Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

Khám Phá "Bí Mật"

 

Sau một trận đòn vì tội cúp cours đi xi nê, ông anh tôi trở nên siêng năng chăm chỉ một cách lạ lùng. Bình thường, anh tôi chỉ xem qua bài vở rồi ngồi gẩy đàn hát nghêu ngao, đến giờ thì đi học. Nhưng sau khi thấm đòn của bố, anh tôi "đổi chứng" thế đấy. Chỉ trừ hai bữa ăn và một buổi đi học, những giờ còn lại anh tôi hình như gắn chặt với căn phòng bé nhỏ này.

Căn phòng học của anh tôi giờ thì trông sáng sủa, sạch sẽ hẳn ra chả bù với ngày xưa thật là bê bối, mạng nhện chăng đầy, bẩn thỉu. Nói gì mà anh tôi không mê nó chứ! Cửa sổ trông ra vườn hoa, buổi tối gió nhè nhẹ thổi đưa hương thơm của những bông hoa mà bố tôi ra công trồng tỉa, mẹ tôi chăm sóc, tưới nước. Đêm trăng tròn, nếu ai có tâm hồn thi sĩ mà nom thấy khung cảnh nơi đây thì có lẽ đó là nguồn cảm hứng để họ sáng tác những vần thơ. Trên bàn, từng chồng sách cao nghệu, từng xấp giấy trắng đặt gọn gàng nơi đầu bàn. Nhiều lần mẹ tôi vào dọn dẹp phải giật mình kinh hãi thầm nghĩ trong bụng "Quái lạ, cái thằng này học hành gì mà ghê quá!"

Từ ngày ấy trở đi, anh Kha, chị Hạnh Nguyên và tôi đồng ý cải tên cho anh. Ngoài tên cha sinh mẹ đẻ ra anh còn có một tên đặc biệt nữa là "Siêng". Có lẽ vì biết tính chăm chỉ của mình anh tôi rất bằng lòng với cái tên mới mẻ này và ngay đến mẹ, lúc đầu mẹ phản đối nhưng sau khi được anh Kha và chị Hạnh Nguyên thay phiên nhau giải thích cùng với sự thêm mắm thêm muối của tôi, mẹ tôi gật đầu và nở một nụ cười biểu đồng tình. Bắt đầu từ đây, chừa bố ra, cả nhà tôi quên hẳn tên thật của anh.

Anh tôi chăm học lắm, nếu có ai lạc bước vào căn phòng học thơ mộng ấy thấy như vậy đều có cảm tình với anh và cầu chúc cho anh ấy gặt hái được nhiều kết quả như ý muốn. Từ ngày căn phòng được sửa sang tôi không còn hân hạnh vào trong ấy lục tìm những mảnh giấy gấp tàu thủy chơi và nếu lơ mơ đến gần là bị cái "ký" nặng ngàn cân vào đầu mà anh ấy gọi là tạm vuốt ve, tình trạng nầy kéo dài mãi không sớm thì muộn tôi phải vào Dưỡng trí viện mất. Ỷ lớn ăn hiếp bé, tôi nhất định phải "rửa mối hận" này cho đỡ tức. Ý định này đã bao lần nhen nhúm để chờ cơ hội bùng lên nhưng bị dập tắt ngày bởi cái tướng "oai phong lẫm liệt", đôi mắt gườm gườm hằn sâu vào bộ óc non nớt của tôi. Eo ơi! Cái tướng nom khiếp quá! Tôi đành bỏ cuộc không dám "đông thủ", đành rút lui về "ở ẩn" để chờ thời ra "làm ăn".

*

Sáng nay, anh tôi bận việc phải vắng nhà một buổi... Đây là một nỗi mừng hiếm có trong cuộc đời làm em của tôi. Tôi nghe lòng trổi khúc nhạc reo vui và tôi cảm thấy yêu đời hơn bao giờ hết, mối "căm hờn" được dịp bùng lên mãnh liệt, tôi nhảy chân sáo vào phòng anh... Công việc đầu tiên: khám chồng sách ; không thấy gì khả nghi tôi vội vã rời khỏi phòng không quên để lại y như cũ, chứ không thôi anh ấy thấy khác đi liền giáng cho mấy cái ký nữa có đường bể sọ. Eo ơi! Óc tò mò nào để cho tôi yên, hằng chục câu hỏi quay cuồng đảo lộn trong đầu, và câu hỏi này là động lực thúc đẩy tôi trở vào lần thứ hai. "Anh ấy viết thư cho bồ", cô D. ấy mà!

Công việc thứ hai: tìm xấp giấy trắng... Chao ơi! Nó biến đâu mất rồi, từ nãy giờ tôi vẫn đinh ninh nó vẫn còn chễm chệ ở đầu bàn kia mà! Thế là lại một phen vất vả nữa để đi tìm. Bỗng mắt tôi sáng lên, tim đập mạnh hơn... A! Kia rồi, anh "Siêng" ơi! Chết anh rồi. Anh cất kỹ quá nhưng làm sao tránh được cặp mắt cú vọ này.

Lần giở từng trang giấy và bất chợt tôi dừng lại đọc đi đọc lại từng giòng chữ:

"Hoàng hôn dần buông xuống, trả lại cảnh im vắng của buổi chiều quê, từng đoàn mục đồng lùa trâu về chuồng. Những nét thanh thản hiện rõ trên gương mặt của họ sau một ngày vất vả. Tiếng gió rì rào thổi vào những nhành lúa chín đưa hương thơm ngào ngạt, những cánh chim trời buông tiếng kêu rời rạc bay về khoảng trời xa tít tắp mù mây. Ôi! Một buổi chiều thanh bình tuyệt đẹp. Thượng đế ơi! Xin ngài hãy gắn chặt hình ảnh này vào đất nước con, xin ngài hãy thương cho những người dân hiền lành vô tội này. Dù là một tí thôi, chiến tranh đừng chắp cánh đậu vào quê hương yêu dấu, chiến tranh đi đến đâu hoang tàn đổ nát đến đó, còn đâu hình ảnh buổi chiều thanh bình, nếp sống bình dị của dân quê theo nhau đổ vỡ tan tành như mơ ước của em khi... "Kịch"

- Úi cha! Chắc ông ấy về!

Tôi vopi6 gấp tờ giấy đút vào túi cho nhanh và co giò phóng ra khỏi phòng. Hú hồn, chả có ai ngoài cây gỗ tự nhiên đổ vào cánh cửa phòng. Nhưng cũng chả dám lấy ra đọc tiếp, tôi định bụng chờ anh ấy về lấy tờ giấy ấy ra làm áp lực bắt anh ấy phải chấp nhận yêu sách. À! Không được, khơi khơi như thế nhỡ ra anh ấy vồ lại và ký cho vài nghìn cân nữa để bịt miệng thì sao? Hay là để đến lúc ăn cơm lấy ra đọc cho bố, mẹ, anh Kha, chị Hạnh Nguyên và anh ấy nghe. Nghĩ vậy tôi vươn cổ ra gọi rối rít:

- Anh Kha, chị Hạnh Nguyên ơi! Em có cái này hay lắm!

Anh, chị tôi thấy tôi có vẻ bí mật nên xúm lại:

- Đâu nào? Cái gì đâu đưa đây xem!

Tôi liền móc túi đưa ra, anh, chị tôi châu đầu vào đọc rồi cười khúc khích...

*

Mâm cơm dọn s8ãn. Chờ bố về là ăn. Anh "Siêng" tôi không để ý đến việc làm ám muội của tôi nên gương mặt anh bình thường hơn lúc nào hết. Anh ấy mà nhìn thẳng vào mặt tôi có lẽ anh ấy đã đoán được một phần nào ; nhưng đời nào có ai học được chữ "ngờ".

Bố đã về, cả nhà quây quần quanh mâm cơm. Anh Kha, chị Hạnh Nguyên thỉnh thoảng lại liếc anh "Siêng" và cùng mỉm cười ; tội nghiệp anh "Siêng" quá, anh chả biết gì cũng cười theo... Giờ hành động đã điểm, anh Kha sửa lại cặp kính nháy mắt ra hiệu. Tôi vội buông đũa bát, mở giấy ra đọc: "Hoàng hôn dần buông xuống, trả lại cảnh im vắng của buổi chiều quê..."

"Phựt" anh "Siêng" giành lại tờ giấy vo tròn lại nắm chặt trong tay như sợ ai cướp mất, nhìn tôi như muốn rách mi mắt. Ghê quá! Cái mặt đỏ lan ra đến tai. Bất ngờ quá đi, tôi không cầm chắc "bản thảo bài văn" để đọc cho mọi người thưởng thức tài "văn sĩ" của ông anh tôi. Mẹ thấy tình hình căng thẳng, hỏi:

- Chúng mày làm gì thế?

Chị Hạnh Nguyên nhanh nhẩu:

- Thưa mẹ, em con tập làm "văn sĩ".

Anh Kha và tôi cùng bật cười một lượt. Mẹ mắng yêu anh "Siêng":

- Con trai mẹ ngoan quá, làm "văn sĩ" thì để cho người ta thưởng thức "áng văn" thì đã sao nào?

Và bữa cơm tiếp tục... Ăn xong xuôi, tôi đang đứng xớ rớ, anh liền giơ tay ra định "vuốt ve" sọ dừa tôi nhưng nhờ nhanh chân lẹ con mắt tôi chạy đến đứng cạnh bố, mỉm cười đắc thắng và thầm ngạc nhiên khi khám phá ra rằng bấy lâu nay anh tôi "rúc" trong phòng để tập tành làm "văn sĩ tương lai".


HUYỀN LINH           
Bút Nhóm Hoa Đại Dương  

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 181, ra ngày 15-7-1972)

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2024

Dzíc Dzắc 210

 

 Thưa bà con,

Vài tháng trở lại đây một số bà con viết về la ơi ới rằng món ăn của cô nàng họ Tạ nặng quá (chuyện! tạ lại chả nặng!) nuốt hổng dzô! có cố mà nuốt được dzô tới bụng lại mắc chứng khó tiêu, sinh nhức đầu. Độc giả TH quả thuộc loại... thông minh. Nhất là thứ độc thiệt Dzíc Dzắc, thấy khó tiêu là biết liền hà! Bởi vậy hôm nay Đầu Bò tui được lệnh khăn gói qua đây phụ bếp, mang theo muối tiêu - ấy lộn, thuốc tiêu muối chớ - để phục dịch bà con. Mỗi kỳ cô nàng họ Tạ dọn một món đồ Tàu (đồ Tàu là chúa nặng bụng!). Còn Đầu Bò tui sẽ dọn hầu bà con một món đét-xe nhuận trường.
 

MÓN ĂN CHƠI RA MẮT :

Ăn nhả hột, và nhả ngay khi vừa ăn xong: Một chiếc xe buýt rời bến với xe trống. Tại trạm ngừng đầu tiên nó đón 10 người lên. Đến trạm kế 5 người xuống và 12 cô cậu học trò bước lên. Ở trạm sau đó 8 người lên và 2 người xuống. Tới trạm sau nữa nó nhận thêm 14 người nhưng 9 cô cậu học trò xuống, và trạm kế đó có thêm 2 hành khách và 1 cậu học sinh xuống.

Bà con sẵn sàng câu trả lời chưa?

Đây là câu hỏi: xe buýt ngừng mấy lần tất cả?

Đã nói ăn xong nhả hột liền: 5 lần. Tội quá! Bà con mải đếm hành khách phải không ạ?

 
MÓN ĂN THIỆT

(Đầu Bò tiện tay dọn luôn):

Tuổi Hoa họp nội các hàng tháng, gồm 8 vị tất cả. Đầu Bò cũng được mời tham dự, nhưng với chân gác cửa phòng họp, nên chả hiểu mấy ổng bả bàn cái gì trỏng. Chỉ thấy khi tan họp, ai nấy mặt mũi tươi rói, và mỗi người lần lượt trịnh trọng bắt tay hết các người kia trước khi chia tay, nom rất lịch sự. Đầu Bò, đứng gác ở đó, bèn tẩn mẩn đếm coi có bao nhiêu cái bắt tay tất cả có ghi vào sổ tay cẩn thận. Đố bà con, có bao nhiêu cái, nào?

Chú ý : Để cho công bình, từ nay Dzíc Dzắc chỉ nhận thư giải đáp qua Bưu Điện. Bà con có thể để ngỏ bao thư (không dán kín)dán tám đồng tem là đủ.

GIẢI ĐÁP D. D. số 208 :

Kỳ này số thư kỷ lục: 214! Nhưng, luật là luật, cũng chỉ xin chọn 10 thư sớm nhất. Các bạn có tên sau sẽ nhận được báo biếu 211 :

(xem danh sách nơi trang 57)

 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 210, ra ngày 1-10-1973)


Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2024

Thư Gởi Các "Đằng ấy"

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mảnh vườn của bé nở hoa rồi
Nắng đẹp hoa cài trên nét môi.
Thư trắng bay về như bướm lượn
Cây xanh, xanh ngát cả khung trời

Không đủ đất mầu để ươm thơ
Mảnh vườn của bé nhỏ ghê cơ.
Nhiều bồ lại trách sao Trinh Chí
Không "cấy" cây xanh để đợi chờ.

Và xúi: "Trinh này, xin đất thêm
Nếu không thì tớ chả có thèm"
Trinh hờn anh Cả: "Thôi em nghỉ".
Anh dỗ Trinh rằng: "Nín đi em!".

Trinh ghét anh ghê đó các bồ.
Chẳng thèm chơi nữa, bỏ đi vô.
Gặp Quyên Di đứng, đòi thêm đất.
Anh bảo: ráng chờ... "Tết Công Gô"

Chao ôi! Ghét chửa cái anh này
Nếu thế, từ nay tớ tẩy chay
Chả đến gặp anh chiều thứ bảy
Để cho hoa héo lá vàng cây.

Nói thế... cho vui... cho đỡ sầu
Đời nào Trinh Chí chịu thế đâu.
Vườn mình, mình tưới hoa bồ nhỉ?
Và rũ các bồ đến... bắt sâu.
 
Chịu thế hay không hở các bồ?
Cùng nhau góp nhặt những vần thơ.
Vần thơ "con nít"... ưa làm nũng.
Không khóc, không sầu nhớ vẩn vơ.

Mình làm "thi sĩ" yêu mây trắng
Yêu mẹ, yêu cha, yêu chị anh
Và yêu em nhỏ cười xinh xắn
Đang nở hoa hồng trên mắt xanh...

                                           TRINH CHÍ

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 50, ra ngày 1-8-1966)




Thứ Tư, 3 tháng 7, 2024

Chiều Tím Bằng Lăng

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Cắm một cụm bằng lăng
Vào độc bình xinh xắn
Cánh hoa màu tím thẫm
Chất chứa một niềm yêu

Quê nghèo mái tranh xiêu
Chiều về xơ xác quá
Bằng lăng rơi lả tả
Đường đất dấu chân trâu

Dĩ vãng xưa tìm đâu
Chiều lam in màu khói
Hoàng hôn chiều dần tối
Tiếng ếch nhái than van

Hôm nay chiều mây loang
Nhớ màu bằng lăng tím
Trên mái tranh trìu mến
Về xóm cũ yêu thương

Cũng ráng chiều vấn vương
Chim trời bay về tổ
Tiếng ru buồn qua ngõ
Để lòng ai bùi ngùi

Tìm đâu ngày xanh ơi
Cánh diều bay xa vời
Bằng lăng rơi tím lối
Tím nhuộm cõi hồn tôi...

                                THƠ THƠ
                       (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2024

Những Người Hành Khất

 

PHƯƠNG NGA con,

Me con nói thế là đúng lắm. Con phải nghe lời me. Con không được rẻ rúng khinh bỉ những người hành khất vào nhà mình như chiều hôm nay nữa. Hồi chiều, khi thấy con ném đồng bạc mười đồng giữa cửa để người hành khất cúi xuống lượm, chính lúc đó bố đã không bằng lòng con, bố đã định rầy con ngay đó, nhưng me con đã gọi con vào và đã la mắng con rồi. Me con làm như vậy rất phải, rất đúng.

Phương Nga ơi, thời buổi giặc giã này, sớm còn tối mất, giàu đó mà nghèo đó ngày nào cũng xảy ra ; hôm trước được hoan nghênh ồn ào, thì ngày hôm nay lại bị đả đảo công kích ; chuyện đó đã xảy ra nhiều lần quá. Con đừng thấy ai giàu sang mà trọng vọng mà cũng đừng thấy ai nghèo hèn mà khinh khi. Bữa tết Mậu thân con cũng đã thấy đó, bao nhiêu gia đình phong lưu phú quí, đã coi người như cỏ rác, đối xử với người giúp việc trong nhà như súc vật, mà chỉ trong một vài tuần loạn lạc, bao nhiêu của cải ra mây khói, vợ một nơi chồng một ngã, đói rách bơ vơ... Chừng đó thôi, con đã thấy của cải là đồ phù vân và đừng bao giờ lầm tưởng rằng mọi cái sẽ mãi mãi ở với mình. Chắc me con cũng đã kể cho con chuyện nhà giàu nọ ở quê nhà mình. Ông ta sống bằng nghề cho vay, lợi dụng những kẻ sa cơ lỡ vận để bóc lột, rồi sau đó đấu thầu cung cấp thực phẩm cho lao xá. Nhờ khéo đút lót cho giám thị, bớt miếng ăn của kẻ tù tội, cung cấp toàn đồ ăn thiu thối cho người ta... nhờ đó mà tậu được phố xá, ruộng đất... Bố me cũng không ngờ, mấy năm sau, nhân lúc đi chợ Thị Nghè, giữa cảnh xôn xao náo nhiệt đó, bỗng nghe lạc loài tiếng rao hàng giọng Huế: "Ai mua kim chỉ long não nì...?" Giọng Huế vang lên trong một buổi chợ của người miền Nam, nghe buồn cười quá. Bố me tìm đến xem con người đồng quê hương với mình. Bố ngạc nhiên quá cỡ: đúng là ông nhà giàu đó. Không ngờ ông sa đọa đến nỗi này, phải tha phương cầu thực để sống bằng cái nghề dành riêng cho trẻ con hoặc người tàn tật...

Bố không định nói với con về chuyện luật nhân quả ở đời, mà bố cũng không hiểu vì cớ gì ông nhà giàu nọ xuống dốc một cách tệ hại đến thế... Từ cái lối sống nhờ vào bán dạo "kim chỉ long não" ở nơi đất khách quê người, không ai thân thích, đi đến cảnh sống hành khất có xa xôi gì đâu con. Con thấy đó cũng hiểu rằng đừng bao giờ nghĩ mình sẵn của cải trong tay mà coi thường kẻ khác. Bố cũng còn nhớ một người bạn Hoa Kiều của bố ngày trước. Tên ông ấy là Trung. Năm 1940, bên Tàu giặc giã đói quá, ông đó mới 13 tuổi, không rõ cách nào đã theo được gia đình qua Hà Nội. Khởi đầu đi hành khất, rồi đi giúp việc, qua năm 1951, ông ấy vào Huế và tình cờ gặp bố trong một trại giam, vì ông ấy bị tình nghi liên lạc với kháng chiến. Bố còn nhớ lúc đó, ông ấy có nói rằng từ khi đi ở giúp việc cho người ta cho đến khi dành dụm một số vốn đủ đi buôn khoảng 10 năm ông ấy chỉ ăn quà có 2 xu đậu phụng rang, còn quần áo, mọi thứ đều đi xin đồ cũ của chủ nhà cả. Năm ngoái bố lại gặp ông ấy ở Chợ Lớn, ông ấy mời bố về nhà chơi, và trong câu chuyện, ông ấy cho bố biết ngày nay ông tậu được bốn khách sạn cỡ lớn ở thủ đô, cho Mỹ thuê ; ngoài ra ông ấy kinh doanh nhiều thứ, và mỗi tháng tiền lời thâu vào khoảng trên 13 triệu.

Không nói đến gương kiên nhẫn, chỉ nói đến thân phận một đứa bé hành khất, một đứa bé giúp việc, trở thành một tỷ phú trong khoảng hai ba mươi năm, là con thấy rằng cái lẽ khinh trọng ở đời này thật là mong manh.

Đã vậy nước mình lại giặc giã liên miên. Con lớn lên đến bây giờ, chưa một lúc nào được yên ổn hoàn toàn, bà con mình ở thôn quê phần lớn bây giờ đều trở nên tay trắng : một ngôi nhà khang trang được xây cất tu bổ từ đời ông cố, đời ông nội, đời cha, biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt đã xây thành ngôi nhà đó... thế mà chỉ qua một đêm hai bên đánh nhau, ngôi nhà đó ra tro bụi, còn lại chơ vơ mấy cột gỗ cháy đen, bà con mình chưa đến nỗi ngửa tay xin người khác, nhưng hơn một năm nay, ngày ngày sống nhờ vào của bố thí, nói cho văn hoa là của trợ cấp, của viện trợ... Đó cũng là một lối hành khất tập thể đó con ạ.

Con ơi! Người Việt Nam mình ai ai cũng cho rằng của cải do mồ hôi nước mắt mình làm ra mới quí. Ai ai cũng cho rằng một khi sa cơ lỡ vận, phải sống nhờ vào người khác, là một điều xấu hổ vô cùng. Chắc con cũng được bà nội kể cho nghe, ở nhà quê, nhiều cụ già không còn làm nổi công việc đồng áng vườn tược, phải ngồi ở nhà nuôi gà nuôi vịt thì lấy làm bực bội lắm ; tay chân lúc nào cũng ngứa ngáy muốn cầm lấy cái cuốc cái rựa. Cho nên lúc các cụ còn trẻ, đã biết lo xa, biết dành dụm một số tiền để khi già yếu, đưa tiền cho con dâu làm vốn buôn bán, để các cụ khỏi mang tiếng là người ăn bám. Các cụ còn mua trước cho mình một chiếc quan tài, để sẵn đó, rồi lại đi coi đất đai, đắp trước cho mình một sinh phần, lại còn lo xa hơn nữa, trích lấy một số tiền để cho con cái lo việc ma chay tống táng khi các cụ nhắm mắt lìa đời. Như vậy con đã thấy các cụ đã lo toan, tính toán trước để khỏi nhờ cậy vào con cháu. Mà con cháu vốn đã được các cụ sinh thành gầy dựng cho từ lúc các cụ còn khỏe mạnh.

Chừng đó câu chuyện, con cũng thấy rằng người Việt Nam mình vốn chẳng bao giờ muốn nhờ cậy vào kẻ khác ; phải sống nhờ ở con cháu, và ăn không ngồi rồi, người Việt Nam mình cho đó là một điều xấu hổ, một cái tội đối với xã hội. Khi phải ngửa tay xin bố thí của kẻ khác, là một điều vạn bất đắc dĩ, không ai muốn làm thế. Như vậy, những người hành khất vốn là những người đau khổ rồi. Đau khổ vì không còn ai thân thích. Đau khổ vì thua thiệt, đau khổ vì không có chén cơm ngon, không đủ manh áo lành... đau khổ đủ mọi thứ... Con ơi, làm người ai lại không có tự ái, nên ngay khi bị thiên hạ coi rẻ cũng là một nỗi khổ sở cho họ rồi...

Thời buổi này, bà nội hay khởi đầu bằng ba tiếng đó, thời buổi này cái gì cũng có thể xảy ra. Triệu phú cũng đó mà hành khất rồi cũng có thể đó. Có cái gì vững bền đâu con. Con cũng đừng tưởng rằng những kẻ nghênh ngang ngựa xe, tiền hô hậu ủng, đi đâu cũng lính hầu đều là những đáng kính nể đâu. Chắc con cũng còn nhớ những kẻ đó, có người đã chết rồi, cũng bị báo chí kêu tên mà chỉ trích, mà chửi bới. Tuổi con còn nhỏ quá, bố không nỡ cho con thấy mặt trái của cuộc đời. Bố chỉ nói sơ sơ vậy rồi con cứ nghe bà nội nhắc nhở: "Cố gắng ăn ở làm sao để phúc lại cho con cháu về sau là hơn cả". Nghe lời bà nội, bố không dám khinh ai, mà cũng không quá trọng ai. Mọi cái ở trên đời này đều ở trong lẽ vô thường cả. Cho nên con đừng bao giờ nghĩ rằng hôm nay có đủ cơm ăn, có đủ áo mặc là con coi rẻ những người hành khất.

Con ơi, những người hành khất đã là những người khổ sở, con không được làm cho họ khổ sở thêm nữa. Con có biết chắc ngày mai của con ra sao không? Con có biết cả nước mình hiện đang xin mà ăn không? Việc con ném đồng bạc để người hành khất cúi xuống lượm đã làm bố giận con. Tại sao con không đưa tận tay cho họ với một cử chỉ lễ độ? Con còn nhỏ, nhất định con phải lễ phép với người lớn tuổi hơn con.

Con ơi, sống được ngày nào là con phải rán làm vui lòng người xung quanh, con rán mà giúp đỡ, giúp đỡ tận tình, cho những người đã nhờ cậy đến con. "Ăn ở làm sao đem lại phúc đức cho con cháu về sau" Bà nội từng nói thế, chắc con còn nhớ?


NGUYỄN KHẮC THIỆU

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 156, ra ngày 1-7-1971)

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2024

Xâu Bông Lài

 


Mỗi khi đi chùa về, nếu đúng vào dịp ba mươi, mùng một hay ngày rằm, má tôi thường mua về hai xâu bông lài. Một xâu má tôi dâng lên cúng Phật, còn xâu kia bà làm quà cho tôi. 

Ý tôi thì muốn đeo, vì là con gái đứa nào chẳng điệu: Đeo lên cổ làm dây chuyền, đeo vào tay làm vòng, làm lắc...Nhưng vì thấy má tôi đã cúng xâu bông kia trên bàn Phật, nên sợ mang tội, tôi bèn cúng xâu bông của tôi lên bàn thờ anh Hải tôi, lòng tự nhủ khi nào tàn nhang, tôi sẽ đem xuống đeo cũng chưa muộn.

Lần đó, tôi nhớ má tôi đi chùa về với hai xâu bông lài và một vết bầm ngay trên trán. Tôi lập tức lo lắng hỏi ngay bà rằng đã có chuyện gì xảy ra. Thì má tôi đáp rằng má tôi ở bên chùa cả buổi mà chẳng ai để ý, mới về tới cửa nhà là con trai con gái đứa lớn đứa nhỏ xúm xít lại hỏi thăm liền. Con mà, con thì phải khác người dưng chứ.

Cứ mỗi rằm hay mùng một, tôi lại thấy người ta đem bán những xâu bông lài trắng muốt và thơm ngát này trước cổng chùa. Được bày trên những cái mẹt hay rổ, các Phật Tử thường mua để dâng lên Phật ngự ngay trong chùa, hoặc mang về nhà cúng Phật tại nhà, khiến tôi lại nhớ đến má tôi, và lại rưng rưng nước mắt. Mùi hương bông lài như cứ phảng phất mãi theo kỷ niệm xa xưa. Thì ra hương gây mùi nhớ là có thật.

Người thân của chúng ta sẽ không cùng chúng ta đi trọn con đường đời, dù họ sống thọ hay chết yểu. Chỉ tiếc một điều khi còn có họ bên cạnh, tâm lý thường  tình là chúng ta cứ coi đó như điều đương nhiên, không cần phải suy nghĩ chi nhiều cho mệt óc. Cho tới một ngày kia, tất cả những gì chúng ta còn có thể nắm níu được từ họ chỉ là một làn hương, như hương từ xâu bông lài ngày còn thơ, nhẹ hơn cả làn gió thoảng, thoáng qua rồi bay mất vào cõi hư vô...
 

Trần Thị Phương Lan    
(Bút nhóm Hoa Nắng)    

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2024

Mùa Phượng Tím

 





















Chợt một sớm âm thầm đoá mong manh

Hoa đã nở khi chim hót trên cành

Phượng trở mình theo bình minh thức giấc

Những chùm hoa màu tím nhạt lá xanh


Rồi có nàng mặc áo lụa trang đài

Ngạt ngào hương từ mái tóc đen dài

Thong thả đi trên đường hoa phượng tím

Môi mỉm cười với hoa hay với ai?


Những đoá hoa rung rinh như vẫy tay

Thoáng rùng mình trên cành phượng  gió lay

Cho đôi mắt mỹ nhân hoài lưu luyến 

Cố nhìn theo bóng dáng phượng mê say...



                                                           Nhã Uyên
 

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2024

Hờn Giận Học Trò

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Giận hờn nhau lấy bàn chia ranh giới
Phấn ngăn đôi, bên nớ với bên ni
Lỡ nhìn nhau vội ngoảnh mặt quay đi
Lỡ rơi thước, không nhờ "ai" lấy nữa

Giận nhau hoài nhưng chưa tìm ra cớ
Có cớ chăng - là quên đợi ra về
Hoặc hẹn rằng "Mai "ấy" đến nhà nghe"
Rồi lỗi hẹn, thế là hai đứa giận

Làm sai toán đành cúi đầu im lặng
Hổng nhờ "người" bày hoặc giảng giúp đâu
Khi không chăm, có mắng "Bé hư nào"
Còn ai nữa để chia buồn, an ủi

Nhưng từ đó, từng ngày rồi từng buổi
Chờ dịp may để hai đứa cười lên
Ở môi hồng sẵn mở tiếng làm quen
Và nhắn nhủ "Thôi đừng hờn nhé nhỏ"

Nhưng tự ái không một người thố lộ
Đành ngăn lòng "ai đó" nói trước cơ
Ôi thơ ngây niềm hờn giận học trò
Là kỷ niệm đẹp nhất thời thơ ấu.

                                 TH. NGUYỆT THI

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 96, ra ngày 1-7-1973)

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2024

Danh Nhân Cao Thắng

 
Cao Thắng sanh năm 1864, người làng Lê Đông, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (thuộc Trung Phần). Thuở nhỏ ông rất thông minh, lại thông thạo cả về binh pháp, chiến lược. Vì thấy ông có tài nên Phan Đình Thuận là anh ruột của Phan Đình Phùng nhận làm con nuôi với ý hướng cao cả sau này.

Khi Phan Đình Phùng nổi lên khởi nghĩa để chống thực dân Pháp đang đô hộ nước ta, ông cùng với em là Cao Hữu và bạn là Nguyễn Kiều theo hợp tác. Ông được Phan Đình Phùng phong chức Quản Cơ (chức quan võ coi về quân cơ đồ trận) và là cánh tay đắc lực nhất của nhà lãnh tụ này.

Khi Phan Đình Phùng thất trận, phải tạm thời lánh ra Bắc, ông một mình cùng với Cao Hữu, Cao Đạt và Nguyễn Kiều lo chiêu mộ thêm binh sĩ, đồng thời ông nghiên cứu và mở ra xưởng đúc súng, phỏng theo kiểu của Tây Phương. Ông cũng là người đầu tiên biết chế tạo súng tại Việt Nam. Trong khoảng thời gian hoạt động, ông đúc được đến 300 khẩu súng rất tinh xảo, không kém gì của địch.

Đến khi binh lực đã bắt đầu vững mạnh, Cao Thắng liền bí mật cho người đi mời ông Phan Đình Phùng về tiếp tục hoạt động. Với khối óc đầy đủ uy, cơ, mưu, thao lược, ông đứng ra điều khiển nghĩa quân, chiến thuật của ông lại thần tình khiến cho công cuộc thu đạt được nhiều chiến công rực rỡ.

Tuy nhiên, thanh thế của ông càng to lớn thì bọn thực dân lại càng ráo riết bắt cho được ông để trừ mầm mống nguy hiểm. Người hăng hái nhất trong việc chống lại cuộc khởi nghĩa này là viên Tuần Phủ Đinh Nho Quang. Vì vậy, vào năm 1892, Cao Thắng đã dùng mưu bắt được ông ta, khiến cho bọn quan lại và thực dân ở Nghệ An đều khiếp đảm.

Đến tháng 10 năm 1893, để gây thêm thanh thế cho nghĩa quân, Cao Thắng đem một đội cảm tử tấn công vùng Nghệ An để phá các căn cứ đóng quân và kho lương thực của địch. Quân của ông chiến đấu rất hăng, gây cho địch nhiều tổn thất và chiếm được một số tiền đồn ở vài nơi hiểm yếu. Nhưng đến đồn Nó, trong một cuộc tấn công, ông bị bắn và tử thương vào cuối năm 1893, lúc ấy ông mới được có 29 tuổi. Ông được an táng rất trọng thể tại núi Vu Quang, Ngàn Trươi.

Tin ông mất làm rúng động toàn thể nghĩa quân, ai nấy đều thương tiếc một vị anh hùng đã hết lòng vì quê hương, vì Tổ Quốc. Đền thờ của ông được dựng tại làng Khê Thượng, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, và để tưởng niệm công đức của một bậc công thần vì nước quên mình, ông Phan Đình Phùng tự tay đề hai câu liễn để thờ tại đền này.

Ngày nay, trong châu thành Saigon có một trường trung học và một con đường mang tên CAO THẮNG.


VĂN KHOA      

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 42, ra ngày 11-6-1972)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>