Hiển thị các bài đăng có nhãn Bút ký. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bút ký. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2023

Tuổi Thơ Với Nỗi Tủi Buồn

Nghe bác hỏi : cháu có chồng chưa? Dạ thưa bác cháu chưa có chồng. Chưa có chồng cô lấy gì ăn? Dạ thưa bác cháu ăn cứt mèo. Ăn cứt mèo nó có chua không? Dạ thưa bác nó chua quá trời. Chua quá trời sao vẫn còn ăn? Dạ thưa bác cháu ăn quen rồi.

Bọn trẻ xóm tôi thường tụ họp lại, nghêu ngao bài ca trên một cách thích thú. Cái bài ca thật dị hợm! Thoạt đầu, tôi tưởng chúng bịa đặt hoặc bắt chước ở đâu đó. Sau này, lân la dọ hỏi tôi được biết bài ca trên do vài cô giáo dạy các em ở lớp. Thật không ngờ! Hơi khó tin đấy! Nhưng không lẽ các em nói dối? Các em có sợ gì tôi đâu mà phải dối với trá kia chứ?

Không riêng ở xóm tôi, mà cả những khu vực xa gần khác cũng vậy. Có vài lần đi ngang qua, tôi lại được thưởng thức bài ca ấy. Cũng dọ hỏi, cũng được biết do cô giáo dạy! Không còn gì để nghi ngờ nữa. Buồn thay!

Tuổi thơ V.N. bây giờ, bị ảnh hưởng rất nhiều những điều không tốt vì chiến cuộc. Gia đình khó có thể ngăn chận kỹ lưỡng các em hát được. Học đường là nơi duy nhất mọi người tin cậy sẽ giáo dục tuổi thơ một cách hữu hiệu. Thế mà, chính nơi giáo dục các em, lại đi nhồi vào óc các em những bài ca dị hợm như thế. Còn nỗi buồn nào hơn nữa!

Những bài ca lành mạnh, vui tươi dành cho tuổi thơ đâu có khan hiếm quá trong rừng nhạc hiện nay? Không dạy các em hát, lại còn đem những bài ca dị hợm cho các em nghêu ngao.

Không có một ông bác nào mà đi hỏi cháu những lời lẽ lố bịch như thế. Và cũng không có một người cháu nào mà trả lời bác một cách lếu láo như vậy. Tuổi thơ nào đã biết chi chuyện chồng vợ, mà đem vào lời ca cho các em hát. Thật là điều tối kỵ. Đã thế còn thêm: Chưa có chồng cô lấy gì ăn? Dạ thưa bác cháu ăn cứt mèo, thì thật là hết nói nổi. Chưa có chồng lấy gì ăn? Tại sao không thể trả lời là còn sống nhờ cha mẹ, thế cũng còn đường được. Đi đem cái món vô lý, lố bịch "phân mèo" vào! Thật khôi hài quá trớn và tai hại! Hơn nữa lại đem phân tích hương vị của nó, rồi lại cho là ăn quen rồi. Với tuổi thơ mà nói ăn quen cái món kỳ hợm đó rồi, thì càng khả ố hơn nữa!

Nhìn các em hát bài ấy với gương mặt thích thú và nụ cười khoái trá trên môi, tôi không khỏi phát thẹn và buồn. Tôi đã có hỏi một vài em sao lại hát các bài kỳ cục thế, các em đều trả lời: "Đâu có kỳ cục! Cô giáo dạy mà anh. Tôi phân tích cái "kỳ cục" cho các em nghe, các em cười toe: "nhưng mà vui lắm anh ơi! Cô giáo dạy bài này cả lớp cười liền. Nhộn lắm, vui lắm". Tôi thoáng thấy chua xót trong lòng, và cảm thấy buồn bã lạ. Tự dưng, tôi không muốn nói thêm câu nào cả, để mặc các em đứng tôi lững thững bỏ về.

Tâm hồn, trí não tuổi thơ còn hồn nhiên và non nớt lắm. Các em rất dễ bị tiêm nhiễm ảnh hưởng những cái các em gặp và được dạy. Các em cần phải được ca những bài ca hào hùng nhưng vui tươi, lành mạnh, có thế tâm hồn các em mới giữ mãi được vẻ trong sáng, vui tươi. Những bài ca với kiểu "kỳ hợm" trên ảnh hưởng đến tâm hồn các em rất nhiều. Tụ họp lại ca hát bài trên đã đời, các em hứng thú chọc ghẹo nhau, em này gán cho em kia ăn cái món ghê tởm đó ; em kia gán lại em này. Thế là sinh ra ẩu đả, thế là cả gia đình các em đều bị gán dùng cái món đó. Tôi đã gặp trường hợp này nhiều rồi. Buồn thay!

Càng buồn thêm, khi tôi nhớ đến một số cô giáo dạy tiểu học bây giờ mà có vài lần tôi đã gặp và đã nghe kể lể nhiều. Vào lớp một cái là kêu các em lên viết bài cho các em dưới chép ; cho toán thì bắt các em làm đã, rồi kêu 1 em lên sửa ; khảo bài thì các em đọc cứ đọc, cô giáo cứ ngồi mà tô móng tay, đánh phấn.

Tội nghiệp! Các em nhỏ chăm, ngồi ngây người trước những bài toán chưa một lần nghe giảng kỹ, trong khi các bạn lười cứ tha hồ mà đùa giỡn, ngồi chơi. Các em đâu dám ho he, đâu dám "có thắc mắc gì cứ việc hỏi". Vì hễ hỏi là bị la ngốc và bợp tai liền. Những giờ học của các em chỉ kéo dài trong ồn ào, chẳng học thêm được cái gì mới mẻ, bổ ích cả. Có đôi lần, trong giờ chơi các em tiểu học nhờ tôi giải cho bài toán đố (trong những dịp tình cờ). Tôi giảng kỹ cho các em nghe để các em làm. Nhưng các em cứ đớ ra. Tôi hỏi tại sao, thì được biết các em... chưa biết làm tính nhân! Các em đã học tới lớp nhì rồi (lớp bốn bây giờ) và do cô giáo dạy. Tôi biết rõ trường tôi, tiểu học chỉ do toàn cô giáo dạy (rất ít thầy giáo) từ lâu. Thế mà vẫn không khỏi kinh ngạc để rồi chua xót.

Ôi! Tuổi thơ V.N. Các em đã chịu nhiều thiệt thòi vì chiến cuộc. Tìm về nơi học đường để nghe dạy dỗ các em chỉ gặp thêm thiệt thòi hay sao?

Buồn bã nhiều, ngao ngán nhiều. Nhưng tâm tôi vẫn tràn trề hy vọng. Vì tôi biết đó chỉ là thiểu số trong thời loạn lạc này mà thôi. Chung quanh tuổi trẻ chúng tôi và tuổi thơ các em, vẫn còn những vị Thầy, Cô đáng kính, tận tâm với nghề nghiệp.

Mong rằng, hy vọng rằng, mai sau, học đường được cải tiến hơn. Để không còn những thiệt thòi đáng buồn và xót xa cho tuổi trẻ và tuổi thơ. Lúc ấy tuổi thơ sẽ cất cao những lời ca vui tươi, sẽ long lanh ánh mắt tin yêu, sẽ thốt ra những lời lành mạnh và sẽ cười, một nụ cười thần thánh. Ôi! đáng yêu biết bao.

Và mong rằng các bậc cha mẹ, các anh chị lớn của các em, sẽ ngăn chận các em, khi nghe các em ca những bài ca kỳ hợm (mà một vài cô giáo trong lúc rảnh rỗi đã đặt ra). Và sẽ dạy các em ca những bài ca lành mạnh vui tươi...

Tuổi thơ VN cần được nuôi dưỡng bằng những dòng sữa ngọt. Như vậy, mai sau Việt Nam mới huy hoàng bất diệt...


TRẦN QUÁT      
18/5/73           

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 94, ra ngày 17-6-1973)

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2018

5 Ngày Ở Hải Đảo (II)


(Giũ, rửa, giã... thật nhiều lần rau câu vẫn còn lẫn san hô và cát nhuyễn). Trẻ em lợi dụng khi đi gỡ rau câu, nhặt thêm lũ ốc xa cừ, ốc hương, ốc heo... Than ôi! Chúng nào biết giá trị của vỏ ốc sống khi được mài dũa thành đồ trang sức, vật kỷ niệm..., nên chúng đem luộc hoặc nướng tất, rồi đem đập vỏ nát, lấy thịt ăn ngon lành.

Bức tranh chiều tàn trên bãi biển, hôm nay đẹp tuyệt. Nền biển với trời xanh lơ, xám nhạt dần và muốn che cả vầng thái dương ửng đỏ. Trên bãi san hô lởm chởm nâu và lốm đốm trắng là những bóng cao thấp không đều, lom khom thẩy từng túm rau câu vào gùi tre đeo sau lưng.

Mấy đứa lội nước lõm bõm, quên đem giầy bata nên đành chống đá ngầm với san hô bằng dép da. Chẳng mấy chốc mấy túi nylon đầy ắp ốc với san hô, phải loại bớt để chứa mấy con cầu gai. Khi đem về T. và Hải lui cui lôi phọt-môn ra tiêm ngay vào lũ ốc, sao biển, nhím biển và cầu gai... T. bắt được một con cá nóc bằng bàn tay, nhưng rất tiếc chú ta bị kim độc của nhím biển bắn chết, nằm lật ngửa phình bụng. Ốc với san hô được ngâm cho báng mùi, còn sao biển, cầu gai được T. và Hải phơi trên sân xi măng. Con chó mực lạ lùng chạy đến đánh hơi ốc với san hô rồi len lén chú ta ăn cắp miếng khô cá của hàng xóm phơi ở bờ tường tha vào gầm giường nhâm nhi.

Có tiếng còi xe Jeep như mời gọi. Thì ra một trong hai chiếc xe Jeep duy nhất trên đảo vừa ngừng trước cửa nhà Hải. Ba của Hải ngoắc hai đứa lên xe đi một vòng, cả Đáng nữa. Tài xế chính là chủ xe, ông nghị viên của tỉnh Bình Thuận, nhưng lập nghiệp và nhà cửa ở đảo. Trẻ nít tò mò bu theo cái xe lạ, dù nó được mang về hơn hai tháng rồi. Một chiếc khác của một ông nhà giàu thuộc xã Tam Thanh. Cả hai ông đều dùng xe để chở hàng và làm chân đi lại trên đảo. Chiều nay mười mấy ông có thể coi như toàn bộ tham mưu của đảo hội họp rủ nhau đánh chén. Chạy vòng vo rồi cũng về xã Long Hải. Tiệm kem của ông nghị viên được trưng dụng bàn ghế để làm một màn nhậu nhẹt. Mấy ông không cho tụi này nhậu kem. Mấy ông bắt buộc tụi này phải sơ sơ  ba chai la ve với mồi mực tươi xào dưa leo, rồi mực khô, cá khô... Trời tối lúc nào không hay, những câu chuyện dai nhách của mấy ông xã trưởng, phái viên, thư ký... hầu như không muốn dứt. Anh Hùng (em ông Nghị Viên) thay làm tài xế, đưa từng người về nhà. Anh dặn tụi này sáng mai đến anh dẫn đi leo núi. Bác L. (ba của bạn Hải và Đáng giờ đã nhập ngũ) hứa hẹn trưa nay cho tụi này, khi leo núi về, nhậu một bữa lăn quay với đồ biển, không chừng có cả gà với rượu mạnh.

Nhưng ba đứa chúng tôi không thể y hẹn. Vì sáng ngày đi nửa đường xe Honda của của Đáng nổ ruột, bung vỏ, phải lếch thếch dắt về. T. thắc mắc rất nhiều chuyện muốn các bạn kể nghe, nhưng họ hẹn ngày mai... ba đứa lại lông nhông làm một phát tắm biển... Tắm biển đối với dân đảo không có gì thích thú, ngày nào họ chẳng đụng chạm với nước mặn cho nghề nghiệp đâu... Tối chủ nhật cả bọn gặp vài bạn quen. Đáng lẽ giờ này họ ngủ và nghỉ ngơi để khuya thức dậy đi biển. Nhưng lâu ngày gặp kẻ "du học" từ phương xa trở về họ phá lệ. Chúng tôi không uống cà phê ở quán của nhà Đáng, mà kéo rốc tới quán của ông phái viên. Trò chuyện mãi cho đến khi quán sửa soạn đóng cửa dẹp mới thôi. Tuy rằng cũng có giới nghiêm, có tổ chức N.D.T.V. thật đấy, nhưng nơi đây yên lành, bà con xóm giềng với nhau, tha hồ đi lang thang không cần giờ giấc. Ngày thứ tư trên đảo là một ngày đầy kỷ niệm. Trước khi lên đường, má của Hải nướng ba con tôm thiệt là lớn và đổ gạo vào bao cho chúng tôi mang theo. Chở thêm cái tên rảnh rỗi hổm rày và thường đi chơi chung, mấy đứa lỉnh kỉnh đồ ăn với máy hình, trực chỉ xã Long Hải. Vì không thể đem xe theo nên mấy đứa gửi ở tiệm kem quen, còn gửi lại bọc đồ ăn, chỉ mua thêm mấy cái kem bánh. Núi Cao Cát cao độ từ 70 m đến 80 m bị bốn đứa chinh phục nhanh chóng. Ấy là chưa kể khoảng thời gian làm dáng chụp hình. Nào những lúc đang leo núi, trợt té, hay vin đám cây dại, hoặc ngồi trên mỏm đá cheo leo (tương truyền đó là chỗ hàm rồng). Bốn đứa leo tít Quan Âm Phật Đài ngồi từ bi nhìn xéo về hướng đông. Nắng mai dìu dịu chan hòa sau vài cơn mưa nhỏ không đủ ướt những rẫy bắp rộng lớn. Nhìn xuống, có thể thấy bao quát toàn thể đảo. Đối diện là núi Cấm, cao độ khoảng 60 m, buồn tênh vì không có thắng tích gì ngoài cột Hải Đăng như ở đỉnh núi Cao Cát. Ruộng vườn phân ranh từng ô rõ rệt, san sát không một chỗ trống chen chúc với nhà cửa li ti của xã Ngũ Phụng, Long Hải. Xã Tam Thanh thì nằm mút  tầm mắt với hàng dừa rậm rạp của xóm Núi. Bốn đứa khoan khoái đón gió biển lộng tư bề, ăn vội mấy cái bánh kem. Chuyến về chuyền lần ngõ chính lên núi, chứ không mò mẫm mặt lưng nữa. Lưng chừng là Linh Sơn cổ tự. Theo truyền thống của những kẻ nghịch ngợm, bốn đứa chúng tôi vào bếp lôi con dao mũi nhọn ra khắc tên và đánh dấu ngày tháng trên cây bồ đề trước sân chùa, vốn dĩ chi chít những tên cùng họ của du khách đến trước. Ông Từ không ở thường trực, mỗi chiều tối mới lên thắp nhang. Khách thập phương cứ việc vào chánh điện lễ bái, và nồi niêu, chén bát sẵn đó, kiếm củi là có thể tự nấu cơm ăn... Bốn đứa uống lấy uống để nước mưa ngọt và trong chứa ở hai lu ngay máng xối. Bận xuống có bực thang xây theo vách đá nên đếm bước không mấy khó. Đầu lối lên chùa là một cái miếu hoang. Gần chân núi có miếu  bà Chúa, cây cối um tùm bao quanh tạo một vẻ huyền bí thâm u. Tương truyền hồi xưa có một số người Chàm ở Cù lao Ré đi biển bị bão dạt ra đảo, họ đem khoai theo ăn, rồi gây giống khoai rất nhiều trên đảo, nên xưa đảo Phú Quý còn có tên là Cù lao Khoai. Về sau người Việt ra ở, đánh đuổi người Chàm đi. Cho đến nay không còn vết tích gì của người Chàm trên đảo ngoài cái miếu thờ Bà Chúa của họ, khi xưa chết được họ chôn ở đấy. Linh ứng thì không rõ, chớ nghe đồn miễu có ma, ít ai dám qua lại nơi đó từ sẩm tối.

Trên đảo có nhiều miễu rải rác, chẳng hạn như miễu Cây Da (thờ Thành Hoàng) mà bốn đứa vừa chạy xe ngang qua trên đường đến Mộ Thày. Ngoài ra toàn là miễu thờ thần Nam Hải tức cá Ông. Ở Mộ Thày cũng sẵn đồ nấu bếp, chỉ việc đem thức ăn và bỏ công chút đỉnh thôi.

Nơi đây tự do ăn mặn, người khác vẫn thường cúng gà vịt, nên chúng tôi thản nhiên đánh tiệc cơm tôm nướng với nước mắm dầm ớt. Nồi cơm chín không đầy 1 tiếng đồng hồ. 1 phần leo núi mệt, 1 phần đã quá ngọ, bốn đứa vét sạch nồi cơm. Rửa vội nồi, đũa, chén dĩa, đem trả vào kho vật dụng của mọi người cúng nơi mộ, bốn đứa móc quần áo vào nhánh cây cách, ào xuống vụng biển. Đá ngầm, đá nổi, vô khối. Mấy con cua biển chưa biết hãi sợ loài người, nhưng cũng nhút nhát lẩn nhanh vào kẽ đá. Rong nâu trôi lềnh bềnh tìm chỗ tấp vô, cùng với những cái nang mực trắng hình bầu dục đủ cỡ. Lội chán, bốn đứa ngồi trên gộp đá nghe Đáng kể sự tích Mộ Thày. Đáng cẩn thận rào đón, vì nghe kể đi, kể lại nên tích có "tam sao thất bổn" mất nhiều, tuy nhiên đáng tin cậy vì qua người già lão thuật rõ ràng vào những lúc "trà dư tửu hậu".

Chuyện xảy ra cách đây mấy trăm năm... khi 1 thuyền buôn của người Tàu bị bão dạt lên đảo. Trên thuyền có 1 ông rành về khoa địa lý. Thuyền buôn lo lấy nước ngọt và đổi vật thực cần thiết sửa soạn trở về. Ông thày cũng theo lên đảo quan sát đất đai, phong thổ. Ở lại, ban đêm, ông thấy phát xuất một hiện tượng kỳ lạ xảy ra vào dịp trăng sáng, may có mặt ông. Nhìn từ xa, 1 mỏm núi mường tượng miệng một con rồng, nơi đó hào quang chốc chốc vút lên thinh không. Ông thày nhận xét được một kiểu đất. Nếu táng xác người nào vào nơi đó, sẽ kết phát, chính người được táng sẽ thành thần và con cháu sẽ học giỏi, thi đỗ, vẻ vang trên đường sự nghiệp, làm quan to và hiển đạt. Cái huyệt không ở hàm rồng, vì hàm rồng há miệng khơi khơi với thiên nhiên, mà mập mờ ẩn hiện ở rún rồng. Chót đuôi con rồng nằm uốn khúc chính là 2 hòn đảo trơ trụi: hòn Đen và hòn Đỏ giữa biển. Mình rồng nằm dựa ven biển, núi đá tựa vẩy, cheo leo. Đối với người thường chẳng có gì quan trọng, nhưng với con mắt nhà nghề của thày địa lý, đã chấm rồi linh huyệt. Lặng lẽ thày Tàu theo bạn ghe ra về. Câu chuyện bọn người Tàu xí xô, xí xào lạc vào đảo dần dà chìm theo năm tháng.

Một đêm trăng nọ, dân đảo hơi ngạc nhiên thấy ánh lửa cùng khói bốc lên tại một góc đảo (chính là chỗ long huyệt: rún rồng). Vốn quen đời bình dị, không ai tò mò đến đó tìm hiểu xem tại sao có lửa? Lửa của bọn cướp? Hay lửa của nhóm người đi ghe lạc lối? Hay lửa thiêng của trời đất phát sanh?

Sáng ngày, có vài đứa trẻ chăn bò, nhân đánh bò qua chỗ có lửa đêm hôm, chợt phát giác một cái mả vô danh. Theo lời mục đồng báo tin, dân đảo cũng tụ đến xem xét, chịu không nhận ra dấu vết gì, dù là 1 chiếc ghe đã cập bến ban đêm để làm cái công việc tang ma lặng lẽ trên. Rồi họ cũng để yên ngôi mộ, vì đó là đất hoang và thấy cũng chẳng thiệt hại gì cho ai, dù sự việc xảy ra rất kỳ lạ và khó hiểu. Ngôi mộ đất tròn trịa có đá hòn xếp quanh được chấp nhận nằm đó, thi gan cùng tuế nguyệt. Từ đó về sau, theo 1 chu kỳ bí mật như sự hiện diện của ngôi mộ, vài làn ánh sáng xẹt lên. Không xẹt từ "hàm rồng" nữa, ánh sáng xẹt từ "rún rồng" có vòng như cái cầu rơi xuống tắt phụt ở vùng đất khác cũng gần đó. Lại thêm tiếng sấm động ầm ầm tựa tiếng gào thét của quái vật cựa mình sau giấc triền miên. Nhưng tuyệt nhiên trời không có gió bão với mưa gào. Ánh sáng thì rực rỡ như hỏa pháo, tiếng động thì kỳ bí và không phải bất cứ người nào cũng thấy và nghe được. Khiến cho một số dân "được" chứng kiến sợ hãi, đồn đãi với nhau về một sự linh thiêng của 1 kẻ khuất mặt bắt đầu tác yêu tác quái. Dân đảo nào hay biết, ông thày Tàu rành khoa địa lý đã sai con cháu đem chôn xác ông ở cái huyệt trời ban trên đảo, mà dân đảo không có may mắn hưởng phúc. Những người có thẩm quyền trên đảo định san bằng, hay đào mộ liệng ra biển, để đem lại sự an lòng cho dân đảo. Nhưng chính ông thày Tàu hiện về báo mộng kể rõ khúc nôi và tự xưng Thần. Nếu dân đảo lập cho ông một chỗ nương nhờ nhang khói, ông sẽ là một Thổ Thần phù hộ cho mọi người. Đôi khi ông còn hiển hiện, cái bóng trắng tiên phong đạo cốt, chống gậy đi từ chỗ ngôi mộ, theo làn ánh sáng rồi biến mất theo nó. Một số dân đảo nhiệt thành tin cậy, xây cất một cái miễu con để thờ phụng ông Thày. Nhiều sự cầu xin, khấn vái được kết quả như ý. Họ đồn đãi với nhau. Ngôi miếu được tu bổ và khang trang dần theo địa thế xinh tốt mà giờ dân đảo mới nhận ra. Cả vùng đất bằng và hơi trũng đó (bụng rồng) người ta gọi là Mộ Thày. Còn Dinh Thày là nơi đốm sáng hạ tan và tắt ngúm, họ cho xây thêm một miễu con và gọi là Dinh Thày, ngụ ý chỗ ông thày ngự lúc dạo chơi. Hồi vua Gia Long bị nhà Tây Sơn đuổi mãi tận đảo, ngài cũng cầu xin ở thần và được mãn nguyện bao điều ước. Về sau, khi lên ngôi vua có ban sắc để phong tặng sự thần đã giúp đỡ. Sắc phong đó cư dân trên đảo vẫn còn giữ. Mấy năm gần đây (1969-1970), dân đảo không biết, vô tình sửa sang ngôi mộ thày, đắp gọn theo hình bát quái, bề ngoài rất đẹp. Một ông Đại Tá (quên tên) cũng sành khoa địa lý đã cho hay chỗ sơ hở nhân dịp đi thăm toàn đảo. Phải phá hình thức bát quái chụp ngôi mộ như mảnh bia yểm đi linh khí của huyệt thiêng. Mọi người theo lời khuyên, tuy tiếc công trình, nhưng cũng vui vẻ đập phá ra và trả lại hình dáng nguyên thủy của ngôi mộ. Ngày nay ngôi mộ vẫn nằm trơ đó, đá hòn vây quanh, xa trông như một miệng giếng to. Gần mộ là ngôi miễu vuông vức. Xế lưng miễu là 1 gian nhà dài của dân đảo hảo tâm dựng lên, làm nơi bày biện cỗ nấu để cúng kiến, có bàn ghế để ăn, có chiếu để trải ra nghỉ. Bên hông là chỗ chứa chén đũa, nồi... cũ, mới... lẫn lộn. Dứa dại um tùm mọc lẫn với cây sầm và cây cườm thảo lan xuống góc núi có một cái bếp cất dựa theo hốc đá, kín đáo và an toàn. Bực tam cấp lợi dụng theo địa thế, dẫn lên Mộ Thày, trổ xuống bếp, dài ra vụng biển là bãi tắm thiên nhiên an lành. Đôi lúc có lễ lớn, hoặc trúng vụ mùa đánh cá hay rẫy bái, có người còn tổ chức hát bội, cúng kiến linh đình, diễn ra trên mặt sân tráng xi măng bằng phẳng chỗ Mộ Thày. Toàn thể dân đảo đều tin vào sự linh hiển, phò trợ của Thày. Họ cầu xin cho con em thi đỗ, học giỏi, buôn may bán đắt, đi biển bình an, trúng mùa (trúng mực, trúng cá...), đi lính thì tai qua nạn khỏi. Chính Hải, bạn T., một con người "văn minh khoa học" của thế kỷ 20 vẫn hằng tin tưởng vào sức giúp đỡ linh thiêng trong các kỳ thi mà gia đình Hải đã cầu khấn hằng năm...

Bốn đứa chúng tôi vùng vẫy chán chê, lên bờ hong khô đầu tóc, quần áo. Khát nước kinh khủng! Nước đá làm phụ theo máy kem mua hồi sáng đã tan hết, nước đem theo không còn một giọt. Cả bọn rủ nhau về Xóm Núi mua dừa uống cho đã thèm. Thế là nhong nhong về xã Tam Thanh, 4 đứa không ghé nhà đi thẳng. Cứ vài chặng lại phải dắt bộ, vì xe khó vượt động cát trải dài. Mấy bụi dứa dại không đủ sức ngăn đồi cát di chuyển dần về phía trong đảo. Hình như dân đảo không có ý định trồng phi lao để chặn bớt sức gió và giữ cát. Xóm Núi thuộc ấp Triều Dương. Có một núi nhỏ 2, 3 chục mét, gọi là núi ông Đụn, tên của người khai phá lập xóm đầu tiên ở đấy. Vùng đó thích hợp với dừa, nên dừa ngon ngọt và được trồng nhiều nhất. 4 đứa chúng tôi tham lam mua cả quày. Nhưng chỉ đủ sức ních mỗi đứa hai trái và số còn dư xách về. Chùa chiền sao mà lắm? Thật vậy, hầu hết dân đảo thờ Phật. Nổi tiếng nhất là Linh Quang Tự do vua Gia Long cho xây hồi tẩu quốc. Chùa nằm ở xã Tam Thanh. Kế đến là Linh Sơn cổ tự ở triền núi Cao cát. Rồi đến chùa Bạch Mã (khá linh thiêng) ở ấp An Hòa (xã Ngũ Phụng). Rải rác còn vài chùa nhỏ nữa. Trên đầu đảo (xã Ngũ Phụng) còn có một nơi gọi là Bãi Lăng thờ Thành Hoàng. Đầu đảo ngoài mô đất đó (tiếng địa phương gọi là mom đất hay giàn đất), ấp Mỹ Khê (xã Tam Thanh) có lăng Cô, không rõ sự tích nhưng rất linh hiển. Tương truyền năm 1945-1946 có một đoàn tàu hải tặc ghé đảo, dùng súng bắn vãi vô đảo để thị uy. Cư dân cúng vái ở lăng cầu xin sự che chở. Ngay lúc đó có một dải lụa trắng từ lăng Cô bay ra đốt cháy tàu chúa cướp. Cả đoàn tàu thất kinh rùn rùn nhổ neo bỏ chạy cho xa.

Hiện thời đảo còn có một giáo đường của đạo Tin Lành. Một nhà giảng của đạo Bahais và một chùa Cao Đài... không mấy phát triển. Mục sư, thủ từ... sinh sống bằng lương thực chu cấp hằng tháng từ đất liền.

Mấy đứa tôi lội về qua những quãng đường cát lún, số lượng nước dừa dưới ánh nắng mặt trời đã muốn bốc hơi từ những giọt mồ hôi tươm đầy thân thể. Mạnh đứa nào, đứa nấy lo về nhà tìm chỗ ngủ. Buổi tối thức dậy ăn cơm hãy còn sật sừ. Hải gặp bạn đi biển rủ ngồi quán (của ông phái viên). Những người bạn mới lấy làm tiếc T. đến chơi không nhằm mùa biển động. Khi ấy họ sẽ đưa đi hòn Tranh cách đảo không đầy một cây số. Hòn Tranh còn có một hòn phụ là hòn Trứng (đây là hòn Trứng của hòn Tranh). Trên hòn Tranh chỉ có vài gia đình sinh sống coi ruộng rẫy mà thôi. Vả lại cuốn phim T. đã chụp hết nhẵn. T. hẹn sang năm sẽ lại cùng họ chèo ghe đi hòn Tranh thăm đền thờ Đức Trần Hưng Đạo và Vũng Phật. Hai địa danh này đều có sự tích khá ly kỳ. Tương truyền có một ông đánh cá, mùa biển động nên qua hòn làm rẫy. Làm biếng đi đi về về ông cất chòi và mang gia đình qua hòn sinh sống luôn. Thằng bé con ông, một hôm nhặt được một hình nhân gỗ trôi tấp vào bãi, nó bèn nhặt làm đồ chơi. Cha nó liền được thần nhân báo mộng quở trách. Ông đem chuyện lạ về đảo thuật cho mọi người hay. Người ta ngắm nghía, suy xét và nhận dạng tượng gỗ của Đức Trần Hưng Đạo, chẳng biết lẽ nào trôi giạt đến đây. Họ bèn xây cất đền thờ và giao việc trông nom cho ông đánh cá đó. Còn Vũng Phật nằm ở cuối hòn. Cái vũng tròn vo như có người tạo ra. Kỳ lạ ở chỗ rằm và mùng một mỗi tháng có một hòn đá từ đáy nổi lên và vũng réo ầm ĩ, sôi sục... Người ta bèn nhặt hòn đá, chạm trổ hình tượng Phật và thỉnh về thờ trong Linh Quang Tự. Cho nên đền thờ Đức Trần Hưng Đạo và Linh Quang Tự vẫn còn linh thiêng đến nay. Những người bạn mới cho T. biết, họ cực khổ quanh năm với nghề đi biển, chính lúc biển yên gió lặng là họ phải ra sức tranh đua với thiên nhiên tìm cái sống. Biển động, họ không bó tay ở nhà, họ làm rẫy, đi qua hòn Bố, hòn Vung lượm trứng chim về bán. Quần đảo Phú Quý ngoài hòn Bố, hòn Vung... tụ tập hải âu, chim biển... còn có hòn Khám, hòn Tiền, hòn Đen và hòn Đỏ (đuôi rồng). Trên đảo không thiếu một thức gì, trừ lúa gạo phải mua thêm ở đất liền và một vài loại cây ăn trái khó trồng. Đời sống dân đào không mơ ước cao xa và đòi hỏi nhu cầu giải trí gì quá tấm sức. Bi da, banh bàn không kiếm ăn nổi trên đảo. Có một rạp xi-nê lại quá tệ, chỉ là một căn nhà rộng 4m, dài 30m, cũng có lầu, nhưng lâu lâu chủ rạp "mượn" được cuốn phim thời sự, trình chiếu, bán vé hẳn hòi. Không một phong trào, với mốt thời trang nào xâm nhập được, vì dân đảo vốn cần cù, bận rộn với sinh kế hơn là lo đến vấn đề nào khác. Trẻ em không biết đến một tiếng chửi thề, chỉ biết tụ tập bày trò chơi hoang sơ và rất lạ lùng với xe Jeep, với chiếc trực thăng mỗi tháng hai lần công vụ đáp trên sân banh lộ thiên trước trụ sở nha phái viên, chúng nhao nhao bu theo như cái đuôi để xem. Và nhất là thích thú với ba máy vô tuyến truyền hình của Tổng Thống vừa tặng cho ba xã nhân dịp ông đi kinh lý.

Ngày cuối ở đảo, T., Hải và Đáng theo gia đình đến Mộ Thày để cúng. Chú Liếu, một ông lang bang phất phơ nhưng lại đa nghề nghiệp, nhất là làm đầu bếp cho bất kỳ gia đình nào có cúng kiến, giỗ quảy. Một nồi cháo gà, hai con gà xé phay, lại thêm mực tươi dồn râu mực chiên gia vị, rau sống... mà chú Liếu, ba má của Hải, hai ông bạn quen của ba Hải, ba đứa này, vị chi là 8 người, ăn không hết, phải gọi lũ trẻ chăn bò coi việc phơi mực lên ăn phụ. Chúng được gói cho cả bọc xôi với mực chiên, chuối, mía nữa đem về cho mấy đứa em.

Sau đó, ba đứa theo lệnh người lớn, sì sụp lễ bái và khấn vái trước mộ và miễu của Thày. Dọn dẹp đã có chú Liếu và má của Hải lo, ba đứa rảnh rỗi vòng quanh triền núi, lần theo những gộp đá trơn tru có, bén có, bị xâm thực bởi gió và sóng biển đêm ngày. T. để mắt tìm thêm một ít ốc heo và nang mực. Hình như có tiếng đồi mồi thở phì phò trong kẹt đá. Đáng và Hải cãi nhau, hổng chừng có con chình (một loại rắn biển), nếu thọc tay bậy bạ, coi chừng nó cắn chết tươi. Dân đảo chỉ có một, hai người bắt đồi mồi, chế tạo thành vật trưng bày để bán. Ngoài ra ai nấy bắt được đồi mồi, đều thả đi làm phúc. Quanh mộ Thày nồng mùi ngải cứu, người ta quen gọi là lá Từ Bi hay Ngũ Trảo. Lá này, T. còn bắt gặp mọc xen với cây sầm dứa dại ở vùng núi Cao Cát. T. nhặt được một con đồn đột (hay đồm độp) đã hóa đá trắng hếu. Có nơi người ta gọi nó là đỉa biển. Hình dáng nó tương tợ con đỉa, mà to lắm kia, có thể cỡ 1 khúc tay người lớn. Nó nằm im như 1 cái bánh gai, hiền lành và di chuyển chậm chạp. Màu sắc thì đen hắc hay xám xám. Nếu có điểm lấm chấm đỏ, gọi là đồn đột gai. Nhưng chỉ có loại màu vàng sậm như da bò, bắt được giữa biển khơi và hiếm có mới được dùng làm món ăn, tên chúng gọi rất văn hoa: hải sâm. Dân đảo cũng có làm nước mắm, nhưng chỉ để gia đình dùng và chia chác với người quen. Họ chỉ thiếu vài nghề của dân miền biển như : làm khô cá thiều, làm đồ trang sức bằng vỏ ốc, và khai thác bào ngư mà thôi. (Bào ngư: bong bóng cá đường, dân biển vùng mũi Cà Mau, Phú Quốc rất hay bắt cá đường chỉ để mổ lấy bong bóng, vứt xác). Nhưng cần gì, nhìn khái quát, đời sống dân đảo cũng khá sung túc, nhà cửa gạch, ngói, chắc chắn... mọc lên hoài. Nhìn nhà nào, người ta đều biết rõ tuổi tác căn nhà với con số năm xây to tướng ngay chính giữa. Nếu 2 bên không là tên hiệu tiệm, sẽ là hoa lá cành trông rất lòe loẹt và rập một khuôn. Chúng sẽ để lại nhiều kỷ niệm khi T. rời đảo, vì chính đêm nay có ghe chở hàng đi Phan Thiết. Mãi mãi T. không bao giờ quên những người bạn mới quen. Tất cả mọi người dân đảo đều niềm nở, hiếu khách, họ giảng giải từng chút gì T. thắc mắc, tiếp đãi lúc nào cũng chu đáo. 5 ngày ở đảo T. ăn cá biển thật là đủ hương vị. Nào cá liềm, cá luồng, cá mím, cá ngác, cá bè, cá gáy, cá sọ dừa, cá bò, cá nhồng, cá ngừ, cá mú (mú chiên, màu hồng, và mú xảy, da sọc xám), cá hồng, cá khế, cá mó (mó tro, mó xanh, mó củ... đủ loại, đủ màu)... Ôi thôi còn nhiều loại mà T. ăn rất thường khi chúng được bán ở đất liền như cá cam, cá nục, cá thu, cá mối, cá chim... Còn nhiều lắm, chẳng hạn: "cá đổng, cá tà mà, cá thèn, cá thút thít, cá cờ, cá căng, cá đém, cá sơn, cá suốt, cá thòi lòi biển, cá lầm, cá vi, cá đưng, cá bui (cá đối biển lớn cỡ bắp chuối), cá chàm v.v..." T. chỉ mới nghe bạn kể tên. Hẹn nhau một dịp thuận tiện hoặc không còn dịp nào khác T. sẽ lại ra "hòn" sống trọn những ngày tháng tiêu dao như một bực ẩn sĩ. Có còn chăng những hình ảnh T. ghi được qua cuốn phim ngắn ngủi và mơ hồ trong tiềm thức vốn mau quên, những thanh âm sóng biển rì rào, chim chóc ít ỏi, ca ngợi vùng trời yên bình tự do, những giọng nói mộc mạc, khó nghe mà chân thật. Những con thuyền thô sơ lần lần cơ giới hóa, bóng dáng ngư phủ sửa lưới, sửa thuyền. Những khi ghe về bến tấp nập người lấy vi, xẻ cá... có những chiếc gùi quen thuộc trên lưng, giống bất cứ thiểu dân miền sơn cước nào... mãi mãi sẽ không thể xa rời ký ức T. được.

Họ quá giang vào Phan Thiết chật ních cả ghe. Mùa này còn đi buôn được. Mùa biển động, đàn bà con gái hay vào đất liền, túa đi các tỉnh, về Sàigòn làm mướn, không lãng phí thời gian bao giờ. Ghe chòng chành sau hồi máy nổ. Hải và Đáng có chút việc phải đi Phan Thiết, sẵn dịp đưa T. về luôn. Thật may, trời êm sóng gió như hôm T. đến đảo. Đã khuya lắm rồi, nhưng ông già cầm lái vẫn thao thức với bổn phận và nhắm hướng không sai chạy chút nào. Một cơn mưa nhỏ rì rào khiến 3 đứa nằm sát nhau hơn, trùm kín tấm poncho. Lời dặn dò nhau và trò chuyện, mãi rồi làm nhảm theo giấc mê, không đầu không đuôi. T, ngủ quên với cảm giác lênh đênh, chập chờn theo nhịp lướt của chiếc ghe. Hình như ghe đã đi khỏi tọa độ có mưa và âm thanh biển cả như thầm mời gọi T. chớ vội xa lìa.


PHAN KHƯƠNG THÁI 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi các số 115, 116, 117, 121) 
  


Thứ Tư, 13 tháng 6, 2018

5 Ngày Ở Hải Đảo (I)


Chuyến đi của T. vội vàng và không báo trước gây ngạc nhiên cho cả gia đình. T. chỉ kịp mua một ít đồ lặt vặt, còn quần áo đã ủi xếp sẵn cho kỳ du khảo bụi, giờ chỉ việc xách theo. Hai đưa đi mua vé xe đò Sàigòn – Phan Thiết chuyến chót. Còn rộng thì giờ để cả hai mua "phọt-môn", phim và một ít sách dành đọc giết thì giờ. T. chở bạn lang thang trên đường phố Sàigòn rồi về ăn cơm. Chẳng trễ được với giờ giấc xe chạy ưa co dãn như dây thun.

Trên xe Hải thiu thỉu ngủ, trong khi T. lạ mắt quan sát cảnh vật qua cửa sổ. Từng địa danh lúc vun vút, lúc chờ mời khi xe đón thêm khách hoặc thả bớt xuống... Bốn giờ chậm chạp trôi với những trận mưa rào, gây một không khí hâm hấp nóng. Bến xe rất trống trải và dời về cửa vào tỉnh lỵ làm tốn kém cho hành khách cần di chuyển. Cả hai đi xích lô đạp đến tận nhà bà dì của Hải. Tiếng chuông điện reng dài đánh thức hai con chó già có bộ mặt lầm lì đáng sợ trước tiên. Dì Hai giúp việc ra mở cửa, đon đả chào hỏi cả hai đứa... Ôi thôi, đủ mọi chuyện:

- Tụi mày về sớm sớm, chắc "quá giang" trực thăng ra "hòn", khỏe ru.

- Ba rưỡi chiều hôm qua tụi con chỉ mới thi xong môn cuối ở Tây Ninh, làm sao về kịp...

- Ba mày (ba của Hải) ổng mới về sáng hôm kia. Ổng bỏ quên cái áo da, treo kia kìa.

- Đã nói tụi con mới có mặt ở Sàigòn hồi 7 giờ sáng đây. Họa chăng bay mới về kịp. À bữa nay có ghe đi "hòn" không dì Hai?

- Ai biết, nhưng chắc tối mai mới có, đâu mày ra bến hỏi thăm coi...

Bao hăng hái vụt tan biến. Hai đứa uể oải tắm táp, dẹp đồ, rồi dạo phố, đi ăn cơm. Mới một tua đã gặp bạn. Hải và Đáng sánh vai nhắc bao chuyện ngày qua. Đáng lý Đáng đã theo trực thăng về rồi, nhưng vì nhận được thư và tập nhạc của Hải, nên Đáng có ý định chờ bạn cùng về ghe chung cho vui. Cả ba đi xi nê, ngặt nỗi ba rạp ở đây chiếu toàn phim cũ của Sàigòn nên đành thôi. Phan Thiết về đêm phố xá rực đèn và rất rộn rịp, tiếng nhạc từ các hàng quán vang vang, cũng có những sân trượt patin nực mùi mồ hôi người. Ngoài này họ gọi bánh khọt là bánh căng và bánh xèo là bánh khoái. Đó đây những quán cóc tráng bánh, khói thơm nức mũi, nhưng vì còn no, cả ba đứa ăn chè bông cau và chè thập cẩm rồi về. Sang một ngày lang thang cho biết phố xá Phan Thiết, từ một con đường chính vui vẻ đến những ngõ hẻm buồn thiu. Hải dẫn bạn đi khắp... nào các trường học, tòa sơ thẩm, ty bưu điện, công viên, bồn chứa nước, hội quán quần vợt, chùa, nhà thờ... Nếu còn đủ thời gian và phương tiện có lẽ ba đứa sẽ rủ nhau đi tắm ở bãi Vĩnh Thủy, ngang lầu ông Hoàng và ra tận Mũi Né chụp hình.

Đi đâu T. cũng thấy Hải gặp người quen, nhiều nhất là các bạn hàng chất hàng hóa lên ghe, sửa soạn về "hòn". Đêm nay có hai ghe đi Phú Quý. Chiếc của ông Diêu mới mua, máy mạnh và còn tốt, thủng thẳng khởi hành sau chiếc kia. T. hỏi thăm ông thuyền trưởng và được biết 2 giờ khuya ghe mới chạy. Đủ mọi hạng người đã chồng chất như hàng hóa để ngủ. Khác ở chỗ là hàng hóa trong khoang, dưới hầm, còn họ thì nằm trên mui, trên boong, trên phòng lái. Đầu châu vào nhau, chân day ra ngoài, say ngủ đến nỗi khi ba đứa loạng choạng đạp nhầm họ vẫn không buồn càu nhàu. Còn vài chỗ trống đằng mũi ghe, đủ để ba đứa ngồi ghé lưng. T. sốt ruột xem đồng hồ từng chập, nước lớn và sắp ròng. Chiếc ghe đi trước chắc đã nuốt được phân nửa đường. Con sông Phan Thiết lững lờ chảy dưới ba cây cầu im lìm theo thành phố lặng ngủ. Xa xa dãy Trường Sơn không rõ hình thù, đen đúa và trơ ra dưới ánh sáng yếu ớt của các vì sao. Ông "Thuyền Trưởng" đã dậy, lục tục réo gọi bạn ghe quấn đỏi, quấn neo, giựt máy nổ... Có tiếng trẻ nít giật mình khóc è ẹ. Tiếng chó sủa ran trên bờ đưa tiễn. Máy ghe nổ xình xịch vẫn không đánh thức nổi một số người. Trăng hạ tuần vừa nhô lên, cùng chòm sao Bắc Đẩu, sao Mai... sẽ giúp ông "lái ghe" định hướng. Đồng hồ dạ quang của T. chỉ đúng 3 giờ rưỡi. Ghe xoay mũi trôi nhẹ theo con nước. Xóm Hàm Hộ (xóm chuyên nghề đi biển) hình như không biết ngủ là gì. Đuốc sáng rực cả chợ cá Phan Thiết, soi rõ cả vài hãng nước mắm phía bờ đường bên kia. Qua khỏi chiếc xáng vét lòng sông, thổi cát, đã thấy gió biển lồng lộng. Sóng vẹt hai bên mũi ghe lấp lánh như pha lân tinh. Và một hàng đèn chạy dài không thấy chỗ đứt quãng. T. được Hải giảng, đó là đèn Măng-xông của những ghe đi "làm mực". Một ông già bịt khăn đốt cả bó nhang khấn vái Thủy Thần. Ông vừa quơ quơ cho lửa tắt bớt, luôn thể làm dấu cho các ghe nhỏ biết mà tránh. Thêm một ông khác đốt liên hồi giấy vàng bạc, sau khi biểu ông kia cắm bó nhang ở đầu mũi ghe. Mấy ông chỉ cần thay tay lái khoảng vài tiếng thôi, còn bây giờ các ông cứ việc tìm chỗ trống đánh giấc. Như mọi người, Hải và Đáng không say sóng và yên ngủ. Dù đã uống trước hai viên Nautamine ngừa say sóng, T. vẫn mang cảm giác nôn nao và muốn tuôn tất cả những gì đã ăn ban chiều. Trăng khuyết hình lưỡi liềm lên còn thấp, trông như cách mặt biển khoảng một thước tây, như cười duyên với hàng đèn của ngư dân làm mực biển và trời mênh mông vô tận. Mỗi lần vượt qua chỗ ghe làm mực, T. thấy các đèn "măng-xông" họ đặt riêng trên phao nổi cũng nhấp nhô theo sóng nước. Mấy ngày rày biển êm, T. chập chờn ngả lưng trên bó tre chở theo ghe. Sương đêm hay bọt sóng li ti làm ướt đẫm gương mặt của T. Cả người T. đã trang bị quần dày, áo "ba-đờ-suy" và nón... chỉ chừa có mỗi đôi bàn tay đã khoanh kín trong tấm "poncho". Cảm giác nhồi lắc bất tận và T. quen dần theo nhịp ghe lướt bềnh bồng.

T. chợt thức khi trời sáng trắng. Mọi người bỡ ngỡ quan sát nhau. Như những con quái vật cựa mình, vài cái đầu tóc sút xổ của mấy bà già ló ra sau đám chăn mền. Họ đã quá quen thuộc để biết phải đem theo gối nằm, bỏ sẵn trong bao nylon. Ai như tụi trẻ gối bằng cánh tay, có vài cái bị lại lười biếng bỏ tuốt trong hầm ghe. Tất cả đều là dân đảo Phú Quý đi buôn trở về. Người lớn vồn vã hỏi thăm Đáng và Hải. Họ không quên một chi tiết nào, cả sự có mặt bất thường của T. Họ trọng nể người đi xa và có học thức vô cùng. Nhất là đối với Đáng và Hải.

Không phải dân trên đảo, ai cũng có tiền dư để cho con "du học" ở đất liền được. Xưa kia có hai ông thuộc nhà giàu có nhất nhì trên đảo, đi học rồi đỗ bằng "Primaire" mà đã vinh hạnh và vẻ vang lắm thay, họ trở về làm lớn, oai quyền khôn kể. Mãi đến thời nay có vài anh học đến Tú 2, nhưng hỏng và nhập ngũ cả rồi. Hải bạn của T., lên được Đại Học nên "giỏi" nhứt đảo rồi đó. Đáng và một đứa khác, tập tễnh lên lớp 12 vậy là chiếm hạng nhì... Gần đây, nhiều nhà cũng cố gắng cho lũ trẻ vào đất liền học trung học, còn lớp đàn anh đành để ở nhà đi biển, làm ăn, với cưới vợ. Mới đầu còn ngượng ngùng, sau khi cả ba đứa đã quen với câu hỏi đầu môi chót lưỡi của dân đảo là: "Vợ con gì chưa?"Đó là tình trạng chung cho lứa bạn bè của Hải còn ở lại đảo.

Mấy ông già dùng chung một ống ngoáy trầu bằng vỏ đạn cũ, nhai ngồm ngoàm. T. tránh xa mỗi khi họ nhổ bã trầu, cũng như tránh những khi mấy cô bé trên ghe cho "cá ăn chè". Mấy nhóc tì len lỏi từ mũi ra sau lái, leo lên mui, ở đâu cũng có mặt chúng, trừ cái cột buồm, bỗng reo lên: "Hòn kìa".

Hải chỉ cho T. một chấm đen hiện ở mặt phẳng của biển. Ghe đã đi được hơn nửa đường. T. làm quen với ông Cuộc Trưởng Cảnh sát ngoài đảo đang nhức đầu và say sóng. T. cười thầm khi được ông ấy khen: "Cậu nhỏ mới đi lần đầu mà chịu đựng sóng giỏi quá". Biển thật êm và trời trong vắt, ghe đi như còn trong dòng sông. Nhiều con cá chuồn hốt hoảng bay vun vút trước khi rơi tòm xuống biển thật bất ngờ như khi chúng xuất hiện. Không một bóng dáng Hải Âu giữa vùng trời nước bao la này. "Hòn" lớn dần dần. Đáng nói rằng đảo Phú Quý trước có tên là cù lao Thu do tàu của Hải Quân đặt, vì nhìn từ xa trông như con cá Thu. Nhưng riêng T. nhìn nó giống con cá sấu với cái đuôi hơi ngắn. Có nhiều bãi ghe đậu, nhưng riêng ông Diên sẽ ghé bãi Tam Thanh tiện cho cả ba đứa vì đó gần nhà và tiện cho cả chủ ghe. Ghe vòng qua xã Ngũ Phụng cho thấy núi Cấm chơ vơ ngọn Hải Đăng. Rồi ba cây dừa với một cái chòi lá mới tinh lộng gió tứ bề. Chỗ "doi dừa" đó xưa rất nhiều cây dừa lão, họ mới đốn chừa ba cây tượng trưng cho ba xã và cất cái nhà mát cho Tổng Thống nghỉ chân nhân dịp ông đi kinh lý và ghé đảo. Đây là lần thứ nhì một vị nguyên thủ quốc gia thăm đảo. Lần thứ nhất là vua Gia Long thời kỳ tẩu quốc. Còn ngoài ra chỉ có thủ tướng và các tướng vùng ra đảo bằng tàu hay trực thăng vì lý do quân sự mà thôi.

T. như đang sống trong mơ. Giờ này hôm qua mình còn ở Phan Thiết, có ngờ đâu vượt 120 cây số đường biển đến chốn xa khơi này. Thực ra đảo Phú Quý cách đất liền có 80 km. Nhưng đi bằng ghe hay tàu, còn tùy thuộc ở sóng gió, thời tiết... cản trở nên hơi lâu. Những 7 giờ đồng hồ lênh đênh, để rồi thấy hòn Trứng của đảo Phú Quý cô đơn với lũ chim dạn dĩ. Và đảo Phú Quý xinh tươi sẽ là nơi T. nghỉ những ngày hè đầu. Mọi người chuyển đồ sang ghe nhỏ để lên bãi. Những cây dừa oằn bóng mát cố che cái nắng sắp giữa trưa. Xã Tam Thanh có lẽ giàu nhất với xóm nhà tập trung đông đảo ven biển. Nhà của Hải ở ấp Mỹ Khê. Xã còn hai ấp nữa là Hội An và Triều Dương. Vì vậy mà gọi là xã Tam Thanh (Tam là ba), ngày xưa còn có tên là xóm Ba Làng. Cũng như xã Ngũ Phụng gốm năm ấp là: Quý Thạch (Xóm Bầu), Thương Hải (Xóm Biển), Hải Châu (Bãi Lăng), Phú Mỹ và An Hòa (còn gọi là xóm Chợ). Đặc biệt xã Long Hải gồm hai ấp Long Hải Đông và Long Hải Tây cách biệt với nhau. Tùy theo mùa mà ghe tàu buôn sẽ ghé bãi Tam Thanh về mùa gió bấc và mùa gió nồm (mùa Nam) sẽ ghé bến Long Hải Đông để núp gió, tránh sóng lớn va chạm làm mau hư ghe.

T. theo Hải đi những bước lún vì cát nóng, đôi ống quần lết phết và hành trang chỉ muốn vứt cho rảnh tay. Nhà Đáng hai căn, đều kế cận nhà Hải. T. và Hải cất đồ trong căn nhà trống day lưng phía bãi ghe. Hai đứa về nhà trong ăn cháo nóng. Ba má của Hải được thư báo tin nên đoán chắc con sẽ về, ai dè trễ nải như vầy. Không rõ ghe chạy với vận tốc bao nhiêu. Ông lái ghe cho biết cỡ "700, 800 ga, theo kinh nghiệm của ông. Và T. có thể tính nhẩm, vận tốc trung bình của ghe khoảng 15 tới 20 cây số giờ. Việc đầu tiên của hai đứa là quét dọn căn nhà trống, lúc trước vợ chồng bà chị của Hải ở, nay anh chị đã dời về dạy học ở Phan Rí Cửa. Từng dưới là nhà kho chứa dầu gasoil, đậu, tiêu... để bán, kế bên là cái chái để máy phát điện, cung cấp điện cho cả xóm. Trên là căn gác trống, mặc sức cho cả hai đứa tự do tung hoành. Con chó mực nhận ra Hải, sủa vài tiếng ngắn rồi quấn quít ngay. Sóng biển sát vách tường nhà sau rì rào theo từng cơn gió thổi thốc tới một mùi cá tanh tưởi. Mặc, cả hai đứa mở toang các cửa sổ và leo lên giường gần bếp đánh một giấc. Một giấc thật dài và an lành không nhồi không lắc không một tiếng động phá rầy. Mãi đến khi trời khẽ vạch biển xanh để chun trốn, có tiếng ba của Hải đập cửa gọi hai đứa về nhà trong ăn cơm. Bữa cơm toàn thức ăn biển. Mực tươi xào với dưa leo và khế, cá liềm kho... Hai đứa chiếu cố tận tình. Trong lúc trên lầu ba của Hải đang khề khà nhậu "sec" rượu mạnh với ông bạn già. Thú vui duy nhất ngoài đảo vắng này chỉ có thế, nếu muốn có một trò cờ bạc nào thì dịp Tết mới hoạt động mà thôi.

Loanh quanh không biết đi đâu, Hải và Đáng tìm được hai chiếc Honda và rủ thêm một bạn nữa. Anh bạn này bỏ học vào đất liền làm nghề thợ may, nay cũng về thăm nhà. Vậy là bốn thằng ma cà bông đèo nhau vượt 7 km đường ngoằn ngoèo, hết cát là đá, lại tối om, để đến xã Long Hải ăn kem. Vị kem mát lạnh và chất nước đá tan trong bình nước làm khoan khoái T. và Hải vốn quen những nhu cầu nước đá, tăm xỉa răng... từ lúc còn trọ học nay mới gặp lại. Trên toàn đảo chỉ có  ba nhà máy sản xuất kem. Một ở xã Tam Thanh, ăn dở như bột ướp lạnh. Và hai tiệm kế cận nhau ở xã Long Hải Đông này. Chuyện trò với vài người bạn xa cách đã lâu, cả bọn nghe nhạc chán, rủ nhau quay về. Hầu như dân chúng trên đảo đều quen biết lẫn nhau. Có nhiều nhỏi gì với dân số chỉ trên dưới 12.000 người. Đa số chuyên nghề đi biển, lấy vi cá, bắt mực, gỡ rau câu... Làm rẫy chỉ là nghề phụ. Họ cũng trồng được lúa, nhưng hoa màu chính trên đảo là bắp, kế đến là đậu (đậu xanh, đậu đỏ, đậu váng, đậu nàng, đậu mèo...) Máy phát điện đã tắt lúc 11 giờ đêm. Toàn đảo ngập trong bóng đêm thâm u. Nhưng ngoài khơi là hàng đèn của ngư dân "làm mực". Hải và Đáng tận tình giải thích những gì thắc mắc cho người bạn ở chốn đất liền. Bên ánh đèn dầu mù mờ cả ba ngưng đọc truyện để nghe Đáng kể về nghề làm mực.

Bây giờ chính là lúc biển êm gió lặng. Mùa làm mực bắt đầu. Làm mực nghĩa là đi câu hay lưới mực. Ngư phủ khởi hành lúc hoàng hôn với hai cây đèn măng xông và chỉ trở về khi trời bình minh không sử dụng được ánh đèn để dụ mực được mới thôi. Đến một vùng biển đã chọn, họ buông neo và đốt đèn. Một cái để soi treo trên ghe. Một cái cột chắc trên giàn nổi bằng phao ruột xe hay bằng "móp". Ánh sáng tỏa ra một khoảng, quyến rũ những con mực tò mò thích rong chơi. Người ta thả một sợi dây dài có buộc cục chì nhỏ ở đầu dây xuống biển. Kế tiếp cục chì là những mảnh vải chữ nhật bằng kim tuyến lấp lánh, cách khoảng đều với nhau. Người ta giựt nhẹ nhẹ... Vài con mực háu ăn bơi đến, nhởn nhơ không biết cạm bẫy và táp lấy mồi là mảnh vải kim tuyến. Một người nghe tiếng động, nhanh tay phăng sợi dây lên để người khác cầm cây vợt xúc chặn. Thường thì chặn ở phía đuôi mực, vì mực quen xịt nước và tống thân hình thụt lùi nhanh hơn là vọt mình về đàng trước. Công việc tuy dễ dàng là thế mà cũng rất công phu. Có thể mực vẫn thoát khỏi vợt xúc dễ dàng. Đôi khi mực lại cắn chặt mảnh vải gỡ không ra, hoặc chúng bị ghim dính bởi cây chĩa họ đâm hớ. Mùa "làm mực" bắt đầu từ tháng 6 dương lịch. Đến tháng 10 thì số thu hoạch ít dần và người ta có thể câu loại "mực thước" ban ngày. Đại khái các loại mực như:

– Mực thẻ: thịt ngon ngọt nhất.

– Mực ghim: đít của con mực hơi nhọn.

– Mực lá: loại này hay được muối nước đá tiêu thụ ở Sàigòn. Thịt dày, 2 bên có vè lớn bầu ra.

– Mực nang: còn tươi ăn ngon, phơi khô thì dầy.

– Mực thước: thân hình dài hơn một thước.

Chỉ có ở tận gốc mới mua được mực tươi rói để làm thức ăn. Hầu hết người ta phơi khô mực trên các gộp đá (cách này bất tiện khi có mưa) hay trên những tràng bằng tre đan hình vuông. Con mực đổi màu dần và quắt queo chờ ngày cân kí, tập trung lại rồi phân phối đi khắp nơi. Đa số dân miền duyên hải đều có "làm mực". Mực ngon có tiếng phải kể ở vùng Long Hương, rồi đến Phan Rí (đều thuộc tỉnh Bình Thuận). Năm nay vùng Bình Tuy trúng mùa. Lái buôn đổ xô về Bình Tuy để mua bán. Dân làm mực cũng mang tâm trạng như người đánh bạc, họ dồn nhau về vùng mực nhiều... Cho nên đôi lúc ánh đèn rực một khúc, một khúc trống tối... Cứ thế dẫy đèn nhấp nhô xa xa thay đổi tùy theo mực nhiều hay ít. Từ bờ nhìn ra chúng ta tưởng tượng một con lộ thắp đèn liên tục và thơ mộng... hay liêu trai như chợ ma trên Đông Hải.

Câu chuyện tới đây thì dứt. Hải thổi phụt ánh đèn dầu và dặn T. nhớ nhắc mình mai mang theo chai nước với cái ly từ nhà trong ra để tiện uống nước.

Tiếng trẻ nít chơi đùa líu lo như chim rừng đánh thức T. dậy. Dân đảo nói một thứ tiếng nửa Trung, nửa Miên. Khi họ nói nhanh hay chậm đều khó nghe. Họ nói chậm nghe gằn và nặng vô cùng. Dân "hòn" có khác!

Giếng nước trong vắt và dâng đầy theo nước thủy triều. Chưa quen xài nước giếng, T. súc miệng vẫn cảm thấy lờ lợ. Đáng mời hai đứa về quán nhà uống cà phê sữa. Mấy nhóc (em Đáng) xách tô đi mua bánh canh cá. Xui cho ba ông tướng ngủ trưa, bánh canh hết, ăn tạm mấy quả bắp luộc. Sáng nay xe Honda không có để đi núi, vì ba Đáng, ba Hải bận lấy đi làm việc ở công sở. T. và Hải trở về tảo thanh quần áo dơ. Chỉ một thoáng là quần áo được phơi trên dây làm bạn với hàng lớp khô cá cũng trơ với nắng mưa nằm vắt trên bờ tường đá. Lũ ruồi nhặng vo ve, tanh tưởi. Hải cũng chịu đựng cho quen, vì bà con cả, khó nói, sợ mích lòng. Hết  ra lại vô, T. nhìn Hải lăng xăng bán đồ bắt tức cười. Món gì cũng phải hỏi má, vậy mà cũng bày đặt giúp đỡ. Các tiệm tạp hóa trên đảo đều mang đúng nghĩa tạp hóa của nó. Đủ các đồ đi biển, chạy máy ghe, đuôi tôm, phụ tùng, xe đạp, Honda, đồ sơn, đồ sắt, đồ điện, đồ mộc, đồ hồ, thuốc Tây, thuốc Ta, vài vóc, đồ nấu, nhu yếu phẩm (gạo, củi, than, đường, đậu, nước mắm...), y như một tiểu siêu thị.

Trưa đó, mấy đứa tụ ở nhà Đáng ăn cơm, trò chuyện như bắp rang và khen các món cá biển, lâu ngày được bữa khoái khẩu. Cá ở đây tươi rói và giá rẻ. Loại ngon và đắt như cá bò (ăn giống thịt gà) chỉ độ khoảng 120đ một kí là cùng. Mỗi gia đình đi chợ hàng bữa không tốn tới 150đ, vẫn có cá kho, nấu... ăn thả cửa. Ở đảo không dùng mỡ heo, chỉ xài dầu tự chế biến hay mua dầu hộp. Heo, bò... có nuôi đấy, nhưng khi béo, lớn... họ chở vào đất liền bán tuốt luốt. Mùi vị "thịt mỡ..." chỉ xuất hiện vào dịp Tết khi họ rủ nhau chung thịt mà thôi. Thế nên những hạng người ở đây đã quá quen cá biển, không biết phong với ngứa là gì.

Ngày thứ nhì ở đảo. Chiều nay mới biết biển là gì. Biển đủ màu xanh từ đậm tới lợt, phản ảnh của đáy là lớp cát, san hô, hay đá ngầm ở dưới. Giờ này một số ghe đi biển chưa về. Mỗi chuyến đi họ kiếm được trên trăm ngàn. Chưa kể đã khấu trừ chi phí linh tinh như thức ăn, nước uống đem theo 2 thùng phuy dầu gasoil mà giá đến 11.000đ 1 thùng... Chẳng trách khi gặp vài ông hàng xóm đang sửa chữa ghe cho chuyến đi sắp đến chê tụi này:

- Mấy đứa bây, tụi "say sóng" hả? Con trai bây lớn đi biển hết ráo. Tụi bây lại tắm biển nữa, lạ không!

Mấy đứa đành cười xòa, đánh trống lảng và hỏi ông mấy chuyện cá, chuyện biển. Mà quả đúng như vậy, chỉ còn trẻ con và ông già bà lão với phụ nữ là ở nhà. Nhưng họ nào ở không. Ho chăm sóc rẫy bái, trở khô, khi ghe về thì xúm lại lấy vi, lột da xẻ thịt. Khi nước cạn (khoảng mỗi đầu tháng âm lịch) để trơ những bãi san hô, họ đi gỡ rau câu, nhặt ốc... Cuộc sống bận rộn với những cối bắp hay gạo hằng bữa. Đôi khi cối đá được dùng giã rau câu cho rơi san hô và sạn sỏi bám trong rễ. Chẳng cứ gì người lớn, trẻ em giúp nhau, bỏ từng nắm bắp hay trở mớ rau câu vào cối, đầu kia một em nhún lên nhún xuống trên cần dài của cái chày gỗ. Một số em đem gùi đi kiếm đồ về chụm. Nghĩa là mọi thứ gì khô có thể dùng đốt lò được như cây, lá, bắp, lá và rễ cây bồn bồn, lá và trái dứa dại (pandanaceae), vì cây củi trên đảo rất hiếm, không có cây loại cổ thụ nào đáng kể cả. Đảo vốn do hỏa nham thạch lâu năm biến đổi trồi lên giữa biển, phần lớn trên đảo người ta gặp rải rác loại đá huyền vũ. Đá này hủy hoại cho những lớp đất trồng hoa màu phụ rất tốt, tốn ít công chăm sóc và chỉ cần những trận mưa hiếm hoi vẫn có thể tươi xanh. Đảo không có những điều kiện sinh sống như đất liền ; như các đảo khác tách ra từ đất liền (các đảo vùng IV) nên dân chúng rất cần cù nhẫn nại, luân canh, không bỏ phí 1 tấc đất nào. Trời cũng giúp người, nên mặc dù không sông suối chi, đâu đâu người ta cũng có những giếng nước khá trong và ngọt. Cuộc sống êm ả cứ bình thản trôi, dân trên đảo không hề biết đến súng đạn với chiến tranh gieo sầu là gì từ non thế kỷ nay. Ở đảo cũng có tổ chức hành chánh y như đất liền. Vì đảo trước thuộc quận Hàm Thuận, sau năm 1970 được xáp nhập vào quận Tuy Phong, đều nằm trong tỉnh Bình Thuận. Hiện thời có một cơ quan hành chánh đại diện cho cả ba xã, đó là nha phái viên, đặc phái từ đất liền ra. Ngoài ra xã trưởng, tổng thư ký, cuộc trưởng cảnh sát, trưởng ấp, cán bộ xã hội, y tá v.v... đều là dân trên đảo. Có muốn đổi ai ra vùng đảo họ cũng không muốn. Đối với dân đảo đã sinh ra và sẽ chết ở đảo, đều yêu lấy quê hương chơ vơ, không đủ tiện nghi giữa trời nước bao la này, chớ không như dân phương khác tự coi như đi tù mới ra chốn ấy. Hầu hết dân đảo đều đi biển cùng buôn bán hải sản. Nơi đây sản xuất vi cá nhiều nhứt. T. và các bạn thôi ngâm nước dò dẫm tránh san hô cắt chân để tiến lại mé bãi xem xẻ cá. Có những con cá mập to gấp hai, ba người nằm phơi thân hình đồ sộ. Lại có chú cá đuối lớn hơn hai, ba mặt bàn nhập lại bềnh bồng theo sóng vỗ sát bãi. Đa số là cá mập mắc câu. Cá mập là loại cá sụn, chỉ có một lõi xương sống, tuy vậy chúng rất dữ dằn, ăn tạp, tấn công ghe thuyền, đồng loại và cả cá voi. Nếu mổ ruột chúng ra (cho khỏi thúi) trong khi còn lênh đênh chưa về bến kịp, ngư phủ gặp thịt cá ông (cá voi) sẽ liệng bỏ cá ngay. Họ vẫn còn tin cá ông là thần Nam Hải, không dám xúc phạm đến. Ngư phủ săn giết ráo cá mập, khai thác vi cá. Thịt cá mập ăn không ngon, chỉ có cách xẻ làm khô, nhưng bộ da, bộ vi với những sợi cước bên trong quý và bán có giá vô cùng.

Người mình lại kém chế biến trong các món ăn như người Trung Hoa, nên đa số vi cá được bán tận Chợ Lớn, dư dùng họ lại xuất cảng ra nước ngoài. Chúng ta có thể gặp vi cá trong một vài bữa cỗ, tiệc cưới... với tên rất văn hoa, hay trong bánh dẻo, bánh nướng dịp Tết Trung Thu. Phần lớn cá lấy vi thuộc loại cá mập mà T. tìm hiểu được như:

– Cá nhọn: Loại này thường, dễ câu, mỏ cá nhọn, đầu vi có chấm đen. Bộ vi con lớn nhất có thể bán được khoảng 12.000 đ (thời giá năm 1973).

– Cá cào: Tiếng gọi của dân địa phương, trong sách vở mang tên là cá mập búa.

– Cá bống: Da hơi hơi trắng.

– Cá khơi.

– Cá bung.

– Cá bẻo: Loại này hung hăng nhứt, tấn công và ăn bất cứ gì chúng gặp dù lớn nhỏ hơn nó, da có vằn.

– Cá nhám chuối: Thịt ngon nhứt, trái lại bộ vi rẻ rề, khoảng 5 hay 6 trăm một bộ mà thôi.

– Cá giống: (Cá mẹ của cá dót), bộ vi mắc nhất, thịt cá con (cá dót) cũng khá ngon. Một con cá giống thật lớn bộ vi có thể lên đến gần 50.000đ... Giá bán một bộ vi cá gốm đuôi, vi, ngạnh... có thể từ vài trăm, 4.000đ đến 50.000đ, nghĩa là còn tùy theo loại cá trong vi có cước nhiều hay ít và tùy theo cá lớn hay bé. Và cũng còn tùy theo giá cả thị trường. Biển động, không có cá, không có vi, thì giá gia tăng, Vi phơi khô sẵn, cân kí, sẽ mắc hơn vi còn tươi vừa cắt bán liền. Vi đã rút sợi cước ra từng bộ còn mắc hơn. Ngư phủ đánh cá, lấy vi, thường bán ngay cho chủ vựa nhiều vốn. Họ chỉ cần tiền để trang trải chi phí và lại tiếp tục ra khơi chuyến khác. Đôi lúc thị trường vi cá ối đọng, chủ chứa lỗ nặng không biết chừng. Con cá mập nằm tênh hênh khoe hàm răng nhọn hoắt, trắng hếu. T. bật cười nhìn đàn trẻ hò dô ta đẩy con cá trụi lủi lên bờ cát mịn. Để lát nữa đây cả nhà chúng xúm lại lấy tiếp bộ da, xẻ từng miếng thịt dài như những miếng thịt ba rọi (heo) bày bán trên thớt thịt của chợ ở đất liền. Họ không phí phạm miếng thịt nào, trừ những vụn dính ở xương hàm, vứt cho lũ chó đang xum xoe chạy tới chạy lui. Lũ chó thản nhiên rượt bắt nhau, xô cả xuống biển, chúng không hấp tấp như lũ ruồi nhặng, vo ve, đáp xuống chỗ thịt xương thừa, hay trên những miếng gan cá to hơn cái bắp chuối nào to nhất. Họ bỏ bừa bãi, mặc thủy triều kéo hộ ra khơi. Trước có vài người chuyên đi nhặt gan cá nấu dầu, nhưng nay họ đã bỏ vào đất liền làm nghề khác. T. và Hải bàn nhau:

- Hay tụi mình nhặt bỏ một xó, chờ mùa Nam (gió nồm) vớt thêm mớ rong lá hẹ, trộn làm phân bón cây, tốt đất vô cùng. Mà thôi vui chơi mấy bữa hè cái đã, chuyện đó để người lớn lo.

Cá xẻ xong, đem phơi ngay, hai nắng là khô chất nước, nhường chỗ cho loại cá tươi khác. Cứ thế khô cá phơi dậm thêm đến lúc cứng còng và quắt queo như khúc củi khô, chờ giờ tiêu thụ ở thị trường khô cá, khô mực...

Tắm lại bằng nước giếng xong, Hải rủ T. đi dọc theo bãi bể. Mọi người nhìn bốn đứa kỳ dị với cái máy hình và mấy bọc nylon cầm ở tay. T. cũng nhìn mấy bà và trẻ em dị kỳ với cái gùi họ đeo trên lưng. Trong khi bốn đứa bước sì sụp nhặt ốc, cầu gai, sao biển, nhím biển... thì họ chăm chỉ tìm gỡ rau câu. Dân đảo đi chợ, đi rẫy, hay đi nhặt rau câu, đều dùng gùi, không quen dùng giỏ xách. Họ mầy mò gỡ từng chút rau tre (hình dáng tương tợ cây tre), rau sói (giống rau tre nhưng cọng nhỏ hơn), rau sa (ngon và mắc nhứt), rau đá (hình dáng giống miếng đá trải ra như bàn tay), hay một loại rau tên địa phương hơi tục vì đặt tên theo hình dáng là rau lông dái... Tất cả các loại rau câu trên khi nấu với đường để ăn cần phải lược, trừ rau đá dễ tan và dễ nấu nhất.

_________________________________________________________________ 
Xem tiếp PHẦN II

(Trích tuần báo Thiếu Nhi các số 111, 112, 113, 114)



Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

Ngày Sẽ Tới


 CHUYẾN XE NÀO BÌNH YÊN 

Khi chuyến xe vừa đầy nhóc người là lúc thành phố đã lùi lại sau lưng. Em tạm xa thành phố xa hoa náo nhiệt ấy, nơi mà các sinh hoạt rộn ràng đã cố tình làm cho con người hầu quên hay không muốn biết đến những tang tóc đang xảy ra ở một nơi nào đó không xa. Người tài xế chép miệng phân trần: “Khổ quá bà con ơi! Tui cứ đón khách lắt nhắt thế này, một hồi quá số hành khách đã định. Có khi xui thì bị phạt, bị phạt thì lỗ vốn. Bà con nghĩ coi, chở một người tám chục đồng, bị phạt một người hai trăm. Vậy mà tui cũng hổng tởn, cứ thấy người ta đón giữa đường mà bỏ chạy thì thiệt tội, nên cứ chở bừa. Có vậy mà nghèo. Bà Tám nè, hổm bữa đánh ở trển đó, tui thương quá chở đầy nhóc một xe chạy thục mạng tưởng chết. Vậy mà cũng về tới nơi bình yên. Thấy người ta lạc chồng lạc con tui cầm lòng hổng đặng, chẳng muốn cầm tiền của họ nữa. Vậy mà hổng hiểu sao có nhiều người lái xe bóc lột đồng bào dữ quá! Thiệt, thời buổi loạn lạc sanh ra nhiều loại người bất nhân.” 

Bà Tám, quen sao đó với bác tài xế, là một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi ngoài, đưa tay sửa lại búi tóc, rồi lấy ổ bánh mì nguội ra nhai. Hầu như con đường này đã quá quen thuộc với bà, nên bà có vẻ chăm chú vào câu chuyện của bác tài xế hơn là cảnh vật bên ngoài. Cái miệng hồng màu trầu nhai bánh mì thật ngon lành, vừa chóp chép vừa nói chuyện. “Ừa, anh Tư nói đúng đó, đời này nhiều kẻ chẳng biết thương nổi khổ của người ta gì hết trọi, ăn được là ăn. Mình nghèo, thương được ai lúc này thì thương kẻo tội. Tui tiếc là tui hổng có tiền chứ nếu giàu có ra, tui mua đồ đem đi cứu trợ hết. Hôm nay tui đem mấy trái mãng cầu lên cho con mẹ Út, hổng biết nó ở trại tạm cư có yên không. Bữa trước lên thăm nó, nó khóc nói chạy không đem được thứ gì hết. Nhưng mà nó hổng lạc đứa con nào hết là may. Một lũ bảy đứa, anh Tư thấy ớn hôn? Chà, vái Ông Địa cho tui lên đó bình an, về tui cúng quày chuối.” 

“Cho tui lên đó bình an”, tự nhiên em giật mình, và cũng muốn cầu khấn một quyền lực nào phù hộ. Xe chạy qua một khu chợ đông đúc, em bàng hoàng nhìn những người nối đuôi nhau đi mua, đi bán. Họ nhìn những chiếc xe bằng đôi mắt tìm kiếm, giống như mong thấy một người nào quen. Xe chạy chậm lại vì phải tránh người. Bất chợt em tưởng tượng nếu có một cái gì bất trắc xảy ra ngay tại đây, chắc hẳn khung cảnh sẽ hỗn loạn ghê gớm. Người đi chợ sẽ chạy tứ tán và những chiếc xe chạy ngược chạy xuôi chắc phải dừng lại, hành khách nhảy tung ra ngoài để trốn chạy. Nhưng cảnh vẫn thản nhiên trong khi trí tưởng tượng của em đi xa. Cảnh làm cho em nghi ngờ sự hiện diện của chiến tranh mặc dầu không thể nghi ngờ được. Chiến tranh phải chăng là một cái gì khi ẩn khi hiện mà nếu không trông thấy những cuộn kẽm gai giăng hai bên đường và chòi gác cao trơ vơ hẳn không ai tin được rằng trước hay sau đó một vài giờ đã hoặc sẽ xảy ra một cuộc giao tranh. 

Khi rời khu phố chợ, chiếc xe chạy giữa hai bên đường trồng chuối. Kìa có thấp thoáng bóng ai trong vườn, dưới những đám lá xanh non. Cảnh yên ổn vô cùng. Những chuyến xe chạy ngược chở đầy hành khách vụt qua. Bà Tám vẫn còn nhai bánh mì, ngoái cổ nhìn theo, nói: “Ở trển chạy về kìa, anh Tư! Chắc yên à, không đến nỗi nào. Chạy lẹ đi anh Tư! Tui tới thăm nó rồi về nhà sớm.” 

Xe qua một cây cầu. Tiếng ván lộp cộp dưới bánh xe. Người lính đứng gác trên cầu nhìn theo, đôi mắt buồn buồn. Hình như đôi mắt này đã bao lần tự hỏi những chuyến xe đi ngang cầu sẽ đi đến đâu, có được bình yên không? Có được bình yên không? 


LŨ TRẺ THƠ TRONG NẮNG 

Nắng không trong lành như người ta tưởng tượng là “nắng thủy tinh”, không ấm áp như nắng trong bài hát “Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên…” Nắng ở đây là thứ nắng gay gắt làm nhức đầu bỏng da mà chưa có một bài hát nhi đồng nào mô tả. Nhưng lũ trẻ thơ đang phơi mình trần tắm gội thứ nắng ấy. “Đi theo xe ba bánh đi tụi bây, đẩy giùm mấy ảnh để đem đồ tới phát cho người ta.” “Người ta” đây lại là gia đình của các em. 

A, hôm nay lại có dép nữa! Tí nữa mình sẽ được phát dép. Í, nhưng mà chân tao nhỏ quá đi, làm sao mang được dép to thế kia? Chắc anh tao mang vừa. Anh tao bị kẹt lại đó rồi mày ơi! Giá có ảnh chạy về đây thì ảnh cũng mang vừa vậy!… Tao ngó hi hí vô cái thùng kia, thấy có xì dầu nữa mày ơi! Hôm nay được ăn cơm với xì dầu! Rô-be, mày không được uống xì dầu nghe! Mày chắc uống xì dầu hoài nên đen sì. 

Rô-be chạy thoăn thoắt dưới nắng, lưng đen bóng lên. Chạy chán Rô-be leo phóc lên ngồi trên yên xe ba bánh. A, có việc này mà không nghĩ đến: sáng nay Rô-be thấy má Rô-be khóc khi đọc tờ giấy gì màu hồng của mấy anh chị đi phát. Nghe má nói đó là giấy từ giã chi đó. À, phải chăng mấy anh chị từ giã để đi về nhà? Rô-be hiểu nghĩa từ giã khi bữa hôm theo má theo anh rời bỏ nhà cửa chạy tránh bom tránh đạn, rời bỏ những tàn cây bụi cỏ ở đó Rô-be cùng lũ bạn chơi đùa hàng ngày. Rô-be nhớ mãi những chuyến xe chạy vội khỏi vùng khói lửa, và nhớ mãi đoàn người chạy loạn dắt díu nhau lếch thếch chạy trong tiếng la khóc và đạn réo điếc tai. Khi đến được nơi đây là đỡ được phần nào lo lắng. Nhưng bù vào đó là sự chật vật về nơi ăn chốn ngủ cùng với nỗi nhớ nhà thấm thía. Tối nào má Rô-be cũng khóc. Rô-be còn bé nhưng Rô-be cũng thấy nhớ nhà. Mấy ngày nay có các anh này đến phát gạo phát thuốc Rô-be cảm thấy vui vui, cứ dang nắng chạy theo giúp hoài. Bỗng nghe má nói các anh từ giã để về Sàigòn, Rô-be buồn ghê! Phải chi mấy ảnh ở đây với Rô-be luôn nhỉ! Rô-be vẫn reo, vẫn hát, nhưng bước chân chạy theo các anh hình như cuống quít lạ kỳ. 

Tin! Tin! Dang ra tụi bây, xe chở gạo đến kìa! Lũ trẻ leo lên mui xe, đeo trên cửa xe, hò reo thật thân ái. Một em đứng dưới đất buồn nhìn bàn tay cụt mất hai ngón, băng trắng toát. Em nghĩ đến ngày mở lớp vải băng này ra, chắc là bỡ ngỡ lắm. Hai dấu thẹo nhăn nhíu hẳn sẽ làm em khóc. Với ba ngón còn lại, em sẽ làm được gì? Em chắc sẽ tập viết bằng tay trái vậy. Dù sao em cũng an ủi lấy mình vì em còn có phước hơn nhiều người. Thằng Rô-be ngoắc em. Hổng thèm buồn nữa, em phải chạy đi chơi với tụi nó chứ! Em giơ bàn tay mang băng trắng lên khỏi đầu chạy đến bám lên cửa xe cười vang. 

Mặt trời lên cao, ngay đỉnh đầu. Chắc giữa trưa rồi! Ở đây không còn biết ngày giờ là gì, chỉ đoán chừng thôi. Lũ trẻ vẫn không ngừng dang nắng. Khi nào chơi chán rồi, lưng ướt đẫm mồ hôi, các em cùng chạy đến đứng nối đuôi nhau bên xe nước, đợi chờ. 


NHỮNG GIỌT MỒ HÔI 

Trên ba mươi gia đình trú ngụ trong mỗi trại. Mỗi gia đình sinh sống tạm thời trên một manh chiếu. Trong số đó, có nhiều gia đình đã thất lạc con cái cha mẹ, chỉ còn đôi ba người trơ trọi. Tiếng trẻ khóc như quyện lấy hơi nóng từ trên trần nhà tỏa xuống. Và những khuôn mặt khắc khổ chịu đựng cố tươi tỉnh nhìn phần quà của mình vừa mới nhận lãnh để mà đè nén những ưu tư. Em lặng nhìn họ, và muốn nói với họ những lời khâm phục nhất. 

Chúng tôi là những người đi học, đã gác bỏ bài vở để đến đây chia sẻ với đồng bào. Vậy xin bà con thông cảm chúng tôi, vui lòng giúp đỡ chúng tôi dễ dàng trong công việc. Xin bà con sắp hàng ngay ngắn và đưa phiếu cho chúng tôi để nhận phần quà. Những người tị nạn đã lớn, đã già, nhưng có nụ cười ngoan ngoãn như trẻ thơ, đứng sắp hàng chờ đợi. Họ nhìn chúng em bằng tia nhìn cảm thông trìu mến. Em muốn nói với họ rằng chính chúng em phải cảm ơn họ, vì họ là những người nhận lãnh đau khổ khốn đốn thay cho những kẻ thị thành. 

Trại “ba đê” ra lãnh phần! Vài tia mắt ngơ ngác. A, không, trại “ba dê” ra lãnh phần! Lũ trẻ thơ mình đen bóng chạy ù ra, mấy người lớn chạy lúp xúp theo sau. Một hàng rào giăng ra bằng những cánh tay nối lại. Bà con xin chờ đợi sắp xếp phần đầy đủ. Phiếu ai có ghi “sữa” thì lãnh thêm sữa, ai có ghi “xô” thì lãnh thêm cái xô. Hai người đàn bà nhìn nhau cười. Tui kêu là cái thùng xách nước, họ kêu là cái xô làm tui bắt chước kêu theo. Chúng em ôm sẵn quà trao cho từng người. Xin bác nhận lấy, một bịch gạo, một bịch quần áo, một gói muối, một chai xì dầu, một cái ca uống nước, một gói mì khô. Xin bác lãnh thêm hộp sữa cho em bé. Nhà chị đông, xin lãnh thêm cái xô… Một chị than phiền: “Mấy ông cho tui xin cái xô, tui xách nước. Tui có con dại, cho xin hộp sữa. Hồi nãy ghi phiếu tui đi vắng, mấy đứa con tui khai bậy làm bây giờ hổng có được thêm. Làm ơn cho tui xin…” Nhiều người bắt chước nhau khiếu nại. Xin bà con hiểu giùm. Chúng tôi làm việc với thiện chí, và mong giữ trật tự đến mức tối đa. Những giọt mồ hôi lăn đầy trên mặt anh xướng ngôn. Những giọt mồ hôi lấm tấm trên lưng áo những người phát quà. Những giọt mồ hôi nhễ nhại trên mình những người tị nạn. Quá giữa trưa rồi, nắng vẫn không giảm sự gay gắt, trái lại còn hực nóng thêm. Em nghe bỏng rát cả hai cánh tay và tưởng như chiếc nón lá trên đầu trở nên rất dòn đến nỗi sắp bể… Giờ này có người chưa nấu cơm ăn vì còn đợi phát gạo. Vậy chúng ta hãy phát mau cho họ. Anh xướng ngôn mệt phờ người vì đọc to nãy giờ, thế mà vẫn trợn mắt vừa nói vừa hát: “Sao anh làm mà không vui cười? Sao anh làm mà không vui cười?” Cả bọn như bị thúc đẩy, cùng vỗ tay hát hò khiến những người tị nạn cũng thấy vui theo. Em cảm thấy như nắng bỗng chạy trốn ở cuối chân trời. 

Một người đàn ông từ trong trại tạm trú đi ra, mặc một chiếc áo dài đỏ. Lũ trẻ ôm bụng cười như nắc nẻ. Hai người đàn bà nhìn nhau cười. Ổng điên hả? Không, ổng giỡn đó! Tại ổng nhận được bao quần áo có cái áo dài đó mà! Thiệt, khổ tới đó mà còn giỡn. Buồn cười nhỉ! Mà cười ra nước mắt đó bà! 


MẸ VẪN ĐỢI CHỜ 

Bác đứng ở dưới mái hiên rất lâu, đôi mắt thẫn thờ. Mời bác uống với cháu miếng nước. – Không, cảm ơn cô, tui không quen uống nước đá. – Trưa nắng quá bác đứng đây làm chi hở bác? – Tui đứng đây đợi người quen coi có ai lên không. Cực lắm cô ơi! Tui chạy từ trên nớ về đây với mấy đứa nhỏ. Nhà tui còn ôn mệ nhưng ôn mệ không chịu chạy, rứa là mắc kẹt lại rồi. Con tui à? Mấy đứa nhỏ thì bình yên ở đây, nhưng còn ba thằng con trai lớn, một thằng đi lính xa, hai thằng đi lính ở địa phương. Mẹ hắn chạy đi mà hắn thì ở lại đánh. Rứa là không biết tụi hắn sống chết ra răng rồi mấy cô ơi! – Nước mắt bác chảy dài lăn xuống đôi môi, thấm vào những lằn nứt khô héo. – Bác, bác đừng khóc, bác hãy hy vọng lên đi bác. Nhà ai cũng có người đi lính hết. Thời chiến tranh là phải như rứa mà bác. Bác hãy hy vọng lên, rồi một mai yên lành bác sẽ gặp con. Không sao đâu bác! – Cô nghĩ coi, con mình lúc nhỏ mình tưng tiu từng chút, lớn lên hắn đi xa cha xa mẹ, cực khổ trăm điều, thử hỏi ai mà không lo. Bây chừ tụi hắn mắc kẹt trong nớ rồi, tui thiệt ngồi đứng không yên, ra đứng đây để nghe loa coi họ có nhắn tin cho mình không. – Bác ăn cơm chưa bác? – Rồi cô. Nhưng mà tui có ăn được chén mô ra hồn đâu, toàn nhường cho tụi nhỏ ăn hết. Tụi con tui nó đói quá, ăn không đủ. Cô nghĩ coi – bác lại sụt sùi – một bịch gạo đong ra không đầy hai lon mần răng nấu đủ ăn một ngày, mà lại không có thức ăn nên phải đói. Phải chi bữa chạy loạn tui có đem được ít tiền thì ra chợ mua gì về ăn cũng đỡ, đàng ni chỉ chạy mấy mẹ con với mấy bộ quần áo. Cô biết không, ăn cơm mà thèm một cọng rau, thèm một cái xương cá vô cùng. Đã vậy muốn xin thêm mấy ổng một lon gạo cũng không được vì chen lấn quá đi. 

Nét đau khổ hằn sâu thêm trên gương mặt của bác. Quá nửa đời người rồi còn chi, nhưng hầu như bác chưa thấy ấm êm. Con người phong trần này có lẽ đã chạy loạn trong đời không biết bao nhiêu lần để tìm bình yên. Gia sản chắc cũng đã nhiều lần bị bỏ đi và nhiều lần gây dựng lại. Em không biết rồi đây bác còn phải chạy loạn bao nhiêu lần nữa. 

Vào trụ sở xin một bịch gạo, chúng em muốn góp phần nhỏ bé vào bữa cơm chiều nay của bác. Bác sẽ chẳng phải nhịn đói nữa, vì nồi cơm chiều nhiều gấp đôi mọi lần mà! Đôi mắt bác sáng long lanh nước mắt. Cám ơn các cô quá, tui chẳng biết chi để cám ơn các cô. – Không đâu bác, nếu chẳng có gì cho nhau, thì chúng cháu chỉ có tấm lòng này, xin bác nhận cho và chúc bác nhiều hy vọng. 

Bác ôm gói gạo trong tay, đi nhanh về trại. Ngang qua phòng nhắn tin, bác dừng lại trước máy phóng thanh. Đôi mắt chùng xuống buồn thiu. Tiếng nói vang ra từ chiếc loa phóng thanh như xuyên vào tai bác. Nhắn tin, nhắn tin, em Trần Thị V., có anh là Đại úy Trần văn D. muốn biết em đã về trại tạm cư chưa…. Nhắn tin, nhắn tin, bà Nguyễn Thị T., có chồng là ông Vũ văn C. muốn gặp, xin bà ra phòng nhắn tin… Trời ơi! Còn con của bác, tụi hắn có được bình yên không, răng chẳng đến tìm bác? Mạ lại đứng ở chỗ ni chờ hoài chờ mãi vậy. Con còn sống hay không? Răng chẳng về tìm mạ??? 


THƯƠNG QUÁ, HƯƠNG CAU 

Ngày sẽ tới nước non thôi là hai
Ngày thống nhất Bắc Nam đi lại rồi;
Anh đưa em ra nghe thu Hà nội
Em đưa anh vô Nam coi mặt trời.
Này hỡi, hỡi hòa bình! Này hỡi, hỡi hòa bình!

... Lũ trẻ thơ dạt ra hai bên cho xe chạy. Nắng bây giờ hết gay gắt, nhưng vẫn còn sáng loáng trên những tấm lưng trần. Tiếng hát bé bỏng xa dần. Em bây giờ lại trở về thành thị để tiếp tục bài vở, thi cử. Tự nhiên thấy quyến luyến đám trẻ nhỏ và những người tị nạn hiền lành, chịu đựng. Tự nhiên thấy không muốn xa những dãy trại tạm cư nóng hầm, những con đường đất nứt nẻ hực hơi nắng. Bây giờ lại thấy những cảnh vật ban sáng. A, nhưng mà hình như có mùi gì thơm nhẹ trong gió. Mùi hương cau! Em muốn reo lên và muốn chạy xuống để đi tìm vườn cau nào thơm quá! Lúc này những ước mơ như đang lớn lên trong lòng em thật mãnh liệt. Ôi thương quá đất nước em đẹp đẽ hiền lành thế này đây, sao không mấy ai thương yêu ngọn cau, tàu chuối? Sao không mấy ai vun bồi luống đất, bờ đê? 

Lại đi ngang cây cầu hồi sáng. Em nghe tiếng ván kêu lộp cộp dưới bánh xe như chào hỏi. Người lính đứng trên cầu quay lại nhìn chiếc xe bằng ánh mắt cũ, rồi nhìn xuống dòng sông. Lại một ngày như bao ngày anh đứng gác trên cây cầu buồn thiu. Anh ơi, hy vọng lên nhé! Rồi sẽ có một ngày anh không phải gác một mình trên cầu nữa. Anh sẽ được về nhà sống với cha mẹ, vợ con. Em bỗng nhiên tưởng tượng một ngày sẽ tới, đường quê tấp nập người người trở về mái nhà cũ, gầy dựng lại cơ nghiệp. Sẽ không còn những trại tạm cư. Sẽ không còn những cuộn kẽm gai chắn đường cây trái mọc. Bác gì đó sẽ gặp lại con trai. Rô-be được mặc áo, hết đen như xì dầu. Em bé cụt hai ngón tay sẽ trở thành họa sĩ với bàn tay trái vẽ vời quê hương, hay sẽ trở thành một nhà bác học. Những người vợ chung thủy sẽ dìu nạng cho người chồng thương binh đến trường tiếp tục việc học dở dang. Ôi thương quá, ngày thanh bình trên quê hương em, chắc sẽ vui vô cùng!.. 


Ghi từ Bình Dương – Sàigòn     
10-5-1972                   
CAM LI  NGUYỄN THỊ MỸ THANH


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 179, ra ngày 15-6-1972)

Bìa của Vi Vi : Còn có ai!

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Một tuần lễ ở Tòa Soạn (IX)


Chuyện vui buồn ở Tòa Soạn thật ra nếu đem kể hoài sẽ liên miên bất tận. Nhưng để khỏi choán chỗ của tờ báo, tôi xin tạm chấm dứt loạt bài này ở đây và xin hẹn sẽ trở lại mỗi khi cần bầy tỏ với bạn đọc những chuyện vui buồn. Trong liên tiếp 8 kỳ báo vừa qua, được độc giả theo dõi từng chi tiết nhỏ, và nhiều bạn, nhiều em đã gửi thư về chia xẻ sự vui buồn với người viết, tôi hết sức cảm kích và xin gửi ở đây lời cám ơn chung.

Phần cuối cùng của loạt bài này, chúng tôi muốn dành riêng để nói về một nhân vật đã và đang âm thầm góp phần tích cực vào việc lành mạnh hóa sách báo Thiếu Nhi. Đó là Trung Úy Lê Sơn Cương, chánh sự vụ sở Phối Hợp Nghệ Thuật thuộc Phủ Tổng Ủy Dân vận. Tôi gặp anh Lê Sơn Cương lần đầu tiên tại buổi hội thảo về sách báo do Ủy Hội Quốc Gia thuộc Unessco (cơ quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc) tổ chức. Phải thành thật mà nói, trong cương vị của một người viết văn, tôi không ưa mấy ông trong Hội Đồng Kiểm Duyệt. Nhưng nghĩ cho cùng, trong một quốc gia có chiến tranh lâu dài, việc đòi hỏi bãi bỏ hoàn toàn chế độ kiểm duyệt, tuy có lợi ở phương diện này thì lại đồng thời có hại ở một phương diện khác. Cho nên tôi cho là anh Lê Sơn cương, trong cương vị của một nhân vật đại diện cho chính quyền, đã hữu lý khi phát biểu ý kiến sau này trong buổi hội thảo:

- Dù ở bất cứ quốc gia tự do nào, thì quan niệm tự do không phải là mạnh ai muốn làm gì thì làm. Sự tự do phải được hiểu là có ý nghĩa tương quan tập thể, tôn trọng quyền lợi của tập thể. Bởi vậy giữa chính quyền và Văn nghệ sĩ, ít nhất phải gặp nhau ở một vài điểm tương đồng. Tại điểm tương đồng ấy, hai bên thỏa thuận vạch một vòng phấn giới hạn. Việc kiểm duyệt chỉ là một biện pháp ngăn chặn những tác phẩm đi ra ngoài vạch phấn đã được sự thỏa thuận của hai bên.

Thú thật, khi nghe lời biện minh ấy, tôi không mấy tin tưởng. Tôi đã nói riêng với anh Lê Sơn Cương là trong hơn 10 năm sáng tác, tôi cũng đã nhiều lần khốn đốn về vấn đề kiểm duyệt, và nếu không nhờ cảm tình bạn bè của các anh em thì tác phẩm của tôi đã có nhiều cuốn phải liệng bỏ vì bị gạch xóa quá nhiều (như cuốn Quê nhà yêu dấu đáng lẽ bị gạch bỏ 1 phần 4, cuốn Giấc ngủ chập chờn bị gạch nát, và cuốn Giọt lệ đen bị bỏ mấy truyện). Thi hành một chính sách mà chỉ dựa vào tình cảm cá nhân thì công việc sẽ trở nên rất phiêu lưu. Giả sử nếu tôi không có hân hạnh được quen biết, giả sử những người quen biết của tôi rời nhiệm sở cũ, thì sự thể sẽ ra như thế nào.

Anh Lê Sơn Cương, khi đó mới về nhận chức vụ Chánh sự vụ sở Phối Hợp Nghệ Thuật đã nói với tôi:

- Từ nay anh đừng lo. Tất cả sách của các anh do đích thân tôi đọc. Muốn xóa của các anh, dù chỉ một dòng, một chữ tôi cũng sẽ mời các anh lên thảo luận trực tiếp. Nếu lý tôi thua, tôi xin để nguyên, không gạch xóa.

Thừa dịp này, tôi nói ngay với anh:

- Chính sách KD của Bộ Thông Tin đã gây cho anh em văn nghệ sĩ nhiều ấn tượng không tốt đẹp. Nhiều người có sách viết xong không dám mang đi, sợ xóa bỏ uổng công đánh máy.

Anh Lê Sơn Cương nói:

- Tôi cam đoan với anh hoàn cảnh ấy đã chấm dứt rồi. Ai có sách, anh cứ bảo mang lên trực tiếp với tôi.

Ít hôm sau, tôi thuật lại câu chuyện với nhà văn Bùi Kim đĩnh và nói với anh cứ đem cuốn Đốt Xác lên kiểm duyệt. Kết quả, cuốn sách mà anh Bùi Kim Đĩnh tưởng sẽ không ra được đã được giấy phép ấn hành. Cuốn sách do Huyền Trân xuất bản và được bày bán ở các hiệu sách hồi tuần lễ vừa qua.

Tôi bắt đầu thấy mến anh Lê Sơn Cương từ sau vụ ấy. Anh là người đầu tiên xóa bỏ được cái hố ngăn cách giữa tôi với giới chức có thẩm quyền gạch xóa tác phẩm. Sau tôi được biết anh mắc võng ở ngay bàn giấy để làm việc từ sáng đến khuya, tôi lại càng mến tác phong nồng nhiệt, trẻ trung, hăng hái của anh. Một lần gặp gỡ khác, tôi đã hết sức phàn nàn với anh về việc sách báo nhảm nhí nhi đồng đã được in lậu (ngụy trang số kiểm duyệt) để phát hành bừa bãi. Anh Lê Sơn Cương đã trình bày với tôi tất cả những công trình của anh trong việc đối phó với bọn gian thương làm giàu trên sự đầu độc tinh thần tuổi thơ ấy : Tính đến cuối năm 1972, sau 10 tháng sục sạo, anh đã đích thân đi từng tiệm sách bán son để đem ra xa lộ thiêu hủy cả thẩy 59.014 cuốn báo nhảm nhí như Chú Thoòng, Ma Lai rút ruột, Quỷ Truyền Kiếp hiện hình, Quỷ Nhập Tràng, Quỷ báo oán v.v… riêng trong kỳ phát động đợt 1 của đầu năm 1973, sau 11 ngày công tác tảo thanh báo nhi đồng nhảm nhí, anh cũng đã tịch thu được 11.300 truyện nhi đồng in lậu, 8.395 cuốn báo trẻ em nhảm nhí và 2.721 cuốn sách đồi trụy, tổng cộng là 21.416 cuốn sách, báo được đem ra đốt ở ngoài xa lộ cùng lập thủ tục truy tố ra tòa những người liên hệ.

Một hôm trong tuần lễ trước (đầu tháng 5), tôi có một việc phải tới phòng kiểm duyệt, tôi đã gặp anh Lê Sơn Cương vừa xuống xe díp ở đầu cầu thang. Mồ hôi mồ kê của anh nhễ nhại, khuôn mặt đi nắng đỏ gay, hai tay anh xách hai chồng báo nặng chĩu mới vừa đi tịch thu về. Theo sau anh còn mấy nhân viên trực tiếp nữa cũng đang rỡ những chồng báo nhảm nhí còn đang chất chồng trên xe. Hình ảnh tận tụy với nhi đồng của anh làm tôi hết sức xúc động. Công việc của anh chẳng khác công việc của một anh hùng vô danh. Anh đã âm thầm làm, và làm một cách kiên nhẫn, liên tục và can đảm. Bởi phải có can đảm mới dám đương đầu với bọn gian thương, vì ở thời buổi này, chỉ cần một số tiền thuê nhỏ nhoi là cũng sẽ có kẻ sẵn sàng tìm tới để thanh toán.

Mặc dầu ảnh hưởng của loại sách báo nhảm nhí còn đang đè nặng lên sinh hoạt tinh thần của tuổi thơ, và mặc dầu gian thương vẫn còn có ba đầu sáu tay, tìm đủ trăm phương ngàn kế để làm giầu một cách bất chính, những nỗ lực của anh Lê sơn Cương thật đáng đề cao. Buổi gặp gỡ hôm ấy, tôi đã nắm chặt tay anh mấy lần. Xin anh hiểu cho đó là những cái xiết tay chân tình, cảm mến, bởi việc làm của anh dành cho tuổi thơ chính là cùng một mục đích mà Gia Đình Thiếu Nhi đang theo đuổi.


NHẬT TIẾN     


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 91, ra ngày 27-5-1973)


Bìa của Vi Vi : Mưa đầu mùa

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2016

Một tuần lễ ở Tòa Soạn (VIII)


Thứ bẩy (tiếp theo)

Vấn đề tăng giá báo, Chủ nhiệm không đưa ra một ý kiến nào và để cho tòa soạn hoàn toàn tự do tìm lấy một quyết định đúng. Trong suốt hai năm cộng tác để điều hành tờ Thiếu Nhi, tôi thấy Chủ nhiệm Nguyễn Hùng Trương luôn luôn giữ ở vị trí tế nhị đó. Chủ nhiệm đã xóa được cái hàng rào ngăn cách, đầy mặc cảm ngại ngần của những người đã đốt đi một ngân khoản khổng lồ để chi vào việc duy trì một tờ báo lỗ lã liên tục từ số đầu cho đến nay. Đã thế, ở những giai đoạn mà anh chị em trong tòa soạn thối chí nhất, không nhìn thấy một ánh sáng hy vọng nào ở tương lai, nhiều người đã tính bỏ cuộc, thì chính chủ nhiệm lại là người khích lệ và thúc đẩy cho lên tinh thần. Tôi còn nhớ mãi một câu mà Chủ nhiệm đã nói trong lúc tâm tình:

- Nếu báo mình bán được 3000 số thì ít nhất cũng giáo dục được 3000 Thiếu Nhi. Trong cố gắng của tư nhân mà góp phần được cho quốc gia như thế thì công trình ấy của mình cũng đáng nên duy trì.

Chủ nhiệm là con người chỉ âm thầm làm việc và không thích ồn ào. Sự dè dặt của chủ nhiệm nhiều khi trên cả mức dự liệu của tòa soạn. Như một dạo tờ T.N vừa đưa ra mấy cái quảng cáo dành cho mấy cuốn sách hay do nhà sách Khai Trí xuất bản, khi báo sắp ra, chủ nhiệm mới biết và lập tức yêu cầu cho ngưng lại. Lý do : Làm như thế, mục đích tờ báo của mình có thể bị hiểu lầm là cơ sở quảng cáo cho nhà sách.

Thế là, dù có một tờ tuần báo trong tay, nhà sách Khai Trí cũng vẫn giữ một vai trò độc lập, khách quan, không liên hệ gì đến sinh hoạt của tờ báo.

Đó là về mặt hình thức. Đi vào nội dung của tờ Thiếu Nhi, Chủ nhiệm cũng dè dặt không kém. Nói rõ hơn là Chủ nhiệm hết sức tôn trọng vai trò của Chủ biên trong tờ báo. Trong suốt gần hai năm làm việc ở tòa soạn, chúng tôi chưa hề thấy chủ nhiệm buộc phải đăng bài này hay bài khác. Tôi còn nhớ một lần vào dịp Tết Trung Thu năm ngoái, Chủ nhiệm trao cho tôi mấy bài của ai đó, dặn nếu đăng được thì cho đăng. Tôi đọc rồi xếp vô tủ sắt. Lý do : dở về kỹ thuật. Chủ nhiệm không phiền hà gì. Cũng không hỏi lại tại sao không đăng. Về vấn đề lựa chọn bài vở, tôi được tin cậy và giao phó hoàn toàn. Trong công cuộc hoạch định cho đường lối chung của tờ báo, hay trong những nỗ lực cải tiến từng tiết mục, chủ nhiệm cũng chỉ đóng góp ý kiến một cách dân chủ như mọi người khác. Luật thiểu số phục tòng đa số được triệt để tôn trọng. Tôi phải thành thực mà công nhận rằng, tìm được một người đồng chí hướng, thiết tha với tuổi thơ, khiêm nhường, vô vị lợi và kiên nhẫn như Chủ nhiệm thật không phải là chuyện dễ dàng. Tờ Thiếu Nhi sở dĩ còn tồn tại được đó là nhờ Chủ nhiệm. Hẳn khi đọc được những dòng chữ này, ông sẽ lại rất phiền hà tôi : “Chú viết những cái gì đâu đó ra làm chi”. Nhưng đã gọi là để vui buồn với bạn đọc thì tôi cứ làm. Bởi hơn ai hết, là người cộng tác mật thiết với chủ nhiệm, tôi có đủ dữ kiện để viết ra và đủ tư cách để bảo đảm về những dòng chữ của mình.

Chống lại chủ trương tăng giá báo là các bác Văn việt, bác Văn Trung và bác Đặng Hoàng. Bởi các bác là những người hàng tuần đã chịu khó đem báo đến từng trường từng lớp để bán trực tiếp từng cuốn cho các học sinh. Sự chống đối của các bác đầy vẻ e dè bởi một mặt các bác hiểu rõ túi tiền của học sinh, một mặt khác cũng hiểu rõ cả thực trạng lỗ lã của tờ báo. Các bác không quyết liệt phản đối, nhưng chỉ khuyến cáo một cách e dè:

- Tăng giá báo là điều hợp lý không ai chê trách gì, nhưng đối với học sinh… tội quá… Sợ các em không đủ tiền mua.

Tôi nêu thắc mắc:

- Sách “Can” ngoại quốc đề giá 120đ vẫn bán chạy. Điều đó chứng tỏ vấn đề giá tiền không phải là yếu tố trở ngại quyết định của các em.

- Đồng ý là sách “Can” ngoại quốc như Tin Tin, Lucky Luke… bán chạy, nhưng nó là sách trọn kỳ, chớ không phải báo. Để mua được một cuốn sách trọn kỳ, các em có thể để dành một tuần, hai tuần, có khi cả tháng. Mua một cuốn là đọc trọn một truyện, không phải mất công chạy đuổi theo những số liên tục ra hàng tuần như Thiếu Nhi.

Chị Đỗ Phương Khanh cũng nêu ý kiến:

- Qua thư từ của các em gửi về, tôi nhận thấy phần đông độc giả của T.N là những em thuộc gia đình nghèo. Các em đã phải nhịn bớt tiền quà sáng để có thể mua được T.N. Có em rất thích đọc T.N mà không đủ tiền theo dõi liên tục, nên chỉ lúc nào có tiền mới mua đọc được một số. Sau biến cố quảng Trị, Đông Hà, nhiều em có gia đình phải di tản nay không còn phương tiện để đọc Thiếu Nhi, tuy nhiên thỉnh thoảng nhớ tòa soạn, các em vẫn viết thư về hỏi thăm. Bởi vậy, việc tăng giá báo là cả một vấn đề khó khăn thêm cho các em.

Những buổi họp bàn về việc tăng giá báo cứ theo một đà luẩn quẩn mà không đi đến một quyết định dứt khoát nào. Chủ nhiệm đã giao phó cho tòa soạn tìm lấy một quyết định đúng. Tòa soạn bó tay, trút trách nhiệm cho ban Quản Lý. Ban Quản Lý không dám quyết định đơn phương, lại đem hỏi ý Chủ nhiệm. Thành ra cho đến bây giờ, báo vẫn để giá 50đ giữa cơn sốt về giấy cứ mỗi ngày một đe dọa gia tăng.

Và nói chung, hầu như ý kiến của anh chị em trong tòa soạn đều nghiêng về phía muốn nâng đỡ các học sinh nghèo, không tăng giá báo để các em có thể còn được đọc T.N, cho đến khi nào tờ báo không có thể đứng vững nổi nữa, nếu giá báo không tăng, để có thể bù vào khoảng trống của nạn vật giá leo thang.

______________________________________________________________________
Xem tiếp KỲ IX


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 89, ra ngày 13-5-1973)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>