Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

CHƯƠNG I, II, III_SÔNG NƯỚC TIỀN GIANG


CHƯƠNG I


Trời mới sáng tinh mơ, bác Phó Từ mở cửa bước ra sân, quay nhìn tứ phía, miệng lẩm bẩm:

- Chà! Bữa nay trời mù sương dữ, chả nom thấy gì hết, như thể giòng Tiền Giang và hòn Reng không còn nữa.

Thời tiết vào cuối thu lành lạnh. Bác phó bước đi, lưng đeo chiếc túi đựng đồ nghề và một gói cơm nắm để trưa dùng bữa.

Xa xa chiếc cầu nối liền cù lao Reng sang thị xã Cao Lãnh chỉ thấy lờ mờ những khung sắt trên cao, còn phần dưới thì lẫn vào màn sương dầy đặc. Bác Từ tự hỏi không hiểu ban đêm các trụ cầu đã bị nước cuốn đi mất chăng ?

Bờ sông vắng ngắt, không một bóng người. Đi được hơn trăm thước, bác nghe như có những tiếng kêu là lạ, từ mé sông vọng lên. Xưa nay bác vẫn quen với những tiếng cò, vạc, giẽ, bìm bịp, nhưng tiếng này lại khác hẳn.

Bác lắng tai nghe kỹ. Không! Không phải là tiếng cầm thú mà hình như là tiếng… trẻ con khóc. Bác dừng chân quay gót trở lại, lần xuống mé sông để quan sát. Bỗng nhiên, trong bụi sậy, bác thấy một con đò nhỏ được cột vào bờ bằng một sợi dây.

“Lạ quá! Hình như một con đò bỏ không!”. Bác nắm dây kéo con đò vào sát bờ và trông thấy dưới đáy một bọc nhỏ.

Bác cúi xuống để nhìn cho rõ thì bỗng tiếng khóc phát ra.

- Trời ơi! Một hài nhi!

Đó là một đứa nhỏ độ 5, 6 tháng, được quấn kỹ càng. Mặt nó đỏ gay vì đã khóc từ lâu, và có lẽ nó đói.

“ Tội nghiệp, bác nói, ai đã đem mày tới đây ? ”

Bác vội bồng đứa nhỏ lên tay, ngắm nghía nó một lát rồi rảo bước về nhà.

- Mình ơi ! Coi này, anh vừa bắt được đứa nhỏ này trong chiếc đò ở mé sông!

Bác gái tỏ vẻ ngạc nhiên, giơ tay đỡ lấy đứa bé, vừa giở chăn xem vừa hỏi:

- Mình thấy nó ở đâu vậy ?

- Ở mé sông, trong một chiếc đò con.

- Đây là một bé gái. Ai lại bỏ nó như vậy ?

Bác phó Từ cầm lấy chiếc túi nói:

- Anh phải vội đi kẻo trễ giờ, mình ở nhà trong nom đứa trẻ này nhé. Cho nó ăn cháo sữa rồi chiều anh về sẽ tính.

Bác bước ra khỏi nhà, lần theo mé sông, băng qua cầu, rẽ tay mặt và đi một quãng dài nữa thì tới trang trại của Ông Hội Đồng Thái Xuân Hải, là nơi bác làm việc.

Ở đây đang xây cất một ngôi nhà thờ lộng lẫy cho nhà họ Thái, dựng trên những cột bằng gỗ lim, lớn cả người ôm, Bác phó Từ lãnh công việc chạm trổ rất công phu cho các cột này, và các xà gỗ bên trên.

Bác phó rất yêu nghề của mình, bác cảm thấy niềm vui thanh cao mỗi khi, qua những nhát đục do bàn tay khéo léo của bác điều khiển, đã xuất hiện trên mặt gỗ những hình Vân, hình Triện, hình Long, Ly, Quy, Phượng rất nghệ thuật. Bác tự hào nghĩ rằng một phần ngôi nhà thờ này là công trình kiến tạo của bác, và một ngày kia, khi bác đã nằm ngủ yên dưới lòng đất, những hình chạm trổ kia hãy còn sống mãi mãi.

Nhưng bữa nay bác không chăm chú lắm vào công việc. Đầu óc bác còn đang bận suy nghĩ nên mấy lần, bác đập búa trúng ngón tay.

“ Đứa nhỏ này là con cái nhà ai ? ” Bác tự hỏi đi hỏi lại, “ Và tại sao người ta lại bỏ nó cách nhà mình chừng một trăm thước mà thôi ? Chung quanh chỗ đó chẳng có nhà ai khác, vậy bàn tay vô danh nào đã cột con đò ở đó là vô tình hay hữu ý ? ”

Trong khi các bạn khác vừa làm việc vừa cười nói vui vẻ, riêng bác Từ vẫn trầm ngâm suy nghĩ để tìm câu giải đáp điều thắc mắc.

Cuối cùng bác tự nhủ : “ Thôi ! Rồi ta sẽ tính. Biết đâu giờ này người cha hay người mẹ đứa bé đã chẳng thấy hối hận và đã trở lại mang nó về rồi, Chuyện này cũng thường xảy ra lắm ”

Xế chiều, khi mãn giờ làm việc, bác đi thẳng một mạch về nhà. Sau khi qua cầu và lần theo mé sông, bác thấy con đò vẫn buộc nguyên chỗ cũ. Vậy là không có ai đến cả.

Tới nhà, bác vừa đẩy cửa bước vào vừa hỏi :

- Thế nào mình ?

Bác Từ gái chỉ đứa nhỏ đang nằm ngủ trong chiếc nôi cũ, đáp :

- Em đã xem kỹ các tã lót của con nhỏ, tất cả đều bằng vải xấu, duy có một chiếc này là trắng đẹp mà thôi. Giữa hai lượt chăn, em thấy mảnh giấy này, mình thử đọc xem.

Bác phó Từ cầm mảnh giấy đọc : “ Thủy ”.

Bác Từ gái lập lại “ Thủy ”, tên nghe cũng hay đấy chứ !

Bác Từ quay lại hỏi vợ :

- Bây giờ, chúng ta phải làm gì ? Đứa nhỏ này đã bỏ ở gần nhà ta đó.

Bác gái cúi đầu đáp :

- Em thấy cũng tội nghiệp, mình ạ, nhưng vấn đề này cũng hơi khó giải quyết, vì nhà ta đã có hai đứa con gái rồi, và mai mốt có lẽ trời còn cho thêm con khác.

- Tuy nhiên…

- Em thấy bên kia sông, các bà phước dòng “ Mến Thánh giá ” vẫn nuôi những đứa trẻ vô thừa nhận. Mấy tháng trước đây cũng có vài đứa được mang tới.

- Đúng vậy, những đứa trẻ ấy đã được mang tới trại của các bà phước, nhưng đứa này thì lại được bỏ ở gần nhà ta. Như vậy là người ta đã chủ ý mang tới cù lao này đấy chứ.

- Nhưng trại mồ côi còn có nhiều phương tiện hơn nhà mình.

- Đành rằng vậy, nhưng ta có phận sự…

- Vâng, ta có phận sự nuôi các con ruột của ta trước hết đã.

Bác phó Từ lặng thinh không đáp, bác và nốt mấy miếng cơm, rồi bỏ đũa bát tiến ra cái nôi. Lúc ấy, con Hồng và con Hương là hai đứa con gái chừng 3 – 4 tuổi cúa bác, đang đứng cạnh chiếc nôi để xem đứa bé.

Bác gọi nho nhỏ : “ Thủy, Thủy ! ”

Đứa nhỏ nhìn bác, như hiểu tên gọi của nó, rồi một nụ cười nở thoáng trên khuôn mặt bầu bĩnh.

“ Mai ta sẽ bàn chuyện này với ông Trưởng, để xem ý kiến ông ra sao ”

Bác làm đúng như ý định. Sáng hôm sau, khi tới trang trại, bác kiếm ngay ông Trưởng, một vị bô lão mà ai cũng kính nể, và kể lại đầu đuôi câu chuyện. Ông trưởng đáp :

- Ta hiểu vấn đề này rồi. Ta biết rõ anh lắm, anh là người thực thà tốt bụng. Anh yêu nghề nghiệp, thương vợ con. Chắc không phải ngẫu nhiên chiếc đò đã tới đậu ở đó. Anh nên tin ta, chiếc đò được buộc gần nhà anh tức là người ta đã chọn nơi anh để gởi gấm đứa nhỏ. Vậy anh nên giữ lấy nó mà nuôi. Thêm bận rộn lo lắng thật đấy, nhưng lương tâm anh sẽ được yên ổn, anh sẽ làm được một điều phúc đức.

- Nhưng vợ tôi…

- Ừ, vợ anh có lẽ cũng như những phụ nữ khác. Chị ấy tưởng chỉ có thể thương yêu những đứa con ruột của mình mà thôi. Nhưng ta chắc rằng chẳng sớm thì muộn, thế nào chị ấy cũng bị chinh phục bởi nụ cười ngây thơ của con nhỏ.

Như trút được nỗi băn khoăn, bác Từ vui vẻ bắt tay vào công việc. Buổi chiều khi về tới nhà, bác đi thẳng tới chiếc nôi, bồng con nhỏ trên tay và tuyên bố với vợ:

- Từ nay con nhỏ này là con của chúng ta.

Và bác đặt tên nó là Hà Thu Thủy.



CHƯƠNG II



Thủy đã lớn lên, nhưng lời tiên tri của ông Trưởng không thành sự thực. Vì sự phục tòng, bác Từ gái chịu nuôi con nhỏ, nhưng bác không thể nào coi nó như con ruột. Và hai năm sau, khi Đào một đứa bé gái ra đời, thì Thủy lại càng bị coi như một kẻ xa lạ. Bốn đứa con gái ! Nhiều quá... một đứa là thừa… và sẽ là thừa mãi mãi.

Thủy nhận thấy trong gia đình, chỗ đứng của nó nhỏ bé hơn của ba đứa con kia. Nó trở thành lầm lỳ, ít nói ít cười, ánh mắt nó đanh lại. Lớn lên, tính nết nó thành kỳ quặc, khùng khùng, có khi thành tàn nhẫn nữa. Tuy nhiên, một người vẫn thương yêu nó hết mực: bác phó Từ. Đối với cha, Thủy tỏ ra rất ngoan ngoãn, dịu dàng, nghịch ngợm, ranh mãnh, nhưng khổ nỗi bác không mấy khi có nhà. Hằng ngày, bác phải đi làm từ lúc tờ mờ sáng, chiều tối mới về vào lúc mặt trời đang lặn xuống giòng Tiền Giang.

Lâu dần, con nhỏ thành thói quen, cứ sáng ra là đi khỏi nhà, bữa ăn mới trở về, còn suốt ngày chỉ sống lang thang ngoài đảo nằm lăn trên bãi cỏ, hoặc lấy củi khô chất thành đống rồi nhóm lửa đốt chơi. Những khi trời nóng bức, nước cạn, nó xuống sông lội bì bõm. Rồi lâu dần nó biết bơi lặn như những con nhà thuyền chài. Có lần nước to nó suýt bị chết đuối. Những người thuyền chài vớt được nó cách xa đấy hàng trăm cây số trong khi nó đang bám vào một cành cây và kêu la thất thanh.

- Con điên ! Đúng là con điên ! Bác Từ gái than vãn. À, bây giờ ta mới hiểu vì sao người ta đã bỏ rơi nó. Chắc là mẹ nó cũng loạn óc như nó chớ gì.

Không, không phải ! Đầu óc Thủy không trống rỗng. Trái lại, trong đó biết bao những ý nghĩ, biết bao những giấc mơ đã trôi qua lẫn với những đám mây ảm đạm đượm nỗi u sầu.

Lúc chiều tà, khi bác Từ ở trong trại về, nó đến ngồi bên cạnh để thủ thỉ nói chuyện. Cái trang trại tường vôi trắng xóa mà hàng ngày nó ngồi ngắm từ bên này sông, kích thích óc tò mò của nó.

- Ba ơi ! Nó thở dài nói: Ước gì ngày nào con được vào trang trại ấy xem thì thích quá !

- Trong ấy nhiều chó dữ lắm, con vào làm sao được.

- Nhưng hằng ngày ba vẫn vào mà.

- Ba khác, ba vào làm việc chứ có phải vào chơi đâu.

- Con cũng muốn được xem ông Hội Đồng thế nào.

- Ít khi ông ở nhà, ông thường đi Lái Thiêu để trong nom xưởng kỹ nghệ của ông.

- À, xưởng Lái Thiêu ! Ba thường nói chuyện với con, có phải đẹp lắm không ba?

- Ừ, người ta nói đẹp lắm, nhưng chính mắt ba cũng chưa được trông thấy ra sao.

- Có xa không ba?

- Ngót hai trăm cây số.

- Xa quá ba nhỉ.

Hơn một năm sau, công tác xây nhà thờ đã hoàn tất. Nay bác Từ phải lo công việc đóng các đồ thờ bằng gỗ quý rồi khảm xà cừ. Ngoài ra, còn phải thiết lập một vườn kiểng thật công phu với mọi thứ cây lạ. Công việc phải kéo dài trong nhiều năm.

Bây giờ Thủy đã 12 tuổi. Nó lớn hơn những đứa trẻ khác cùng lứa tuổi, nhưng khổ người mảnh mai như những cây lau tha thướt bên bờ nước. Cù lao Reng đã thành chật hẹp đối với lòng khao khát của nó. Càng lớn nó càng man rợ thêm, cả ngày sống ngoài đồng ruộng, đến tối mới về nhà cùng lúc với bác phó Từ. Rồi nó quen đến tận cổng trang trại để đón bác.

- Thủy, bác Từ la nó, ba đã dặn con không được tới thị xã lúc chiều tối kia mà. Thế con không sợ mẹ mìn sao ?

Thủy cười giòn tan. Nó chẳng sợ mẹ mìn, vì ai thèm bắt cóc một đứa con gái xấu xí như nó. Ở nhà ai cũng chê nó xấu. Để chọc tức nó, biết bao lần các chị nó đã chế riễu mớ tóc rối như tổ quạ và bộ quần áo lam lũ của nó.

Bác phó Từ dắt tay Thủy lững thững đi về. Đây là giờ phút êm đềm nhất trong ngày của con nhỏ. Để kéo dài thêm giờ phút ấy, nó đã dùng đến nhiều mưu mẹo.

Nó tìm cớ này cớ khác để ba Từ phải dừng lại. Một hôm, đứng trên cầu nó chỉ cho ba Từ coi bãi cát đỏ rực dưới ánh mặt trời lặn; một lần khác, những người thuyền chài đang cắm thuyền bên bờ sông để thổi nấu và ngủ đêm, một lần khác nữa, những làn sóng nhấp nhô vẽ lên mặt sông muôn nghìn hình ảnh linh động và rực rỡ. Có lần nó còn kéo bác Từ xuống tận mé sông để coi một tổ chim giẽ.

Hai cha con về tới nhà thì trời đã tối mịt. Con Hồng và con Hương thấy vậy rất ghen tức, nhưng vì có mặt bác Từ, chúng nó không dám nói năng gì cả. Đến khi cơm xong, vào phòng đi ngủ, chúng mới hành con nhỏ.

Vì vậy mà việc gì phải đến đã đến. Một buổi chiều kia, bác phó Từ mang về một cái băng đỏ lượm được ở sân trang trại và bác cho con Thủy để nó cột tóc. Không ngờ một tặng vật nhỏ như thế lại sinh ra to chuyện. Con Hồng con Hương và cả con bé Đào nữa đều sôi lòng ghen tức. Vào tới phòng, chúng vội tấn công Thủy:

- Phải, mày cần cái băng đỏ để trưng cho đẹp, nhưng còn khuya. Mà cái băng đó cũng chẳng đáng ba xu.

- Các chị đã ghen ghét với tôi, vì ba đã cho tôi, phải không ?

- Ai thèm ghen ghét? Có liệng đi chúng tao cũng chẳng thèm nhặt. Mà sao từ sáng đến tối, lúc nào mày cũng nói ba Từ kể chuyện này, ba Từ kể chuyện kia vậy ? Ba là ba Từ của chúng tao, chớ đâu phải ba của mày?”

Đứng bật dậy trên giường, Thủy nắm chặt hai tay hỏi:

- Các chị nói chi ?

- Rằng mày không phải là chị em ruột thịt gì với chúng tao cả. Mười hai năm trước đây, người ta lượm được mày ở chiếc đò ngoài ven sông kia kìa. Thế mày không biết chuyện sao ?

Các chị nó biết chuyện này cũng chưa được bao lâu. Hai tháng trước đây, một hôm trong cơn nóng giận, bác Từ gái đã kể hết điều bí mật đó cho mấy đứa con nghe và dặn chúng không được nói lại với ai nhất là với Thủy.

“ Chuyện bịa, chuyện bịa ”, Thủy gân cổ cãi lại.

Con nhỏ thét lên nỗi tức giận của nó, nhưng các chị nó nói xa nói gần rằng nó chẳng giống ba, chẳng giống má, và chẳng giống chị em nào khác trong gia đình này cả.

Không chịu nổi nữa, Thủy òa lên khóc.

Nó khóc thút thít suốt đêm, bên cạnh bé Đào nằm cùng giường với nó.

“ Ta là đứa con bị bỏ rơi, nó vừa khóc vừa nhắc lại, không! Nhất định không phải thế, chắc vì ác ý mà họ nói vậy”.

Tuy nhiên, hình như một tiếng nói nhè nhẹ vang lên trong đầu nó bảo với nó rằng lần này các chị nó không nói dối. Nó nhớ lại cả ngàn chi tiết. Đúng là nó chẳng giống Hồng, Hương, Đào từ con mắt, cái mũi, cái miệng, đến cả tính nết và sở thích nữa.

Đêm đó, nó không thể nào chợp mắt được. Khi trời mới tảng sáng, nó chùi hai con mắt đỏ ngầu vì nước mắt và rón rén trở dậy. Các chị nó vẫn còn ngủ. Xuống tới bếp, nó trông thấy trên bàn một chiếc đĩa không và biết rằng ba Từ đã mang gói cơm nắm đi làm rồi. Nó vội chạy theo, hy vọng đuổi kịp bác. Như một con điên, nó băng qua cầu, hai chân dẫm đất bị xây xát vì những hòn đá nhọn trên mặt đường. Tới trang trại nó thấy cổng đóng kín, nó ghé mắt nhìn vào trong, những con chó lớn thấy bóng người vội chạy ra sủa um sùm. Sợ quá, nó vội bước lùi lại, đứng nhìn thêm một lúc rồi đành lủi thủi bước đi, lần theo mấy con đường thị xã. Đi chán, nó thấy đầu nhức nhối vì cả đêm trước không ngủ, dạ dầy thì trống rỗng. Thất tha thất thểu, nó lên cầu để trở về, thỉnh thoảng phải dừng lại tựa vào lan can để nghỉ cho đỡ mệt. Về tới khu đồng ruộng trên đảo, nó vấp phải một rễ cây và ngã lăn xuống đất. Đau quá, nó ngồi dậy không nổi và cứ nằm thiêm thiếp một chỗ. Mặt trời vẫn cứ từ từ di chuyển từ Đông sang Tây và sắp lặn xuống lòng sông. Thủy hồi tỉnh lại và dần dần mở mắt ra, nhưng nó không buồn đứng dậy để về nhà.

Rồi những ánh sao đã lấp lánh trên nền trời trong khi các ngọn đèn điện bên thị xã cũng lần lượt bật lên.

“ Giờ này chắc ba Từ đã về ”, nó nghĩ vậy, nhưng nó vẫn không ngồi dậy, đầu óc nó chìm trong một trạng thái gần như ngủ.

Lúc gần khuya, bác Từ tay cầm một bó đuốc đã tìm thấy nó. Thủy vội chạy ra ôm lấy bác khóc nức nở và kể lể cho bác nghe câu chuyện xảy ra tối hôm qua.

Bác phó giận vợ con lắm, vì đã không kín mồm kín miệng, và bác vỗ về an ủi Thủy :

- Con biết rằng ba vẫn thương con và ba không bao giờ phân biệt giữa bốn đứa cả. Thế con chưa bao giờ đoán biết tất cả chỗ đứng mà con đã chiếm trong lòng ba hay sao ? Thủy ơi ! Tại sao người ta nỡ làm cho con đau khổ như vậy ? Nhưng ba nghĩ rằng có lẽ con nên biết rõ sự bí mật ấy thì hơn. Như vậy, nếp sống của con trong gia đình này sẽ dễ dàng hơn. Thôi, Thủy con, lau nước mắt đi và con nên cố quên sự đau khổ này !

Nói xong, bác phó kéo Thủy đi về.



CHƯƠNG III


Bác phó Từ đã nói đúng. Khi đã biết rõ điều bí mật về đời mình, Thủy thấy dễ thông cảm hơn với bác Từ gái và các chị nó, đồng thời dễ chấp thuận rằng nó không thể có đầy đủ các quyền lợi như các chị nó. Nhưng, ngược lại, mái nhà này đã không thấy nó ra chào đời thì đối với nó đã trở thành xa lạ. Và khi cảm thấy mình xa lạ trên một mảnh đất nào, người ta không còn thấy gì lưu luyến và muốn rời bỏ nó không sớm thì muộn. Hằng ngày, Thủy vẫn sống lang thang ngoài đảo, nhưng nhiều khi nó đứng trên cầu nhìn xuống dòng sông chảy cuồn cuộn, những chiếc ghe mành lướt qua, thì nó trút ra những tiếng thở dài não ruột. Đau khổ những ngày đầu, nay nó cảm thấy cay đắng và ác cảm với tất cả mọi người.

“ Ta đương trở thành tàn nhẫn, nó tự nghĩ với lòng hối hận, nhưng ta không cưỡng lại nổi. ”

Và, để vơi bớt nỗi hận đời, nó chạy như điên qua những bụi lau, ruộng cỏ trên đảo, hoặc nó nhẩy xuống nước mà bơi rất hăng say cho đến khi mệt nhoài, nó trở lên bờ nằm soài ra trên một phiến đá dưới ánh mặt trời.

Nhiều khi nó leo vào ngồi trong chiếc đò con đã mang nó tới chốn này từ mười hai năm trước. Chiếc đò tuy mỏng manh nhưng vẫn còn chắc chắn vì hằng năm bác phó Từ vẫn kéo lên bờ để sơn phết lại dưới đáy cho khỏi mục. Một hôm Thủy tự nghĩ :

“ Có lẽ con đò này vẫn đợi ta để một ngày nào đó sẽ đưa ta đi nơi khác ?”

Điều khám phá này dần dần biến thành một sự thật. Con đò này đang đợi nó, và nó chỉ nghĩ đến chuyện đi, đi thật xa.

Một buổi chiều kia, nó đang phơi củi cùng với má và các chị. Thừa lúc không ai để ý, nó lẩn ra mé sông. Con đò vẫn ngoan ngoãn nằm nguyên chỗ cũ, cột vào một chiếc cọc trên bờ như một con dê non Thủy tự nghĩ: “ Đúng là nó đang đợi ta ”.

Tuy nhiên, trước khi bước xuống đò, nó còn đứng rất lâu về phía trang trại, nơi ba nó đang làm việc..

Sau một lúc do dự, nó nhất quyết tháo dây buộc ra, nhẩy xuống đò và đẩy ra xa. Mấy hôm trước vì mưa nhiều, nước sông chảy cuồn cuộn, làm ngập kín hết bãi cát và như vuốt ve mớ tóc dài của những cây lau trên bờ sông. Thuận đà, con đò cứ việc trôi theo dòng nước, nhờ Thủy biết cách điều khiển. Khi đã vượt qua mũi hòn đảo, con đò tiến vào dòng sông rộng. Chẳng mấy chốc, chiếc cầu Cao lãnh chỉ còn thấy nhỏ tí ở thật xa, như một mảnh vải căng lên nền trời.

Lúc đó, Thủy có một cảm giác lạ lùng, vừa ân hận vừa thích thú. Nó sẽ trôi về nơi đâu? Nó nghĩ đến ba Từ và trái tim nó thắt lại. Trễ quá rồi, chiếc đò cứ phải trôi xuôi dòng nước, nó không thể kháng lại được.

Nó đi được bao xa rồi? Có lẽ đến năm bảy cây số. Trời lúc đó đã gần tối, nước sông đã xuống màu. Bổng nhiên, khi đến một khúc quanh, chiếc đò bị luồng nước chảy xiết đưa tấp vào bờ. Thủy cố sức lái ra nhưng vô hiệu. Sau khi đụng vào bãi cát, chiếc đò bị mắc cạn trên bờ. Thủy vội nhảy xuống nước rồi vận hết sức bình sinh đẩy con đò ra nhưng không nổi. Nó bèn leo lên một mô đất cao để quan sát tứ phía. Chẳng thấy một mái nhà hay một bóng người nào cả, mà chỉ toàn là ruộng lúa và rừng cây. Ở thật xa, trong bóng hoàng hôn, nó nhận ra lờ mờ chiếc cầu và những mái nhà của thị xã Cao lãnh. Lúc đó chẳng có một con thuyền nào trên mặt sông để nó cầu cứu.

“ Đành vậy, nó tự nghĩ, ta ngủ đây đêm nay, rồi sáng mai sẽ kiếm người đẩy giúp chiếc đò cũng được. ”

Thủy đứng say sưa thưởng thức cảnh trời nước mênh mông trong buổi hoàng hôn. Ở phía chân trời, mây tím đã kéo lên và chạy dài như một giải Trường Sơn. Giữa cảnh vật đìu hiu hoang vắng, Thủy cảm thấy một nổi buồn man mác xâm chiếm tâm hồn của một kẻ lữ thứ không nhà, mà cảnh ngộ thật đúng với hai câu thơ của nữ sĩ Thanh Quan :

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.


Đứng một lúc lâu, Thủy trở xuống đò. Thấy trong người mệt mỏi, nó ngã lưng nằm xuống, rút ra khúc bánh mì đã mang theo để nhấm nháp. Trên nền trời xanh thẳm, các vì sao nối tiếp nhau hiện lên. Nó thấy hình như ở đây trời nhiều sao hơn ở cù lao Reng.

“ Ta đã đi xa quá rồi, nó tự nghĩ, và mai đây ta lại càng đi xa hơn nữa. ”

Vừa ngây ngất vừa mệt mỏi, nó ngủ thiếp đi lúc nào không biết, hai tay kê dưới đầu làm gối. Nó mơ thấy cảnh vật cù lao Reng và căn nhà cũ hiện ra trước mắt. Tai nó nghe thấy tiếng ba Từ gọi thống thiết và khuyên lơn nó trở về. Nó vừa khóc vừa nói : “ Thưa ba, con muốn lắm, nhưng con không làm sao được, vì dòng sông vẫn chảy về xuôi. ”

Sáng ra, khi mặt trời đã lên cao, nó mới bừng tỉnh dậy. Nó ngồi lên, dụi mắt, vươn vai như một con mèo xinh xinh sau giấc ngủ trưa.

Nó tính kéo chiếc đò xuống nước. Nhưng ban đêm, nước đã xuống hơn một tấc, nên chiếc đò bây giờ đã cắn chặt vào bãi cát. Kéo mãi không được, nó đi kiếm mấy viên đá tròn, luồn dưới đáy con đò để kéo như nó vẫn thường thấy những bác lái thuyền thường làm mỗi khi bị mắc cạn. Đang loay hoay bỗng nhiên nó dừng tay vì hình như nó nghe thấy tiếng người kêu cứu từ dưới sông vọng lên. Nó vội trèo lên mô đất cao để nhìn qua hàng cau, thì nó thấy một người đang chới với dưới nước cách đó vài chục thước:

- Chết chưa ! Một người té sông sắp bị nguy !

Không do dự, nó vội chạy ra nhảy bổ xuống nước, rồi bơi hết sức nhanh để cứu người đó. Khi còn cách nạn nhân vài thước, nó lặn xuống sâu rồi độ 15 giây sau nó nhô lên ở phía sau người đó. Nó dùng một tay bơi còn một tay thò ra đỡ lấy cầm nạn nhân cho ngã người ra sau để mặt nổi lên khỏi mặt nước mà thở.

Lúc đó nạn nhân như đã kiệt sức và hơi mê man, hai tay buông xuôi để mặc cho số mạng. Nạn nhân nặng cân hơn Thủy khá nhiều nên việc cứu cấp rất chật vật. Để giữ cho mặt nạn nhân luôn luôn nổi trên mặt nước, Thủy phải bơi chìm đầu dưới nước, thỉnh thoảng mới ngoi lên để thở một hơi dài. Sau mười lăm phút phấn đấu với dòng nước chảy xiết, Thủy đã dìu được nạn nhân vào bờ.

Vừa kiệt sức vừa mất tinh thần, người lạ mặt nằm nhắm mắt thiêm thiếp, ngực vẫn thoi thóp thở. Thủy nhận thấy đó là một thanh niên trạc 17 – 18 tuổi, trông ra vẻ một thư sinh con nhà lịch sự. Việc cứu cấp đã xong xuôi, Thủy cảm thấy bẽn lẽn muốn bỏ đi nơi khác. Nhưng thấy người lạ mặt chưa hồi tỉnh nên nó đành phải lưu lại thêm ít phút xem sao. Nó ngồi tựa vào một gốc cây cách đó vài thước để vừa nghỉ ngơi vừa canh chừng nạn nhân.

Sau một lúc lâu, nhờ có ánh mặt trời ấm áp, người đó tỉnh lại, từ từ ngồi lên trông thấy Thủy vội hỏi nho nhỏ :

- Có phải…cô bé đã cứu tôi? Bữa nay nếu không có cô bé, chắc tôi đã bị chìm sâu dưới đáy dòng Tiền Giang.

Thấy Thủy ngồi co ro dưới bóng cây, thanh niên vội nói :

- Cô bé ra đây ngồi dưới ánh nắng cho đỡ lạnh và quần áo mau khô.

Sau khi ngần ngừ một lát, Thủy làm theo.

- Ban nãy – thanh niên giải thích – tôi trèo lên cái cầu nhỏ đằng kia của những người thả vó, định ngồi câu. Chẳng may một tấm ván mục gẫy bất thần nên tôi bị rơi xuống sông và dòng nước đã cuốn tôi đi. Vì bơi rất kém nên tôi hoảng sợ, chân tay rối loạn, bơi vào bờ không nổi.

Rồi nhìn Thủy, thanh niên hỏi :

- Cô bé là ai mà lội hay quá vậy? Người ta đồn rằng con gái ở vùng này nhát nước lắm kia mà !

- Nước Tiền Giang là bạn rất thân của tôi. Thủy đáp.

- Tên cô bé là gì ? Bao nhiêu tuổi ?

- Tôi là Thủy, 12 tuổi

- Cô tên Thủy, thảo nào cô bơi giỏi là phải, “ Hậu sinh khả úy ”.

- Cậu nói gì tôi không hiểu ?

- Tôi muốn nói rằng cô còn nhỏ tuổi mà đã làm được một việc phi thường.

- Tôi thấy chẳng có gì đáng kể.

- Có chứ, phi thường lắm chứ. Thử hỏi ở địa vị tôi mà thấy ai té sông thì tôi làm được trò trống gì, hay chỉ đứng ngó hoặc quá lắm là kêu người ta đến cứu mà thôi? Thật là vô tích sự.

- Chắc cậu không năng tập luyện.

- Vâng đúng. Có một điều làm tôi thắc mắc là lúc ở dưới sông khi cô bé bơi ra còn cách tôi vài thước thì bổng cô biến mất là tại sao. Lúc đó tôi thấy hoàn toàn tuyệt vọng.

- Cậu không hiểu thật à? Đó là bí quyết trong việc cứu người chết đuối. Nếu mình cứ tiến thẳng đến trước mặt để nạn nhân trông thấy thì, trong lúc hoảng kinh, nạn nhân sẽ túm chặt lấy mình, gỡ ra không nổi, cả hai người sẽ chìm xuống đáy sông, gây ra một vụ chết đuối “cá mập”.

- Úi trời! Khủng khiếp! Hôm nay cô bé đã cho tôi một bài học vô cùng quý giá. Hè này, tôi quyết phải tập bơi cho thật giỏi. không thì xấu hổ chết đi được.

Lúc này thấy mình đã bạo dạn hơn, thanh niên hỏi tiếp :

- Nhà Thủy có ở gần đây không ?

- Tôi là kẻ không nhà.

Thanh niên quay lại nhìn Thủy với đôi mắt đầy ngạc nhiên :

- Ủa, thế thì Thủy làm gì ở đây ?

- Tôi đi phiêu lưu bằng một chiếc đò con đậu ở sau bụi sậy, cách đây vài chục thước.

- Đi phiêu lưu một mình trên dòng Tiền Giang, thế Thủy không sợ ?

- Không !

- Thủy đã cứu mạng tôi, tôi sẽ suốt đời nhớ ơn Thủy và tôi muốn làm một điều gì để Thủy được vui lòng.

Thủy mỉm cười :

- Tôi chỉ muốn cậu giúp tôi đẩy chiếc đò kia xuống nước mà thôi.

- Điều đó quá dễ. Nhưng Thủy muốn đi về đâu ?

- Đi xuôi dòng sông.

- Có xa không ?

- Xa, xa lắm.

Lúc đó, ánh mắt Thủy có một vẻ dịu dàng pha lẫn vẻ kiêu hãnh và dường như che giấu một điều gì bí ẩn, làm cho chàng thanh niên rất xúc động.

- Thủy đi tận đâu vậy? Về Sa Đéc, Vĩnh Long hay Cái Bè, Mỹ Tho ?

Thủy ngoảnh mặt đi không đáp, rồi vùng đứng dậy chạy tới chỗ để con đò.

- Trời ơi ! Với một con đò bé nhỏ thế này mà Thủy dám xông pha trên dòng Tiền Giang sao ?

- Cậu mặc tôi, tôi sẽ kéo đò xuống sông một mình cũng được.

Rồi nó nắm lấy chiếc thừng hết sức kéo. Nhưng chiếc đò đã gắn chặt vào cát, không nhúc nhích. Mặc dầu Thủy không muốn nhưng chàng thanh niên vẫn đến giúp sức. Chàng lớn con khỏe mạnh nên, sau vài phút, chiếc đò đã được đẩy phăng xuống nước. Nhưng trước khi Thủy bước vào đò, chàng giữ lại nói :

- Không, Thủy không thể đi như thế trước khi cho tôi biết Thủy từ đâu tới và sẽ đi về đâu. Thế Thủy không coi tôi là một người bạn sao ?

Bổng Thủy ôm mặt và òa lên khóc.

Ngạc nhiên, chàng thanh niên nhìn Thủy với vẻ mặt lo lắng. Rồi chàng ngồi vào đò cạnh Thủy.

- Có chuyện chi vậy, Thủy? Sao Thủy không chịu nói? Tuy mới quen biết nhưng Thủy nên coi tôi như người bạn cố tri.

Trước thái độ thành khẩn của chàng thanh niên, Thủy bèn thổ lộ:

- Cậu muốn biết tôi là ai ?...Tôi không có cha có mẹ. Bác phó Từ, làm việc ở trang trại của ông Hội đồng Hải ở Cao Lãnh, đã nuôi nấng tôi. Bác đã lượm được tôi một buổi sáng cuối thu trong con đò này và từ chiều qua tôi cùng nó đã từ giã đảo Reng mãi mãi. Còn cậu, cậu là ai ?

- Tôi là Thái Xuân Sơn, con cả ông Hội Đồng Hải, năm nay tôi 18 tuổi.

- Chết chửa tôi xin lỗi cậu.

Sơn cả cười :

- Thủy xin lỗi gì ?... Xin lỗi đã cứu tôi khỏi xuống chầu Vua Thủy Tề hay sao?

- Ấy không…nhưng tôi không được biết cậu là con ông Hội Đồng.

- Con ông nào đi nữa, mà té sông suýt mất mạng cũng chỉ là một đứa con trai vô tích sự như tất cả những đứa con trai khác mà thôi chứ…Bây giờ Thủy cho tôi biết Thủy định đi đâu bằng chiếc đò này ?

- Tôi cũng chẳng rõ nữa.

- Vậy tôi thành thật khuyên Thủy, ở cái tuổi này, chẳng nên phiêu bạt vô bờ bến như thế. Nên trở về nhà là hơn.

- Nhưng về nhà tôi sợ bị la. Mà còn chiếc đò này thì tính sau ?

- Tôi sẽ cho người tới mang về đảo cho Thủy.

Nó ngồi im lặng. Một lát sau nó mới quay lại hỏi Sơn :

- Tại sao cậu muốn ngăn cản tôi, không để tôi đi ?

- Thế cù lao Reng không có gì đáng lưu luyến hay sao ? Thủy không thương mến một người nào hay sao ?

- Chẳng ai thương mến tôi cả trừ bác Từ.

- Thế Thủy không thấy khổ tâm khi từ giã bác ?

- Có chứ, khổ tâm rất nhiều.

Sơn đã đánh trúng nhược điểm. Thật vậy, nếu Thủy thấy ân hận, đó là vì bỏ đi mà không một lời từ giã bác phó. Nó cúi đầu suy nghĩ. Bổng nhiên một ý nghĩ lóe lên trong đầu. Ban nãy Sơn đã hỏi có thể làm được điều gì cho Thủy. Nhưng chính Thủy không cần chi cả, mà người cần được giúp đỡ là bác phó Từ, vì công việc của bác tại trang trại sắp hết và bác cần có công việc khác để nuôi sống gia đình.

Cúi nhìn những viên sỏi ở mé sông, Thủy thở dài não ruột và quyết định nói với Sơn ý muốn của mình.

- Thưa cậu, nếu cậu có thể nói với ông Hội Đồng cho ba Từ một việc làm ở trên xưởng Lái Thiêu thì tôi rất sung sướng.

- Được, được, Thủy cứ yên tâm, tôi sẽ nói nhưng với một điều kiện là Thủy phải trở về cù lao Reng cơ.

Rồi đôi bạn lên bờ, đi bộ độ vài chục bước thì đến chỗ đậu chiếc xe Honda của Sơn.

- Ngồi sau xe này Thủy có sợ không ?

- Tôi chưa ngồi bao giờ, nhưng chắc tôi không sợ.

Và Thủy nói tiếp :

- Tôi chỉ sợ cậu mà thôi.

Sơn bật cười rất giòn và ngồi lên đạp ga. Xe khởi hành như bay, tung bụi mù ở phía sau. Nửa tiếng trôi qua, hai người đã về tới cù lao Reng và Sơn từ giã Thủy để về trang trại.
______________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IV, V, VI

Sông Nước Tiền Giang


Truyện phóng tác của THÙY HƯƠNG
Loại Hoa Tím


Sưu tầm và đánh máy : Mary Gold, N' Nguyên Vỹ, Vantrinh Tran

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

Hương Tình Quê Mẹ

Uốn khúc vườn xanh giữa ruộng vàng
Cây da che bóng bến đò ngang
Vàm Giồng rụng trắng bông bần nở
Ta thả mái chèo tách bến sang

Lơ lửng trên sông tiếng hát mềm
Phù sa cuộn chảy mặn nồng thêm
Đắp bồi đất Mẹ thêm màu mỡ
Rạ ngọt thơm mùi gạo móng chim

Quê hương ta cù lao Lợi Quan
Một phần máu thịt Cửu Long Giang
Ngã Tam Điền kết tình trăm họ
Khói nóng hòa hơi thở xóm làng

Rượi mát bóng dừa xanh cố hương
Lòng ta ray rứt, ngậm ngùi thương
Sông hồ bao kẻ còn xa xứ
Đất lạ riêng mang một nỗi buồn

Khói lượn cánh diều bay vút không
Đồng thơm hương Mẹ ngát hương lòng
Hương tình Tân Thới nghe từ thuở
Cây trái tươi màu Phú Thạnh Đông

                              TRẦN NGỌC HƯỞNG
                                (Mẹ và Quê Hương)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 112, ra ngày 15-8-1969)

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2017

Bước Xuống Một Lần













Mất rồi nhé thủa mười lăm, mười bảy,
Với vô tư, trong trắng nét môi cười.
Đã một lần bỏ mất cuộc rong chơi
Em xin nhận : ngày mai vào tuổi lớn.

Hoa nào mãi làm nụ tròn mơn mởn
Là nào xanh, chẳng có lúc lìa cành
Em vào đời, bàn tay lắm mỏng manh
Hái một chút tơ trời làm duyên muộn.

Biết đường đi ngày mai em bước xuống
Chỉ một lần mà sẽ mãi rời xa
Thủa trăng tròn, và nụ chửa thành hoa
Em sẽ lớn và mắt môi mở rộng.

Trường với lớp, bạn bè cùng thơ mộng
Gói vào hồn, cất giữ để làm thơm
Một cõi lòng chưa úa nẻo yêu thương
Em vẫn ấm dẫu mưa đời nặng hạt.

Ngẩng mặt lên nghe nụ cười thêm sáng
Bởi thầy cô đã thắp sáng giùm em
Nến tin yêu, ngọn lửa của vững bền
Soi lối bước cho em thêm nghị lực.

Trường yêu ơi, mai vào đời chất ngất
Khung thân quen em mượn lấy một ngày
Áo bạn bè, xin làm chiếc khăn tay
Mang theo nhé, để mùi hương tưởng nhớ.

Thầy cô bảo : đường đời nhiều trắc trở
Đừng nhìn đời bằng cặp kính màu hồng
Hãy nhìn đời với đôi mắt xanh trong
Chuẩn bị bước, và bây giờ em bước.

Cánh chim nhỏ vẫn xoải dài tha thướt
Mang theo mình kinh nghiệm của thầy cô
Cũng mang theo một chút xíu mộng mơ
Để an ủi những khi buồn muốn khóc.

                                 LÊ NGUYỄN MAI TRẮNG

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 31, ra ngày 7-8-1972)

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2017

Xanh Như Ngọc Bích


- Bé Ti đâu! Bé Ti! Lên đây anh hỏi cái nầy coi! Quá lắm rồi! Không thể nào tha thứ được nữa!

Đang ngồi chải tóc cho Mimi bé bỗng giật bắn người lên vì tiếng hét như Tác Dăng của anh Dũng. Tay chân run lập cập bé vừa đi lên lầu vừa lẩm bẩm:

- Chết! Không biết anh í đã hay mình làm há mõm đôi giày cưng của anh chưa? Cầu xin trời cho chưa vậy!

Cái đầu bé vừa thò vô phòng thì anh Dũng đã nắm tay bé lôi sồng sộc đến bàn viết miệng quát:

- Cuốn tự điển của anh bé giấu ở đâu? Đưa đây mau lên!

Bé thở dài nhẹ nhõm nhưng lại mếu máo:

- Bé đâu có giấu sách của anh!

Mắt anh Dũng nhìn bé lóe quang tuyến X, mặt hầm hầm, anh nghiến răng:

- Bé không giấu thì ai vô đây. Ở nhà chỉ có mình bé dậy sớm nhất. Mới 6 giờ là đã lục đục hết phòng nầy đến phòng khác phá đồ người ta. Vậy mà không giấu. Có trả nhanh lên cho anh tra chữ nầy chưa? Không anh đánh một cái bây giờ.

Nói xong anh í cung tay lên đưa vào mặt bé. Mặc dầu biết rằng anh í sẽ không làm gì mình nhưng bé vẫn cố há mồm ra cho thật to và lấy hết sức bình sinh hét cho thật lớn:

- Hu... hu... anh thấy bữa nay hổng có mẹ ở nhà rồi anh ăn hiếp bé hả, hu... hu bé hổng có giấu mà anh vu oan cho bé hu... hu... Chị Dung ơi! Coi anh Dũng đánh bé nè!

Anh Dũng vội đưa tay bịt mồm bé xuống nước nhỏ:

- Thôi! Bé không giấu thì nín đi cho anh nhờ!

Biết chiến thuật rơi nước mắt của mình có giá trị bé lấy hết gân cổ rống lớn hơn:

- Hu... hu... anh ỷ lớn rồi ăn hiếp bé hả hu... hu...

Có tiếng chị Dung ở ngạch cửa vang lên:

- Gì đấy bé?

Thấy có đồng minh kéo lên, bé chạy a lại ôm lấy chân chị Dung tức tưởi:

- Chị Dung coi! Bé chẳng có giấu cuốn tự điển của anh Dũng mà anh í nhất định đổ thừa cho bé rồi còn định đánh bé vỡ mặt nữa đấy!

Anh Dũng bật lên nhăn nhó:

- Nầy! Cô nầy đừng có nói thêm nghen! Em chỉ dọa đánh thôi mà cô ta hô đánh vỡ mặt. Gớm! Con nít lắm mồm.

Nghe anh Dũng bảo mình con nít bé òa lên khóc:

- Đó! Chị Dung thấy hông? Anh í bảo bé là con nít đấy!

Chị Dung bật cười cúi xuống vuốt tóc bé dịu dàng:

- Thôi nín đi cưng! Bé của chị là người lớn 11 tuổi. Đừng khóc nữa xuống ăn điểm tâm kìa. Hôm nay chị chiên cho bé hai cái hột gà ngon lắm!

Rồi quay sang anh Dũng chị cốc vào đầu anh một cái và nháy mắt:

- Cậu nầy nữa! Sao dám vu oan cho "người lớn"? Sách của cậu chị mượn bên phòng kìa!

Nói xong chị nắm tay bé đi xuống phòng ăn, vừa đi bé vừa nguýt anh một cái dài năm sáu cây số. Ngồi vào ghế, nhìn phớt qua các món ăn trên bàn, bé vội ngước lên hỏi chị Dung:

- Sao không có sữa cho bé hở chị?

Chị Dung phớt lờ cúi xuống cầm bánh mì:

- À! Chị quên mất! Thôi, bé uống cam tươi đi!

Bé nhìn chị dẫy nẩy:

- Không được, mẹ dặn bé phải uống sữa mỗi sáng để răng khỏi hư, mẹ bảo trong sữa có vitamine...

Bên kia anh Tuấn bật cười:

- Vitamine... bí! Gớm! Thèm sữa thì cứ nói, bày đặt lòng vòng.

Rồi tiếp theo, anh Dũng không bỏ lỡ dịp may:

- Hi... hi... bà con ơi! Mẹ tôi có một cô con gái út thành "người nhớn" rồi mà còn đòi uống sữa.

Đến đây thì bé chịu đựng hết nổi, phần tức, phần thèm, phần xấu hổ khiến miệng bé méo xệch ra, nước mắt rưng rưng bé nghẹn ngào:

- Anh Dũng chuyên môn chọc bé, mẹ về bé sẽ méc cho xem!

Chị Dung biết những hạt kim cương sắp sửa đi hàng một xuống gò má bé nên đứng lên giảng hòa:

- Dũng! Đừng trêu bé Ti nữa! Còn bé nín đi, chị khuấy sữa đây!

Bấy giờ anh Dũng mới chịu im, nhưng khi bé bưng ly sữa đưa lên miệng thì anh xây qua anh Tuấn nhăn mũi:

- Ái chà! Ngon quá Tuấn nhỉ!

Nhìn anh Tuấn nháy mắt biểu đồng tình, bé tức lắm định áp dụng chiến thuật "nước mắt rơi rơi" nhưng bé chợt thấy chiếc áo sơ mi trắng nõn nà trên người anh Dũng nên đành nuốt cục uất hận vào trong bụng với ý nghĩ : "Được rồi, chốc nữa anh sẽ thấy bé trả thù".

Đúng như bé tiên đoán. Bé vừa ở bên nhà cái Nga về là đã gặp ngay chị Thu đang ngồi nói chuyện mí ông anh yêu quí. Hình như chị đang giận thì phải. Lạ nhỉ? Sao cứ mỗi lần chị Thu phụng phịu đôi gò má, hàm răng cắn môi dưới để lộ hai lúm đồng tiền thì anh Dũng cuống quít lên. Bên trong hình như đến đoạn gay cấn lắm nên anh Dũng nói thật nhiều có lẽ đang thuyết phục năn nỉ chị Thu. Đã đến giờ hành động, ngàn năm một thuở mà lỵ! Bé len lén đi vào nhà, chị Thu và anh Dũng hoàn toàn không hay, bé nhẹ bước đến tủ lạnh và cố lấy giọng hỏi thật to:

- Anh Dũng ơi! Sao bữa nay anh không uống sữa? Mọi hôm anh vẫn đòi mẹ khuấy cơ mà.

Hỏi xong bé thản nhiên quay ra chờ đợi phản ứng của anh. Gương mặt đang hồng hào kia bỗng đổi sang màu đỏ rồi chuyển qua màu xanh và cuối cùng đến màu trắng. Anh Dũng nhìn bé nạt to:

- Bé Ti có chịu vào nhà trong chơi không?

Bé mỉm cười toan cất bước thì chị Thu đã đến ôm bé vào lòng:

- Bộ anh Dũng hay uống sữa lắm hả bé?

Bé khẽ liếc về anh gật đầu, bé nghe tiếng chị Thu cười thích thú rồi ngước về anh, chị trêu:

- Gớm chưa! Anh Dũng tồng ngồng cái đầu còn uống sữa.

Chị toan cúi xuống tiếp tục hỏi thì anh Dũng đã nắm tay bé dắt đi và bảo:

- Bé Ti lên lầu chơi chiều anh dẫn đi xi nê.

Bé xây lại lắc đầu nguầy nguậy:

- Không! Bé hổng tin đâu! Mấy lần trước anh hứa mà có dắt bé đi đâu?

Mặt anh Dũng nhăn nhó đến thảm hại:

- Ừ! Nhất định kỳ nầy anh dẫn mà!

Bé giơ tay mặt lên:

- Anh mà "phịa" có tội trọng nghe!

Một lần nữa cái đầu anh Dũng lại gật lia lịa. Bé yên chí đi vào trong bỏ lại sau lưng tiếng thở dài của anh Dũng và tiếng cười của chị Thu.

- Bé Tí nó dễ thương quá anh nhỉ?

Hình như có tiếng ừ chán nản của anh Dũng vang lên, không biết anh í lo vì mắc bé cái nợ xi nê hay vì không biết làm sao để cải chính tin anh uống sữa.


TỈ-TÊ               
(Bút nhóm Thương Linh)


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 111, ra ngày 1-8-1969)
 

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

Trời Xanh Giao Mùa


Em nghe tiếng ba gọi, hình như ở ngoài ao:

- Rô ơi! Ra ba bảo tí ti con, Rô ạ!

Em rời cái ống bơ rỉ mà trong đó hạt ớt em gieo đã nẩy mầm, và nhú được mấy cái lá non. Em dạ thật lớn, chạy nhanh ra ao, tới rồi, em ngồi thụp bên ba, ba đang vớt bèo, màu xanh, xanh mướt, hẳn là cho heo ăn rồi cơ! Em lén nhìn ba, ba nghiêm ghê vậy đó! Ba chả nói tí ti gì hết cả. Bỗng nhiên, ba ngẩng đầu lên, nói thật nhỏ : Ra chợ mua cho ba bó nứa nhỏ, mấy sợi dây lạt luộc rồi, về ba đan rổ bán nghe không? Em dạ, chìa tay đón lấy tờ giấy bạc mười đồng đỏ, em hít hít mùi thơm tiết ra ở tờ giấy bạc. Trời ơi! Tờ giấy này sao thơm ghê vậy đó! Thơm như... mùi chuối chiên nước dừa của bà Mận ngoài chợ! Em mơ hoài đi. Giá tay em được cầm một món tiền to to như vậy? Thơm thơm như vậy? Và số tiền ấy là của em nhỉ? Nếu vậy, em sẽ được uống ly chanh muối chua chua này, ăn miếng kẹo mạch nha quấn trong que tăm ngọt lịm này, và nhất là miếng chuối chiên nước dừa của bà Mận nữa, chả bù cho mấy hôm trước, ra chợ em chỉ tẩn mẩn bên bà, quầy quậy môi trong nồi nước dừa trắng đục, đóng màng bên trên, có những hạt bột bán tròn tròn nho nhỏ, hay nhìn xem những quả chuối nấu, ấp bên ngoài là nếp xôi, phủ lá chuối cháy đen xì. Và nếu em có tiền nhiều hơn thế nữa, một trăm đồng chẳng hạn, thì em sẽ đi học gấp đây! Vì ở trường quận niên liễm cả năm mất có hai mươi lăm đồng, dư tiền ba sẽ mua cho em mấy quyển vở hàng đôi mỏng dính, cây viết, cây thước, và sẽ có ve mực tím nữa cơ. Mà nếu ba muốn "tiết kiệm ngân quỹ gia đình", em sẽ xin anh Rỡ cho em ve mực thủy tinh, nhờ ba ép trái mồng tơi làm mực chấm, màu hồng hồng của mực đẹp ghê đi! Và lúc đó thì em sẽ thật chăm, em sẽ không đùa như bây giờ nữa, và nhất là em không ăn quà nữa đâu, chả là ba thường nói, con trai ăn quà sún răng xấu lắm đó sao? Nhưng... ồ! Tiền này đâu phải là của em, tiền ba đưa mua nứa mua lạt về ba đan rổ bán cơ mà! Em buồn ghê đi, em chạy vù ra cổng, còn nghe tiếng ba nói với theo "mua nứa manh mảnh, dai dai và đừng có dòn, đan không được, còn dây lạt buộc thì mua thứ luộc rồi nghe không?" Em quay lại nhìn ba rồi chạy tiếp. Chiều hôm nay như sắp mưa vì mây đen đen ghê đi! Nhưng chắc... cũng chả mưa đâu!!! Vì mây đen đen có một chỗ hà, với lại trời chả có sấm, chớp cũng chả thấy tăm hơi đâu.

Em đi quanh co trong ngõ trúc một lát thì ra đến chợ, chợ ồn ào ghê đi! Em... chán ghê đi ấy! Em thích ở mãi..., ở hoài "trại" của em, của ba, và của Ti. "Trại" của ba nho nhỏ thôi! Ở gần rạch cạn ở bờ mẫu, có đường xe lửa đi Tháp Chàm. "Nhà" chỉ có tấm lá khô làm nóc, còn vách phên thì trống trơn. Chung quanh có ít đất, vì thấm nước phèn va chua nên trái nhỏ. Ba trồng đủ thứ, trước cửa nhà một bên thì có cây chanh, hoa thấy tím ngắt, một bên có cây mận hoa trắng xóa bên màu hồng của quả. Hông nhà có cây lựu bên ụ đất cao, một cây chùm ruột trái lòng thòng bên ao, nước đục lờ lờ, chỉ toàn cá nhỏ. Quanh nhà rào một lần rào nứa, một lần cây dâm bụt, hoa tím nhàn nhạt. Quanh ao có hoa vông, bụi ớt, bụi sả, và cây sầu đông hoa cũng tím, đậm hơn, một cây điệp to, hai màu vàng đỏ. Có tiếng bà Quớn:

- Chà! Cậu Rô lớn mau quá nhỉ? Ra chợ mua gì đây?

Em ghét bà Quớn ghê đi ấy! Nhưng em vẫn trả lời, lòng em muốn cười ghê đi:

- Dạ, ba cháu sai ra chợ mua nứa lạt về đan rổ.

Rồi em đi thẳng. Em trả lời "đàng hoàng" ấy chứ! Ba em chả dạy em lễ phép là gì??!! Gần đến hàng lạt, em thấy anh Rỡ, em mừng ghê đi. Em đánh đu trên tay anh, quên rằng anh đi xe đạp. Anh để em đánh đu một lúc lâu đặt em xuống rồi hỏi y như câu bà Quớn hỏi em:

- Đi đâu đây Rô, sình chết đi ấy.

Em cười toe:

- Mua đồ cho ba đan rổ, anh ạ!

Anh Rỡ nói:

- Thế thì đưa tiền đây, leo lên sau anh chở, đường lầy lội như vậy đi bẩn chân hết!!

Em phóc lên yên sau, đòi anh đèo, anh bấm chuông nghe kinh coong... kinh coong... êm tai ghê đi! A, đến hàng nứa lạt rồi!! Anh dựng xe, vô mua, em vẫn ngồi chỗ cũ, nhìn trời xanh qua mái tranh. Lát sau anh ra, đưa đồ em cầm rồi cho xe quẹo vào ngõ trúc. Đến "trại" của ba em rồi, anh đỗ xe cho em xuống, dặn nhỏ:

- Mai sớm qua nhà anh, anh cho ve thủy tinh về ép mực mồng tơi vào, anh dạy học cho, nghe không Rô?

Em gật đầu, mừng rỡ, chạy biến vào lùm cây. Đường vào "trại" cỏ mọc xanh rì, hoe hoe vàng, hơi úa nhẹ!!! Em nghe rõ tiếng anh hát bài Nhắn gió chiều... "Chiều nay sớm về với sắc thu đắm u buồn... Cùng gió ngàn với sương thu mờ buông..." Trời ơi! Anh Rỡ hát hay ghê đi ấy...

*

Hoa vông nở nhiều, hương trời như tơ mắc vương trên cành cây lựu. Bây giờ là mùa Thu, hết những cánh sầu đông tím nở buồn rộn rã, những cành điệp lún phún hoa đỏ vàng, em ươm mơ nhiều ghê đi! Cây lựu nở nhiều trái, cả cây chùm ruột quả lòng thòng từng chùm bên ao. Những buổi trưa nắng, em giăng bạt dưới cỏ, thọt chùm ruột chấm muối, nghe rau ráu đến phát thèm. Cu Ti ba thường gọi như vậy nhưng em, em quen miệng gọi là... Tu Ti, tiếng này là em đọc trại đi của chữ tù tì. Chữ oẳn tù tì ra... ấy mà! Ồ! Tu Ti tham ăn ghê đi! Ăn hết chùm ruột phần em nữa! Thế thì Tu Ti không được em hái lựu cho ăn đâu. Tu Ti chưa chi đã ngủ rồi, mắt Tu Ti dím lại, mặt hồng lên vì nắng gắt. Em nhìn Tu Ti rồi leo lên ụ đất hái lựu, ụ đất toàn sỏi, làm em trượt chân hoài. Trời xanh thực xanh, nắng hanh vàng. Giao mùa Thu Hạ, hoa lựu đỏ mùa Thu, hoa sầu đông tím buồn mùa Hạ, bướm, ve hát khúc giao mùa. Ba ơi! Sang Thu rồi đó, Rô của ba thấy thương ba ghê đi! Rô của ba nhớ cả me nữa. Cầu trời me ở dưới "suối vàng" me nhớ ba con mình hoài há ba? Giao mùa rồi, không biết me có biết không. "Trại" ngập nắng, bờ cỏ xanh rì.

... "Chiều nay sớm về với sắc Thu đắm u buồn... Cùng gió ngàn với sương Thu mờ buông... Ai có về nẻo xa... Cho nhắn cùng người xưa... Nhớ khi hoàng hôn cùng ai dưới màn sương..."


TRẦN THỊ PHƯƠNG LAN   


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 141, ra ngày 15-11-1970)

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

Ngựa Về Ngược


Cả năm đứa con xúm ngồi quanh mẹ. Anh Sang là con cả, tôi con kế và Bạch, Mai, Long ba nhóc đứa nào cũng lớn hết. Anh Sang 16 trăng tròn, tôi 15 chưa đủ, Bạch 13, Mai 9, Long còn bé ba bốn tuổi. Chỉ có anh Sang và tôi là sinh năm một bởi thế nên bắt bồ mí nhau rất hạp, đôi lúc hùa nhau ăn hiếp em, cũng có hồi choảng nhau kịch liệt. Tôi ngồi tinh nghịch vuốt mái tóc khô của mẹ:

– Tóc mẹ lúc trước chắc nhiều lắm!

Mẹ tôi cười trầm ngâm:

– Hồi ở Huế – lúc nào mẹ cũng nhắc Huế với trường ĐK – tóc mẹ dài mà mượt lắm… À, ít ai khen mẹ bởi nhiều nữ sinh tóc thề cũng đẹp ghê, họ khen mắt mẹ đen thì phải.

Bạch tò mò nhìn vào đôi mắt mẹ. Mắt mẹ vàng, hơi mờ: mẹ đau gan và mẹ già. Bạch yên lặng, hai con mắt đẹp chớp chớp, hàng mi đen nhánh; chắc giống mắt mẹ hồi đó.

– Mẹ ơi, sao chị Trâm cắt tóc làm chi? Lớn rồi!

Lại con Mai lên tiếng với mẹ về tôi. Tôi là đề tài để nói đến nhiều nhất: “con gái lớn”. Anh Sang đứng gần đó cười dễ dãi:

– Kệ hắn Mai… ờ mà cúp bum bê chê chồng, chải đầu phồng…

– Ê lêu lêu, chị Trâm chê chồng!

Tôi vội mắng ngay con Mai, đứa em liến thoắng nhất nhà:

– Úi a! Tao chê ai? Khéo chưa! Anh Sang nữa.

– Chê anh Phương! – Mai nói.

Lần này thì quá lắm rồi! Chả là anh Phương hàng xóm hay chỉ tôi làm toán. Xí, bộ ta cần lắm sao, chỉ vì ta muốn ganh ví chúng bạn mấy con điểm 20, 18. Tôi nói cộc lốc:

– Vô duyên!

Tôi bỏ lên nhà trên. Mẹ tôi nói vọng:

– Các con thật kỳ, em nó nói chơi một chút mà đã… Ngán quá, gặp nhau thì lại cãi lẫy nhau, mẹ buồn gớm.

Tôi hơi hối hận, dù sao mình đã lớn, phải biết nhịn em, đâu phải con nít con nôi gì! Tôi ngồi xuống ngạch cửa nhìn ra sân, thẫn thờ. Chết chưa, thế nào ngồi một hồi cũng thấy “người ta” thôi! Tôi vội quay vào, đụng phải con Mai đi ra.

– Chị Trâm, đừng giận em nha!

Tôi không biết nói sao cho hắn hiểu là tôi không hề giận hờn mà chỉ mong hắn đừng chọc quê tôi nữa. Tôi trả lời:

– Ờ, mà đã giận đâu!

– Thật à, chị Trâm ơi, nói này nghe, anh Phương đó…

– Kệ ảnh, đừng nhắc tới nữa.

– Chị giận anh ấy rồi hả? Ảnh hiền, học giỏi nữa!

Tôi mặc cho hắn kể tốt, ngồi im. Đã nói là tôi không muốn nhắc mà! Mai xuống giọng:

– Anh Phương nói chị cắt tóc như con nít!

Tôi không thể tảng lờ được:

– Mai, mi… anh Phương nói răng, nói lại tao nghe thử?

Con Mai đang say sưa với chính câu chuyện của hắn, nghe tôi hỏi dồn hắn hơi giật mình, nhìn tôi kinh ngạc. Hắn ấp úng:

– Ư… anh ấy nói chị dễ thương như búp bê!

– Thôi đi, tôi nghe rồi, đừng phỉnh họ!

… Tôi đóng cửa phòng, bỏ mặc con Mai kêu gào ngoài kia. Tôi nằm xuống gối, nghẹn ngào. Nước mắt ứa ra bên khóe, nóng hổi và tôi nhắm nghiền mắt lại. Người ta chỉ coi tôi như con nít. Tôi vùng vằng ngồi dậy, lấy cái gương soi ở tủ đầu giường và ngắm mình. Với hai đường nước mắt trên má chưa khô, mặt tôi quả giống con nít lắm chứ! Thế mà ra đường anh Phương hay nói:

– Tuổi mười lăm dáng chừng trông e thẹn…

Bởi rứa, nên anh Phương cứ bảo để anh chở đi học, tôi mỉm cười:

– Trâm không dám bắt anh làm tài xế!

Anh hơi buồn:

– Đi lang thang có ngày bị bắt cóc.

– Anh Phương dọa Trâm hoài! Có bữa anh Sang rước!

Anh Phương làm như tôi con nít không bằng. Con nít, ừ, anh Phương là người lớn, người lớn thì nói chuyện với con nít làm chi! Nhất định không thèm qua nhà anh Phương, dù bài toán thầy cho có rắc rối, dù bộ tem sưu tập của anh có đẹp thế mấy, dù… dù gì đi nữa, mặc kệ! Lần này nhất định thật tình.

– Chị Trâm ơi, chị Trâm à!

– Chị Trâm!

– Chi mà hét dữ rứa?

Tiếng mẹ tôi lại gần cửa phòng. Tôi choàng dậy cất vội cái gương rồi mở cửa đi ra. Mẹ tôi đứng ngay cửa, Mai núp sau lưng mẹ.

– Con Trâm chiều bữa ni có đi học không?

– Không mẹ!

– Rứa à! Hèn chi mi ngủ cả ngày, con gái con gung gì…

Con Mai lên tiếng:

– Như ri nì mẹ, bắt chị Trâm nấu cơm đi!

Mẹ tôi à lên:

– Ừ hỉ, chiều nấu cơm giùm mẹ nghe Trâm.

Tôi nhìn mẹ nhăn nhó: nấu cơm thì được rồi, còn làm đồ ăn tôi chịu thôi, tới bữa dọn ra:

– Trâm ơi, con nêm canh mặn quá.

– Chả lạt quá chị Trâm nì!

– Tôm sao không có màu đỏ, như mấy kỳ mẹ kho mặn mặn ngọt ngọt!…

Và sau cùng… tôi đành ăn ráng cho hết những món “chỉ có mẹ làm là ngon thôi”, chẳng ai động đũa hay chỉ quơ vài miếng cho nuốt trôi cơm.

Đã thế, ngày hôm sau gặp anh Phương, anh hỏi: “Chắc Trâm nấu ăn cũng khéo, tài cũng như học?” Tôi không giấu gì anh – có giấu cũng không được – tôi nóng cả mặt mũi: “Làm bài toán còn dễ hơn anh nì!”

Mấy lúc sau, hễ tụi em phê bình tài nội trợ của tôi là tôi hạ mình năn nỉ hết mức đến muốn khóc:

– Nhà người ta sát vách, có chê thì nho nhỏ, từ từ, vừa vừa nghe tụi bây!

Chúng nó dạ thật to muốn bể nhà: Xin tuân lịnh. Anh Sang ngồi kể bảy tội con gái ra, anh gì chả ra anh, cứ nói tía lia vậy mà cứ làm con trai:

– Ngồi lê là một, đứa nào đây? Dựa cột là “ai”?

Cả bọn con gái cũng lém không kém, cứ đổ hết tội cho anh cả và em út, khổ là hai người đều là đấng anh chàng nên nói tới tội “theo trai” thì bên con gái hết đổ thừa vô tội vạ cho thằng bé nói ngọng và ông anh cả nói huyên thuyên. Con Mai nói nhỏ: “Chị Trâm!” làm chị Trâm tôi nghe được bỏ luôn cả bữa ăn, dỗi hờn. Tôi là chị Trâm. Tôi là đứa chúa giận lẫy mà giận thì lỗ thiệt cho mình. Không ăn thì bọn nớ ăn hết. Nhưng tuyệt thực vài bữa cho thân thể nhẹ nhàng vóc hạc xương mai. Rứa chớ người khác vẫn ác, cho tôi sợ mập. Người khác đó là em của tôi. “Anh em là cái… nợ nần”. Nghĩ đi nghĩ lại chấp làm chi ba chuyện con nít, tôi nuốt nước bọt, nãy giờ giận cổ đau cứng ngắc. Ai chọc tôi thì tôi không nói ra lời mà ra nước mắt.

Dù sao tôi cũng xuống bếp, làm việc đôi khi quên đi và tránh được bực mình. Tôi nhen lửa, vo gạo, lặt rau, xào nấu thức ăn và… nếm thử. Canh không có nước mắt nên không mặn, cũng may chứ không thì chết. Mà chả sao, tôi biết được mẹo vặt trong tờ báo gọt khoai tây bỏ vô cho rút hết cái mặn là xong.

Khoai tây không được dùng vào việc đó, – tôi đâu vụng lắm – được xắt mỏng, đem chiên vàng, với vài trứng vịt luộc, cà chua và xà lách tôi làm món “salade moderne”. Kết quả không ngờ: món ăn này được chấm ngon nhất. Tôi nghĩ cũng nhờ màu sắc của món: màu vàng của khoai rán, màu cam của trứng, màu đỏ của cà trên màu xanh tươi mát mẻ của dĩa xà lách. Mấy em tôi lại nghĩ nhờ làm món ăn vừa miệng.

Còn đang cãi nhau ỏm tỏi về phẩm chất món “mô đẹc” tôi giật mình: Chết, còn bài toán chưa làm! Tôi chạy vô phòng lấy bài toán ra ngẫm nghĩ, vẽ mấy cái hình ra giấy. Giải được hai câu, câu thứ ba chưa ra ngồi hoài. Tôi lắng nghe tiếng em tôi nói dưới nhà.

Bạch: Bà Trâm dông đâu rồi? Nãy giờ cứ tưởng bả đi uống nước.

Mai: Chỉ đứng dậy rồi. Lúc nào cũng vậy, đang ăn nhớ ra cái gì đó là bỏ đũa chạy.

Bạch nói nhỏ giọng chuyện gì đó mà nghe Mai cười khúc khích. Tôi biết chúng nói gì, hơi nóng mặt và muốn lên tiếng. Nhưng tôi vẫn làm thinh. Dưới nhà im lặng không có tiếng nói, tiếng đũa va chạm chén bát. Hai đứa em chắc chạy ra trước sân, rình xem tôi nói chuyện với anh Phương. Còn lâu! Đã nói trước rồi mà, xem có tin tôi không. Bài toán này còn hai câu không làm được, đáng lẽ tôi cũng sang đó hỏi bởi ham muốn hạng nhất tháng này lắm.

Nghĩ đến nhỏ Linh tháng rồi đứng nhất le lói, tôi buồn cho mình. Tôi chỉ thua Linh toán thôi, bài nào nó cũng 20 hay ít là 19, còn tôi 18 và 17 cũng có. Năm ngoái hai đứa tôi đều dẫn đầu lớp vì hai đứa học riêng hai lớp. Năm nay vì cùng ban B và Anh văn, Pháp văn chung một lớp, Linh bên Anh văn chỉ xa tôi giờ sinh ngữ thôi.

Tôi biết thế nào Linh cũng làm ra hết bốn câu, nghe nói nó luyện nhiều sách và có tập cũ của chị. Tôi cũng có anh nhưng khổ nỗi, anh Sang chỉ hơn tôi một lớp và là dân ban C nữa mới kẹt chứ!

Chính một hôm tôi than thở với anh Sang, tôi nói con Linh hạng nhất làm thầy nào cũng chú ý đến nó, có nhiều ông vị nó nữa, còn bạn bè thì khâm phục nó đến nỗi bỏ rơi không thèm hỏi tôi những bài toán làm không ra nữa. Sao năm nay tôi ngu làm vậy! Nhớ mấy năm trước, ông thầy toán nào cũng nói tôi thông minh hết và hầu như tháng nào cũng dẫn đầu. Anh Sang cười, phải có hồi hơn hồi thua chứ, đổi qua ban A cho dễ hạng nhất hoài nữa? Tôi lắc đầu, nhất định không thua, vậy mà đầu hàng rồi! Anh Sang cứ cười mãi, chuyện quan trọng bậc nhất vậy mà cũng cười, tôi thụi lưng anh, bắt đền đi. Anh lại cười, rồi lại dịu giọng: từ từ, bộ muốn nhất là ngày mai nhất à, mới đầu tháng hà. Chính anh giới thiệu anh Phương với tôi, anh Phương 12 B, toán chì lắm, học chung trường anh Sang. Tôi biết anh Phương từ lâu mà không dám hỏi một tiếng.

Bây giờ, không thể được, phải giữ lời hứa với mình. Bét cho hạng bét luôn. Nghĩ đến là ứa nước mắt. Trâm ơi, Trâm ơi. Tôi nghĩ ác, sao Linh không đau ốm mấy bữa toán nhỉ? Rồi lại trách mình, chắc mấy lúc tôi hạng nhất có đứa rủa thầm và tại sao Linh và tôi gặp nhau là vồn vã. Chắc Linh cho mình thắng nên bao dung và tôi thấy Linh giỏi nên muốn làm quen thân thiết. Đừng nói bậy tội lắm Trâm. Linh dầu sao cũng là bạn.

Nước mắt tôi vẫn chảy. Tôi biết đưa bài toán cho anh Phương là được 20 như lần trước. Anh Sang chọc đùa thầy cho toán để lớp 12 B làm. Nếu thầy tôi biết. Chữ sụt hạng cứ lặp đi lặp lại mãi trong đầu. Tại sao? Sụt thì cũng hạng nhì như tháng trước, còn ai hơn tôi, ngoài Linh? Tôi nhất định ngồi vào bàn, đem bài toán ra xét lại, đầu óc vẫn quay cuồng, giận dữ, vẽ một lượt ba kiểu hình. Tôi giải không mấy chú ý. Ủa, ra rồi, tôi chứng minh được câu 3. Đột nhiên giận hờn tan mất, chỉ còn bài toán trước mặt.

Tôi vùi mũi xuống trang giấy nháp. Biết đâu chừng câu thứ ba lại giúp tôi giải được câu thứ tư.

– Chị Trâm chắc đọc tiểu thuyết nên im rơ.

Chưa vào tới phòng, con Mai đã phỏng chừng. Nó kêu giật:

– Chị Trâm! Chị Trâm, ê ê, anh Phương hỏi chị có bài toán nào khó đưa ảnh giải cho, sướng không?

Tôi nói nhanh: Không, rồi lại nói:

– Có mà tui đã làm rồi. Cám ơn.

Chưa xong nhưng tôi cũng bảo liều vậy. Mai cười đi xuống: chắc dễ. Tôi xáo tập cũ, tập giáo khoa tìm định lý, xem lại bài học, nhào lại bài toán như con vụ. Chắc ai trông tôi cũng tức cười hết, và sau cùng tôi làm được hết bài toán. Có lý lắm, chắc trúng. Mừng quá, tôi cũng chảy nước mắt.

Phải đợi một tuần mới biết kết quả. Chỉ có tôi được 20 điểm vì cố gắng giải theo phương trình lớp 10, Linh chỉ có 18 vì giải cao, những gì thầy chưa dạy. Rõ ràng nó nhờ chị hay ai đó. May cho tôi, không chừng tôi cùng “số phận” Linh nếu nhờ anh Phương…

Anh Phương. Tôi đã hết hờn anh ấy. Thỉnh thoảng tôi còn đem bài học nhờ anh ấy giảng nghĩa cho kỹ.

Bài toán tôi cũng làm lấy rồi nhờ anh ấy xem lại.

– Tháng này Trâm hạng nhất rồi!

– Sao anh biết? – Tôi cười. Anh Sang nói ngựa về ngược.

– Chưa hẳn. Ngựa tự phi một mình đấy chứ!

Tôi cười với anh Phương và với mình, thật nhiều.


Nhã Uyên    


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 36, ra ngày 20-10-1972)

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

Lớp Học Hè


Vị giáo sư già bước vào lớp, vài ba học sinh ở bàn đầu nhốn nháo đứng lên.

- Các anh chị ngồi xuống vị giáo sư khẽ đưa bàn tay và nhìn qua cặp kính có gọng đen hôm nay các em học lượng giác, hàm số vòng.

Những cuốn tập khe khẽ lay động, vị giáo sư bắt đầu giảng:

- Các anh chị đã biết rằng một vòng tròn có 360° hay 2π, vòng tròn lượng giác là vòng tròn có định hướng và có bán kính bằng 1. Ta gọi trục x'ox là trục cosin...

Bỗng ở phía cuối lớp có tiếng huýt gió thoang thoảng, ông thầy chỉ khẽ ngừng lại một chút rồi lại tiếp tục giảng bài. Tiếng huýt gió lại vang lên, thành một điệu nhạc kích động, vài ba học sinh khúc kích cười.

- Anh nào huýt gió vậy?

 Im lặng hoàn toàn, mấy nữ sinh bàn đầu lắc nhẹ cái đầu quay xuống phía con trai.

- Các anh chị giữ kỷ luật cho tôi một chút, anh chị nào không muốn học tôi mời ra ngoài. Các anh chị phải biết rằng sang năm là năm thi của các anh chị, các anh chị học từ bây giờ, rồi khi nhập học, các anh chị có đủ thì giờ học các môn khác đỡ phải rút khi sắp thi. Nhất là các anh nam sinh, nếu các anh thi rớt là phải vô lính ngay đấy, bây giờ vào lính chết dễ như bỡn đấy. Các anh chị còn trẻ, tương lai còn dài các anh chị phải cố gắng học, sau này nếu không giúp ích gì được cho quốc gia, xã hội thì cũng giúp mình có cơm, có áo... Thôi các anh chị chú ý đây...

Thìn ngồi ở cuối lớp, chính nó đã huýt sáo khi nãy, khều nhẹ Hưng bên cạnh:

- Ê, mày, gớm ổng dạy không lo dạy cứ lo giảng đạo đức, người ta học thì người ta nhờ chứ mắc mớ gì tới ổng!

- Thôi im đi mày, ổng nhìn kìa!

Thìn vẫn lải nhải:

- Tao muốn cúp bây giờ quá mày ạ, con nhà Tân đang chờ tao ở quán "bi da".

- Thì mày ra đại đi.

Thìn háy nhẹ Long ngồi đầu bàn:

- Cho tao ra một tí.

Đang lom khom thì:

- Anh Thìn, anh làm gì vậy? Lên đây.

Thìn ngổ ngáo bước lên, định chạy ra cửa.

- Anh đứng lại tiếng ông giáo trong lớp này tôi để ý anh nhiều đấy nhé. Trong lớp anh toàn gây chia trí cho bạn bè, cha mẹ anh cho anh đi học cho tốn cơm, tốn áo à?

Thìn vẫn yên lặng.

- Lúc nãy tôi biết anh huýt sáo, nhưng tôi bỏ qua, anh có muốn học hay không thì bảo cho các học sinh khác học.

Có tiếng xầm xì ở bàn tụi con gái, Thìn nóng mặt.

- Tui học hay không kệ tui, miễn tui có tiền trả thày là đủ.

Thìn quay lại phía con gái lườm một cái rồi bước nhanh khỏi lớp.

Ông giáo sư đứng lặng người ; giọng ông hơi run run:

- Hôm nay mất nhiều thì giờ của các anh chị quá, tôi cũng hơi mệt, các anh chị nghỉ sớm ngày mai tôi dạy bù.

Bọn học trò lục đục đứng dậy, mang theo những tiếng bàn tán tới tận cổng trường. Vị giáo sư già lau lại cặp kính trắng, mệt nhọc bước khỏi cửa lớp.

*

Thìn đang chăm chú với những trái "bi da" xanh đỏ. Hôm nay nó xui quá, chẳng được điểm nào cả.

- Hôm nay bị "ông già" ổng trù mà Thìn lẩm bẩm hồi nãy ổng làm mình quê quá. Phải chơi ổng lại một mẽ mới được.

- Mày nói gì vậy Thìn? Tân hỏi.

- "Ông già" của tao.

- Ông nào, ông đeo kính gọng đen đó hả? Ủa mày cũng học hè nữa sao?

- Ừa, học lai rai vậy mà!

- Quê một cục, học chi cho uổng tiền, để tiền đánh "bi da" sướng hơn.

Thìn không đáp, nó dán mắt vào những trái "bi da". Ơ, hụt rồi, thôi nghỉ chơi đi mày, Tân, tao với mày vô rẫy đi.

- O.K.

Hai đứa khoác vai nhau đi tới góc đường mua hai câu\y kem rồi vừa đi vừa ăn vừa nghĩ ngợi. Thìn cảm thấy tức tối ông thày quá, nó nghĩ thế nào cũng chọc ông ấy một mẻ. Đường vào rẫy những bông mắc cỡ dính vào quần khiến nó nghĩ tới những trái mắt mèo vàng vàng và chợt cười lên hô hố. À có cách trả thù rồi. Tân chả hiểu gì cả.

- Mày nói gì, trả thù ai?

Thìn không đáp, nó bắt đầu lục lọi để kiếm những trái mắt mèo.

Trời về chiều, Tân và Thìn ra khỏi rẫy, vừa đi nó vừa huýt sáo ầm ỹ - sở trường của nó mà - bỗng ở đầu đường một tụm năm sáu thằng trạc tuổi Thìn đứng lố nhố, khi hai đứa vừa tới nơi tụi nó chặn ngay ở đầu.

- Thằng nào bữa qua đánh bài quịt của tao?

- Tao đây Thìn nói tụi bay muốn gì?

- Hà hà! Can đảm quá heng, nhào dô tụi bay.

Thìn cởi phăng cái áo sửa soạn. Thế là một trận ẩu đả xảy ra. Thìn bé con, tụi nó lại đông, thằng Tân khôn ngoan dông mất, thế là chỉ còn Thìn đứng chịu lại với 5 thằng và bị một trận nhừ tử ngất xỉu bên lề.

Ông giáo sư lững thững đi trên con đường nhựa, ông định đi mua một tờ báo. Bỗng ông sửa lại cặp kính : hình như có đứa nào nằm kia, sao giống thằng Thìn thế nhỉ? Chẳng lẽ nó nằm ngủ, mà sao lại ngủ bờ ngủ bụi như vậy? Chân ông đạp mau trên đường, đến bên đứa học trò ngỗ nghịch:

- Trời ơi nó bị đánh, tội nghiệp, dập mũi ra rồi còn gì?

Và cuống quít vội vàng ông kêu xe đưa ngay nó tới nhà thương. Thìn vẫn thiêm thiếp, cô y tá chạy ra chạy vô, rửa vết máu, chích thuốc khỏe. Ông thày cũng bối rối sửa sửa lau lau cặp kính, thỉnh thoảng lại nhướng mắt về phía cổng. Lâu lâu lại chép miệng:

- Khốn nạn! Nếu ở lại lớp thì đâu ra nông nỗi.

Ông giáo lại vào bên Thìn rờ trán nó, còn hơi nong nóng.

Thìn khó chịu trở mình, nó cảm thấy đau nhói ở mũi và hình như có một bàn tay ấm áp ở trên đầu, nó mở choàng mắt ra, ông thầy mừng rỡ:

- Thìn, em tỉnh rồi hả? Có sao không em, trong người khỏe chưa?

Thìn kinh ngạc nhìn sững ông giáo : Sao thày lại ở đây? Nó nhớ là nó mới bị đánh kia mà. Và nó chợt hiểu, chính thày, chính thày đã đưa mình về đây. Nó nghẹn ngào hai tay run run nắm lấy tay vị giáo sư già:

- Cám ơn thầy, xin thầy tha lỗi cho em.

Rồi nó yên lặng, nhắm mắt lại.

Vị giáo sư cũng cảm dộng không kém, ông xoa xoa cặp kính:

- Em ngủ đi cho khỏe, thày không chấp gì em đâu, nghề giáo mà.

Thìn sung sướng, hồn nó lâng lâng. Thày ơi, hôm nay em mới hiểu thày, thày là người tận tụy với học sinh, em đã không trọng mà lại nói với thày những lời vô lễ. Thày không chấp nhất em, trong khi em có ý định trả thù thày. Thày ơi! Tha thứ cho em nhé thày, ngày mai em sẽ bắt đầu cố gắng học hành lại cho xứng với lời khuyên nhủ của thày. Xin thày tha lỗi cho em, thày nhá.

Rồi Thìn thiếp dần trong giấc mộng mị, một lớp học vui tươi đầy tiếng cười và những khuôn mặt ngoan ngoãn siêng năng dưới cặp mắt sung sướng của vị giáo sư già.


NGUYỄN THỊ THƯƠNG THƯƠNG  
2-7-1971                        


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 159, ra ngày 15-8-1971)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>