Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2019

Những Cái Chai Trôi Nổi


Năm 1956, một chàng thủy thủ trẻ tuổi lênh đênh trên biển cả, trong một phút cô đơn, chàng cảm thấy nhớ gia đình, nhớ đất liền và bạn bè thân thích, bèn lấy mảnh giấy, ghi vài dòng nhắn tin cho một cô gái vô danh xinh đẹp nào đó hễ lượm được thì hãy viết thư cho chàng, rồi chàng cuộn tròn mảnh giấy đó lại, bỏ trong lòng một cái chai rỗng, nút và gắn kín miệng chai lại, rồi thả xuống mặt biển...

Hai năm sau, một ngư ông đang ngồi câu cá tại bờ bể Sicily lượm được chai đó và trao lại cho cô con gái xinh đẹp, nàng bèn viết trả lời dặn trong mảnh giấy, rồi từ đó trở đi hai người luôn trao đổi thư từ cho nhau và đến cuối năm 1958 thì họ kết hôn với nhau...

Trên đây là trong trăm ngàn câu chuyện về cách sử dụng sự trôi nổi của cái chai giữa Đại Dương, nhờ đó người ta đã khám phá ra những dòng hải lưu đã thay đổi đời sống của nhân loại hiện nay.

Cái chai có thể trôi nổi an toàn trên biển cả mà không sợ sóng gió làm hư hại. Tốc độ trôi nổi của nó nhanh hay chậm tùy theo sức gió và những hải lưu. Nếu 1 cái chai được ném ở một chỗ biển lặng thì phải mất một tháng mới chỉ trôi xa được chừng một dặm Anh, nếu cũng chiếc chai đó được ném xuống một chỗ có hải lưu thì cái chai có thể trôi xa được một trăm dặm trong một ngày, nhưng không ai có thể biết chắc là cái chai sẽ trôi dạt về đâu??? Hai cái chai cùng một hình dạng, cùng dung lượng và cân nặng bằng nhau được ném xuống cùng một lúc trong lòng Đại Dương gần Brazil, cái chai thứ nhất trôi về phía Đông và một trăm ba chục ngày sau người ta lượm được ở bờ bể Phi Châu, chiếc thứ hai trôi về phía Tây Bắc và 196 ngày sau người ta lượm được ở Nicaragua... Hai chiếc chai khác được ném xuống biển Atlantic và sau 350 ngày trôi nổi cùng dạt vào bờ biển nước Pháp, chỉ cách nhau chừng vài Mã Anh (yards).

Vào năm 1929, một cái chai khác được ném xuống phía Nam Ấn Độ Dương, trong lòng chiếc chai có đựng một mảnh giấy ghi vài hàng chữ yêu cầu ai lượm được thì ghi rõ ngày, giờ cùng nơi lượm được vào mảnh giấy rồi lại ném trả về biển cả. Thoạt tiên cái chai trôi về hướng Đông, rồi dạt tới bờ biển Nam Mỹ, một người lượm được ghi theo như lời dặn rồi lại ném trả xuống biển, rồi lại một người khác lượm được, cũng làm theo như trên, cứ thế cái chai lênh đênh trôi nổi trên biển cả ngày này qua tháng nọ từ mũi Cap Horn đến biển Atlantic, có lúc cái chai lại tình cờ trôi về Ấn Độ Dương, qua chỗ xuất phát rồi lại tiếp tục cuộc đời vô định mặc cho sóng gió đưa đẩy. Cuối cùng, cái chai dạt vào bờ biển miền Đông Úc Châu vào năm 1935, tính đến lúc này cái chai đã trôi nổi 16.800 hải lý trong 2.447 ngày, trung bình mỗi ngày trôi xa được 6,8 dặm.

Công dụng quan trọng nhất trong việc áp dụng sự trôi nổi của cái chai ném xuống biển là để khảo cứu và tìm những luồng Hải Lưu, khi vị trí cùng chiều hướng của một luồng Hải Lưu được xác định, thì tầu bè có thể hoặc chạy theo luồng hải lưu, hoặc tránh xa để khỏi bị hải lưu xô khỏi hướng đi đã định.

Nhà Vật lý học Benjamin Franklin là người đầu tiên đã dựa vào sự trôi dạt của cái chai để khảo cứu về Hải Lưu. Ông lấy làm ngạc nhiên tại sao chiếc tầu biển đưa thư của Anh Cát Lợi phải mất một, hai tuần hay hơn nữa, lâu hơn tầu biển đưa thư của Hoa Kỳ để vượt biển Atlantic, và ông nghĩ luồng Hải Lưu cố định Gulf Stream có thể giải thích được sự sai biệt này. Ông thảo luận với vị Đại Úy hạm trưởng của chiếc tầu Hoa Kỳ thì nhận thấy ông ta tỏ ra là một người đã quá quen thuộc và biết lợi dụng dòng Hải Lưu Gulf Stream trong khi vị Đại Úy Hạm Trưởng của chiếc tầu Anh Cát Lợi tỏ ra còn bỡ ngỡ và không biết lợi dụng hải lưu này. Sau cuộc gặp gỡ trên, Benjamin Franklin phác họa một sơ đồ về dòng Hải Lưu Gulf Stream, cẩn thận hơn ông dùng sự trôi nổi của cái chai để xác định lại sơ đồ của ông. Ngày nay, sơ đồ của ông vẫn còn được các giới Hải đồ sử dụng mặc dầu có sửa đổi đôi chút.

Vào khoảng năm 1860, Hải quân Anh bắt đầu ứng dụng phương pháp dùng chai trôi nổi trên biển cả, họ ném một cái chai trong đựng một tờ mẫu in có ghi tên chiếc tầu, ngày và nơi ném cái chai xuống biển với lời yêu cầu hễ ai lượm được cái chai thì xin ghi rõ: ngày và nơi lượm được xong gửi trả lại cho Hải quân Anh.

30 năm sau Hải quân Mỹ cũng bắt đầu ứng dụng phương pháp này và cho đến ngày nay phương pháp này vẫn còn được áp dụng với những mẫu in bỏ trong lòng chai viết bằng tám thứ ngoại ngữ. Mỗi năm có khoảng 350 mẫu in được hoàn trả cho Hải quân Mỹ, với những mẫu này người ta đã vẽ nhiều biểu đồ hữu dụng của các Hải Lưu.

Những ngư phủ muốn biết rõ những hải lưu ở bể để bắt cá. Để giúp đỡ họ, chính phủ Tô Cách Lan đã nhờ một khoa học gia nghiên cứu về những Hải Lưu ở Bắc Hải. Hơn 2000 cái chai được dùng trong việc nghiên cứu này và phương pháp dùng sự trôi nổi của cái chai vẫn được áp dụng trong cuộc khảo cứu này.

Chính phủ Hoa Kỳ cũng áp dụng phương pháp dùng chai để giúp các ngư phủ tìm kiếm cá. Ở chỗ nào mà họ thấy có trứng cá nổi lều bều trên mặt biển, tức thì những cái chai được ném xuống chỗ đó để làm dấu. Theo dấu cái chai, các ngư phủ sẽ tìm thấy chỗ trứng cá nổi và bắt được nhiều cá.

Qua bao thế kỷ, nhờ sự trôi nổi của cái chai, bao nhiêu tin tức của những người lâm nạn ở biển cả gửi cho người ở đất liền đã nhận được. Ở Hoa Kỳ, vào năm 1944, một đám trẻ em nô đùa trên bãi biển ở Đông Bắc nước Mỹ đã lượm được một cái chai trong có một mảnh giấy ghi vài hàng chữ: "Tàu của chúng tôi đang chìm dần... Thế là hết!!! Mong rằng một ngày kia thư này sẽ tới Hoa Kỳ". Những chuyên viên hàng hải khám phá ra rằng tờ giấy đó xuất phát từ một chiếc tầu mang tên Beauty, chiếc tầu đã bị chìm ở Gibralta vào năm 1943 và có nhiều thủy thủ được ghi nhận là mất tích...

Năm 1953, một chiếc chai khác vớt được ở Tasmania với một bức thư ký tên bởi hai người lính chiến Úc Đại Lợi, hai người này ở trên một chiếc tầu trên đường sang Pháp trong trận Đệ I Thế Chiến, người mẹ của một trong hai người lính đã nhận được ra chữ ký của con mình, họ đã chết trong khi thi hành nhiệm vụ 35 năm trước khi lá thư tới tay bà mẹ.

Năm 1784 một nhà hàng hải Nhật tên là Matsuyama ra khơi cùng với bốn người khác để tìm một kho vàng chôn vùi dưới lòng đại dương, tầu của họ bị chìm và tất cả bốn mươi lăm người đều gửi xác dưới lòng Thái Bình Dương. Trước khi chết, Matsuyama khắc chuyện của ông trên một mảnh gỗ và gắn chặt vào trong lòng một chiếc chai to rồi vứt xuống biển. Hơn một trăm năm chục năm sau, vào năm 1935 người ta đã lượm được chiếc chai đó tình cờ trôi dạt vào một làng ở ven biển mà làng đó chính là nơi Matsuyama đã sinh ra.

Nếu tình cờ bạn có lượm được một cái chai bên bãi biển, bạn hãy chịu khó quan sát kỹ cái chai đó một tý: nó có thể là một cái chai của một khoa học gia nào đó đang khảo cứu về những hải lưu, hoặc là có thể trong lòng nó chứa đựng một lời nhắn tin vô vọng của một thủy thủ đơn độc nào đó ở một phương trời xa lạ, xa với đất liền, hoặc mang một lời trối trăn của một kẻ vô danh xấu số trên một chiếc tầu đang nằm im lìm giữa lòng đại dương mông mênh nào đó...


VĂN VIỆT    

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 31, ra ngày 26-3-1972)

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2019

Má và Tranh


Dạo này má chỉ thích nói chuyện về hội họa, chuyện hội họa của má làm ba muốn phì cười, nhưng ba cứ phải làm bộ nghiêm trang gật gật cái đầu. Má mà biết trong đầu óc ba đang nghĩ cái gì có lẽ má sẽ nổi cơn tam bành lục tặc. Mỗi lần má giận dữ chuyện gì cả nhà, nhất là ba và hai cậu con trai lo sợ nghĩ đến bữa ăn, mà lo sợ cũng phải vì thế nào sau cơn giận dữ má sẽ cho cả nhà ăn rau muống chấm tương. Má là đầu bếp thành ra ai cũng sợ, sợ phải ăn chay với lý do giản dị: hết tiền. Bây giờ ba mới thấy mình thật là hố, số là hôm đó má giận ba, buổi tối má không thèm nói với ba một câu nào. Má ngồi hí hoáy một mình với cây viết, ba nghĩ đến bữa cơm trưa mai nên ba đến cạnh má nhìn vào tờ giấy má đang vẽ chép miệng một cái.

- Chà...

Má ngửng đầu lên gay gắt hỏi:

- Chà cái gì?

Ba gật gù cái đầu:

- Anh không ngờ mình có tài như vậy.

Câu nịnh đầm mới công hiệu làm sao! Má tươi ngay nét mặt:

- Tài gì đâu hở anh?

Có lẽ lúc đó nét mặt ba khôi hài ghê lắm, ba tiếp tục hòa đàm:

- Đến bây giờ anh mới khám phá ra cái tài của mình, mình có tài hội họa đấy mình biết không?

Má lập lại:

- Tài hội họa... Thật không mình?

Thế là chiến tranh chấm dứt, nhưng rồi cứ lúc nào rảnh là má bắt ba phải nghe má nói chuyện hội với họa. Chuyện hội họa của má chỉ quanh quẩn với mấy cái mầu này sắc nọ. Hết nói về mầu xanh thiên thanh của bầu trời lại quay qua mầu trắng tinh khiết của mây bay lững lờ. Ba phải lấy hết cố gắng để ngồi nghe, nhưng nếu má tinh ý sẽ thấy ba thở dài não ruột sau cái ngáp thật dài.

Càng ngày má càng say mê hội họa, khắp nhà chỗ nào cũng đầy dẫy những bức tranh vẽ nhăng vẽ cuội của má. Mỗi lần nhìn thấy một bức tranh ba cười như mếu, ba nhìn quanh xem có má ở gần đó không rồi ba thè lưỡi trợn mắt như để dọa bức tranh. Mấy bức tranh quỉ quái này làm ba mất khối tiền để má mua giấy mua mực. Có lần ba dại mồm dại miệng than thở:

- Giấy với mực dạo này đắt quá phải không mình?

Má gân cổ lên cãi:

- Đắt gì đâu nào, đâu có đắt bằng thuốc lá của anh.

Ba ngập ngừng:

- Nhưng... anh thấy em vẽ chẳng có lợi gì cả.

Má bĩu môi:

- Con người anh chỉ ham lợi, lẽ ra như người khác anh phải khuyến khích em mới phải, đây chưa chi anh đã than đắt với rẻ. Sao anh không chịu nhìn xa một chút nào, anh không nghĩ rằng biết đâu một ngày kia em sẽ nổi tiếng sao?

Ba bật cười ha hả:

- Nổi tiếng?

Tiếng cười của ba làm má tái cả mặt, má không nói một tiếng nào đi một mạch vào phòng. Má không nói một tiếng nào tức là má giận ghê lắm rồi, ba lo sợ nhìn má. Quả nhiên đến chiều má ốm nằm vùi trong phòng, bếp núc lạnh lẽo. Ba đi làm, hai cậu con đi học. Đến chiều ba đi làm về, bụng đói meo, vào trong phòng thấy má vẫn nằm im lìm, ba tái cả mặt nhảy ba bước xuống bếp xem có cái gì không. Thế là ba phải xoay trần ra nấu cơm. Đến bữa cơm chỉ có ba người ăn, nhưng cơm nuốt không nổi. Hai cậu con cứ rên rỉ:

- Trời ơi! Ba nấu cơm kỳ quá.

Ba cười như mếu:

- Thì ba có nấu bao giờ đâu mà bảo ba nấu cho ngon được.

- Má bị đau hở ba? Sao má nằm như chết vậy ba?

- Má tụi bay giận ba đó mà.

Hai cậu con vỗ tay reo ầm lên:

- A! Má giận ba cái vụ hội họa phải không ba?

- Ờ.

Má trong phòng nghe hai tiếng thân yêu "hội họa" vội lò dò đi ra:

- Ba con tụi bay cười gì má đó?

Cậu con lớn cười nói:

- Đâu có má. Tụi con đang cười ba đó má.

- Sao lại cười ba?

- Má biết ba nói gì không má?

- Nói gì?

- Ba cứ thắc mắc không hiểu sao má lại giận ba. Ba nói ba phục cái tài hội họa của má ghê lắm, hồi trưa má nói má sẽ nổi tiếng làm ba khoái quá ba cười to lên để tán thưởng vậy mà má lại giận ba...

Nét mặt má rạng rỡ hẳn lên, má cắt ngang:

- Vậy hả? Thế mà má lại hiểu lầm.

Ba còn nói thêm:

- Mình sao hay giận quá, làm anh không hiểu gì cả.

- Thôi hết giận rồi. Trời ơi! Cơm nước thế này làm sao mà ăn. Bây giờ để xin lỗi mình em khao cả nhà một bữa cơm tiệm.

Ba mạng đàn ông vỗ tay đôm đốp. Ba nói thầm "đàn bà chỉ khoái nịnh".

Lần đó ba được ăn một bữa ngon lành, nhưng rồi càng ngày má càng "đi sâu" vào ngành hội họa. Má bắt ba ngồi làm mẫu, người mẫu cứ nhăn nhó như khỉ ăn ớt, má biết ba không mấy ưa thích cái nghề làm mẫu nên má nịnh ba:

- Cái dáng ngồi của mình hay ghê! Mình để tóc như vậy có vẻ giống Paul Newman quá.

Má biết ba ưa nhất là tài tử Mỹ Paul Newman, nhưng không ngờ ba đang cáu nên xổ cho một câu:

- Hay cái gì mà hay. Mũi tẹt thế này mà giống bôn với biếc cái gì, mình chỉ hay bày đặt.

Lần này sao má dễ tính thế, má cười cười giảng hòa:

- Không, em nói thật đấy chứ, thôi mình chịu khó ngồi vài lần nữa là xong nghe mình!

Ba biết có chống cự cũng không xong, đành ngồi im lặng không thèm nói gì cả. Cái số của ba thật là khổ, vừa mất công làm người mẫu vừa phải bỏ tiền ra cho "họa sĩ" mua giấy. Mà mỗi lần làm mẫu đâu có mau chóng gì, có khi ba phải ngồi cả tiếng đồng hồ mà nhìn vào bức tranh chỉ thấy thêm được mỗi cái tai. Ba phải ngồi mẫu đúng 41 lần thì bức tranh của "nữ họa sĩ" mới hoàn thành. Nhìn mình trong bức tranh ba muốn rợn cả tóc gáy, người ngợm gì mà như con ma. Ba mỉa má một câu:

- Mình có lối vẽ giống Picasso.

Má tròn mắt:

- Picasso là ai hở anh?

- Là họa sĩ chứ là ai?

Má tươi cười hớn hở:

- Thật hả mình? Trời ơi! Mình làm em sung sướng quá.

Rồi má hỏi tiếp:

- Mình thấy em có thể tiến hơn nữa không?

Ba gật đầu cho xong chuyện:

- Tiến chứ.

Rồi ba đi vào phòng nằm vật xuống giường. Ba lẩm bẩm:

- Mẫu miếc gì mà chẳng có một xu, chán ơi là chán!

Bức tranh được má treo lên thật cao, mỗi lần đi ngang qua bức tranh má ngắm nghía trông đến hay. Còn ba, ba ghét bức tranh thậm tệ, nó bêu xấu ba quá mà. Ba cứ nghĩ thầm trong bụng "mình đâu đến nỗi xí trai mà sao bà ấy vẽ mình cứ như là ma le trông phát khiếp".

Dần dần má có vẻ chán cái nghề họa sĩ của mình, má ít nói đến hội họa. Cho đến một hôm, ba mới quen một ông bạn họa sĩ, ba mời về nhà chơi. Lúc giới thiệu ông bạn với má, ba khai ngay cái nghề họa sĩ, mắt má sáng lên, má bám sát ông họa sĩ. Và máu nghệ sĩ lại nổi lên khi ông họa sĩ vì lịch sự phải khen bức tranh má vẽ. Má lại hý hoáy với mực và giấy, má bắt hai cậu con làm mẫu, hết đứng lại ngồi, hết ngồi lại nằm, thôi thì đủ trò đủ kiểu. Má phải mất mỗi giờ 50 đồng cho hai cậu con mỗi lần làm mẫu. Má xót tiền nên những bức tranh sau này má vẽ có vẻ nhanh hơn bức tranh đầu tiên. Ba cũng xót tiền quá nhưng đành chịu không biết làm sao cho má dừng cái nghề họa sĩ nửa vời.

Tranh của má được gần 10 bức, má có vẻ tự đắc với kỳ công của mình ghê lắm. Ba ghét mấy bức tranh quá trời quá đất nhưng vẫn phải khen lấy khen để hầu được ăn ngon. Nói đến tài nấu ăn của má thì khỏi chê, một tay má có thể làm một bữa tiệc 2, 3 chục người như chơi. Má có tài nấu ăn nên ông họa sĩ cứ được mời ăn cơm hoài, má mời ông họa sĩ để hỏi ý kiến về màu này sắc nọ. Hồi đầu ông họa sĩ khoái ăn ngon nên chịu khó đến lắm, nhưng rồi ông họa sĩ cũng chán má luôn, ông không thèm đến nữa, chỉ thỉnh thoảng khi nào má mời quá lắm thì ông mới đến. Ông họa sĩ đến để phê bình giúp má về mấy bức tranh người nằm, người ngồi, người đứng cạnh con Tô Tô v.v... Ông vẫn lịch sự, ga lăng như xưa nên tranh của má vẫn được khen đẹp khen hay. Má phấn khởi quá càng hăng hái vẽ hơn nữa. Bây giờ trong phòng đầy dẫy tranh nọ ảnh kia, nó làm ba nhức cả đầu, và xót cả ruột. Ba thấy đã đến lúc phải cắt đứt cái dòng máu nghệ sĩ của má, nhưng ba nghĩ mãi chưa ra cách, làm sao để khuyên răn má đây? Đã lỡ khen rồi, bây giờ lại chê thì người ta đâu có thèm nghe. Ba cứ chần chừ mãi chưa thực hiện được ý định của mình thì một hôm má tuyên bố một quyết định động trời:

- Mình nè, em vẽ cũng gần được 50 bức tranh rồi đó mình, mình thấy em có nên tổ chức một cuộc triển lãm không?

Ba há hốc miệng:

- Triển lãm hả? Trời ơi!

Má thản nhiên gật đầu:

- Vâng triển lãm, có sao đâu mình. Em đã nói là em làm. Mình sao lúc nào cũng yên phận không chịu tiến lên gì cả. Em triển lãm tranh rồi sẽ có người mua tranh của em chứ.

- Mình... mình có điên không?

- Không điên. Chiều nay em sẽ mời ông họa sĩ đến để hỏi ý kiến về việc này.

Ba biết có nói gì cũng không xong, đành im lặng tìm phương kế cuối cùng. Buổi trưa ba đến nhà ông họa sĩ, ông họa sĩ mở cửa với vẻ ngạc nhiên hết sức:

- Ủa! Anh đến có chuyện gì vậy?

Ba than thở:

- Tôi khổ quá anh ạ!

- Sao khổ?

- "Bà họa sĩ" đòi triển lãm tranh.

- Trời đất ơi! Thảo nào bả mời tôi chiều nay đến nhà cho được. Chắc để nói chuyện đó phải không?

- Vì thế tôi mới phải đến anh đây.

- Để làm gì hở anh?

- Bây giờ chỉ có anh may ra mới cản bả được, nhất định bả sẽ giận anh ghê lắm nhưng cần gì. Chiều nay anh cứ đến nói toạc móng heo cho bả nghe, không cần giấu giếm gì nữa cả, chứ bả đòi triển lãm tranh thì ai mà chịu cho nổi.

Buổi chiều ông họa sĩ đến, má lăng xăng pha trà rót nước, rồi đề cập ngay đến  chuyện triển lãm.

- Anh thấy tôi có nên triển lãm tranh không?

Ba hồi hộp nhìn ông họa sĩ. Ông họa sĩ từ từ lắc đầu:

- Nói ra sợ chị giận chứ thật ra tôi khuyên chị không nên tiếp tục vẽ nữa.

- Sao? Anh bảo sao?

- Dạ tôi khuyên chị không nên vẽ nữa, vì... lối vẽ của chị không hợp với bây giờ nữa rồi.

- Sao? Sao lại không hợp?

- Vì chị chưa biết pha màu.

Mặt má tái hẳn đi, ba thương hại nhìn má. Má gượng cười nói:

- Tôi hiểu rồi.

Nói xong má bỏ vào phòng. Mộng họa sĩ tan vỡ. Ba nhìn ông họa sĩ thầm cám ơn.


LINH VI    

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 196, ra ngày 1-3-1973)

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2019

Hoa Hạnh Phúc


Hiền bước ra khỏi lớp thì nắng đã nhạt từ lúc nào rồi. Trên khung trời xanh chỉ còn lấm tấm những chấm sáng long lanh chực tắt. Con đường về chiều đen đúa và loang lổ. Thình thoảng, Hiền lại gặp một vũng nước lầy lội do trận mưa hồi trưa còn đọng lại hay một đống rác tanh hôi bên lề đường, khiến Hiền nhăn mặt khó chịu. Thành thị có nhiều khi cũng chả hơn gì thôn quê cả, trái lại còn gây thêm phiền phức cho cuộc sống nữa là đằng khác. Một chiếc xe hơi lướt qua, làm xao động vùng không khí, đem đến cho Hiền một cơn gió mát rượi. Hiền giơ chiếc cặp lên, che ngang tầm mắt để tránh một ngọn đèn xe chói lọi đang chiếu thẳng vào người và nhanh chân quẹo sang một ngõ hẻm. Vài căn nhà đầu xóm đã lên đèn. Những tia sáng yếu ớt hắt ra, khiến cái ngõ tối đầy nước trắng xóa lên. Bầu trời nhá nhem không đủ sức dìu ánh sáng vào tận nơi đây dù là một tia sáng màu bệnh hoạn nữa. Còn cái hẻm nhỏ thì dài như một cái hang. Hiền càng đi sâu vào, càng thấy lo sợ. Không phải Hiền lo sợ cái bóng tối đang đe dọa vì đã hằng bao nhiêu lần Hiền đi học về tối như thế này rồi kia mà, nhưng Hiền lo sợ cơn bệnh của bé Hòa nhiều hơn hết. Hồi trưa trước khi Hiền đi học, bé Hòa đã lên cơn sốt miên man. Hiền muốn nghỉ học nhưng không được, vì chiều nay phải thi đệ nhị lục cá nguyệt. 

Thấy vậy, thằng Lành em Hiền bảo:

- Chị cứ đi học đi, bé Hòa để em coi cho. Chị em mình ráng chịu đựng vài ngày nữa, rồi mẹ sẽ về chứ gì. Bất quá mẹ giận ba một chút rồi cũng nguôi, chứ hổng lẽ đi luôn, bỏ tụi mình sao chị?

Lời thằng Lành nghe bi thảm quá khiến Hiền không cầm được nước mắt. Hiền nhớ lại sau trận cãi cọ vì một lý do nào đó chẳng rõ, cha mẹ Hiền đã giận nhau. Bà Tính ra đi, định bế theo bé Hòa, nhưng ba Hiền không cho viện cớ để giữ lại. Nào ngờ tự ái quá cao, mẹ Hiền quyết định ra đi, bỏ lại bé Hòa mới lên một tuổi đã ba bốn hôm rồi. Còn ông Tính đi làm xa, cả tuần mới về một lần. Không ai săn sóc, bé Hòa sinh ra bịnh. Nhất là mấy hôm rày trời trở gió, Hiền và Lành phải vất vả thay nhau săn sóc cẩn thận cho bé Hòa. May là Lành nó học buổi sáng, chiều ở nhà trông chừng bé Hòa được, còn sáng thì đã có Hiền, chứ không thì chắc có lẽ Hiền phải nghỉ học chứ biết làm sao hơn! Chỉ lúc này, chị em Hiền mới biết thương nhau hơn lúc nào hết, chả bù với những lần gây gổ, hờn giận nhau lúc trước.

Gần tới nhà, Hiền đi chậm lại. Mái tường trước mặt Hiền thấp lè tè che khuất ánh sáng từ trong căn nhà đổ ra, khiến căn nhà xơ xác nằm trên khoảng đất tối không bằng bất cứ cái quán nhỏ nào, dù là nhỏ nhất thành phố. Hiền bước lần vào. Lành bồng bé Hòa tựa cửa thấy Hiền về, khuôn mặt thiểu não ấy vụt tươi lên:

- Chị đã về! Sao trễ thế chị?

Cố giữ nụ cười trên môi, Hiền nhìn bé Hòa:

- Chị phải ghé nhà thuốc tây mua cho bé Hòa mấy viên thuốc và cho em cây kẹo này nè. Thôi ẵm bé Hòa vào trong đi đứng đây gió máy độc địa lắm!

Hiền đặt cặp xuống bàn, mở ra lấy trao cho Lành cây kẹo. Thằng Lành sung sướng xé lớp giấy bọc bên ngoài, bốc một khoanh kẹo tròn màu xanh bỏ vào miệng. Nó gật gù:

- Ngon đấy. Chị ăn thử vài cục nghen chị.

Chẳng đợi Hiền kịp phản ứng, Lành trút ra bàn tay hai viên kẹo đưa cho Hiền và hỏi:

- Bé Hòa ăn kẹo được không chị?

- Không được đâu. Em đưa nó cho chị bế, lo dọn cơm ăn đi.

Hiền bồng bé Hòa lên, trìu mến nhìn bé. Cặp mắt bé tròn và đen lay láy nằm dưới hàng mi cong vút, trông đẹp làm sao! Lại còn đôi môi nhỏ đỏ thắm, lâu lâu lại chép chép như khát sữa. Hiền đặt nhẹ bé lên chiếc võng gần đó, vừa đưa vừa cất giọng ru:

"Ầu ơ... Em ơi! Em ngủ cho lâu... ơ... Mẹ em đi cấy ruộng sâu chưa về ... ơ... ầu ơ..."

Chẳng bao lâu, thằng nhỏ đã ngủ say. Hiền vội ra khép hờ cửa lại thì nghe tiếng gọi nho nhỏ của Lành:

- Chị ơi, cơm dọn xong rồi, xuống ăn chị.

- Ờ, để đó chị, em ăn trước đi.

Tuy nói thế, nhưng Hiền cũng xuống ngay. Bữa cơm đơn sơ, chỉ có một dĩa trứng chiên với vài miếng dưa mà thôi. Nồi cơm nửa sống nửa chín, Hiền không muốn trách em mình, vì Hiền thấy thương Lành khổ cực, đi học về lại phải coi sóc em, nấu cơm... Vả lại Lành cũng đâu biết nấu cơm nước gì, nhưng chẳng lẽ để chị mình về nấu cho ăn, nên nó đã tập làm quen với bếp núc. Một lát sau, bữa cơm đã tàn, Hiền phụ với Lành dọn dẹp xong xuôi, liền vội vã trở lên. Hiền bước tới nắm lấy dây võng định đưa.

- Ủa, sao lạ thế này? Lành ơi, lên đây xem, bé Hòa đâu mất rồi.

Lành giật mình chạy lên xem. Thôi, đúng rồi, chỉ còn chiếc võng không! Lành nghe nghèn nghẹn ở cổ họng. Nó bật khóc to, môi run run tím nhợt, nhưng Hiền cố trấn tĩnh:

- Thôi nín đi, em thử qua hỏi xem... thím Hai, chú Hùng với bà Tư coi có ai bế nó không?

Lành không nói gì cả, vụt chạy nhanh ra cửa. Hiền cũng chạy theo ra đến sân nghe ngóng. Một lúc, Lành trở lại với vẻ mặt u buồn và nhiều người. Nó lắc đầu thất vọng:

- Không có chị ạ. Bà Tư với thím Hai không có ai bồng bé Hòa cả, còn bên chú thím Hùng thì thím vừa đi vắng, chú không có ẵm nó.

Bà Tư chạy trờ tới hốt hoảng la:

- Chèn đét ơi, cháu để bé Hòa đâu mà đến nỗi mất vậy?

Hiền mếu máo, chưa kịp trả lời thì thím Hai, chú Hùng đổ xô tới dồn dập:

- Sao? Bé Hòa mất rồi à? Trời ơi, sao cháu Hiền không coi nó?

- Bây giờ phải tìm kiếm xem sao, chứ đứng mãi như thế này có nước chết được.

Mọi người lối xóm đều quay lại trầm trồ:

- Ừ, phải đa. Chú Hùng nói đúng đa. Thiệt thím Tính nỡ bỏ con cái như vầy mà đành lòng ra đi được, hổng biết nói làm sao nữa à!

Rồi tất cả bủa xua chạy ra đường. Chị em Hiền ôm nhau khóc sướt mướt. Căn nhà chỉ còn lại những tiếng bàn tán lào xào buồn bã đến khó thở. Vài câu nói nhỏ như sắp loãng vào không gian:

- Biết đâu mà tìm, họa chăng là đi cớ bót.

- Còn cớ bót cái gì nữa ; chính người ta vào đến nhà bắt đứa nhỏ đi mà không ai hay thì còn đòi cớ với trình cái quái gì!

Hiền nghe lòng quặn đau theo hai hàng lệ chảy dài trên khuôn mặt hốc hác của mình. Lành ngước cặp mắt đầy hy vọng nhìn Hiền, hỏi nhỏ:

- Chị, liệu có tìm được bé Hòa không chị?

Hiền mím môi, lắc đầu thương hại. Đã bao nhiêu giả thuyết được đặt ra trong trí Hiền rồi, nhưng tất cả đã bị hủy bỏ ngay sau khi vừa thành hình. Có tiếng ai bước, Hiền ngẩng ra:

- Có tìm được không chú Hùng?

- Không được cháu ạ.

Người đàn ông tên Hùng hạ thấp giọng:

- Thằng nhỏ trông dễ thương đáo để vậy mà bị bắt cóc mất đi. Đáng tiếc thật!

Chú ta tiếp:

- Rồi khi ba cháu về, cháu sẽ nói sao? Rõ khổ!

Thẫn thờ đến độ mất hồn, Hiền đáp trong tiếng khóc:

- Biết nói sao giờ chú!

Lành lau nước mắt, chen vào:

- Chắc ba cháu sẽ đánh chúng cháu chết mất!

Chú Hùng âu yếm nhưng cương nghị:

- Đâu có được, tại ảnh chỉ bỏ bê con cái nên mới ra nông nỗi này, chứ có phải lỗi ở các cháu đâu! Thôi đừng có buồn nữa, ngày mai chú sẽ đánh điện tín cho ba cháu hay để về lo tìm kiếm. Chú về nhen!

Chú Hùng quay lại nhìn hai chị em Hiền một lần nữa với vẻ trìu mến chứa chan tình hàng xóm rồi chú ra về. Những bước chân lục lạo tìm kiếm cũng thưa dần. Sau một hồi nhốn nháo lên, khu xóm lại trở về với cái yên lặng cố hữu của nó, nhưng sự yên lặng bây giờ nặng nề như những đám mây đen đang vần vũ trên bầu trời không trăng sao kia. Hiền cúi xuống hỏi Lành:

- Em buồn ngủ chưa? Đi ngủ đi. Có lẽ trời sắp mưa nữa. Không biết bé Hòa giờ này ra sao nữa? Trời ơi, bé bệnh mà ai ác quá!

Lành gục đầu vào lòng chị thổn thức:

- Em nhớ bé Hòa quá! Chị nhớ không chị?

Hiền rùng mình vì một cơn gió lạnh, nhè nhẹ đáp:

- Nhớ sao không nhớ! Chị nhớ nhiều hơn em nữa kìa. Viên thuốc này chị chưa kịp cho bé uống thì...

Ngừng lại vì quá xúc động suýt bật thành tiếng nấc, Hiền tiếp:

- ... Mới đây, chị còn bồng bế, còn ru nó ngủ, còn nựng, còn hôn... mà bây giờ... Buồn quá phải không Lành?

Tiếng khóc đều và nhỏ kéo dài như tiếng than van của một loài chim. Đứa con gái mới mười mấy tuổi đầu và thằng con trai chưa quá mười đã bắt đầu biết khổ. Hai chị em Hiền không biết gì hơn là kể lể với nhau bằng nước mắt. Phải chi ba má Hiền thấy cảnh này mới thương chị em Hiền mà trở về. Tuy còn cha mẹ, nhưng trong những phút này, Hiền tưởng chừng như mồ côi chẳng bằng. Bé Hòa đã bị bắt cóc mất rồi. Đổ lỗi cho cha mẹ ư? Hiền chẳng dám. Nhưng thực sự phải như thế.

Mải suy nghĩ vẩn vơ, Hiền quên Lành đã ngủ thiếp trong lòng mình từ lúc nào rồi. Hiền đỡ Lành nằm xuống giường, kéo chăn đắp lên rồi giăng mùng cho nó. Ánh sáng ở các nhà bên cạnh dần dần chìm mất. Hiền trông ra bầu trời cũng với vẻ lo lắng sợ sệt của lúc chiều đi học về. Bỗng chớp nhoáng lóe lên sáng rực một góc trời rồi đổ ụp mưa. Sấm sét nổ liên hồi. Gió gào lên, thổi tạt những hạt mưa vào người Hiền nghe lạnh buốt. Hiền đóng cửa, đem lại cho ngôi nhà một không khí ấm áp hơn. Màn mưa ngoài hiên như kim tuyến lấp lánh trên làn vải đen. Đã buồn, Hiền lại buồn thêm. Giấc ngủ chưa trở về được, dù bóng tối đã bao phủ lấy tất cả người Hiền. Bao nhiêu nỗi sợ sệt, thương nhớ nối nhau chạy về tim Hiền để hành hạ giấc ngủ. Mưa vẫn cứ rơi. Gió vẫn rít lên từng chập. Một giọng hát đơn độc nổi lên từ chiếc Radio bên hàng xóm:

"Không biết đêm nay vì sao tôi buồn?
Buồn vì trời mưa hay bão trong tim?..."

Nhịp điệu Slow trầm và buồn lê thê. Tiếng nấc của Hiền vụt bật ra khỏi lồng ngực, bay lên cao, rồi thấp dần, thấp dần và chìm lắng trong lòng đêm mưa thanh vắng...

*

Ông Tính ngồi gục đầu lên băng xe phía trước, chốc chốc lại ngoái cổ nhìn ra đường với vẻ sốt ruột lắm. Người ta bắt gặp một đôi mắt u buồn nằm sâu trong hốc xương gò má, một vòng môi thâm đen khô héo hơn cả những cánh hoa tàn tạ nhất. Thoáng chốc, họ có thể lầm tưởng ông là một hạng ăn chơi đã cạn túi. Nhưng mặc kệ, cũng chẳng cần, ông chỉ biết có bức điện tín này thôi bức điện tín đã khiến ông phải bỏ dở công việc và cũng chính nó đã làm ông bấn loạn cả tinh thần. "Bé Hòa bị bắt cóc mất. Hãy về gấp". Những hàng chữ ấy lại quay cuồng, nhảy múa như trêu ghẹo trên cái đau khổ của một người cha mất con. Ông tức giận vò nát mảnh giấy, ném nhanh qua cửa xe. Cái tâm lý chung của con người là vậy. Hễ gặp được vật gì đó đem đến tin vui thì nâng niu, trìu mến lắm, còn nếu nó mang tin buồn thì họ sẽ sinh ra oán giận, đập phá ngay dù vật ấy là vô tri vô giác đi nữa.

- Thưa ông, dừng ở đây hay đâu ạ?

Câu hỏi của người tài xế vụt vang lên làm ông Tính giật mình. Ông ngơ ngác nhìn ra đường, rồi gật đầu:

- Vâng, ông làm ơn cho tôi xuống đây.

Chiếc xe chạy chầm chậm rồi ngừng hẳn. Ông Tính trả tiền xe, xong, hối hả bước xuống ngay. Chiếc "tắc xi" gầm lên và biến mất trong đám bụi mờ đàng xa. Ông cắm đầu rảo bước như trốn tránh một việc gì. Ánh nắng ban trưa vàng như lửa. Ông Tính vẫn bước đều, không buồn lau những giọt mồ hôi đang chảy dầm dề trên trán, vì nước mắt ông không vội chậm đi thì mồ hôi có nghĩa lý gì. Đường tuy ngắn mà dài, nhưng rốt cuộc rồi ông cũng tới đích.

- Kìa ba về! Bé Hòa bị người ta bắt cóc mất rồi ba ơi!

Hiền và Lành thấy ba về, mếu máo khóc. Ông Tính lẳng lặng nhìn hai con, không nói gì, chỉ khẽ thở dài. Cặp mắt ông lúc ấy long lanh một tình thương vô biên. Ông từ từ cúi xuống, xoa đầu Lành như nhắn nhủ:

- Tội nghiệp con tôi quá! Thôi con qua mời chú Hùng sang đây gặp ba có chút việc cần.

Hiền lắng tai nghe ba lầm thầm một mình:

- Giờ chỉ còn hai đứa. Phải biết, mình để cho bả bế thằng Hòa theo luôn thì đâu đến nỗi này...

Một tiếng tắc lưỡi tiếc rẻ làm gián đoạn câu nói:

- ... Dù sao mình cũng phải đăng báo gọi bả về cho hay để lo tìm kiếm thằng nhỏ và lo cho hai chị em con Hiền nữa. Thiệt!...

Ông Tính vội trông ra sân vì nghe có tiếng chân người đi lại:

- Kìa chú Hùng, tôi xin thành thật cảm ơn chú đã đánh điện tín cho tôi hay. Chú ngồi đây cho tôi nói chút chuyện.

Chú Hùng nhã nhặn:

- Dạ chẳng có chi, anh chớ bận tâm.

Ông Tính như không nghe thấy, cất giọng chán nản:

- Chú biết không hồi má con Hiền ra đi, tôi tưởng bả chỉ đi vài ngày sẽ về, nên không gửi bé Hòa cho thím Hùng trông giùm mà yên lòng đi làm. Ngờ đâu bả đi luôn. Hiện giờ tôi buồn quá, chẳng biết phải giải quyết cách nào cho êm xuôi ; tôi định nhờ chú và thím Hùng trông hai cháu Hiền và Lành, đầu tháng tôi sẽ gửi tiền về... Chẳng biết có được không? À, mà thím Hùng có nhà không, chú gọi...

Chú Hùng hơi bối rối, ngắt lời ông Tính:

- Ơ... Vợ tôi nó đi... thăm bà con từ chiều hôm qua lận.

- Thôi được. Chú có ý kiến gì giúp tôi không?

- Tôi nghĩ anh nên nhờ đăng báo gọi chỉ về cho hay bé Hòa mất, chừng đó hãy bàn cũng chẳng muộn.

Mắt ông Tính vụt sáng lên như vừa tìm được một cái gì. Ông làm một cử chỉ tán thành:

- Vâng, tôi cũng nghĩ như chú vậy.

Hiền và Lành hết nhìn trân trối ông Tính lại đến chú Hùng, rồi mỉm cười rưng rưng, quay lại nhìn nhau yên lặng.

Thế rồi hai hôm sau, bà Tính khăn gói trở về.

Hình như bà còn giận ông Tính nhiều lắm, nên không thèm nhìn thẳng ông Tính. Khô khan nhất là tới bữa cơm, hai người không hề nói với nhau nửa lời. Bà Tính nuốt cơm mà nước mắt cứ tuôn trào. Tình mẫu tử vùng lên mạnh để rồi thoát ra khỏi lòng bà bằng khóe mắt. Bà định ra đi vài hôm sẽ trở lại lén đem theo bé Hòa. Nhưng bây giờ đã trễ, người ta đã bắt cóc nó trước bà. Bà liếc sang Hiền và Lành, lòng xót xa thương hại. Bà nghe hối hận, muốn xin lỗi ông Tính để ở lại chăm sóc hai đứa trẻ. Được một chút, tự ái bỗng nổi dậy dập tắt sự hối hận ấy ngay. Buổi ăn diễn ra ngắn ngủi và thật lạnh nhạt.

- Mẹ về ở luôn với chúng con, đừng đi nữa nghen mẹ.

Lành nói như van xin. Hiền chậm rãi góp vào:

- Thôi mẹ, đừng đi nữa mẹ ạ. Bé Hòa đã bị bắt mất đi vì gia đình thiếu bàn tay coi sóc. Phải chi có mẹ luôn bên bé...

Bà Tính thở nhẹ, ra chiều suy nghĩ. Bỗng Lành kêu lên:

- Mẹ ơi, ba gọi mẹ ra có việc gì kìa!

Hiền đứng lại nhìn theo cái dáng gầy gầy của mẹ đang khuất dần sau tấm màn thưa, lòng lâng lâng một niềm vui sướng và thương mến. Hiền ngồi xuống chiếc ghế con, lén nghe tiếng chú Hùng nói:

- Tôi chỉ là một người hàng xóm, thấy cảnh gia đình anh chị quá bề bộn: Nào vợ chồng xào xáo với nhau, con bị bắt cóc mất, còn lại hai đứa trẻ không ai săn sóc, anh đi làm xa, chị không có ở nhà, nên tôi xin đề nghị như thế này: anh chị nên thuận thảo với nhau vì như anh chị đã thấy bé Hòa bị mất đi là hậu quả của sự giận nhau giữa anh chị và hơn nữa, anh chị giận nhau cũng chẳng có ích gì, chỉ làm hại cho con cái mà thôi.

Âm thanh ngừng một lúc, rồi lại tiếp tục nổi lên:

- Sao, anh chị nghĩ thế nào?

Hiền nghe ba lên tiếng trước:

- Thì chú nghĩ coi, tôi có giận và muốn má con Hiền ra đi hồi nào đâu! Bằng chứng là tôi đã cố giữ bé Hòa ở lại với dụng ý là để cho bả ở lại theo, nhưng tại bả nhất quyết ra đi, nên tôi cũng không cản. Giờ chú bảo tôi nên làm hòa lại thì tôi vẫn sẵn sàng, chỉ còn chờ bả thôi.

Giọng bà Tính ngập ngừng:

- Còn tôi... ơ... thì... ơ... tùy ổng.

Một tràng cười giòn đắc ý của chú Hùng vang lên:

- Thôi vậy là kể như xong hết rồi. "Ông bà" phải hứa là hòa thuận lại với nhau chắc chắn đó nghen.

Giọng chú Hùng vụt cao lên như réo gọi:

- Em à, má thằng Vĩnh!

Hiền ngạc nhiên, không hiểu chú Hùng gọi thím qua làm gì, cố lắng tai nghe. Chợt có tiếng kêu cùng một lượt của ông bà Tính:

- Ô! Bé Hòa, con tôi!

Hiền giật nẩy mình, đứng lên, vùng chạy nhanh ra phía trước. Ủa, bé Hòa sao lại ở trên tay thím Hùng? Trong lúc đó, chú Hùng ôn tồn giải thích:

- Vì thấy anh chị giận nhau bỏ bê con cái, nên gia đình tôi mới nghĩ ra một cách là lén bắt cóc bé Hòa đi để cho anh chị hối hận về sum họp lại với nhau, chăm sóc các cháu. Chính vợ tôi đã ẵm bé Hòa lên nhà một người bà con ở Thủ Đức chơi, bữa nay mới về đó.

Hiền dụi mắt tưởng chừng như chiêm bao, nhào tới ôm chầm lấy bé Hòa hôn như mưa bấc. Thằng Lành không biết từ đâu chạy ù ra giành bé Hòa trên tay Hiền rồi cũng diễn lại động tác của Hiền lúc nãy. Chú thím Hùng liếc nhìn hai chị em Hiền, mỉm cười:

- Gặp lại bé Hòa, tụi nó mừng dữ ghê chưa! Thôi, thưa anh chị, vợ chồng tôi xin phép được về.

Ông Tính nắm lấy tay chú Hùng siết một cái thật mạnh:

- Trời ơi, thật là chú thím tốt với gia đình tôi quá! Ơn nầy chúng tôi nguyện không bao giờ quên.

Bà Tính nói thêm:

- Tối nay, nếu chú thím có rảnh, xin mời cùng chúng tôi xem một suất hát nhé!

- Vâng. Chào anh chị.

Chú Hùng dứt lời, liền dìu thím ra về. Hiền nhìn cha mẹ, thằng Lành, bé Hòa, đâu đâu cũng bắt gặp những đóa HOA HẠNH PHÚC đang nở đều đặn trên những cánh môi đỏ thắm. Và như còn quên điều gì, Hiền vội quay ra sân trông theo cái bóng của vợ chồng người hàng xóm đang đi dần ra khung trời ngập nắng với đôi mắt mến phục.


YÊN LAM SƠN TỬ     

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 65, ra ngày 15-3-1967)

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2019

Khi Hổ Ăn Chay


Dân bộ lạc Ông Thê vào thời xưa vẫn tin tưởng rằng tất cả mọi vật trong trời đất thuộc loài người đều có một linh hồn như người vậy. Chẳng hạn đối với họ núi đá là một sơn nhân, gấu là một người vùng hoang đảo, cá là một người ở thủy cung, còn cây là một người rừng...

Vào thời xa xưa đó, có hai anh em, anh tên là Sâm Lâm và em tên là Di Lâm. Họ sống thuận hòa dưới mái nhà song thân. Tuy hai người tính nết không giống nhau song rất thương nhau.

Một ngày kia, cha già của họ lâm trọng bịnh. Anh em dốc tấm chạy chữa nhưng ngày tháng qua bệnh cha già vẫn không lui. Tuy vậy, người cha không tỏ vẻ buồn rầu, gọi hai con lại bên giường mà dặn:

- Các con chớ bận tâm. Ta biết mệnh ta. Người già phải chết, đó là luật tạo hóa, chống chọi vô ích. Ta chỉ mong các con phải nhớ lời ta lúc lâm chung này mà cư xử với nhau cho phải đạo. Được như vậy, dưới  tuyền đài ta mới yên tâm. Trong khi săn bắn, trong lúc vui chơi, lúc nào hai con cũng nhớ đừng rời nhau nửa phút. Có như thế, đứa kia gặp nạn, đứa này mới có thể tiếp cứu kịp thời. Cả hai đứa phải nhìn cùng một hướng. Nhất là Di Lâm, con có tính bất nhất, bông lông, đừng bao giờ quên lời cha dặn.

Cả hai anh em đều phục xuống giường cha, cùng khóc và cùng hứa xin tuân lời trăn trối cuối cùng. Người cha lấy làm mãn nguyện, tắt thở trong một nụ cười sung sướng.

Sâm Lâm và Di Lâm xé khăn trắng quấn lên đầu để tang cha. Họ tự tay khâm liệm và đặt cha trong một áo quan do chính họ đẵn gỗ và đóng lấy. Họ cũng từ chối sự giúp đỡ của mọi người, thân hành mang xác cha ra một cánh đồng, đào huyệt chôn cha ; họ còn cẩn thận đặt chân cha quay về hướng đông để ông có thể thấy mặt trời.

Rồi liên tiếp trong ba tháng như thế, ngày nào hai anh em cũng mang thức ăn đến huyệt để nuôi dưỡng linh hồn người quá cố đúng như tập thục.

Sau đó, họ phải trở về, chuẩn bị lên đường săn bắn để phụng dưỡng mẹ già.

*

Sâm Lâm đi trước, Di Lâm theo sau. Tuy cha đã dặn: cả hai hãy nhìn về một hướng để dễ dàng tiếp cứu cho nhau, nhưng chỉ mình Sâm Lâm tuân lời dặn mà thôi. Di Lâm thì quay sang phải, quay sang trái, nhìn trước chán lại đảo mắt qua sau vai, thật y như anh chàng chưa từng nghe lời cha dặn bao giờ.

Bỗng, soạt một tiếng, Di Lâm giật mình nhìn trước mặt, thì: chao ôi! Một con cọp to lớn từ bụi rậm nhảy ra phóng thẳng đến trước mặt Sâm Lâm. Sâm Lâm không kịp rút dao ra, cũng không có thì giờ đưa lao lên đỡ. Di Lâm phía sau có thể tiếp cứu anh, nếu hắn bình tĩnh. Song tim Di Lâm đập mạnh trong lồng ngực vì sợ hãi. Bởi cãi lời cha nên tim hắn đã hóa thành tim thỏ mất rồi. Một con thỏ không bao giờ biết chiến đấu, nên trong tình trạng nguy ngập đó, Di Lâm chỉ còn có một cách hèn hạ nhất mà người trong bộ lạc hắn không bao giờ tha thứ là quì xuống xin cọp dung tha sinh mạng anh mình. Mắt nhắm kín, toàn thân run lên bần bật, Di Lâm thành khẩn van nài cọp dữ như van nài một linh thần.

Di Lâm quì như thế rất lâu, và khi nó ngẩng đầu lên, mở mắt ra thì chao ơi! Kỳ quái làm sao: cả cọp dữ lẫn anh nó đều biến mất, không còn một chút dấu vết gì, không dấu chân, không vết máu...

Di Lâm lo lắng, gọi to:

- Anh Sâm... Lâm...m! Anh Sâ...m Lâ... m!

Mặc cho nó khản cổ gào, rừng già vẫn im lặng, không một tiếng trả lời, ngoài tiếng dội của bức thành bằng đá như mỉa mai, chế diễu tên hèn nhát, bỏ anh trong cơn nguy hiểm.

Di Lâm nức nở khóc. Không có anh mình, mình sẽ ra sao? Bộ lạc sẽ nghĩ thế nào khi mình trở về đơn lẻ một mình? Làm sao mình trả lời họ? Làm sao xóa sạch nhục nhã này?

Đó là chưa kể từ nay, Di Lâm phải thay anh nuôi em và nuôi mẹ, một mình, không ai giúp đỡ trong khi nguy hiểm, khuyến khích lúc gặp khó khăn. Nghĩ đến đó, Di Lâm lau nước mắt vì nhớ ra mẹ và em đang đợi ở nhà. (Trong ba tháng lo thờ phụng cha thực phẩm trong nhà cạn sạch) Di Lâm phải gánh lấy bổn phận, từ đây.

Di Lâm bèn gượng đứng lên, quay lui để xem xét các bẫy do anh em nó đặt trước khi anh nó bị mất tích. Trong một cái khuất sau bụi rậm, Di Lâm mừng rỡ thấy có một con sóc mắc chân vào đó. Dù sao, con sóc đó cũng đủ cho mẹ và em trong một bữa... Di Lâm yên tâm lắm, nhẹ nhàng đến gần con vật, toan tháo bẫy, bắt nó.

Ghê sợ làm sao: vừa thoạt thấy Di Lâm, con sóc kêu lên, khinh bỉ:

- Tên hèn nhát, đừng hòng động đến lông ta! Mày đã để mất anh! Đi đi! Đi cho khuất mắt! Ta không muốn thấy mặt kẻ hèn đâu! Thà chết còn hơn!

Và trước khi Di Lâm hành động như ý muốn, con sóc đã dùng răng, cắn đứt ngang chỗ chân kẹt trong bẫy, khập khiễng chạy vào rừng già ; không để cho bàn tay kẻ hèn động đến mình đúng như lời nó nói.

Di Lâm lẳng lặng tháo gỡ cái chân bầy nhầy máu thịt vứt ra xa, lòng tràn ngập nỗi buồn, vì ngay đến con vật nhỏ bé cũng khinh mình hèn nhát.

Di Lâm lại đến quan sát mấy chiếc lưới mà hai anh em đã giăng trước khi anh mình bị cọp vồ mất tích. Lòng mừng khấp khởi, Di Lâm nhận ra một con chồn hôi vướng lưới đang vùng vẫy một cách vô vọng. Di Lâm nhanh chân chạy đến, nhưng lạ thay: nhận thấy bóng Di Lâm, con chồn ranh hét lên:

- Tên hèn nhát đã để mất anh! Đừng hòng bắt được ta, không bao giờ ta để sa vào tay mi đâu! Thà ta xuống vũng bùn còn hơn!

Và nó cố gắng phi thường cắn cho đứt lưới trước khi Di Lâm hành động như ý muốn.

Di Lâm vừa xấu hổ vừa đau đớn, ngồi phệch xuống bưng đầu suy nghĩ. Nỗi hối hận giày vò lòng hắn. Hắn không biết làm cách gì để rửa cái nhục để mất anh.

Một con ngỗng rừng chợt bay ngang. Lập tức Di Lâm lắp mũi tên vào và giương cung lên. Mũi tên ghim đúng dưới nách con vật làm nó mất thăng bằng, lảo đảo sắp rơi xuống đất. Di Lâm mừng rỡ, vội  vàng chạy đến đón nhặt.

Di Lâm vẫn không được như ý muốn vì khi nhác thấy bóng Di Lâm, con ngỗng rừng đang quằn quại trên bụi cỏ bỗng kêu lên:

- Chớ! Chớ lại gần ta! Ta không làm mồi cho quân hèn nhát, để mất anh!

Nó dùng mỏ nhổ mũi tên khỏi cánh một cách khó nhọc, đau đớn, rồi trong lúc Di Lâm sững sờ chết lặng, nó cố gắng vỗ cánh bay lên... Nó bay đến giữa dòng sông rồi kiệt lực buông mình xuống nước, chìm dần... Di Lâm quá đỗi kinh hoàng, hắn dụi mắt hai ba bận để xem mình mê hay tỉnh. Khi nhìn lại thảm cỏ còn giây máu con vật ngay trước mắt, Di Lâm đành công nhận điều này: cả chim muông lẫn thú vật đã và sẽ không bao giờ hạ mình để lọt vào tay một kẻ thợ săn hèn nhát như mình!

Trong lúc đang nghiền ngẫm suy nghĩ, Di Lâm chợt nghe có tiếng hót lanh lảnh trên cành gần đó. Di Lâm ngẩng đầu lên thì vừa vặn đôi chim cũng nhìn thấy mình. Chim trống bảo vợ:

- Chúng ta đi nơi khác. Đừng hót nữa! Đừng để tiếng hót êm dịu lọt vào tay kẻ hèn nhát, bỏ anh cho cọp dữ vồ...

- Phải! Chúng ta đi, rừng già không thiếu chỗ...

Nỗi khổ nhục đè nặng trong lòng Di Lâm. Hắn ngồi yên không cử động và quên cả đói. "Ta đã để mất anh. Khi người ta mất cái ống điếu người ta phải tìm thấy người ta mới yên lòng. Thế mà ta, ta làm mất anh mình. Phải tìm ra anh ấy, nếu không dù ta chết, nỗi khổ nhục vẫn theo ta. Linh hồn ta sẽ sa vào hỏa ngục đời đời" Di Lâm nghĩ và nước mắt lại tuôn dài xuống má.

Sau cùng, hắn quả quyết trở về thú thật mọi chuyện với mẹ già, xem ý kiến mẹ thế nào. Chỉ có cách đó, may ra...

*

Mẹ Di Lâm ngồi lặng yên, nghe con kể chuyện xảy ra, bà không quát mắng, la lối tiếng nào. Một tay bà vuốt mái tóc bạc phơ lòa xòa trong gió, tay kia vuốt tóc con trai. Di Lâm vẫn giữ tư thế quì bên cạnh mẹ, khóc nức rằng:

- Tim con đã hóa thành tim thỏ rồi, thưa mẹ! Con phải làm sao? Tại sao lại thế?

Người mẹ cúi xuống, hôn vào trán con, vào đôi mắt đẫm ướt, ôn tồn:

- Không có gì khó hiểu: chỉ tại con cãi lời cha không nhìn thẳng trước mặt như lời người trăn trối vì vậy con bị trừng phạt. Chỉ có một cách để con lấy lại quả tim người, là gấp tìm lại anh con!

- Nhưng con biết tìm anh ấy ở đâu bây giờ đây?

- Điều đó chính mẹ cũng không biết được. Mẹ chỉ biết rõ một điều: nếu sự sợ hãi của con đã làm mất anh con thì chính sự can đảm của con sẽ giúp con tìm thấy nó.

- Con nghe lời mẹ. Con sẽ tìm thấy anh con! Xin mẹ tin con.

Di Lâm dõng dạc trả lời mẹ, đầu ngẩng cao, lưng thẳng, giọng cương quyết. Mẹ Di Lâm vui vẻ giúp con chuẩn bị hành trang: ống điếu, dao rừng, cung tên, bùi nhùi, bật lửa v.v...

Không biết mình nên đi đâu, song Di Lâm không cần chuyện đó, hắn ta hôn từ biệt mẹ rồi cứ nhắm hướng tây, hướng mà hắn đã để anh mất tích, tiến lên.

Thoạt tiên, Di Lâm gặp một con rắn nước, liền hỏi thăm xem mình nên tìm anh ở chỗ nào. Con vật nhỏ bé khinh khỉnh nói:

- Anh mi không phải là đứa trẻ, còn ta, ta cũng không phải vú già, làm sao ta lại phải biết hơn mi về chỗ ở của chính anh mi?

Di Lâm không thèm tức giận con vật khó tính kia, tiếp tục đi.

Lần này hắn gặp một con chuột nhắt, lại hỏi thăm xem chuột có thể chỉ chỗ trú của anh mình. Chuột nhắt cười khẩy:

- Anh khờ lắm, anh muốn biết chỗ trú của Sâm Lâm, anh phải hỏi những con vật ở trên cao, vì những con vật đó mới nhìn thấy những gì xảy ra dưới đất. Ai lại ngu dại đi hỏi loài thú ở dưới thấp lè tè, chúng làm sao thấy được? Đáng lẽ, ta không thèm chỉ vẽ điều này, vì anh hèn đã để mất anh, nhưng ta thấy anh thành tâm nên cũng động lòng. Hãy nghe ta tìm những con vật ở cao mà hỏi, thế nào cũng biết tin tức của Sâm Lâm.

- Cảm ơn chuột! Cảm ơn chuột đã có lòng tốt đối với kẻ hèn!

Không chút phật ý vì lời chuột, Di Lâm vội vàng cảm ơn và tiến tới, tuy nhiên Di Lâm không hẳn tin lời chuột, nên lần này lại hỏi một con ếch trên bờ đầm về tin tức anh mình. Ếch giương mắt nhìn Di Lâm bằng cái nhìn miệt thị rồi nhảy phóc vào bụi rậm, như tuồng Di Lâm không xứng đáng cho nó trả lời câu hỏi. (Kỳ thật nó không biết tin tức Sâm Lâm, song ếch là loài tự phụ, không bao giờ muốn cho bất cứ ai biết rõ nhược điểm của mình).

Không nản lòng, Di Lâm hỏi đàn cá trên sông, đàn cá nguẩy đuôi bơi ra giòng sâu không đáp. Di Lâm suy nghĩ một chốc rồi chạy đến gần chỗ con chim tước đang đậu hỏi tin anh, rồi lại hỏi thăm con hạc nữa. Chẳng con nào biết tin tức Sâm Lâm song riêng con hạc, nó thương hại Di Lâm nên giúp một lời khuyên đáng quí:

- Anh hãy hỏi thăm chim Đại bàng. Vì Đại bàng bay cao nhất, mắt nó tinh nhất, việc gì nó cũng tỏ tường... Hiện nó đang nghỉ ở trên cây cổ thụ kia, hãy mau chân đến đó mà hỏi nó.

Tuy vội vàng, Di Lâm cũng nhớ cảm ơn chim hạc rồi ba chân bốn cẳng hướng về phía chim hạc chỉ cho mình.

Quả nhiên, Di Lâm gặp Đại bàng. Bằng giọng nhỏ nhẹ, Di Lâm hỏi thăm tin tức anh mình. Đại bàng đáp:

- Phải! Ta biết chỗ trú của anh ngươi. Anh ngươi không chết, nhưng ngươi phải nghe ta và chịu nhiều vất vả mới gặp được anh ngươi. Ngươi có nghe ta không?

- Tôi xin tuân lời chim...

- Thế thì tốt lắm. Nhưng ta bảo trước, không được cãi lời ta, ta bảo sao nghe vậy, không được kêu ca, không được sợ hãi, không được lùi lại bất cứ trong trường hợp nào. Nếu ngươi vượt qua bảy lần như thế, ngươi sẽ thấy anh ngươi! Hãy hứa với ta, ta sẽ chỉ đường cho ngươi.

- Tôi xin hứa! Tôi hứa đi đến cùng!

Đại  bàng gật đầu  và nhổ một cái lông cánh của mình vứt xuống cho Di Lâm và bảo:

- Ta bận việc, không thể đi với ngươi, chiếc lông này sẽ thay ta chỉ đường rất chính xác. Thôi đi đi, chúc ngươi thành công, nhá?

Cái lông bay về hướng mặt trời lặn. Di Lâm chỉ kịp thốt lên hai tiếng cảm ơn chim rồi vội băng mình cho kịp cái lông kia.

*

Di Lâm vừa chạy vừa đi, chạy mỏi, anh ta đi, đi thấy không kịp cái lông lại chạy. Di Lâm vượt qua ba giòng suối cạn, chiếc lông chim cứ là là bay phía trước dẫn đường. Luôn luôn, Di Lâm nhìn thẳng theo lời cha căn dặn. Rồi đến một giòng sông rộng mênh mông. Chiếc lông Đại bàng bay qua sông một cách nhanh chóng và đợi Di Lâm bên kia bờ, không bay nữa.

Di Lâm lập tức rút rìu mang theo bên mình ra hạ một cây to, đục thủng ruột cây để làm thuyền vượt qua sông. Công việc này đối với Di Lâm không mấy khó, song khi thuyền vừa hạ thủy, giòng sông bỗng nhiên sôi sục lên như một cái nồi nước sôi vĩ đại, hơi nước tỏa lên mù mịt và lạ lùng thay: chiếc thuyền biến dạng dúm dó lại trong một thoáng chốc và chìm lỉm giữa giòng. Bao nhiêu cá chết dưới nước nổi lềnh bềnh, phơi những cái bụng căng tròn, mắt lồi trắng dã! Hơi nước sôi càng lúc càng tốc lên cuồn cuộn, bao phủ cả khu rừng. Di Lâm kinh hoàng, toan lùi lại nhưng sực nhớ đến lời hứa với mẹ, với Đại bàng nên không chút do dự: hắn gác cây cung giữa hai thân cây to, căng dây móc vào cành nhỏ và lắp tên vào. Đoạn một tay nắm mũi tên, tay kia bẻ gãy cành cây, dây cung bật lại kêu lên một tiếng soạt phóng vút ra, bay ngang giòng sông đang sôi sục. Hơi nước làm mờ mắt Di Lâm nhưng hắn không nao núng, vẫn nắm cứng mũi tên. Toàn thân Di Lâm như nhẹ hẫng, hắn cùng bay với mũi tên. Mặc dù bị phỏng chút ít, hắn vẫn sang được bên kia bờ một cách yên lành. Vừa đặt chân được xuống đất, Di Lâm chưa kịp thở cho lại sức thì phía trước chiếc lông đã bay đi, làm hắn phải đi theo, vừa hổn hển thở, mồ hôi tuôn như tắm.

Cứ thế, lông bay trước, người theo sau, luôn luôn giữ một khoảng cách không xa lắm. Đôi bên trèo núi thêm ba lần, đi suốt đêm không ngủ. Kỳ diệu thay ban đêm chiếc lông sáng rực như ánh sao soi đường cho Di Lâm bước tới.

Di Lâm lẩm bẩm:

- Chắc qua khỏi ba quả núi này là... đến chỗ anh mình?

Và anh ta thấy phấn khởi lên, xăm xăm bước tới. Một chốc sau, Di Lâm thấy phía trước mặt một vùng cao nguyên lởm chởm đá, và để qua đến đó, cái lông là là bay trên một con đường mòn độc nhất được trải bằng xương người ; đủ thứ xương: xương sườn cong tròn như những cái lồng chim, xương ống dài như những cái chày giã nhỏ, xương sọ tròn tròn với đôi hốc mắt sâu hoắm, đen ngòm, xương cánh tay và bàn tay như những cái cành mùa đông khẳng khiu, giơ ra như chực tóm lấy Di Lâm. Chao ơi là sợ! Sợ không biết để đâu cho hết! Tuy nhiên nhớ lời hứa với mẹ và Đại bàng, Di Lâm nghiến răng bước tới, không thèm nhìn trái nhìn phải, cũng chẳng nhìn lui. Vừa đến cuối đường, thì lù lù một bầy cọp đói đông như kiến, đông đến nỗi mầu lông của cọp che khuất cả mầu đá trên cao nguyên kia. Bầy ác thú gầm gừ, xô lấn nhau, quần nhau chí tử. Cái lông vẫn bay là là trên bầy hổ. Chúng sẽ nhai xương ta mất thôi! Di Lâm thầm nghĩ. Để đỡ sợ, Di Lâm trì hoãn bằng cách nép về một bên, lôi thuốc ra châm hút. Bỗng một ý kiến lóe sáng trong đầu Di Lâm. Hắn bèn lấy cỏ khô quấn thành một cái mão thật to đội lên đầu và hai cây đuốc cũng to không kém cầm ở hai tay. Đoạn, Di Lâm châm lửa cho cháy cả ba lên, mão đội lên đầu, hai cây đuốc cầm chắc ở hai tay, vừa quát vừa chạy tới. Cỏ khô cháy rực trên đầu Di Lâm, hai cây đuốc thì cháy rực trên hai tay Di Lâm làm cho bầy hổ bị chói mắt bởi con vật kỳ dị: đầu và tay đều bằng lửa đỏ, tức thì ùa nhau chạy trốn! Chúng gầm lên chuyển động cả một vùng, đuôi quật xuống đất, mõm há rộng oạc và đỏ ối... Di Lâm nhắm mắt lại cho đỡ sợ, hai tay vẫn khư khư hai cây đuốc rực lửa, đầu vẫn ngay ngắn cái mão lửa, chạy tràn.

Sau lưng Di Lâm tiếng gầm thét xa dần, xa dẩn và tắt hẳn. Di Lâm hoàn hồn dừng lại thở. Là là phía trước, giữ một khoảng cách trung bình, cái lông chim bay, bay mãi... Di Lâm không dám kêu ca một tiếng, lầm lũi theo sau.

Bây giờ là một khu rừng già, cây san sát chen nhau, cao vòi vọi, không một tia nắng nhỏ lọt vào. Khi Di Lâm đến khu rừng này thì mặt trời ngoài bìa rừng chiếu cái bóng Di Lâm thẳng đứng thế mà vào trong, bóng tối che dày. Dây leo và rễ phụ quấn quít lấy thân cây, vô số cành tua tủa chìa ra như những cánh tay ma quái... Di Lâm gợn rợn sợ, nghĩ thầm: "Có lý nào đây là loại cây ăn..."!

Mà đúng như vậy: đó là khu rừng cây ăn thịt, chỉ có loài thú nhỏ, thấp mới vượt qua được mà thôi vì cây không cúi thấp được. Trong bóng tối, cái lông chim rực sáng soi đường cho chàng trai và cũng nhờ ánh sáng đó, Di Lâm thấy vô số những bộ xương người treo lủng lẳng trên cành.

Di Lâm kinh hoàng tột độ, tay chân run rẩy, tim đập thình thình trong lồng ngực. Song thu hết nghị lực, Di Lâm bụng bảo dạ rằng:

- Không việc gì mà sợ. Ta là người, sao lại sợ thứ... cây rừng? Ta sẽ vượt qua đây như cái lông chim trước mặt!

Di Lâm dừng lại, nhìn quanh, nghĩ kế. Chợt hắn trông thấy một con chồn hôi nhỏ đi lại gần mình, tức thì, Di Lâm rút dao ra đâm vào ngay giữa cuống họng con vật. Một giòng máu từ cổ con vật tuôn ra ướt đẫm tay Di Lâm. Di Lâm lau vội vào bộ lông con vật và nhanh nhẹn dùng dao cắt thịt nó ra từng mảnh nhỏ, cắm vào đầu nhọn của cái lao. Di Lâm giơ cao ngọn lao, mạnh dạn tiến sâu giữa những thân cây khát máu. Các cây này đánh hơi mùi máu thịt tươi, chồm lại, vươn tới cây lao, các cành có vuốt nhọn đưa ra tranh nhau ngọn lau cắm đầy những thịt.

Quang cảnh đó làm Di Lâm rởn gáy, nhưng Di Lâm vẫn can đảm bước, cứ mỗi cái vuốt cây chồm lại, Di Lâm đưa cho nó một miếng thịt rồi giật lao đi nếu không nó sẽ tóm hết Cành nào được miếng thịt, chưa kịp rụt lại thì bị các cây khác tranh giành, cây nọ đập cây kia, lá rơi ngập đất, chúng đánh nhau dữ dội cho đến nỗi không những chỉ có lá lìa cành mà vỏ cây cũng bị xây xát, bắn tứ tung.

Di Lâm không ngừng lại nửa giây: cứ bước tới, vừa đi vừa đút thịt cho những cây trước mặt. Khu rừng hỗn loạn, cành lá quất nhau, rít lên nghe lạnh người. Thừa dịp, Di Lâm chạy thật nhanh, không quên nhặt nhạnh lấy những cành rơi rụng hết nguy hiểm để phòng khi có cần sưởi ấm về sau.

Một lát sau, Di Lâm ra khỏi khu rừng, chiếc lông chim đợi hắn bên bờ suối, hai tay Di Lâm đầy những cành khô.

*

Bây giờ Di Lâm đến một cái hồ sâu. Di Lâm ghép những cành cây lại, thả lên mặt hồ, định vượt qua hồ bằng cách bước lên cái bè nho nhỏ ấy. Một số cành cây lún xuống, mặt hồ sủi bọt lên, Di Lâm lại lấy những cành còn lại kết thêm cái bè nữa để thay nhau, bước tới. Đến giữa hồ, Di Lâm kinh ngạc thấy một gã đàn ông lùn tịt và có cái gù to tướng sau lưng chặn ngang trước mặt mình. Gã ta chỉ có một cánh tay và một chân thôi. Mặt gã sần sùi, mắt lồi lên trông thật dễ sợ, mũi hếch lên như mũi loài heo, răng chĩa ra ngoài như nanh loài thú dữ. Mặc dù chưa bao giờ giáp mặt gã, nhưng Di Lâm đã nghe danh: đó là Bôkô, một gã độc ác, chuyên môn dụ hoặc làm lạc lối những thợ săn can đảm nhất rồi đưa ra giữa hồ, dìm cho chết làm trò vui.

Bôkô lên tiếng, giọng gã rè rè như chuông vỡ:

- Nhóc con! Đến chỗ này làm gì? Mày định dọ thám tao chăng? Muốn tao dìm xuống hồ chăng?

- Không! Tôi đến tìm ông có chuyện...

Giọng Di Lâm thách đố, khiêu khích. Bôkô gầm lên:

- Gan to dữ há? Tìm tao? Có chuyện? Chuyện gì? Nói nghe coi?

- Người ta nói chuyện rằng cái chân độc nhất của ông mạnh bằng hai chân nguyên vẹn của một người thường, nhưng tôi, tôi không tin như vậy. Hai chân vẫn mạnh và vững hơn một chân. Chúng tôi cá nhau, đến xem thử có thật như vậy không! Và ai đến đây thì được thưởng một con gà gô, tụi bạn chết nhát của tôi không đứa nào dám đi. Tôi thì tôi không sợ, tôi không tin là ông nhảy cao hơn tôi. Trong bộ lạc, tôi nhảy cao nhất, tin cho ông biết trước. Ông dám nhảy thi với tôi không?

- Tao mà thua thằng nhóc hay sao? Đừng có nói dóc. Tao thi với mày, đồng ý. Mày nhảy trước tao coi!

Di Lâm nhảy liền. Hắn chụm hai chân lại, lấy đà phóng lên thật cao rồi từ từ để rơi mình xuống, gần tới mặt hồ, Di Lâm dang hai chân ra để sức nặng bớt đi, và nhắm kỹ để được đứng trên hai cái bè nhỏ của mình. Tuy thế, Di Lâm cũng bị lún đến lưng quần, song không bị chìm hẳn, nhờ hai bè cây đỡ cho.

Bôkô cười khùng khục:

- Vậy mà cũng học đòi! Mở mắt to coi đây!

Dứt lời, gã lấy đà, ngồi thụp xuống rồi nhún một cái, nhảy cao gần đụng mây xanh. Trong lúc gã còn thích thú với tài nghệ tuyệt vời của mình, lộn quanh mấy vòng trên không trung, quên quay đầu lại, đâm thẳng đầu xuống hồ, thay vì xuống bằng chân trước, Di Lâm thừa dịp chuồn gấp qua bên kia bờ. Đằng này, Bôkô đâm đầu vào bùn, hoảng hồn vội cố ngoi lên, dụi mắt, vuốt mặt, cạy bùn trong mũi ra... quên phắt thằng nhóc táo gan...

*

Di Lâm đã theo lông chim vượt qua nhiều chặng đường nguy hiểm: lội suối, trèo đèo, leo núi, qua hồ, sang sông v.v... Chân rướm máu vì đạp đá, những viên đá nhọn lởm chởm đã đâm lủng giày anh. Nhưng chưa hết, lần này nỗi kinh hoàng của Di Lâm thật ngoài sức tưởng tượng của anh: trên lối đi, những viên đá nom như những sinh vật kỳ lạ, chúng ngọ nguậy, rì rào như trò chuyện bằng thứ ngôn ngữ riêng của loài đá vậy! Di Lâm cực kỳ sợ hãi, toan tìm lối khác nhưng trước mắt anh, cái lông chim vẫn thẳng đường, lướt bay trên những viên đá quái gở ấy. Di Lâm mím môi, cả quyết bước tới, không ngừng.

Đột nhiên, một sinh vật ghê gớm xuất hiện giữa những viên đá ghê gớm đó: ngón tay nhọn hoắt, hai chân xoắn vào nhau như hai sợi dây thừng xe chập làm một, thân hình cao lêu khêu đến nỗi Di Lâm phải ngẩng cổ lên mới thấy rõ mặt. Tuy chưa từng gặp mặt nhưng Di Lâm cũng đã biết danh, đó là Hà Man, kẻ độc ác nhất trong số những kẻ độc ác. Tên khổng lồ ghê gớm cất giọng ồ ồ:


- Đi đâu đó? Ai cho phép mày léo hánh đến đây?

- Hai chân tôi bảo tôi đến đây Di Lâm dõng dạc trả lời chân tôi nó bảo: đến coi ông Hà Man mạnh đến mức nào? Làm sao ông mạnh được, vì hai chân ông xoắn tròn lại, kia mà? Có đúng thế không?

Hà Man rất khó chịu mỗi khi nghe ai nhắc đến hai chân kỳ cục của mình. Hắn gầm lên:

- Hai chân tao thì can dự gì đến mày? Sức mạnh đâu ở hai chân? Hãy mở to mắt ếch mày ra mà xem: thấy những viên đá lúc nhúc dưới chân tao đó không? Chúng toàn là người cả đấy, nhãi ranh ạ! Tao biến chúng thành đá đấy! Mày muốn thành đá không, hở? Sao mày dám trêu vào tay tao? Xem đây...

Di Lâm chưa kịp ứng đối thì Hà Man đã cúi xuống, mấy cái móng nhọn hoắt của hắn khẽ vuốt lên vai Di Lâm một cái. Tức thì, trong một chớp mắt, Di Lâm trở thành một viên đá y như các viên đá xung quanh. Sợ gần ngất lịm đi, nhưng Di Lâm vẫn cố gắng thự chủ, giọng anh ta chững chạc:

- Tưởng gì! Ông nội tôi còn hơn ông nữa kia! Khi ổng giận ai, người đó tức thì thành đá, nhưng ông nội tôi chết rồi...

- Như vậy Hà Man vênh váo còn ai hơn tao nữa, chỉ xem?

- Không! Không còn ai, tôi phục ông lắm. Nhưng ông Hà Man ạ! Ông nội tôi tài hơn ông: ông chỉ hóa người thành đá, còn ông nội tôi hóa đá thành người được nữa kia.

- Ta không có mắc lừa mi, ta hoàn mi lại thành người để mi chạy trốn hả? Không đâu!

- Ông lầm rồi, tôi thề là không thèm chạy trốn, trái lại, tôi còn bắt ông cúi xuống... cúi sát gần tôi để nghe tôi nói một điều...

- Cúi xuống? Để nghe mày? Mày có điều gì hay ho đến mức tao phải hạ mình cúi xuống nghe?

- Ông không tin hẳn? Thì thôi vậy. Tôi chỉ làm điều ông nội tôi trăn trối: tìm ra ông và nói nhỏ vào tai ông (không cho lọt ra ngoài) điều bí mật đó, vì ông nội tôi bảo rằng ông đáng được biết điều này. Tại vì cha tôi chết sớm, nếu không thì...

Hà Man thích quá, hấp tấp hỏi dồn:

- Điều gì? Mày nói cho tao nghe ngay đi rồi tao sẽ tha mày...

- Ông làm sao cúi xuống sát đất được? Tôi thấp tè thế này này! Ông hoàn tôi thành người trước đã...

Nghe Di Lâm nói có lý, Hà Man thổi phù một cái lên viên đá nghĩa là Di Lâm tức thì Di Lâm hiện nguyên lại thành người như cũ. Di Lâm bảo hắn:

- Bây giờ ông cúi xuống đây, lắng tai nghe cho kỹ!

Hà Man gập người lại, vểnh tai lên. Di Lâm nhón gót vẫn chưa đặt miệng gần tai hắn được. Di Lâm lại bảo:

- Cúi xuống thêm tí nữa, tôi không muốn điều bí mật ấy lọt ra ngoài, gió có thể mang đi.

Hà Man lại cúi xuống chút nữa. Di Lâm nói vào tai Hà Man:

- Ông cao quá, thật đúng như lời ông nội tôi nó: không ai hơn ông, cao lớn, tài giỏi, trừ ông nội tôi, ông là người có quyền phép bậc nhất, ông đáng được làm Vua muôn loài... Tôi nhớ...

Tên khổng lồ thích quá, cười tít cả mắt, đôi cánh mũi phập phồng theo nhịp thở. Tức thì, Di Lâm nhồi hết số thuốc mang theo thành hai viên thực lớn và nhét vào hai lỗ mũi Hà Man. Thuốc hăng nồng quá làm Hà Man nhẩy mũi liên hồi, nước mắt nước mũi tuôn ra như nước suối. Bao nhiêu sức mạnh của Hà Man phút chốc tan theo nước mắt và nước mũi.

Thừa dịp tên khổng lồ yếu đuối, Di Lâm phóng thẳng về trước mặt, theo hướng lông chim.

*

Qua một con suối cạn nữa, Di Lâm thấy mình đối diện với một bức tường cao, dài vô tận. Chân Di Lâm bấy giờ đã mòn lên đến mắt cá, làm sao trèo qua khỏi bức tường? Di Lâm nhìn theo cái lông Đại Bàng: tường cao quá nên cái lông cũng khó vượt qua. Bỗng Di Lâm kinh ngạc dụi mắt mấy lần tiếp vì quang cảnh quái lạ vừa diễn trước mắt mình: cái lông chim đụng vào bức tường và tan biến thành một thứ bụi mỏng, rơi lả tả xuống đất! Sờ thử vào bức tường, cháy cả hai tay!

Nhìn lại thân mình càng thảm hại: chân mòn đến mắt cá, mặt mày rát bỏng, quần áo rách tả tơi, bụng dính vào lưng vì quá đói Di Lâm rút dao săn, quỳ xuống, rưng rưng nước mắt, thì thầm với chính mình:

- Ta đã cố gắng hết sức, ta không sợ chút nào và đã vượt qua nhiều thử thách nhưng bây giờ mọi cố gắng đều vô ích. Mặt mũi nào quay lại thấy bộ lạc và mẹ già? Chết đi cho rảnh... Ta xin đền tội!

Và nhắm mắt, đâm mạnh mũi dao vào ngực. Kỳ diệu làm sao: có tiếng một sức mạnh vô hình ngăn cản hành động của Di Lâm và tiếp đó, một giọng nói oai nghiêm cất lên:

- Hỡi Di Lâm! Quả tim người đã trở lại với con! Anh con đang đợi! Mở mắt ra mà xem! Gõ mạnh vào bức tường kia! Đừng ngại!

Di Lâm tức thì mở mắt, gõ mạnh vào tường: bức tường như nứt làm đôi, vừa đủ để Di Lâm lách mình vào.

Rồi thì bức tường biến mất, quanh Di Lâm hoa dại nở đỏ ối, chim hót líu lo. Sâm Lâm hiện ra, tay đang nắm tay một người con gái đẹp tuyệt vời, cả hai cùng cười với Di Lâm  một cái cười thân mật. Di Lâm đứng chôn chân tại đó nhìn sững người con gái: mắt nàng sáng như mặt trời, miệng tươi như đóa hồng và răng trắng như những miếng ngà voi đánh bóng. Nàng mặc cái áo nhung vàng có vằn đen như làm bằng da... cọp.

Sâm Lâm ôm chặt em trai:

- Em đã quá khổ nhọc vì anh! Em thật đáng khen! Đây là chị của em! Nàng vốn là con gái của Thần Hổ rừng này...

- Vì yêu anh cậu, tôi đã bắt cóc anh ấy. Nay cậu đã đến đây, hãy vào trình diện với cha tôi. Tôi chắc là ngài yêu cậu lắm! Cậu sẽ sung sướng mà ở đây!

Cô gái hổ tiếp lời Sâm Lâm. Di Lâm ngơ ngác hồi lâu mới lấy lại bình tĩnh, trả lời:

- Cảm ơn cô! Nhưng tôi đến đây mục đích đưa anh tôi về cùng mẹ già và bộ lạc. Tôi không có thì giờ tiếp kiến Thần Hổ...

Cô gái hổ cau mặt lại, trách:

- Cậu không nên nói thế, cha tôi mà nghe được thì nguy cho tánh mạng cậu...

- Em phải lựa lời, đừng làm phật ý Thần Hổ. Ở đây, ngài là chúa tể...

Di Lâm rất bực mình. Anh không ngờ anh mình bây giờ... hèn thế. Anh cau có nói:

- Em không phải lấy lòng ai cả. Em không làm gì tội lỗi, không phải quị lụy ai. Em cũng không cần an nhàn sung sướng. Mẹ và bộ lạc đang đợi chúng ta!

Sâm Lâm rất đỗi ngạc nhiên: thằng em tim thỏ của mình hách ra trò! Nhưng nó còn dại quá, không biết gì cả. Sâm Lâm dịu giọng bảo em:

- Mặt mày em cháy nám, tay chân sây sát thế kia, em hãy nghỉ lại đây cho khỏe rồi hẵng tính sau...

- Em chẳng cần nghỉ ngơi chi cả. Anh có về ngay không thì bảo?

Di Lâm gay gắt hỏi. Sâm Lâm tránh mắt người yêu, vẫn dịu dàng nói với em:

- Sao lại không về? Em đừng nghĩ nhầm! Nhưng thong thả, anh chưa về ngay được. Thần Hổ không có con trai...

- À! Có con trai hay không thì mặc xác ông ấy. Anh đừng quên mẹ đợi anh em ta!

- Cậu Di Lâm ơi! Cậu chưa biết gì cả! Cô gái hổ cũng dịu dàng không kém cậu đừng nóng nảy. Cha tôi muốn anh cậu gửi rể tại đây. Cha tôi chỉ có mình tôi, ông không muốn xa con gái. Vả lại, vợ chồng tôi sẽ cai trị muôn loài... về bộ lạc thì anh em cậu làm gì được như ở đây? Cậu mà thuận ở lại, cậu cũng được sung sướng như vợ chồng tôi vậy. Tôi là vợ anh cậu, tôi cũng thương cậu như anh Sâm Lâm. Ở đây, cậu sẽ không vất vả tấm thân, khỏi săn bắn, không lưới bẫy, hái củi, đốt than, nhất nhất đều có kẻ hầu người hạ...

- Nhưng mẹ tôi ở nhà và em tôi đang đói...

Di Lâm cố nén khóc trả lời. Sâm Lâm lại dỗ em:

- Ta sẽ đón mẹ và em đến đây chung hưởng phú quí...

- Lại còn bộ lạc ta? Còn mồ mả ông cha ta? Thôi, em chả bao giờ bạc bẽo ham phú quí đâu, đừng hòng cám dỗ.

Cô gái hổ tức giận lắm. Cô quen được tuân lệnh, nay thấy Di Lâm cứng cổ cãi trả, cô rất phật lòng. Nhưng cô nhớ lại: lúc Sâm Lâm bị cô bắt cũng tỏ thái độ y như em vậy, song ít lâu sau anh ta xiêu lòng... Tuy nhiên, cô làm bộ nhũn nhặn:

- Dù sao, cậu nên gặp cha tôi. Cậu xin phép ông, chắc ông nể cậu. Nếu ông bằng lòng, thì tôi cũng theo cậu về luôn.

- Phải đó! Em nên gặp Thần Hổ, và nhớ lễ phép, nghe không? Ngài hay nổi nóng lắm đó, đừng có dại dột mà khổ thân.

*

Thần Hổ ngự trên cái ngai vàng, nệm bọc bằng da báo. Trên đầu, ông ta đội một cái mão sáng lóng lánh ý chừng giát bằng ánh sáng loài đom đóm? cặm thêm vô số lông chim chia chĩa, nhọn hoắt và bóng ngời. Quanh hang động tường, trần bằng đá, được phủ kín bằng da nai và hươu sao. Nhiều vật dụng như bình trà, cốc nước v.v... đều được làm bằng xương súc vật, to có nhỏ có, dùi trống là một cái xương ống thật to của trâu hay bò rừng chi đó. Mặt bàn khảm bằng nanh heo rừng, ghế ngồi là những khúc xương ghép lại. Cạnh Thần Hổ, một cuốn sổ dày bằng gang tay, bọc da hươu cẩn thận đang mở ngỏ, ống bút là một cái xương ống được cưa ngắn Gớm! Xương loài thú gì mà to thế và cặm rất nhiều bút bằng lông gà gô, lông chim trĩ và cả lông công. Chà! Rõ là vị Thần Hổ này khá hiếu học. Di Lâm tự nhủ. Quá về phía phải trên bàn một cái dĩa bằng xương đựng rất nhiều trái rừng: dâu, mận, thơm, cam v.v...

Thần Hổ vừa dùng xong món điểm tâm chay. Ngài có vẻ bằng lòng, nét mặt tươi tỉnh hơn sau khi ăn mặn. Ngài đang dùng nước suối pha với mật ong. Dạo này Ngài hiền lành khác trước nhiều. Không phải bỗng dưng mà Ngài đổi tính. Số là Ngài mệt nặng, thuốc thang mãi không khỏi, có kẻ hiến kế nên nhờ đến một vị thầy thuốc dưới đồng bằng. Thần Hổ cười mà rằng:

- Bọn người vô dụng làm sao trị được bệnh ta? Chúng há không thường đánh cắp xương ta để làm thuốc trường sinh đó ư?

Nhưng mãi, bệnh ngài vẫn không thuyên giảm. Chồn hương, tên quỉ quyệt nhất trong đám bộ hạ của Thần Hổ, lại xui:

- Xin Ngài cho rước thầy thuốc loài Người lên chữa bệnh, khỏi thì tốt, bằng không, trị tội hắn cũng chẳng thiệt thòi gì, một công đôi việc.

Thần Hổ vô kế khả thi đành phải nghe lời.

Vị lương y này ở thung lũng sát chân núi. Ông ta sống thanh  bạch trong một cái chòi tranh. Đã 90 hơn mà  nom vẫn còn tráng kiện. Chồn hương vị sứ giả của Thần Hổ thoạt đầu giở giọng hống hách bảo ông:

- Thần Hổ đau nặng, Ngài cần lão lên chữa bệnh cho Ngài. Coi sửa soạn thuốc men đầy đủ, theo ta, chớ có chần chờ mà bỏ mạng!

- Tên Chồn hương điêu trá kia! Thần Hổ của mi không biết dạy mi lễ phép hay sao? Muốn mời thầy thuốc mà giở giọng đó ra thì còn lâu ta mới theo mi. Đừng tưởng ta sợ chết, nếu ta hèn như mi tưởng làm sao ta dám ở chốn hẻo lánh một mình như thế này? Hãy trở về tìm thầy thuốc khác!

Chồn hương đành xuống nước năn nỉ cùng ông. Ông dịu giọng bảo:

- Được, vì đức hiếu sinh, ta sẽ lên tận trên ấy bốc thuốc cho chủ mi. Nhưng loài chồn xưa nay vẫn là loài man trá không tin được. Ta biết đâu rằng Thần Hổ bệnh hay mi lùa ta để bán cho ác thú trong rừng? Nếu quả Thần Hổ vời ta, phải có thư mời cẩn thận, ta mới đi.

Chồn hương tiu nghỉu. Hắn không ngờ đến việc này, cứ ngỡ nghe lệnh đòi là người ta tức thì cúi đầu tuân lệnh. Hắn lại xuống nước nài nỉ, nhưng vị lương y nhất quyết đòi có thư mời mới đi. Sau cùng hắn cung cúc trở về mang bằng cớ đến. Hắn thêm thắt nhiều câu làm Thần Hổ rất căm vị lương y, nhưng thói thường, "đau chân há miệng", đành làm theo lời đòi hỏi.

Quả nhiên, được thư triệu mời vị lương y chuẩn bị đủ mọi thứ cần dùng, theo chồn lên núi.

Sau khi bắt mạch kỹ càng cho Thần Hổ, vị lương y đuổi hết tả hữu ra ngoài, đoạn nói riêng với Thần Hổ:

- Bệnh ngài nặng lắm, ngài phải gấp tìm người kế vị kẻo trở tay không kịp! Xưa nay tôi đã trị nhiều người, không ai bị bệnh nặng như Ngài...

Thần Hổ hốt hoảng, cố van nài:

- Xin ông thương tìm thuốc chữa lành cho tôi, ông muốn gì tôi cũng không tiếc...

- Kể ra, cũng không hẳn là tuyệt vọng, có điều nếu ngài tuân lời tôi đừng cãi thì tôi mới cố cứu Ngài.

- Tôi xin hứa, tôi xin hứa!

- Thế thì được. Nhưng hễ ngài làm ngược lời hứa một lần tức thì bệnh ngài tái phát, mà sẽ nặng hơn, tôi xin báo trước.

- Không! Tôi xin thề, không bao giờ tôi trái lời ông... Xin ông chữa cho...

- Trước hết, kể từ nay ngài không được xơi thịt nữa. Bất cứ thịt con thú gì...

- Hả? (Thần Hổ tưởng mình nghe lầm, nhảy nhổm lên, hỏi lại) ông nói...

Vị lương y gằn từng tiếng:

- Tôi bảo Ngài đừng xơi thịt nữa, một rẻo cũng không. Nhưng tôi không ép, nếu ngài thấy không thể được, thì tùy ngài, tôi xin từ giã!

Thần Hổ trù trừ một giây rồi ủ rũ nói:

- Thôi đành vậy, miễn sao cho lành bệnh là quí, nhưng rồi tôi sẽ ăn gì thay thịt?

- Kể từ nay, ngài chỉ được dùng mật ong, nước suối, và trái cây, tất cả trái cây, không cữ loại nào.

Thần Hổ rền rĩ:

- Khổ thân ta! Ăn thế ta ốm mất thôi! Chịu làm sao nổi?

- Xin Ngài đừng thắc mắc. Xem như tôi đây, tôi ăn toàn trái cây mà có ốm đau chi đâu, chẳng qua do thói quen mà ra. Rồi ngài xem, nhiều thứ trái cây lại còn ngon hơn thịt ấy chứ!

- Ông nói thế thì tôi hãy cứ nghe thế, chứ tôi không thể tin rằng trái cây ngọt hơn máu đâu...

- Chưa hết vị lương y ngắt lời không chỉ mình ngài chay lạt như vậy mà đủ, tất cả những kẻ ra vào trực dịch ở đây đều phải dùng thực phẩm như Ngài, sự giết chóc phải xảy ra cách đây trăm dặm mỗi chiều, có như vậy, thuốc tôi mới công hiệu, bằng không vô ích. Và điều kỵ nhất là không được giết người.

Bọn bộ hạ Thần Hổ nghe thế căm tức lắm, nhưng không dám nho nhoe phản đối nửa lời. Vì quả như vị lương y tiên đoán: Thần Hổ bình phục dần dần sau khi nghe lời khuyên nhủ của ông.

Kể từ ấy Thần Hổ ăn chay. Cũng nhờ thế mà Sâm Lâm toàn mạng. Và cảm sắc đẹp của con gái Thần Hổ, anh ta đã quên phắt mẹ, em, quên cả bộ lạc đang ngóng trông, yên vui trong rừng với con gái Thần Hổ. Bọn bộ hạ Thần Hổ và con gái cũng như Sâm Lâm nếu muốn xơi thịt thú phải đi trăm dặm. Vì lẽ đó, họ không biết Thần đổi tính, cứ ngỡ vẫn nóng nảy như trước nay.

Con gái Thần Hổ đưa Di Lâm đến ra mắt ông để cậu trai này ngán mà thuận ở lại và không đòi đưa anh về.

Nhác thấy người con trai dũng cảm, cháy nám chân tay, xác xơ quần áo, Thần Hổ đã sinh lòng mến phục. Lại nghe con gái kể cuộc hành trình muôn ngàn nguy hiểm của Di Lâm, ông càng mến phục hơn. Ông nhìn Di Lâm bằng đôi mắt hiền lành, âu yếm:

- Chưa nghe kể, ta cũng đoán ra nỗi nhọc nhằn của tráng sĩ rồi. Bây giờ, tráng sĩ muốn gì cứ nói lên đừng ngại. Ta sẽ giúp cho tráng sĩ được vừa lòng.

Di Lâm khấp khởi mừng thầm nhưng chưa kịp mở miệng, con gái Thần Hổ đã tranh nói trước:

- Thưa cha, con chắc cha sẽ vui lòng mời Di Lâm ở lại với ta, chú Di Lâm là em ruột của chồng con đấy!

- Thế thì còn gì bằng. Ta lấy làm vui mà lưu tráng sĩ lại đây...

- Ô không! (Di Lâm kêu to lên) Tôi không muốn ở lại, tôi sẽ về ngay.

- Tráng sĩ chê giang sơn ta chăng? Hay là tráng sĩ không thể ăn chay? Nếu chỉ có thế thì tráng sĩ đừng ngại: tráng sĩ có thể săn giết miễn cách giang sơn ta trăm dặm mỗi chiều là được. Ta không hẹp lượng đâu...

- Em nên nhận lời Thần đi, em không thấy Ngài quí mến em đó hay sao?

Sâm Lâm chen vào một câu làm Di Lâm nghẹn cứng cổ, hoa cả mắt vì giận anh. Trong lúc đó, Thần Hổ và con gái mỗi người miên man một ý nghĩ riêng. Cô gái thì mong cha giữ Di Lâm lại để Sâm Lâm khỏi phải về với mẹ, với em, Thần Hổ thì mong Di Lâm ở lại để ông nuôi làm dưỡng tử. Có một đứa con nuôi như thế, giang sơn sẽ vững vàng hơn nhiều (tuy là loài hổ, ông ta cũng tiêm nhiễm tập tục của người: trọng nam khinh nữ). Ông không trông cậy vào con gái, càng không trông cậy vào Sâm Lâm: hai người không bao giờ nhìn đến ông, họ bận đi săn và họ bận nhìn nhau, quên phắt cha già bệnh hoạn.

Di Lâm cắn môi suy nghĩ rồi chậm rãi trả lời:

- Tôi hết sức cảm tạ lòng tốt của Ngài, nhưng tôi không thể ham sung sướng nơi này mà quên mẹ, quên em. Nếu anh tôi đã bỏ sau lưng quê hương, chủng tộc thì tôi cũng cam cắt đứt thâm tình, trở lại một mình.

- Tráng sĩ sẽ gặp nhiều trở ngại.

- Tôi coi thường trở ngại, san phẳng nhiều chướng ngại vật để đến đây, và tôi sẽ lại trở về như thế.

- Ta có lời khen tráng sĩ nhưng đời sống ở quê hương tráng sĩ có gì đáng kể, đáng ham? Một chuỗi dài những nhọc nhằn vất vả, kia mà?

- Phải! Không có gì đáng ham, đáng chuộng ở xứ sở tôi, nhưng con người vốn có nguồn, có gốc. Người ta không thể quên cái gốc của mình... Tôi xin phép được lui ra, Ngài không hiểu được tôi đâu...

- Nếu ta không cho tráng sĩ về? Nếu ta giữ lại?

- Thì tôi quyết chết tại đây!

Di Lâm rút dao ra toan tự sát, vội vàng, Sâm Lâm ngăn em lại. Di Lâm rất đỗi giận anh, người con trai quay lưng lại không thèm nhìn Sâm Lâm nữa. Thần Hổ dịu giọng:

- Ta thử tráng sĩ đấy thôi. Hãy để tráng sĩ về. Ta sẽ cho bộ hạ đưa tráng sĩ đi bình yên và mau chóng.

Thần Hổ ngoắc chân một cái, tức thì chồn hương bước lại gần, cúi đầu chờ lệnh. Chỉ chớp mắt, một cái võng bằng dây gai được mang ra, hai bên phủ bằng hai cánh rèm da hươu, bốn con đười ươi được lệnh thay nhau khiêng Di Lâm xuống núi. Đằng trước cái đám rước đặc biệt nầy chồn hương và khỉ xách theo một xách trái cây tươi và nước suối pha lẫn mật ong để tráng sĩ giải lao.

Di Lâm yên tâm ngủ kỹ. Anh không thèm chào chị dâu, cũng chẳng chào anh. Di Lâm chỉ thủ lễ với Thần Hổ mà thôi.

Người ta đoán rằng nhờ ăn chay nên Thần Hổ thuần tính, nếu không, Di Lâm khó toàn mạng trở về.

Và can đảm của Di Lâm về sau được truyền miệng từ người này qua người khác, liên tục, không ngừng...


MINH QUÂN    

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 149, ra ngày 15-3-1971)

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

Cánh Tay Châu Thổ














Xóm Dinh ơi nhớ bao nhiêu nhớ
Bờ cái giòng kinh néo bước chân
Quê nội quê ta quê tất cả
Dù xa vẫn nhớ đất Gò Công

Nhà lớn ba căn nay đã cháy
Một đêm trời lặng gió hờn căm
Dựng lên nền đất than đen ngún
Một túp lều con, những tấm lòng

Nội mót đồng tiền ra bán quán
Nhờ trong cuộc sống xóm làng quen
Gởi bà ba Rúm từng phiên chợ
Từng ký đường đen, gói bánh con

Quán nhỏ trong vòng tay xóm nhỏ
Nuôi nhau là cỏ nước sông đầy
Bà con đặt nội: bà ba Tiệm
Cho đúng tên người tuổi khói bay

Ngọn trúc xanh um vầng trán nội
Gọi chiều tưới nước ủ thêm phân
Gió đưa cành lá lao xao thổi
Nội vuốt ve từng cây bút măng

Chặt trúc phơi khô rồi chẻ nhỏ
Nội đươn thúng rổ đựng mồ hôi
Bàn tay khô móp chai tim phổi
Vẫn vót nan và lận thúng đôi

Bổi trúc thơm mùi hương tóc nội
Gội đầu chùm kết xức dầu dừa
Đường mây nội vuốt sao dài quá
Hơn cả đường mòn bên lối xưa

Đường xưa nội nhớ chăng ngày đó
Ngày của hoa cười giữa lá xanh
Ngày tiếng chim câu rù mái lá
No đầy bông lúa chín đầy sân

Ngày đó xa hơn mùa nước nổi
Nội về phố chợ xóm Gò Tre
Tuổi già lẫn lộ người mê tỉnh
Vẫn nhớ giồng khoai khóm trúc xưa

Nội nhớ thằng con bầy cháu nhỏ
Giữa vùng khói loạn cháy bùng lên
Còn đâu tiếng hát thơ ngây nữa
Nó lớn như Phủ Đổng lớn lên

Sức mòn nội tắt trong đau yếu
Hơi thở đùn lên ngọn trúc già
Con cháu đưa về thôn xóm cũ
Cho đời nội sống ruộng nhà ta

Dù nội nằm sâu giữa đất này
Bờ tre bụi lá vẫy bàn tay
Phù sa nuôi lớn trăm hơi thở
Nối tiếp mà đi thổi gió bay

Quê hương cha dựng nghìn năm trước
Mẹ góp chung bàn tay đắp xây
Châu thổ nằm nghe con nước dậy
Đàn con về nối lớn vòng tay.

                                NHƯ UYÊN THỦY
                             (Văn đoàn học sinh Sàigòn)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 197, ra ngày 15-3-1973)

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2019

Lối Vào


Một chút lạc loài
còn trên bờ môi
em vừa chào đời
chưa tròn thôi nôi

Em hãy lớn lên
và nhìn cuộc đời
Em hãy nhìn đi:
đời còn xa xôi

Cơn mê muội này
còn trên dấu tay
còn trên vết giày
còn đây... còn đây

Hãy nhìn đi em
thế giới loài người
rồi em cầu xin
với cả mọi người

Xin cho tôi một ngọn nến
và một lối vào
xin cho tôi đến
tình người nay đã hư hao.

                             HUY ĐỨC

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 102, ra ngày 15-3-1969)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>