khi tranh chức đầu đàn, hoặc tranh ăn... hai con đực có thể đánh nhau cho tới chết để giành phần thắng. Khi một con Cuanacoi biết mình phải bệnh không thể chung sống với đàn được chúng tự tách rời và đi lang thang kiếm một nơi nào đó sống lẻ loi chờ ngày chết. Phần đông những con Cuanacoi già sống lẻ loi cô độc cho tới ngày gục ngã, không thích sống chung cùng bầy.
 
Loài Cuanacoi ngày nay cũng hầu như gần bị tiêu diệt vì người ta thích săn nó để lấy lông làm len, lấy da để thuộc, vì da nó rất quí. Dân miền thượng còn dùng xương nó để chữa bệnh và làm khí giới. Một điểm nữa cũng làm cho chúng hao mòn dần, là các con Cuanacoi nhỏ không được mẹ bảo vệ kỹ càng nên hay bị các giống vật khác ăn thịt, nhất là loài kên kên và diều hâu.
 
 
VƯƠNG HUYỀN        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 62, ra ngày 29-10-1972)
 

Không có nhận xét nào:

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>