Thứ Tư, 10 tháng 3, 2021

Tiếng Nói Trên Cây Bàng

 

Đêm đã khuya! Cả nhà đều say ngủ. Ba chị em chúng tôi hãy còn thức bàn tán mãi về vụ tối hôm qua chị Tám bên hàng xóm đi chơi tối về gặp ma ở cây Bàng trước cổng nhà ông Phán. Con Ma nhái giọng in hệt giọng nói của cha sở mời chị đứng lại chơi, chị Tám hồn vía lên mây cắm đầu chạy trối chết. Người trong làng nghe tin, bàn tán xôn xao, kẻ tin, người chống lại, cho là câu chuyện bịa đặt để nhát kẻ yếu bóng vía. Tôi không tin câu chuyện có thật, cho rằng chị Tám la hoảng chứ chẳng có ma nào cả. Chị Huyền và em Mai tôi vốn nhút nhát, tin tưởng có ma thật nên lúc nào cũng tỏ vẻ sợ hãi ghê lắm. Tôi bực mình vì chị Huyền đã 17 tuổi rồi chứ còn bé đâu mà cứ tin nhảm ; tôi muốn giải thích cho chị hiểu nhưng hễ tôi mở miệng ra là chị gắt gỏng lên:

- Mày không tin kệ mày! Tao với con Mai tin thì đã sao? Từ nay tối tao chẳng dám đi chầu đi lễ nữa lỡ ra có bề gì... sợ lắm mày ơi! Thôi ngủ đi sáng mai chủ nhật phải đi lễ trước. Lễ sau ba má và các em đi.

Tôi bực tức quay mặt vô vách nằm im. Con Mai khều tay tôi nói nhỏ:

- Sáng mai đi lễ sớm chị Hạnh chờ em đi với nhé! Đi ngang cây bàng sợ sợ làm sao!

Huyền nạt em:

- Nói chuyện mãi! Ngủ đi...

Lát sau chị Huyền đưa tay rờ mặt tôi hỏi:

- Ngủ chưa Hạnh?

Tôi làm mặt giận không nói. Chị Huyền khẽ hỏi:

- Giận chị à?

Tiếng của chị êm ái làm sao! Tôi không nỡ làm ngơ liền cười nói:

- Đâu có! Chị bảo cái gì?

- Mai đi lễ chờ chị đi với nghe, Hạnh?

- Ừa! Gớm, sợ ma chứ gì.

Chị Huyền chỉ mỉm cười, không nói.

Con Mai bỗng chép miệng:

- Tiếc quá! Uổng quá mấy chị ơi!

Tôi và chị Huyền ngạc nhiên hỏi:

- Cái gì vậy?

- Chị biết con nhồng của cha Sở không?

Huyền gật đầu nói:

- Biết chứ! Mỗi lần chị vô nhà cha tập hát lễ với mấy chị bạn, nó cũng bắt chước hát theo... vui lắm! Con nhồng khôn ghê vậy đó, nói chuyện thiệt là rành rẽ, cha Sở cưng nó như con.

Mai nói nhanh:

- Nó bị mất tích rồi!

- Trời! Hồi nào vậy? Sao chị không biết gì cả.

- Mất trưa hôm qua. Cha Sở cho người tìm khắp nơi mà không thấy.

Tôi nói:

- Uổng nhỉ. Mà làm sao nó bay ra được không biết.

Chị Huyền gắt khẽ:

- Suỵt! Thôi khuya lắm rồi, ngủ đi!

*

Ngoài trời trăng sáng vằng vặc chiếu qua đám lá lung linh. Xa xa vọng lại những tiếng chó tru lên từng hồi trong đêm vắng nghe lạnh cả mình.

- Dậy đi! Dậy đi lễ... Hạnh! Mai!

Nghe tiếng chị Huyền gọi, chúng tôi choàng tỉnh, lồm cồm bò dậy. Tôi lẹ làng phóng ra chỗ vại nước tìm gáo múc nước rửa mặt. Con Mai lúp xúp chạy theo, nó vụt giành lấy cái gáo trên tay tôi.

- Chơi kỳ vậy? Xấu he... Xấu! Xấu!

Tôi bực mình "cốp" lên đầu con bé vào cái rồi giựt cái gáo lại. Con Mai òa khóc to. Chị Huyền trong nhà cầm đèn bước ra chẳng hiểu mô tê gì hết, cho là tôi bắt nạt con Mai nên "cú" đầu tôi mấy cái đau  điếng. Chị Huyền còn bẻm mép:

- Má coi con Hạnh chọc con Mai nè!

Má tôi nói vọng ra:

- Coi chừng mầy đó nha Hạnh! Sáng sớm đã chòng ghẹo nhau rồi.

Tôi cảm thấy uất ức, hầm hầm cái mặt bỏ vào nhà. Con Mai thích chí lấy làm hiu hiu tự đắc vì được cả nhà bênh. Tôi giận con Mai rồi giận lây luôn cả chị Huyền.

- Chị Huyền chải đầu dùm em đi!

Giọng con Mai eo éo làm tôi phát ghét. Con nhỏ thế mà làm dáng tệ! Có cái đầu cũng không biết chải còn đi nhờ người khác. Tôi rời chỗ đứng, lại tủ lấy áo dài mặc vào rồi bước ra cửa nhủ thầm:

- Đã thế không thèm dẫn "tụi bay" đi lễ nữa.

- Chị Hạnh! Coi kìa!... Bộ chị không đi chung với chị Huyền và em sao?

Con Mai nói run run như chực khóc. Một sự thương hại làm tôi dừng bước. Nhưng sau cùng tự ái vẫn thắng, tôi thản nhiên xô cửa bước ra đường. Tiếng chị Huyền nói vọng ra làm tôi phát tức:

- Kệ thây nó! Bộ mình không đi được sao? Đi trước thì đi! Khỏi cần!

Tôi mím môi, bước nhanh ra đường, lòng thầm nhủ:

- Hừ! Khỏi cần!... Khỏi cần... lát nữa đi ngang cây Bàng "ông" sẽ làm cho một mẻ hồn vía lên mây mà coi! Ý nghĩ của tôi thật táo bạo! Nhỡ ra có ma ở cây Bàng thật thì sao? Nhưng thôi, ma cỏ gì đâu mà tin. Mục đích của tôi là muốn làm cho chị Huyền và Mai cởi bỏ hẳn tính nhút nhát và tin nhảm nhí, sau là tôi muốn dọa 2 người chơi cho đỡ tức.

Cây Bàng trước ngõ nhà ông Phán, tàu lá xum xuê rậm rạp hiện ra trước mắt tôi. Vẻ hùng vĩ của thân cây Bàng to lớn làm tôi hơi chột dạ. Ánh trăng sáng chiếu qua cành lá lung linh như có vẻ huyền bí. Tư bề yên lặng! Tôi vội vàng núp phía sau thân cây Bàng đợi đến lúc là hành động thiệt nhanh. Cứ nghĩ tới lúc chị Huyền và con Mai ù té chạy miệng la bài hãi, tôi cảm thấy vui vui. Sương đêm rơi lạnh thấm ướt vai áo, tôi nhảy mũi mấy cái liên tiếp. Bỗng tôi rợn người vì một giọng nói ồ ề cất lên ở đàng sau:

- Ai đó? ...Làm cái gì?... Hả?...

Tôi lấy hết can đảm quay vụt lại đằng sau: chẳng thấy ai! Đằng kia, căn nhà đồ sộ của ông Phán im lìm dưới bóng trăng. Tôi nghĩ tới: ma hiện ra nhát mình chăng? Không! Vô lý! Chắc chắn có người lẩn quẩn đâu đây. Tôi hỏi to:

- Ai vừa nói đó? Ai?... Ai đó?

Một giọng cười cất lên rờn rợn trả lời câu hỏi của tôi. Không thấy bóng ai cả! Tôi bắt đầu lo sợ - Có lẽ ma thật rồi! Đằng xa có hai bóng đen từ từ đi tới. Tôi mừng rỡ nhận ra đó là chị Huyền và con Mai. Có lẽ vì sợ nên cả hai nép sát vào nhau bước lần tới. Tôi không còn thấy sợ nữa. Đã có 3 chị em rồi! Ma nào hiện ra thử coi! Con Hạnh dữ lắm mà! Giọng cười kỳ quái cứ nổi lên không biết từ đâu. Huyền và Mai đã tới gần. Tiếng cười im bặt rồi có tiếng nói:

- Lại đây chơi! Vui lắm!... Hả? Ai đó?...

Tôi run rẩy rời chỗ nấp bước ra. Huyền và Mai chợt hét lên rồi ù té chạy. Tôi cũng không còn hồn vía nào dám ở lại lâu nữa nên cũng ba chân bốn cẳng chạy theo chị và em. Đằng sau vẫn còn tiếng cười rùng rợn như đuổi theo. Bao nhiêu can đảm tan biến đâu mất ; tôi cố sức chạy, chạy mãi. Tôi cảm thấy như vấp phải vật gì mềm mềm rồi ngã vật xuống ngất đi...

*

- Hạnh ơi! Em tỉnh chưa?

Bên tai tôi nghe văng vẳng tiếng gọi mình. Tôi choàng tỉnh, mở mắt ra thấy chị Huyền, con Mai, thằng Cảnh, ba, má và mọi người vây quanh bên giường. Nhớ lại câu chuyện vừa qua, tôi ngơ ngác nhìn mọi người không hiểu làm sao.

Cánh tay tôi bỗng đau nhức lạ lùng!

Sao thế này? Chuyện gì xảy ra cho tôi?

Chị Huyền nhìn tôi mỉm cười:

- Hạnh té bị thương hồi sáng đó! Cánh tay bị lọi. Thầy thuốc vừa khám rồi không sao hết! Chỉ mai là khỏi.

Con Mai xen vào:

- Em và chị Huyền tưởng chị đi trước rồi chớ!... Ai dè! Lúc em và chị Huyền té quị thì chị chạy tới vấp phải rồi cũng nằm luôn. May quá! Chị Huyền và em không làm sao hết, chỉ có chị bị thương thôi!

Ba má nhìn tôi với vẻ trách móc:

- Con nghịch chi mà dại thế! Làm con Huyền, con Mai tưởng ma rượt theo nên chạy có cờ. Rất may là tụi nó không hề gì!

Tôi hỏi chị Huyền:

- Thế còn con Ma? Có bắt được nó?...

Mọi người nghe tôi hỏi liền rũ ra cười. Chị Tám đứng cạnh tôi nhanh nhẩu nói:

- Ối! Ma hồi nào đâu? Con nhồng mà!

- Trời đất! Vậy mà Hạnh... Hú vía!

Con Mai xen vào:

- Ai dè nó trốn ở trên cây Bàng. Thiệt con nhồng mắc toi làm chị Tám và tụi mình sợ muốn chết.

Thằng Cảnh nhe hàm răng sún ra cười:

- Hì... hì... con nhồng của cha Sở "chì" ác!

Tôi cảm thấy thẹn cho mình ; tưởng đâu giả ma để nhát người ai dè ma "giả" nó cũng làm mình... hụt hơi!


CHÂU HÀ    

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 64, ra ngày 1-3-1967)

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2021

Con Chó Sói Ngu Ngốc

 

Ngày xưa có một con chó sói ngu đến cực điểm, đến nỗi không biết cách thế nào mà kiếm ăn, nên ngày càng ốm o gầy yếu.

Một bữa kia, nó đói gần chết, mới tìm đường lên trời, xin vào chầu Thượng Đế:

- Muôn tâu Thượng Đế, tôi đói gần chết, kiếm không ra một con mồi. Xin đức Thượng Đế ra ơn mọn chỉ cho một con thịt để đỡ lòng.

Thượng Đế đang ngự ở đền ngọc thấy vậy cũng tội nghiệp mới phán rằng:

- Mi muốn ăn con vật gì?

- Muôn tâu Thượng Đế chẳng nệ vật gì, miễn có thịt để no lòng mà thôi.

- A, kìa! Mi thấy không? Một con ngựa cái của lão thầy tu đang ăn cỏ dưới đồng đó. Nó béo mập lắm, nếu muốn thì xuống ăn nó đi.

Sói thấy mồi lòng mừng phơi phới nhảy đại xuống trần, đến trước mặt ngựa, vừa nói, vừa thở hổn hển:

- Này chị ngựa, Thượng Đế cho phép tôi đến đây ăn chị.

- Thiệt sao! Vậy mà ngài định ăn tôi thế nào? Đàng đầu hay đàng đuôi trước?

- Bắt đàng đầu đã đành rồi.

- Ai mà ngu đến thế? Bắt đàng đuôi chớ! Ngài có lợi bởi vì trong lúc ngài ăn đàng đuôi thì tôi vẫn ăn cỏ như thường, tôi mập thêm lên có phải ngài ăn được ngon không?

- Chị nói có lý lắm. Thôi thì tôi bắt đàng đuôi trước.

Sói ta mới ra phía sau, định nhảy tới táp một miếng thịt to cho đã khẩu nhưng ngay lúc ấy, con ngựa đá sói một đá, bắn lộn ngược ra phía sau, làm nó hồn bất phụ thể máu mồm chảy ra lênh láng. Nó chạy một mạch, chui vào hang trốn mất. Một hồi, nó ngồi suy nghĩ: "Chớ phải hồi nãy ta cắn cổ nó thì có đâu đến nỗi này."

Nó trở lên ra mắt Thượng Đế một lần nữa và trình ngài coi thân hình đầy vết tích của nó: miệng mồm sưng chù vù lại mất mấy cái răng. Khi thấy mặt nó, Thượng Đế phán rằng:

- Ủa, một con ngựa to như vậy mà còn chưa no sao, lại tới nữa!

- Muôn tâu đức Thượng Đế! Nó dữ quá, nó đã đá tôi mất hết sáu bảy cái răng.

- Vậy kìa mi thấy con dê đực ở dưới núi kia không? Xuống đó ăn đi.

Sói lật đật dông xuống triền núi. Thấy dê mập béo quá, sói đã phơi phới trong lòng. Nó nói rằng:

- Này chú dê mập mạp kia!Thượng Đế cho phép tôi ăn thịt chú đấy.

- Úy, trời ơi! Ngài ăn thịt tôi thiệt à! Mà ngài ăn đầu hay ăn đuôi trước?

- Đàng đầu, đàng đầu.

- Vậy mời ngài ngồi bên lề kia, hả miệng sẵn đi, rồi tôi đến đưa đầu dâng ngài xơi.

Sói ngồi chễm chệ trên lề, hả toác miệng ra nghĩ đến mùi ngon của thịt dê đã nhiễu nước miếng. Dê ghì đầu xuống, đằng xa nhảy tới kê hai sừng cụng mạnh vào ngực sói, làm sói ngã ngửa, sặc máu mũi chảy dầm dề. Sói nằm rên hù hù, đến chừng bớt đau mới mở mắt tự trách: "Thiệt là ta khờ quá! Có bao giờ chuối tự nhảy vào miệng voi. Thôi thế này phải lên Thượng Đế một lần nữa."

Vừa thấy mặt nó, Thượng Đế đã phát nộ lên:

- Cũng là mi nữa! Mi làm rộn quá! Ta đã chỉ cho mấy con mồi mà còn lẽo đẽo đến đây nữa. Kìa mi thấy con heo đang ủi đất ngoài ruộng kia không. Xuống ăn thịt nó đi.

Sói bươn bả xuống thì thấy con heo mập ú đang lấy mỏ ủi đất thành vũng đặng nằm phơi nắng.

- Ê chú heo! Tôi đói bụng mấy ngày nay nên Thượng Đế cho tôi ăn thịt chú đấy.

- Ngài không tìm đặng miếng mồi nào khác hay sao? Một con thỏ cũng không có nữa à?

- Không, không có gì hết!

- Lạ quá! Mạnh bạo như ngài mà không tìm ra con thịt thì khó hiểu quá. Thôi ngài hãy nghe lời tôi. Trong làng hiện nay, người ta đang lo bầu cử một vị như ngài để làm Cả. Ngài ngồi trên lưng tôi đây ; vào đó, hễ ngài đắc cử rồi thì mặc sức mà ăn đủ thứ.

- Tính vậy cũng được.

Rồi sói nhảy lên lưng heo về làng. Về đến cổng, heo hộc rùm lên. Sói mới hỏi:

- Làm gì vậy? Ngươi hộc lên làm gì?

- Nếu không hộc thì thiên hạ làm sao tề tựu, để bầu cử ngài.

Nói rồi heo cứ hộc lên mãi. Người trong làng chạy ra thấy sói liền kẻ đao người gậy đập chết sói, làm tiêu tan cái mộng làm Cả để ăn cả mâm.


Tôn Thất Dzu      

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 87, ra ngày 15-3-1968)


Thứ Hai, 8 tháng 3, 2021

Tuổi 16 Yêu Thương

 

Đêm đã khuya mà Thụy vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Việc Hoàng vào lớp Thụy buổi chiều nay làm tâm tư Thụy xáo trộn bồi hồi. Những kỷ niệm của mùa hè năm ngoái lần lượt xuất hiện như khúc phim trước mắt Thụy. Thụy nằm yên nhắm mắt lại để mặc cho hồn mình trở về với kỷ niệm.

Mùa hè năm ngoái, để tưởng thưởng các học sinh ưu tú, nhà trường đã tổ chức một trại hè ở một bãi biển gần Long Hải. Ngày khởi hành Thụy hớn hở lên đường mà không ngờ chuyến đi này sẽ làm biến đổi tâm hồn cô bé mười sáu tuổi này. Thụy vui vẻ ca hát với các bạn, mỗi khi có một chiếc xe của đội khác vượt qua là Thụy lại đứng lên la ó giục bác tài chạy nhanh lên để vượt qua chiếc xe trên ; tính Thụy vẫn thế, tinh nghịch một cây và cũng nũng nịu một cây.

Tiếng ồn ào khiến Thụy giật mình thức giấc. Một mùi mằn mặn xông vào mũi Thụy trước tiên. Thụy đưa mắt nhìn chung quanh, các bạn Thụy đang sửa soạn lại y phục. Linh, đứa bạn thân của Thụy vừa chải đầu, vừa mỉm cười với Thụy:

- "Gớm ngủ gì mà lâu thế, đến nơi rồi đấy, lo sửa sắc đẹp lại đi kẻo dân ở đây lại tưởng là... là..."

Có lẽ không nghĩ ra vật mình so sánh là gì nên Linh đánh trống lảng bằng cách đưa Thụy cái lược. Thụy không đỡ lấy là lại quay đầu nhìn ra ngoài xe, Linh hiểu ý nói:

- "Lại nhõng nhẽo nữa rồi, cứ làm như công chúa không bằng."

Thụy mỉm cười không nói, Thụy  biết Linh hay chọc Thụy lắm nhưng bù lại Linh cũng hay chìu Thụy nữa. Xe đang tiến vào tỉnh, những đứa trẻ ùa ra xem, còn người lớn thì đã quá quen với cảnh này vì năm nào trường Thụy cũng cho học sinh đi nghỉ hè ở đây cả.

Vào đến trại, sau khi nói vài lời khai mạc cuộc trại hè, cha tổng giám thị cho đi tắm liền ; cha thật hiểu tâm lý bọn trẻ, cha biết các con cha đang mong tắm biển sau những tháng miệt mài ở trường. Thụy thì khỏi nói, cô bé mê biển nhất, cô bé thích vẫy vùng trong biển và chỉ muốn tắm hoài.

Đến tối, các liên đội quây quần lại để thi đua văn nghệ. Đội của Thụy có Linh và Hương ra hát lại múa nữa, ai cũng khen hay cả.

Ngày thứ hai của cuộc nghỉ hè, mới sáu giờ sáng Thụy đã bị đánh thức bởi tiếng còi của thầy trại trưởng, mọi liên đội đều phải tập thể dục và đi lễ. Sau đó mọi người lại đi tắm, nhiều trò chơi được bày ra, ai ai cũng tham dự rất vui vẻ. Buổi trưa sau một giấc ngủ dài, các liên đội lại tập họp để thuyết trình về đề tài bụi đời, hippy. Việc gì chứ vấn đề thuyết trình thì Thụy chả thích tý nào nên Thụy ngồi thu mình trong góc, đầu dựa vào tường, đôi mắt lim dim như hãy còn mơ ngủ, Thụy lơ đãng nghe thày trưởng ban sinh hoạt giới thiệu một anh chàng nào đó của liên đội N. H. sẽ ra thuyết trình. Thụy vẫn không thèm ngóc đầu lên để xem anh chàng đó ra sao. Nhưng khi một giọng nói trầm ấm vang lên trong micro thì Thụy mở choàng mắt ra vì đó là một giọng nói miền Bắc (xưa nay Thụy rất thích giọng Bắc, Thụy cho rằng giọng Bắc mềm mại và thật quyến rũ), giọng nói vừa hùng vừa ấm làm Thụy thích thú ; không dừng được Thụy quỳ lên, đưa tầm mắt cao khỏi những mái đầu nhấp nhô đàng trước. Hắn ta ngồi kia, chân khoanh tròn, gương mặt khá đẹp với đôi mắt to đen. Cha! Lại cũng bày đặt để râu nữa cơ. Thoạt nhìn hắn, một tình cảm nhè nhẹ êm đềm len vào hồn Thụy, Thụy thấy thích thích con người đang ngồi kia. Đột nhiên Thụy thấy xấu hổ với ý nghĩ của mình, cô bé Thụy tinh nghịch không thể như thế được, nếu Linh mà biết thì Thụy phải độn thổ mất.

Tiếng của thày điều khiển lại cất lên khiến Thụy như vừa tỉnh cơn mê ; hắn ta nói hay thật. Sau đó có một chị bên đội H. T. Q. ra đả phá lập luận của anh chàng hồi nẫy. Chị này chê bai những người bụi đời trong khi hắn ta lại bênh vực, chị còn nói chị không phải là loại của hắn ta (chả là thày đã giới thiệu hắn ta đã ba lần đi bụi đời). Thụy bỗng đâm ra ghét chị này ghê đi, việc gì đến chị mà gọi người ta là loại này loại nọ. Mọi người hình như cũng đồng ý với Thụy nên đồng loạt la lên phản đối. Thấy tình hình có vẻ gay cấn thày điều khiển bèn tuyên bố chấm dứt buổi thuyết trình.

Chiều hôm đó trong khi mọi người đang tắm, Thụy thơ thẩn đi lại trên bãi mong gặp một bóng dáng nào đó nhưng người ta vẫn biệt tăm. Tâm hồn của cô gái mười sáu tên Thụy đã từ một cô bé tinh nghịch hôm qua biến thành một cô học trò biết mơ mộng hôm nay. Đôi lúc Thụy đứng ngây người nhìn ra biển, Thụy nhớ đến hắn ta, hắn ta dễ thương quá, hắn hùng quá...

Ngày thứ ba: Trong buổi lễ Thụy cứ đưa mắt nhìn người ấy, bóng hắn ta thấp thoáng, vẫn với bộ jean xanh hôm qua. Thụy thấy thích màu áo hắn mặc, có lẽ chỉ trong bộ jean xanh lam đó hắn mới thấy hùng.

- "Thụy là gì ngó qua bên ấy hoài vậy?"

Tiếng Linh thì thầm bên tai khiến Thụy giật mình, cô bé bẽn lẽn quay qua hỏi Linh:

- "À hôm qua "ông" gì ở bên đội N. H. thuyết trình hay quá há!"

Linh nói:

- "Chắc rồi, hắn nổi tiếng mà".

Thụy ngạc nhiên:

- "Hắn nổi tiếng gì thế?"

- Thụy không biết à, hắn là một cây văn chương đó. Này, hắn ghê lắm, con Hương kể là hắn có lần rủ nó đi chơi nhưng nó không chịu, với lại hôm qua Thụy không nghe thày bảo hắn đã ba lần bụi đời à?

Thụy cảm thấy nhói trong tim, Thụy vẫn biết việc hắn bụi đời đấy chứ nhưng Thụy không xem nó quan trọng bằng việc hắn rủ rê Hương đi chơi. Thụy có cảm tưởng như hắn phạm một lỗi nặng đối với Thụy vậy.

- Linh có nhớ hắn tên gì không nhỉ?

- Hoàng, Nguyễn Xuân Hoàng.

Thụy bỗng bắt gặp tia mắt Linh nhìn Thụy dò xét.

Sau khi ăn sáng, bọn Thụy được phép đi tắm sớm. Thụy và Linh nắm tay nhau chạy xuống biển. Những vết chân in lên cát khiến Thụy thích thú. Sóng hôm nay lớn thật, Linh nhát nên đã lên bãi nằm. Thụy còn đang mải ngắm các bạn nô đùa thì cô bé bỗng bắt gặp một bóng dáng quen thuộc đang tiến đến gần mình ; tim Thụy đập mạnh. Hắn đó!

Hắn đang cầm chiếc phao và đang rẽ nước tiến ra. Khi đi ngang chỗ Thụy, hắn thoáng nhìn cô bé rồi lại rẽ nước đi. Một chút gì cay xót dâng lên mắt Thụy, phải chăng là do nước biển?

- Thụy ơi, lại đây chơi banh đi.

Thụy quay lại nhìn Linh tay cầm trái banh đang đứng gần bờ. Như cố giấu nỗi buồn, Thụy vẫy tay cười với Linh:

- Ừ, chơi thì chơi.

Mặt trời dần lên cao, ánh nắng hắt vào mắt Thụy chói lòa mỗi khi cố bé ngước mắt nhìn trời. Thụy bèn bàn với Linh:

- Gần ăn cơm rồi, thôi tụi mình lên trước thay đồ đi kẻo một chốc nữa nhiều người quá không còn chỗ mà thay đó.

Linh gật đầu đồng ý. Lên đến bờ, Thụy đưa mắt tìm đồi cát, nơi Thụy đã để cái áo choàng màu vàng của mình. Mắt cô bé bỗng dừng lại một dáng người co ro trong chiếc áo màu vàng nơi đồi cát kia. Lại hắn nữa! Nhưng sao áo của hắn giống của Thụy thế? Rồi Thụy lại nghĩ, đã chắc gì cũ Thụy, có lẽ áo của Thụy để sau lưng hắn không chừng. Thụy và Linh chầm chậm bước lên đồi cát, "đường dốc khó lên ghê", Thụy nói khẽ với Linh như để che lấp nỗi xúc động của Thụy khi càng đến gần hắn. Linh tiến lại sau lưng hắn lấy khăn choàng của mình. Chung quanh đấy không còn cái áo vàng nào cả, trừ cái hắn đang choàng. Thụy lúng túng đến sau lưng hắn, xúc động quá cô bé chỉ ấp úng được vài tiếng:

- Xin lỗi, cái áo của...

Hắn quay lại, vội vã cởi áo ra đưa Thụy và rất lịch sự đáp:

- Xin lỗi cô, lúc nãy lên lạnh quá nên tôi mượn đỡ cái áo choàng của cô.

Thụy thẹn thùng đỡ lấy áo, khẽ mỉm cười rồi bỏ đi. Tự nhiên Thụy thấy hối tiếc, tại sao lúc này Thụy không nhân cơ hội đó mà làm quen với hắn nhỉ? Tiếc ghê đi, sao con bé Thụy này ngu quá xá! (Sự hối tiếc ấy dằn vặt Thụy mãi suốt ngày hôm đó).

Ba giờ trưa, lại có thuyết trình. Không như hôm qua, hôm nay Thụy tỉnh lắm cơ vì Thụy biết đội hắn sẽ cử hắn ra thuyết trình. Đúng như dự đoán, Nguyễn Xuân Hoàng lại ra. Suốt buổi thuyết trình, Thụy say mê theo dõi, Thụy còn quỳ lên để nhìn hắn cho rõ. Cử chỉ của Thụy làm Linh ngạc nhiên:

- Thụy lạ ghê đi, từ trước đến giờ Thụy vẫn ghét thuyết trình lắm mà.

Thụy cũng không vừa:

- Nhưng mà bây giờ Thụy thích được không?

Linh không nói gì, chỉ nhìn Thụy tinh nghịch. Thụy cũng mặc Linh muốn nghĩ gì thì nghĩ, Thụy không thèm nói với Linh nữa, cứ chọc người ta hoài à.

Đêm nay là đêm cuối ở trại hè nên các liên đội đều ráo riết tập dợt để thi đua văn nghệ đêm cuối cùng này. Linh và Hương lại có màn song ca rất được hoan hô. Gần lượt đến đội N. H.  Thụy còn đang mong chờ thì có tiếng giới thiệu:

- Sau đây, Nguyễn Xuân Hoàng của liên đội N. H. sẽ hát bài "Trả lại em yêu".

Ồ! nài hát này Thụy thích nhất mà lại được chính hắn hát thì... Thụy không biết làm sao tả nỗi thích thú của mình. Thụy yên lặng ngồi nghe, chăm chú như hắn đang thì thầm cho riêng Thụy vậy. Tiếng hát dứt, tiếng vỗ tay nổi lên. Thụy cũng vỗ tay thật to, to đến nỗi Linh phải kêu lên:

- Gớm con bé Thụy này, hắn hát có hay đâu mà Thụy vỗ tay to thế.

Thụy bực mình nói:

- Sao Linh cứ phá Thụy hoài vậy?

Linh cười tinh nghịch:

- Này người đẹp của Linh ơi, đừng giấu nữa, Linh biết cả rồi, cô ghê lắm nhá!

Thụy hốt hoảng:

- Linh biết cái gì? Thụy có làm gì đâu.

Linh cười đắc thắng:

- Tội này nặng lắm cơ, nhưng tội gì thì Thụy biết đấy. À Thụy này, Thụy có cần xưng tội không để Linh đi mời cha đến?

- Ơ, Linh...

Nỗi tủi hờn không cầm được nữa, những giọt nước mắt tuôn tràn trên má Thụy, đôi mắt long lanh sau màn nước mắt chứa đựng cả một trời sầu thảm.

Linh hoảng hốt nắm lấy tay Thụy:

- Linh xin lỗi Thụy. Linh lỡ lời.

Bàn tay Linh vụng về chùi những giọt lệ trên má Thụy. Thụy nhìn Linh lắc đầu, cô bé muốn nói thật cho Linh biết tất cả những biến chuyển trong lòng mình. Thụy muốn nói Thụy khổ lắm vì hắn... chẳng bao giờ để ý đến Thụy cả. Nhưng không hiểu sao Thụy lại im lặng, có lẽ vì tự ái của Thụy không cho Thụy nói, ai lại đi nói sự thất bại của mình bao giờ mà nhất là sự thất bại trên đường tình cảm.

Ngày thứ tư: Sau trò chơi lớn, mọi liên đội đều làm công tác vệ sinh, thu dọn quét sạch trại xong tụ họp lại để nghe tuyên bố kết quả cuộc thi đua sinh hoạt giữa các liên đội. Đội N. H. của hắn đứng nhất ; hắn vỗ tay reo mừng trông thật dễ thương. Đội của Thụy đứng hạng ba thế mà ai cũng tưởng sẽ đứng bét.

Trước khi ra về mọi người cùng ca bài "Biệt ly", buồn quá. Thụy nhìn ra biển, nước biển xanh biếc, từng làn gió mát rượi làm Thụy thấy thơ thới ; sự buồn phiền hôm qua đã vơi theo những giọt nước mắt, hiện giờ chỉ còn lại sự luyến tiếc bãi biển cát trắng kia thôi. Lời hát buồn quá khiến Thụy khóc lúc nào không hay ; sao Thụy dễ khóc ghê cơ, vị bác sĩ của gia đình Thụy đã nói về Thụy: "Cô bé này nhạy cảm lắm". Quả thật, cái gì Thụy cũng khóc, cũng thương được: một đóa hoa rụng Thụy cũng thương, một con mèo chết Thụy cũng khóc.

Khi xe chạy qua trại, Thụy cố nhìn lấy bãi biển, dòng nước vẫn lặng lờ uốn từng ngọn sóng nhỏ, từ nay nó sẽ không còn vẫy vùng đùa giỡn với bọn thiếu niên nữa.

Trên xe mọi người bắt đầu ca hát. Thụy cũng hát theo, Thụy muốn vớt vát lại những phút giây còn sinh hoạt chung với các bạn. Thụy không muốn nghĩ đến cuộc chia tay sắp đến. Giọng Thụy khàn rồi đấy, sướng quá, hát nữa, hát nữa đi.

*

Hai tháng nhàn hạ ở nhà, Thụy không lúc nào quên Nguyễn Xuân Hoàng. Ngày đi học trở lại, những bài vở, những mùa thi khiến Thụy bận rộn, không còn thời giờ để nhớ đến hắn nữa. Hình bóng hắn chỉ chợt đến với Thụy trong những lúc rỗi rảnh. Đối với hắn, bây giờ Thụy chỉ còn những nụ cười buồn chứ không phải một tâm tình bồng bột như ngày xưa. Thời gian qua, khi hình bóng hắn gần như biến mất hẳn trong trí Thụy thì: chiều nay, khi gió xuân bắt đầu trở lại, ngồi trong lớp, Thụy đang cắm cúi chép bài Địa Lý. Đến khi Thụy nghe thấy tiếng xôn xao, Thụy ngẩng đầu lên nhìn ra cửa: thấp thoáng vài anh nam sinh. Thụy thầm nghĩ: "Lại trường nào đến bán báo Xuân chớ gì". Sau vài thoáng ngập ngừng, mấy chàng trai tiến vào lớp Thụy. Tia mắt Thụy bỗng dừng lại ngay một chàng trai ; đôi mắt đen nhánh với bộ râu kia Thụy không thể lầm vào đâu được ; chính là hắn, Hoàng của Thụy ngày xưa đó. Những kỷ niệm nằm yên trong lòng Thụy giờ đây như sôi động dậy. Thụy ngây người nhìn hắn. Cử chỉ của Thụy không thoát  khỏi ánh mắt của Linh, cô bé này cũng nhận ra hắn.

Một anh chàng đeo kính bước ra mở lời đại khái là năm nay là năm cuối của họ ở bậc trung học, trước khi ra trường, họ muốn để lại trường một lưu niệm là một tờ báo Xuân của lớp họ, vì tài chánh eo hẹp không thể tặng cho mỗi người được nên chỉ có thể tặng cho ba người là trướng lớp, trưởng ban báo chí và trưởng ban học tập thôi.

Nghe đến đây Thụy mừng ghê đi vì Thụy là trưởng ban học tập. Thụy sẽ có quyển báo và Thụy chắc rằng sẽ có bài của hắn, Thụy thích đọc tất cả những gì liên quan đến hắn.

Thụy ra khỏi bàn tiến lên, hắn bước đến (tại sao là hắn mà không phải người khác nhỉ?), nhìn Thụy và trao quyển báo cho Thụy (không biết hắn có nhớ Thụy là cô bé hắn đã mượn cái áo choàng không nhỉ?). Thụy luống cuống nhìn xuống, miệng lí nhí:

- Cám ơn... anh.

Tiếng "anh" thoát ra quá nhẹ, quá êm khiến Thụy thẹn thùng.

Mấy chàng trai, sau vài lời chúc Tết, đi ra cửa. Thụy nhìn theo lưng hắn, một nỗi luyến tiếc dâng lên. Vậy là từ đây Thụy sẽ không bao giờ gặp lại hắn nữa. Hắn sẽ lìa xa trường mãi mãi để bước chân vào đại học. Thế cũng xong, Thụy nghĩ, nếu không bao giờ, Thụy sẽ dễ dàng quên hắn hơn. Thụy không muốn đánh mất tuổi hồn nhiên của mình. Nhìn bạn bè vui đùa mà Thụy thèm được như họ. Tù khi gặp hắn, thỉnh thoảng Thụy cứ hay suy nghĩ vẩn vơ, không như cô bé Thụy ngày xưa. Với lại, Thụy cười buồn, hắn có bao giờ để ý đến mình đâu, không bao giờ, không bao giờ cả...

Ngoài phòng khách, đồng hồ vừa điểm mười hai tiếng và nơi đây có một cô bé mười sáu tuổi đang cố ru giấc ngủ khi cô chẳng may có phải một tâm hồn quá lãng mạn.


HOÀNG THỤY - LINH HƯƠNG    
(viết thay một người bạn)       

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 21, ra ngày 5-3-1972)
 

Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2021

Con Búp Bê Đẹp Nhất

 

Các học trò của cô giáo Thảo trong kỳ thi tam cá nguyệt cuối năm đã tỏ ra ngoan ngoãn chăm chỉ, nên trước ngày nghỉ hè, cô muốn dành cho các em một phần thưởng đặc biệt.

Cô vui vẻ nói:

- Các em xứng đáng được thưởng. Phần thưởng cô dành cho các em đây đòi hỏi một chút công lao, nhưng cô chắc các em đều thích thú làm cái công việc ấy. Vậy sáng ngày mai...

Cô giáo ngừng lại đằng hắng. Các học trò đều nhấp nhổm sốt ruột trên ghế.

- Ngày mai và tiếp theo mấy ngày cuối năm, các em khỏi phải đem sách vở đến lớp. Nhưng các em nhớ mang kim chỉ, vải lụa đến để tập may...

Những khuôn mặt đang hớn hở bỗng xịu cả xuống... Ồ! Tưởng gì, chứ lại tập may, thì tuy các em có thích thật, nhưng nếu bảo đó là một phần thưởng thì có gì đáng gọi là đặc biệt đâu?!

Cô giáo tiếp:

- Chúng ta sẽ may quần áo cho... búp bê của mấy em! Vậy các em hãy mang theo các thứ cần thiết... Và nhất là đừng quên đem cả búp bê của mình đến nữa!

Vừa nghe cô giáo nói thế, cả lớp vỗ tay reo vang:

- Hay quá!

- Đúng là một phần thưởng đặc biệt!

- Hoan hô sáng kiến của cô!

Rồi các em xúm lại, xì xào khoe với nhau:

- Em có con búp bê lớn bằng này cơ! Lớn như một đứa trẻ thật ấy.

- Con búp bê của em biết mở mắt, nhắm mắt, và khóc oe oe nữa!

- Còn con của em, tóc nó bằng ny lông có thể chải được!

Giữa sự vui vẻ ồn ào của các bạn, chỉ riêng có Thu ngồi lặng yên không thấy nói gì.

*

Lớp học của cô giáo Thảo sáng hôm ấy vui vẻ một cách khác thường. Mỗi em vào lớp đều có bồng theo một con búp bê. Những con búp bê các em mang đến có đủ cỡ, đủ loại... Có con to bằng đứa bé hai tháng, chân tay mũm mĩm bằng chất nhựa mềm. Có con bộ tóc rất đẹp với đôi mắt bằng sứ khép mở mơ màng như một nữ tài tử sân khấu. Cũng có con nghèo nàn hơn, chân tay cứng queo, với bộ mặt tô sơn vụng về.

Trong tất cả ngần ấy búp bê chỉ có con của Dung là đẹp hơn cả. Đó là một con búp bê nom mũm mĩm hồng hào y hệt một đứa trẻ sơ sinh. Đứng xa mà nhìn có thể nhầm là đứa trẻ thật. Nó lại được đeo yếm, mang giày, đội mũ nom thực kháu khỉnh.

Các em tranh nhau đòi bế, đòi xem và xin được phần may mặc cho nó...
 
Cô giáo giơ ra một tập mẫu, mỉm cười nói:

- Chúng ta sẽ chọn trong tập mẫu này các kiểu quần áo, giày mũ thích hợp cho mỗi con búp bê. Sau đó cô sẽ chỉ bảo cho các em cách may cắt...

Chợt cô ngừng lại, ngạc nhiên hỏi:

- Ủa, còn Thu đâu, sao không thấy đến lớp nhỉ. Có ai biết Thu làm sao không?

- Thưa cô không ạ!

- Hay Thu bị đau?

Không. Thu chẳng đau ốm gì cả. Song đêm qua em thao thức không ngủ được vì lời đề nghị của cô giáo.

Bởi Thu chẳng có con búp bê nào khả dĩ mang đến lớp được. Tuy Thu cũng có một con khá đẹp mà vú đỡ đầu của em đã cho hôm lễ Giáng sinh. Nhưng con búp bê ấy, than ôi, đã gẫy mất một tay, chột hẳn một mắt và nhem nhuốc dễ sợ.

Sở dĩ con búp bê của Thu lâm vào tình trạng ấy không phải tại Thu thiếu ngăn nắp, mà vì Thu có một lũ em nhỏ nghịch ngợm, thường cứ lấy đồ chơi của chị đem ra phá.

Thu phần muốn nhường em, phần có nhiều công việc phải giúp mẹ nên cũng ít thì giờ rảnh rỗi. Vả Thu đã có một con búp bê thật bằng xương bằng thịt, là bé Tâm để săn sóc đỡ cho mẹ rồi.

Nhưng sáng nay, sau khi thay quần cho bé Tâm và ngồi cho bé bú bầu, Thu thấy buồn tủi không muốn tới trường. Một giọt nước mắt lăn trên gò má, khiến Thu vội đưa tay lên lau. Cử chỉ ấy không khỏi làm mẹ Thu ngạc nhiên. Bà nhẹ nhàng hỏi con và Thu đã thuật lại nguyên do. Em nghẹn ngào nói:

- Hôm nay má cho con ở nhà. Con không thể nào đem con búp bê gẫy tay, chột mắt của con tới trường được. Các bạn con, đứa nào cũng có những con búp bê xinh đẹp cả. Chúng nó sẽ chế diễu con...

Mẹ Thu thở dài:

- Tội nghiệp con má! Tại con có nhiều em quá, biết làm sao được!

Chợt bà nảy ra một ý kiến, vui vẻ bảo Thu:

- À thôi con ạ, má nghĩ thế này: tại sao con không đem bé Tâm đến trường? Ừ, nó là búp bê của con đấy, một con búp bê sống... mà má chắc chẳng có con búp bê nào bằng!...

*

- Thưa cô, chị Thu kia rồi ạ!

- Chị ấy không đau ốm đâu ạ! Và, ồ, chị ấy ôm một con búp bê to quá, còn lớn hơn của chị Dung nữa kia!...

Mọi người xô nhau ra cửa và hoan nghênh nhiệt liệt con búp bê của Thu. Quả thật, bé Tâm rất kháu khỉnh. Đôi mắt bé mở to, hau háu nhìn mọi người và chiếc miệng xinh xắn toét ra cười mỗi khi bé được hỏi đến.

Các em tranh nhau bế, tranh nhau nựng bé Tâm. Cả cô giáo cũng vậy, cô vui vẻ bảo:

- Vì các em đều mến thích bé Tâm, nên cô đề nghị mỗi em bồng một lúc, trong khi người khác làm việc... Những vải lụa mang theo đây đem cắt vụn ra chỉ để may áo quần cho búp bê thôi kể cũng hơi phí. Chi bằng chúng ta hợp nhau lại may cho bé Tâm một bộ... Và nếu còn nữa thì ta may tặng các em nhỏ khác trong các gia đình nghèo quanh đây? Như vậy các em có bằng lòng không?

- Thưa cô, bằng lòng ạ!

- Hoan hô ý kiến của cô ạ!

Cô giáo mỉm cười hân hoan vì thấy ý kiến của mình luôn luôn được các em vui vẻ tán thành.

Cô đo người bé Tâm, chọn kiểu để cắt rồi chia cho mỗi người một việc: người khâu cái tay áo, kẻ khâu cái ống quần, tất cả đều được bàn tay khéo léo của cô giáo ráp lại thành một bộ áo quần đẹp đẽ mà bé Tâm mặc vừa xinh.

Ngắm bé Tâm diện bảnh trong bộ áo quần mới, ai nấy đều vui vẻ mãn nguyện.

Riêng Thu cũng rất hãnh diện về con búp bê của mình, chẳng những không thua ai mà còn được cả lớp cưng chiều.


BÍCH CHÂU     

(Trích từ tuyển tập truyện ngắn Tuổi Hoa "Con Búp Bê Đẹp Nhất")
 

Thứ Bảy, 6 tháng 3, 2021

Thiên Thần Hòa Bình Bertha Kinsky

 

Thuộc dòng quí tộc, con của một thống chế Áo, Bertha Kinsky (Bec-ta Kin-sơ-ky) mồ côi cha trước khi chào đời mấy tháng. Cái chết của thân phụ đã là nguyên nhân sa sút của gia đình, do đó năm 1873 Bertha Kinsky phải từ giã trường quốc gia âm nhạc Paris trở về Vienne (Viên) kiếm việc làm. Mặc dầu là một nữ sinh viên khả ái duyên dáng, thông thạo nhiều ngoại ngữ đồng thời là tác giả của một số vở kịch ngắn, Kinsky phải vất vả lắm mới kiếm được một chỗ kèm trẻ em về nhạc cho 4 cô con gái của Nam tước Von Suttner (Vôn Suýt-nê). Thời gian kèm nhạc ở đây được ít lâu thì Kisky và Arthur con trai lớn của Nam tước yêu nhau. Biết được chuyện này gia đình Arthur quyết tâm ngăn cản vì lẽ cô giáo hơn Arthur những 7 tuổi, lại nghèo. Tan nát vì mối tình đầu Kinsky xin nghỉ việc. Thất tình, thất nghiệp, Bertha Kinsky như người mất hồn lang thang đây đó. Cô cố tìm một công việc làm cho khuây khỏa. Tình cờ cô đọc được mẩu tin rao vặt cần người rất lẩm cẩm trên mặt báo:

"Đàn ông đứng tuổi, cần một cô thư ký đứng tuổi" Bertha Kinsky viết thư xin việc, một tuần sau nhận được giấy mời đến Paris nhận việc. Ông chủ mới là một kỹ nghệ gia 43, dáng dấp dễ thương, có bộ râu quai nón rất tài tử đón tiếp cô thư ký 33 tuổi niềm nở. Sau khi được ông chủ đưa đi thăm các cơ xưởng Kinsky mới biết ông chủ mới của mình là Kỹ sư Nobel. Alfred Nobel có một số vốn lớn nhờ sáng chế ra chất nổ cực mạnh Ni-trô-ly-xê-rin (Nitro glycérine) và công việc này còn đang trên đà phát triển. Trong thâm tâm của kỹ sư Nobel chỉ muốn có chiến tranh để món hàng của ông được bán mạnh! Làm việc với Nobel, Kinsky biết rõ con người của chủ mới: Tôn thờ chủ nghĩa độc thân, làm giầu bằng cách khai thác khí giới chiến tranh, nhưng có lòng nhân ái, thích làm việc thiện.

Bertha Kinsky tuy làm việc với Nobel tại Paris nhưng vẫn thương nhớ Von Arthur vô cùng, nhờ 4 cô học trò cũ thông tin mà Kinsky biết được mọi chuyện xẩy ra trong gia đình Nam tước. Bỗng một hôm, Kinsky nhận được thư của Arthur gởi tới, nói không thể xa nhau được, cô liền xin từ dịch, sáng hôm sau lên xe về Vienne. Hai người cưới nhau và đưa nhau đến Mingrélie (Manh-rê-li) trong miền Caucase (Cô-ca-dờ) nơi đây do người Nga chiếm cứ từ lâu. Bầy giờ Bertha Kinsky đã trở thành bà bá tước Von Suttner. Chồng làm kế toán, vợ đi dạy dương cầm, đời sống trải qua chín năm trường trong hạnh phúc tuy vật chất có phần vất vả.

Năm 1887, Nga tuyên chiến với Thổ, biến vùng Mingrélie thành căn cứ địa. Chiến tranh xẩy đến, vợ chồng Von Suttner lao mình vào công việc cứu trợ. Hàng ngày đón nhận những toa xe lửa từ mặt trận trở về đầy những chiến binh, xác chết không ai săn sóc. Cả hai vợ chồng lăn xả vào việc băng bó các vết thương, chôn cất xác chết. Ban đêm thức trắng để dệt thêm những cuộn băng, nhưng trận chiến ngày càng khốc liệt, chết chóc, tai nạn chồng chất kinh khủng, gây mối xúc động lớn lao cho Arthur và thúc đẩy cho Arthur báo động cho thế giới biết tội ác của chiến tranh. Những bài phóng sự của Arthur gây dư luận sôi nổi tại Âu Châu. Theo gót chồng Kinsky cũng viết những bài bình luận nhỏ gởi đi nhưng ký tên "B. Oulst" cho nó có vẻ đàn ông và mạnh dạn. Lần đầu tiên Kinsky nhận được 20 đồng Florius tiền nhuận bút. Số tiền nhỏ nhưng phần thưởng tinh thần lớn. Kinsky lại tích cực lăn vào các công việc cứu trợ, giúp đỡ thương bệnh binh. Rảnh giờ nào là viết giờ nấy như một loài hải âu gào sóng, Kinsky gào thét, kêu la, bày tỏ cho nhân loại biết hiểm họa chiến tranh, những ghê tởm của tội ác chém giết. Suốt trong thời gian này, Kinsky đã viết được 6 pho kể tội ác chiến tranh, kêu gọi hòa bình. Sự thành công trong lãnh vực này kéo sự chú ý của tất cả các giới chức thẩm quyền Âu châu thậm chí đến con người mong mỏi chiến tranh để bán chất nổ như Alfred Nobel cũng phải khen ngợi lòng kiên trì, chí khí hòa bình của Kinsky! Năm 1885 hai vợ chồng Von Arthur trở về Viên trong niềm cởi mở của gia đình rồi qua Ba-lê theo lời mời của Nobel. Tại Ba-lê, tin đồn về chiến tranh sắp bùng nổ, thủ tướng Bismark chẩun bị tuyên chiến. Thấy nguy cơ hiểm họa chiến tranh bao phủ Âu châu, Kinsky lại lăn vào cuộc chiến, cố giành lại hòa bình cho nhân loại. Kinsky kêu gọi mọi người chống chiến tranh, xây dựng hòa bình. Bà gia nhập tổ chức hòa bình thế giới và để bầy tỏ cho mọi người thấy cái mặt thực của chiến tranh ghê tởm, bà tiếp xúc với đủ mọi tầng lớp quân nhân tham chiến, dấn thân đến tận mặt trận tìm các dữ kiện kinh khủng nhất viết thành cuốn sách gởi cho nhà báo. Song song với công việc trên, bà cố gắng thuyết phục Alfred Nobel nên nghĩ đến nền hòa bình nhân loại một cách thực tế, đóng góp cho hòa bình chung bằng một phương tiện khác hơn là ý nghĩ dùng chất nổ cực mạnh để tiêu diệt chiến tranh. Cuốn sách được xuất bản, đã gây một dư luận rộng rãi, có tầm ảnh hưởng mãnh liệt. Văn hào Léon Tolstoi không ngần ngại so sánh nó với "Túp lều của chú Tom". Alfred Nobel cũng rất khâm phục và cũng phải công nhận rằng: Nền hòa bình chỉ được cứu vớt bằng chính những phương tiện hòa bình, mà không phải bằng khí giới tối tân như ông tưởng. Lợi dụng lúc yếu mềm này của Nobel, bà lại càng tấn công mạnh mẽ để Nobel cộng tác thiết thực vào hòa bình nhân loại. Kết quả, sau hai năm trời gian khổ, tận tụy của bà, Alfred Nobel đã để lại một di chúc trước khi lìa trần ba tuần sau đó: Một phần gia tài dành cho những ai mưu cầu hòa bình cho nhân loại. Giải Nobel hòa bình được thiết lập.

Hennri Dunant sáng lập hội Hồng Thập Tự được nhận giải Hòa bình đầu tiên năm 1901, đã không ngớt lời ca tụng Kinsky, nhờ bà mà có giải quí hóa này.

Ngày 10-12-1905, bà là người phụ nữ đầu tiên lãnh giải Nobel Hòa bình do chính bà là người thôi thúc Nobel sáng lập.


HUY YÊN    

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 121, ra ngày 15-2-1974)
 

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2021

Bà Từ Dũ



Từ trước đến giờ các bạn T.H. vẫn nghe nói đến "Bảo Sanh viện Từ Dũ", nhưng chắc rằng ít bạn biết đến tiếng "Từ Dũ" phát xuất từ đâu? Hôm nay Băng Tuyền xin hiến các bạn lai lịch của tiếng "Từ Dũ" đọc giải sầu nhé.

Nguyên tiếng Từ Dũ là tên một nữ danh nhân Việt Nam: Bà Từ Dũ (1810-1909). Hầu hết các nữ danh nhân Việt Nam đều được lưu truyền sử sách, về các hoạt động binh bị như Trưng Trắc, Triệu Ẩu, hoặc do tài văn  thơ như Sương Nguyệt Ánh, Hồ Xuân Hương. Riêng bà Từ Dũ được lưu danh do đức hiền thục của bà.

Bà là mẹ vua Tự Đức, tên thật bà là Phạm thị Hào, con quan Lễ bộ thượng thư Phạm Đăng Hưng. Sinh ngày 19-5-1810, quê quán tại Gò Công, Gia Định (nay thuộc tỉnh Long An).

Tư chất thông minh từ thủa nhỏ, siêng năng, hiếu học, nên mới 12 tuổi bà đã làu thông kinh sử. Bà rất có hiếu, mẹ bị bệnh nan y phải nằm riêng, nhưng bà đã không quản ngại gian lao săn sóc cho tới khi mẹ mất.

Tiếng thông minh, hiếu thảo đồn đi khắp nơi, ra tận tới triều nội Huế. Bấy giờ vợ kế vua Gia Long là Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu cho triệu vào cung để hầu cháu trai (vua Thiệu Trị sau này). Trong cung lúc ấy còn có con gái Quận công Nguyễn văn Nhàn là Linh Phi cũng do Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu tuyển. Về ngôi thừ giữa 2 người cháu dâu thì Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu chưa đặt ai trên dưới, nhưng về chức tước thì Tiểu Thư Hào kém Linh Phi, vì Linh Phi lấy theo chức tước của cha.

Bà Từ Dũ (lúc ấy chưa được phong chức tước) không lấy sự thua kém làm ghen tức, mà lúc nào cũng tỏ ra quí mến và nhường nhịn Linh Phi đủ mọi điều.

Một hôm vua Minh Mạng ban cho hai con dâu mỗi người một cái Kim Hoa Sa. Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu cũng ban cho 2 cháu mỗi người một cái kim khâu vàng để dùng trong việc may vá. Một cái chạm hình con Phượng và một cái chạm bông hoa. Thuận Thiên phong kín 2 cái lại và khấn rằng: "Nếu ai lấy được cái khăn hình con Phượng thì sẽ sanh con trước!" Đoạn bà cho vời 2 người cháu dâu đến bảo mỗi người cầm lấy một cái. Từ Dũ nhường cho Linh Phi lấy trước. Linh Phi lấy cái phong bao chạm hình bông hoa, chiếc còn lại của Từ Dũ chạm hình Phượng. Quả nhiên năm sau bà sinh Thiên Phước Công Chúa, rồi Công Chúa thứ hai và tới Hoàng Tử tức vua Tự Đức sau này.

Về đức hạnh của bà, người ta nhận thấy:

HIỀN THỤC

Khi vua Thiệu Trị lên ngôi, bà được coi như vị Chánh cung trong cung nội. Tuy nhiên, bà không lấy điều đó làm kiêu hãnh, mà lúc nào bà cũng siêng năng, cần mẫn chăm sóc mọi việc trong cung. Bà xử sự đoan trang, giữ đúng lễ nghi theo đạo thánh hiền, tôn kính vua. Vua Thiệu Trị thấy bà thông hiểu lễ nghi nên thường cho bà đi theo những lần tế lễ.

Vua ngự giá Bắc tuần, bà xin theo hầu, bà đem rất ít cung phi theo để được tự tay mình săn sóc cho vua từ miếng ăn giấc ngủ. Bà thức khuya, dậy sớm, đến nỗi sau lần tuần du này người bà gầy yếu hẳn đi. Vua thức đêm đọc sách, bà cũng thức theo hầu, không lúc nào tỏ ra dáng mệt nhọc.

Năm Thiệu Trị thứ 7, vua bệnh nặng, bà luôn luôn ở bên giường ngự, bà quên ăn quên ngủ, săn sóc cho tới khi vua băng hà.

Lúc gần băng hà, vua Thiệu Trị đã cảm động nói: "Trẫm thấy phi là người hiền đức, hiền minh, ý trẫm muốn lập làm hoàng hậu, nhưng tiếc thay chưa kịp..."

(Đời nhà Nguyễn không có tục lệ phong hoàng hậu, nên vua Thiệu Trị không thực hiện được ý muốn).

Sau khi vua Thiệu Trị băng hà, Dục Tôn (Tự Đức) lên ngôi, mang hoàng thân và văn võ bá quan vào triều xin cử hành lễ tôn phong bà lên ngôi Thái hậu, nhưng bà nói rằng: "Quan tài tiên đế còn đó, lòng ta thương tiếc khôn nguôi, việc tấn tôn bất tất phải cử hành".

CẦN KIỆM

Mặc dầu ở ngôi Thái hậu, nhưng bà không bao giờ coi sự xa hoa là cần thiết. Những lần mừng lễ thọ của bà, bà đã ra lệnh chước giảm mọi thứ, sợ tốn hao công kho. Kỳ mừng thọ ngũ tuần, bà đã nói với triều thần rằng: "Ta đã được thiên hạ phụng sự, thì nên lo việc thiên hạ đương lo, năm nay chưa đặng đều mùa, nhân dân chưa vui, chính lúc hoàng đế phải chăm lo, lòng ta nỡ nào thản nhiên. Vả lại tính ta vốn cần kiệm chẳng chuộng phù hoa, không ngờ ngày nay hưởng được tôn vinh, ta thường e sợ, tu tỉnh chẳng rồi, huống chi còn gia thêm hư danh để ta càng mang nặng lỗi thất đức hay sao".

Bà thường nói với những người chung quanh rằng: "Ta tự xét không làm gì có ích cho nước nên không dám phung phí xa xỉ".

Trong cung, thường dùng sáp vàng để làm đèn. Bà bắt tiết giảm, số sáp dư truyền đưa vào kho dự trữ. Bà nói rằng: " Ta nhớ hồi còn nhỏ, gia tư chưa được khá giả, ngay thứ dầu nước là vật rẻ tiền mà cũng khó thắp cho suốt đêm, nay nhờ phước của trời mà tổ tiên giầu có cao sang, nhưng một sợi tơ, một hột gạo cũng là do máu mủ của dân, lãng phí gì cũng đáng tiếc lắm vậy".

NHÂN TỪ

Thắng 5 năm Tự Đức thứ 12, gặp ngày khánh tiết, các công chúa, cung nhân, nữ quan đều dâng phẩm vật và xin đem ca nhạc chúc mừng. Nhưng lúc đó tiết trời đại hạn, vua đương sai quan làm lễ cầu mưa. Bà nói với các công chúa và cung nhân rằng: "Trời nắng gắt mấy tuần nay, việc nông gia dân chưa làm được, ta có vui gì đâu, vậy hãy đợi trời mưa hãy cử hành".

MINH CHÍNH

Đối với các Hoàng Tử và Công Chúa, bà lúc nào cũng đoan trang đôn hậu, bà lo cho các con học hành chăm chỉ, dạy bảo con những đức tính tốt. Mỗi khi ban phát thứ gì, bà ban phát rất công bằng, không có kẻ yêu người ghét.

Đối với em trai, em gái hay hoàng thân, người nào túng thiếu bà đều chu cấp tiền nhưng không cho nhiều sợ vì cho nhiều, họ sẽ sống ỷ lại chăng. Có bà Quận Công vừa nghèo vừa bị bệnh, bà mang cho 2 lạng vàng, mấy hôm sau bà Quận Công đó xin thêm. Bà nói: "Ta thương người nghèo, nhưng rất ghét người xa xỉ, bổng lộc của Chúa chẳng khác (chi ai), nếu chẳng lo cần kiệm thì lấy đâu mà đủ".

Bà thường ngăn ngừa những chuyện lợi dụng của những người thân thuộc họ ngoại bà (họ Phạm). Có một người bên học ngoại bà chẳng đỗ đạt gì, xin làm thị vệ trong cung. Bà nói: "Người trong thích lý chớ lo sự không ra làm quan được, chỉ lo bất tài mà thôi. Ta thường cấp tiền bạc, khuyên chăm lo học hành, may có thi đậu vẻ vang cho gia tộc. Không ngờ cây mục khó chạm, giải đất học hành mà ưa sự bôn cạnh, thật là phụ mỹ ý tác thành của ta".

Có người thích lý làm quan bị thưa về tội tham nhũng, việc tâu vào triều, bà bảo vua Tự Đức rằng: "Người chỉ nhờ gia ấm được bổ làm quan, tưởng nên giữ pháp luật để thừa hưởng phước lộc mới phải, nay lại làm điều trái phép, thật đáng tội, Vương nhi nên triệu về kinh nghiêm phạt để răn kẻ sau và bày sáng công đạo cho mọi người biết".

*

Ngoài ra, theo sử sách ghi chép, bà Từ Dũ còn là một cố vấn rất tốt cho nhà vua về việc nước. Bà thường mang sách vở thánh hiền ra bình luận giúp vua thêm minh mẫn, rút kinh nghiệm được những cái hay cái dở người xưa.

Ngày 20-04 âm lịch năm Thành Thái thứ 13 (1901) bà Từ Dũ mất, hưởng thọ 92 tuổi. Bà được phong: Từ Dũ Bác Huệ Trai túc Huệ Đạt Thọ Đức Nhân Công Chương Hoàng Hậu.


BĂNG TUYỀN    
(Theo Đất Việt Trời Nam
của Thái văn Kiểm)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 201, ra ngày 15-5-1973)
 

Thứ Năm, 4 tháng 3, 2021

Nói Với Người Em Gái Việt Nam



 

 

 

 

 

 

 Em duyên dáng như loài hoa mới nở,
Áo dài xinh bay trắng phố phường xưa.
Tóc thề buông e ấp nón bài thơ,
Trong gió lộng, em cười trông diễm lệ

Cành phượng vỹ xì xào như kể lể,
Chuyện nàng tiên nữ đẹp như mơ.
Nghe tháng năm tiên giới quá hững hờ
Nên hạ xuống trần gian thay kiếp sống.

Chính em đó, em dịu hiền, em mơ mộng.
Người em thơ mang dòng máu Lạc Long
Bốn ngàn năm em đã tạo trong lòng,
Một ý chí, sự sống còn dân tộc.

Em yêu dầu như vừng dương lới mọc,
Rạng khắp trời Đông Á: gái Rồng Tiên.
Em còn đây bao tục lệ cổ truyền,
Bao nét đẹp người xưa tô điểm đó.

Đừng em nhé, đừng ngả theo chiều gió,
Gió "văn minh" đang xoáy mạnh tâm hồn.
Gió "văn minh" đưa đẩy chiếc thuyền con,
Trong bão tố, lạc bến bờ, xa cội rễ.

Vững tay chèo mình quay về em nhé,
Ngược dòng sông tìm về chốn cội nguồn.
Để cho lòng len lén dậy yêu thương,
Và xoa dịu niềm đau dân nhược tiểu.

                                                NAM THIÊN

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 89, ra ngày 15-4-1968)

 

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

Lời Thần Thánh

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(Mến tặng TRIỀU VŨ)

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại xen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Lời ca dao ngọt ngào yêu dấu mến
Thầy đã dìu em nhẹ giữa không gian
Khoảng ấu thơ vời vợi óng tơ vàng
Trong như suối mát như lời âu yếm

Lời ca dao ngọt ngào em đang đếm
Lịm trong lòng ở tuổi lớp ba, tư
Đẹp là bay gió cuốn lá vàng thu
Lòng chĩu xuống em ngóng thời thơ ấu

Lời ca dao ngọt ngào như đã đậu
Vai bé gầy em tự thuở xa xưa
Nhẹ đẩy xa dĩ vãng đẹp như đưa
Hồng mi bé giọt xinh rơi nhè nhẹ

Lời ca dao ngọt ngào như tiếng mẹ
Em mê rồi từ lúc lọt lòng ra
Miệng bi bô mấy tiếng mẹ ba ba
Lòng đã mến ca dao lời THẦN THÁNH

                                          KHIẾU QUỐC VIỆT
                                               (Mặt trời vàng)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 76, ra ngày 11-2-1973)
 

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2021

Mưu Cáo Già

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Sáng hôm ấy mặt trời dịu nắng
Bác cáo già thả cẳng rong chơi
Vừa đi vừa ngẫm sự đời
Mắt bao kiêu hãnh nhìn trời cao xanh

Bỗng chợt thấy trên cành xanh thẳm
Chị quạ đen đang gặm bánh mì
Cáo già dừng bước, nghĩ suy
Cảnh xưa chuyện cũ nay thì giống ghê
 
Cũng bác cáo chuyên nghề ve vãn
Cũng quạ đen vừa dạn vừa khờ
Gặp nhau cuối xóm bất ngờ
Giở trò cướp bánh, cáo nhờ chút mưu

Cáo bước tới vừa cười vừa nói
Dì quạ ơi! Cho hỏi chút này.
Trời xanh gió mát mây bay
Sao dì không hát mừng ngày đẹp tươi

Giọng dì ngọt muôn người ao ước
Tôi ngây lòng đã được nghe qua
Gió ngừng kìa, đợi dì ca,
Cây yên nghe ngóng, rừng hoa đang chờ

Quạ thôi gặm gật sơ vài cái
Nhìn cáo già rồi lại quay đi
Cáo ta vẫn cứ kiên trì
Hát lên đi nhé hỡi dì thân yêu

Quạ lại gật ra chiều hưởng ứng
Cáo vui mừng mới dựng cổ lên
Miệng thì há rộng tuênh huênh
Chực cho quạ hát, bánh liền rớt theo

Cáo chờ đợi nhìn nheo ngây ngất
Bỗng nghe vèo một vật gì rơi
Rụng theo chiếc lá tả tơi
Rớt vào miệng cáo, sướng thôi tuyệt trần.

Cáo ngậm lại, bỗng nhăn nhó mặt
Một mùi hôi xông nghẹt lên đầu
Bánh mì nào có thấy đâu
Chỉ toàn phân quạ thi nhau đổ hồi.

Cáo lùi lại, tức sôi gan ruột
Chửi quạ rằng: Mày thực sai ngoa
Cứ theo sử sách ông bà
Quạ thua mưu của cáo già từ lâu!

Quạ đáp lại, đó câu chuyện cũ
Có nghĩa gì mà chú lôi ra.
Dễ gì gạt gẫm người ta,
Khôn ngoan đâu phải riêng nhà cáo thôi

Trước đã dại giờ tôi hết dại
Quạ đời xưa không phải đời nay
Cuộc đời biến chuyển vần xoay
Những quân bịp bợm phải ngày lâm nguy

Ngoài nhân nghĩa không gì vĩnh viễn
Dẫu gian ngoan ẩn hiện khôn lường
Đến khi thiên hạ tỏ tường
Ném phân vào mặt kiếm đường tháo lui.

                                                          LAN ĐÀI

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 15, ra ngày 25-3-1964)
 

 
 
 

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2021

Chị Em Bé

 

Trong nhà chỉ có Bé và Cu Tý còn bé, thế mà hai đứa chẳng thương nhau bao giờ. Đã không thương nhau hai đứa bé còn "chia rẽ" nhau lắm - cứ xem như kẻ thù không bằng. Cu Tý bị xem là "kẻ thù" của Bé vào một bữa tối mà hắn tranh mất cái hộp bánh "LU" bé định xin ba làm giường cho búp bê nằm. Cu Tý là út trai, Bé là út gái, thế mà ba vẫn thường bênh hắn thôi. Bé chỉ lớn hơn Cu Tý một tuổi nhưng ba cứ bảo: "Bé lớn rồi phải nhường cho em, phải thương em..." làm Bé ức ghê - Bé có cái chi hắn đòi ba cũng bắt bé nhường cả.

Mãi rồi Bé không chịu nữa. Một hôm Bé bắt Cu Tý giao hẹn: - Cu nhớ nhé! Đồ chi của ba cho thì của Cu Tý, còn của mẹ thì của Bé. Hổng đứa nào được giành đó.

Cu Tý chịu ngay. Hắn còn "thông minh" hỏi:

- Thế của anh Tâm, chị Thảo?

- Ừ nhỉ! Bé quên mất... nhưng khó chi, của anh Tâm là của Cu, của chị Thảo là của Bé.

Sau mấy ngày giao hẹn, Cu Tý chẳng được chi cả. Còn bé... này nhé! Hôm qua chi Thảo cho bé chiếc thuyền cắt trong thế giới tự do này ; hình con bướm đủ màu thật đẹp. Bé còn được cái kẹp tóc của mẹ, thêm năm đồng mấy ngày mẹ đi chợ còn này. Bé chẳng thèm tội nghiệp Cu Tý dù ba hay anh Tâm chẳng bỏ chi để hắn được cả.

Xếp đặt thế này Bé và Cu Tý tưởng êm xuôi cả rồi thì một hôm bác Thuấn dưới quê lên chơi biếu ba mẹ con sáo biết nói. Cu Tý thích lắm, hắn ta nhất định đòi chơi một mình cơ. Khách chưa về mà Bé và Cu Tý đã tranh nhau con sáo rồi. Bé đâu chịu thua. Lúc nãy Bé nghe bác Thuấn nói"biếu anh chị" cơ mà. Cu Tý lấy quyền chi mà giành cơ chứ. Bé phải nhờ ba vào phân xử mới được. Nhưng Bé lầm, ba chẳng biết chi chuyện giao hẹn giữa Bé và Cu Tý cả. Thấy Cu Tý thường thích chim nên bác Thuấn vừa về, ba gọi hắn:

- Cu Tý ơi! Ba cho con sáo này.

Cu Tý hớn hở chạy ra. Bé cũng vội ra theo:

- Ba ơi! Bác Thuấn biếu "anh chị" mà.

Ba vẫn không hiểu. Ba bảo Cu Tý:

- Cu cho Bé chơi chung với nghe.

- Thôi, chị Bé có búp bê rồi.

Lúc đầu Cu Tý làm phách định giành một mình. Ba phải dọa đòi lại hắn mới chịu cho Bé chơi chung, làm Bé càng ghét hắn thêm.

Sáng nay mẹ đi chợ phải mua nhiều thức ăn nên chỉ còn đủ tiền mua một cái bánh bò. Bé ra đón mẹ trước nên được. Cu Tý "chậm chân" trông hắn tiu nghỉu thật đáng thương. Bé định làm phách với hắn để trả thù nhưng mẹ đã bảo:

- Bé cho Cu một nửa. Mai mẹ mua hai đứa hai cái. Hôm nay mẹ mua thức ăn hết tiền.

Bé đâu dại thế. Của mẹ mua là của Bé cơ mà. Hắn đâu được quyền hưởng. Thấy Bé không cho em, mẹ mắng:

- Bé tham ăn nhé! Mai mốt mẹ không mua cho Bé nữa.

Bé vẫn bướng:

- Bé ghét hắn lắm, Bé để dành cho chị Thảo cơ.

Mẹ vờ làm mặt giận:

- Thôi được, Bé không thương em thì mai đi chợ mẹ bế nó ra bán cho bà bán bánh vậy.

Bé hốt hoảng:

- Ấy! Mẹ đừng bán Cu Tý, tội nghiệp hắn.

Nhưng mẹ vẫn cương quyết:

- Mẹ nhất định rồi, mai mẹ đem bán Cu Tý lấy bánh cho con ăn.

Bé và Cu Tý òa khóc.

- Thế chừ hai con mới biết thương nhau hả? Hai con làm mẹ buồn lắm, chị em trong nhà mà cứ ghét nhau hoài. Chừ hai đứa còn ghét nhau nữa thôi?

Bé trao cả cái bánh bò cho Cu Tý rồi sà vào lòng mẹ nũng nịu:

- Bé thương hắn rồi, mẹ đừng bán Cu Tý cho bà bán bánh bò nhé! Bé không thèm bánh bò nữa đâu.


TRẦN THỊ HẬU    

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 123, ra ngày 15-2-1970)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>