Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2024

Những Người Dụ Rắn

 

Con rắn Cobra ngóc thằng chiếc đầu lên, uốn éo đằng trước, đằng sau theo tiếng sáo của ông già Hussein, một ông già chuyên nghề dụ và bắt rắn.

Ông chợt ngừng thổi sáo, đặt chiếc sáo quả bầu thô kệch xuống đất và nói với tôi:

- Khi con rắn cất đầu lên nhìn ông, là nó thu hình ông đấy!

Người phụ tá Hussein, một người trẻ tuổi chuyên đánh trông nhịp theo tiếng sáo của ông nói thêm:

- Nếu ông tình cờ giết chết được một con rắn Cobra, việc trước tiên là ông phải lo thủ tiêu đôi mắt nó, nếu không, 20 năm sau con rắn cái vẫn có thể tìm thấy ông và báo thù cho chồng được vì nó đã thấy hình ông trong đôi mắt con đực.

Chúng tôi đang ngồi trên một bãi cỏ xanh mướt trước khách sạn Misore ở miền Nam Ấn Độ, ông già Hussein lại tiếp tục dạo nhạc, lần này ông không thổi sáo mà kéo chiếc đàn nhị, một chiếc đàn giản dị làm bằng những thanh tre và nửa chiếc vỏ dừa khô, con rắn Cobra lại uốn éo chiếc đầu theo điệu tiếng đàn. Ông già tay vừa kéo đàn, miệng vừa nói:

- Con rắn này múa khéo thiệt có phải không ông? Nó thích âm nhạc lắm và hầu như tất cả giống rắn đều thích nghe âm nhạc cũng như người ta vậy.

Babu, một ký giả địa phương, bạn đồng hành của tôi vừa chợt tới, nghe nói vậy anh vội lớn giọng:

- Dóc tổ! Rắn đều điếc hết, đâu có nghe được âm nhạc, sở dĩ nó uốn éo như vậy là do bản năng tự vệ của nó vì nó đang theo dõi chiều đu đưa của nhạc cụ để đề phòng bị tấn công.

Ông già Hussein không nói một câu, lẳng lặng đặt chiếc đàn sang bên cạnh, ông ôm cổ con rắn bằng cả hai tay, nghiêng đầu cúi thấp xuống và khẽ đặt một cái hôn trìu mến lên đầu con rắn, rồi buông ra và quay sang chỗ khác, con rắn vội mổ phóng theo nhưng trượt, ông quay lại, hơi nhăn mặt rồi chìa cho tôi xem những vết sẹo trên cánh tay và cẳng chân. Ông nói:

- Tôi đã bị rắn mổ nhiều lần rồi, nhưng tôi chỉ cần nhai và nuốt một thứ cỏ trị nọc rắn và đặt một thứ đá hút nọc rắn lên vết rắn mổ là không việc gì.

Tôi thu xếp với ông già để hôm sau tổ chức một cuộc bắt rắn. Hôm sau, chúng tôi đến một cánh đồng hoang vu, lỗ chỗ những tổ kiến, nơi trú ngụ lý tưởng của loài rắn. Ông già cùng với bốn người em và ba người thân quyến khác, tất cả đều là những người dụ rắn lành nghề, ngồi chất cả lên chiếc xe Jeep của tôi. Tới nơi, chúng tôi ngừng lại, Hussein bước xuống trước dẫn đầu, tôi theo ông bén gót. Ông nhìn chăm chú xuống mặt đất nóng bỏng. Đột nhiên, ông với chiếc sáo đeo bên sườn và đưa lên miệng thổi một điệu nhạc mê hoặc, kỳ quái và đầy tính chất Đông Phương huyền bí. Babu thản nhiên giảng cho tôi nghe: "Đó là một điệu nhạc dụ rắn, nếu rắn Cobra nghe thấy, nó tự nhiên như bị mê hoặc bởi tiếng sáo và không còn kháng cự nổi".

Độ nửa giờ sau, không thấy dấu hiệu gì chứng tỏ là có rắn ra, ngay cả đến rắn nhỏ cũng không, tôi đã hơi thất vọng và nghi ngờ khả năng của ông già. Chợt ông nhìn nhanh chung quanh và kêu to: "Ta đã ngửi thấy mùi rắn". Một chập sau, tôi trông thấy một con rắn Cobra to đang lao về hướng một cái lỗ ở dưới chân một tổ kiến và bắt đầu chui vào đó ẩn trốn. Nhưng ông già nhanh hơn, vội chạy theo con rắn, nắm lấy đuôi nó lôi ra khỏi hang. Bằng một động tác nhanh nhẹn, ông dìm đầu con rắn xuống mặt đất bằng một cái gậy, dùng một khúc cây hết sức banh miệng con rắn rồi bẻ gãy những chiếc răng nanh chứa nọc độc, xong ông nhấc con rắn lên, chìa con quái vật về phía tôi và nói:

- Ông có muốn giữ con rắn này làm kỷ niệm không?

Tôi gật đầu đồng ý và ông bỏ con rắn vào trong chiếc rọ của tôi. Chúng tôi lên xe quay trở về khách sạn Misore. Dọc đường về tôi hỏi ông:

- Mùi rắn giống mùi gì?

Ông nghĩ một giây lát rồi đáp:

- Người thì bảo nó giống mùi khoai tây sống, kẻ thì cho là nó giống mùi dưa leo, nhưng tôi thì ngửi nó giống như mùi xà bông giặt.

Tôi cùng với Babu lang thang khắp miền đông đúc Bangalor với dẫy chợ nhộn nhịp ở Madras. Tại một làng nhỏ gần Madras tôi gặp một nhà khảo sát thiên nhiên người Anh, ông vui vẻ bắt tay tôi và cho tôi biết là ông cũng có thể làm cho rắn Cobra múa như những người dụ rắn Ấn Độ bằng chiếc sáo quả bầu của ông. Ông ta chìa cho tôi xem một con rắn Cobra, tôi miễn cưỡng giơ tay phải vuốt lên mình trông xù xì thô kệch, nâu sậm của con rắn, tôi sửng sốt nhận thấy nó không lầy nhầy như tôi tưởng mà khô ráo và mịn như nhung.

Ở Binares, trước cái đền có đầy khỉ chuyên chìa tay xin ăn những khách qua đường, một người dụ rắn to béo cho tôi biết:

- Có 3 con vật rắn Cobra sợ nhất là : con chồn Mongoose (một con vật nhỏ thuộc về loài chồn ở Ấn Độ, sống trong hang đất hay hốc cây, chuyên ăn thịt các loài bò sát), Công đực, Khỉ.

Người phụ tá của hắn gật đầu và tiếp lời:

"Tôi đã chứng kiến một đàn khỉ vừa kêu chí chóe vừa đập chết bằng cành cây và chọi đá một con rắn Cobra lớn".

Chúng tôi tới Dehli rồi đi đến Morbund cách Dehli khoảng hơn 20 cây số là một nơi đặc biệt, phi thường trên thế giới, làng này có khoảng 2.400 dân phần đông là những người chuyên nghề dụ rắn. Babu nói:

"Thật là một nơi huyền ảo! Họ có một nơi đào tạo người dụ rắn giống như là một trường Đại Học bắt rắn, có riêng một triều đình gồm lối 20 bô lão thành thạo nhất trong nghề bắt và dụ rắn của khắp xứ Ấn Độ, họ còn một hội gọi là "Hội Liên Kết Những Người Dụ Rắn Ấn Độ".

Khi sắp tới, làng Morbund hiện ra trước mắt chúng tôi, một dẫy mái nhà bằng mạ trông giống như những lều làm bằng gạch nung của dân Mễ Tây Cơ. Một đám đông dân làng hiếu kỳ bu quanh chúng tôi. Một người dáng mảnh khảnh tên là Ravi tiến lại chúng tôi nói bằng tiếng Anh rành rõi:

"Tôi sẽ dẫn các ông đến Mojinah, thủ trưởng của chúng tôi".

Rồi ông ta dẫn chúng tôi đến trước một ông già có chòm râu bạc dài, ông già chào chúng tôi theo kiểu bản xứ và nói bằng tiếng Ấn Độ, nhưng Babu dịch lại cho tôi hiểu:

"Ông nói phần lớn những người dụ rắn ở đây đều là những người Ấn Độ giáo, đối với họ thì rắn Cobra rất được kính nể cũng như đối với Bò vậy. Khi họ bắt được 1 con rắn Cobra, họ hứa sẽ thả con rắn trong vòng 6 tháng, điều này trái ngược hẳn lại với những bạn Hồi Giáo của chúng tôi, đối với họ việc bắt rắn chỉ là một kế sinh nhai không được lương thiện lắm".

Ravi nói: "Ngày thả rắn là một ngày lễ trọng. Trước hết chúng tôi phải cọ rửa sạch sẽ chỗ đất thả rắn, bày thịt và sữa trước mặt rắn, làm lễ độ nửa giờ, xong chúng tôi đặt rắn quay lưng về phía rừng, lại đặt thịt và sữa trước mặt rắn rồi để cho rắn tự do bò đi".

Một người khác nói: "Rắn Cobra thật là linh thiêng, chúng đã che chở cho thần Krisna trong lúc nguy khốn, chúng cũng che chở cho chúng tôi nếu chúng tôi không đối xử tàn nhẫn với chúng". Ravi gật đầu và nói tiếp theo: "Nếu một rắn Cobra bị chết bởi một tai nạn, nó sẽ được làm một đám táng lớn như người ta vậy".

Trong thời gian lưu tại đây tôi tình cờ được gặp một người huấn luyện trẻ con bắt rắn. Ông ta vóc người cao lớn, có bộ ria mép vểnh, nhọn và rậm. Tôi ngỏ ý muốn xem một buổi dạy bắt rắn, ông gật đầu đồng ý và gọi lờn bằng tiếng địa phương. Một lát sau, một bầy trẻ túa ra từ những ngôi nhà gần đó. Chúng đứng thành vòng tròn bao quanh chúng tôi, hai đứa trẻ ngồi ở giữa, một đứa đầu đàn đeo lủng lẳng bên mình một chiếc sáo nhỏ. Ông thầy hô lớn: "Cobra!", một người lớn mở nắp một chiếc rọ đan bằng mây, bên trong một con rắn Cobra bắt đầu trườn từ từ ra khỏi rọ bò về hướng một bụi cây gần đó. Ông thầy ra lệnh: "Hãy bắt lấy!", một đứa trẻ vội cúi xuống, nhặt chiếc gậy nằm dài bên cạnh bàn chân, đuổi theo con rắn, dùng gậy dìm đầu con rắn xuống mặt đất, thản nhiên như đang nhón tay bắt một con bướm, rồi nhặt bỏ con rắn vào chiếc rọ như cũ. Ravi hãnh diện bảo với tôi: "Thằng bé đó tên là Banwari, chỉ vài năm nữa nó sẽ trở thành một người bắt rắn lành nghề như những dân bắt rắn thành thạo ở Ấn Độ".

Ngày hôm sau, khi tôi tới nơi đã trông thấy một đám đông tụ tập trên một khoảng đất trống để xem một cuộc đọ tài giữa hai con vật: con chồn Mongoose và con rắn Cobra. Con Mongoose, một con vật nhỏ bé với đôi mắt sáng rực đang chạy loạng quạng ở một đầu dây buộc từ chân nó đến một bụi cây gần đó. Tôi lại bên con chồn đưa tay khẽ vuốt lên bộ lông mượt của nó, con vật như hiểu biết, gục đầu, chúi mũi vào lòng bàn tay tôi, tôi không tin rằng con vật bé nhỏ này lại có thể giết chết được một con vật ghê sợ nhất trên mặt đất. Hai người, một người đang phồng mồm thổi sáo, một người đang giơ cao tay vỗ mạnh trên mặt trống, họ đang dạo một khúc nhạc khai mạc như để kích thích tinh thần hai con vật. Điệu nhạc trở nên điên cuồng hơn, bỗng nhiên bằng một tay, người thổi sáo lật vội chiếc nắp của một chiếc rọ đặt trước mặt hắn, đầu một con rắn Cobra mới bắt được chớm thò lên, rồi nhô hẳn khỏi miệng rọ. Trông thấy con chồn, tức thì nó dựng đứng thẳng thân mình mầu nâu sậm và sẵn sàng ở thế tấn công. Đôi mắt tròn chiếu thẳng vào đối thủ một cách dữ tợn, chiếc lưỡi nhỏ và dài thè ra thụt vào chập chờn như một vệt sáng đen. Bằng một chiếc gậy, một người chọc con rắn, huýt sáo khích nó bò ra khỏi rọ trườn trên mặt đất vàng sậm. Người đánh trồng bèn cởi dây trói cho con chồn, con chồn lao mình về đằng trước, con rắn bèn mổ phóng về con chồn, con chồn nhanh nhẹn tránh được nên con rắn mổ trượt mất thăng bằng, con chồn bèn phóng tới bên cổ họng nâu sậm của con rắn cách xa khỏi tầm cắn của đôi hàm dữ tợn, treo mình ôm ghì lấy cổ rắn, con rắn giận dữ quật mình bên này bên nọ, cố vùng vẫy để quật con chồn xuống mặt đất. Một lát sau, khúc mình con rắn quấn chặt lấy thân hình mảnh dẻ của con chồn, nhưng bằng một phản ứng nhanh trí, con chồn ghé hàm răng nhọn sắc cắn sâu vào lưng con rắn, khúc tròn đang xiết chặt tự nhiên thấy lỏng hẳn ra, con chồn liền thoắt ra xa một lúc như là một võ sĩ tạm rời võ đài trong giây lát nghỉ dưỡng sức. Trong khi ấy, những nhạc công vẫn chơi nhạc một cách cuồng nhiệt, thân hình họ lắc lư theo tiếng nhạc. Trận đấu lại bắt đầu, lần này con chồn đổi chiến thuật: nó thu gọn mình, lấy thăng bằng rồi vụt mình bám chặt lấy hàm dưới con rắn, treo mình đu đưa bên mình con rắn, con rắn hung hăng quật tới quật lui. Babu nói với tôi: "Con chồn thật là tinh khôn, nó giống một nhà triết học, trong khi chiến đấu nó vẫn giữ bình tĩnh, trái lại con rắn thì nóng nảy, thịnh nộ, không kìm được tức giận khiến cho máu dồn lên đầu và trở thành mù quáng". Con rắn mỗi lúc một yếu dần, chỉ một lúc nữa là nó sẽ chết, tôi vội ngăn chặn cuộc đấu lại vì tôi không muốn nhìn thấy máu con Cobra chảy nữa, thêm vào đó tôi tin chắc rằng nó đã nhìn thấy tôi đôi lần vì vậy hình ảnh tôi đã được thâu trong đôi mắt nó và tôi không muốn con vợ nó theo dõi tôi để báo thù.


VĂN VIỆT      

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 108, ra ngày 21-9-1973)

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2024

Gần Mực Thì Đen Gần Đèn Thì Rạng


 
  (Phỏng dịch theo truyện "The boy that nobody wanted" 
của Gwendolen L. Sherman đăng trong tạp chí Reader's Digest).
 
Khi Ban Đôn lên 5 tuổi, một hôm nó lượm được một bao quẹt, tinh nghịch nó quẹt lửa châm vào áo một con bạn gái khiến con bé bị phỏng nặng rồi chết.

Vài năm sau, nó lại nhặt được một khẩu súng lục trên bàn, nó cầm ra vườn hoa cạnh nhà, gặp một thằng bạn học cùng lớp mà bố thằng nhỏ là chủ nhiệm một tờ báo lớn của tỉnh nó ở. Khi thằng bạn cố giành khẩu súng khỏi tay Ban Đôn để xem thì khẩu súng cướp cò, viên đạn trúng bụng thằng bé khiến nó chết ngay lập tức.

Lần đầu, khi tôi, (lời nữ tác giả) gặp thằng Ban Đôn, lúc đó nó sống chung với gia đình, nhưng không được dậy dỗ cẩn thận, bố nó là một tay chuyên sống về cờ bạc, mẹ nó thì đã chết nên mọi người chung quanh đều cho rằng thằng bé rồi sau sẽ trở nên hư hỏng vì nó đã giết chết hai mạng người khi chưa đầy 8 tuổi.
 
Cha thằng Ban Đôn phải ngồi tù vì con dại cái mang, còn thằng bé được đưa ra Tòa Án Thiếu Nhi để quyết định tình trạng của nó, thời gian nầy tôi đang làm việc tại đây.

Bác sĩ sau khi khám bệnh nó bảo rằng nó ở tình trạng bình thường, có thể theo đuổi việc học được, trông nó thông minh lanh lẹ hơn những đứa trẻ khác cùng lứa tuổi.

Tôi nghĩ rằng giá có một gia đình nào chịu nhận nuôi và dậy dỗ Ban Đôn tử tế thì nó có thể trở nên một đứa bé khá được, nhưng chắc chắn rằng không ai muốn rước một thằng bé mà chưa đầy 8 tuổi đã giết chết hai mạng người, nghĩ vậy tôi đã toan nói với Tòa Án Thiếu Nhi là không có hy vọng gia đình nào chịu nuôi Ban Đôn, bỗng tôi sực nhớ đến gia đình chị Huy Lợi, một bạn thân của tôi. Cách đây hai năm, chị Huy Lợi có đến nhờ tôi để xin một đứa bé làm con nuôi. Vợ chồng chị là một trại chủ, yêu mến trẻ con vì không có con, nhưng chị không được thỏa mãn vì cả hai anh chị đều 45 tuổi, theo luật định thì Tòa Án Thiếu Nhi không được cho một người nào quá 40 tuổi nhận con nuôi. Do đó chắc chắn là anh chị Huy Lợi rất vui lòng nhận thằng Ban Đôn và tôi quyết định giao nó cho anh chị Huy Lợi nuôi.

Tôi hồi hộp khi lái xe vào trong sân trại của chị Huy Lợi, tôi nhẩm cầu nguyện cho công việc của tôi thành công. Lúc này vào tháng 7, đang vụ mùa nên tất cả gia nhân đều đang làm việc ngoài đồng. Trại của chị Huy Lợi với ngôi nhà lớn, cây mọc bao quanh, một bãi cỏ trước nhà và một chuồng bò, chắc là sẽ hợp với thằng Ban Đôn. Anh chị Huy Lợi vui vẻ đón tiếp tôi: "Chào chị Mỹ Lan, chị mạnh giỏi chớ, mời chị vào chơi trong nhà, dùng tạm trà đá và ăn trưa với chúng tôi" chị Huy Lợi vồn vã mời. Chúng tôi bước vào trong nhà, ngồi xuống quanh chiếc bàn ăn kê giữa nhà, anh chị Huy Lợi ngắm nhìn thằng Ban Đôn háu đói đang nhai ngồm ngoàm. Tôi nói với họ thằng Ban Đôn là đứa trẻ thành thị, nếu anh chị có gia súc chắc là nó thích xem lắm.

"Anh hãy dắt thằng bé ra chuồng bò xem bò" chị Huy Lợi nói với chồng như vậy.

Khi chỉ còn mình tôi với chị, chị hỏi tôi: "Có phải nó là thằng Ban Đôn không? Tôi đã thấy hình nó đăng trên báo, và nó đã làm một việc khủng khiếp phải không?" Tôi nói với chị lý do tôi tới thăm và tôi tin chắc rằng, sau vài tháng người ta sẽ quên dần việc làm của thằng bé, nó là một thằng bé bình thường, thông minh và sẽ trở nên một đứa bé ngoan như những đứa trẻ khác nếu như được dậy dỗ cẩn thận và nhất là có được tình yêu thương của một người mẹ. Nghe xong, chị nói: "Chị hãy ngồi chơi đây chờ tôi một tí để tôi chạy đi hỏi ý kiến nhà tôi đã".

Thấm thoát thằng Ban Đôn đã ở với anh chị Huy Lợi được 10 năm, 5 năm đầu thì hơi nhiều rắc rối, bố thằng bé bị chết vì khẩu súng của thằng Ban Đôn khi biết tin hiện nó đang sống với anh chị Huy Lợi, vì vẫn còn thù ghét thằng bé đã giết hại con và vì sẵn có tờ báo trong tay nên ông ta viết những bài báo nói xấu thằng bé. Chị Huy Lợi liền tự lái xe đến gặp ông ta, tôi không biết rõ chị nói với ông ta ra sao, nhưng từ sau buổi gặp gỡ đó thì không có sự gì xẩy ra nữa và Ban Đôn vẫn ở với anh chị Huy Lợi. Lúc đầu thì những người hàng xóm không cho con cái họ sang chơi với thằng Ban Đôn, sau anh chị Huy Lợi phải dắt thằng bé đến từng nhà chơi, rồi dần dần họ hiểu thằng Ban Đôn không phải là một đứa bé hư hỏng như họ tưởng nên họ bắt đầu mời thằng bé đến chơi.

Trong thời gian này tôi thường đến thăm vợ chồng Huy Lợi đều đặn và thấy thằng bé thay đổi hẳn, từ một đứa bé lúc nào cũng sợ sệt vì mặc cảm tội lỗi đã trở nên vui vẻ. Ở trường họ nó là một đứa trẻ xuất sắc nhất lớp và đậu bằng Trung học với hạng ưu.

Khi Ban Đôn 19 tuổi, cha nó xin với Tòa Án Thiếu Nhi cho nó trở về chung sống, nhưng Tòa quyết định là việc đó tùy ý thằng Ban Đôn. Sau khi mãn hạn tù, cha nó nhờ buôn may bán đắt nên trở nên giầu có, ông ta đã mua được một nhà hàng ăn lớn và lại cưới vợ lần nữa. Một năm hai lần ông đến thăm thằng Ban Đôn và thường viết thư cùng gửi cho nó những món quà đắt tiền. Lúc này thằng Ban Đôn đã trưởng thành và nhập ngũ. Trong thời gian ở quân ngũ, hằng tháng nó vẫn gửi tiền đều đặn về cho chị Huy Lợi. Trước khi được giải ngũ vào năm 1945, nó đã được ban thưởng 4 huy chương.

Một buổi sáng, chị Huy lợi điện thoại mời tôi đến ăn cơm, chị còn cho biết thêm rằng có cả cha thằng Ban Đôn cũng đến nữa.

Cha nó đến thăm anh chị Huy Lợi bằng 1 chiếc xe hơi lộng lẫy mà ông ta dự tính cho thằng Ban Đôn. Bây giờ thì ông ta đã tậu thêm được 2 nhà hàng ăn nữa và định dẫn dắt thằng bé theo nghề của ông.

Ban Đôn đã 22 tuổi, nó sẽ tự quyết định là sẽ ở lại với anh chị Huy Lợi hay là trở về sống chung với cha nó, tôi ngắm nó suốt 1 tiếng đồng hồ để cố tìm hiểu quyết định của nó. Nó yêu anh chị Huy Lợi lắm nhưng hình như nó có vẻ vui vẻ khi được gặp bố. Trước bữa ăn nó đi ra ngoài 1 lát, khi trở lại tôi thấy đôi mắt nó có vẻ tư lự: "Con không thấy có những con bò ở ngoài chuồng?" nó hỏi, "và ở đó cũng không còn dụng cụ nữa?"

Chị Huy Lợi đáp: "Chúng ta đã bán cả bò và dụng cụ rồi, và chúng ta dự tính sẽ bán luôn cả nông trại nữa, và..."

- "Tại sao vậy mẹ?" Ban Đôn hỏi ngắt lời chị Huy Lợi, rồi nó chợt nhận ra bố mẹ nuôi nó trong lúc này đã già và lưng đã còng vì làm việc vất vả.

"Nhưng bố mẹ đã quen sống ở đây rồi, bố mẹ chắc không thích khi phải sống ở thành thị. Con..." nó ngừng lại và nhìn bố đẻ nó ngồi ở đầu bàn, rồi nói tiếp: "Con nghĩ như vậy, và..." nó lại ngập ngừng và nhìn bố nó một lần nữa "và... con muốn ở lại đây với bố mẹ nuôi của con, con sẽ vay tiền để sắm dụng cụ mới, con luôn luôn thích sống ở đây hơn".

Nghe xong quyết định của nó, bố nó mỉm cười nói: "Ban Đôn con, ta hiểu rõ tình cảm sâu đậm của con đối với ông bà Huy Lợi, bố mẹ nuôi của con. Ta sẽ cho con mượn tiền để mua bất cứ thứ gì con cần". Chị Huy Lợi đứng dậy, ngảnh mặt đi để giấu hai hàng nước mắt đang lăn trên gò má vì cảm động. "Con không cần phải mượn tiền" chị nói, "Ta hãy còn giữ tất cả số tiền hàng tháng con gửi về trong thời gian con còn trong quân đội. Ta giữ để dành cho con, con yêu quý!"


VĂN VIỆT     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 38, ra ngày 14-5-1972)

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2023

Dịp May Thứ Hai

 
Tháng 4 vừa qua, tôi (lời tác giả) nằm điều trị tại bệnh viện Mayo ở Rochester tiểu bang Minnesota (Hoa Kỳ) để chờ một quyết định sống còn.

Từ ngày lên tám, thận tôi đã bị nhiễm trùng lỗ chỗ bởi vi trùng streptococcus, các mô gai lan rộng ra, d6àn dần làm nghẹt khả năng lọc chất cặn bã trong cơ thể tôi của trái thận. Đến năm 25 tuổi, cơ năng lọc chất cặn bã của thận tôi sụt xuống chỉ còn 4%, những chất cặn bã trong máu làm tôi ngứa ngáy khắp thân thể. Một trong những triệu chứng đầu tiên của sự nhiễm độc là do chất Urée trong máu, nghĩa là tôi được biết tôi chỉ có thể sống vài tuần nữa. Một Bác sĩ điều trị ở bệnh viện cho tôi biết: "Hy vọng duy nhất để có một đời sống bình thường là 1 cuộc ghép thận. Trị liệu bằng thận nhân tạo 3 lần trong 1 tuần lễ chỉ có thể giữ anh sống thêm được ít lâu, nhưng tôi không chắc là anh có thể sống yên vui được bao lâu".

Năm 1954, khi tôi bắt đầu sưng thận, mục đích chính của bác sĩ điều trị là làm sao có thể kéo dài đời sống của 2 trái thận tôi được ngày nào hay ngày đó. Ông nói với cha mẹ tôi: "Không ai có thể chắc chắn là thận của Bốp có thể sống đến bao lâu, tuy nhiên chúng ta vẫn còn hy vọng, có thể 1 ngày kia, khi khoa học tiến bộ người ta có thể tìm ra 1 phương pháp trị liệu".

Rồi có những tia hy vọng 1 cuộc ghép thận đầu tiên được hoàn thành vào năm 1954, rồi đến năm 1960 máy thận nhân tạo hoạt động hạn chế, tôi sống cho ngày nay và cố không nghĩ tới ngày mai. Các nác sĩ đã cố gắng, tận tâm đem lại cho tôi 1 đời sống bình thường trong 17 năm trời suy thận dần dần bằng cách điều chỉnh từng ly từng tý sự ăn uống của tôi để tránh đến mức tối đa làm hại thận tôi, và bằng cách cho tôi dùng đủ loại thuốc men. Tuy nhiên sự ăn uống của tôi ngày càng hạn chế. Tôi hứng chịu những cơn nhức đầu làm mờ mắt, các viên thuốc điều chỉnh huyết áp làm tôi choáng váng và bị ngất xỉu nhiều lần, có lần tôi ngã lăn kềnh giữa đường phố khi bước xuống khỏi xe buýt. Tôi vô ra bệnh viện nhiều lần vì cơ thể yếu kém của tôi khó chống nổi lại các sự nhiễm trùng. Tuy thế, tôi vẫn cố gắng theo đuổi học hành, đậu được 1 chứng chỉ về ngành báo chí tại Đại học Illinois năm 1968, tôi đã làm phụ tá chủ bút cho tờ Nguyệt san National Wildlife 1 thời gian ngắn trước khi tôi đến điều trị tại bệnh viện Mayo này.

Thật là đau khổ phải chấp nhận rằng thận tôi hiện nay gần như vô dụng và tôi cần ai sẵn sàng hy sinh cho tôi 1 trái thận để may mắn rằng 1 trái có thể làm công việc của cả 2 trái thận.

Tôi hỏi bác sĩ điều trị: "Trường hợp tôi có thể trì hoãn cuộc ghép thận thêm 1 thời hạn nữa không?"

Ngồi duỗi dài sau bàn giấy tràn ngập hồ sơ của tôi, Bác sĩ trả lời 1 cách quả quyết: "Không có lợi ích gì nếu chờ đợi". Tôi cố hỏi thêm 1 câu quan trọng: "Thế thì tôi sẽ phải lấy đâu được 1 trái thận để ghép?"

Hiện nay đa số bệnh nhận được ghép thận bằng 1 trái thận lấy từ cơ thể của một người mà óc đã chết, nhưng tim và 2 lá phổi được cố giữ vẫn hoạt động được để có thể bảo đảm cung cấp dưỡng khí cho trái thận cho đến lúc lấy được trái thận ra. Được trái thận như vậy thì hy vọng ghép thận sẽ thành công tới 60%. Tuy nhiên, nếu được ghép thận từ 1 người thân thích đang sống mạnh khỏe thì hy vọng sẽ đạt tới 90% 1 đời sống bình thường. Lần trở về với gia đình ở Woodstock, Illinois 2 anh em tôi và 3 bà chị đều tình nguyện hy sinh hiến cho tôi 1 trái thận. Sau khi thử nghiệm máu thì trong số 5 anh chị tôi nói trên chỉ còn lại 1 em trai là David, 19 tuổi, sinh viên năm thứ nhất Đại học Illinois và 1 bà chị tên là Karel, 26 tuổi, đã lập gia đình và có 2 con là hợp với máu tôi. David nài nỉ rằng hắn là người hợp lý, hắn nói: "Để sau này tôi có thể rêu rao rằng cái gì anh Bốp tôi làm là có 1 phần của tôi trong đó".

Tuần lễ sau, chị Karel, em David và tôi cùng bay sang bệnh viện Mayo. Tới nơi, tôi được mắc ngay vào máy thận nhân tạo để máy bắt đầu rửa sạch máu tôi hầu chuẩn bị cho cuộc giải phẫu. Trong thời gian đó, chị Karel và em David phải trải qua vô số cuộc thử nghiệm và khám bệnh kể cả 1 cuộc phỏng vấn với 1 y sĩ chuyên điều trị về tâm lý và thần kinh để biết chắc là họ không bị áp lực của gia đình buộc phải hiến cho tôi 1 trái thận mà là do sự tình nguyện hy sinh cao cả của họ.

Về vật chất, giai đoạn này là giai đoạn khó chịu nhất trong đời tôi, tôi thấy những triệu chứng rõ rệt của thời kỳ thận suy, sức khỏe toàn diện suy sụp, những chất cặn bã tăng lên trong cơ thể tôi và huyết áp lên thật cao, tất cả dồn lại khiến tôi gần như nhức đầu và buồn ói mửa thường xuyên. Tôi cao 1m85, nặng 70 ký, thế mà lúc này tôi chỉ còn nặng 55 ký, tức là sụt mất 15 ký. Tôi yếu mệt vô cùng, tuy nhiên bởi kích thích còn ở tia hy vọng thứ nhì: chờ được ghép 1 trái thận của em hay chị tôi để sống, nên những khổ sở về vật chất không làm tôi xuống tinh thần. Quả vậy, tôi lên tinh thần khi hy vọng chắc rằng là tôi sẽ sống thêm ít nhất 50 năm hoàn toàn khỏe mạnh và bổ ích.

Kết quả những thử nghiệm đầu tiên cho biết tin mừng là chị Karel và em David đều có những mô bào tốt hợp với tôi, và nếu những mô bào của người cho thận mà hợp với người được ghép thận thì kết quả sẽ chắc chắn thành công. Chúng tôi hãy còn thấp thỏm về 1 trở ngại cuối cùng: Chụp động mạch thận để xem có đủ cả 2 trái thận và mỗi trái thận chỉ có 1 động mạch để cung cấp máu cho trái thận đó vì có người chỉ có trọn 1 trái thận hoặc có trái thận có 2 hay 3 động mạch, như vậy thì thật là khó khăn và trở ngại cho cuộc ghép thận.

Một tình cảm biết ơn sâu đậm xâm chiếm tôi khi tôi được 1 bác sĩ cho biết: "Chị Karel của ông được chấp thuận là người cho thận." nhưng tôi hãy còn tin vào David vì hắn là người có những mô bào tốt hợp với mô bào của cơ thể tôi, gần như là những mô bào 1 cặp anh em song sinh. Chiều hôm sau, khi được tin của David, tôi viết trong nhật ký như sau:

"7 giờ 10, David gọi điện thoại cho biết hắn có đủ 2 trái thận cùng một kích thước với thận của tôi, mỗi thận đều có một động mạch. Hãy gọi điện thoại cho ba má! Thật là vui mừng, hạnh phúc và khoan khoái! Cám ơn Thượng Đế! Hơn 9/10 tôi có một đời sống bình thường sau một cuộc hàn ghép".

Việc giải phẫu để lấy 2 trái thận của tôi ra được định vào ngày thứ sáu tuần tới 23 tháng 4 và cuộc ghép thận sẽ được định vào ngày 09 tháng 6 tức là 6 tuần lễ sau đó. Công cuộc ghép thận tại bệnh viện Mayo được hoàn thành bằng 2 giai đoạn, vì bác sĩ giải phẫu đã có kinh nghiệm rằng hy vọng thành công trong việc ghép thận tốt hơn cả nếu tránh được sự kích xúc mạnh khi vừa cắt bỏ 2 trái thận cũ ra và ghép một trái thận mới vào nếu cả hai công việc đó chỉ làm trong cùng cuộc giải phẫu thôi. Giữa 2 cuộc giải phẫu, tôi sẽ được giữ để sống bằng thận nhân tạo. Lần đầu tiên trong 17 năm, tôi cảm thấy có một cuộc sống bình thường ở trong tầm tay với của tôi. Khi tôi tình dậy, 9 giờ sau khi được cắt bỏ 2 trái thận ra, tôi thấy ba tôi đang ngồi đầu giường. Tôi lẩm bẩm hỏi "công việc ra sao?" và sờ soạng chỗ băng bó nơi vết mổ dài giữa bụng. Ba tôi trả lời: "Các bác sĩ cho biết con rất khá, kỳ sau ghép thận và rồi con sẽ có một đời sống mới. Một đời sống bình thường".

Trong sáu tuần lẽ tôi không có thận, tôi sống bằng cách được mắc vào một máy thận nhân tạo tuyệt vời để lọc máu : 8 giờ một ngày, 4 ngày một tuần. Lọc máu là một phương pháp tương đối giản dị: một ống nhỏ bằng Plastic gọi là ống thông được đút vào trong cổ tay trái tôi, một đầu ống nối liền với một động mạch, đầu kia vào một tĩnh mạch. Máu sẽ chảy từ động mạch vào trong máy và sẽ đi qua một cái lọc bằng chất Cellophane có những lỗ nhỏ li ti, vì những bụi nhỏ cặn bã trong máu nhỏ hơn các tế bào máu, nó sẽ chạy qua cái lọc và được một chất lỏng trong cái lọc trôi cuốn đi, máu đã được thanh lọc sẽ trở lại về cơ thể bằng tĩnh mạch. Trong mỗi buổi lọc máu dài 8 tiếng đồng hồ, máy thanh lọc nhân tạo đã lọc khỏi máu tôi 1/2 ký đến 1 ký 50 nước và các chất thặng dư, nếu không, để tích những chất đó lại thì tôi sẽ chết.

Buổi cuối tuần trước ngày ghép thận, cha tôi đến thăm, chúng tôi ra ngoài một công viên nhỏ và tản bộ dọc theo một dòng suối, chụp hình những hoa dại, ngồi trên những khúc gỗ ngoài nắng nói chuyện. Trong những tuần lễ này tôi cảm thấy thật gần gũi với mọi người thân trong gia đình. Những sự hy sinh mà họ đã làm qua bao nhiêu năm để chiều chuộng, an ủi tôi, sự nâng đỡ nhiệt tâm của họ đối với tôi khiến tôi tin tưởng là mọi việc sẽ thành công.

Rồi ngày trọng đại đã đến, cuộc giải phẫu thận sẽ cần tới 6 y sĩ giải phẫu, 4 điều dưỡng viên, cộng với những chuyên viên và nhân viên ngành tê mê. David và tôi nằm trên xe đẩy sát cạnh nhau, trong 40 phút, trước khi chúng tôi bị tách rời nhau ra để được đưa đến phòng mổ riêng biệt, chúng tôi nói chuyện về gia đình, về tương lai và những chuyện vớ vẩn. Thật không lấy làm ngạc nhiên chút nào khi tôi cảm thấy gần gũi với David hơn ai hết, trước đó, chúng tôi đã từng có những vụ xích mích huynh đệ nhỏ nhặ khi còn thơ ấu, ngày đó tôi không thể ngờ được rằng một ngày kia David sẽ hiến cho tôi một phần thân thể của hắn để tôi có thể tiếp tục sống. Rồi những y công mặc áo choàng xanh lơ đến đưa David đi vào phòng mổ và tôi ở lại một mình với những ý nghĩ vẩn vơ...

Cuộc giải phẫu khó nhọc để lấy một trái thận của David ra dài hai tiếng rưỡi đồng hồ, nhóm giải phẫu làm việc qua một vết mổ dài chừng 35 phân, cắt xéo vòng hông trái ngang eo. Cách đó hơn một thước, trong phòng mổ kế bên, một giờ sau khi mổ David, một nhóm giải phẫu khác bắt tay vào một cuộc giải phẫu dài 3 tiếng đồng hồ trên thân tôi, những nhóm ghép thận đã cùng làm việc theo một phương pháp đồng đội và sắp đặt giờ giấc ăn khớp với nhau và thường xuyên liên lạc với nhau như tôi nhận xét vài tháng sau này khi được chứng kiến. Khi y sĩ giải phẫu đã sửa soạn xong một chỗ trong cơ thể tôi mà sẽ đặt trái thận mới vào đó... một chỗ nào đó gần vị trí của trái thận cũ, nhưng thấp hơn, ở phía bên phải bụng để sau này nếu chẳng may phải lấy ra thì cuộc giải phẫu sẽ dễ dàng và giản dị hơn, ông thông báo cho nhóm y sĩ giải phẫu David biết, đến phút chót, khi nhóm này biết chắc là trái thận của David vẫn hoạt động thực sự thì y sĩ giải phẫu David cắt động mạch và tĩnh mạch nối liền cái thận nằm phơi bày trong thân thể David. Một y sĩ khác nhanh nhẹn mang cái bộ phận (trái thận) to bằng nắm tay này đến phòng tôi nằm mổ, trao nó cho vị trưởng nhóm ghép thận, vị này liền đặt trái thận vào trong một dung dịch muối ướp đá rồi bơm rửa bằng một dung dịch đặc biệt để vừa làm lạnh vừa lấy máu còn sót lại ra. Sau đó, trong khoảng nửa giờ khâu vá, thận của David đã trở thành thận của tôi, cuộc giải phẫu hoàn tất vào lúc buổi trưa. Tôi tỉnh dậy vào khoảng 8g 30 tối đó, trong một khu riêng biệt. Ba tôi đã có mặt ở đó, ông mặc một cái áo choàng bằng Plastic màu xanh lá cây, che kín mũi miệng bằng một cái mặt nạ. Tôi ngước mắt hỏi: "Thận hoạt động ra sao?" Người đáp: "Thật tốt, các bác sĩ cho ba biết là nó đã tống ra được gần hai lít nước tiểu trong một tiếng rưỡi đầu." Tôi hỏi tiếp: "Còn David thì sao?" Ba tôi trả lời: "Tốt, cả hai con đều tốt."

Đến ngày thứ ba sau ngày ghép thận, tôi đã được ăn những thức ăn từ hàng năm nay không được ăn vì phải cữ chất mặn (Sodium) và chất Protéin. Tôi gần như không còn đau đớn nữa mà bắt đầu đi bộ chung quanh nhà thương, cảm thấy dễ chịu và mỗi ngày cảm thấy khỏe hơn ra. David thì trải qua một giai đoạn cực hơn vì các bác sĩ đã phải cắt qua ba lớp bắp thịt để tới thận hắn. Tuy nhiên hắn lại người nhanh chóng, và sau 10 ngày đã đi học lại được.

Vài ngày sau tôi ra khỏi bệnh viện với một cục thịt nho nhỏ trong bụng: "Trái thận của em tôi".

Vấn đề lo lắng còn lại của tôi cũng như của bất cứ một người nào khác đã được ghép thận đều có là: "Thận mới liệu có hư không? Và có phải mổ lại để lấy ra không?".

Nếu chẳng may việc đó xẩy ra thì bệnh nhân phải trở lại việc dùng máy thận nhân tạo, nếu may mắn hơn, hắn sẽ kiếm được một trái thận khác, nhưng thận thật hiếm. Hiện nay theo cơ quan Quốc gia Thận, có 4.700 người lọc thận, phần đông đang chờ có được một trái thận để ghép. Nếu cơ thể tôi không hợp với trái thận của David thì sau khi ghép thận độ hai tuần lễ, khi những thuốc chống thận hư mà tôi đã được uống hai ngày trước khi ghép thận được giảm liều thì sao? Tôi băn khoăn chờ đợi những triệu chứng báo hiệu thận hư như sốt nóng và chất Créatinine (một chất dùng để đo cơ năng của thận) tăng lên trong huyết thanh không xuất hiện, tôi cảm thấy đã qua khỏi. Trong 3 tháng kể từ ngày rời bệnh viện, mỗi sáng tôi chạy bộ khoảng hơn ba cây số trước khi đi làm, rồi chúi đầu vào làm việc trong 9 giờ liền. Tôi cảm thấy có một thân thể mới, hoàn toàn khác, một thân thể không biết mệt mỏi. Bác sĩ của tôi thật hài lòng nhưng không lấy làm ngạc nhiên, ông cho biết gần như 100% các bệnh nhân của ông được ghép thận thành công đều có thể trở lại làm việc như thường. Về phần David cũng vậy, hắn cũng khỏe mạnh, sau 6 tuần hắn đã chơi Tennis và làm tất cả mọi việc như lúc trước khi cắt thận, trừ một việc là không được chơi những môn thể thao có sự động chạm mạnh đến thân thể như đấu vật, quyền anh v.v... Bác sĩ cho biết trái thận còn lại của hắn đã tăng năng lực và có nhiều triển vọng hắn sẽ không bao giờ cần đến trái thận của hắn đã cho tôi.

Chỉ một giá mà tôi phải trả cho đời sống mới là tôi phải gắn liền với cái mà Bác sĩ gọi là "một chế độ hậu giải phẫu lâu dài và chán ngấy" là tôi phải hàng ngày tiếp tục uống các thứ thuốc chống hủy thận đến mãn đời và vì những thuốc này gây nên bệnh đái đường một tháng sau khi giải phẫu, vấn đề phiền toái thực sự của tôi, tôi cần phải chích Insulin. Nhưng bác sĩ nói nhu cầu này sẽ hết biến trong tương lai khi độ lượng thuốc chống hủy thận giảm dần. Giai đoạn nguy kịch đầu tiên nay đã qua, và thận mới của tôi vẫn hoạt động tốt sau hai năm được ghép, các bác sĩ chuyên môn ở bệnh viện Mayo bảo tôi có thể có 99% chắc chắn một đời sống bình thường, đa số những người ở giai đoạn chót của bệnh đau thận không được gặp may mắn như tôi. Mỗi năm có khoảng từ 8.000 đến 10.000 người được ghép thận hay trị liệu bằng máy thận nhân tạo, nhưng vì thiếu thốn máy móc, thiếu thận biếu và thiếu tiền bạc nên tất cả, trừ độ 1.000 người, đều chết. Máy thì hiếm, nếu chữa trị bằng máy tại gia thì tốn độ 10.000 đô la cho năm đầu, 40.000 đô la cho mỗi năm kế tiếp, việc ghép thận cũng thật đắt: tiền bác sĩ và bệnh viện cho 4 tháng điều trị của tôi là hết 19.000 đô la và cho David là 2.500 đô la. Do đó tôi nhận thấy rằng tôi đã được ban ơn bằng một vật đặc biệt. Để báo đáp xã hội cho đời sống mới của tôi, tôi luôn mang trong bóp đựng tiền một thẻ tình nguyện hiến bất cứ một bộ phần nào trong cơ thể của tôi khi tôi chết cho các mục đích: ghép, trị liệu, nghiên cứu hay giáo dục về y học, hay cả cơ thể tôi nữa để nghiên cứu giải phẫu, đó là một việc nhỏ mọn nhất tôi có thể làm được, có khả năng giúp người khác, như tôi đã được giúp! Phải chăng đó là Định Luật Vay Trả bằng vàng có phải vậy không các bạn?


VŨ-VĂN-VIỆT      

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 129130, ra ngày 15-9 và 1-10-1974)


Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2023

Khát Vọng Tự Do

 

Ngày này qua ngày nọ, tháng này tới tháng kia, Dã Sơn, 1 thằng bé nô lệ, hằng ôm 1 mộng ước sẽ thắng cuộc chạy đua và được trả tự do. Đó là 1 cuộc đua chạy bộ trong 1 buổi đại hội thể thao sắp được tổ chức, và nó sẽ được phép tham dự cuộc đua đó.

Từ 2 năm nay, hàng ngày nó đã tập dượt chạy bộ trên bãi bể cùng với Mã Cử, con trai của Tể Tướng. Cũng trong suốt 2 năm nay, nó vẫn đinh ninh là sẽ cùng với Mã Cử được phép tham dự cuộc đua. Chìm đắm trong ảo mộng, nó tự tin là sẽ thắng cuộc và hình dung ra ngày vinh quang đó, hơn nữa nó còn nghĩ rằng Tể tướng sẽ trả tự do cho nó...

Giờ đây, ngồi đau khổ trên 1 mỏm đá cao, nó buồn rầu nhìn ra mặt biển mênh mông, giấc mộng trên đã tan tành vì mới sáng nay, Mã Cử đã cho nó biết 1 sự thật phũ phàng: nó chỉ được phép đến xem buổi đại hội thể thao thôi chứ không được phép dự cuộc đua chạy bộ vì theo luật lệ Hy Lạp, chỉ những kẻ tự do mới được tranh giải, còn nó chỉ là 1 thằng bé nô lệ.

Nhìn xuống bãi biển, chỗ nó hàng ngày vẫn cùng với Mã Cử tập chạy, nó thầm thấy ghét Mã Cử, vì hắn đã lừa nó, không cho nó biết sự thật ngay từ lúc đầu, để mãi đến nay, sau bao ngày nuôi hy vọng và cố gắng tập dượt cho Mã Cử để giúp hắn có thể thắng được cuộc đua, hắn mới cho nó biết. Đang đau khổ vì thất vọng, chợt nó trông thấy Mã Cử đang chạy trên bãi biển và gọi nó: "Xuống đây chạy đua, Dã Sơn!". Nghe tiếng gọi, Dã Sơn cho là Mã Cử có ý khinh miệt nó, lập tức nó vụt đứng dậy và từ trên mỏm đá cao nó phóng mình chồm về phía Mã Cử, húc hắn ngã lăn trên bãi cát. Ngay lúc đó, Dã Sơn chợt thấy 1 bàn tay rắn chắc nắm lấy vai nó. Ngước mắt nhìn lên, nó gặp tia mắt giận dữ của viên quan hầu cận Tể tướng đang trừng trừng nhìn nó. Quay lại Mã Cử, viên hầu cận hỏi: "Công tử có đứng dậy được không?". Mã Cử trả lời: "Được" rồi nó co chân và ngồi dậy. Viên hầu cận quát to bảo Dã Sơn: "Hãy theo tao về trình diện Tể tướng!", nói xong hắn kéo nó đi như lôi 1 con vật.

Khi về tới dinh, viên hầu cận trình lại cho tể tướng nghe việc Dã Sơn, thằng bé nô lệ dám đánh con quan Tể tướng. Bước tới gần Dã Sơn, Tể tướng hỏi: "Có thật không? Tao rất tiếc là phải trừng phạt mày, Dã Sơn! Tuy mày là 1 thằng bé nô lệ, nhưng tao đã đối đãi với mày như là 1 đứa bạn của con tao. Bây giờ thì mày hết được hậu đãi đó vì mày đã phạm lỗi, vì vậy tao sẽ đối xử với mày như đối xử với những tên nô lệ khác, mày sẽ phải làm việc trong mỏ sắt".

"Trong mỏ sắt", nó rùng mình sợ hãi. Trong mỏ sắt, người ta phải làm việc suốt ngày đêm, tại đó, người ta sẽ cằn cỗi và bệnh tật, ở đó, người ta sẽ chết lần mòn vì công việc nặng nhọc vất vả, đó là công việc dành cho những kẻ nô lệ.

Quay lại nhìn Mã Cử 1 lần cuối cùng bằng cái nhìn hằn học và thù hận, Dã Sơn quay bước theo viên hầu cận rời khỏi dinh Tể tướng để đi đến mỏ sắt. Tại đây, bây giờ Dã Sơn được nếm mùi lao động cực khổ từ tờ mờ sáng cho đến khi hoàng hôn, lúc này, nó mới biết thế nào là đói, khát, nóng, lạnh và ốm đau không được săn sóc. Trong hầm mỏ, người nô lệ phải quần quật làm việc như con vật, không được nói chuyện và cũng không được nghỉ tay.

Một buổi chiều, vào lúc hoàng hôn, Dã Sơn ngồi trên 1 mỏm đá cao, nhìn xuống bãi biển, chỗ nó trước đây vẫn cùng với Mã Cử thường tập dượt, chợt nó thấy hình ảnh Mã Cử hiện ra trước mắt nó, đứng yên trên bờ biển dưới chân nó, nó hét lên căm tức: "Tao ghét mày, Mã Cử! Tao sẽ không bao giờ tha thứ cho mày!". Chợt 1 giọng nói vang bên tai nó, quay lại, nó nhìn thấy 1 ông già, 1 người bạn nô lệ cùng làm việc trong hầm mỏ, đang đứng cạnh. Ông già hỏi: "Tại sao con lại đau khổ vậy?" Dã Sơn kêu to: "Tại vì mọi người chung quanh đều bạo tàn, không 1 ai tử tế với con", rồi không đợi ông già trả lời nó kể tiếp: "Con không bao giờ được dự cuộc đua nữa, chỉ vì con là 1 kẻ nô lệ, và chỉ có 1 cách để được trả tự do là thắng cuộc đua, nhưng bây giờ thì hết rồi, họ sẽ bắt con ở kiếp nô lệ mãi mãi..." Ông già dịu dàng nói: "Con nhầm rồi! Không 1 ai thực sự có thể bắt con làm nô lệ mãi mãi, nếu con muốn tự do". Dã Sơn hỏi lại: "Ông cũng là nô lệ, tại sao ông không thể tự giải phóng cho ông được?". Ông già thản nhiên trả lời: "Theo luật Hy Lạp thì ta là nô lệ, nhưng dưới luật Thượng đế ta không phải là kẻ nô lệ. Người ta có thể sai khiến và đày ải thân xác ta, nhưng không 1 ai có đủ uy quyền chế ngự được linh hồn ta, họ không thể ngăn cấm ta được yêu thương và giúp đỡ bạn bè, vì vậy ta vẫn còn tự do, cả con nữa, con cũng vậy, sự thật sẽ làm con tự do, đó là lời hứa của Thượng đế" rồi ông đặt bàn tay xương xẩu lên đầu Dã Sơn và nói tiếp: " Thượng đế sẽ che chở cho con", nói xong ông bỏ đi...

Trong những ngày kế tiếp, mỗi khi đau khổ vì tuyệt vọng với giấc mộng tự do, Dã Sơn thường nghĩ tới lời nói của ông già. "Thượng đế là ai mà ông già đã nói đến? Thượng đế sẽ làm gì để ta được tự do? Và phải làm tình thương nào để được tự do???"

Một buổi tối, Dã Sơn quyết định đi gặp ông già để nói rõ những thắc mắc trên. Nó gặp ông đang ngồi bó gối bên cửa túp lều nghèo nàn. Nó hỏi: "Con sẽ tìm thấy Thượng đế ở đâu? Làm sao con tìm được người mà ông đã nói với con?". Ông già đáp: "Con có thể tìm thấy Thượng đế ngay trong tim của con. Nhưng trước hết con phải học yêu thương bạn con đã". Dã Sơn quay bỏ về, nó rối trí và không thỏa mãn với lời giải thích của ông già. Ông già đã có ý định gì khi khuyên nó trước hết phải  học yêu thương bạn đã, phải chăng ông muốn khuyên nó hãy yêu thương Mã Cử. "Không! Không! Không đời nào, ta không bao giờ có thể yêu được Mã Cử". Dần dần, nó bắt đầu nghĩ đến những người nô lệ chung quanh cũng làm việc chung trong hầm mỏ với nó và bắt đầu nhận thấy họ cũng là người như nó, cũng đau khổ, cũng hy vọng, sợ hãi va mong được trả tự do như nó. Rồi nó nghĩ tới lời khuyên của ông già và thầm phục cho là đúng, vì người nô lệ có thể sẽ vui vẻ hơn nếu họ biết thương yêu nhau, giúp đỡ và săn sóc lẫn nhau. Ngày tháng dần trôi, một hôm Dã Sơn chợt nhớ tới ông già, nó được biết là ông đang ốm. Sau khi làm xong công việc, nó vội vã chạy đến túp lều để thăm và săn sóc ông bằng cách đi múc nước hộ ông ở 1 con suối gần đó. Ông già an ủi nó: "Thượng đế sẽ giúp con!".

"Làm sao ta tìm thấy Thượng đế? Và khi nào Thượng đế mới giúp ta?" nó tự hỏi khi trèo lên một mỏm đá cao bên bờ biển. Ngồi trên mỏm đá, mắt nó nhìn xuống mặt biển mênh mông, tưởng tượng tới 1 con thuyền sẽ đưa Mã Cử tới vận động trường để dự cuộc đua. Sau cuộc đua, Mã Cử sẽ quay trở về với vòng hoa chiến thắng trên cổ và vương miện sáng chói trên đầu. Dã Sơn buồn rầu nghĩ: "Vương miện của ta". Nhìn xuống bãi biển, thấy Mã Cử đang chạy dọc theo bờ biển, nó nghĩ thầm: "Tao ghét mày!" nhưng chợt nó ngừng ngay ý nghĩ thù hằn đó lại và nghĩ tới lời khuyên của ông già: "Con phải học yêu thương bạn con đã". nó tự nhủ: "Ta phải cố quên để không còn thù ghét Mã Cử nữa".
 

Nó lặng ngắm nhìn Mã Cử đang chạy ngược, chạy xuôi bên bãi biển rồi Mã Cử phóng mình xuống mặt biển. Sau 1 lúc, nó thấy Mã Cử đang bơi quay trở vào bờ, hơi có vẻ khó nhọc. Rồi nó nghe thấy tiếng Mã Cử kêu cầu cứu ở dưới biển. Dã Sơn ngập ngừng giây lát, nó phải làm gì bây giờ? Mã Cử đã làm nó mất dịp may trong cuộc đua, nhưng giờ đây nó đang cầu cứu. Mã Cử đã đánh mất chiến thắng của nó, nhưng giờ đây đang cần sự giúp đỡ của nó. Rồi nó nghĩ đến lời dạy của ông già. Bỗng nhiên nó bật đứng dậy, chạy lao mình xuống bãi biển. Nó thấy Mã Cử đang cố gắng vật lộn với sóng dữ. Nó kêu to: "Mã Cử! Mã Cử! Có tao đến cứu mày đây". Rồi nó phóng mình xuống nước, bơi về phía Mã Cử, nắm lấy thằng bé, nâng đầu nó lên khỏi mặt nước và dìu nó bơi vào bờ. Tay nó đã mỏi rã rời, nó nghĩ không đủ sức dìu được Mã Cử vào bờ vì sóng to luôn luôn xô chúng dạt ra xa bờ. Thốt nhiên nó kêu to: "Thượng đế! Xin Thượng đế hãy cứu chúng con!" Sau cùng nó cũng dìu được bạn vào bờ, rồi tay buông hẳn ra, cả hai ngã vật xuống bãi biển và thiếp đi. Dã Sơn mơ hồ nghe thấy tiếng người reo bên tai nó: "Dã Sơn, thằng bé nô lệ đã cứu được công tử con quan Tể tướng, hoan hô Dã Sơn!" Dã Sơn quay về phía Mã Cử, thằng bé hãy còn nhắm nghiền mắt. Nó hỏi 1 người đang cúi xuống bên Mã Cử: "Nó còn sống không?" Người đó trả lời: "Còn sống". Bất giác nó buột miệng reo: "Tôi thật vui mừng". Đám đông bao quanh hai đứa bé chợt giãn ra khi 1 bọn lính xuất hiện với gươm giáo trên tay, một người hô to: "Tể tướng đến!". Dã Sơn cố chống gối đứng dậy. Tể tướng quỳ xuống bên cạnh đứa con, hỏi bằng 1 giọng trìu mến: "Con được bình an chứ, Mã Cử?".

Mã Cử mở mắt trả lời yếu ớt: "Dã Sơn đã cứu con". Tể tướng nhắc lại: "Dã Sơn!" rồi quay về thằng bé nô lệ ông hỏi: "Mày đã cứu Mã Cử. Tại sao vậy?". Dã Sơn đáp: "Tôi không thể nào giải thích nổi", thật vậy, làm sao nó giải thích nổi sở dĩ nó đã cứu Mã Cử chỉ vì nó yêu hắn. Làm sao nó có thể cắt nghĩa được rằng nó đã cầu nguyện Thượng đế giúp nó tìm thấy tình thương yêu mọi người. Lúc này Mã Cử đã ngồi dậy và chìa tay về phía Dã Sơn, nói: "Cám ơn Dã Sơn!" rồi nó trìu mến nhìn Dã Sơn. 1 lúc sau nó nói tiếp: "Chúng ta lại trở lại tình bạn xưa nhá!" Dã Sơn đáp lời nó bằng một lời hứa: "Phải! Chúng ta sẽ là bạn mãi mãi."

Tể tướng đặt tay lên vai thằng bé nô lệ và nói: "Trước kia ta đã ban cho mày 1 việc làm trái phép: ta đã để cho mày cùng tập dượt với Mã Cử khi ta thừa biết rằng chỉ những kẻ tự do mới được phép dự cuộc đua. Nhưng bây giờ ta sẽ cố gắng ban cho mày một điều hợp pháp mà mày đáng được hưởng: kể từ hôm nay, mày được hoàn toàn tự do, tự do đi chơi với con ta, và tự do dự cuộc đua."

"Tự do" Dã Sơn chỉ có thể sung sướng buột miệng reo lên 2 tiếng ngắn ngủi đó, trong tâm trí nó nghĩ rằng nó đã thực sự được tự do, không phải là chỉ riêng về thể xác mà ngay chính cả linh hồn nó cũng đã được gột rửa...

Mã Cử tiến lại nắm tay bạn và nói: "Ngày mai chúng ta sẽ lại bơi thuyền chung với nhau nhá! Mày có đến với tao không? Dã Sơn?". Dã Sơn mỉm cười nhìn bạn trả lời: "Tao sẽ đến với mày." Lúc này nó cảm thấy rằng tình thương yêu của nó đối với Mã Cử cũng như đối với mọi người khác còn ấm áp hơn là nắng ấm mà trước đây chưa bao giờ nó hề nghĩ đến.


VĂN VIỆT                           
(phỏng dịch theo truyện The Answered Prayer) 
 
 (Trích tuần báo Thiếu Nhi số 52, ra ngày 20-8-1972) 

Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2023

Người Học Trò Thông Thái

 

Ngày xưa, có 1 ông giáo già, có 7 người học trò tên là : Đích, Cần, Bửu, Phú, Long, Tân và Bình. Ông dạy họ tất cả những gì mà ông hiểu biết về đọc, viết và toán với tất cả sự tận tâm của ông. Ngoài ra ông còn cố gắng dạy họ về cách xử thế ở đời, lòng can đảm, tánh thật thà cùng trí kiên nhẫn để mong họ sau này sẽ trở thành những thanh niên hoàn toàn.

Tất cả 7 người học trò đều quý mến và kính trọng thầy. Ngày này qua ngày nọ, tháng này qua tháng kia, năm này đến năm khác, họ luôn luôn cố gắng lúc nào cũng giữ lễ độ và làm vui lòng thầy. Sau cùng, một hôm, khi họ nhận thấy là đã đủ trí khôn để trở thành 7 thanh niên đầy cương nghị, thẳng thắn và dũng cảm, họ kéo nhau đến thưa với ông thầy đáng kính:

- "Thưa thầy, nhờ ơn thầy dạy dỗ từ nhỏ, nay chúng con tự nhận thấy đã khôn lớn để có thể sẵn sàng ra đời mưu sinh được..."

- "Sẵn sàng...!", ông giáo già ngắt lời với cặp mắt ngạc nhiên, rồi nói tiếp "... ra đời để mưu sinh, há?"

- "Thưa vâng, thầy đã dạy chúng con tất cả những điều thầy biết về viết, đọc và toán..." Cần nói.

- "... Và thầy cũng đã dạy chúng con về tánh thật thà, lòng can đảm cùng trí kiên nhẫn nữa." Đích tiếp lời.

- "Do đó, nhờ công ơn thầy nay chúng con đã thành người và sẵn sàng ra đời để tự mưu sinh được." Bình kết luận.

Nghe xong, thầy gật gù trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi nói:

- "Được, chúng ta sẽ bàn lại chuyện này, nhưng trước hết ta phải làm 1 thử thách để xem các con đã thật khôn lờn chưa?"

- "Thử thách...!", Tân buột miệng hỏi lớn: "Thầy định thử thách chúng con bằng cách nào?"

Không trả lời, vị giáo già thọc sâu tay vào trong túi áo và moi ra 7 đồng tiền vàng, vừa dúi vào tay mỗi học trò 1 đồng tiền vừa nói: "Đây cầm lấy... Bình này... Long... Cần... Đích... Phú... Tân..., và Bửu này..."

- "Xin thầy tha lỗi..." Bửu nói: "Bây giờ con đã lớn, con không thể nhận tiền của thầy được."

- "Con cũng vậy..."

- "Con cũng vậy..."

Tất cả các học trò khác đều nói như thế.

- "Các con cứ giữ lấy." thầy nói: "Bây giờ với đồng tiền này các con hãy tỏ ra biết cách tiêu tiền của các con, vậy các con hãy đi mua sắm..."

- "Thật là một thử thách kỳ lạ! Và chúng con sẽ phải mua gì, thưa thầy?" Tân hỏi.

Lẳng lặng không nói 1 câu, ông thầy dắt 7 người học trò qua 1 dãy hành lang dài và chỉ họ 7 căn phòng trống rỗng rồi nói: "Các con sẽ mua bất cứ 1 vật gì có thể làm đầy phòng này theo sự suy xét riêng của các con, nhưng ta chỉ khuyên các con 1 điều: hãy cân nhắc cẩn thận..." rồi ông nhấn mạnh thêm: " ... vì vật các con mua sẽ chứng tỏ giá trị về sự hiểu biết của các con."

- "Vâng, chúng con sẽ cố gắng làm đúng theo ý thầy" 1 người trong bọn đáp. Rồi mỗi người nhận 1 đồng tiền vàng và chia tay nhau để bắt đầu bước vào cuộc đời, mỗi người theo 1 hướng đi cũng như ý định riêng biệt của mình. Họ hẹn sẽ gặp nhau vào sáng sớm ngày hôm sau với vật mua được.

- "Hà..., ta sẽ khám phá ra sự hiểu biết của đám học trò về những điều ta đã dạy chúng" thầy giáo già xoa tay nói khi đám học trò ra về hết.

Ngày hôm sau, 1 ngày đẹp trời, ánh nắng ban mai le lói chiếu qua cửa sổ, ông giáo già bắt đầu đi từng phòng để xem kết quả cuộc thử thách của mình. Trước hết ông đến phòng của Cần: "Nào xem anh đã mua được gì nào?" vừa nói thầy vừa bước vào phòng.

- "Mời thầy coi" Cần hớn hở và kiêu hãnh chỉ cho thầy đống củi khô anh vừa mua được chất ở giữa phòng: "Con đã làm đầy phòng bằng đống củi khô này, nó sẽ giúp con được ấm áp trong suốt mùa đông lạnh giá... thầy nghĩ sao về việc con đã lựa chọn, con có thông thái không?"

- "Dĩ nhiên!..." ông thầy trả lời: "Anh đã mua khéo đấy, nhưng ta nghĩ rằng anh có thể làm việc khác tốt hơn."

Đến phòng Bưu, ông hỏi: "Anh đã mua được gì?"

Bưu hí hửng đáp: "Thầy trông này..." vừa nói anh vừa mở rộng cửa mời thầy vô.

"Con đã mua 1 con gà mái mập, nó sẽ làm đầy căn phòng bằng những tiếng cục tác của nó, nó sẽ đẻ những trái trứng to và vàng, rồi những trái trứng đó sẽ trở thành 1 đàn gà con xinh xắn và con sẽ đem ra chợ bán được giá. Khi con gà mái đã già, không đẻ trứng được nữa, con sẽ làm thịt và mời tất cả bạn bè thân thích đến ăn. Hơn nữa với bộ lông mềm và mượt của nó, con sẽ làm được 1 cái nệm êm ấm để nằm suốt mùa đông... Vậy thưa thầy, việc con làm có thông thái không?"

- "Dĩ nhiên!... Bửu" thầy nói: "Anh đã khéo chọn để mua được 1 con gà mập... nhưng ta nghĩ anh có thể mua 1 vật khác khá hơn."

Rồi thầy quay ra và bước sang phòng Đích: "Còn con, con đã mua được gì?"

- "Thưa thầy..." Đích đáp: "Không có vật gì ở trên đời có giá trị bằng con bò mầu nâu này mà con đã chọn mua được. Với con bò này con sẽ có nhiều sữa để uống, còn thừa con sẽ làm bơ và phô mát để đem ra phố bán. Vậy thưa thầy, việc con đã làm có phải là thông thái không?"

- "Dĩ nhiên!... Anh đã mua khéo đấy, nhưng theo ý ta anh có thể dùng đồng tiền vào việc khác hữu ích hơn..." thầy đáp.

Tới phòng của Phú, thầy cũng hỏi như những người kia: "Anh đã lựa gì nào? Cho ta coi."

Phú vội khoe: "Thưa thầy, như thầy đã thấy, với đồng tiền thầy cho con đã mua được 1 con ngựa mầu xám thật khôn, với con ngựa này, con có thể đi du lịch đây đó, để rồi con sẽ viết thành cuốn sách kể lại những điều tai nghe mắt thấy trên dọc đường, và cuốn sách giá trị đó sẽ đem lại cho con nhiều tiền, như vậy có phải là thông thái không thầy?"

- "Dĩ nhiên!..." thầy vừa cười vừa nói: "Anh đã mua được 1 con ngựa đẹp nhưng theo ý ta anh có thể làm 1 việc khá hơn."
 

Trở lui, thầy bước sang phòng của Long, Long đã chực sẵn ở cửa chờ đợi. Trông thấy Long, thầy cất tiếng hỏi: "Nào anh, hãy dẫn ta xem anh đã mua được gì?"
 
Long tiếp lời thầy: " Thưa thầy, theo ý con thì ở trên đời này không có gì khổ hơn là đói, do đó con đã mua thức ăn chất đầy phòng, thầy hãy xem: Này... bánh mì, này phô mát, cải bắp và cả bột mì nữa... vậy thưa thầy con có phải là nhà thông thái không?"

- "Dĩ nhiên!... Anh đã biết lo xa, nhưng theo ý ta thì anh có thể mua vật khác hay hơn."

Rồi tới lượt Tân, thầy hỏi: "Còn anh, anh đã sử dụng đúng đồng tiền chưa?"

Tân đáp: "Thưa thầy, con nghĩ rằng con có thể mua được nhiều thứ để làm đầy phòng. Mới đầu con nghĩ đến việc mua 1 con chim sơn ca có thể làm ấm cúng phòng con bằng những tiếng hót thánh thót suốt ngày, rồi con nghĩ tới mua 1 bức rèm bằng vải hoa làm ấm cúng phòng bằng những mầu rực rỡ và đẹp mắt, nhưng sau cùng con nghĩ tốt hơn hết là không mua gì cả, nên con đã quyết định không tiêu đến đồng tiền thầy cho..." rồi anh mở cửa phòng chỉ ông thầy xem căn phòng trống rỗng và nói tiếp: " ... như vậy có phải con đã có quyết định sáng suốt của 1 nhà thông thái không thưa thầy?"

- "Dĩ nhiên!..." ông thầy cười đáp: "Nhưng theo ý ta thì 1 căn phòng trống rỗng cũng không hơn gì 1 cái buồng chất đầy vật vô dụng. Anh đã có 1 quyết định hay, nhưng ta nghĩ anh có thể có 1 quyết định khác sáng suốt hơn."

Rồi tới lượt Bình, người học trò cuối cùng, thầy hỏi: "Anh hãy kể và cho ta xem anh đã mua được gì với đồng tiền của ta cho."

Bình khiêm tốn đáp: "Thưa thầy, tất cả những thứ con đã mua được chỉ là 1 chiếc đèn nhỏ sơ sài này với 1 lít dầu để thắp. Hơn bao giờ hết ánh sáng của ngọn đèn này sẽ chan hòa phòng con, làm ấm cúng căn phòng trong những đêm khuya tĩnh mịch. Với ánh sáng đó con có thể tiếp tục học thêm sau khi ban ngày đã làm xong mọi việc. Để rồi về sau này con có thể dạy lại những người khác tất cả những điều gì con đã biết và đã học như thầy đã dạy chúng con..."

- "Thật là tuyệt..." Tất cả 6 người học trò đứng vây chung quanh đều đồng thanh reo lên khen ngợi.

- "Đúng, thật là tuyệt!" Ông thầy nói: "Con đã làm đầy phòng con bằng 1 vật giá trị nhất. Con thật là đủ trí sáng suốt để có thể ra đời tự lập được... Chúc con thành công... người học trò thông thái của ta..."


VĂN VIỆT                         
(Phỏng dịch theo truyện "The Wise Pupil")  

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 49, ra ngày 30-7-1972)


Thứ Ba, 27 tháng 6, 2023

Con Chó Phi Thường

 Thường người ta dựng 1 bức tượng để ghi ơn 1 vĩ nhân hay 1 vị anh hùng lịch sử, nhưng bạn có biết rằng tượng của 1 con chó đã được dựng lên trên đỉnh của 1 ngọn núi thuộc dẫy Alpes để ghi ơn nó đã cứu sống được hơn 40 người, và sau đây là câu chuyện về con chó phi thường đó...

Dẫy núi Alpes đã có từ lâu, ngay từ thuở sơ khai, những đỉnh núi cao ngất vươn ngạo nghễ giữa nền trời xanh như những tiền đồn biên giới giữa các quốc gia: Thụy Sĩ, Pháp và Ý Đại Lợi. Trên đỉnh 1 ngọn núi thuộc dẫy núi Alpes này có một tu viện cổ kính đã được dựng lên từ lâu để làm nơi tạm trú cho khách lỡ đường bởi sự hy sinh cố gắng của 1 vị thánh thiện tên là Bẹc Na (Bernard). Đã từ lâu người ta vẫn cho rằng thật là điên rồ mới có ý tưởng xây một tu viện giữa một chỗ trống trải, đầu của một ngọn gió, hơn nữa không ai có thể sống lâu dài tại nơi hoang vu băng giá này. Gác bỏ ngoài tai mọi dèm pha, chế riễu có thể làm nhụt chí, vị thánh thiện Bẹc Na Đờ Măng Tông (Bernard De Menthon) vẫn quyết tâm bắt tay thực hiện mộng ước xây dựng tu viện này để rồi hoàn thành vào năm 1962. Ông đã dựng lên tu viện với tất cả lòng thương người không bờ bến, với sự hiến dâng chuỗi đời còn lại của ông cho nhân loại. Đó là một công việc cố gắng phi thường mà 1 người thường không thể thực hiện nổi. Sau khi tu viện hoàn thành, vị thánh thiện nhân từ này không còn đơn độc nữa, ông đã có thêm một số tu sĩ khác sẵn lòng giúp sức để cùng chia sẻ những nỗi khó nhọc của cuộc đời.

Cũng tại tu viện cổ kính này, có 1 chuồng chó mà trong đó con chó Ba Ry (Barry) đã sanh ra, nó đã sống ở đây lâu rồi và nổi tiếng vì những hành động dũng cảm phi thường đã từng cứu sống được bao người lữ hành mệt mỏi, ngã gục vì kiệt sức sau khi cố gắng chống trả lại sự phũ phàng của thiên nhiên để rồi bị chôn vùi hấp hối dưới lớp tuyết phủ lạnh buốt trên con đường mòn bên triền núi của dẫy Alpes.

Ngày nay, các vị tu sĩ tại tu viện Thánh Bẹc Na còn thích nhắc lại những câu chuyện về con chó dũng cảm này. Thỉnh thoảng về buổi tối, các vị tu sĩ quây quần bên đống lửa ấm cúng giữa phòng khách, 1 vị lấy 1 quyển sách đã cũ xếp trên 1 kệ sách xuống, đó là quyển sổ nhật ký của Sư huynh Bôn (Brother Paul), rồi trịnh trọng lần giở từng trang một để đọc câu chuyện ông viết về con chó Ba Ry...
 

"Vào một sáng mùa Xuân, ngày mà Sư huynh Bôn và con chó Ba Ry mới gặp nhau lần đầu, mặc dầu trời lạnh, theo thói quen thường lệ. Sư huynh Bôn vẫn đến thăm chuồng chó của Thánh Bẹc Na, lúc đo Ba Ry chỉ mới là một con chó con lông xù, mũm mĩm và khờ khạo mới sanh ra được 3 tuần và mẹ nó giữ không cho nó chạy ra khỏi chuồng.

"Tốt, tốt" Sư huynh Bôn vừa cười vừa nói khi nhìn thấy con chó đang ngoe nguẩy vẫy đuôi, vui mừng, "Mày có thể là 1 người giúp việc đắc lực của tu viện này, ta e rằng mày sẽ cảm thấy vất vả khi sống ở đây." Ông nói tiếp rồi quỳ gối âu yếm mơn trớn con chó, nhưng chú chó nhỏ Ba Ry chạy lảng xa và đứng nhìn ông một hồi rồi quay chạy tung tăng trong sân, mồm sẽ rít tiếng kêu vui vẻ. Mở cổng hàng rào, Sư huynh Bôn bước hẳn vào trong, bế chú nhỏ Ba Ry vào lòng, nắn sờ từng bàn chân đôi cẳng và đôi tai của nó. Ông nói: "Một ngày kia, mày sẽ trở nên một con chó khôn, và tao chắc rằng chúng tao sẽ hãnh diện vì mày".

Dần dần người và chó trở nên thân thiết để rồi những năm tới cùng nhau chia sẻ bao nỗi khó khăn nguy hiểm trong những chuyến leo núi vất vả.

"Ta sẽ cố gắng tự dạy nó" Sư huynh Bôn tự nhủ khi ông bắt đầu công việc huấn luyện con Ba Ry, "Nó là một con chó khôn và sẽ hiểu biết nhanh chóng".

Mỗi ngày vị tu sĩ kiên nhẫn dắt con chó đi đến những triền núi bên cạnh cho đến khi nó thuộc đường, tiếp theo ông tập cho nó biết tránh xa những lối nguy hiểm trên những vách đá cheo leo, tránh những vực sâu thăm thẳm bên cạnh lối mòn. Rồi tới ngày ông dạy nó biết tìm theo dấu chân người, lúc này mới là bài học khó khăn đối với nó, mới đầu nó không hiểu là chủ nó muốn gì nơi nó. Sư huynh Bôn bắt nó đứng im 1 chỗ, rồi nhanh chân ông chạy nấp vào 1 sườn núi gần đó, con Ba Ry đứng ngơ ngác tìm rồi cất tiếng sủa ăng ẳng, vẫn nấp sau sườn núi ông lên tiếng gọi Ba Ry, tức thì con chó nhanh nhẹn chạy chồm về phía tiếng gọi, vừa chạy vừa đánh hơi tìm dấu chân của Sư huynh Bôn. Khi đến chỗ dấu chân mất, nó dừng lại hậm hực nhìn quanh nhưng vẫn không thấy chủ, nó ngần ngừ giây lát rồi cúi xuống, với linh tính của nó, nó bắt đầu dùng mõm và chân bới đống tuyết dưới chân nó. Sau vài giây, nó tìm thấy chủ nó nằm chôn vùi dưới lớp tuyết. "Mày thật phi thường, Ba Ry!" Sư huynh Bôn sung sướng nói khi ông co chân đứng dậy: "Mày đã làm giỏi lắm trong bước đầu". Ông khen tiếp. Bài học đó được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong những ngày kế tiếp, mỗi ngày ông mỗi trốn xa hơn, ở chỗ kín đáo hơn, nhưng lần nào con Ba Ry cũng tìm được. Kế đó, Ba Ry được huấn luyện theo dấu chân ông để tìm ra nơi ông nằm trốn dưới lớp tuyết, ông còn tập cho nó biết cách bới tìm và khi nhìn thấy thì nằm đè lên người ông, thè lưỡi liếm mặt và tay để sưởi ấm. Một hôm ông nói: "Mày đã tấn tới lắm rồi, bây giờ là lúc mày bắt tay vào việc để thực hành những bài đã học". Rồi những ngày nặng nhọc vất vả đến với Ba Ry, nó thường theo Sư huynh Bôn vào rừng để kiếm củi về đốt sưởi, lúc này là thời gian thích thú nhất của nó, nó thích nghe tiếng cười và nói của chủ cùng làm việc bên cạnh nó. Thình thoảng nó và chủ sang một làng nhỏ bên cạnh để kiếm thức ăn, đó là một vùng hẻo lánh và yên tịnh, nhưng đối với nó rất lạ lùng và huyền diệu. Những người dân làng này không còn xa lạ gì Sư huynh Bôn. Trong những ngày hè ngắn ngủi, họ thường vượt núi đến tìm ông, kẻ thì nhờ ông chỉ bảo cách giải quyết vài khó khăn, kẻ thì đến nhờ ông giúp đỡ. Ban ngày thật là vất vả đối với 1 người thánh thiện như ông, ngay cả ban tối, lúc lên giường nằm ngủ, ông còn thao thức nằm nghĩ phương cách giúp đỡ họ.

Một đêm, khi đang nằm trên giường, bỗng nhiên ông văng vẳng nghe thấy một tiếng rên mơ hồ ở xa vọng lại, ông không thể xác định được đó là tiếng gì, ngoài tiếng gió rít bên ngoài. Nhưng rồi tiếng rên mỗi lúc càng rõ thêm và dồn dập. Ông ngồi dậy trên giường, nhìn qua chiếc cửa sổ nhỏ, lúc này tuyết đã ngừng rơi, mặc dù trăng bị che khuất sau làn mây đen nhưng ông vẫn có thể nhìn thấy những đỉnh núi đứng sừng sững giữa chân trời như những người khổng lồ. Đêm thì lạnh buốt, ông vội kéo chiếc mền len quấn quanh người và nghĩ thầm: "Gió và trí tưởng tượng của ta đã đánh lừa ta" rồi ông lại nằm xuống. Bỗng nhiên, qua ánh trăng chiếu qua kẽ hở của đám mây, ông nhìn thấy thế giới lạnh buốt và trắng xóa bên ngoài, ông lẩm nhẩm cầu nguyện cho tất cả những lữ khách đáng thương đang có thể bị lạc lõng trong đêm băng giá. Chợt ông nhìn thấy một bóng đen của một con chó to lớn đang đứng ở sân.

"Ba Ry!" ông gọi to. Để như đáp lại, con chó sủa bằng những tiếng gắt và nhanh. Nghe tiếng con Ba Ry sủa, ông biết là có chuyện gì xẩy ra, linh tính của con chó như báo cho ông biết là đêm nay sẽ có một vụ cứu cấp. Vị tu sĩ thánh thiện này vội nhảy ra khỏi giường, khoác vội chiếc áo ấm và chạy ra ngoài. Con Ba Ry đã chực sẵn nơi cửa chuồng, nhanh nhẹn, ông quàng lên cổ nó một gói thức ăn và một thùng nhỏ rượu vang là hai món lúc nào cũng được sắp sẵn cho một cuộc tiếp cứu. Ông vuốt ve con chó và nói: "Tốt lắm" rồi hai người bạn thân vội chạy xuống con đường mòn dốc ven sườn núi. Lúc này thì trời quang, dưới ánh trăng Sư huynh Bôn có thể nhìn rõ con Ba Ry chạy trước dẫn đường. Trong đêm tối, ông cố lần theo dấu chân con chó in trên tuyết vì nó đi dễ dàng bằng bốn chân trên tuyết và nhanh hơn ông. Người và vật đều cảm thấy công việc này rất quan trọng vì phải cố tìm để kịp cứu cấp một lữ hành đáng thương đang hấp hối dưới lớp tuyết phủ càng sớm chừng nào hay chừng ấy.

Người lữ hành này là một người nhà quê mộc mạc xa làng đã lâu rồi, đêm nay quay trở về nhà cũ nơi bên kia sườn núi. Đã hai ngày qua, hắn cố lê đôi chân mệt mỏi và tê buốt trên mặt tuyết để lần bước với niềm vui rộn ràng trong tim vì sắp mặt được gia đình thân mến mà hắn phải cách xa từ lâu vì công việc làm ăn. Ngày đầu trôi qua êm ả, qua ngày thứ hai, về gần trưa thời tiết bỗng nhiên trở lạnh, từng đám mây đen kéo bao phủ khắp bầu trời, hắn vội dục bước. "Ta có thể đi trong lạnh nếu một lát nữa tuyết hãy rơi" Hắn nghĩ thầm, nhưng tuyết không chờ như ý hắn muốn và bắt đầu rơi phủ trắng lối đi và sườn núi, che kín thế giới khỏi tầm mắt. Người nhà quê không nhìn thấy con đường mòn trước mặt, nhưng hắn vẫn cố gắng lần mò bước đi. Cho đến khi toàn thân tê cóng, hắn đã bị lạc đường như bao nhiêu kẻ khác trước hắn. Lúc này trời đã tối, bão tuyết vẫn tiếp tục, hắn cố lần bước trong đêm tối dưới làn mưa tuyết, thực sự hắn chỉ muốn được nằm dài và nhắm mắt ngủ. Sau lời kêu cứu yếu ớt cuối cùng, hắn gục xuống bất tỉnh để rồi không còn nghe thấy tiếng gió rít bên tai, không còn cảm thấy lạnh buốt nữa, hắn đã được ngủ và là giấc ngủ của một kẻ hấp hối đang gần kề cái chết, họa may ra có ai đến cứu hắn kịp thời...

Rồi thì may mắn đã đến với hắn, sự may đem lại bởi một con chó lông xù đã đánh hơi tìm thấy nơi hắn nằm, bới tuyết lên để lộ hắn ra và nằm ủ lên hắn...
 

Dần dần hắn tỉnh lại, mở mắt hắn thấy con chó đang thè lưỡi mềm và nóng hổi liếm vào mặt lạnh buốt của hắn. "Chắc là con chó của tu viện Thánh Bẹc Na" hắn nghĩ, rồi hắn với túi thức ăn và thùng rượu nhỏ buộc nơi cổ con chó. Chờ cho hắn ăn và uống xong, con Ba ry mới quay trở lại về phía Sư huynh Bôn cách đó không xa. Vị tu sĩ đến gần chỗ hắn nằm, cởi chiếc áo choàng ra đắp cho hắn, rồi trong khi con Ba Ry chạy về tu viện kêu thêm mấy vị tu sĩ khác đến giúp sức, Sư huynh Bôn chà khắp thân thể hắn cho nóng. Một chặp sau, hắn có thể tự ngồi dậy.

"Đừng có nói" ông dịu dàng nói với hắn khi hắn định mở mồm ngỏ lời cám ơn. "Ông cần giữ sức để tĩnh dưỡng vì mới thoát chết". Rồi hắn được đưa về tu viện, bên bếp sưởi ấm cúng, thức ăn nóng và rượu nóng đang sẵn sàng đợi hắn. Sau khi ăn no và sưởi ấm, hắn lên giường nằm vùi dưới lớp chăn len êm ấm, tự nhiên hắn ứa đôi hàng giọt lệ nơi khóe mắt vì cảm động...

Sau vài ngày nghỉ ngơi dưỡng sức, hắn kiếu từ, rời tu viện để lên đường trở về nhà. Sư huynh Bôn và con chó Ba Ry đưa tiễn hắn đến bìa rừng thì dừng lại, tại đây chỉ có tuyết rơi nhẹ, 1 con đường mòn dốc lộ ra ven bìa rừng. "Bây giờ ông không còn cần sự trợ giúp của chúng tôi nữa, con đường về nhà nằm rõ ràng ngay trước mặt ông". Sư huynh Bôn nói.

"Xin ông vui lòng nhận cho món tiền nhỏ mọn này, nó tuy ít ỏi nhưng tôi dâng ông với tất cả tấm lòng thành kính tri ân của tôi" người nhà quê nói và hắn moi mấy đồng bạc trong cái ví rách cũ của hắn kính cẩn trao cho Sư huynh Bôn. Sư huynh lắc đầu từ chối và nói: "Ông hãy cất tiền đi, sự cứu giúp những người hoạn nạn là bổn phận của chúng tôi, đó là một bổn phận đã có từ lâu, từ ngày Thánh Bẹc Na còn sống. Hơn nữa ngoài tôi ra ông còn mắc nợ con chó Ba Ry này mà nó lại không biết tiêu tiền". Người nhà quê cảm động quỳ xuống để nhận phép lành của Sư huynh Bôn ban cho rồi hắn lên đường trở về quê cũ. Sư huynh Bôn và Ba Ry đứng nhìn cho đến khi bóng hắn khuất xa. Ông quay trở lại nói với Ba Ry: "Mày đã làm được 1 việc phi thường, Ba Ry!... Thôi chúng ta hãy quay trở về tu viện".

Thời gian trôi qua, vị tu sĩ đáng kính nói trên trở về già và chết, rồi có người khác đến để tiếp tục sứ mệnh của ông, nhưng chuyện con chó Ba Ry đã cứu sống hơn 40 người lâm nạn trên đỉnh núi Alpes vẫn còn được lưu truyền mãi mãi, và vẫn được nhắc tới bên đống lửa ấm cúng của tu viện. Để kết luận câu chuyện, vị tu sĩ gập quyển nhật ký lại và nói: "Giống chó Bẹc Na thật là phi thường, nhưng con chó phi thường và dũng cảm nhất vẫn là con Ba Ry".


Văn Việt                           
(Phỏng dịch theo truyện "The Great Dog BARRY"
của Alice Gale và Fleming Crew.)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 41, ra ngày 4-6-1972)

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2023

Giành Sự Sống

 

Một buổi sáng tháng 8, tại một khu rừng già Phi Châu, tôi vừa ăn xong điểm tâm một mình, liếc nhìn chung quanh thấy Văn Đạt, bạn tôi, và người mọi đen vẫn chưa ăn xong bữa ăn sáng, tôi nhíu mày khó chịu, còn An, hắn hãy còn nằm dài trên tấm nệm, không một ai trong số ba người đó có vẻ để ý đến công việc, lý do họ phải biết công việc chúng tôi phải làm trong ngày.

Chúng tôi được gửi đến khu rừng này để hoàn tất một công tác quan trọng. Văn Đạt là một chuyên viên Thủy Lâm, hắn biết rất rành về cách sống ở xứ nhiệt đới này, còn người mọi thì rất khỏe, hắn có thể vác nổi tất cả những hòm vật dụng của chúng tôi, còn tôi là một kỹ sư và là tổ trưởng, chúng tôi có nhiệm vụ phải hoàn tất công tác một cách khả quan.

Trong tuần lễ đầu, cả bốn chúng tôi đều vui vẻ làm việc chung với nhau, rồi dần dần, vì ảnh hưởng sức nóng của rừng già ở miền nhiệt đới, chúng tôi trở nên cáu kỉnh, không còn vui vẻ như trước nữa, tình bạn bè thân thiết mất dần, chúng tôi luôn hằn học và coi nhau như kẻ thù hơn là bạn, lúc này chúng tôi thường hay cãi nhau và thỉnh thoảng xảy ra vụ xung đột, sau cùng không ai buồn nói tới ai, ngoại trừ những khi cần thiết, giọng tôi trở nên gay gắt và nghiêm khắc. Đến bữa ăn, mỗi người ngồi ăn riêng một chỗ, chỉ về tối, khi màn đêm buông xuống, nằm dài trên chiếc nệm tôi mới cảm thấy thanh thản và bình tĩnh đôi chút.

Hàng tuần tôi thường liên lạc với văn phòng tôi bằng máy vô tuyến điện để báo cáo công việc, thường tôi hay mở đầu bằng câu: "Tất cả đều tốt đẹp" rồi tôi yêu cầu họ thả thêm đồ tiếp liệu và thực phẩm, kế đó tới giờ tôi phải liên lạc với cơ quan trung ương, lần này sau khi báo cáo xong kết quả công việc làm trong tuần, tôi yêu cầu họ phải gửi phi cơ đến đón chúng tôi về, công việc tuy chưa hoàn tất, nhưng tôi e rằng nếu tình trạng căng thẳng kéo dài, chỉ cần một câu nói khích đủ làm trở ngại cho công việc, đủ làm tan vỡ tình bạn bè giữa chúng tôi, nguy hiểm hơn nữa là có thể xẩy ra đổ máu.

Văn Đạt và mọi người đã ăn xong bữa điểm tâm khi thấy tôi quở trách An, An vẫn không nhúc nhích, tôi kêu hắn một lần nữa, rồi lại gần chỗ hắn nằm, tôi thấy hắn trợn tròn đôi mắt có vẻ kinh sợ tột bực, mặt xám xanh như tầu lá, nhưng vẫn bất động. Tôi ngừng lại và chăm chú nhìn vào đôi mắt hắn, môi hắn bắt đầu mấp máy như muốn nói, tôi ghé tai gần miệng hắn để cố nghe rõ, hắn thều thào nói: "Con rắn" rồi liếc mắt xuống chân ra hiệu cho tôi nhìn xuống chiếc nệm, tôi thấy một khúc tròn nổi lên dưới lần vải của chiếc nệm gần chân hắn, tôi lạnh toát cả người, máu như ngừng chạy. Tôi nhón gót quay lui trở lại vì chỉ một tiếng động nhỏ đủ làm cho con rắn mổ An. Tới chỗ Văn Đạt và người mọi, tôi thấy hai người đang kinh ngạc há hốc mồm, tôi ghé tai họ và nói thầm cho họ biết là có một con rắn đang nằm dưới chân An. Bỗng tôi sực nhớ đến điều mà chúng tôi đã học trước khi được gửi đến khu rừng này: "Hãy đốt tất cả những bụi rậm về mùa đông, chặt hạ nó xuống về mùa hạ, vì bụi rậm là nơi trú ẩn hấp dẫn của các loài vật nhỏ, chim rừng và rắn rết". Chúng tôi đã quên làm việc đó vì còn mải bận rộn cáu kỉnh và cãi lộn với nhau để đến bây giờ, kết quả là một con rắn đang nằm dưới chân An và sẵn sàng mổ chết hắn. Tôi lại nhón gót quay trở lại chỗ An, quan sát kỹ chỗ rắn nằm dưới nệm để cố đoán xem nó thuộc loại rắn gì? Tất cả chỉ có ba loại rắn độc có thể mổ chết người trong một phút. Đột nhiên người mọi nói: "Thuốc lá, khói thuốc lá có thể làm cho rắn bỏ đi". Văn Đạt và tôi giận tím người, trừng mắt nhìn hắn và chỉ muốn cho hắn vài cái bạt tai, nhưng may mắn con rắn vẫn nằm yên, tôi rón rén rời xa chỗ An, người mọi thấy tôi giận thì sợ hãi và ra hiệu bằng mắt tỏ ý hối tiếc là đã lỡ nói to, rồi với bộ mặt hớn hở, hắn bắt đầu làm điệu bộ giả vờ hút thuốc lá và thở khói ra đằng mồm, cũng bằng điệu bộ, hắn chỉ xuống đất, vẽ hình chiếc nệm, hắn khoanh tròn một lỗ nhỏ trên chiếc nệm ra dấu chỉ chúng tôi, chúng tôi hiểu là hắn muốn nói" "Chúng ta nên khoét một cái lỗ ở trên chiếc nệm, phun khói vào đó, con rắn sẽ bị sặc khói và chui ra". Có thể là người mọi đã có lý. Tôi và Văn Đạt quyết định làm theo hắn. Người mọi bắt đầu lượm những cỏ ẩm chung quanh và vun lại thành một đống rồi nhóm lửa. Văn Đạt chạy đi kiếm chiếc túi bỏ không mà chúng tôi dùng để đựng những vật dụng, chúng tôi cần một hay hai chiếc túi hứng khói mang từ đống cỏ ẩm đến chỗ chiếc nệm, rồi tôi và Văn Đạt rón rén quay trở lại chỗ An, không dám nói một lời tôi chỉ làm hiệu để cho An biết ý định của chúng tôi, An theo rõi điệu bộ của tôi để cố tìm hiểu, mắt hắn đảo lên đảo xuống theo dấu tay của tôi rồi chớp mắt rỏ vẻ đồng ý.

An biết rất rõ về rắn, hắn đã từng kể cho tôi nghe trong tuần lễ đầu, lúc chúng tôi còn thân thiện với nhau những câu chuyện về rắn. Tôi cố nhớ lại những câu chuyện của hắn để tìm cách đối phó. Tôi quan sát kỹ một lần nữa chỗ rắn nằm để tìm chỗ khoét thủng một lỗ tròn để lùa khói vào, tôi là người xưa nay không bao giờ chịu cầu nguyện thế mà hôm nay đứng trước sự nguy hiểm, đứng trước cái chết gần kề của người bạn, tự nhiên tôi đưa tay làm dấu Chúa và cầu nguyện nhẩm trong mồm. An sẽ chết nếu tôi khoét nhầm lỗ thủng quan trọng này.
 
Tôi cẩn thận và rón rén cắt tròn một lỗ ở chiếc nệm, lỗ tròn vừa đủ cho bàn tay người đút vào. Văn Đạt ra hiệu cho người mọi đem cái túi đựng đầy khói lại, tôi nhích lui lại một tí để An có thể trông thấy tay tôi, tôi ra hiệu cho An biết là khi thấy con rắn trườn ra thì lập tức phải lăn ngay xuống đất, hắn chớp mắt tỏ ý hiểu vì hắn biết rằng một khi con rắn bắt đầu trườn ra ngoài, thấy người, thì có thể là nó sẽ lại bò vào trong nệm hay sẽ mổ hắn. Tôi hướng miệng túi đựng đầy khói sát gần lỗ thủng vừa khoét và ép miệng túi lại, một ít khói tỏa ra vương quanh miệng túi, một luồng khói khác dầy đặc lùa vào lỗ thủng rồi tỏa ra ngoài do chiếc lỗ rách ở gần đầu An, khói bốc nghi ngút quanh mặt hắn, nước mắt hắn ràn rụa. Bỗng nhiên con rắn dưới nệm hơi cựa quậy, hình dạng của khúc tròn nổi trên nệm có hơi thay đổi, chúng tôi lại nấp sau một đám bụi rậm, nhưng rồi khói tan hết con rắn vẫn nằm ở trong đó. Chúng tôi rón rén bước lại bên cạnh An, tôi ra hiệu hỏi xem là có nên tiếp tục phun khói nữa không, hắn chớp mắt ra hiệu không. Tôi ước giá tôi có thể lau mặt cho An, mặt An nhễ nhại mồ hôi vì bị phun khói và phải nằm dưới nắng mặt trời, cái nắng của một xứ nhiệt đới.
 

Ta có nên bắn con rắn không? Nên lắm chứ! Tại sao ta không nghĩ ngay đến chuyện đó trước? Tôi tự hỏi như vậy trong óc, bằng cử động của tay tôi ra dấu như muốn cầm súng, ngắm và bắn con rắn, tức khắc mắt An chớp lia lịa tỏ ý không đồng ý. Tôi chợt hiểu tôi là một thằng ngu xuẩn vì tôi có biết đầu con rắn nắm chỗ nào mà bắn. Tôi không thể bắn con rắn được vậy phải làm gì để cứu An bây giờ? Cả ba chúng tôi đã ở bên cạnh An suốt sáu tiếng đồng hồ và bây giờ mặt trời đã lên cao chiếu ánh nắng gay gắt xuống chỗ An nằm, may nhờ có tấm vải lều che mưa căng trên chỗ An nằm nên tránh được một phần nào ánh nắng, nếu không thì chắc An đã bị thiêu nắng. Bỗng nhiên tôi sực nhớ lại một điều An đã kể cho tôi nghe về rắn: "Rắn là một con vật thuộc loài máu lạnh, nó sẽ không chịu được nắng nếu ở ngoài trời, do đó rắn thường ở chỗ bóng rợp, nếu ở ngoài nắng một lúc lâu độ nửa giờ, ánh nắng chiếu thẳng vào nó sẽ hun nóng nó như một thanh sắt nung lửa và nó sẽ bị chết". Với điều đó, tôi biết tôi sẽ phải làm gì để xua đuổi con rắn cứu An, tôi cũng biết rằng việc tôi sắp làm sẽ làm An đau đớn thêm, nhưng tôi vẫn phải làm vì tính mệnh của An, vì tình bằng hữu... Tôi ra hiệu cho An biết ý định của tôi. Tôi sẽ tháo chiếc vải lều ra để cho ánh nắng mặt trời rọi vào chiếc nệm, An lại ra hiệu bằng mắt tỏ ý tán thành. Bộ mặt ngơ ngác của Văn Đạt và mọi người tỏ ra là họ không hiểu ý định của tôi nhưng họ vẫn làm theo điều tôi chỉ gỡ bỏ tấm vải lều xuống. Ánh nắng gay gắt của mặt trời giữa trưa chiếu thẳng xuống người An và chiếc nệm, trông An lúc này như đã chết, đôi mắt nhắm nghiền để tránh nắng, mặt tái mét, Văn Đạt và người mọi đang lâm râm cầu nguyện. Con rắn hơi cựa quậy, tôi hy vọng rằng ánh nắng mặt trời sẽ đem lại kết quả như ý muốn, nhanh chân chúng tôi chạy lại núp bên một bụi rậm và quan sát, Văn Đạt nâng sẵn nòng súng ngang tầm mắt chờ đợi. Khúc tròn trong tấm nệm bắt đầu di động và đổi hình dạng, mới đầu thì tròn, sau nhô lên cao, rồi chuyển thành dài và thấp, kế đó nó hơi nhích về đằng trước gần phía cổ An, rồi một cái đầu sần sùi và thô kệch xuất hiện ở gần cổ An, cái đầu quay về đầu An, ngừng lại vài giây, kế đến một cái thân dài màu nâu sậm trườn ra khỏi tấm nệm, bò qua mặt An, rồi lần xuống đất bò về phía bụi rậm. Văn Đạt vội nổ súng trúng ngay đầu rắn, con rắn chết ngay lập tức, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm sung sướng chạy lại chỗ An đỡ An dậy, dìu hắn rời khỏi tấm nệm đến chỗ bóng rợp, cho hắn uống nước lạnh và đặt nằm trên võng.

An nhắm mắt ngủ thiếp đi, trong lúc An ngủ, tôi, Văn Đạt và người mọi đốn những bụi rậm chung quanh, lúc này chúng tôi đã hết hận thù nhau và đều vui vẻ sát cánh làm việc bên nhau, vừa làm vừa nói chuyện, đôi khi còn pha trò để gây hứng thú, chúng tôi đã trở lại tình bạn thân thiết như hồi tuần lễ đầu, không còn đố kỵ lẫn ganh ghét ám ảnh nữa.

Sáng hôm sau, An kể cho chúng tôi nghe: "Con rắn đã chui vào tấm nệm của An trước khi hắn đi ngủ. Khi đặt mình nằm, chạm phải con rắn, tuy kinh sợ nhưng hắn không dám động đậy vì sợ rắn mổ, hắn phải nằm im chịu trận cho đến khi tôi gọi hắn và thời gian lúc đó đối với hắn dài như hàng thế kỷ.

An từ chối không chịu nghỉ dưỡng sức thêm, hắn quả quyết là hắn đủ sức làm việc. An làm việc bên cạnh tôi cho tới tối thì chúng tôi nghỉ tay. Tôi trở về chỗ, lấy chiếc máy vô tuyến điện ra liên lạc với cơ quan của tôi. Bây giờ tôi không còn cần phi cơ đến đón chúng tôi về nữa, cả bốn chúng tôi đều muốn ở lại khu rừng này để cùng nhau vui vẻ làm việc cho đến khi hoàn tất công tác, tôi chỉ yêu cầu phi cơ chở thêm đồ tiếp tế để chúng tôi có đủ phương tiện hoàn thành sứ mạng, lần này cũng như mọi lần trước, tôi vẫn mở đầu cuộc điện đàm bằng câu: "Tất cả đều tốt đẹp" nhưng với giọng chân thành hơn phát ra tự đáy lòng.


VĂN VIỆT                   
Phỏng dịch theo truyện           
"Death waits in a sleeping bag"   
đăng trong tạp chí Reader's Digest  

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 32, ra ngày 2-4-1972)
 

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>