Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Dương Thạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Dương Thạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Danh Nhân Bùi Viện


(Người Việt Nam đầu tiên giao thiệp với Mỹ)
 
Dưới thời Tự Đức, giữa lúc nền đô hộ của Pháp đang đè nặng lên tinh thần dân tộc Việt Nam thì một người Việt đầy nhiệt tình yêu nước đã mạo hiểm vượt Thái Bình Dương sang Mỹ để hy vọng tìm được một sự giúp đỡ nào đó đặng khôi phục lại chủ quyền cho đất nước. Nhà ái quốc mạo hiểm ấy chính là ông Bùi Viện.
 
Bùi Viện quán làng Trình Phổ, huyện Trực Định (sau đổi là phủ Kiến Xương) tỉnh Thái Bình. Ông đậu Tú Tài năm Giáp Tý (1864) và tới năm Mậu Thìn (1869) thi đậu Cử Nhân. Đậu xong ông vào Huế tập văn tại Quốc Tử Giám ở trọ nhà Trạng Bông. Nơi đây ông quen với Lễ Bộ Tham Tri Lê Tuấn và đã giúp Lê Tuấn nhiều mưu lược khi Lê Tuấn ra dẹp giặc Cờ Đen và Cờ Vàng tại miền Bắc. Do đó ông được Triều đình chú ý tới, và rồi Nam Định Doanh Điền Xứ Doãn Uẩn đã giao cho ông mở mang Ninh Hải tức Hải Phòng ngày nay.
 
Năm 1873 Bùi Viện được cử ra xứ ngoài để nghiên cứu tình hình các cường quốc và tìm cách tranh thủ độc lập cho đất nước trong lãnh vực ngoại giao. Ông đi thuyền vượt đường bể tới Hương Cảng. Lúc này Hương Cảng thuộc quyền người Anh nên ở đây Bùi Viện được nhìn thấy tận mắt những công trình kiến thiết và tiện nghi văn minh. Bộ óc của một nho sĩ đã bao nhiêu năm bị nhồi nặn bởi các tư tưởng Khổng Mạnh bỗng nhiên chuyển hướng. Ông tìm cách giao du với các nhân vật Âu Tây với hy vọng học hỏi ở họ kiến thức mới và tìm cách vận động họ giúp đỡ đất nước mình. Nhờ sự giới thiệu của một nhân sĩ Trung Hoa, Bùi Viện đã gặp được vị lãnh sự Hoa Kỳ. Hai người thường đàm đạo với nhau bằng tiếng Trung Hoa và rồi trở nên thân mật. Bùi Viện mới hiểu rằng ngoài nước Pháp hùng mạnh đương đô hộ Việt Nam, còn có nước Mỹ giàu mạnh gấp bội có thể giúp cho dân tộc Việt Nam khôi phục chủ quyền.
 
Không ngại khó khăn, Bùi Viện quyết thực hiện bằng được cuộc hành trình sang Mỹ quốc. Từ Hương Cảng ông tới Hoành Tân (Yokohama) và rồi đáp tàu đi Cựu Kim Sơn (San Francisco), rồi từ Cựu Kim Sơn tìm lên Hoa Thịnh Đốn. Ước vọng của ông là làm sao yết kiến được Tổng Thống Mỹ, nhưng ở địa vị ông lúc ấy ước vọng này quả thực mỏng manh. Dù vậy, ông đã cố gắng tìm mọi cơ hội và trải qua một năm dài đằng đẵng chờ đợi ở Hoa Thịnh Đốn, Bùi Viện được gặp Tổng Thống Hoa Kỳ Ulysse Simpson Grant. Tổng Thống Mỹ hứa sẽ giúp đỡ nhưng tỏ ý ngần ngại vì chưa có quốc thư của Quốc Vương Việt Nam yêu cầu.
 
Bùi Viện cáo từ trở về lấy quốc thư. Nhưng khi ông đang sửa soạn trở về nước thì chính tình hình nước Mỹ đột biến, không cho phép Mỹ can thiệp vào vấn đề của nước khác. Bùi Viện chán nản trở về Hoành Tân rồi đáp tàu về nước đem sự tình tâu lên vua Tự Đức. Lúc ấy ông lại được tin mẹ vừa mất nên xin về quê chịu tang.
 
Ít lâu sau, ông được phong làm Thương Chính Tham Biện lo việc dẹp bọn giặc để bảo vệ thương thuyền và những đoàn thuyền của Triều đình qua lại từ Huế ra Hải Phòng. Ông đã lập ra đại tuần dương, thu nạp những tên giặc Tàu Ô (giặc bể người Tàu) để biến chúng từ những tên cướp trở thành quân đội Triều đình chống lại những tên cướp khác.
 
Công việc của ông đang tiến hành tốt đẹp thì bất ngờ ông nhuốm bệnh rồi mất. Năm ấy là năm 1878, Tự Đức thứ 31 nhằm ngày mồng một tháng 11 âm lịch.
 
Trên đây là sử liệu về Bùi Viện từ Hoa Kỳ trở về, vua Tự Đức và các quan ngồi nghe ông kể lại những chuyện phương xa. Ông tả cảnh tàu chạy ngoài bể không phải dùng buồm và chèo, đèn đốt ngọn lộn ngược xuống và nhiều tiện nghi khác của văn minh. Các quan không tin, cho rằng "đi xa tha hồ nói khoác" và định khép ông vào tội khi quân. Cũng may vua Tự Đức là người thông minh nên không nghe lời tâu xằng bậy của các quan.
 
Khi giữ chứng Thương Chính Tham Biện, ông đã có sáng kiến thu phục bọn giặc Tàu Ô để tổ chức thành đội quân tuần dương hùng mạnh. Ông đã phải dùng tiền mua chuộc họ và phải đối với họ như bậc đàn anh trong chốn giang hồ đối với đàn em, nên sau khi ông mất, bọn đàn em bất phục người chỉ huy mới. Chúng lại trở về đời sống những tên cướp bể. Thêm vào đó sự chi tiêu cho quân đội tuần dương đã vượt trên số tiền Triều đình ấn định nên các quan trong triều đã hạch tội Bùi Viện là hà lạm công quỹ và tổ chức quân đội ô hợp. Quan triều về tận nhà ông để kiểm kê tài sản nhưng thấy gia đình ông vẫn nghèo túng nên sau vua Tự Đức đã bỏ qua vụ án đó.
 
 
LÊ DƯƠNG THẠCH        
(Theo Thái Văn Kiểm Đ.V.T.N.)  
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 44, ra ngày 25-6-1972)
 
 
 

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026

Con Cóc


Chắc các bạn cho rằng cóc là con vật ghê tởm, có nọc độc, nên giết đi để trừ một mối hại phải không?
 
Đừng nên trông mặt mà bắt hình dong như thế. Kể ra, cóc trông bẩn mắt thật: mồm rộng nguếch ngoác, chân dài chân ngắn, bụng trắng hếu, da sù sì loang lổ, mắt thao láo. Nhưng cóc có nhiều đức tính và chứa nhiều kỳ lạ mà bạn không ngờ!
 
Học cách trí, các bạn hẳn biết cóc là loài máu lạnh, bé sống dưới nước, thở bằng mang như cá ; lớn rụng đuôi, sống trên cạn, thở bằng phổi như loài có vú. Có lẽ, ít bạn biết rằng cóc ít thở bằng phổi, thường thở bằng da và chỉ thở khi nào mồm ngậm chặt. Vì thế, cóc chết rất khó nhọc: chặt đầu đi, cóc sống thêm được vài giờ ; vứt phổi đi, tim cóc còn cố đập thêm được vài ngày! Ban đêm, cóc ngủ nhưng mắt vẫn thao láo ; bởi vì có bao giờ chú ta nhắm được cả hai mắt đâu! Chỉ nhắm được một bên mắt cũng là quá lắm rồi! Miệng cóc rộng nên chú ta mà tắc lưỡi thì kêu to lắm và miệng ấy chỉ dùng để ăn chớ không bao giờ dùng để uống. Lúc nào khát, chú ta nhảy tòm xuống ao tắm ; thế là đủ vì chú ta thường có tính uống nước bằng da.
 
Tuy bề ngoài trông dữ tợn, nhưng tâm tính cóc rất hiền lành, dễ làm quen với người lắm. Các bạn thử bắt một con sên buộc vào sợi chỉ, dứ dứ trước mõm cóc xem, chú ta không ngần ngại gì mà không đớp! Ấy chỉ vài bận là quen, rồi sau thoáng thấy bóng các bạn, chú ta sẽ nhảy ra ngay.
 
Người ta bảo dãi cóc có nọc độc, thật là oan cho chú ta quá! Cóc không có hạch nước dãi thì lấy đâu ra dãi để đầu độc chúng ta? Cóc chỉ có nhựa: da sù sì, hễ ai mó vào nó sẽ tiết ra một thứ nước nhớp nháp, trơn như mỡ. Mặc dầu vậy nhựa đó cũng không hại gì nếu tay ta không bị trầy trụa chỗ nào, và rửa xà phòng là sạch hết ngay. Thật ra cóc có nhiều hạch khá to ở gáy, tiết ra một thứ nọc thật mạnh, thật quý. Nhưng ít khi cóc tiết nọc ra, trừ khi tức giận đến cực điểm. Nọc đó mạnh đến nỗi cóc chịu được cả nọc rắn hổ mang mà chỉ một chút xíu cũng đủ làm chết một con mễn lớn. Nhờ ở nọc đó, cóc nhịn đói rất dai. Nhốt cóc vào lọ trong 2 năm trời, đổ ra chú ta vẫn còn sống như thường. Tuy nhiên cóc rất háu ăn, mỗi ngày ăn đến 5, 6 bận và ăn ròng là sâu cắn rau. Vì vậy, những người trồng rau có kinh nghiệm, thường hay bắt cóc mang về thả vào những luống rau.
 
Ngoài 2 đặc tính trên, nọc cóc còn có thêm đặc tính rất kỳ lạ khác: dùng nọc cóc tiêm vào người - người không chết đâu - thì người cảm thấy khỏe ra, tim đập đều, thần kinh hệ được cân bằng và nhất là nhờ nọc đó, các hạch trong thân thể người ta tiết đều các chất rất có ích cho sức khỏe.
 
Ngày xưa, người ta đuổi cóc, giết cóc vì trông cóc ghê gớm. Ngày nay, người ta nuôi cóc, bảo vệ cóc để lấy nọc. Người ta bắt luồng điện khá mạnh vào mình cóc, để cho cóc cáu tiết ứa nọc ra rồi họ hứng lấy.
 
Các cụ ta, không phải đợi đến bây giờ mới biết cái đặc tính có ích của cóc. Mà đã từ lâu rồi, các cụ vẫn biết quý cóc. Hẳn các bạn còn nhớ câu hát nửa khuyên nửa dọa này:
 
Con cóc là cậu ông trời,
Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho.
 
Sự thật, chưa có ai đánh cóc mà bị trời đánh cả. Nhưng, nếu ai đánh cóc cũng là người độc ác, vô ơn đối với một giống vật có ích cho người.
 
 
Lê Dương Thạch     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 38, ra ngày 14-5-1972)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>