Thứ Năm, 10 tháng 1, 2019

Đi Thăm Tù Nhân


"Visit to a Prisoner" (Đi Thăm Một Tù Nhân) là một truyện tiêu biểu của Ignazio Silone (Ý) trình bày cuộc sống cùng khổ của người làm ruộng nước Ý, không những nỗi cực nhọc mà cả kết quả của nó nữa: ấy là sự nẩy nở cảm tình đối với người đồng hương. Cậu bé trong truyện này đã học được cách nhìn một "kẻ tội phạm" khác với cách phê phán của xã hội thay vì coi đó là một tù nhân, cậu chỉ thấy đó là một người đồng hương đương cần dự giúp đỡ của kẻ khác, của cậu.


Tôi theo dõi họ đi từ đằng xa tới mỗi lúc một to lớn rõ ràng thêm trên con đường đất bụi vắng lặng hai cảnh binh đi kèm hai bên một người bị xích tay, quần áo rách rưới, chân không giầy đi lẩy bẩy bước thấp bước cao như mọi da đỏ khiêu vũ. Có lẽ anh ta bị thọt ngay từ khi lọt lòng mẹ hay vừa bị thương ở chân. Bị kèm giữa hai "cây trụ của Luật Pháp" mặc đồng phục xám như đi đưa ma trong ánh nắng gay gắt mùa hè, anh ta làm tôi nghĩ tới một con thú bị bắt trong một đường mương, lấm đất lem luốc cố vùng vẫy để thoát thân. Trên lưng anh ta đeo một cái bọc không biết trong đựng vật gì phát ra một âm thanh nhịp theo bước chân của anh ta nghe như tiếng ve sầu.
 

Lúc đó tôi đương ngồi ở trước cửa nhà với cuốn sách tập đánh vần trên đùi, ra sức vật lộn với những chữ mẫu âm và phụ âm, thì thấy con người vừa đáng thương vừa khôi hài ấy đi tới chẳng khác gì một trò giải trí bất ngờ làm cho tôi cười lên khúc khích. Tôi quay nhìn xung quanh xem có ai cùng chia xẻ cái trò vui ấy không thì thấy cha tôi ở trong nhà lê bước đi ra.

Tôi vừa cười vừa nói: "Ba coi kìa buồn cười không?" Nhưng cha tôi nghiêm mặt lườm tôi một cái, véo tai tôi xoay đi một vòng rồi lôi vào phòng ông. Chưa bao giờ tôi thấy cha tôi giận tôi như vậy.

Tôi vừa xoa tai vừa hỏi: "Con có làm gì lầm lỗi đâu?"

"Không bao giờ con được chế giễu một tù nhân. Không bao giờ, nghe không!"

"Vì lẽ gì ạ?"

"Vì người ta không thể tự vệ được. Và con biết đâu, rất có thể người ta vô tội. Vì dầu sao đi chăng nữa, người ta cũng là người đáng thương."

Cha tôi chỉ nói có vậy rồi bỏ ra khỏi phòng, để một mình tôi đứng ngẩn ngơ với một mối băn khoăn mới lạ. Mẫu âm và phụ âm với những liên quan khúc mắc giữa hai thứ chữ ấy không còn làm cho tôi thích thú nữa.

Tối hôm đó, thay vì thúc giục tôi đi ngủ như thường ngày, cha tôi đã làm một việc khác thường: ông đưa tôi đến Trung Tâm Cộng Đồng. Nhưng đáng lẽ theo thói quen đến đứng gần với bạn bè ở Phòng Hội Tương Trợ thì ông lại tới ngồi vào một bàn kế ở vỉa hè tiệm Cà Phê Tao Nhân là nơi có nhiều nhân vật thượng lưu trí thức tới ngồi hóng mát sau một ngày nóng bức. Ông Chánh án Tòa Tỉnh ngồi ở bàn bên cạnh đương nói chuyện với một ông bác sĩ. Cha tôi quen thân với ông Chánh án, gật đầu chào ông xong, hỏi:

"Người đàn ông  bị bắt hồi sáng phạm tội gì vậy?"

Ông Chánh án đáp: "Ăn cắp".

Cha tôi hỏi thêm: "Người ở đâu tới? Có nhà cửa gì không? Hay mới thất nghiệp?"

Ông Chánh án nói: "Hắn làm việc ở xưởng gạch và hình như ăn cắp gì của chủ ấy. Thế ông có bị nó ăn cắp gì không?"

Cha tôi nói: "Kể cũng lạ. Gặp hắn đi chân không, quần áo rách rưới tôi có cảm tưởng như hắn bị người ta ăn cắp hơn là hắn ăn cắp của người ta."

Mấy năm sau, tôi được cha tôi cho đi theo sang quận Phúc Thạnh lần đầu tiên. Đó là "một biến cố lớn" đối với tôi. Tôi thấy mình bỗng lớn hẳn lên. Cha tôi đánh thức tôi dậy sớm lắm ; trời hãy còn tối nhưng cha tôi đã cho bò ăn uống no đủ và đã đóng xe sẵn sàng đợi ngoài cửa. Tôi cũng ngạc nhiên nghe thấy ở sau nhà có tiếng dệt cửi, tiếng bàn đạp và thoi đưa rầm rập: thì ra mẹ tôi cũng đã làm việc rồi. Nhưng bà tới ngồi ngay bên cạnh tôi trong lúc tôi ăn điểm tâm bánh mì sữa, và dặn dò tôi mấy câu. Tôi nhớ bà bảo tôi tới Phúc Thạnh đừng có ra ngồi ngoài nắng, bà nói: "Con có biết không những người lần đầu ra làm việc ngoài đồng ít tránh khỏi say nắng." Rồi bà đưa tôi ra tận xe. Mỗi chi tiết, mỗi sự việc đều làm tôi rung cảm thêm. Trong ánh sáng tờ mờ buổi mai, đôi bò mộng to lớn, những đồ vật cổ sơ chất trên xe (nào cây bừa, nào bao cỏ, giỏ để ăn đường, nào hũ nước, hũ rượu...) và không ngờ cả con gà trống, mãi đến lúc nó gáy lên tôi mới biết là có nó, tất cả những thứ đó hình như báo cho tôi biết trước đời sống ở nơi mà tôi sắp được phép tới. Chúng tôi phải đi sớm như thế là vì miếng đất của chúng tôi ở xa trên mười cây số gần tới trung tâm quận Phúc Thạnh, và chúng tôi hai cha con tôi và bò phải đi làm sao đến đó trước khi mặt trời mọc thì đỡ khổ hơn.

Ai cũng biết là đi xe bò khó có thể nhanh hơn người đi bộ ; nhưng lại hợp với tâm trạng tôi, một đứa trẻ lần đầu tiên được phép tham dự vào công việc của người lớn. Tôi để ý ngắm những người nhà quê đi thành đoàn hoặc trước hoặc sau chúng tôi và tôi bắt chước họ cố giấu những tính tình và ý nghĩ của mình đi. Tôi để ý thấy ngay giữa bạn bè thân thích với nhau họ cũng chỉ khẽ gật đầu chào nhau một cái rồi thôi. Có lẽ vì hôm đó là ngày đi làm ăn chứ không phải ngày hội hè giỗ tết. Ngay cả cha tôi cũng trầm ngâm im lặng, thỉnh thoảng mới nói một tiếng với tôi, nhưng tôi không quan tâm, và đó cũng là bằng chứng cha tôi không còn coi tôi là con nít nữa. Một điều tôi bất ngờ khám phá ra là quang cảnh làng tôi sau khi chúng tôi đi được một quãng xa, tôi quay đầu ngó lại. Từ bé chưa bao giờ tôi thấy quang cảnh ấy, toàn thể làng trải ra trước mắt tôi trông tựa hồ như tách rời khỏi tôi, vượt cao trên thung lũng. Tôi gần như không nhận ra là làng tôi nữa: một đống nhà cửa chồng chất trong một khe núi trọc.

Càng đi xa về phía quận, đoàn người, xe bò càng thưa đi, tản mác về những nẻo đường bên phải bên trái, cuối cùng chỉ còn lại có một mình xe chúng tôi. Mãi tới lúc đó cha tôi mới biết là đã quên đem theo thuốc lá. Thấy bộ dạng của cha tôi, tôi biết việc này rất quan trọng. Ông làm sao có thể sống qua một ngày trong cái không khí nóng bức của đồng ruộng mà không có thuốc hút? Ngay đến những nông phu nghèo nhất cũng không thể chịu được cảnh thiếu thuốc suốt ngày như vậy.

Mặt trời đã mọc và chúng tôi đã đi già nửa đường nên không thể tính chuyện quay trở về lấy thuốc được. Tôi đến khổ sở cứ phải nghe cha tôi nhắc đi nhắc lại mãi một câu:"Từ xưa tới giờ mình chưa bao giờ quên đem thuốc đi cả, chưa bao giờ, thực thế." Như vậy có nghĩa là lỗi tại tôi sao? Tôi sợ vô cùng. Cái ngày đáng ghi nhớ nhất đời tôi bỗng bị một lớp mây đen làm cho u ám. Tới ruộng nhà, cha tôi tháo bò ở xe ra buộc vào ách cày, không nói không rằng, mà cũng chẳng thèm ngó tôi một cái. Suốt dọc đường cái quan dài hai bên trồng bạch dương và cả những thửa ruộng chữ nhật nối tiếp  xung quanh ruộng chúng tôi đều vắng tanh vắng ngắt, không một bóng người ; vả lại cũng khó có hy vọng gặp được một người quen nào sẵn lòng nhường lại thuốc lá của họ cho cha tôi.

Khi sắp sửa thúc bò cày luống thứ nhất, cha tôi bảo tôi:

"Này cầm lấy mười đồng, ra kia xem có ai đi qua có thuốc lá hay thuốc bào thì cố năn nỉ người ta để lại cho".

Trời đã nóng, và chắc chẳng còn ai đi qua đi lại vào giờ này nữa. Cha tôi cởi áo ngoài, cầm gậy thúc bò, giọng cáu kỉnh. Tôi buồn lủi thủi đi ra lạch ngồi trên bờ cỏ. Con lạch nhỏ  ngăn đường cái với ruộng. Tôi quay lại nhìn cha tôi đương cong lưng đẩy chiếc cày sau hai con bò, đi từ đầu ruộng tới cuối ruộng, quay trở lại rồi lại đi nữa, cứ thế đào những luống đất trộn ra đốt cháy đen. Ông cặm cụi cày, bước từng bước đều chậm chạp, trong khi mặt trời bắt đầu thiêu đốt. Không có lấy một ngọn gió, những hàng bạch dương phân ranh các thửa ruộng đứng im phăng phắc, mặt nước bùn trên con lạch hình như nước tù hãm không chảy. Tôi ngồi trong bóng mát mà còn nóng bức khó chịu, gần như muốn ói và ngất ngư buồn ngủ khiến tôi có ý nghĩ biết thế này thà mình cứ ở nhà thì hơn. Đến gần trưa, bỗng có tiếng cha tôi gọi làm tôi giựt nẩy người tỉnh dậy. Một người cưỡi la đương đủng đỉnh đi trên đường cái về phía chúng tôi. Cả người lẫn vật hình như đi trên một đám mây dầy đặc bụi mà vó la cuốn bốc lên khiến người ta không trông thấy vó nó đâu. Tôi vội chạy tới người cưỡi la, giơ cho người ấy thấy đồng tiền và đề nghị ngay việc mua bán, tôi trỏ cho người ấy thấy cha tôi đương đứng ngừng lại ở giữa một luống cày dở dang.

Người ấy đáp: "Tôi chỉ còn có mỗi một điếu thuốc hút dở."

Tôi vừa bước theo bên cạnh con la, vừa nói: "Không sao. Ông cứ cầm lấy tiền và đưa cháu điếu thuốc - ồ, ông giúp cháu, đừng từ chối, đi ông."

Người ấy hỏi: "Vì lẽ gì tôi lại phải đi suốt ngày không được hút lấy một hơi thuốc lá? Chả lẽ ba cậu là người tốt hơn tôi sao?"

"Không, thưa ông cố nhiên là không phải như vậy. Chỉ vì ba cháu bực mình khó chịu vì không có thuốc hút nên cả ngày chẳng chịu nói năng với ai một lời."

Người cưỡi la hỏi vặn lại: "Ông ấy khó chịu đến thế kia ư? Ông ấy tự cho mình là ông gì vậy?"

Tôi cứ chạy theo bên cạnh con la, nhưng tôi đã bắt đầu thất vọng. Tôi phải làm sao bây giờ để có thể mua được điếu thuốc đang hút dở kia? Tôi đưa mắt nhìn van lơn người cưỡi la ; ông ta nhìn lại nhưng vẻ mặt lạnh lùng, tuy nhiên tôi thấy hình như giấu ẩn một ý nếu không phải là chế nhạo thì là thương hại ; nhưng tôi không quyết định được ý nào đúng. Từ trước ở quanh xóm tôi chưa từng thấy người nào mà lại gầy gò, da dẻ nhăn nheo cháy nắng như ông ấy.

Tôi nói: "Trong giỏ cháu có một ít thức ăn, nếu ông muốn, ông có thể lấy hết phần của cháu. Trong hũ lại có ít rượu nhà cất lấy ngon lắm. Ông ơi, ông hãy ngừng lại một chút mà coi."

Nhưng ông ấy vẫn không chuyển lòng và có vẻ buồn cười về thái độ của tôi. Tôi muốn phát khóc lên, cố năn nỉ: 

" Ông giúp cháu đi ông. Ông phải giúp cháu đi ông."

Chợt ông ấy đưa ra điếu thuốc hút dở và nói: "Thôi đấy. Biếu cậu đấy."

Tôi ngạc nhiên: "Nhưng sao ông không lấy tiền?"

"Ai lại lấy tiền nửa điếu thuốc bao giờ. Có ai bán nửa điếu thuốc bao giờ. Cậu có thể giữ lấy tiền hoặc muốn cho ai thì cho."

Tôi không nài nữa vì tôi còn vội chạy về khoe với cha lòng kiên nhẫn và gan dạ của tôi.

Nghe kể lại "cuộc điều đình thắng lợi của tôi", cha tôi nói: "Lạ nhỉ. Lẽ ra con phải hỏi cho biết tên người ta mới phải."

Mấy năm qua đi. Một buổi chiều, tôi đương ngồi ở cửa nhà với cuốn Ngụ Ngôn La tinh trên đùi, chợt thấy một người tay bị còng đi giữa hai viên cảnh binh, trông rất giống người cho thuốc lá. Tôi nhận ngay ra ông ta, không do dự chút nào, tôi xúc động và thấy như tim mình bị thót lại. Tôi vội chạy đi kiếm cha tôi để báo cho ông biết, nhưng cha tôi đi vắng. Tôi chạy đến nhà bà tôi, rồi đến Trung tâm Cộng đồng, nhưng không ai thấy cha tôi đâu cả. Mãi sau tôi mới thấy ông ở chuồng bò vắt sữa. Chắc vẻ mặt tôi lúc đó bối rối lắm nên vừa thấy tôi, ông đã hỏi có phải ở nhà có tin gì không hay phải không. Tôi nói: "Dạ, đúng như vậy" rồi tôi tuôn ra một mạch hết câu chuyện.

Hôm sau là Chủ Nhật. Ở nhà thờ ra tôi đến Trung tâm Cộng đồng tìm cha tôi vì chúng tôi đã dự tính tới thăm ông Chánh án.

Gặp ông Chánh án, cha tôi bảo tôi: "Kể chuyện của con cho ông Chánh án nghe đi. Con quen người ta chứ ba đâu có quen."

Chuyện không dài, nhưng tôi cố tìm hết tất cả những lời lẽ dễ xúc cảm để kể ra. Ông Chánh án vừa nghe vừa tủm tỉm cười. Nghe tôi kể xong, ông nói người ấy bị bắt vì ăn cắp.

Tôi sững sờ cả người. Tôi tưởng tượng thấy ông ta có thể dữ tợn, đánh người, nhưng không thể nào ăn cắp được.

Cha tôi tìm cách giải thích cho tôi hiểu: " Ông ta có thể đã làm một việc gì khiến cảnh binh và ông Chánh án cho ông ta là kẻ ăn cắp. Việc ông ta làm chắc giống như ăn cắp ; nhưng chỉ có Trời mới biết thật sự ra ông ta đã làm gì, có ăn cắp hay không."

Ông Chánh án rất tử tế, cho cha con tôi một giấy phép vào trại giam thăm người đã cho tôi thuốc lá. Ông Chánh án ghi cả tên người ta trên giấy. Trên đường đi tới trại giam, cha tôi nói:

"Mình nên đem quà cho ông ta. Nhưng biết đem gì bây giờ?"

Tôi đề nghị: "Có lẽ nên đem một vài bao thuốc lá, ba ạ."

"Ý kiến hay đó."

Tôi có thể nhớ hết mọi chi tiết của buổi viếng thăm ấy, vì tôi còn nhỏ tuổi và đó là lần đầu tiên tôi đặt chân tới một chỗ như vậy. Lúc bước qua cổng trại, tim tôi bắt đầu đập thình thịch. Người cai dẫn chúng tôi đến một gian buồng nhỏ hôi hám chỉ có chút ánh sáng tờ mờ lọt qua hai thanh sắt bịt cửa sổ. Người cai chỉ cho chúng tôi một cái ô nhỏ cao ngang mặt, đục trong tường để chúng tôi có thể nói chuyện qua cái ô ấy với người tù mà chúng tôi muốn gặp. Muốn nhìn rõ mặt người ấy, tôi phải kiễng chân lên cho cao. Trông thấy tôi, ông ấy nhận ra ngay, điều này làm cho tôi vui hết sức.


BẢO SƠN dịch    

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 73, ra ngày 14-1-1973)

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

Nghệ Thuật Đọc Sách


Đọc sách có phải là làm vui không? Nhà văn Galéry Larbaud gọi là một "thói xấu không bị phạt", còn triết gia Descartes thì trái lại cho rằng đọc sách là "nói chuyện với những người thành thật nhất của các thế kỷ đã qua".

Lối đọc sách thói xấu là riêng những người tìm thấy ở đây một thứ thuốc phiện để thoát cuộc đời thực tế, đắm mình vào trong thế giới tưởng tượng. Những người ấy không thể ngồi không một phút không đọc. Đọc gì cũng được. Họ tình cờ mở ra một cuốn bách khoa rồi đọc bài nói về kỹ thuật về thủy mạc cũng say sưa như một bài nói về máy móc. Để họ một mình trong phòng, họ đi thẳng đến bàn có tạp chí, bào, rồi đọc bất kỳ những gì trong ấy, không chịu ngồi yên một lúc để suy nghĩ. Họ không tìm kiếm trong sự đọc tư tưởng hay sự việc gì cả, mà chỉ đọc để khỏi nghĩ đến cuộc đời, đến tâm trí của họ. Những gì đã đọc qua, họ chỉ nhớ phơn phớt, lộn xộn. Đối với họ, sự đọc sách của họ có tính cách hoàn toàn thụ động. Họ bị sách báo lấn áp, không nhờ đấy mà suy luận, thâu thái gì được và cũng không còn ghi nhớ những gì bổ ích cho tâm trí.

Lối đọc sách tiêu khiển hoạt động hơn. Đọc sách để tiêu khiển, người đọc tiểu thuyết tìm kiếm ở trong sách những cảm tưởng đẹp, những kích thích, thức tỉnh tư tưởng của mình, hoặc những phiêu lưu không có trong đời thực tế. Đọc để tiêu khiển, người đọc thích tìm ra những nhận xét, cảm giác của mình qua các nhà văn đã biết diễn tả một cách đầy đủ, tài tình. Đọc để tiêu khiển, người đọc muốn biết đến sự băn khoăn của con người qua các thế kỷ. Lối đọc sách để tiêu khiển là lành mạnh.

Lối đọc sách làm việc là của người tìm kiếm những hiểu biết nhất định, những tài liệu cần thiết ở trong sách mà tâm trí mình muốn bồi bổ thêm vào, hay để hoàn thành một công trình tinh thần đang xây dựng. Lối đọc sách làm việc, cần phải cầm viết sẵn ở tay để ghi chép, nếu người đọc không có trí nhớ phi thường. Đọc sách mà mỗi lần muốn trở lại vấn đề trong sách lại phải đọc lần nữa thì phí phạm thì giờ quá. Tôi xin phép cử một thí dụ về tôi. Mỗi lần đọc một cuốn sử ký hay một cuốn sách đứng đắn nào, luôn luôn tôi ghi lại ở đầu trang hay cuối trang sách vài dòng nói những vấn đề cần yếu đã nêu ra, rồi số các trang chỉ những đoạn tôi có thể tra cứu khi cần đến, mà khỏi phải đọc lại cả cuốn sách. Đọc sách cũng như mọi công việc phải có phép tắc riêng.

Đây là vài khoản:

Điều thứ nhất, là nên biết thấu đáo vài nhà văn và vài vấn đề hơn là biết hời hợt rất nhiều tác giả. Những vẻ đẹp của một tác phẩm thường cũng không lộ hẳn rõ rệt ngay lúc đọc qua lần đầu tiên. Trưng tuổi thanh niên nên đến với sách cũng như đi vào cuộc đời để tìm bạn. Khi đã tìm ra các bạn, chọn lựa, thích hợp rồi thì nên cùng các bạn lui về chỗ yên tĩnh. Thân mật với một số tác phẩm của vài nhà văn thích đáng cũng đủ làm cho cả một cuộc đời được dồi dào.

Điều thứ hai, là trong việc đọc, phải dành một phần lớn cho các tác phẩm trứ danh. Lẽ phải và cũng là lẽ cần thiết và tự nhiên, nên chú trọng đến những nhà văn cùng thời đại mình. Chính trong các nhà văn đó mà chúng ta hy vọng tìm thấy những người bạn có những băn khoăn, những nhu cầu như chúng ta. Song đừng để cho làn sóng của những cuốn sách ít giá trị xâm chiếm lấy mình. Số những tác phẩm danh tiếng rất nhiều, không bao giờ chúng ta biết hết được. Chúng ta hãy tin cậy ở sự chọn lựa của các thế kỷ đã qua. Một người có thể lầm, một thế hệ có thể lầm, nhưng cả nhân loại không thể lầm. Homère, Shakespeare, Moliẻre chắc chắn là những người xứng đáng với danh tiếng của họ. Chúng ta sẽ chuộng các tác giả này hơn là các nhà văn chưa chịu sự thử thách của thời gian.

Điều thứ ba, là biết chọn thức ăn tinh thần. Mỗi một tâm trí có một thức ăn riêng. Chúng ta nên học nhận ra những ai là tác giả của mình. Họ khác hẳn với những tác giả của bạn bè chung quanh. Trong văn chương cũng như trong tình yêu, ta phải ngạc nhiên vì sự chọn lựa của người khác. Chúng ta cần trung thành với các tác giả đã thích hợp với mình. Về phương diện này, chúng ta mới là những người xét đoán đúng nhất.

Điều thứ tư, là trong khi đọc sách, bất kỳ lúc nào có thể được, nên có một không khí trầm lặng, trang nhã, như trong một cuộc hòa nhạc hay một buổi lễ long trọng. Đọc sách không phải là xem một trang, bỏ đấy để nói chuyện, rồi cầm lại sách trong khi tâm trí còn vẩn vơ, xếp lại để đến ngày mai. Người biết đọc sách để ra những buổi tối nhiều thì giờ yên tĩnh. Họ để dành cho một tác giả yêu mến một buổi chiều chủ nhật mùa đông. Trong khi du lịch bằng xe lửa, họ có dịp đọc lại một hơi cuốn tiểu thuyết của các tác giả giá trị, thích thú khi thấy lại một vài câu, vài đoạn mến yêu.

Điều thứ năm, là phải tỏ mình xứng đáng với các tác phẩm lớn, vì đọc sách cũng như yêu đương, người ta chỉ tìm thấy những gì mình đem lại. Các sách diễm tình chỉ làm cho những người thiên về tình cảm ưa thích, hay là những thanh niên còn đang hy vọng, thắc mắc tình yêu chớm nở. Không gì cảm động bằng thấy một thanh niên, năm rồi chỉ đọc những chuyện phiêu lưu, trinh thám, bỗng nhiên thay đổi sở thích, cầm đến Anna Karénine, vì từ đây họ biết thế nào là hạnh phúc và đau đớn của tình yêu.

Nghệ thuật đọc sách một phần lớn là nghệ thuật tìm lại cuộc đời trong sách và nhờ sách mà hiểu thêm cuộc đời.


ANDRÉ MAUROIS    
 Hàn Lâm Viện Pháp     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 21, ra ngày 2-1-1972)

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

Tiếng Trúc Rừng Tre


Đường quốc lộ thẳng tắp trải mình giữa đồng lúa mênh mông vắng vẻ. Chiếc xe ca lao đi vùn vụt như muốn bù lại những khi chạy lừng khừng trong thành phố.

Ngọc nhìn no mắt phong cảnh hai bên vệ đường. Nàng quay lại tìm cái thú trong sự quan sát những bạn đồng hành. Ngọc chú ý ngay cô gái trạc tuổi mình ngồi ở hàng bên. Cô ta có vóc dáng mảnh mai, mái tóc thề và cặp mắt đen láy trên khuôn mặt trắng mịn thật ưa nhìn.

Xe dừng lại nhận thêm khách, Ngọc sang băng kia ngồi cạnh cô gái, cô ta mỉm cười dịu dàng:

- Chị về đâu?

- Dạ tôi đến ấp Thanh Khúc, còn chị?

Cô gái reo lên trong tiếng nói:

- Tôi cũng thế!

Ngọc kể lể:

- Ngoại tôi ở đấy, được tin bà khó ở trong mình, tôi vội về thăm. Chị cũng có bà con ở Thanh Khúc sao?

- Không, gia đình tôi ở đấy, còn tôi lên tỉnh học lớp Huấn nghệ. Tôi tên Thảo...

Ngọc reo lên:

- Tên Thảo đẹp quá. Còn tôi là Ngọc.

Thảo hóm hỉnh:

- Bích Ngọc!

Ngọc kinh ngạc:

- Ủa Thảo biết mình sao?

- Có gì đâu, cái phù hiệu trên ngực Ngọc cho Thảo biết đó mà.

Ngọc làm một cử chỉ vui vẻ:

- À ra thế.

Thảo chợt đổi giọng:

- Vì gia đình nghèo, không được tiếp tục cắp sách đến trường như Ngọc, Thảo tiếc lắm.

Ngọc an ủi:

- Riêng Ngọc, Ngọc thấy học nghề ứng dụng có ích hơn trong thời buổi này đấy.

Thảo nhìn Ngọc đầy vẻ biết ơn:

- Ngọc về Thanh Khúc bao lâu?

- Vài ba ngày thôi Thảo ạ, sắp khai trường rồi.

Xe đỗ bến... Chợ quận vẫn không có gì thay đổi. Thấy Thảo mang những hai xách lớn, Ngọc giành lấy một cái:

- Để Ngọc giúp một tay nào!

Đường vào ấp quanh co uốn khúc. Hai bên lề cây hoang hoa dại chen nhau vươn lên, bổ ra như muốn nghe hai cô gái nói chuyện.

Trước khi rẽ vào lối nhỏ, Thảo ân cần dặn Ngọc lần nữa:

- Nhớ sang nhà Thảo chơi nhé! Cứ vào con đường xóm này hỏi nhà Thảo thì ai cũng biết cả.

Ngọc vẫy tay chào người bạn mới, lòng thấy vui vui.

Cu Tí đang đứng chơi đầu ngõ chợt trông thấy Ngọc, nó reo lên:

- A! Chị Ngọc về ba má ơi.

Cậu mợ Phan và Duyên chạy ra. Ngọc mừng quá a lại ôm chầm lấy mọi người. Ngọc nắm tay dắt Cu Tí vào cổng miệng không ngớt trả lời những câu hỏi thăm của cậu mợ và em Duyên, con gái của cậu Phan.

Ngoại đã lại sức, bà kéo Ngọc vào lòng vuốt ve:

- Thằng Lâm con Mỹ sao không về thăm ngoại?

- Dạ tụi nó nhập học rồi ngoại à, nghe tin ngoại bệnh con vội về ngay, ba con đi công tác chưa xong. Tết này cả nhà sẽ về thăm ngoại và cậu mợ.

Mợ Phan vui vẻ ra lệnh:

- Con Duyên đâu? Ra nhổ vài bụi sắn. Tí! Rang đậu phọng đâm muối ăn với sắn. Còn anh Phan nữa! Xách vợt ra hồ vớt vài con cá thật mập thết cháu Ngọc nào.

Cậu Phan làm bộ nhăn nhó:

- Còn em thì sao?

Mợ dẩu môi, mắt lườm cậu một cái thật dễ yêu:

- Em ngồi nói chuyện với cháu đấy. Có sao không?

Cậu Phan vò đầu:

- Cũng... chả sao cả!

Cả nhà cười ầm lên. Mợ đứng dậy:

- Nói vậy chớ em còn phải làm gà nữa chớ.

Ngọc thấy gia đình ngoại ấm cúng quá, nàng sung sướng, nhẹ nhàng.

- Mợ ơi, ăn gì cũng được, làm gà chi cho mệt.

Mợ vuốt tóc Ngọc:

- Phải vui những ngày sum họp chứ. Mai nữa lấy chồng xa còn đâu có dịp chung bữa với cậu mợ?

Ngọc đỏ mặt thẹn thùng nép vào lòng mợ:

- Cháu còn bé mà!

Cả nhà lại cười, mà lớn nhất là cậu Phan.

Ngoại lại thêm:

- Cháu tôi 18 tuổi rồi, có chồng là vừa.

Ngọc la lên:

- Ngoại! Ghét ngoại rồi đó.

Lát sau Ngọc đi ra vườn sắn giúp Duyên. Bỗng Ngọc nghe tiếng sao vi vu theo gió đưa nhẹ vào tai. Nàng lắng nghe âm thanh não ruột chập chờn như lời than oán triền miên. Cung bậc réo rắt thê lương theo gió khi rõ khi mơ hồ như muốn chở chất, gửi gấm một tâm sự sầu bi, một tiếc nuối thiết tha.

Ngọc xao xuyến trong lòng, chưa bao giờ nàng được nghe âm thanh tuyệt vời của nhạc cụ này như thế. Có lẽ cũng tại ngoại cảnh đã đánh thức niềm rung động mãnh liệt nên tiếng trúc dễ dàng phả vào hồn Ngọc mối thiện cảm. Ngọc nhớ vần thơ Thế Lữ:

Tiếng địch thổi đâu đây
Cớ sao mà réo rắt?
Lơ lửng đưa cao tận lưng trời xanh ngắt
Mây bay... gió quyến mây bay...
Tiếng vi vút như khuyên van như dìu dặt
Như hắt hiu cùng hơi gió heo may

Ngọc dò theo âm thanh tìm đến nơi phát xuất tiếng sáo. Đi mãi đến tận khu rừng tre ấp Thanh Khúc Ngọc nhìn thấy một người con trai ngồi xây lưng về phía Ngọc đang say sưa với âm thanh. Khu rừng tre cũng như im nghe tiếng lòng thổn thức của người trần thế. Nhận thấy cần phải tôn trọng giây phút đó, Ngọc nhẹ nhàng trở bước ra lối cũ. Trong lòng người con gái mang mang một cơn gió chớm lạnh đầu thu.

*

Sau một đêm ngủ ngon ở thôn quê Ngọc thấy mình khỏe hẳn lên. Ngọc đi tìm lại những dấu vết kỷ niệm của những năm qua trên mọi vật dụng, cây cối, vách nhà của ngoại. Nét vẽ ngộ nghĩnh bằng than củi lên tường vôi vẫn chưa được sơn quét lại. Nhà ngoại vẫn còn mang nhiều nét cổ kính, giữ lại được một ít di sản xưa: nào sập gụ, trường kỷ, bình phong, đàn tranh, tỳ bà. Tất cả d0ều cũ kỹ và bóng ngời bởi tay người.

Duyên, Tí đã đi học, cậu Phan đi dạy ở trường Trung học quận lỵ. Nhớ tới Thảo, Ngọc vào xin phép ngoại đi chơi.

Xóm Thảo im mát dưới những hàng dừa san sát. Gặp mấy đứa trẻ đang ngồi chơi buôn bán bên ven đường, Ngọc hỏi thăm nhà Thảo. Chiếc cổng tre mở rộng, Ngọc chậm rãi đi vào. Nhà Thảo xinh xắn gọn ghẽ, trước sân có một bồn hoa, chiếc bể cạn với hòn non bộ rêu phong.

Ngọc dừng lại ở bậc cửa hỏi vọng vào:

- Thảo ơi? Ngọc nè!

Có tiếng lịch bịch rồi một cậu con trai vào khoảng 14, 15 tuổi đi ra. Nhìn khuôn mặt, Ngọc thừa biết nó là em Thảo. Hắn mở lớn đôi mắt đen láy nhìn Ngọc khẽ cúi đầu chào rồi đưa tay ra dấu mời Ngọc vào nhà.

Hắn loay hoay pha nước mang lại. Ngọc cảm ơn, hắn chỉ mỉm cười. Ngồi đối diện Ngọc, hắn âm thầm soạn giấy bút lên mặt bàn. Ngọc lên tiếng:

-Thảo có ở nhà không em?

Hắn vẫn giương mắt nhìn Ngọc yên lặng, vẻ lúng túng thẹn thùng trông càng giống Thảo. Mặc Ngọc ngạc nhiên, hắn cặm cụi viết. Lát sau ngửng lên trao cho Ngọc, nàng đọc:

"Cô Ngọc,

Em xin lỗi đã không kịp trả lời những câu hỏi của cô. Em mang một món nợ trăm năm cô ạ. Vào thuở lên tám, sau một cơn bệnh khốc liệt em không còn khả năng để thông cảm những người chung quanh bằng tiếng nói. Em phải câm nín suốt cuộc đời, chỉ biết nói với chính mình và điều này làm em mệt mỏi, căng thẳng bởi những tư tưởng không có lối thoát.

Chung quanh em phần lớn người ta thường tìm nguồn vui trên nỗi buồn của em, của một con người tàn tật, một kẻ xấu số. Xin lỗi cô, em lại mượn cô làm lối thoát rồi đó. Vô lý quá phải không? Em cũng chưa trả lời câu hỏi của cô: chị Thảo em đi chợ, ba má em đi làm hết.

Em tên Minh, em còn có thính giác chị khỏi cần phải bút đàm. Vâng, em còn nghe được, không biết đó là điều may mắn trong cuộc đời hay là phương tiện nhận lấy những điều tủi nhục?"

Ngọc bàng hoàng nhìn Minh, người con trai sáng sủa, cân đối lại mang một món nợ trăm năm chua chát quá.

Ngọc thấy mình bước vào đây như khơi lên niềm uất hận, đau khổ của Minh. Muốn từ giã nhưng nghĩ lại việc đó có thể gây hiểu lầm cho Minh, nàng nhìn Minh âu yếm:

- Chị xin lỗi làm phiền Minh. Minh hãy gọi chị bằng chị và xem như Thảo vậy.

Minh à, em đừng bi quan quá mà không nên, vì nó chẳng đưa lại một kết quả tốt. Em còn hơn nhiều người, em còn có khả năng làm việc, đầu óc minh mẫn. Em phải vươn lên, vượt qua khó khăn tìm những việc làm thích hợp để giúp mình, gia đình và cho cả xã hội nữa.

Ánh mắt Minh đầy vẻ biết ơn. Hắn lại viết và Ngọc đọc:

"Chị Ngọc,

Tại sao chị lại xin lỗi em? Đáng lý ra công việc ấy phải là của em. Nghe một mẩu tâm sự sầu não cũng bực mình lắm chứ, có phải không chị?

Cám ơn chị đã vạch cho em con đường đi đầy ánh sáng. Em sẽ theo lời chị tìm cách ươm đẹp cuộc đời từ lâu em cho là khốn khổ uất nghẹn. Chị cũng như chị Thảo của em, đã cho em những an ủi tuyệt vời.

Có lẽ em sẽ tìm một công việc hợp với khả năng để giúp gia đình và khỏi ăn bám xã hội. Nhờ đó may ra em mới trốn chạy được những nỗi buồn vu vơ, những tháng ngày vô vị đã qua trong cuộc đời câm nín đã ném em vào hổ thẳm của tư tưởng.

Cám ơn chị lần nữa đó".

Đọc xong, Ngọc cảm động đến rưng rưng nước mắt. Nàng nắm lấy tay Minh dịu dàng:

- Chị vui ghê Minh ơi, đôi mắt trong sáng của em không còn vương đám mây mùa thu nữa...

Tiếng guốc vang nhẹ trên sỏi, Thảo với bộ bà ba ngộ nghĩnh nhanh nhẹn bước vào. Vừa thấy Ngọc nàng reo lên:

- Ủa Ngọc, trưa nay dùng cơm ở đây nghe bồ!

Thấy Minh vui vẻ Thảo cũng ngạc nhiên. Ngọc đỡ lấy giỏ chợ:

- Cám ơn nghe. Nhưng mình phải về nhà ăn cơm vì không báo trước, thôi hẹn bữa khác vậy. Nè nói cho mà biết, mình ăn nhiều lắm, hết phần của hai chị em bây giờ!

Trong nhà lại vang tiếng cười. Thảo bảo Minh ra đồng gọi ba má về nghỉ ăn trưa. Minh đi rồi, Thảo thở ra:

- Ngọc xem, thằng em mình thật khổ, nó mang tật nguyền hồi tám tuổi, gia đình Thảo đã khóc nhiều về nó. Càng lớn lên, mặc cảm thua sút với đời càng lớn và điều đó chỉ mang lại khổ tâm thêm.

Ngừng một lát, Thảo cúi đầu như một tín đồ đang cầu nguyện:

- Giả thử thay được số phận cho em, Thảo cũng cam lòng.

Ngọc bùi ngùi vuốt tóc Thảo:

- Chắc Thảo yêu em lắm. Vậy Thảo cố gắng giúp Minh vượt qua mặc cảm ấy để sống thanh thản hơn với đời.

- Vâng, Thảo cũng nghĩ như thế.

Sau một hồi chuyện trò, Thảo đưa Ngọc ra đường cái. Trước khi chia tay, Thảo dặn:

Bữa nào rảnh lên chơi nhé!

- Ừa, nhưng phải có quà cơ.

Hai đứa cùng phá ra cười.

*

Chiếc máy thu thanh mở nho nhỏ ở đầu giường làm Ngọc buồn ngủ lạ.

"Chiều hôm nay ta về
Em nghe bỗng rụng rời
..................
Giờ vui đời có vậy
Thoảng ngày vui qua rồi"...

Nữ ca sĩ có giọng bắc hát bài "Đi chơi chùa Hương" thật hấp dẫn. Tự nhiên Ngọc bật cười:

- Ngày mai ta cũng về rồi!

Hết cả buồn ngủ, Ngọc dậy rửa mặt, đi bách bộ lần cuối cùng trước bữa cơm tối.

Chợt tiếng sáo lại văng vẳng bên tai. Ngọc nghe bồn chồn, băn khoăn. Nàng tò mò muốn biết người chơi sáo đó. Sao chiều  nào cũng ra khu rừng tre đầy gai góc mà thổn thức não nùng.

Vẫn dáng người ấy, vẫn say sưa với âm thanh. Bỗng tiếng sáo vút lên cao cao mãi, Ngọc thấy khó thở rồi "rắc". Tiếng đổ vỡ khô khan chấm dứt điệu buồn. Ngọc thảng thốt, người con trai đã bẻ gẫy thanh trúc tuyệt vời. Hắn xoay mình đứng lên, Ngọc định lẩn tránh nhưng không kịp.

- Trời, Minh!

Qua giây phút bàng hoàng, Minh và Ngọc cùng ngồi bệt xuống vùng đầy lá tre khô. Minh lùa lá dành một chỗ đất trống. Ngọc hỏi:

- Sao em phá hủy thanh sáo? Em chơi tuyệt lắm, chị say rồi đó.

Minh âm thầm viết lên đất:

- "Chị quên rồi sao? Em vâng lời chị đi tìm lối sống lành mạnh và hoạt động hơn kia mà. Rất hân hạnh được khen lần cuối cùng.

Mai chị lên tỉnh rồi, em nhớ chị mãi mãi và kỷ niệm này em sẽ giữ gìn như một hương thơm của cuộc đời".

Bôi xóa hai ba lần mới hết câu nói, Minh ngửng lên nhìn Ngọc. Ngọc cũng ngồi im như một kẻ... câm.

Khu rừng tre lặng yên nghe tiếng nói trong lòng của đôi trẻ.


NHƯỢC MAI      

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 144, ra ngày 1-1-1971)

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

Ngày Về Định Quán


1- Đường về Định Quán

Đã trông thấy tảng đá chồng
Mong xe mau tới cho lòng bớt nôn
Nhìn ngôi trường bỗng bồn chồn
Nhớ bầy trò nhỏ nghe hồn ngẩn ngơ.

2- Dựng lều cho trò

Dây căng kéo phải cho đều
Cọc chôn vững chắc dựng lều mới hay
Các em như chiếc cọc này
Trồng sao cho vững mà xây quê nhà.

3- Bên nồi chè sôi

Nồi chè sùng sục sôi rồi
Các em dọn chén để mời thầy cô
Chè nầy em nấu đơn sơ
Nhưng ăn vẫn ngọt tình thơ của trò.

4- Bên đống lửa

Thầy châm ngọn lửa bốc cao
Lửa lòng thầy cũng nôn nao lúc này
Các em ca hát vui vầy
Tình quê hương bỗng rộn đầy trăm môi.

5- Ước vọng

Các em vui trọn đêm này
Rồi mai tay sẽ rời tay mỗi đường
Thầy mong hè sẽ bình thường
Ta cùng gặp lại mái trường thân yêu.

6- Leo thăm Hòn Chồng

Thầy trò leo mệt ứ hơi!
Đã lên đỉnh dốc thảnh thơi ngồi nhìn
Bao la phong cảnh hữu tình
Ngước trời trông đất tưởng mình lạc tiên.

7- Thoát tục

Hai bề đá dựng nghiêng nghiêng
Thầy trò len lỏi nhìn xiên lên trời
Đường này lên cõi tuyệt vời
Đã quên nhân thế xem đời như mơ.

8- Vọng thạch

Hòn cheo leo giữa lưng đồi
Thầy đôi lúc sống cũng chơi vơi hoài
Đá treo mà đá vững dài
Thầy mong như đá để mài kiên gan.

THẬP CẨM
(3 ngày ở Định Quán)

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 230, ra ngày 1-1-1975)

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

Người Bạn Đồng Hành


Cậu bé có một cái tên rất Việt Nam: Lê-văn-Lộc! nhưng dáng dấp, nét mặt thì tây đặc. Trước khi lên tàu hai hôm, tôi gặp mẹ cậu ở hãng máy bay. Tôi còn đang ngạc nhiên về câu hỏi của bà ấy và chưa kịp trả lời thì em tôi đã nhanh nhẩu đỡ lời:

- Bà này không về Sài-Gòn nhưng mà... con trai của bà về, nó còn bé nên bà đang lo nó đi có một mình dọc đường... Lúc nãy chị vào ghi vé em trót nhận lời bà, rằng: chị tôi sẽ giúp... chị vui lòng chứ? Cũng hay đấy nhá: chị đang kêu nhớ các cháu ở nhà, mà chú bé thì sắp xa mẹ, em tin rằng... (em tôi nheo cả hai mắt cười lên) đây là một dịp tốt cho... cả hai!

Không do dự một giây nào, tôi sốt sắng nhận lời đề nghị đó và hỏi lại:

- Cháu lên...

Người mẹ không đợi tôi hỏi hết, đáp liền:

- Thưa, cháu lên chín. Cháu biết cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt. May quá, gặp bà đây, tôi yên lòng lắm, tôi đang cuống lên. Cảm ơn bà và cậu nhiều lắm.

- Xin bà đừng quan tâm, có cháu, chị tôi càng vui...

Em tôi tươi tỉnh nói và chợt ngừng lại quay về phía tôi, hỏi:

- Này, có chắc chị về cùng chuyến với chú bé không đấy?

Tôi và mẹ cậu bé cùng chìa vé ra trước mặt em tôi. Người đàn bà reo lên:

- Đúng là cùng một chuyến! (bà đưa tay bắt tay tôi) May quá! Hết sức may! Xin chào bà, xin hẹn bà ngày mốt trên phi trường Orly.

Hai chị em tôi đều lặp lại:

- Vâng! Chào bà! Ngày mốt, trên Orly.

Nhìn theo bà ta, tôi không khỏi tò mò, thương cảm. Đó là một thiếu phụ người Pháp, trẻ hơn tôi, nét mặt thanh nhã song nom có vẻ hoảng hốt và mệt nhọc. "Tại người ta gần ngày ở cữ nên thế." Em tôi đưa ra một nhận xét mà cậu cho là rất tinh vi, xác đáng. Nhưng tôi, tôi không tin vậy. Tôi bị ám ảnh bởi bàn tay luôn luôn đưa lên gạt mồ hôi trên trán của bà ấy.

*

Cân hành lý xong, tôi nhìn quanh vẫn không thấy thiếu phụ và người con trai "biết hai thứ tiếng" đâu. Tôi ngỏ ý băn khoăn và em tôi cũng tỏ ra sốt ruột. Thình lình, có tiếng reo khẽ sau lưng làm tôi giật mình quay lại: Thiếu phụ đưa bàn tay ướt đẫm bắt tay tôi, nở một nụ cười buồn, giới thiệu Lộc với tôi. Cậu bé mới xinh xẻo làm sao! Hai má hồng hào, làn da mịn màng, mũi thẳng, mắt nâu và mỗi khi cười hai lúm đồng tiền lộ rõ trông càng dễ mến. Lộc dạn dĩ bắt tay tôi, chào bằng tiếng Pháp. Trông khác hẳn mẹ, Lộc không chút gì bối rối, buồn rầu. Nó cười nói luôn mồm và đứng cạnh mẹ, màu hồng trên da nó càng làm tăng thêm màu tái trên mặt người thiếu phụ. Một bà cụ hao hao giống mẹ Lộc, tóc trắng như cước đang bưng mặt rưng rức khóc.

- Đừng khóc! Mẹ!

Thiếu phụ vừa mở ví lấy khăn tay lau mồ hôi vừa an ủi mẹ, giọng nghẹn ngào. Bà cụ vói tay kéo Lộc vào lòng, lặng lẽ hôn lên mớ tóc vàng hoe của cháu, nước mắt giọt, giọt không ngừng...

*

Dù mẹ nó đã gửi gấm cho tôi, Lộc vẫn "không cần" tôi hướng dẫn, nó lanh chân chen trong đám hành khách về miền Đông, đi ra sân trước. Khi tôi dặn dò và từ biệt em tôi cùng bạn bè xong, quay lại tìm nó thì không thấy nó đâu. Mẹ nó hốt hoảng hơn bao giờ hết, lách đám đông chạy lại bên tôi nhờ tôi chốc nữa lên tàu trao lại nó một cái xắc tay màu nước biển, mặt bà nhòe đi trong nước mắt, nói lời gửi gấm cuối cùng. Tôi cố tìm cách trấn tĩnh bà ta và lặp lại lời hứa trước khi ra sân.

Lên máy bay Lộc lại ngồi cạnh tôi. Vẫn dáng bộ đĩnh đạc, vô tư, nó nhận cái xắc tay và cũng cảm ơn tôi bằng tiếng Pháp. Rồi nó bắt đầu nói chuyện liến thoắng, nó cho tôi biết là nó sang Pháp nghỉ hè với mẹ, giờ trở về Việt Nam ở với cha. Tôi giữ ý sợ nó buồn nên không hỏi han gì, song nó kể phăng mọi việc. Mỗi lần múa may - mà Lộc không chỉ kể bằng miệng, nó còn kể bằng điệu bộ nữa - đụng nhằm chân, thúc vào hông tôi, cậu bé lại có vẻ hối hận, nên dừng lại, bỏ dở câu chuyện, ân cần hỏi:

- Tôi làm bà đau? Tôi xin lỗi nhé!

Dĩ nhiên, tôi lập tức trả lời là Lộc nên yên tâm, tôi không đau lấy một ly nào, để chú bé yên lòng kể chuyện. Thế là Lộc lại múa may như trước, nó nói mau cho đến nỗi có khi tôi không nghe kịp, nhưng không muốn cắt ngang, tiếng nó trong, vang lên như tiếng suối theo một âm điệu thật êm tai.

Trái với lệ thường, máy bay đã nổ máy rồi, hành khách đã buộc dây lưng an toàn rồi, nhân viên phi hành ai vào chỗ nấy hết, họ lại thay đổi giờ bay chỉ vì có vụ lộn xộn đâu bên... Ấn Độ!

"Chậc! Người lớn gì mà hay đánh nhau quá! Y như trẻ con!" Lộc nhún vai phê bình một câu ra vẻ rất bực mình. Hành khách náo cả lên, song rồi cũng "đâu vào đấy cả" sau khi có tiếng cô chiêu đãi viên mời hành khách xuống phi trường ăn trưa.

Tôi nắm tay cậu bé đứng lên. Lộc phàn nàn: "Ăn làm chi? Ăn tốn tiền thêm." Tôi vội cắt nghĩa cho Lộc biết là hành khách sẽ được ăn no mà không phải trả một đồng nào hết, dù là chỉ trả tiền bánh ngọt.

- Phải! Họ làm mất thì giờ mình quá mà, bộ chuyện chơi sao? Còn đòi tiền sao được, tôi cũng nghĩ vậy.

Lộc lên giọng sành sỏi khi đi song song cạnh tôi.

Vào phòng ăn, tôi để Lộc chọn bàn. Lộc lựa ngay cái bàn vuông có hai sinh viên Ấn Độ rất trẻ. Lộc cho tôi biết tại sao:

- Tôi rất ghét ngồi bên đàn bà, đàn bà họ hay nói, hay hỏi, tò mò quá, đàn ông với nhau vui hơn...

Đang ngon trớn, cậu bé bỗng "hãm phanh" vì biết mình lỡ lời, chữa:

- Tôi xin lỗi, tôi làm phiền bà chắc? Tôi không có định chê bà, đó là tôi nói...

Tôi vội vàng biểu đồng tình:

- Lộc nói đúng lắm. Tôi cũng giống như Lộc, lúc nhỏ tôi ghét đàn bà lắm!

Thế là Lộc vui vẻ, yên lòng kết bạn với hai thực khách cùng bàn. Chỉ trong nháy mắt, chuyện đã nở như ngô rang. Hai anh chàng Ấn Độ há hốc mồm ra thán phục cậu bé "đi nhiều hiểu lắm" thật tình. Một anh nói:

- Con bà thật tuyệt, hồi tôi bằng  cậu áy, tôi ngu lắm kia.

- Ơ! Anh nhầm đấy! Em đâu phải con bà ấy? Chúng tôi là bạn đồng hành mà!

Hai anh chàng tắc lưỡi như thạch sùng trước một cậu bé lịch lãm, từng trải: mới chín tuổi mà đã viếng La Mã, Luân Đôn trong một mùa hè, kể chuyện Venise, Veronne nghe vanh vách...

Trong lúc ăn, Lộc vô ý giây nước "ra-gu" ra khăn, cậu có vẻ xấu hổ làm hai sinh viên Ấn phải vờ quay đi, không nhìn thấy, còn tôi thì tôi phải an ủi:

- Lộc phải biết con tôi ở nhà mỗi bữa ăn còn làm đổ gấp năm lần như thế ấy chứ lại, đâu được như Lộc.

để Lộc yên lòng.

Sau bữa ăn, trở lên tàu, Lộc không ngồi cạnh tôi nữa mà chọn một trong hai sinh viên Ấn. Vội vàng thế nào, Lộc lại giẫm lên chân tôi, song nóng theo bạn mới, lần này cậu bé quên câu xã giao lịch sự mà chỉ cười trừ.

Thỉnh thoảng, Lộc ngừng trò chuyện, lại gần tôi, lễ phép mượn cái lược chải tóc, hoặc trịnh trọng báo tin rằng: "Tôi đi xuống phòng vệ sinh, bà đừng lo."

Tuy ngồi xa, thỉnh thoảng từ ghế trên Lộc quay xuống cười với tôi, ý muốn nói: "Bà thông cảm, cháu cũng mến bà lắm nhưng đang vui câu chuyện."

Sáng hôm sau hai sinh viên Ấn Độ xuống tàu. Lộc yêu cầu tôi đi với nó tiễn hai bạn ra xe ca.

Lần này trở lên tàu, cậu bé ngồi cạnh tôi và không quên mượn cái lược để chải tóc lần nữa.

Khi sắp đến Tân Sơn Nhất tôi hỏi em:

- Có ai ra đón Lộc không? Nếu không tôi sẽ đưa em về nhà...

Cậu bé nhanh nhẩu:

- Bà đừng lo, có ba cháu. Ba cháu sẽ ra đón. Cảm ơn bà!

Lộc nói tiếng Việt rất thành thạo, giọng miền Nam, trong, ấm và ngọt ngào. Tôi hết sức ngạc nhiên, vì hai hôm nay trên tàu nó không bao giờ dùng tiếng Việt khi trò chuyện. Tôi không nén được tò mò:

- Sao bây giờ em lại nói tiếng Việt?

Lộc giương đôi mắt nâu trong sáng nhìn tôi, không trả lời mà hỏi lại:

- Bà có biết rằng chúng ta đã về đến Việt Nam không? (Và cười to)Về Việt Nam thì phải nói tiếng Việt Nam chứ!

- À! Ra thế! Tôi hiểu rồi, Lộc thông minh lắm.

- Cháu không thông minh đâu, cháu phải như vậy, kẻo người ta rầy...

Và nó nheo mắt lại, nhìn tôi, như ngầm bảo: "Đừng có hỏi người ta là ai, tôi không nói đâu! Tôi phải giữ bí mật."

Tôi rút chiếc lược trong xách tay, trao cho cậu bé:

- Biếu Lộc nhé? Tôi muốn em giữ một kỷ niệm, vì chúng ta đã đi chung một đoạn đường dài, tôi mến em lắm...

- Cháu cũng mến bà, nhưng cháu không muốn nhận lược, cháu chỉ muốn bà lại chơi nhà cháu hơn.

- Tôi sẽ đến thăm Lộc chứ, nhưng hãy nhận cái lược đi cho tôi vui nào!

Cậu bé sáng ngời mắt, đón cái lược trên tay tôi và cảm ơn cẩn thận.

Tôi nhắc:

- Ghi địa chỉ cho tôi đi!

Nhưng tôi nói chưa dứt tiếng thì bánh xe lăn trên phi đạo đều đều rào rạo cũng vừa ngừng. Cậu bé nhấp nhỏm đứng lên, để cho nó vui, tôi cũng đứng lên theo và khi cái thang vừa bắc lại là tôi với Lộc xuống trước tiên.

Vẫn ríu rít như chim non, nó vượt lên trước, chạy lại người đàn ông chực sẵn trước hàng hiên của phi trường. Người cha cúi xuống, hai cánh tay rộng mở ôm choàng lấy con trai. Nhưng Lộc kín đáo liếc về phía tôi, khẽ thì thào với cha gì đó và người đàn ông buông con ra, tiến lại phía tôi, ấp úng:

- Xin chào bà, bà đã săn sóc hộ cháu trong lúc đi đường... Xin cảm ơn bà...

- Không có gì, có cháu tôi càng vui, ông ạ!

Một người đàn bà nhanh nhẹn, xinh xắn cũng vừa trờ tới cười với tôi và khẽ chào đoạn cúi xuống hôn lên trán Lộc. Tôi thấy nhẹ cả người. "Cuộc gặp gỡ quả là tốt đẹp" tôi thầm nhủ trong một niềm xao xuyến bâng quơ.

Xong thủ tục giấy tờ, tôi quay lại tìm Lộc đặng lấy địa chỉ khi nào rảnh thì đến thăm như đã hứa, và từ biệt luôn.

Tôi nghe người đàn ông nói với Lộc trong lúc tôi còn cách họ chừng ba bước và Lộc vẫn đang trong tay cha:

- Mẹ con...

Người cha chưa dứt lời, bỗng thằng bé xô cha ra, lao về phía tôi. Tôi sửng sốt, trong lúc mất bình tĩnh đó, tôi không biết làm gì khác hơn là vội vàng đưa tay cho Lộc. Tôi thoáng nghĩ: "Nó muốn từ biệt mình, sợ mình đi mất." Nhưng tôi lầm, nó không bắt tay tôi, nó ôm chầm lấy tôi, bật lên khóc, nó khóc một cách tức tưởi, toàn thân bé nhỏ run rẩy trong vòng tay tôi.

Cha nó và người đàn bà ngây người, nhìn tôi ra ý dò hỏi. Tôi cũng lúng túng không kém họ. Tôi run tay vuốt lên mớ tóc vàng hoe của Lộc, nghẹn ngào, không biết giúp họ cách nào.

Chợt, thằng bé ngẩng lên nhìn tôi, đôi mắt biểu lộ tất cả đau đớn và sợ hãi, nét hốt hoảng ghi đậm trên khuôn mặt ngây thơ ướt đẫm làm tôi xúc động lặng người vì liên tưởng đến khuôn mặt nhòe nước mắt của mẹ nó sáng hôm đưa nó lên tàu.

Tôi như vừa bị hụt chân, vội vàng quay đi phía khác. Tôi không thể nào cầm giữ nước mắt được lâu hơn, nếu tôi còn nhìn nó, tôi biết thế. Và sau cùng, dù đã cố gắng hết sức tôi không thể thốt lên được lời từ biệt Lộc, tôi cúi xuống hôn phớt lên tóc nó, cố trì hoãn cho lắng sự xúc động, rồi tôi bước mau, quên cả chào hai người trước mặt.

*

Trong nắng quái vàng hoe của một chiều cuối hạ, ngoái nhìn lại tôi còn thấy Lộc đứng im sững như một pho tượng gỗ, mặc cho cha và người đàn bà xinh đẹp bối rối nhìn nhau. Tôi cố nén, nhưng không được nữa...

Nhà tôi quay nhìn thấy, anh gắt lên:

- Mợ rõ kỳ khôi! Mừng vui mà cũng khóc...

Mắt tôi mờ đi, hai tai tôi ù lại vì tiếng động cơ mỗi lúc một to của hàng loạt xe xuôi ngược trên đường. Tôi chớp mạnh một cái cho nước mắt tuôn mau và chợt nhớ: Lộc chưa ghi địa chỉ...


MINH QUÂN   


(Trích trong tập truyện Chim Họa Mi của Đại Vương Trung Quốc, tủ sách Sao Mai, 1969)

 -------------------------- 
Chân thành cảm ơn anh Đinh Thanh Nguyện đã scan và gởi tặng tập truyện này.

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

Bác Đèn Dầu Khó Tính


Đồng hồ đã gõ mười hai tiếng tình tang trong đêm vắng, âm điệu thật buồn. Đã nửa đêm rồi đấy! Thế mà trên chiếc bàn học bé nhỏ của Phú, bác đèn dầu vẫn phải chịu đứng hầu. Sáng choang. Ánh sáng của bác soi tỏ những dòng chữ đen chi chít, nhỏ li ti trong cuốn "Câu Hỏi Thường Thức" mà cậu bé Phú đang gò lưng ra sức học miệt mài.

Bác đèn dầu "căm" cậu bé Phú vô cùng, vì rằng thì là đã nửa đêm rồi mà cậu ta chưa cho bác đi ngủ, bắt bác đứng "chầu" hoài, y như ông quan cận thần phải đứng chầu bên bệ rồng của Vua vậy. Thật là khổ! Thử hỏi ai mà buồn ngủ quá rồi, thì có thể đứng hoài như thế được không? Hẳn là không! Vì khi sự mệt mỏi tột bực đã đến với cơ thể rồi, thì hầu hết người ta đều chẳng làm được việc gì mà muốn làm đi chăng nữa cũng chẳng làm được và lúc ấy, chỉ có giấc ngủ là cần, chỉ có giấc ngủ mới giải quyết được mọi vấn đề mà thôi. Thế mà...!

Bác đèn dầu bực mình, lên tiếng bẳn gắt:

- "Bố" cái thằng nhãi Phú! Nó chẳng biết điểu tí nào cả! Nó chẳng biết quí trọng giấc ngủ của người ta. Nó quấy rầy, nó hành tội. Nửa đêm khuya khoắt mà nó chẳng để mình yên. Nhất là cái thân "già" này, đã mệt mỏi quá rồi! Chả lẽ nó bắt mình thức trắng đêm với nó hay sao?... Ái chà chà! (bác dẩu môi ra) Làm như ta đây siêng học dữ lắm không bằng! Suốt ngày chỉ vùi đầu vào sách, vào vở léo nhéo luôn miệng. Ối dào! Biết có thi đậu không đấy? Hay lại đi tuốt luốt, làm uổng công hao mòn thân thể của "già" này, hằng khuya hằng sớm đứng chầu một bên cho nó học?

Đó là những lời mà bác đèn dầu mỉa mai cậu bé Phú. Số là ngày thi đệ thất sắp đến rồi, nên hằng ngày, hằng đêm, hằng sớm, cậu bé Phú lo lắng ; lo cho sự thi cử của mình ; nên siêng năng chăm chỉ học ôn lại bài. Cậu bé hết học câu hỏi thường thức ; lại đến luyện toán, đến luận văn ; mong sao cho thông suốt thuộc làu, để lúc làm bài thi khỏi phải vấp váp bỡ ngỡ. Vì vậy mà cậu bé đã quấy rầy đến bác đèn dầu ít nhiều. Đêm đêm, cậu chong bác trên bàn, ngồi học. Sáng sớm thức dậy, cậu cũng chong bác lên. Bác đèn dầu "căm" cậu và mỉa mai cậu cũng là vì ở chỗ đó!

Kể ra thì bác đèn dầu này cũng có... hơi kỳ! Tại sao bác lại đi căm tức và mỉa mai một cậu học trò, khi cậu học trò này vô cùng siêng năng?

Siêng năng là một tính tốt, mà cậu học trò nào cũng cần phải có, mà tại sao bác lại không biểu đồng tình? Nhẽ ra thấy cậu bé Phú lo học hành như vậy, thì bác phải thương, phải khuyến khích cậu thêm mới phải chứ?! Đằng này bác chẳng hề như thế bao giờ, mà bác lại còn "lên án" cậu bé Phú, rằng thì là cậu quấy rầy bác. Thiệt kỳ. Thì ra bác chỉ biết sống cho riêng mình, và chỉ muốn cho thân mình lúc nào cũng được sung sướng, chứ bác không chịu khổ. Thế là bác có hơi... ích kỷ rồi đấy! Bác chẳng có tấm lòng hy sinh, và cũng chẳng có tinh thần phục vụ, dù rằng bác đang phải đóng giữ hai vai trò đó. Hy sinh và phục vụ cho "kẻ sĩ" trau giồi, dùi mài kinh sử mà bác lại cho là một điều khổ, thì bác chẳng có lương tâm tí nào. Tại sao bác không nghĩ rằng, những người "dùi mài kinh sử"  dưới ánh sáng của bác như vậy, rồi một ngày kia khi họ đi thi, họ sẽ đạt được thành quả tốt đẹp sau bao cố gắng chuyên cần, thì lúc ấy bác cũng được hãnh diện lây đôi chút chứ! Bác cũng có công trạng với người đó đôi chút chứ! Tại sao bác không nghĩ thế đi mà tự lấy làm sung sướng, vì đã giúp ích được cho người, cho đời. Như thế có phải hơn không? Có phải bác đã trở thành một bậc trưởng thượng hy sinh vì đại nghĩa không? Hay hơn thế nữa là bác đã góp công vào việc đào tạo nhân tài. Bác đã thắp sáng lên linh hồn và trí tuệ của biết bao kẻ sĩ, từ cõi u tối về nơi quang nhuần ; có phải bác đã trở thành quan trọng đối với đời không? Vậy mà bác lại đi cảu nhảu, càu nhàu ra mặt, không muốn ai quấy rầy đến bác, không muốn làm việc công ích. Thế thì công lao của bác hằng đêm đứng "chầu" mệt mỏi, cũng chẳng đáng ghi ơn tí nào. Rõ uổng!

Nhưng cũng tình ngay mà nói, thì lòng dạ của bác đèn dầu không xấu xa vị kỷ quá như vậy! Đừng vì một phút bực mình bẳn gắt của bác mà đoán con người bác như thế, cũng tội cho bác. Hãy thử nghĩ rằng khi mình buồn ngủ quá rồi, mà ai sai mình làm một việc gì, thì coi mình có bực và càu nhàu trong miệng không? Hẳn là có! Vì thế cho nên, bác đèn dầu nhiều lúc bẳn gắt và mỉa mai cậu bé Phú như thế, chẳng qua là vì bác đã buồn ngủ. Vâng, bác buồn ngủ lắm! Vậy mà phải đứng hầu hoài, nên bác mới nổi quạu, mới càu nhàu. Ta cũng nên thông cảm cho bác.

Và đêm nay, đêm cuối cùng của bao đêm thức trắng chuyên cần, để rồi đêm mai cậu bé Phú sẽ không còn thức khuya mà chong bác đèn dầu lên học bài nữa. Vì sáng ngày mai, cậu đã đi thi rồi. Và cũng vì lẽ đó, mà đêm nay cậu bé thức khuya hơn mọi đêm. Bác đèn dầu cũng phải bị thức theo.

Đồng hồ đã gõ mười hai tiếng, Phú vẫn ngồi học ôn bài. Trong ánh sáng vàng vọt của bác đèn dầu, trông cậu bé xanh xao đến tội nghiệp ; cũng vì cậu bé lo học quá! Vậy mà bác đèn dầu không thương, lại còn mỉa mai cậu này nọ. Phải chi bác đèn dầu biết cậu là một học trò siêng năng, và bác đừng buồn ngủ trước cậu, thì có lẽ bác sẽ thương cậu hơn. 

Đồng hồ lại gõ một tiếng êm đềm. Tình tang. Tiếp theo đó là tiếng tíc-tắc tíc-tắc nhịp nhàng, đều đặn. Bác đèn dầu lúc này ngủ gục, ánh sáng của bác hắt hiu mập mờ. Và kìa! Cậu bé Phú cũng đã gục xuống bàn ngủ khò tự lúc nào. Ô hay! Thì ra cả hai bác cháu đều mệt mỏi tột bực.

Nhưng một lúc, bác đèn dầu bỗng giật mình thức dậy. Nhìn thấy Phú đang thả hồn say sưa trong giấc mộng vàng, bác lại lên tiếng càu nhàu cậu bé:

- Thằng lỏi! Nó ngủ rồi mà không cho mình ngủ với. Chả lẽ nó bắt mình đứng đây hoài tới sáng hay sao? Như thế thì còn gì cái thân của "già" này nữa? Khổ ơi là khổ! (rồi bác quát lớn): Bớ Phú dậy cho tao đi ngủ nhanh mày!

Nhưng cậu bé vẫn thiếp đều. Và trong đêm khuya khoắt im lìm, mọi vật đều ngủ say ngủ vùi hết cả. Chỉ còn lại mình bác đèn dầu đứng chơ vơ giữa bàn, với cơn giận đang sôi lên sùng sục. Bác ta lải nhải chửi đổng luôn miệng. Nhưng mặc cho bác muốn chửi sao thì chửi, đêm vẫn là đêm, vắng lặng vẫn là vắng lặng. Cho dù bác có lải nhải chửi hoài đi nữa thì cũng chẳng lọt vào tai ai lời nào.

Thế là bác ta đành chịu thức mỏi mắt. Chờ khi nào cậu bé Phú thức dậy, bác ta mới được đi ngủ. Nhưng lúc ấy thì còn lâu! Vậy cũng đáng đời. Cho bác đèn dầu từ nay hãy bỏ cái tật khó tính, và ưa bẳn gắt của bác đi.


LÊ TRUNG   
(Biên Hòa)     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 72, ra ngày 7-1-1973)

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

Khi Ông Nghè Vinh Quy

Nguồn : Hà Tĩnh

Ông Nghè, Ông là ai?

Theo Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, Nghè là các phòng làm việc trong điện-các nhà Vua. Đời Lê chỉ những người (thi Đình) đậu Tiến Sĩ mới được vào làm việc trong các, nên mới gọi Tiến SĩÔng Nghè. Tuy nhiên đến triều Nguyễn danh từ Ông Nghè đã bị lạm phát. Dưới thời này những người được vào làm việc trong các, dù không đỗ Tiến Sĩ, cũng được gọi là Ông Nghè tuốt.

Như vậy không phải Ông Nghè nào cũng là Tiến Sĩ.

Khi Ông Nghè Vinh Quy

Cũng như nhiều nước ở phương Đông ngày xưa, sự thi đậu, đại đăng khoa ở nước ta rất được tôn trọng. Thi cử xưa kia khó khăn, ba năm mới có một khoa, số sĩ tử được chấm đậu không nhiều.

Mỗi khoa thi tại các cổng trường thi đều có treo mấy chữ đại tự Thiên Tử Cầu Hiền chứng tỏ người đỗ đạt được quí trọng đến bực nào.

Một vị hàn nho hôm trước, hôm sau đã trở nên Ông Nghè, rồi mai đây được ơn Vua lộc nước sẽ làm cha mẹ dân.

Chính vì vậy nên các ông Tân Khoa khi Vinh Quy Bái Tổ được đón rước rất trọng thể.

Đậu Tú Tài được hàng Xã đón rước.

Đậu Cử Nhân được hàng Tổng đón rước.

Đậu Đại Khoa, nghĩa là từ Phó bảng trở lên được hàng Huyện đón rước!

Thật là vinh dự.

Mỗi người đậu đều được báo tin về làng. Hương chức trong làng vội vàng cử người đến gặp vị Tân khoa để xin ấn định ngày vinh quy.

Đến ngày ấn định đám rước được tổ chức sẵn và đón đợi vị Tân khoa ở đầu làng, đầu tổng hoặc đầu huyện tùy theo sự đỗ dạt của vị này.

Đậu Đại khoa, nhất là đậu Tiến Sĩ, đám rước long trọng lắm, xưa ta gọi là Đám Rước Ông Nghè.

Nhưng dù ông Nghè, ông Cử, hay ông Tú, đám rước cũng cử hành lộng lẫy. Đi đầu là cờ quạt rồi đến các đồ bát bửu lệ bộ. Kế đến cờ biển của Vua ban nếu đậu Đại khoa.

Sau cờ biển là đến kiệu võng có che lọng của thầy học và cha mẹ Ông Nghè, rồi mới tới Ông Nghè.

Ông Nghè đi trước, bà Nghè đi sau đúng với câu ca dao:

Võng anh đi trước, võng nàng đi sau.

Đi dọc đường, trống đánh báo hiệu cho dân chúng biết. Dân chúng kéo nhau ra xem mặt Ông Nghè. Ông Nghè sung sướng vì đã nhờ có kết quả sự học mà dương thanh danh, hiển phụ mẫu.

Dân chúng cũng mừng, và vui vẻ đi rước Ông Nghè. Ông Nghè đã chứng tỏ rằng làng, tổng mình là đất văn học.

Về tới nhà, Tân khoa lễ Tổ tiên và lễ đức Khổng Tử.

Sau đó là việc khao hàng Huyện, hàng Tổng hay hàng Xã, tùy trường hợp.

Lệ khao này tuy có tốn kém, nhưng có ngại chi, họ hàng, bạn bè, làng nước ai cũng vui lòng tới mừng và giúp đỡ về tài chính nếu cần.

Vinh quy bái tổ xong, Ông Nghè chờ lệnh vua đi nhậm chức.


(Theo TOAN ÁNH, "Nếp cũ, con người Việt Nam". Nam Chi Tùng Thư xuất bản).


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 230, ra ngày 1-1-1975)

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

Để Khi Về Làng Cũ













Để khi về thương mùi hương nếp mới
thương sông xưa - sông lấp thành đồng
bến đò vắng đâu còn ai đứng đợi
cho tuổi thơ hồng nhóm lửa chờ trông

để khi về nhớ từng tên đứa bạn
thuở ấu thời trôi mải miết còn đâu
quần áo mới cũng đành thôi phai bạc
cho tháng ngày dâu bể bể dâu

để khi về qua cầu long ván gỗ
cá lội ngược giòng nước chảy xuôi mau
bông hoa súng trắng ngần tươi rói nở
đàn chim sâu bắt bóng nhớ thương ngày

để khi về nhìn bóng dừa nghiêng nước
đám cải hoa vàng nắng thắp tàu cau
đường quê xưa có dáng bướm ong bay
hương sắc mới trên từng bông hoa dại

để khi về nhớ đình xưa mái đỏ
rêu phong xưa phủ lấp tháng ngày
quần áo mới mùa hội hè đình đám
cho niềm vui thơ dại cũng ngập đầy

để khi về thương quang gánh nặng
mẹ đường xa qua phố quận tinh sương
lúa đòng sai trên nhành mới lung lay
cơn gió nhẹ thoáng hương đồng cỏ nội

để khi về thương ấu thời thơ dại
những trò chơi bày vẽ từng mùa
cười rộn rã trong nắng oi ngày hạ
hay âm thầm trong gió chớm thu, đông

để khi về góp năm ba kỷ niệm
nhớ từng tên đứa bạn thuở ấu thời
lật trang vở để mơ về trường cũ
những thầy cô ngày tháng cũng dời xa

để khi về nhặt bằng lăng tím rụng
bên giậu thưa bông bìm bịp xum xuê
nghe chim hót trong nắng chiều quê cũ
chợt bâng khuâng tiếc nuối vô cùng

để khi về chẳng còn như thuở ấy
bờ ao xưa, cầu gỗ mục trôi giòng
đàn cá lượn bơ thờ bên khóm súng
hoa cũng tàn nhụy rửa phấn hương

để khi về dừa xanh già cổ thụ
vườn rau xưa ong bướm chẳng buồn bay
trường học cũ dựng thành đồn, bót đứng
thuở ấu thời trôi lãng đãng sương mây.

                                           TRẦN HUY SAO
                                          (Một mùa bằng lăng)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Quý Sửu, 1973)

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

Còn Đâu Là Bạn Vui


1
Cái tin mới quá, lạ quá. Những danh từ em chưa nghĩ tới, chưa ngờ được. Nỗi bàng hoàng, sửng sốt hay mừng vui em không biết, chỉ biết một cảm giác lạ lùng chưa từng gặp, chưa từng có, đang ùa tắp đè nặng trái tim em. Mơ hồ như mọi cái lay động, chao nghiêng, nhòa nhạt. Buốt giá hơn nỗi buồn em đang ôm giữ, một cái gì đó thật to lớn bao trùm cả khung trời bình yên. Mơ hồ bên tai em lời bạn nói, thật điềm đạm, từ tốn, lời nói không xôn xao như điều đang nói, không hân hoan như niềm vui chứa ẩn trong tim. Cái điềm đạm đó, cái lạnh lùng đó đã sắp sửa em không còn nghe, em không còn thấy, em không còn được gặp.

Em nhìn Nguyễn, bạn hơi mỉm cười. Nguyễn biết em chưa tin, biết em không ngờ. Bạn có vẻ như chờ đợi em hỏi, chờ đợi em nói. Hỏi làm gì, hỏi cái gì. Hỏi sao bạn thay đổi, sao bạn nhận lời, hay hỏi người đó là ai, tên, tuổi, địa vị? Với em điều đó chẳng đáng hỏi, chẳng đáng quan tâm. Vì đã rồi, đã chắc chắn sau một đám dạm. Câu đáng hỏi là bao giờ. – Cuối năm nay, sau Noel vài ngày – Thế là đủ, chỉ cần biết ngày em xa hẳn bạn, ngày mà em chưa nghĩ đến, chưa thắc mắc bận tâm. Em còn mải yên vui trong sách vở học hành. Mới hôm qua đây đọc câu thơ Đường xa sách vở còn dài, em sợ nhà trai sính lễ, học hành dang dở đi thôi. Em đã mỉm cười, định mang đọc cho bạn nghe với lời bình phẩm – còn đi học sao lại thế được? –

Em phải nói lời nào chứ, bạn đã dứt lời lâu rồi. Nói gì đây? Báo tin cho bạn hay rằng em vừa rớt Luật ư, cho bạn hay rằng quyển truyện em vừa mua đọc cảm động, băng nhạc mới ra nghe hay lắm. Hay là đưa cho bạn xem tờ TH với giọng cười vui vẻ – xem này Nguyễn, truyện Linh Hương vẫn hay như ngày tụi mình đọc Biển Lặng. Có nên kể cho bạn nghe suốt mấy tháng miệt mài bên sách vở và thi cử không đến được với bạn. Hay kể nỗi hồi hộp hôm nghe xướng danh, kể nỗi buồn khi tên mình kèm theo chữ hỏng. Kể cho bạn nghe nỗi mừng vui ngày ghé qua trường bạn, biết rằng bạn thành công. Kể nỗi hân hoan với niềm vui của bạn và ngậm ngùi với nỗi buồn của em. Tự nhiên tất cả nhỏ nhoi quá, tầm thường quá bên cạnh tin bạn vừa báo. Thế mà suốt đêm qua em đã nghĩ sẽ kể cho bạn nghe bao chuyện trong những ngày xa cách. Sao em chỉ yên lặng nhìn bạn. Đại đăng khoa, tiểu đăng khoa, niềm vui của bạn đầy ắp có san sẻ cho em chăng, có nghe em cười hân hoan sung sướng theo niềm vui bạn hay từ nay bạn chia xẻ cho ai khác rồi. Cái điều tuyệt đối trong hồn em đổ vỡ, điểm tựa vừa nhấc ra. Em đang rơi trong nỗi vô cùng đó. Từ giã bạn ra về, con đường Trần Quốc Toản xa tắp và nhòa nhạt.

2
Hai chữ N quấn vào nhau màu đỏ thẫm, nổi bật trên góc phong bì, có bao giờ em nhận từ tay bạn tấm thiệp đâu, quà Tết của chúng em là những tập thơ nho nhỏ nhưng đầy ắp tình thương mến, còn những tấm thiệp làm sao có thể nói lên tình bạn thiêng liêng của chúng em. Ngày hôm nay nhận từ tay bạn tấm thiệp, to lớn và khác lạ, em chưa từng nhận, chưa từng để ý tới. Mở tấm thiệp ra là thôi em đã mở cho em một cánh cửa mới đi vào khung trời mới. Nơi đó không có bạn, chỉ em một mình, cái một mình bơ vơ mà chưa bao giờ em cảm biết.

Những ngày kế tiếp, em ngập ngừng qua đường phố Lê Lợi, lạc lõng trong Tax, qua hành lang Eden, lang thang trong Crystal Palace. Em tìm thấy gì nơi đó. Trong ồn ào của đường phố, trong những cửa hàng sang trọng, em tìm nơi đâu cho được món quà mừng bạn. Món quà nào có thể thay được lời em muốn nói cùng bạn, thực tình mừng cho bạn, thực tình mong bạn yên vui hạnh phúc. Những bộ ly tách, những món quà trang trọng… Đã biết điều tuyệt đối không có được sao em vẫn cứ đi tìm, đó mới là món quà em muốn trao bạn. Qua đường Nguyễn Huệ, gian hàng nào to lớn mang hình ảnh ngày vui của bạn. Em đứng lặng ngắm, hình ảnh đẹp rực rỡ. Bạn em sẽ như thế đó sao, áo mới và điểm trang lộng lẫy. Thật là xa lạ, hình ảnh mà em chưa tưởng tượng ra được vì bởi quen thuộc làm sao hình ảnh đơn sơ, cả một thời học trò áo trắng. Bạn là niềm vui, bạn là nỗi buồn. Nào đâu là một hình ảnh lộng lẫy đến thế này. Nhiều lần em đọc trên Tuổi Hoa những lời chúc mừng, những tin mừng. Đọc để biết thế thôi, chẳng có gì là mừng, là vui, là đáng nói. Bây giờ em biết giá trị của những dòng chữ ngắn ngủi đó, là cả một khung trời mới, là cả một sự đổi thay vô cùng.

Bạn không hỏi han, không thắc mắc em vui hay buồn. Bạn trầm lặng, bạn lạnh lùng, bạn như băng đá. Ngần ấy những quen thân đó, đột nhiên rời xa khuất dấu.

Sống cạnh những lạnh lùng băng giá đó em vẫn có cảm giác êm đềm, dễ chịu. Chỉ biết trong lòng em nỗi ấm áp khi niềm vui được cảm thông, niềm đau được dành dỗ. Em như nhìn suốt qua băng đá, một quả tim nhỏ nhoi đầy ắp mến thương dành cho em. Và thế đó em đã sống suốt những tháng năm bình yên bên cạnh bạn, miệt mài bên sách vở. Gìn giữ, nâng niu, em đã quý trọng tình bạn trong sáng đó biết bao. Chưa một chuẩn bị, chưa một báo trước, sao bạn đành bỏ em ra đi. Em biết bạn hiểu nỗi bơ vơ của em khi xa bạn, bạn hiểu nỗi bàng hoàng trong hồn em, bạn biết những ngày tới niềm vui, nỗi buồn em đành một mình ôm giữ. Nơi bạn sắp đến là đâu, em chẳng biết. Về với ai cũng là xa, là mất hút. Từ nay chẳng còn những vui đùa hồn nhiên cạnh nhau. Lần đầu bạn đành làm ngơ trước những thay đổi lớn lao trong hồn em, không còn mỉm cười như cảm thông, như chia xẻ.

3
Những hàng xe hoa kỳ bóng loáng trong tầm mắt em, từ bao lâu cũng từng đi qua con đường này mà sao không để ý không quan sát và cũng trầm trồ hay ước mơ. Sao em chỉ thấy những bìa sách trang nhã dễ yêu, đã bỏ hằng giờ cùng bạn đi giữa hai hàng sách, bối rối biết chọn quyển nào cho hay, cho hợp. Sao em chỉ thấy những băng nhạc lôi cuốn, hai đứa đã dừng chân, đã chọn lựa. Với em tháng ngày qua là sách vở, là âm nhạc, là bạn dấu yêu, là văn bằng cử nhân đang chờ đợi. Em quên mơ ước ngồi trên chiếc xe lộng lẫy, em quên rằng có những tấm thiệp hồng. Em quên khung trời rạng rỡ đó. Mà nay bạn nhắc em nhớ, điều đó có thực trong đời sống này, thực hơn những gì em đã có.

Cái tin còn mới quá, như một mũi thuốc tê tiêm vào chưa tan hết. Em chưa có một cảm giác gì rõ rệt, chỉ mơ hồ thấy nỗi bàng hoàng, mơ hồ biết khoảng mênh mông trống vắng khi xa bạn, khi bạn bỏ em mà rẽ về lối khác thật bất chợt, không ngờ.

4
Quan sát những dụng cụ nho nhỏ thơm ngát mùi thơm thật dễ chịu mà sao từ lâu em không hề chú ý tới cũng như không khi nào ngồi trước khung kính này quá năm phút, em lúng túng khi nhìn cả hộp đầy những cái em chưa cầm đến bao giờ. Cả nhà cười vui khi em ngẩn người ra nghe bà chị giảng giải. Chao ơi là cả một lô danh từ mới, son, phấn, bút sáp… em phải sắp sửa làm quen với bao nhiêu xa lạ, bạn yêu quý, thực tình em chưa hề mong muốn.

Đã sẵn sàng, đã chuẩn bị. Áo mới đã lấy về, giầy mới đã đóng xong, son phấn chờ đợi. Món quà đã gói cẩn thận trông tươi đẹp hân hoan. Ngày mai, sau những phút giây vui tươi rực rỡ bạn về với người. Còn em, khi lau hết phấn son thì biết rằng từ lúc đó, thôi còn đâu là bạn vui, còn đâu là bạn yêu của xa xưa cũ.


Nguyễn Quỳnh      

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 230, ra ngày 1-1-1975)

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

Chú Bé Trên Sa Mạc


Khi mới chợt trông thấy chú (lời tác giả), tôi thấy rợn người và dựng tóc gáy: Chú ngồi xổm trông như 1 pho tượng đồng thau bên 1 bụi cây xanh rì nổi bật giữa bãi sa mạc. Chú đeo 1 cây nỏ ngang người, lủng lẳng bên sườn 1 ống đựng những mũi tên nhọn và sắc bằng xương dài không hơn 1 cây viết chì. Lúc này tôi đang ở giữa 1 vùng sa mạc hoang vu của miền Nam Phi Châu: Sa mạc KALAHARI (Ca-La-Ha-Ri).

Tôi chợt nhớ lại lời dặn của 1 người bạn: "Đừng có dại mà băng qua sa mạc Kalahari (Ca-la-ha-ri) một mình", anh ta còn nói thêm: "... nếu chẳng may xe anh có chết bất tử giữa đường, anh có thể kẹt ở đó hàng ngày trước khi gặp được 1 người khác".

Giờ đây, bình đựng nước của chiếc xe hơi của tôi bị thủng 1 lỗ, do đó nước đã chảy hết ra ngoài nên chiếc xe bị chết máy giữa đường cách xa 1 làng gần nhất cũng khoảng 50 cây số. Tôi đã ngồi yên trên xe hàng giờ để suy nghĩ để tìm cách cứu vãn, tôi có nên đổ hết nước dự trữ để uống trong cuộc hành trình qua sa mạc này vào bình nước chiếc xe không? Tôi nghĩ, tốt hơn hết là bước ra khỏi xe để tìm tòi hơn là ngồi yên trên xe để tính toán. Nơi đây không có vẻ gì là có thú dữ nguy hiểm cả, nhưng ở sa mạc Kalahari (Ca-la-ha-ri) này thường trồi, sụt bất thình lình, và chỉ cần quay 2 vòng là bạn có thể bị mất tích ngay, vì vậy tôi đành ngồi nán lại trên xe và bóp kèn inh ỏi cầu cứu để họa may có ai nghe thấy chăng?

Ánh nắng trên đỉnh đầu chiếu xuống chiếc xe khiến tôi ngồi trên xe như là ngồi trong lò lửa, không có lấy một làn gió mát, đàn muỗi nơi sa mạc bắt đầu bay sà vào trong chiếc xe... Tôi cảm thấy khó chịu khi bắt gặp chú bé thổ dân đang chằm chằm nhìn tôi, tôi đã từng nghe đồn rằng thổ dân ở đây thường không ưa những người da trắng như tôi. Chú bé thổ dân này có một bộ mặt dễ thương hơn là dễ sợ: nước da nâu sậm, đôi mắt nhỏ nhưng long lanh dưới chiếc trán cao và đôi lông mày đen rậm. Chú đứng dậy cách chỗ tôi khoảng non 2 thước, chung quanh thắt lưng chú quấn 1 tấm da con vật để che phần dưới thân thể. Khi chú biết chắc là tôi đang nhìn chú, chú nở 1 nụ cười thân thiện, vành môi trên hơi cong lên thành hình vòng cung, nhưng tôi không cười đáp lại chú vì đang nghĩ rằng: "Chỉ 1 chốc nữa đây sẽ xẩy ra 1 cuộc xung đột giữa 1 người da trắng với 1 chú bé thổ dân trên bãi sa mạc hoang vu này, và có thể là người da trắng, tức là tôi sẽ bị kẹt ở đây không biết đến bao giờ.

Chú bé vẫn đứng yên nhìn tôi hàng giờ đồng hồ, khi tôi bóp kèn xe hơi thì chú gầm ghè vui vẻ. Có lần, chú hạ cây cung và ống tên xuống đất, giơ cao 2 tay tỏ dấu hòa bình, tuy vậy tôi vẫn e ngại vì tôi đã từng nghe kể đến những cách đánh lừa của người thổ dân vùng này. Nhưng dầu sao tôi vẫn vững lòng hơn khi thấy có chú ở bên cạnh vì trời đã gần tối, đêm ở sa mạc là giờ cô quạnh nhất, có 1 người ở bên cạnh vẫn còn hơn là đơn độc. Tự nhiên tôi cảm thấy ghen với chú khi thấy chú nhúm lửa bằng những cành khô để sưởi, ánh lửa bập bùng vờn trên khuôn mặt chú. Chú ngồi sát lại đống lửa để sưởi, vì đêm ở sa mạc thì rất lạnh, thỉnh thoảng chú quay lại vẫy tôi như muốn mời tôi lại sưởi, nhưng tôi vẫn nghi ngờ thiện chí của chú và không dám rời khỏi xe. Dần dần, thời gian trôi qua, tôi cảm thấy bớt sợ chú và bắt đầu có cảm tình với chú. Sau cùng vì mệt mỏi tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Khi thức giấc, trời đã bắt đầu ửng sáng. Tôi nhỏm dậy thấy chú bé đang ngồi vắt vẻo trước mũi xe, trông thấy tôi chú nhoẻn cười, ra dấu tỏ ý muốn giúp đỡ và che chở tôi. Lần này, tôi đáp lại chú bằng 1 nụ cười gượng gạo. Tôi ngồi hẳn dậy, toàn thân tê cứng và lạnh. Bây giờ tôi biết chắc là tôi sẽ bị kẹt ở đây không biết đến bao giờ. Tôi chợt nhìn thấy chú đeo lủng lẳng bên sườn 1 túi nước lã.

"Nước lã!", không biết chú đã kiếm được ở đâu giữa chốn sa mạc này. Tôi liền bước ra khỏi xe với 1 niềm hy vọng, và đây là lần đầu tiên tôi bước ra ngoài kể từ khi gặp chú bé thổ dân này. Chú vỗ vào bình  nước bên sườn, miệng líu lo những tiếng khó hiểu, rồi chú tụt xuống đất nhẩy cẫng lên tỏ dấu vui mừng khi thấy tôi không còn e dè sợ sệt nữa. Tôi ra hiệu cho chú biết là tôi đang cần nước cho chiếc xe của tôi, chú hiểu ngay và trao cho tôi bình nước. Tôi sung sướng đón nhận và đổ hết cả vào bình nước xe, nhưng vẫn không thấm tháp gì. Thấy vậy, chú chạy lại bên đống lửa gần tàn, nhặt lên 1 ống que rỗng lòng dài khoảng non 1 thước. Quì gối xuống, cúi khom người, chú cắm sâu chiếc que xuống lòng bãi cát, rồi ghé miệng ngậm 1 đầu ống. 1 lát sau chú phun ra 1 dòng nước dưới chân tôi, thì ra chú đã hút nước ở 1 mạch nước ngầm dưới đất. Tôi vội chạy lại chiếc xe, lôi vội chiếc thùng chứa được khoảng 7 lít nước dự trữ giờ đây đã khô queo và chạy trở lại bên chú. Suốt gần nửa tiếng đồng hồ, chú hì hục hút nước cho tôi, đôi má phồng lên lõm xuống như đôi mang của 1 con cá đang thở dưới nước. Mỗi lần hút được nước là chú lại phun vào thùng đựng nước của tôi. Khi chiếc thùng đã đầy nước, chú trao cho tôi với bộ mặt rạng rỡ hớn hở. Sau khi tôi xách thùng nước trở lại chiếc xe, tôi quay trở lại thấy chú đang nhăn mặt phì cát ra khỏi mồm, dòng mạch nước dưới lòng đất giờ đây đã cạn nên chú chỉ hút toàn rặt cát, chú cố gắng hút thêm vài lần nữa, nhưng không kết quả. Chú nhổ chiếc que, đứng dậy và ra dấu cho tôi là đã hết nước, cả 2 chúng tôi bước trở lại chiếc xe. Tôi nghĩ thầm trong óc là tôi sẽ chỉ đổ 1 ít nước đủ dùng còn sẽ trao trả lại chú chỗ nước còn lại để bù đắp vào bình nước của chú mà tôi đã đổ hết vào bình xe. Nhưng trước khi làm vậy, tôi cần phải làm 1 cái gì để cảm ơn chú bé đã. Tôi tháo chiếc đồng hồ đeo tay trao tặng chú, chú giơ tay đón nhận, tròn xoe đôi mắt ngắm nhìn chiếc đồng hồ với 1 vẻ lạ lùng nhưng thích thú rồi chú trao trả lại tôi. Tôi lắc đầu và cố ra hiệu cho chú là tôi muốn tặng chú, và tôi muốn chú giữ lấy chiếc đồng hồ như là 1 món quà kỷ niệm. Đôi mắt chú ngước nhìn tôi như muốn bảo đừng ép buộc chú nhận, đôi môi chú mấp máy như muốn nói "Đây là sa mạc của tôi, nhà tôi và ông là người khách nên tôi có bổn phận phải giúp đỡ ông mà không muốn nhận một sự đền ơn."

Tôi đổ 1 ít nước vào bình đựng nước dự trữ của tôi rồi trao cho chú, tôi thấy môi chú hơi rung động. Rồi tôi từ biệt chú bước lên xe, mở náy và cho xe chạy, chú còn đứng tần ngần trông theo...

Đêm nay, tôi đã tới 1 nơi nghỉ an toàn của sa mạc. Khi  bước ra khỏi xe tôi chợt trông thấy 1 vật gì nằm trên sàn xe sau chỗ ghế ngồi của tôi, tôi cúi xuống lượm vật đó lên: đó là cái bình đựng nước của tôi, chú bé đã bỏ trả lại lúc nào mà tôi không biết. Chú bé dễ thương ơi! Tôi không biết nói gì để cám ơn chú mà chỉ biết cầu nguyện Thượng Đế luôn ban phước lành cho chú.


VĂN VIỆT   

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 71, ra ngày 31-12-1973)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>