Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Như Cánh Chim Hòa Bình


Thầy giáo Việt văn đưa đôi mắt sáng như hai hạt kim cương nhìn chăm chú vào quyển sổ khuyên điểm. Ánh mắt thầy lướt qua một lượt từ trên xuống dưới như một ánh kiếm bằng thép nước. Tim tôi đập thình thịch liên hồi. Có những đôi mắt thật sáng, thật trong ngước nhìn lên chờ đợi. Có những nụ cười hé nở để lộ hai hàm răng trắng nõn như những hạt bắp nếp giữa cặp môi son hồng mấp máy. Riêng tôi, một nỗi sợ sệt lo âu đang dâng tràn lên khắp trí não. Hai chân, hai tay tôi run rẩy như một người vừa nhảy từ dưới nước lên đứng trước làn gió rét mướt của mùa đông ảm đạm. Chưa lần nào tôi run sợ trước ánh mắt lạnh lùng của thầy như hôm nay. Một luồng cảm giác tê cóng chạy dọc theo đường sống lưng. Tôi có cảm tưởng thật kỳ lạ và vô lễ. Thầy là một vị tử thần đang gọi tên những kẻ đi vào cõi chết. Bỗng nhiên ánh mắt thầy dừng lại như bị một sức thu hút nào thôi miên. Đôi môi thầy hé mở, một giọng nói thật sắc, rời rạc vang lên như một lệnh truyền:
 
- Nguyễn Ngọc Hoàng Nga.
 
Tôi giật mình sung sướng như một kẻ vừa thoát khỏi cơn hoạn nạn. Hoàng Nga thong thả rời chỗ ngồi, chậm rãi bước lên bàn thầy giáo, đầy vẻ bình tĩnh và tự tin. Cô bé ngoan ngoãn đứng vòng tay trước mặt thầy giáo sau khi mở quyển vở Việt văn đặt lên bàn. Miệng cô bé mấp máy, đọc liên hồi không dứt. Những âm thanh nhỏ bé không đủ sức vang xuống đám học trò ngồi ở cuối lớp. Thầy cầm cây bút đỏ, trịnh trọng ghi vào vở của Hoàng Nga. Tôi đoán có lẽ đó là những lời ngợi khen cho một cô bé học trò chăm chỉ. Thầy đưa vở lại, cô bé đón lấy bằng hai tay một cách kính cẩn rồi cúi chào trước khi trở về chỗ ngồi. Thầy gọi tên một trò khác. Lần này đến phiên một đứa học trò con trai: Trần Ngọc Lâm. Nó ngồi ở bàn đầu, vội vã chạy lên, đọc một mạch, thầy phê vào vở, rồi nó hí hửng chạy xuống. Cứ thế lần lượt, một đứa học trò con gái rồi đến một đứa học trò con trai. Mỗi khi thầy sắp gọi tên một đứa học trò con trai là trống ngực tôi lại đánh liên hồi. Nhất là lúc ngòi bút của thầy đưa qua đưa lại nơi cuối sổ, chỗ có tên tôi, là tim tôi như muốn nhảy tung ra khỏi lồng ngực...
 
Hôm nay là lần đầu tiên tôi đi học trở lại, sau hai tháng vắng mặt ở lớp. Từ ngày cha tôi bị tử trận ở Pleiku, cuộc sống của mẹ con tôi càng thêm vất vả. Tuy vậy, mẹ con tôi vẫn đùm bọc lẫn nhau, kéo lê cuộc sống lầm than nghèo khổ. Từ tờ mờ sáng, mẹ tôi đã thức dậy thật sớm. Sau khi ăn qua loa mấy hạt cơm nguội còn thừa từ tối hôm qua, mẹ tôi vội vã vào xóm đếm những bó rau muống còn ướt sũng sương đêm của người ta gánh ra chợ bán để kiếm lời độ nhật. Ở nhà tôi làm những việc lặt vặt như kiếm củi, nấu cơm, nấu nước, quét dọn nhà cửa, xay bột để trưa về, mẹ nấu chè xôi nước, chiều đem bán rong trong xóm. Khi mẹ sắp sửa đặt gánh hàng lên vai, thì tôi cắp sách đến trường sau khi đã ăn xong một chén chè xôi nước tráng miệng.
 
Cách đây chừng hai tháng, một tai họa khác lại đến cho gia đình tôi. Một buổi sáng mùa thu, trời hơi lành lạnh, sương mù giăng đầy trên những khóm tre xanh trước nhà. Sau khi bước ra khỏi cửa một lúc lâu, mẹ tôi chợt quay trở lại và bảo tôi đưa cho mẹ chiếc áo len màu xám tro, một kỷ vật của ba tôi tặng mẹ tôi từ khi hai người mới cưới nhau. Chiếc áo đã cũ và ngả sang màu xám bạc nhưng mẹ tôi yêu quý nó vô cùng.
 
Ít khi mẹ mặc, chỉ những hôm trời thật lạnh mẹ mới dùng đến. Và mỗi lần khoác áo vào, mẹ thường nói với tôi: "Mỗi lần cầm đến chiếc áo, là mẹ nhớ ba con quá". Khi cha tôi còn sống, mỗi lần nói xong câu ấy là mẹ thường chắc lưỡi thêm: "Không biết giờ này ba con đang làm gì, ở đâu? Tội nghiệp quá! Chiến tranh chi mà cực khổ thế này?". Từ ngày cha tôi mất đi, mẹ tôi thay câu nói ấy bằng những hạt nước mắt đọng lại nơi khóe mi. Tôi cũng thấy lòng mình xao động và một nỗi buồn man mác len sâu trong từng mạch máu. Buổi sáng hôm ấy, mẹ tôi không hề đánh rơi một giọt nước mắt nào, tôi thấy hình như mẹ tôi có vẻ lưỡng lự khi cầm chiếc áo trên tay. Tôi không hiểu tại sao và tôi cũng không muốn hỏi mẹ làm gì, sợ khơi lại những nỗi buồn dấy lên từ trong tâm khảm. Mẹ tôi vội vã bước ra khỏi cửa và vói dặn một câu hơi khác thường:
 
- Ở nhà rán học nghen con. Có lẽ trưa nay mẹ về hơi trễ đó. Con cứ ăn cơm trước rồi để phần cho mẹ. Nếu mẹ chưa về thì cứ khóa cửa lại rồi đi học, đem chìa khóa qua gởi bà nội. 
 
Tôi dạ một tiếng rồi lặng thinh nhìn theo chiếc bóng xương xẩu nhỏ bé của mẹ như một cành cây khô biết chuyển động. Tự dưng tôi cảm thấy có một cái gì buồn bã khác thường. Tôi muốn gọi mẹ tôi trở lại, nghỉ bán hôm nay, ở nhà với tôi. Nhưng đó chẳng qua là một ý nghĩ chợt hiện đến trong trí não mình, chớ đời nào tôi dám thực hiện. Tôi hiểu hơn ai hết: Mẹ tôi nghỉ bán một ngày là mẹ con tôi phải nhịn đói một ngày. Điều đó, dĩ nhiên dù yêu thương tôi cách mấy mẹ tôi cũng không thể chiều chuộng tôi một cách vô lối như thế được.
 
Mẹ tôi đi rồi, tôi ở nhà chờ đợi bằng sự lo âu bồn chồn. Hình như linh tính báo trước cho tôi biết một việc chẳng lành sẽ xảy đến cho mẹ tôi, và dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng sâu xa đến đời sống của tôi. Để đánh tan sự nghi ngờ ấy, tôi lấy tập ra học bài, làm bài. Tôi đang ngồi ê a bài Địa lý, thì một người bạn của mẹ tôi cùng bán hàng với mẹ tôi, hớt hải chạy về la lên: "Nam ơi! Nam, mẹ con trúng gió nằm ngoài chợ kìa". Tôi run lên như cầy sấy: "Trời ơi, có sao không dì Tư?" - "Trúng gió mà không sao? Nhưng nhờ có người biết cạo gió nên cũng đỡ bớt rồi. Má con kêu dì chạy về cho con hay. Nói nội coi chừng nhà giùm rồi con chạy ra với má con". Tôi dạ rồi nói: "Thôi dì Tư ra ngoài ấy trước đi. Con chạy qua nội con rồi con ra bây giờ. Mà má con nằm ở đâu hở dì Tư?" - "Sạp vải của bà Ba Long đó. Con biết chớ?" "Dạ biết". Tôi ba chân bốn cẳng chạy qua cho nội hay và đưa chìa khóa cho nội tôi. Tôi chạy một mạch ra chợ rồi đến thẳng sạp vải của bà Ba Long. Mẹ tôi đang nằm trên một chiếc sạp đóng bằng gỗ tạp sần sùi. Ánh mắt lờ đờ ngước nhìn đứa con yêu dấu như muốn trối trăn một điều gì. Không, tôi không tin rằng mẹ tôi sẽ chết, giống như tâm trạng của một đứa trẻ mồ côi trong một bài thơ của Xuân Tâm mà giáo sư Việt văn đã dạy cho tôi: "Độ nhỏ tôi không tin. Người thân yêu sẽ mất. Hôm ấy tôi sững sờ, và nghi ngờ trời đất". Mẹ tôi vẫn còn mặc chiếc áo len màu xám bạc. Gương mặt bà trở nên xanh tái, trông hốc hác hẳn đi. Mẹ tôi không nói một điều gì! Tôi ghé miệng sát bên tai mẹ tôi: "Con đưa mẹ về nhà nghe". Mẹ tôi khẽ gật đầu. Ánh mắt bà long lanh. Dì Tư phụ tôi dìu mẹ tôi ra khỏi chợ, dì đưa tay ngoắc một chiếc xích lô đạp. Trả giá xong, dì đỡ mẹ tôi lên xe, tôi bước lên sau. Chiếc xe bắt đầu chuyển bánh, dì Tư lẽo đẽo đi theo sau trông thật tội nghiệp. Tôi thấy thương dì quá. Chị em ruột với má tôi chưa chắc đã được như thế. Về đến nhà, tôi thấy nội tôi đứng đợi trước cửa. Nội bước vội ra, đỡ mẹ tôi, dìu vào giường nằm. Tôi rót đưa mẹ tôi một ly nước âm ấm, nội tôi mới nấu lúc nãy. Mẹ tôi chỉ hớp một miếng rồi trả ly nước lại cho tôi. Một lúc sau dì Tư bước vào hỏi tôi:
 
- Hôm nay con có đi học không?
 
- Dạ không.
 
Nội tôi thêm vào:
 
- Thôi, ở nhà một bữa đi con, coi chừng mẹ mày.
 
Nhưng mẹ tôi vẫy tôi lại, bà thì thầm bên tai tôi: "Mẹ không... sao đâu... Con cứ đi... học... đi". Tôi nói với mẹ:
 
- Mẹ yên tâm, đừng lo cho con. Con nghỉ học một bữa cũng không sao mà. 
 
Mẹ tôi không nài ép tôi nữa. Nghỉ học một hôm tôi cũng tiếc lắm nhưng biết làm sao bây giờ. Sức khỏe của mẹ vẫn quý hơn muôn vàn buổi học. Mất một buổi học, sau này tôi có thể tìm lại được, nhưng mất một người mẹ, làm sao tôi có thể tìm thấy một người mẹ thứ hai?
 
Nhưng Trời Phật vẫn không thương mẹ con tôi. Khuya hôm ấy, trong lúc tôi đang chập chờn trong giấc ngủ vì suốt đầu hôm tôi phải thức để trông chừng mẹ tôi, thì nội tôi hốt hoảng gọi tôi dậy. Tay chân mẹ tôi lạnh ngắt, hơi thở thoi thóp. Nội tôi đang lúi húi lấy dầu nóng xoa bóp khắp thân thể mẹ tôi. Nội bảo tôi qua gọi dì Tư sang rồi sai tôi xuống bếp quạt lò lửa để hơ cho mẹ. Không có cục than nào trong bếp, tôi phải chạy qua nhà dì Tư xin. Khi lò lửa bắt đầu đỏ, nội tôi dùng khăn hơ ấm rồi đắp lên người mẹ tôi. Dì Tư đỡ mẹ tôi nằm sấp xuống, dùng đồng bạc kim khí cào trên thân thể mẹ kêu rào rạo nhưng mẹ tôi vẫn nằm im mà không cảm thấy đau đớn gì. Tôi càng lo sợ hơn. Nội tôi và dì Tư đều chăm chú lo săn sóc cho mẹ tôi, không nói năng một lời nào. Một lát sau mẹ tôi ú ớ một tiếng thật to, rồi buông hơi thở cuối cùng. Nội tôi rươm rướm nước mắt. Gương mặt dì Tư thất sắc. Tôi òa lên khóc và réo gọi mẹ tôi trong nỗi tuyệt vọng. Mẹ tôi vẫn nằm bất động... Người đã chết rồi, mà trước khi chết mẹ tôi cũng chẳng trối trăn với tôi một điều gì cả. Tôi thấy cả một bầu trời sụp đổ trước mắt tôi. "Tôi thấy tôi mất mẹ. mất cả một bầu trời". Lời thơ của Xuân Tâm đối với tôi trở nên thấm thía vô cùng.
 
Sáng hôm sau, đám ma mẹ tôi cử hành một cách thật đơn giản. Chỉ có một người đội khăn tang và mặc đồ trắng đi sát chiếc hòm của mẹ là tôi. Nội tôi đi phía sau với dì Tư, và một vài người bạn láng giềng của mẹ tôi. Bốn người đàn ông trong xóm khiêng chiếc hòm bằng gỗ tạp đi thật vội vã, tôi phải chạy theo mới kịp. Chiếc khăn tang trắng của ba tôi chưa kịp gỡ xuống thì tôi đã quấn lên đầu một chiếc khăn tang thứ hai của mẹ. Tôi không còn khóc được nữa. Tôi chỉ biết im lặng và chấp nhận mọi nghịch cảnh khổ đau.
 
Và bắt đầu từ đó, tôi nghỉ học suốt hai tháng trời vì nội tôi đã già, không làm gì ra tiền để lo cho tôi ăn học. Căn nhà rách nát của mẹ tôi được đóng cửa chờ người đến mua. Tôi về sống với nội để bà cháu sớm hôm có nhau. Cách đây mấy hôm, căn nhà ấy đã có người mua nên tôi mới đi học trở lại được.
 
- Trần văn An.
 
Tôi mãi miên man trong những ý tưởng kéo lui về dĩ vãng. Bỗng nghe tiếng gọi của thầy giáo, tôi giật bắn người đứng lên như một kẻ bị điện giật. Tôi vội vã cầm cuốn tập lên bàn thầy. Giáo sư ngước nhìn tôi một cách kỳ lạ. Hình như trong mắt của thầy đã nói cùng tôi những lời trách móc: "Lâu nay em nghỉ học phải không?" Tôi đang chờ đợi những câu hỏi và những lời rầy la của thầy.
 
- Thuộc bài không?
 
Tôi do dự chưa dám trả lời.
 
- Sao em làm thinh? Tôi hỏi em thuộc bài không?
 
- Thưa thầy không.
 
Thầy có vẻ giận dữ, bảo tôi:
 
- Đưa tay ra. Năm thước.
 
Tôi đưa bàn tay trái ra trước mặt thầy nhưng chẳng hiểu sao thầy lại không đánh. Thầy cầm lấy quyển tập của tôi mở ra rồi hỏi:
 
- Tại sao em không thuộc bài?
 
- Thưa thầy em nghỉ học từ hai tháng nay. Em mới đi học lại hôm nay.
 
- Em có xin phép văn phòng không?
 
- Thưa thầy có.
 
- Ai xin phép cho em?
 
- Thưa thầy bà em.
 
- Ba em đâu sao không xin phép mà bà em xin phép?
 
- Thưa thầy ba em chết đã hai năm nay rồi.
 
- Còn má em?
 
- Má em mới mất cách đây hai tháng!
 
- Hiện giờ em ở với ai?
 
- Thưa thầy em ở với bà em.
 
Tôi thấy đôi mắt thầy nhuốm một vẻ buồn sâu xa.
 
Và tự nhiên hai ánh mắt tôi cũng cay cay, nước mắt bỗng ứa ra ở khóe mi.
 
- Emj có còn anh em gì không?
 
- Thưa thầy không!
 
Thầy chắc lưỡi và quay sang hướng khác. Ánh mắt thầy trở nên hiền từ và khoan dung làm sao. Gương mặt thầy như tràn ngập tình thương. Và tia nhìn của thầy như thầm bảo tôi: "Thầy rất thông cảm với hoàn cảnh của em" Giọng thầy trở nên cương quyết nhưng đầy ngọt ngào:
 
- Tuần sau, em phải chép bài đầy đủ nghe không? Nếu không thuộc bài tôi sẽ cho hai số không đó.
 
- Dạ.
 
Thầy đưa cuốn tập lại tôi. Nỗi buồn vẫn đậu trên hai ánh mắt và phảng phất trên gương mặt thầy. Tôi thấy từ đó tỏa ra một tình thương bao la dịu dàng như một thứ tình thương của một người cha đối với con, đầy bao dung và đại lượng.
 
Thầy xếp sổ lại, đứng lên cầm cục phấn trên tay, đi về phía bảng đen, bảo cả lớp:
 
- Các em lấy tập ra chép bài mới.
 
*
 
Suốt hai tháng nghỉ học, bài vở đối với tôi bây giờ trở thành một thế giới mênh mông và đầy bí mật. Tôi phải mượn tập của tụi bạn chép lại cho đầy đủ để kịp thi kỳ đệ nhất lục cá nguyệt. Từ hồi đi học đến giờ, tôi thuộc vào hạng học trò khá trong lớp. Tuy không đứng đầu lớp một cách thường xuyên nhưng vị thứ vẫn được xếp trên trung bình. Bây giờ phải học lại những bài vở bấy lâu bị thiếu sót, tôi vẫn không cảm thấy chán nản mà chỉ thấy lo âu. Tôi sợ năm nay mình sẽ không được lên lớp, nếu thế, chắc tôi sẽ buồn ghê lắm, mà ba mẹ tôi có lẽ cũng chẳng yên lòng nơi chín suối.
 
Tôi đang hý hoáy chép lại bài vở cũ thì bỗng nhiên dì Tư hối hả chạy vào, trên tay cầm một tờ nhật báo. Dì hỏi tôi bằng một giọng hết sức quan trọng:
 
- Nội con đâu rồi An?
 
- Dạ nội con mới đi đâu qua bên xóm đó.
 
- Thôi được rồi. Con đọc cái tin này coi. Dì Tư mới xem qua mà vẫn không hiểu có phải là ba con còn sống hay không? Người ta nói cái gì trao đổi tù binh, dì Tư cũng không hiểu nữa.
 
Tôi sửng sốt:
 
- Dì Tư nói sao? Ba con còn sống hả? Đâu?
 
Dì Tư cầm lấy tờ báo rồi chỉ cho tôi:
 
- Nè con đọc chỗ này nè. Có phải tên ba con không?
 
Tôi chụp lấy tờ báo, đọc nơi mục danh sách tù binh được thả về ngày...
 
- Dạ, Đúng rồi, tên ba con: Binh nhì Nguyễn văn Bình, sinh năm... tại Ba Xuyên. Đúng rồi. Chắc tên ba con chứ còn ai nữa. Nhưng...
 
- Nhưng... sao?
 
- Lẽ nào ba con còn sống. Người ta nói ba con chết rồi mà.
 
Dì Tư cũng tỏ vẻ nghi ngờ:
 
- Biết đâu. Ba con chỉ bị mất tích trong trận đánh ở Pleiku.
 
Tôi nhớ lại ngày má tôi nhận được bức điện tín nơi đơn vị ba tôi gởi về: "Binh nhì Nguyễn văn Bình đã đền nợ nước ngày...". Như thế là ba tôi đã chết rồi chứ còn gì nữa. Sao hôm nay, trong danh sách tù binh được trở về lại có tên ba tôi? Phải chăng ba tôi chỉ bị mất tích mà người ta tưởng lầm là ba tôi đã chết. Có lẽ nào đơn vị trưởng lại không biết binh sĩ của mình bị chết hay không? Vô lý quá. Không thể nào tin được. Chỉ là một hy vọng hão huyền mà thôi. Có lẽ là có một sự trùng tên chăng? Sao lại trùng cả họ, năm sinh và nơi sinh được? Thật khó lòng mà tin được là ba tôi hãy còn sống. Và sẽ trở về sum họp với gia đình, một gia đình thiếu vắng hình ảnh một người đàn bà mà ba tôi hằng yêu quí, đó là mẹ tôi. Nhưng dù sao tôi vẫn cứ bám lấy một sợi dây hy vọng mong manh.
 
Cuộc chiến tranh tàn khốc đã bắt đầu kết liễu từ ngày 28-1. Tôi nghe thấy nói rồi hòa bình sẽ đến cho dân tộc Việt Nam anh hùng. Một dân tộc đã từng chiến thắng quân Hán, quân Nguyên, quân Mãn Thanh, đã từng đánh đuổi thực dân ra khỏi lãnh thổ, một dân tộc đã từng vang danh trên năm châu bốn bể mà ngoại bang đã bao phen kinh hồn đảm vía...
 
Và ngày mai ba tôi sẽ trở về dù là trở về trong thân thể tàn tật mất mát. Bấy nhiêu cũng đủ an ủi tôi rồi. Và con sẽ được ba săn sóc thương yêu dạy dỗ phải không ba? Con sẽ lớn lên, học hỏi, thành tài, khai hóa dân hiền để cho quê hương này được bền vững và chiến tranh sẽ không còn có cơ hội tái diễn nữa phải không ba?
 
- Bác ơi, anh Bình còn sống nè bác.
 
Tiếng dì Tư kéo tôi trở về thực tế. Nội tôi từ ngoài cửa bước vào, sửng sốt:
 
- Mày nói gì vậy Tư?
 
- Anh Bình còn sống.
 
- Chuyện gì lạ vậy? Nó đâu?
 
- Anh ấy có tên trong danh sách tù binh. Mai mốt anh ấy sẽ về.
 
- Thiệt không?
 
- Dạ thiệt.
 
- Ai nói vậy?
 
- Dạ báo nói.
 
Nội tôi vẫn nghi ngờ:
 
- Báo nói mà làm sao tin được.
 
- Thiệt mà, có đăng tên tuổi đàng hoàng.
 
- Đâu?
 
Tôi đưa tờ báo cho nội tôi;
 
- Đây nè nội.
 
Nội tôi quay sang tôi:
 
- Thiệt không An?
 
- Dạ thiệt.
 
- Trời ơi!
 
Nội tôi òa lên khóc thật ngon lành. Hai tay nội nắm chặt lấy tờ báo, ý chừng như đang nắm lấy hình bóng đứa con trai của nội. Tôi thấy hai khóe mắt dì Tư sáng lên rồi rươm rướm nước mắt. Một bầu trời trong xanh hiện ra trước mắt tôi với muôn ngàn cánh chim bồ câu bay lượn. Ánh vàng sưởi ấm những chồi non xanh biếc và giữa một con đường đất nhỏ bé còn mùi thơm rạ ướt, hình dáng ba tôi hiện ra thật rõ ràng, với gương mặt hồng tươi rạng rỡ và ánh mắt chan chứa thương yêu. Bất giác tôi ôm chặt lấy nội và để cho dòng nước mắt mặc sức tuôn trào... Tôi nghe văng vẳng bên tai tôi một giọng nói ngọt ngào âu yếm: "Con! Mẹ con đâu rồi hở An?"
 
 
TRINH CHÍ         
 
(Trích từ bán nguyệt san Thằng Bờm số 24 (bộ mới), ra ngày 1-4-1973)
 

Không có nhận xét nào:

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>