Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Nguyên Đán















(Tặng Nguyễn Thu Loan)

Rồi mai em trở về quê nội
Nhìn thấy hoa cau nở trắng vườn
Có con chim hót mùa Xuân mới
Sáng nào cây cỏ ngậm hơi sương

Lòng phơi như nắng bên hàng giậu
Cúc trổ hiên mai nụ quá vàng
Gọi tuổi hồn nhiên chim sáo đậu
Gọi đời ru ấm giọng hò khoan

Người đưa nhau đến giòng sông nhỏ
Nhìn nước triều dâng ngập mấy bờ
Thương cội nguồn xưa con sóng vỗ
Nên thuyền khua nước vỡ trăng soi

Mạ vừa xanh tháng giêng ngoài nội
Sen ngát đầm thơm Ý nguyện cầu
Có phải là trăm năm quá vội
Nên chùa còn vọng tiếng chuông sầu

Em sẽ dâng hương mừng tuổi mẹ
Một đời lận đận nỗi truân chuyên
Mà sao má hóp chưa tàn lệ
Chờ dựng mùa vui mộng Thái bình

Khi bánh chưng vuông vòng lạt buộc
Ấp ủ thâm tình quê dấu yêu
Lửa nồng ấm lại hồn non nước
Khói quyện lên cao mái lá nghèo

23 Táo sẽ về tâu lại
Những chuyện buồn vui với Ngọc hoàng
Em có gởi lời xin mãi mãi
Yên bình, Hạnh phúc, cõi trần gian

Hãy nhắn giùm anh bao ước nguyện
Cho tình thương xóa hận thù xưa
Bởi vì súng vẫn chưa ngưng tiếng
Nên áo sương phai một nét cười

Như thuở qua rừng sâu, góc núi
Người ngã bên giòng sông buổi nao
Chắc là suốt kiếp chưa vơi tủi
Hãy nguyện cầu siêu thoát khổ đau

Như bánh xe lăn vòng sinh tử
Chưa tròn nghiệp chướng chuyện trầm luân
Sẽ về neo bến hư không đó
Hay sẽ luân lưu đến cuối cùng?

Thì thôi trước những hàng bia mộ
Khi chắp hai tay lạy Đất Trời
Em thắp thêm hàng hương tưởng nhớ
Hai miền sông núi lệ đầy vơi

Bởi mười hai tháng vừa qua hết
Nguyên Đán hồi sinh lộc nõn cành
Em hãy cùng anh cung kính chúc:
Vũ trụ, Quê Hương, mãi Phước lành.

                               NGỌC THÙY GIANG

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 217&218, Xuân Giáp Dần)

Thứ Ba, 6 tháng 2, 2018

Luống Cải Vàng

                                

- Vậy là hết dưa… ba mẫu tây dưa chớ ít sao… Trời ơi, trái đã lên bây lớn vầy mà…

Ông Năm vừa chắc lưỡi vừa đưa tay nhúm lại ví dụ độ lớn của trái dưa…

- Tui đâu có dè… đám dưa của tui… tươi tốt nhứt. So với mấy vườn dưa khác, vườn dưa của tui ăn đứt, chấp hết. Tui là vua trồng dưa ở miệt đó mà… Nhứt định Tết này là tui ngồi dậm chưn ăn tiền… Tui đâu có dè… mấy vườn dưa… tui tiếc đứt ruột…

Ông Năm là chủ một vườn dưa lớn tại Cồn Sơn, thuộc tỉnh Phong Dinh. Gia đình ông đã ba đời sống với nghề trồng dưa lấy trái. Từ nhỏ đến lớn, quanh năm suốt tháng, chỉ nghĩ đến dưa và dưa, nên ông Năm có một mối cảm tình đặc biệt đối với loại cây bò, trái lớn tròn với làn da xanh đậm đà.

- Thôi bác à, bề gì cũng đã mất rồi, ngồi tiếc làm gì cho thêm tủi, thêm buồn. Mình ví như chưa gặp thời…

- Mà tức quá anh Ngọ à. Không có năm nào vườn dưa của tui bắt mắt như năm nầy. Trông nó ra trái, từ khi bằng trái mận đến khi bằng nắm tay, hồi hộp mà vui lắm anh Ngọ à…

Ông Năm không thể nào quên được mảnh vườn mồ hôi nước mắt của mình. Vườn dưa gắn liền ông, màu đất phù sa vàng nồng như có mật đã quyến rũ ông như tổ ấm gia đình. Đâu phải như vùng đất cứng chắc, khô cằn như ở đây. Trời ơi, nơi ông ở đâu phải ở đây. Từ khi chiến tranh lan tràn, ông bỏ nhà, bỏ vườn dưa thân yêu đang độ đi lánh nạn. Lúc ra đi, vì quá bối rối, ông không nghĩ ngợi gì. Bây giờ, trong cái cảnh chờ đợi sự bình yên mau tới, chờ đợi ngày trở lại nhà, thời gian dài đằng đẵng làm ông nhớ lại, nhớ quay quắt và tiếc đến điên cuồng. Nhìn cuốn lịch đem theo, rõi theo cái tiết giá lạnh đã tàn từ lúc nào. Trời nắng ráo báo hiệu ngày cuối năm chả còn bao lâu. Và trên khu chợ cất tạm của trại tạm cư, những trái dưa tròn trĩnh nằm ngạo nghễ như muốn trêu tức ông. Ông Năm chỉ muốn trở lại vườn, rỡ những trái dưa nặng trịch, những trái dưa vỏ xanh ruột đỏ ngon ngọt lạ lùng. Nhiều bữa ra chợ, ông đưa tay rờ lên làn da mịn màng bóng láng của mấy trái dưa, để nghe lòng mình chùng xuống và nỗi tiếc nhớ như muốn hâm nóng bờ môi, đầu mắt. Nhìn con nắng tốt là ông kêu:

- Đã đến lúc rỡ dưa đây mà…

Thấy đám mây đen đe dọa đằng chân trời là ông kêu lên:

- Coi chừng mấy trái dưa chín muộn. Mưa mà ướt đất là thúi ruột hết trọi…

Sáng sáng, đôi lúc thức giấc quá sớm, ông lò mò đi ra ngoài giữa cơn mộng còn chập chờn với ý nghĩ để hít thở mùi thơm đặc biệt toát ra từ những thân cây ngoằn ngoèo, những cọng rơm ủ đã ủng và mùi phân uré quen thuộc. Nhưng không, ông chỉ thấy những mái nhà chập chùng lạnh lẽo, chỉ nghe đâu đây tiếng trẻ khóc và đất dưới chân cứng chắc như đạp đá. Ông bàng hoàng chợt nhớ mình đã xa quê. Gặp người bạn nào, thân hay sơ ông cũng nhắc đến vườn dưa vô địch của mình hầu tìm ở lời kể lể chút an ủi, tạm quên đi nỗi buồn của mình để đủ sức chờ đợi ngày trở về.

- Dưa ở đây đâu có ăn thua gì. Nếu bác mà thấy dưa của tui thì phải biết, bác không thèm để ý đến mấy cái loại dưa khác đâu. Tui chỉ gieo toàn rặt giống dưa Cầu Đất thôi, vậy mà tui chấp hết trơn hết trọi đó, cả mấy giống dưa ngoại quốc như dưa Su ga bê bi, dưa Phú Quang, dưa Sa lé Sa let tơn Xám, cả loại Nữ hoàng Đich Xi cũng thua nữa. Bác biết hông, dưa mình là dưa nội địa, tỷ như người Việt Nam mình đó, vậy mà tui trồng, tui lựa giống, tui ủ rơm, chừng ra trái, bác hết nhận ra, nó to gần bằng thứ dưa Congo lận, bác biết loại Congo chớ, nó to đến 10 ký, có khi lên tới 15 hoặc 18 ký lận.

- Cha, dưa lớn quá, bác tài ghê.

Ông Năm cười khoái chí. Ly rượu trước mặt đã vơi quá nửa. Hơi rượu xông lên đỉnh đầu làm ông hoa cả mắt. Ông cứ có cảm tưởng như có cả một vườn dưa trước mắt và ông đưa tay chỉ tới chỉ lui, giảng giải cách trồng dưa mặc cho cái nhìn ngớ ngẩn của người nghe vì không hiểu hoặc không rành lắm nghệ thuật trồng dưa. Và đôi lúc cũng là vì sự chán nản bởi câu chuyện không hấp dẫn và nhàm tai.

Khi ông Ngọ đã trở về nhà mình, ông Năm vòng tay qua trán, nhìn ra khoảng sân nhỏ chật hẹp trước mắt. Giá như đất rộng, ông trồng được một giống gì phải đỡ không chứ. Nhứt là dưa. Nhưng ông thở dài ngao ngán ngay. Đất này ai mà trồng dưa cho được. Có họa điên.

Ông Năm nhắm mắt lại để khỏi phải nhìn thấy mấy khoảng đất trống không, trơ trụi. Trí óc ông lại du về vườn dưa sai quả, ông mơ cái lúc tay mình với con dao ngót trịnh trọng xuyên một khối ba góc vào thân dưa, và rồi hồi hộp biết bao khi mũi dao từ từ rút ra với khối nhỏ đưa ông nước, màu ruột đỏ tươi như son tàu.

- Ông à, dậy ăn cơm chớ bộ ngủ hoài sao. Đi ra mời ba vô ăn cơm đi Ngạn, lẹ đi con.

Vườn dưa biến mất. Mấy ly rượu đế làm lòng ông xót xa cào cấu. Ông Năm uể oải ngồi dậy, miệng nhai nuốt miếng cơm gạo lạt nhách.

- Ông ăn đi chớ hổm rày tui thấy ông cứ thờ thẫn hoài như người bất đắc chí. Đã nói là lỡ rồi, còn sống là may lắm, phước đức lắm đó. Mình ẩn nhẫn rồi chờ ngày yên yên về vườn.

Ông Năm thẫn thờ lập lại: 

- Ừa, yên yên rồi về.

                                                                              *

Chung nhắc một cái chân đã tê cứng vì ngồi lâu, ngúc ngoắc mấy đầu ngón cho máu chạy đều. Những cảm giác tê tê khó chịu cứ len lỏi dưới làn da bàn chân. Chung vứt con dao thái chuối xuống, chán nản nhìn cây chuối chỉ mới thái được một phần và rổ rau muống còn đầy ắp. Nhiệm vụ của Chung là thái chuối, chẻ rau để bà Năm, mẹ nó đem ra chợ bán độ nhật.

Ở nhà trên, tiếng ông Năm vọng xuống từng chặp phê bình loại dưa đang được bày bán ở chợ. Những trái dưa, vỏ sọc xanh dợt, ruột đỏ như son – Nước ngọt chảy rịn đầy ứ thớ thịt dưa. Chung nhớ quá là nhớ. Mọi năm, giờ nầy, Chung bận rộn lội ra lội vào vườn dưa đầy quả. Xe lam, xe Đai-hat-Su chạy ra vào nườm nượp. Tiếng người mua dưa, người hái dưa kêu ơi ới. Những âm thanh thật quen thuộc và vui vẻ như cuộc sống sung túc của gia đình Chung hồi ấy.

Mỗi buổi chiều, đi học về Chung kéo theo một lũ bạn tiến vào một phần ruộng dưa đã hái quả. Giữa những sợi dây thân cây dưa ngổn ngang, lá héo rũ trong nắng chiều, cả bọn ngồi sụp xuống đi từng luống, lục lọi để kiếm những quả dưa sót to bằng cái bát. Ruột dưa hồng hồng, mát lạnh. Cả bọn ăn chán lại ném nhau cười đùa cho đến khi trời sụp tối hẳn. Và từ dưới đất, tiếng côn trùng vang vọng kêu rên.

Bây giờ thì mất hết những ngày sung sướng cũ. Lòng Chung cũng như ba Năm đều vọng tưởng đến ngôi nhà vườn yêu dấu quen thân để mà tiếc mà nhớ.

- Ê Chung, làm xong chưa ra kia chơi với tụi thằng Nô đi.

Chung cúi xuống nhìn rổ rau thái dở lắc đầu:

- Thôi, mầy ra chơi đi. Tao chưa làm xong.

Thằng Chánh, bạn của Chung ngồi sụp xuống bên cạnh:

- Không có mầy ai mà chơi. Thôi để tao chẻ rau cho mầy nghen. Xong rồi hai đứa đi chơi luôn.

Chánh vớ lấy con dao bào bên cạnh, ngồi phệch trước rổ rau muống đã ngắt lá chỉ còn trơ lại mấy cọng xanh rờn. Chung đưa tay chỏ lên nhà trên:

- Ba mầy ở trển đó… đang nói chuyện với ba tao.

Thằng Chánh nháy mắt:

- Chắc ba mầy lại nói về vườn dưa phải không… Chặc… Mà vườn dưa ở dưới của ba mầy chiến thiệt. Tao cũng mê luôn. Ai mà không nhớ.

Chung thở dài:

- Nếu ở đây có chút vườn chắc ba tao đỡ nhớ nhà hơn. Ngặt ở đây ai mà trồng dưa được. Đất nầy…

Chánh dừng tay bào, ngắt ngang:

- Trồng dưa ở đây hả? Còn khuya. Mà sao ba mầy không trồng thứ khác? Cũng vườn đó chứ. Như ba tao vậy. Mầy thấy không, nhà tao trồng cải, nó lên bây lớn vầy nè.

Chung nhún vai khi nhớ lại đám cải xanh ở nhà thằng Chánh, có một chút đất mà cũng bày đặt trồng.

- Cải nhà mầy ốm tong ốm teo như cây vạt giường. Ngó mà rầu.

Thằng Chánh đỏ mặt, cố nói vớt:

- Bề nào cũng có vườn, thấy đỡ đỡ hơn chớ. Mầy biết không, sáng nào, đi lãnh đồ cứu trợ về ba tao cũng ra ngồi ở mấy đám cải hết á. Ổng nói Tết nầy, cải ra bông đẹp lắm.

Chung nhún vai giễu cợt:

- Ra bông hả, còn lâu.

- Mầy không tin à? Được rồi, nhà tao còn mấy gói hạt giống, tao cho mầy rải thử, để xem ba mầy có khoái chí tử không.

Nói là làm, thằng Chánh đứng vụt dậy chạy về nhà. Chỉ một loáng sau, nó trở lại, đưa cho Chung một gói nhỏ hạt cải tròn trịa, khô ráo, màu nâu, lổm xổm trong lòng bàn tay. Chung khó tin quá. Mấy hạt giống nầy sẽ làm ba Năm quên được vườn dưa sao? Mấy cây cải èo uột sẽ làm Chung quên được những luống dưa xanh ngắt tràn lan suốt ba mẫu đất thênh thang sao?

- Trước khi trồng mầy phải xới đất cho kỹ nghe Chung. Tết nầy nó ra bông kịp thì đẹp lắm.

Chung lắng tai, không phải nghe thằng Chánh lải nhải cách trồng cải, mà để nghe tiếng ba Năm lè nhè khoe loại dưa Cầu Đất của ông. Lòng Chung se lại vì thương ba, vì tủi cho cuộc sống bất trắc, bỗng dưng phải khổ cực, phải xa nhà, xa quê. Chung lẩm bẩm:

- Không biết, cái vườn cải nhỏ xíu trước cửa có làm ba khó chịu không đây. Thây kệ, cứ trồng đại.

- Nếu mầy không muốn để lớn thì cứ việc ngắt non vô ăn ghém với rau muống sống cũng ngon lắm. Má tao hay nấu canh tôm. Đăng đắng nhưng cũng ngon lành ba chê.

Chung gật gật đầu:

- Tao muốn để cho cải nó lớn, nó có bông. Gần Tết rồi Chánh hả?

Thằng Chánh toét miệng cười:

- Ừa, gần tết rồi, vui hả mầy?

Chung xì một tiếng lớn:

- Vui gì mà vui, ba má tao cứ rầu rĩ hoài, làm tao cũng rầu thúi ruột đây.

*
                                                             
- Chung, mầy làm gì ngoài đó, vô đây tao biểu coi.

- Con mắc làm mấy cái nầy chút xíu thôi ba. Con vô liền hà.

Ông Năm lẩm bẩm mấy câu vô nghĩa.

Bây giờ đã hơn 9 giờ chớ phải sớm sủa gì đâu. Thường ngày, giờ nầy đối với ông Năm không quá bận rộn lắm. Nhưng hôm nay thì khác. Đã 30 Tết rồi. Nhìn thiên hạ đi qua đi lại rộn rịp, lòng ông cũng vương vương đôi chút rộn ràng. Tết tuy buồn nhưng Tết vẫn là Tết. Tết nghèo, tết nhớ, Tết tủi thân tủi phận thì vẫn có cái lo Tết, cái vội vàng như sợ không đuổi kịp ngày cuối cùng của một năm.

Bà Năm đã ra chợ từ sáng sớm để bán nốt chỗ hàng còn lại. Hôm nay mới được ngày mua ngày bán đấy. Quang cảnh trại tạm cư cũng ra vẻ lắm. Đâu đó mùi khói trầm thơm nức, tiếng pháo lẻ tẻ, áo mới xúng xính trên mấy đứa bé. Người lớn không làm rộn Tết bao nhiêu, chứ mấy đứa bé thì xôn xao lắm.

Chỉ riêng ông Năm, cảnh càng rộn ràng thì ông càng nao nao tấc dạ. Mọi năm, giờ nầy, mấy chuyến xe dưa cuối cùng đã lăn bánh. Ruộng dưa tan tác những sợi dọc ngang héo úa. Mấy đứa trẻ lao xao ngoài vườn, và ông trong sân nhà cạnh mấy người bạn chén chú chén anh với con cá lóc to bằng đùi dưới nướng trui thơm lừng, bát canh chua bốc khói, ngọt nước nấu bằng đầu cá bông lau, rọc mùng, sún chua, me chín và dưa hấu mới hồng ruột.

Mối thu hoạch của mùa dưa làm ông hãnh diện, bây giờ chỉ còn trong tưởng tượng. Đột nhiên ông thích say sưa nốt ngày cùng năm tận nầy. Ông kêu to thằng con độc nhất:

- Chung ơi, mua ba chai đế đi. Lẹ lên.

Thằng Chung thì mải mê với vườn cải đang vượt cao lên thấu tận háng nó. Lá cải màu vàng non ánh xanh trông rực rỡ trong nắng ban mai. Dạo mới ươm hạt, nhờ trận mưa cuối mùa cải vượt cao làm Chung vui như mở hội. Chung chỉ buồn một điều là ba Năm hầu như không thích vườn cải, không buồn nhìn ngắm thì đúng hơn. Mắt ba lúc nào cũng đăm chiêu tận đâu đâu. Vẻ mặt của ba làm Chung sợ. Có thể nào sự tiếc nuối đã làm biến đổi con người đến thế sao. Trí óc non nớt của Chung không thể thấu hiểu được những bí ẩn tế nhị trong lòng người. Chung cũng buồn vì xa bạn, xa trường, xa cảnh tình quen thuộc cũ, xa khoảng đời sung sướng bình yên, nhưng Chung đâu có thất chí như ba Năm.

- Chung à…

Chung ngồi dậy, chạy vào nhà kiếm chai lít, đón lấy tờ giấy 50đ trên tay ba Năm rồi chạy vụt đi.

- Đế bà Bảy nghe mậy.

- Dạ, con biết rồi.


Khi Chung mua đế trở về nhà thì ba Năm đang đứng ngắm vườn cải của Chung. Chung đưa xị đế cho ba rồi chỉ vườn cải hãnh diện nói:

- Con trồng đó ba. Đẹp không ba?

Ông Năm không nói. Màu xanh của cải non làm ông càng nhớ đến mảnh vườn màu mỡ quê nhà. Đất phù sa nâu đỏ thơm mùi cây trái. Vườn xum xuê. Lúa thẳng cánh. Dưa xanh màu. Ông đưa chai đế lên tu một hơi.

- Ba à, bên thằng Chánh, mấy cây cải của nó ra bông vàng đẹp ghê. Ba dạy con cách làm sao để cải ra bông ngày mai đi ba.

Hơi men làm mắt ông Năm lờ mờ như có màn sương mỏng. Đầu óc như bốc khói và bao tử nóng hừng hực. Buổi sáng, ông chưa ăn gì hết. Giá có một trái dưa hấu sót nhỉ. Mát ruột biết bao nhiêu. Nhưng dễ mà, sau mùa dưa, hàng trăm hàng ngàn trái sót. Bà Năm bao giờ cũng để lại cả trăm trái để nhà nấu canh hoặc ăn sống với rau tươi. Còn bao nhiêu kêu bạn hàng rau ngoài chợ bán hết. Ông thèm một miếng dưa cho mát bụng. Ông Năm kêu, giọng nhừa nhựa:

- Chung, lấy cho ba mấy trái dưa , giã muối ớt rồi qua kêu bác Ngọ nhậu với ba.

Thằng Chung trố mắt:

- Dưa đâu có ba, hay để con ra chợ mua dưa leo.

- Dưa sót đâu?

Ông Năm quát nhẹ.

- Dưa sót??

Chung vẫn đứng nguyên một chỗ nhìn ba ngạc nhiên. Ông Năm bắt đầu tức giận. Thằng con dám cãi lời cha chớ. Ông nói như ra lệnh:

- Hỏi má mầy cất dưa ở đâu. Tao nhớ bữa hổm còn để lại cả thúng mà. Vô tìm đi.

Rồi ông chỉ vườn cải trước mặt:

- Dưa… Hay con ra vườn hái cho tao mấy trái cũng được, lẹ lên…

Chung ấp úng:

- Dạ, đâu có dưa ba, đây là vườn cải mà. Để trưa còn hái cải con ăn với rau sống ghém canh chua ba. Ngon lắm.

- Dưa đâu?

Ông Năm đã say. Có vườn cải nào trước mắt ông đâu, chỉ là vườn dưa đã hái trái còn lại đám dây thân dưa ngổn ngang trên mặt đất. Thế nào trong đám dưa đó cũng còn vài trái dưa sót hoặc chín muộn.

- Để tao kiếm cũng được… Mầy qua mời bác Ngọ đi.

Ông Năm bước vào vườn cải, những thân cải dập nát dưới bước đi và bàn tay tàn bạo của ông. Và Chung đứng đó, miệng há to, muốn khóc mà sự ngạc nhiên, kinh hoảng làm nó không thốt được nên lời. Ông Năm như đi trong cơn mê. Ông nằm trên những luống cải non. Ông nhổ bật các cây già. Ông đào xới trên luống cải, miệng lảm nhảm nói về vườn dưa cũ.

Mãi một lúc lâu, Chung mới kéo được ba vào nhà. Áo quần lấm lem; ông vẫn chưa tỉnh cơn say. Bên ngoài, vườn cải tơi tả, Chung ngồi khóc ngon lành.

Giao thừa năm nay khác với tất cả mọi năm. Bà Năm thay vì nấu một nồi bánh chưng to tướng, bà mua ở ngoài chợ ba cái để bày trên bàn thờ. Chung cũng ngủ vùi từ đầu hôm. Giao thừa không tiếng pháo. Và đêm im lặng như mọi ngày. Vài tiếng cười lẻ tẻ đâu đó ở khu vực tạm cư phía sau. Đèn đóm tắt ngấm, chỉ trừ mấy ngọn đèn điện vàng hoe ở cái cổng chào mừng Xuân dựng đầu trại là tỏa ánh sáng rực rỡ so với bên trong xa.

                        *                         

Trong nhà vắng lặng, ông Năm thao thức mãi vì hối hận và thương con.

- Tội nghiệp thằng nhỏ, nó cũng thích vườn tược như mình vậy. Ấy mà…

Ông lẩm bẩm một mình. Hồi chiều, sau một giấc ngủ say sưa vì men rượu, ông tỉnh dậy. Thằng Chung vẫn còn khóc và tuyệt vọng trồng lại mấy cây cải đã gãy nát. Nhìn mảnh vườn cải bé xíu tan hoang, ông sực nhớ lại lỗi lầm của mình. Tội nghiệp. Ông Năm chồm dậy, rón rén vì sợ kinh động đến giấc ngủ của vợ con. Ông thắp chiếc đèn Hoa Kỳ, che tay bước ra ngoài.

Mùi đất xới ẩm ướt sương bốc hơi quen thuộc. Ông khoan khoái ngồi bệt xuống. Chiếc đèn được kê ở một bên soi tờ mờ những ngọn cải ủ rũ.

Dù sao cũng là một mảnh vườn. Lòng thương con dâng lên, át hẳn tự ái của một ông chủ vườn dưa rộng lớn mà theo ông bàn tay chỉ để chăm sóc thửa vườn thênh thang, xanh ngát mùa dưa. Ông Năm bắt đầu đắp lại những luống cải đã lở, ông hái những cây rũ và đắp dẫy những cây còn tươi. Ông làm việc thận trọng, nhất là khi phải rẩy đất ở vồng cải già thân đã lớn cao.

Chả bao lâu, vườn cải đã ngay hàng thẳng lối và ra vẻ lắm, không còn cái ủ rũ tan tác như trước nữa. Sương đã đẫm ướt mái tóc muối tiêu của ông Năm và phủ lên lớp lá xanh non một lớp nước mỏng óng ánh – Lần đầu tiên, ông Năm quên mất vườn dưa sai quả, quên mất những trái dưa tròn đỏ ruột thắm son, những câu ra lệnh cho thợ hái dưa, dõng dạc, những mùa ươm dưa nắng tốt, mùi phân uré quen thuộc, mùi rơm ủ nồng nàn.

Vườn cải xanh màu và lòng ông nỗi vui mừng đột khởi.

- Ba, ba, ba làm gì vậy ba…

Ông Năm giật mình quay lại, thằng Chung đã thức dậy và ra sân. Mặt còn ngái ngủ, nó dụi mắt hỏi ba:

- Giao thừa chưa ba?

Ông Năm mỉm cười, kéo con lại gần mình. Ông chỉ vườn cải xênh xang trước mắt mà không nói. Thằng Chung reo lên một tiếng vừa mừng rỡ vừa ngạc nhiên:

- Ủa, sao…

Chung quay lại, mắt nó nhìn thấy đôi tay đầy đất của ba. Nó hiểu hết:

- Ba sửa lại vườn cải cho con?

Ông Năm tươi cười:

- Ừa, để mai, khách tới nhà không quở mà xui suốt năm. Chịu không?

- Trời ơi con chịu quá trời. Cây chết có nhiều không ba?

Ông Năm đưa đèn cho con:

- Ít, hổng sao. Mai gặp sương vầy thì nhứt định vườn cải tươi rói à.

Chung cầm đèn đi chung quanh, lăng xăng, rối rít. Nó ngắm từng luống cải, từng thân già. Mặt rạng rỡ như khi được mặc áo mới.

- Ba à.

Thằng Chung reo to.

- Để hàng xóm ngủ, thằng quỷ.

- Cải có bông ba ơi. Nó ra bông nè.

Ông Năm nghe lòng reo vui như hồi ông mới trồng dưa lần đầu tiên và nghe bà Năm vợ ông báo tin những nụ hoa đầu mùa đã hé. Ông cẩn thận bước qua mấy vồng cải, đến chỗ Chung đứng. Một ché nụ nhỏ mũm mĩm chúm chím như con vụ sơn xanh. Chung chỉ vào đó:

- Đó, ba thấy hông. Điệu nầy chắc mồng một, hoặc mồng hai nó nở quá. Ba thấy hông. Làm sao cho ngày mai bông cải nở đi ba. Nó nở bự tổ nái để con thi với mấy bông cải của thằng Chánh.

Ông Năm không nói được. Ông chỉ gật đầu nhìn gương mặt vui tươi của con mà nghe lòng hớn hở. Hạnh phúc, niềm vui đâu ở xa, đâu phải ở sự tiếc nuối, ở dĩ vãng vàng son xa vời. Hạnh phúc ở hiện tại, ở sự chấp nhận cuộc sống mới mà không than vãn, mà chỉ nên làm đẹp thêm tùy phương tiện sẵn có.

Hai cha con đứng ngắm mấy cái nụ bông cải mãi đến khi sương ướt hai vai và mấy giọt đọng lóng lánh trên nụ hoa mới.

Ngày mai, ngày mốt cả vườn cải lớn cao thân thẳng trổ những gié hoa vàng. Chắc trông đẹp lắm. Hoa nầy hẳn phải quyến rũ biết bao là bướm. Và ngày mai, ông Năm sẽ thong dong ngồi uống rượu mừng Xuân với mấy ông bạn già, ngắm hoa cải và khoảng xanh trước mặt. Cũng thú vị. Còn vườn dưa của ông. Gác lại chờ ngày trở về quê. Ngày yên bình.

- Khi nào về nhà cũ, ba nhớ trồng cho con một vườn cải ba nghe.

Để trả lời, một tràng pháo dòn, nổ vang trong đêm cô đơn. Tiếng còi hụ đồng lúc từ xa vọng về.

- Giao thừa, thôi vô nhà đi con.

Giấc ngủ chờ ngày mới đến cùng lúc với hai cha con ông Năm. Ông Năm mơ thấy mình trở về nhà cũ, và vườn dưa xanh ngắt với trái tròn, lòng đỏ thắm. Chung mơ thấy những luống cải trổ hoa vàng rực rỡ trong nắng ban mai, trên vườn nhà quen thuộc xứ Phong Dinh.


KIM HÀI    


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Quý Sửu, 1973)

Bìa của Vi Vi : Tư Xuân


Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

Một Lần Tết


Mới 25 Tết bố đã về rồi. Mọi năm ít nhất phải 29 hay 30. Hôm đó trời mưa lất phất và gió rét cóng da. Mẹ và bé Mai đang lo chùi lại cái sập sơn màu gụ đã loang lổ. Bố về thật bất ngờ. Lúc mẹ và bé ngửng lên thì bố đã đứng giữa nhà, tay bố xách một túi vải nâu. Tất cả đều như ngừng lại. Rồi mẹ đưa tay áo lên chùi mắt và nói:

- Mình về sớm thế. Mọi năm mãi 30 Tết mới về cơ mà.

Rồi bé Mai chạy lại ôm lấy bố. Rồi bố bế Mai và hỏi chuyện mẹ.

Bộ quần áo của bố đã bạc màu và đã vá vài ba miếng. Cả cái tay nải cũng thế. Mai rời khỏi lòng bố, xách cái túi vải lên.

- Nhẹ quá bố nhỉ. Thế chắc bố chả mua quà cho con.

- Để mai bố đi chợ bố mua quà Tết cho. Ở mỏ than, có ai bán gì mà bảo bố mua.

Bây giờ thì mới thật là sửa soạn ăn Tết. Có bố về là vui ngay. Mẹ vẫn chả bảo là hai mẹ con lo dọn dẹp chờ bố về ăn Tết là gì. Mẹ ngập những sung sướng, tràn những nụ cười. Bé cũng thế. Có bố về vui thật. Bố vừa chùi lại bộ lư đồng vừa cười vang nhà:

- Nhà mình chỉ còn có mỗi bộ lư này là đáng giá nhỉ, mình nhỉ.

Mẹ cười cười rồi nói:

- Tết này, mình còn cây đào đầy hoa nữa chứ. Đẹp nhất làng đấy. Khối người hỏi mua mà tôi chả bán.

Rồi bố gói bánh chưng. Rồi bố dắt hai mẹ con đi chợ tỉnh sắm Tết. Mẹ mua được cái khăn vuông đen, một đôi guốc mộc. Còn bé, bố mua cho một bộ quần áo bà ba trắng và một cái ví nhỏ. Bố bảo để Tết đựng tiền mừng tuổi.

Bánh chưng vớt ra từ hôm 27. Bố bảo mẹ ngâm xuống ao để ăn cho ngon. Mai được phần một cái bánh dậm, ăn nóng, ngon ơi là ngon. Ăn xong, bé chạy sang nhà hàng xóm khoe với tụi cái Tý, cái Loan, thằng Xin, thằng Út làm tụi nó thèm rỏ rãi. Tại nhà tụi nó bây giờ mới đang rửa lá chuối mà. Mới 27 mà đã thấy Tết rồi. Bố dắt bé đi thăm các nhà hàng xóm. Nhà nào cũng đang sắm sửa ăn Tết. Có nhà chặt hai cây mía về dựng ở bàn thờ nữa. Ông Bá hỏi thăm bố về công việc làm ở mỏ than. Chú Từ rủ bố ăn đụng lợn. Toàn là chuyện Tết thôi à. Bé nghe người lớn nói đến cả chuyện Tây về làng. Áng chừng như đấy cũng là chuyện Tết nữa.

*

Tình hình xem ra không yên, chẳng hiểu có an lành cho qua khỏi Tết hay không. Thà về làng cho xong. Phu phen ai cũng nơm nớp lo sợ. Ở mỏ than hình như chả ai muốn làm việc nữa.

Ông Hợi bỏ sở, bỏ lại những người cai quá quắt, những bụi than đen đúa, những không khí ngạt thở, những bọn thợ khắc khổ để về với làng nước, với vợ con. Gia tài chỉ thu gọn trong cái tay nải vải nâu. Ông có cảm tưởng như lần này về là chẳng bao giờ trở lại mỏ nữa.

Bạn bè tiễn ông đi bằng chén rượu nhạt, bằng những nụ cười gượng gạo. Họ đã nói với ông: "Bác về trước, bọn tôi làm gắng vài ngày nữa rồi cũng về".

Chuyến tàu buồn như tiếng còi lui ở sân ga. Tiếng máy xình xịch nặng nề đến khó chịu. Các chặng kiểm soát gắt gao. Những người lính tây mặt đỏ gay lục lọi từng tí một.

Mắt cay cay khi nhìn thấy cổng làng. Hàng rào tre bao quanh vẫn xanh xanh lả ngọn. Những mái lá hình như cũ hơn, những con đường hình như nhỏ hơn. Chả có gì thay đổi cả. Vẫn ruộng lúa vườn rau. Vẫn những mái tranh nghèo dầu dãi nắng mưa. Vẫn gió lạnh thổi cóng chân tay. Vẫn mưa lất phất.

Nhà ta đây rồi. Chả hiểu mẹ con nó đang làm gì. Có tiền mà sắm Tết không. Loạn lạc sắp đến nơi rồi. Cầu giời cho giặc đừng chạm đến làng mình.

À. Mẹ con nó có cả ở nhà. Hình như đang quét dọn nhà cửa ăn Tết thì phải.

Bây giờ thì nước mắt ông Hợi trào ra thật. Vợ mình đây. Con mình đây, đang sửa soạn để đón mình về ăn Tết. Họ đang nói chuyện về mình. Rồi cả hai mẹ con ngửng nhìn. Vợ mình sung sướng đến trào nước mắt. Con Mai đây. Con mình lớn thế rồi sao.

Bây giờ phải sắm Tết rồi ra sao thì ra. Ông Hợi nở nụ cười. Bà Hợi nở nụ cười. Và bé Mai chạy đến ôm chầm lấy ông, hít hà mùi hơi người từ bộ quần áo nâu bạc mầu. Tóc con ta mềm và đen ghê. Con gái bố nhớn thật. Quà ư? Mai bố dắt con đi chợ sắm Tết mà. Vợ ta đây. Mình vẫn còn khóc như trẻ con được ư. Mình già hơn ta tưởng. Chắc là làm việc cực khổ lắm. Chứ còn phải nói gì nữa. Lương của ta gửi về thấm vào đâu. Không làm lấy gì đủ sống. Và câu chuyện chỉ xoay quanh vấn đề ăn Tết. Ông Hợi quên hết những lo âu khi còn ở mỏ than, khi vừa từ giã bạn bè. Xung quanh ông ngập tràn hạnh phúc.

Chiều 30 Tết. Ông Hợi sửa soạn vớt bánh chưng ngâm ở dưới ao lên. Bà Hợi đang cùng bé Mai làm thịt con gà trống thiến để sửa soạn cúng giao thừa. Bỗng mọi người giật mình. Tiếng đại bác nổ vang rền ở cuối làng. Mọi người ngơ ngác. Ông Hợi cảm thấy nỗi lo sợ của mình giờ đã trở thành sự thật. Tiếng huyên náo ở cuối làng chuyền dần khắp thôn xóm. Tiếng đại bác vẫn nổ ầm ầm xen lẫn tiếng súng nhỏ. Rồi hàng đoàn người ào ạt chạy. Tiếng gọi nhau. Tiếng kêu thét. Tiếng khóc trẻ con, tiếng gào người lớn. Tiếng kêu của gia súc. Thật là hỗn loạn. Tang tóc bắt đầu ập đến với dân làng.

- Mình ơi! Giặc Tây về rồi. Chạy đi thôi.

Ông Hợi vơ vội cái tay nải bạc màu. Bà Hợi mặt xanh như tàu lá, đứng nhìn chết trân con gà đang làm thịt dở. Bé Mai ngơ ngác, ôm chặt lấy bố.

Rồi họ nhập vào làn sóng người đang chen nhau chạy loạn. Tiếng kêu khóc vang giời. Đoàn người kéo nhau chạy đến giữa cánh đồng. Họ rủ nhau chạy sang làng bên cạnh. Tiếng đại bác hình như đuổi theo họ. Nhìn về phía làng đã thấy khói bốc mù mịt. Hình như Tây đốt làng. Họ lại càng khóc to. Họ gào thét. Họ kêu giời.

Một tiếng nổ chát chúa. Trời đất tối đen. Ông Hợi dang hai tay như muốn níu chặt lấy hai người thân. Ông cảm thấy xung quanh ông ngập nước ; hơi thở khó khăn. Ông cố gắng ngồi dậy. Ông chẳng còn nghe gì nữa. Mình ơi! Con ơi! Ông lóp ngóp bò lên khỏi ruộng bùn, giơ tay vuốt mặt. Bé Mai nằm ngay cạnh ông đang khóc thét. Ông ôm lấy nó, giơ tay chùi bùn ở khắp mặt mũi chân tay. Trời ơi! Vợ ông nằm kia, mặt mũi thân thể bê bết máu lẫn lộn với bùn. Ông nhào tới. Mình ơi! Ông ôm vợ vào lòng. Bà Hợi cố mở mắt nhìn ông, nhìn con. Máu ở mép trào ra. Hai giọt nước mắt trào ra rửa bớt bùn trên khuôn mặt. Hai tay bà cố gắng ôm chặt lấy cánh tay của ông đang cố gắng chùi cho sạch bớt bùn đất trên mặt mũi của bà. Bà Hợi se sẽ lắc đầu, môi bà mấp máy như định nói gì. Bà nấc lên, rướn người rồi ngoẹo đầu sang một bên. Ông Hợi khóc rú lên. Mình ơi! Bé Mai gào lên. Mẹ ơi!

Đoàn người tiếp tục chạy. Xung quanh vợ chồng con cái ông, tiếng khóc than vang trời. Những thây người, những máu me, những bùn đất. Ông vẫn ôm chặt lấy xác vợ, cố gắng chùi cho sạch đất bùn bám trên mặt vợ hiền. Máu vẫn chảy trên thân thể mềm nhão của người vợ.

Lính Tây đã thấp thoáng ở cổng làng. Tiếng đạn véo trên đầu. Tiếng đại bác nổ rền hơn. Người làng chạy qua đã thưa lắm. Họ chạy gần hết rồi. Ông Hợi nhìn vợ nằm yên trong lòng mình, nhìn con đang thất thần bên cạnh. Ông kéo xác vợ vào bờ ruộng. Quỳ xuống. Ông nấc lên, nước mắt tuôn ra, tuôn ra. Ông cúi lạy vợ hai lạy. Con ơi, lạy mẹ con đi, lạy đi. Mẹ con chết rồi mà. Cha không thể chôn mẹ con được rồi. Mình ơi. Thật thảm thiết quá mình ơi. Anh không thể vùi xác của mình dưới ba tấc đất. Còn con chúng ta. Con chúng ta kia kìa mình. Mình tha lỗi cho anh nghe mình. Trời cao đất dày ơi! Mình ơi! Con ơi! Các ông lính Tây ơi!

Người đàn ông bê bết bùn đất từ đầu đến chân thất thểu bước. Trên lưng, đứa con gái cũng lấm không kém cha, gục đầu trên vai bố. Mắt nó nhìn vào quãng không. Bùn đã khô trên đầu, trên tóc, trên quần áo hai bố con. Nước mắt người cha vẫn chảy tiếp tục rửa dần khốn khổ trên khuôn mặt. Ông nhìn về phía trước. Có gì trước mắt cho ông nhìn không? Bờ tre xanh lả ngọn. Mái tranh nghèo. Người vợ hiền vừa gục chết. Bộ lư đồng. Cây đào bích. Con gà đang làm thịt dở. Bánh chưng sửa soạn vớt dưới ao lên. Những lính Tây. Những kinh hoàng.

Đoàn người vẫn tiếp tục di chuyển. Hai bố con vẫn tiếp tục cõng nhau đi. Tiếng súng đại bác vẫn vọng lại ì ầm. Không hiểu làng bên giặc có về không? Chắc là lính Tây không biết ăn Tết. Mình ơi! Con ơi!


HOÀN LONG    


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông Xuân Nhâm Tý, 1972)

Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2018

Giờ Học Cuối Năm


Dũng ngồi xuống gốc cây lơ đãng nhìn trời. Ánh nắng đã gần tắt. Xe cộ lớp lớp di chuyển trên con đường một chiều như nước về nguồn. Dũng móc túi đếm lại số tiền mà nó đã kiếm được chiều nay. Con đường đông xe qua lại như thế mà Dũng chỉ kiếm được trên 200đ. Dũng ngồi sửa xe ở lề đường này cả mấy tháng nay mà chưa hôm nào ít khách như hôm nay, dù là ngày mưa.

Đèn đường đã bật sáng. Dũng cố ngồi lại để kiếm thêm chút ít cùng với nỗi băn khoăn tràn ngập đầu óc nó. Dũng nhớ tới những cơn ho dài, vóc dáng gầy guộc tiều tụy của má nó cùng với tiếng nheo nhéo đòi ăn của hai đứa em. Dũng cũng nhớ tới buổi học sáng mai, nhớ thầy và bạn bè. Dũng mở nắp thùng gỗ lấy cuốn sách Anh văn ra đọc. Chợt một người khách dắt chiếc xe gắn máy tới bên Dũng:

- Ê cậu bé còn sửa xe không? Có vá ép không?

- Dạ có Dũng buông sách nhìn lên và nó bối rối Dạ, Thầy, Thầy bị hư xe?

Người đàn ông nhìn Dũng cũng có vẻ ngạc nhiên:

- Trò Dũng đó hả? Trò sửa xe ở đây lâu chưa? Tôi đi đường này hoài mà không thấy.

- Dạ lâu.

Dũng đáp thật nhỏ rồi lăng xăng lấy kìm, mỏ lết. Thái độ của Dũng thật hăng hái nhưng vẫn không giấu được vẻ khép nép.

Thầy Khuê ngồi trên chiếc thùng gỗ. Thầy lơ đãng nhìn Dũng, nhìn đường phố rồi thầy cầm cuốn sách Anh văn của Dũng trong thùng gỗ, lật từng trang, chợt thầy lên tiếng:

- Trò Dũng, ba trò làm gì?

- Thưa thấy ba con chết khi con còn nhỏ.

- Vậy chớ má trò làm gì?

- Thưa thầy má con bán xôi đậu nhưng bị đau gần tháng nay.

Thầy Khuê nhìn trên trang sách của Dũng, hỏi tiếp:

- Trò có anh chị không?

- Dạ không, thưa thầy con lớn nhứt.

Trời đã nhá nhem tối. Thầy Khuê lấy kính trắng ra đeo rồi lại chăm chú đọc cuốn vở của Dũng. Thỉnh thoảng thầy ngó Dũng rồi lại bâng khuâng nhìn trời. Thầy có dáng lạnh lùng, nghiêm trang nhưng đôn hậu.

Dũng mải miết làm việc nhưng đầu óc nó thì tràn ngập hình ảnh của thầy và bạn. Dũng nghĩ bụng là sáng mai phải khoe với trò Dương vụ thầy Khuê sửa xe. Chừng nửa tiếng sau thì Dũng hoàn tất công việc. Nó quay lại nhìn thầy Khuê một cách lễ phép như thể nhắc thầy là đã sửa xong.

Thầy Khuê đặt cuốn sách Anh văn vào chỗ cũ rồi móc bóp và nhìn Dũng:

- Bao nhiêu, trò Dũng?

Dũng cúi đầu:

- Thưa thầy không đáng bao nhiêu, xin thầy đừng bận tâm.

- Bậy nào.

Nói xong thầy Khuê nhét giấy 200 vào túi Dũng. Dũng thụp xuống né tránh:

- Thưa thầy con đâu dám, không đáng bao nhiêu.

Thầy Khuê nghiêm giọng:

- Trò ngoan lắm, song trò nên nhớ là má trò đau, trò cần tiền. Hơn nữa trò phải nghe lời thầy chớ!

- Thưa thầy hôm nay con kiếm được nhiều tiền rồi.

- Vậy trò không nghe lời thầy sao?

- Dạ nghe nhưng, chừng hai chục mà thầy cho nhiều quá, con đâu dám.

Thầy Khuê quay nhìn nơi khác như thể giấu một nụ cười, tuy nhiên thầy vẫn giữ nét nghiêm nghị:

- Thôi vậy thầy trả 100, trò đừng làm mất thì giờ nữa.

Dũng biết là không thể từ chối được. Nó nhận tiền rồi cúi đầu lễ phép khi thầy Khuê lên xe đi. Tới khi bóng thầy Khuê lẫn vào làn sóng người ở ngã tư đường, Dũng mới sửa soạn xếp gọn đồ nghề sửa xe vào thùng gỗ. Dũng nghĩ tới những công việc phải làm cho bữa cơm tối.

*

Bầu không khí trong lớp học ồn ào vui nhộn hẳn lên khiến thầy Giám thị phải lên tiếng:

- Các anh phải giữ im lặng. Như thông cáo của nhà trường tuần trước, chỉ còn một tuần lễ nữa là các anh nghỉ tết. Việc ăn tất niên trong lớp sẽ được tổ chức vào giờ học cuối năm. Hôm nay Trưởng lớp phải thu tiền đóng góp đặng lo tổ chức lễ tất niên trong lớp. Vậy ai là trưởng lớp 9A8?

Dương huých khuỷu tay vào hông Dũng rồi đứng lên. Thầy giám thị nói tiếp:

- Các anh hãy giữ im lặng và lo đóng tiền cho Trưởng lớp.

Mặc dầu thầy Giám thị đã nhiều lần kêu gọi nhưng sự im lặng chỉ được tôn trọng dưới mức trung bình. Trò Dương đi từng bàn thu tiền, trong khi Dũng ngồi gục mặt xuống bàn vẻ mệt mỏi lo lắng. Việc đóng tiền ăn tất niên không làm Dũng lo ngại cũng như sự ồn ào chung quanh không cắt đứt những ý nghĩ đang quay cuồng trong đầu óc Dũng. Dũng đang nghĩ tới những cơn ho dài của mẹ, những tiếng la khóc đòi ăn của hai đứa em. Thế là mẹ Dũng đau đã hơn một tháng. Sự sống của gia đình do một tay Dũng lo liệu. Công việc của Dũng đều đặn cực nhọc. Sáng đi học, chiều sửa xe, trưa tối nấu cơm.

Nhưng từ hơn mười ngày nay Dũng thất nghiệp. Con đường một chiều được mở rộng tới gốc cây nên Dũng đã mất địa điểm sửa xe. Dũng đã tìm được một vài địa điểm sửa xe khác nhưng chỉ một hai ngày sau là Dũng bị cảnh sát đuổi vì lý do mất vẻ đẹp thành phố. Hôm qua, Dũng đã giấu mẹ mang bán chiếc đồng hồ báo thức để mua thuốc cho mẹ và mua gạo. Nhưng số gạo chỉ đủ cho một bữa ăn.

Dương trở  về chỗ ngồi với một xấp tiền trong tay. Dũng nói:

- Cho mình khất lại mai mốt nha. Hôm nay mình chưa có tiền.

- Khỏi cần. - Dương đáp - Phần Dũng, Dương lo rồi. Ba má mình cho 500 lận, mà mình chỉ phải đóng 100 thôi. Vậy Dương bao Dũng phần tiền ăn tất niên đó.

Chợt tiếng chuông báo hiệu giờ ra chơi vang lên. học sinh ùa ra khỏi lớp như một đàn ong vỡ tổ. Dũng muốn ngồi lại nhưng Dương níu kéo nên Dũng phải bước ra khỏi lớp. Chân Dũng theo bạn bước đi trong sân trường nhưng tâm hồn Dũng vẫn đứng trong cảnh nghèo túng của gia đình. Dũng chợt nhớ tới lời thầy y tá nói "Bệnh má cháu không sao đâu, chỉ cần chích đều ít thuốc mắc tiền kèm theo thuốc bổ là hết ngay. Má cháu bị cảm lạnh mà lại lao lực quá độ".


Nhưng bây giờ Dũng chưa tìm được địa điểm sửa xe thì đào đâu ra tiền? Trong nhà Dũng không còn thứ gì có thể cầm bán được. Nhà Dũng bây giờ không còn một hột gạo. Dũng lo sợ khi nghĩ rằng trưa nay hai em của Dũng sẽ la khóc vì đói.

Chợt đầu óc Dũng lóe lên một tia sáng. Dũng nghĩ tới số tiền ăn tất niên mà Dương để trong cặp. Mặt Dũng đỏ bừng bừng như đi trong nắng. Dũng biết điều đó là xấu nhưng nhu cầu cần tiền đối với Dũng bây giờ thật là cấp bách. Hình ảnh người mẹ bệnh hoạn và hai em nheo nhóc luôn luôn bủa vây Dũng. Cuối cùng, Dũng lén bạn bè trở vô lớp học. Khi Dũng trở ra sân trường gặp bạn thì tiếng chuông báo hiệu vô lớp học reo lên. Chừng tan học, Dương thản nhiên ra về, không hay biết về sự mất tiền cũng như vẻ bối rối ngượng ngùng của Dũng. Nhìn theo bóng Dương khuất ở đầu đường Dũng mới thẫn thờ bước đi mà lòng vẫn ngập một niềm hối hận vô bờ. Dũng băn khoăn không biết rồi đây Dương lấy đâu ra một ngàn để bù vào số tiền Dũng đã lấy của bạn. Hơn lúc nào hết Dũng thấy thương Dương như lúc này. Tội lỗi đã kéo dài bước đi của Dũng. Dũng vừa bước vừa ôn lại những kỷ niệm đã có với bạn.

Dũng ngừng lại ở một ngã tư đường để quan sát địa thế. Dũng nhủ lòng là thế nào cũng phải trả lại Dương số tiền đó. Chiều nay Dũng sẽ vác đồ nghề tới ngã tư này. Lạy trời mấy thầy cảnh sát đừng xua đuổi. Trước khi về nhà, Dũng ghé ngang qua chợ mua gạo và một trái tim heo về nấu cháo cho mẹ.

*

Sự ân hận ngượng ngùng đã nung nấu trong lòng Dũng hơn một tuần. Hôm nay là ngày học cuối năm. Dũng đi học với một niềm hăng hái và phấn khởi. Ở địa điểm sửa xe mới Dũng kiếm được khá. Mẹ Dũng đã gần lành bệnh. Dũng đã dành dụm được một ngàn, Dũng định bụng là bữa nay gặp Dương sẽ thú thật với Dương về tội lỗi của mình và trả lại số tiền đó.

Bầu không khí trong lớp học tràn ngập tiếng cười nói. Dũng vừa định kéo Dương ra ngoài hành lang nói chuyện thì thầy Khuê bước vào. Thầy Khuê kêu gọi sự im lặng rồi tiếp tục lên tiếng:

- Như đã hứa với các em, giờ học cuối năm thầy sẽ trả bài Luận văn nói về chí Nam Nhi của cụ Nguyễn Công Trứ. Sau đó thầy sẽ có một phần thưởng cuối năm tặng cho em nào xuất sắc nhất. Dĩ nhiên sự xuất ắc ở đây là phải hội đủ 2 yếu tố học hành và đức hạnh.

Cả lớp im phăng phắc. Thầy Khuê nói tiếp:

- Phần thưởng của thầy là 1000đ, không đáng chi những đáng quý vì nó thể hiện cho tình thầy trò. Phần thưởng này thầy dành cho trò Nguyễn Đức Dũng.

Cả lớp ồn ào, có tiếng vỗ tay reo hò.

Dũng đỏ bừng mặt vì hồi hộp và xúc động. Khóe mắt Dũng long lanh ướt.

Sau khi trao phong bì cho Dũng, thầy Khuê tiếp lời:

- Chắc hẳn nhiều em trong lớp biết ngoài giờ học trò Dũng còn sửa xe ở lề đường. Vậy mà trò Dũng đã có những bài luận hay nhất lớp. Trò Dũng xứng đáng là một tấm gương sáng cho các em. Các em nên nhớ rằng, không có nghề gì là xấu cả.

Giọng thầy Khuê chợt trầm xuống:

- Các em biết không, ngày xưa gia đình thầy rất nghèo. Thầy phải bán nước trà ở ngã ba Trung Lương cho khách đi xe đò mỗi khi xe ngừng lại. Sở dĩ thầy đỗ được cữ nhân là nhờ sự cố gắng và lòng kiên nhẫn. Vậy lời khuyên cuối năm của thầy là các em phải cố gắng học hành, giúp đỡ cha mẹ, kiên nhẫn vượt qua mọi thử thách khó khăn.

Khi thầy Khuê ra khỏi thì lớp học lại ồn ào tiếng nói cười. Dũng cố trấn tĩnh trong sự ồn ào đó. Dương và vài người bạn khác tíu tít bận rộn vì phải sửa soạn tiệc tất niên. Dũng lại kéo tay Dương ra ngoài hành lang:

Dương ơi, mình không xứng đáng được phần thưởng đâu. Tại thấy mình nghèo, nên thầy thương, thầy cho. Mình tội lỗi.

Dương không nói, mở to mắt nhìn Dũng. Dũng ngập ngừng nói tiếp:

- Mình... Mình... tội lỗi. Mình đã... ăn cắp của Dương một ngàn. Hôm nay Dương cho Dũng trả lại nha.

Mình tới nhà Dũng chơi hoài, mình biết Dũng khổ lắm. Mình mong manh đoán là Dũng lấy song mình thông cảm hoàn cảnh cảu Dũng lắm. Dũng cứ cầm xài đi. Ba má mình giầu, mình đâu cần tiền. Thầy cho một ngàn, Dũng phải về khoe bác chớ.

- Mình trả Dương bằng tiền mình để dành chớ không phải tiền thầy cho đâu. 

Dũng nhét vào tay bạn một xấp tiền rồi nói tiếp:

- Dương cầm lấy đi cho Dũng yên tâm, không mắc cỡ nữa.

Giọng Dương cương quyết:

- Mình xin ba má mình bao nhiêu cũng có. Vậy số tiền này mình tặng lại Dũng đó. Nếu Dũng không cầm thì Dương nghỉ chơi đó.

Nói xong, Dương chạy ào vô lớp. Dũng rưng rưng nhìn theo bạn mà lòng tràn ngập một xúc động mãnh liệt.

Bầu không khí trong lớp học vẫn bừng bừng niềm vui cuối năm.


BÙI KIM ĐĨNH    


(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Nhâm Tý, 1972

Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018

Nắng Chiều Xuân Cũ


Mỗi năm chúng ta chỉ được nhìn thấy nắng xuân duy nhất một lần khi Tết sắp đến. Những vạt nắng chiều cuối đông êm ả và đầy vẻ lãng mạn, mặc dù ẩn giấu ít nhiều những tia buồn hiu hắt nào đó, luôn làm lòng tôi chùng xuống, mắt chợt nhìn xa xăm, và bâng khuâng xao xuyến, tôi lại bồi hồi nhớ về những mùa xuân trong dĩ vãng thuở ấu thời.  

Trước 1975, khi Lăng Ông Bà Chiểu còn là biểu tượng của Sài Gòn, thì mỗi khi Tết đến xuân về, những chàng họa sĩ nghèo tha phương không chỉ "rũ áo phong sương trên gác trọ, lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang" mà còn phóng bút ghi lại hình ảnh mỹ miều của Lăng Ông lên những tấm thiệp chúc Tết xinh xắn làm bằng lụa, rồi đem ký gởi tại những tiệm bán sách, trong số đó có nhà tôi, để dân Sài Gòn tha hồ lựa chọn  khi muốn trao nhau cánh thiệp đầu xuân đầy ý nghĩa. Mùa nào thức nấy, tiệm sách của gia đình tôi  nhân dịp Giáng Sinh sẽ bán thiệp Noel, và khi năm hết Tết đến thì bán thiệp chúc Tết, ngoài sách, vở, nhạc và dụng cụ văn phòng, dụng cụ học sinh thì được bán quanh năm, đông khách nhất là vào dịp khai trường. Cuối năm, khi ánh nắng xiên khoai bắt đầu dịu lại, và gió chiều se se lạnh bắt đầu hây hây thổi, đó là lúc ba tôi sẽ lôi một cái bàn giấy từ trên lầu xuống, dùng để bày bán thiệp Tết. Ba tôi trang trí cho nó bằng cách quấn một tấm vải trắng dài bao quanh ba mặt của bàn, mà mặt trước đã được ông sơn hay dán lên đó dòng chữ Cung Chúc Tân Xuân màu đỏ tươi thắm nổi bật. Ba tôi còn treo thêm những giây bóng đèn trái ớt xanh đỏ nhấp nháy quanh bàn để làm cho nó bắt mắt hơn. Thế là Tết sắp đến rồi! Lũ trẻ con chúng tôi lo bán thiệp Tết thì ít mà lo chơi đùa chạy nhảy thì nhiều: chơi cá sấu lên bờ, chơi năm mười, và chui ra chui vào cái bàn đó, nơi  đã  biến thành chỗ ẩn nấp lý tưởng hai trong một Nhưng dĩ nhiên là tôi không thể nào quên được những tấm thiệp Tết xinh xắn đó: có tấm  in hình hoa bìm bìm phơn phớt tím! (ô là la!), cũng có tấm dán những cánh hoa pensée ép khô thoang thoảng  hương thời gian, hay khi những chàng họa sĩ nghèo túng kia,  đã vẽ chán chê hình Lăng Ông cùng với hàng cây thốt nốt đặc trưng, hoặc những cô thiếu nữ mặc áo dài hoa sặc sỡ rủ nhau đi lễ chùa, bèn quay sang phác họa ông đồ già ngồi viết câu đối dưới rặng hoa đào, những cậu bé con  xúng xính áo dài khăn đống đang túm năm tụm ba chơi đốt pháo, là thú vui không gì sánh kịp của những đứa trẻ tinh nghịch lúc bấy giờ, trên khắp mọi miền quê hương đất nước khi xuân sang.  

Anh Hải tôi có đời nào chịu làm ngoại lệ? Tôi nhớ có năm, chắc tại  tình hình chiến sự căng thẳng leo  thang, khiến nội thành cũng không yên ổn, cho nên tuy Tết đã gần kề nhưng không khí vẫn trầm lắng, vì chính phủ đã ra lệnh cấm đốt pháo. Một hôm, khi ba tôi vừa đi khỏi thì anh Hải tôi nhân dịp đó đã vội "mọc đuôi tôm" và phóng ngay ra đường để  gia nhập cùng bọn trẻ đầu phố chơi đốt pháo. Tiếng pháo lẹt đẹt nổ xa xa cùng với mùi pháo khét lẹt thoang thoảng trong không khí  đã làm cho khu phố khởi sắc hẳn lên, vì rất ra dáng Tết. Bỗng nhiên, một đám người tuy đông nhưng không ồn ào xuất hiện trước cửa nhà tôi! Thì ra anh Hải tôi đã bị một chú công an chìm bắt quả tang, tóm cổ (theo đúng nghĩa đen) về tới tận nhà! Chú ấy sừng sộ hỏi má tôi rằng tại sao lại cho nó chạy ra đường đốt pháo như vậy, và có biết là năm nay người ta cấm đốt pháo hay không? Má tôi ôn tồn trả lời rằng, cháu nó còn nhỏ dại, còn nghịch ngợm lắm! Thôi anh tha cho nó đi, rồi tôi về tôi sẽ dạy dỗ cháu nó lại sau! Chú công an chìm mặc thường phục chằm chằm nhìn má tôi một lát, rồi không nói thêm lời nào, buông anh tôi ra, và quay gót đi mất. Anh Hải tôi, thoát nạn , vội vàng phóng ngay lên lầu. Mấy ngày sau đó, tôi cố để ý nhưng chẳng thấy má tôi "dạy dỗ" anh tôi điều gì, như lời bà đã hứa với chú công an!  

Cận Tết, ba tôi thường hay chở mấy anh em tụi tôi đi chợ Bến Thành, không phải để đi sắm Tết (con nít biết gì mà mua với sắm), mà là để anh em chúng tôi đi chơi Tết, giải khuây sau những tháng ngày phải miệt mài học tập vất vả. Từ đàng xa, khách du xuân đã có thể nhìn thấy những gian hàng hột dưa, pháo bông, bánh chưng bánh tét, trà rượu, kẹo mứt, dưa hấu... bày bán Tết san sát nhau, thi nhau chăng đèn kết hoa  sáng rực cả một vùng, đua nhau mở loa phóng thanh chát chúa khi thì chào mời, lúc để quảng cáo sản phẩm như gian hàng bán kem đánh răng Hynos (Hynos cha cha cha!)... Hi hi! Người đứng bán, kẻ đi mua rộn ràng, chen lẫn với những vị khách chỉ đi xem và chẳng những không mua sắm gì như lũ con nít tụi tôi, mà lại còn được thoải mái "nếm thử" mứt kẹo miễn phí, khiến khu chợ Tết Bến Thành càng về khuya càng thêm phần ồn ào, náo nhiệt. Gian hàng bánh mứt nào cũng được lũ trẻ ranh chúng tôi chiếu cố hết sức tận tình: nào mứt bí trắng phau, mứt gừng, mứt hột sen, mứt khoai lang ươm vàng, mứt chà là nâu bóng, mứt me quấn trong giấy bóng kiếng nhìn vô cùng hấp dẫn, mứt dừa nhuộm phẩm xanh đỏ trông thật thích mắt... Rồi mứt trứng chim bé bé xinh xinh, thèo lèo cứt chuột nhưng thật ra lại là kẹo đậu phọng, kẹo mè đen,  nhưng vì còn bé nên tôi cứ tưởng là phân chuột thật, nên không bao  giờ  dám đụng  đến,  cho dù miễn phí!  Lũ trẻ chúng tôi tay bốc, miệng nhai, vừa ăn vừa phủi  những hạt đường sên dính đầy mặt mũi, và nhìn nhau cười khúc khích, tưởng mình được lạc bước vào xứ thần tiên! 

Sau khi quay gót từ giã chợ Bến Thành rộn rịp với không ít niềm lưu luyến (hi hi!) chúng tôi cuốc bộ sang chợ hoa Nguyễn Huệ ngay gần đó. Khi mùa xuân đến, chợ hoa nhóm họp tại đại lộ Nguyễn Huệ, ngày trước khi còn đúng nghĩa là chợ hoa truyền thống, là một thế giới khác hẳn so với chợ Bến Thành mà chúng tôi vừa  tiếc nuối để lại  sau lưng! Nơi đây, trên vỉa hè là một rừng  hoa, dưới lòng đường là một rừng người, và trên đầu chúng tôi là cả một bầu trời đêm thăm thẳm dường như rực rỡ hẳn nhờ các vì sao long lanh  chiếu, lấp lánh như chiếc áo dài thêu kim tuyến. Lòng người ai nấy đều náo nức hân hoan đón chào chúa Xuân giáng trần. Dòng người chen lấn xô đẩy nhau đông như trẩy hội. Có cả những cô gái đôi tám, hai mươi xênh xang áo dài hay váy  ngắn, hớn hở sà vào những giỏ hoa thược dược, bụi cẩm chướng  đủ màu sặc sỡ, những đóa hồng đài các kiêu sa, những khóm hoa mào gà oai vệ đỏ ối bên đường, rồi làm điệu  làm duyên đủ kiểu  để các bác phó nhòm giơ cao máy chụp hình ghi lại vài pô làm kỷ niệm. Yêu hoa ngay từ thuở còn thơ, tôi cứ chúi mũi vào khóm vạn thọ nhị sắc ngát hương đồng nội, cúc đại đóa hương gây niềm nhớ, những cành hoa mai mùi thơm dịu dàng thanh khiết, hay mơn man những cánh hoa cẩm tú cầu màu hồng phấn đẹp mê ly. Nhưng các anh tôi thì lại thích ra mặt những cây tắc với từng chùm trái vàng da cam căng tròn,  bóng lưỡng, lủng lẳng gọi mời. Len lén trông chừng những người đứng bán, các anh tôi đưa tay bứt hết trái này đến trái khác và nhét đầy túi quần, mặc dù sau đó vì không biết làm gì với chúng, sau khi đã lột vỏ nếm thử thấy chua lè, đã dùng chúng để chơi chọi nhau hoặc làm trái banh để đá trên vỉa hè trước cửa nhà! Hương hoa xuân ngào ngạt trong làn gió đêm xuân mát rượi làm dịu hẳn hơi người toát ra từ muôn vàn du  khách. Chen vai thích cánh nhau, họ say sưa ngắm nhìn, thưởng lãm mọi hương sắc của khu chợ  muôn hồng nghìn tía đang cố phô bày, hiến dâng trọn vẹn nét xuân tươi thắm cho đời, mỗi năm chỉ một lần, nhân dịp xuân về. Chúng tôi quyết định đi "lô ca chân" về nhà để tận hưởng cảm giác nao nao , rộn ràng, rạo rực đang lây lan vào lòng những ngày cận Tết. Hai bên đường, người Sài gòn nhà nào nhà  nấy cũng đều đang bận bịu quét sân, lau cửa, chà lư hương... chuẩn bị  đón mừng năm mới. Chúng tôi chìm vào giấc ngủ êm đềm với nhiều mộng đẹp đêm xuân, trong khi ngoài kia, pháo đã bắt đầu rộn ràng đì đùng nổ giòn! Mai là đêm trừ tịch rồi ! Một mùa Xuân mới lại về trên quê hương loạn ly đầy khói lửa! 

Nhưng ngày vui thường qua mau :  mọi sự nhanh chóng trở nên tồi tệ. Chiến tranh, nếu trước kia đối với lũ con nít chúng tôi chỉ là một  hiện thực  xa xăm, mơ hồ nào đó, bỗng thình lình nhe nanh giơ móng vuốt tàn bạo của nó ra và xé toang  cuộc đời  của tất cả chúng tôi : anh Hải, người anh mà tôi yêu thương nhất đời, đã vĩnh viễn ra đi, không bao giờ trở về ngay cả vào mùa xuân, mùa  được mệnh danh là của yêu thương, đoàn tụ. Một chương đời buồn vui lẫn lộn đã khép lại, một chương mới bất định mở ra, không có anh! Kể từ đó, không có anh tôi, Tết không còn là Tết đối với tôi nữa!

Chiều nay, một lần nữa, xuân lại ngấp nghé đến bên thềm. Trong ánh nắng quái võ vàng của một buổi chiều xuân quạnh quẽ, có một dáng người cứ mải miết đi tìm một hình bóng cũ, như cố góp nhặt lại chút dư ảnh êm đềm của màu nắng xuân xưa. Người qua kẻ lại đi sắm tết đông như mắc cửi, nhưng chẳng ai là anh tôi hết! Tôi đứng lại tại một bùng binh, phân vân tự hỏi mình và hỏi Trời, bây giờ tôi phải đi đường nào để tìm thấy anh tôi?... Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người. Chạnh lòng tôi khơi bao niềm nhớ. Chiều nay hoa xuân bay nhiều quá, chiều tàn dần phai trên ngàn lá, tìm đâu bóng hình ai! (Nhớ Một Chiều Xuân Nguyễn văn Đông) 

Trần Thị Phương Lan   
(Bút nhóm Hoa Nắng)    
Cho những mùa xuân  xưa  
 và hương hồn anh Hải   
  

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

Mạ Về Giữa Mùa Xuân


Buổi sáng, hơi hướng lạnh lẽo mùa đông trở gót xa, sương mù chợt dưng lạ lẫm giữa thành phố đìu hiu này. Khung trời giao mùa đã võng lọng nắng Xuân. Tan lễ, em lại nhà chị Liễu. Dọc theo bờ hồ Xuân Hương, những hàng mai đơm bông rực rỡ. Em ôm quyển thánh kinh trước ngực, che khuất mảnh tang đen tội tình cài bên chéo áo.

Con dốc thoai thoải viền quanh sường đồi. Gió nhẹ đón dưa cho tóc em bối rối sợi dài, cho tà áo trắng lướt thướt quấn quít bước chân, cho phấn thông rơi ngan ngát lối mòn. Đi trên cỏ xanh, một thân một mình. Mỏng manh như khói mây. Nghe lá thầm thì vi vu dưới lũng thấp bát ngát. Nghe một chút tình không hò hẹn vương vương.

Ở chót vót đỉnh đồi, ngôi nhà quạnh quẽ như một tu viện. Bóng quen thấp thoáng sau bờ rào tầm xuân. Em gọi thật khẽ: chị Liễu, chị Liễu ơi! Chị quay lại với nét mừng rỡ tròn xoe đôi mắt: Ơ, Thuận Vi đó hả? Vô trong ni với chị. Lên một mình hở bé? Đường xa rứa, răng không nói anh Nhiên chở xe? Cô bé mỏi chân lắm rồi hỉ? Em chu môi phụng phịu: nhưng Vi thích đi bộ mình em thôi cơ! Chị mỉm cười dẫn em vào phòng hỏi han: Lâu ghê tề, chị em Liễu Vi chừ mới gặp nhau. Răng mờ chị nhớ cô bé dễ ghét ni chi lạ. Em lắc đầu nguầy nguậy, tỉ tê kể lể: Chị có thèm nhớ bé khi mô mô! Bé mới ốm dậy nì. Mấy ngày nghỉ học, ở nhà buồn vô bờ bến. Bé mong chị đến thăm. Chờ mỏi cả cổ, chờ mòn con mắt. Chờ mãi chờ hoài mà chị đâu thèm tới. Khiến Vi buồn không biết cơ man nào. Vi nhớ chị quá chừng quá đỗi. Nhủ thầm sẽ giận chị đời đời kiếp kiếp, nhưng Vi không đành. Chị có biết rằng chị tàn ác đến ngần mô không? Chị có ngờ là nỗi nhớ của bé cao ngất hơn cả ngọn Lâm Viên không hỉ? Chị quên lãng Thuận Vi thật rồi mờ...

Nói một thôi, một hồi, cầm lòng không được, nghẹn ngào sa ướt át mắt nâu. Chị cúi xuống gần gũi em, vuốt tóc dỗ dành: Chị vô tình quá thôi. Nghe cô bé của chị thở than, chao ơi là tội nghiệp! Vi cứ bắt đền chị đi, Vi đòi chi chị cũng chiều em hết. Vi cứ ghét chị đi, cho đáng tội chị, em hỉ? Chị tạ lỗi với em bằng chi bây chừ? Ô mai nha? Chị cũng đàn cho Vi nghe nữa. Chưa xứng mô, nhưng Vi tạm nhận đi cho chị bớt áy náy, nghe bé.

Em gật gật, nước mắt long lanh mà cười tươi như hoa nở. Chị Liễu mang cây đàn tranh, ngồi xuống cạnh em. Mười ngón tay thuôn lướt thoăn thoắt trên dây tơ. Em chống tay lên cằm, ngậm ô mai hồng, lắng nghe từng giọt tranh nỉ non thánh thót. Dáng dấp chị Liễu gầy gầy nghiêng nghiêng, mái tóc ngang vai thơm hương bồ kết, hai hàng mi mướt sầu thiêm thiếp ngủ say, mắt chị buồn thảm như lời kinh vực sâu. Chị đàn điệu Lưu Thủy rồi chị gẩy khúc Hành Vân. Chị đàn say sưa như si như dại. Cung nhạc lênh đênh làm não hồn người. Em đắm đuối giữa vùng âm thanh ngợp huyền ảo ấy, ngỡ chừng mạ còn đoái tưởng đến Thuận Vi mà hiện về, từ một nơi ngút ngàn thăm thẳm nào.

Có phải mạ trở về đó chăng? Mà sao chị Liễu cũng gầy gầy dáng mơ? Mà sao mắt chị Liễu cũng trầm trầm phiền muộn? Mà sao chị Liễu cũng nói giọng Huế mơ thanh thoát? Mà sao chị Liễu cũng cười nụ vàng phai? Mà sao đời chị Liễu cũng âm trầm như mạ? Nghĩ càng thấy nhớ thấy thương. Nỗi nhớ nhung quay quắt diệu vợi trong những lần trăn trở, tỉnh giấc chiêm bao khuya khoắt gọi mạ ơi, mạ ơi.

Ký ức khép kín hình ảnh chiều đông, xưa, mạ dạo đàn dương cầm, và cơn ho rũ rượi tràn về đày đọa. Bệnh lao phổi ngặt nghèo cuối thời bắt mạ xa ba, xa anh Nhiên, xa con gái út nhỏ nhoi của mạ. Linh hồn thương yêu nhẹ hẫng cũng theo mạ về hồng nhan bạc mệnh, mạ em rứa đó. Mạ bỏ lại những tục lụy trần ai. Nhưng đời sau ni của mạ chẳng thể nào u uất gian truân được. Vì mạ hiền rứa, Chúa sẽ thương mà vời mạ về với Chúa nơi quê hương thiên đàng. Em nghĩ và tin là thế.

Mạ chết đớn đau mà lặng lẽ, gục đầu trên phím đàn, biệt ly bản "Về mái nhà xưa" đòi đoạn dở dang. Ai cũng khóc sướt mướt tiễn đưa, chỉ có em ngơ ngác nhìn. Ngày nớ em còn bé bỏng ngây ngô, có nghĩ ngợi gì, có hiểu chi đâu!

Tiếng đàn im bặt. Chị Liễu ngẩng đầu nhìn em, nhìn đôi con mắt bé hoe đỏ, chị vỗ về: răng rứa? Răng em khóc rứa? Vì đa cảm quá đi thôi. Biết khi tê chị đã không đàn kẻo lỡ Vi buồn bã hoài. Lời chị ngọt ngào như sương mai, âu yếm cơ hồ lời mạ khuyên nhủ.

Em chớp mắt, mơ màng: Chị Liễu nì, em thích bài "Xuân ca" của Phạm Duy. Chị Liễu hát bài ni hỉ? Cho em nghe mờ... - Ừ, chị hát, nhưng bé phải hứa không được buồn vu vơ nữa, cũng không được khóc nữa, nghe bé? Chị lau nước mắt hộ em, êm đềm ru lời thiết tha: ... Xuân âm u lắt leo trong nguồn suối mơ, bừng reo, rồi theo nắng lên từ cha chứa chan lòng mẹ. Xuân xuân ơi, xuân hỡi xuân ơi. Xuân xuân ơi, xuân hỡi xuân ơi... Chị hát, em ngây sững với nỗi buồn xiêu lạc dâng nghi ngút. Chị Liễu nắm tay em lòng bàn tay ngược xuôi đường chỉ khốn khổ như tay mạ hiền thân yêu mà cách biệt vô cùng nhỏ nhẹ: Thuận Vi vẫn cứ buồn. Bé nhớ mạ nên chi bé khóc hở? Em cắn vành môi, thú nhận bằng lặng yên. Quay mặt đi, chị nén tiếng thở dài. Chị cũng buồn, cũng san sẻ nỗi thương tâm của em. Khoảng khắc thời gian ngùi ngậm ngưng sầu.

Rồi tất cả cũng thoảng qua như phiến sương tan.

*

Chị nói: bé lúc ni sao gầy và xanh xao ghê tề? Chị quên à, Vi bị đau mờ. Với lại tại đêm mô Vi cũng thức để học bài thi hết. Ở nhà có mấy bữa mà bài vở nhiều ơi là nhiều. Vừa chép vừa học mệt ghê chị Liễu nợ. Chị trách thương: bé rán đừng thức khuya như ri nữa. Vi quên thân Vi yếu đuối như lau như sậy sao? Ừ, năm ni bé thi, học cho ngoan cuối năm làm cô tú, chị sẽ thưởng quà.

Niềm vui về điểm trang khuôn mặt: và chị Liễu bày em đánh đàn nữa kia, nha? Chị Liễu cười, hai lúm đồng tiền làm duyên trên má. Em cười theo chị, chiếc răng khờ khểnh nhỏ nhắn. Em vừa gặp nụ cười của mạ xa xưa: đôi má lúm đồng tiền cùng chiếc răng khểnh. Nhịp máu của mạ luân vũ khắp hình hài rộn rã. Tim hồng thổn thức, môi xinh mấp máy: Mạ đã về với em, mạ về giữa mùa Xuân!


PHẠM THỊ DIỄM PHÚC  
      bút nhóm Hoa Nắng      


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông Xuân Nhâm Tý, 1972)

Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018

Như Những Cành Lộc Mới


Em

Sáng hôm nay trời thật nhiều sương mù em ạ. Trên những hàng cây hai bên đường anh thấy một màu trắng đục giăng ngang tầm mắt. Cảnh vật mờ mờ ẩn hiện như đắm mình trong làn khói mỏng giữa trời cao. Mùa đông đã tới và tàn tự bao giờ. Cứ mỗi cuối năm, khi cơn gió thổi về lạnh buốt, chim én bay trên những tháp giáo đường, ngoài đường có thật nhiều áo len màu xanh tím, mọi người cùng nô nức đón mùa xuân, anh lại buồn, buồn một cách lạ kỳ. Không biết vì mình sắp sửa già thêm một tuổi, hay bởi nguyên nhân thầm kín nào. Gần nửa đời người, tết đến với anh thật dửng dưng, bởi chúng mình đánh mất mùa xuân tự bao giờ. Mỗi người, ai cũng có những mùa hồng, mùa ngọc, bất hạnh thay, anh em ta làm gì có! Nếu có chăng là chỉ bóng dáng khuất chìm giữa thời gian, thời thơ ấu, thời xa lắc xa lơ từ dĩ vãng nào, lúc gia đình còn đoàn tụ yên lành. Anh nhớ như in bối cảnh nơi miền heo hút đó. Căn nhà dựng trên một gò cao,hai bên là đồng trống. Trước mặt, sau lưng là rừng. Tượng trưng cho những gì tươi mát còn lại so với đám cỏ may vàng cháy ngập đồng là mấy nương chè ươm đầy sương sớm. Tiếng chim sáo bay về hót trên mấy hàng sao. Ở đó không mùa nào là mùa xuân, không ngày nào là Nguyên Đán.

Sau khi mẹ mất, ba đã đem mấy đứa chúng mình về quê nội. Em còn quá nhỏ để hiểu được tất cả khổ đau mà ba gánh chịu suốt mười mấy năm dài lận đận nuôi con. Chúng mình sống với nhau thật là man dại. Đứa lớn chưa tới mười lăm, đứa nhỏ vừa tròn mười tuổi. Không ai thương và không thương ai nên chúng mình phải đùm bọc lấy nhau mà sống. Anh chẳng hiểu có sự trừng phạt nào quá lớn của đấng tối cao mà gia đình mình phải hứng chịu nhiều thua thiệt. Nếu tuổi thơ là tuổi cần tình thương, cần nuông chìu ấp ủ thì không ai làm chuyện đó ngoài ba. Mà buồn thay ba làm sao có những lời ngọt ngào trìu mến, làm sao có vòng tay êm ái như mẹ chúng mình, nên anh em ta đã sống vô tình như cây cỏ. Sự thiếu thốn nghèo nàn không đáng kể bằng nỗi hụt hao chất liệu yêu thương nuôi lớn tâm hồn. Cứ nhớ đến thời gian đó cũng đủ cho anh bồi hồi: Mẹ mất, ba đi xa, mỗi tuần mới về được một lần. Chúng mình đem sự hồn nhiên thách thức với mọi bất trắc của cuộc đời. Đã quá quen với cô đơn nên mấy đứa không đòi hỏi gì nữa cả, mà dù đòi hỏi cũng chẳng ai cho phép mầu bù đắp, chẳng ai có thừa thương mến đem cho. Anh mường tượng đến mùa xuân nào ba không về được, chỉ còn mấy anh em ở nhà. Sau rừng những bông hoa dại nở đầy màu sắc. Tiếng dế trong vườn ngân nga thê thiết, mấy đứa chúng mình còn lang thang đi hái trái dại, xuống mương sâu đi bắt cá về nấu ăn. Áo quần mặt mũi đứa nào cũng lem luốc, những chỗ vá đầy trên vai áo, chúng được lành lặn nhờ mấy đường kim chỉ vụng về của người cha khốn khổ, còn vết thương rướm máu trong hồn làm sao khâu vá lành được phải không em?

Còn nhớ một lần, nhìn thấy những chuyến xe ngừng trên quốc lộ, em hỏi chừng nào ba sẽ về. Anh chỉ trả lời an ủi tết ba về. Em hỏi tiếp ba về có áo mới không anh. Anh cúi xuống nhìn mấy bộ đồ rách nát của mấy đứa thật ngậm ngùi. Nhưng không muốn em buồn anh đoán chắc là chúng mình sẽ có áo mới, quần mới và thật nhiều tiền lì xì. Thời gian qua nhanh cho những ngày cuối năm tàn như mơ ước. Chiều ba mươi bọn chúng mình ngồi đợi trước hàng hiên. Nắng đã tàn, chỉ còn lại vài tia cuối cùng vương vấn trên mấy bờ tóc mượt. Trong thinh không tiếng sáo chiều vọng về như nhạc khúc ru hồn. Dù biết là vô vọng nhưng anh vẫn cứ đợi chờ cùng với các em, nuôi chút hy vọng mong manh biết đâu có phép màu nhiệm nào khiến cha con đoàn tụ, biết đâu giờ chót ba sẽ xin phép nghỉ làm để về với chúng mình. Chiều đó các em hầu như quên đói bởi náo nức vì những lời hứa hẹn của anh. Cho đến khi bóng tối lan dần trên mấy hàng sao, mấy con đom đóm bay lập lòe trong vườn như những tia hy vọng lụn tàn. Ngoài quốc lộ không còn chuyến xe nào về muộn. Các em vẫn ngồi bất động trước thềm xi măng, không tin sự thật não lòng đến thế. Anh trở vào nhà, thắp lên ngọn đèn dầu nhỏ, ánh sáng mờ soi bóng các em dưới hàng hiên. Vẳng từ trong làng, tiếng pháo tre nổ sớm như muốn xua đuổi những điều không may của năm cũ, để đón chờ năm mới. Trên bàn thờ hình mẹ không rõ nét hướng về cõi mênh mông nào xa thẳm. Anh đâu biết nguyện cầu để chúng mình đỡ tủi thân, anh không biết đọc kinh để an ủi niềm bất hạnh quá đầy. Cuối cùng các em cũng quay vào lẳng lặng, và em đã nhìn anh như cầu cứu van nài. Suốt mười mấy năm dài đăng đẳng trôi qua mà tia mắt đó, trời ơi nó ám ảnh anh cho đến bây giờ và chắc chắn sẽ còn ám ảnh anh cho tới cuối cùng sự sống. Như vậy là tết đó em không có áo mới, giày mới như bất cứ đứa trẻ nào trên đời phải có. Chúng mình chỉ biết ngồi kề bên nhau, chuyền cho nhau hơi ấm, khi ngoài kia gió giao thừa đập vào mấy khung cửa sổ, đem theo hơi lạnh len qua da thịt, len qua tim, len vào tận cùng tiềm thức. Không biết khi khép mắt trên giường các em có mơ ước gì không, riêng anh, anh ước sự cô đơn thiếu thốn của chính mình, sự khổ đau của gia đình ta sẽ động lòng mấy bà tiên hiền dịu, những bà tiên với chiếc đũa thần sẽ biến hóa từ không ra có, sẽ xoa dịu những thương tích làm rướm máu tâm hồn các em, sẽ đem hạnh phúc đến những người cô độc lạc loài, để sáng mai, ngày đầu của một năm, ngày thiêng liêng mang ý nghĩa đoàn tụ sum vầy, khi mở mắt các em có những sự gì khao khát. Và cho dù tất cả chuyến xe đều ngừng lại, nhưng trong đêm tối, bà tiên sẽ chắp vào hai tay ba đôi cánh, và cho dù bão có nổi lên từ địa ngục, cuồng phong có thổi về từ đại dương, ba sẽ như một thiên thần bất chấp, để bay về với các em, với chúng mình, đem lại mùa xuân muộn màng tuổi nhỏ. Ba sẽ mặc vào cho các em thứ gấm lụa mà trên đời không bao giờ có, ba sẽ phân phát cho mỗi đứa chúng mình một phong bì, trong đó không phải chứa những đồng tiền thơm mùi mực mới, mà là yêu thương. Thứ yêu thương từ muôn kiếp chúng ta vẫn thường nghe ca tụng cao vời hùng vĩ như núi Thái Sơn vươn lên thăm thẳm trên bầu trời xanh ngát... Nhưng không có phép mầu nào hiện ra, bởi trần gian còn quá nhiều gian dối. lọc lừa. Thượng Đế đã bỏ đi vì con người nhẫn tâm xua đuổi. Anh thức trắng suốt một đêm để canh cho các em ngủ. Nhìn những đôi má thơ ngây qua ánh đèn mờ trên bàn thờ mẹ, thỉnh thoảng em ú ớ vì một giấc mơ kinh hoàng nào đó chợt gọi ba, anh đã để cho những dòng nước mắt chảy mặn nồng trên má. Anh khóc thật no nê như chưa bao giờ được khóc, như buổi đưa tiễn cuối cùng của chúng ta sau xe tang mấy năm về trước...

Sáng mồng một năm đó, trong khi mọi nhà quây quần đoàn tụ cùng những tiếng cười rộn rã, trong khi những đứa trẻ khác đủ đầy, chúng mình thức dậy để nhìn thấy mùa xuân đen đủi trở về. Anh lục lọi tất cả áo quần còn lành lặn trong tủ thay cho các em. Khi đã tươm tất (!) mấy đứa chúng mình cùng nhau thắp hương trước bàn thờ mẹ, ngô nghê nguyện cầu. Không phải nguyện cầu được hạnh phúc ấm no, mà cầu nguyện cho sóng gió cuộc đời dừng lại dưới mái gia đình, cầu nguyện ơn trên che chở được bình yên ba trăm sáu mươi lăm ngày sắp tới...

Em. Mười mấy năm dài đằng đẳng trôi qua. Căn nhà xưa đã tàn rụi cùng lửa tang thương bốc lên từ một góc trời chinh chiến. Kỷ niệm của thời ấu thơ chôn vùi trong đống gạch vụn điêu tàn. Ba sau bao năm trời cay đắng vẫn chưa tạo được một cuộc sum vầy đúng nghĩa. Các em đã trưởng thành. Anh cũng đã trưởng thành. Sự trí thức mở mang, khai hóa tâm hồn chúng ta nhưng hướng dẫn chúng ta đi phải là Tình Thương hằng cữu. Và em ơi nếu mùa xuân này chúng mình vẫn chưa được đoàn tụ, thì em hãy nghĩ rằng trên đất nước thân yêu còn hàng vạn người đang bơ vơ: Cha mất con, vợ mất chồng, anh mất em mà không hề than thở. Nếu mùa xuân này thấy những người bằng tuổi em có đầy đủ áo quần, êm ấm, thì em hãy nghĩ trên đất nước thân yêu còn hàng vạn người trần thân không cơm ăn áo mặc, bởi thiên tai giáng xuống miền Trung khốn cùng.

Và cho dù khổ đau có kéo dái mười năm, hay hai mươi năm nữa, và cho dù chúng ta có nản lòng thế mấy, thì em ơi em hãy trông từng cành lộc non vừa trổ hồng những nụ đời mơn mởn để hiểu rằng mùa xuân đã trở về... vẫn trở về... cho chúng ta khơi mầm hy vọng vào ngày mai, ngày của Yêu thương, An lành, Hạnh phúc.


NGỌC THÙY GIANG   


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 217-218, Xuân Giáp Dần, 1974)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>