Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2019

Còn Bé...


1

Đã từ lâu, cứ khi Ba hỏi: "Con có thương Ba không?", em luôn luôn trả lời rằng: "Con thương Ba, thương Má bằng tất cả tình thương con có". Câu nói ấy, em học được ở thầy giáo, người đã cho em rất nhiều cảm tình, dạy em rất nhiều điều ích và thường hay khuyên nhủ, an ủi em mỗi khi thấy em buồn. Nhưng mãi cho đến tối qua, em mới biết rõ thế nào là tình thương và em mới biết câu nói: "Thương Ba bằng tất cả tình thương con có" là đúng nghĩa, thật đúng nghĩa.

Nhà em nghèo, Ba em làm phu khuân vác, má em bán hàng rong. Em là con cả, dưới em, còn bốn đứa nữa. Ấy, chuyện đời cứ kỳ cục vậy, hễ nhà nghèo là thường đông con, thành ra, đã nghèo, càng nghèo thêm. Mà năm đứa đã thôi đâu, má em lại sắp cho ra đời đứa thứ sáu nữa. Thời gian má nằm chỗ là gia đình hơi khổ một chút đây, ba sẽ phải thay má lo chuyện nhà, em với con Nhàn em gái kế em, cũng vậy. Tuy nhiên, em có phần đỡ vất vả hơn con Nhàn, vì em là con trai, năm nay lại phải học thi vào đệ thất trường công. Ba em ít khi nhờ em làm việc nhà lắm, vì ba muốn em có thì giờ học, học để cố gắng thi vào đệ thất. Phải đậu mới được! Ba em thường bảo với em thế và em cũng vẫn tự nhủ mình. Vì em biết, dù thế nào đi nữa, ba em cũng không chịu để em bỏ học ; nếu không đậu vào trường công, ba cũng đành cố gắng làm lụng để cho em lên đệ thất trường tư. Ba vẫn thường tâm sự với má rằng: "Tôi chỉ mong sao thằng An học giỏi. Ngày sau đây, khi nó có mảnh bằng tú tài trong tay là tôi mãn nguyện lắm rồi. Thời buổi này, ít nhất cũng phải có Tú tài, chứ chẳng may thất học thì khổ cả một đời. Nhìn lại thân mình mà lo cho con quá..." Đấy, ba em lo lắng cho em như thế đấy, bảo sao em không cố gắng học hành. Tháng nào, em cũng đưa về trình ba một tấm bảng danh dự. Những lần như thế, ba thường cho em ra ngoài trụ sở Ấp xem truyền hình gọi là để thưởng. Em dẫn theo con Nhàn, thằng Hạnh, thằng Phúc, chỉ để con Ái ở nhà, nó còn bé quá, đi một tí là đòi về ngay.

Tối hôm qua, ba cho em đi xem truyền hình, vì hôm kia em mới đưa về bảng danh dự hạng nhất. Thằng Phúc bị sổ mũi ba không cho đi, lúc em dẫn con Nhàn, thằng Hạnh kéo đi, nó khóc ầm lên làm em chẳng còn lòng dạ nào muốn đi nữa. Thời may, ba dỗ nó nín, bảo em cứ đi. Thế là chúng em chạy thật nhanh về phía trụ sở ấp, nơi có dựng chiếc máy truyền hình. Người ta đứng coi đông lắm, em phải dẫn hai đứa em len lỏi mãi mới tìm được một chỗ xem rõ. Gì chứ đi xem truyền hình thì con Nhàn sướng mê tơi, nó chỉ cầu cho em học giỏi để hàng tháng được ba cho đi xem vài ba lần. Nó giành việc với em, nó nói: " Anh An đi học đi, em làm cho. Không thôi anh không được bảng danh dự thì sao?". Con Nhàn thương em như thế, còn em, chẳng lẽ em không thương nó sao. Thương nhiều lắm chứ! Em dạy nó làm toán này, em đọc cho nó nghe những bài sử ký hay hay này, em tập viết cho nó này... Nhờ thế, tuy ít học, thỉnh thoảng con Nhàn cũng đem về được một tấm bảng danh dự của cô giáo lớp ba.

Thằng Hạnh cũng vậy, nó khoái coi truyền hình mê luôn. Nhiều lần em gặp nó đứng tần ngần một mình ngắm nghía chiếc thùng gỗ đựng máy truyền hình bên trong say mê đến nỗi em gọi, nó cũng chẳng biết. Mà nào lúc ấy có mở máy đâu!

Hai đứa em của em nhìn lên khung máy chăm chăm. Em thì không thế, em thích nhìn chúng xem hơn. Nhìn hai đứa xem không chớp mắt mà em thấy vui vui là... Em thấy sướng ghê đi, vì mình đã đem đến cho các em niềm vui thích. Ba em có hứa nếu em thi đậu đệ thất, ba cho chúng em đi xem truyền hình suốt một tuần. Em chưa cho đứa nào biết cả vì muốn dành cho chúng nó một sự ngạc nhiên. Nhất định em phải thi đậu...

Con Nhàn chợt đập đập vào em nói:

- Anh An xem kìa, ai giống ba quá!

Thằng Hạnh cũng bảo:

- Đúng ba mình rồi...

Em ngước nhìn lên khung máy truyền hình. Đúng rồi, hình ba em kìa. Ba em đang vác một bao gạo từ nhà kho đi ra. Ba ở trần, da đen đủi và bắp thịt nổi lên từng cuộn. Gương mặt ba em mỗi lúc một rõ hơn, cuối cùng, em thấy cả những giọt mồ hôi lăn dài trên trán ba. Lúc gương mặt ba được rọi lớn nhất, em thấy ba liếc nhìn lên. Có lẽ bấy giờ ba mới biết là có người quay phim mình. Rồi hình ảnh ba em mất đi, thay vào đó những hình ảnh khác của cuốn phim nói về hoạt động của giới công nhân.

Thằng Hạnh thấy ba có mặt trên truyền hình sướng quá, ôm lấy em nói như hét: "Ba mình chì quá, anh An há". Câu nói khá to của nó làm một ông đứng cạnh khó chịu, ông ta mắng: "Làm gì mà hét ầm lên thế, để người ta nghe một chút coi nào". Thằng Hạnh sợ, nín khe, nhưng vẫn len lén nói nhỏ với em: " Về nhà kể cho ba nghe, nghe anh An". Em gật đầu.

Lúc hết cuốn phim, nhân lúc máy ngưng phát hình, chỉ vặn nhạc, người đàn ông khi nãy mới quay hỏi em:

- Ba mày là ai vậy?

Em chưa trả lời, con Nhàn đã nhanh nhẩu:

- Cái ông vác bao gạo đó!

Nghe xong, người kia khẽ bĩu môi, không nói thêm. Con Nhàn với thằng Hạnh thì không hiểu, nhưng em hiểu, ông ta khinh ba em! Tự dưng em thấy mắt rưng rưng.

Lúc về, em không kể lại cho ba nghe, con Nhàn, thằng Hạnh cũng quên tuốt, nên ba em không biết gì cả. Ba không biết là phải, biết làm gì ba nhỉ? Để mình con biết đủ rồi. Mình con hiểu ý nghĩa cái bĩu môi của người đàn ông kia đủ rồi! Em nằm nghĩ ngợi mãi không ngủ được. Tình thương của ba em bỗng dâng lên thật cao, cao hơn núi Thái Sơn nhiều. Ba em làm việc cực nhọc quá, khổ sở quá. Nước mắt em rơi lúc này đây đâu thể so sánh với những giọt mồ hôi lăn trên trán ba ; những gì em nghĩ ngợi sao bằng những nếp nhăn trên trán ba... Em càng thương ba hơn khi nghĩ đến cử chỉ của ba những lúc ở nhà. Thật trái hẳn với hình ảnh em thấy trên khung kính truyền hình. Dù làm việc cực nhọc, chẳng bao giờ em thấy ba than phiền, chẳng bao giờ em thấy ba để lộ sự cực nhọc của mình. Ba luôn luôn tìm cách làm cho mọi người trong nhà tưởng là ba làm việc không có gì khó nhọc. Ba còn hay tạo dịp cho chúng em cười đùa nữa chứ. Ba ơi! Con thương ba nhiều lắm, nhiều nhiều lắm, ba biết không? Và chỉ có câu nói: "Con thương ba với tất cả tình thương con có", may ra mới cho bà biết tình thương của con với ba...


2

Hôm trước, nhà em thật vui vẻ. Tiếng cười nói dường như không lúc nào ngơi. Má em vừa sinh cho chúng em một đứa em trai. Má còn nằm nhà thương mấy ngày nữa mới về, thành ra, chúng em ở nhà tha hồ đùa nghịch, không sợ bi la là: "Có im không để cho em ngủ, lũ quỷ", như dịp má sinh em Ái.

Buổi tối, sau khi đi thăm má với em bé về, em thấy ba hơi buồn, dù vậy, ba vẫn chỉ buồn thoáng qua, rồi lại vui với chúng em. Hình như ba có chuyện gì phiền ở đằng chỗ làm. Nhưng thôi, gác chuyện ấy lại đã, phải bàn xem đặt tên em bé là gì rồi hẳn hay. Ba em đặt tên cho chúng em bằng cách cứ hai đứa, ghép lại, lại thành một chữ có nghĩa. Em với con Nhàn thành an-nhàn, ý hẳn ba muốn em với nó sung sướng. Hai đứa kế ghép lại là hạnh phúc, đứa thứ năm là con Ái, giờ đến đứa thứ sáu... Và ba em... bí. Em cũng vậy, nghĩ cả tiếng đồng hồ vẫn chưa tìm ra chữ gì đi sau chữ ái để đặt tên cho em bé. Ái... gì nhỉ?... Ai mà biết được! Ba em cứ nhắc đi nhắc lại câu ấy mãi. Con Nhàn trách ba: " Ai bảo lúc đặt tên em Ái, ba không nghĩ tên cho em bé luôn", ba chỉ cười trừ.

Mãi lúc gần đi ngủ, em mới nghĩ ra một ý, là nếu không tìm được chữ đi sau chữ Ái, thì tìm chữ đi trước vậy. Em nói với ba, nghe xong, ba vỗ đùi đánh đét một cái, cười ha hả, sung sướng bảo em: "Vậy mới đáng là con của ba, thông minh đáo để". Em thích chí, ưỡn ngực ra dáng. Rồi cũng chính em trình ba tên em chọn cho em bé trước tiên, em chọn chữ Nhân, Nhân ái mà! Nghe em nói xong, con Nhàn vỗ tay reo: "Hay quá nhỉ, tên em bé hơi giống tên em, thật thú". Thằng Phúc lại thắc mắc: "Nhân là gì?". Thằng Hạnh làm ra vẻ ta đây, giảng: "Mầy không nghe mấy ông bán bánh rao: bánh bao nhân lạp xưởng đó sao, nhân đó chứ còn gì nữa". Ba đập thằng Hạnh một cái, bảo nó chỉ nói bậy, đoạn, giảng cho tất cả nghe.

Lúc đi ngủ, em ước rằng em sẽ mơ một giấc mơ thật đẹp và em đã mơ...

Nhưng... tất cả chỉ là chuyện của hôm trước, chứ còn bây giờ, tìm được một tiếng cười trong nhà em thật khó, có chăng là tiếng cười gượng của ba em. Trước hôm má em sinh, trong giờ làm việc đằng nhà kho, ba em cãi vã với ông cai Tân. Em không cần hỏi ba cũng biết vì sao lại có chuyện cãi vã, vì đây không phải là lần thứ nhất, mà đã nhiều lần ba em cãi nhau với ông cai. Lần đầu tiên là bởi ông cai không chịu phát lương đúng ngày. Ba em mới hỏi, và hai người xích mích từ đấy. Những lần sau, ông cai để ý thù, cứ tìm kiếm, bới móc những gì ba em sơ sót để la rầy. Ba em nhiều tự ái, đâu chịu thế. Thành ra cứ có chuyện xích mích luôn. Tưởng như lần trước, cãi vã rồi thôi. Lần này, ông cai nhất định hạ ba em ngón đòn chót. Chẳng hiểu ông ta làm cách nào, khi ba em đến làm việc, ba được mời lên văn phòng, ở đây, người ta đuổi ba em với một lý do thật giản dị: thừa nhân viên, đồng thời, dúi cho ba em mấy ngàn bạc gọi là bồi thường...

Trước một việc quan trọng như thế, ba không giấu em. Lúc em đi học về, ba gọi lại gần, nói thật não nuột: "Ba mất chỗ làm rồi". Em đứng sững nhìn ba tưởng mình mơ. Ba em mất chỗ làm rồi sao? Rồi lấy tiền đâu ăn tiêu trong thời gian má em còn phải nghỉ ngơi, mà cho dù má em có đi bán hàng trở lại, cũng làm sao đủ chu cấp cho tám miệng ăn? Em muốn khóc, nước mắt đọng bên mi chỉ chực trào tuôn, em hỏi lại ba: "Thật không ba?" Ba em gật đầu thật sâu, và nước mắt em bắt đầu chảy...

Má em chưa biết chuyện này vì ba em không cho biết, ba dặn em phải giấu má, sợ má buồn. Ba nói, với tiền dành dụm bấy lâu, thêm vào số tiền bồi thường, gia đình em có thể sống được hơn tháng, thời gian đó, ba sẽ đi tìm việc làm khác... Ba còn cấm em buồn nữa. Nhưng ba ơi! Ba cấm con buồn mà ba lại chẳng gắng vui, hỏi sao con nghe lời ba được. Và bây giờ, con đang buồn đây, ba biết không?

Bỗng nhiên, hình ảnh ông cai Tân hiện rõ trước mắt em, ông ta có xa lạ gì với em đâu. Ngày nào đi học em lại không qua nhà ông ấy. Cái mặt ông cai mới thật dễ ghét. Suốt ngày chỉ cau có... Không phải em giận vì ba em mất chỗ làm nên nói thế, mà thật vậy. Lối xóm chẳng ai ưa ông cai được, em nghe nhiều người than phiền về ông lắm. Ông Bảy ở bên cạnh than là ông cai làm thêm chái nhà lấn cả sang đất của ông Bảy. Ông Bảy không bằng lòng, hai người mới cãi nhau. Nhưng cuối cùng, ông Bảy cũng thua. Ông cai quen lớn mà! Cho đến ông hiệu trưởng trường em còn nể nữa là... Con gái ông cai là con Cúc học cùng lớp với em, một lần, nó dám cãi thầy, thầy mắng, nó cũng chẳng sợ, lại vẫn cứ cãi tay đôi với thầy chứ. Thầy giận lắm, dẫn nó xuống văn phòng ông Hiệu trưởng. Tụi em tưởng thế nào con Cúc cũng bị phạt ai ngờ nó chẳng sao cả, lại còn vênh cái mặt lên mỗi lần gặp thầy ngoài đường. Nó nói với một con bạn: "Tao chỉ rán học với "thằng chả" vài tháng nữa là vô trường công rồi. Hồi đó, tao khỏi ngán "thằng chả" nữa". Dường như nó chắc rằng mình đậu vào trường công hay sao ấy. Chắc nhờ tiền của ông cai. Mà ông cai làm gì lại nhiều tiền thế nhỉ? Làm những người thợ như ba em thì lương được bao nhiêu (có lần em nghe ba em bảo thế). Chắc ông cai còn làm thêm gì nữa đây? Em nghĩ.

Ngồi nghĩ lan man về ông cai mãi cũng chán, thôi, đừng thèm nghĩ tới họ nữa, nghĩ lại cảnh nhà mình còn hơn. Và... kìa, ba em buồn xo, chắc em cũng vậy. Chỉ có lũ nhỏ chưa biết gì nên còn đùa nghịch, nhưng thấy ba buồn, tự dưng chúng cũng chỉ chơi đùa trong im lặng... Nhìn nét mặt buồn rầu của ba em, em muốn khóc quá. Trời ơi! Sao em còn bé quá, sao em không làm được gì giúp ba hết vậy? Sao em không làm ra tiền để phụ giúp gia đình? Biết bao giờ em mới đủ lớn để làm những việc ấy? Bao giờ?... Trời ơi!


3

Giờ ra chơi, thầy gọi em lên bàn thầy hỏi chuyện, vì lúc nãy, em không thuộc bài sử ký. Em nhìn thầy sợ sệt dù biết chắc thầy không mắng em. Đã nhiều lần em không thuộc bài mà thầy đều tìm biết lý do, thầy không trách gì cả. Lần này, thầy vẫn hỏi em câu hỏi mọi lần:

- Hôm qua nhà em có chuyện gì bận vậy?

Em đứng im, nửa muốn trả lời, nửa lại muốn giấu. Em không muốn nhắc đến chuyện buồn của gia đình, nên cuối cùng, em nói dối:

- Thưa thầy, đêm qua con mải coi truyền hình nên lỡ không học bài... thầy tha cho...

Nhưng thầy lắc đầu, nói:

- Thầy không tin, con giấu thầy.

Em bậm gan nói chắc:

- Không, con nói thật.

Nhưng rồi cuối cùng em cũng đành nói cho thầy biết hết vì thầy cứ nói em giấu thầy.

Em vừa kể chuyện, vừa thút thít. Từ chuyện ba em mất việc làm đến chuyện má em mới ngã bệnh tối qua... Khi má em ở nhà thương về, ba em không còn giấu chuyện nữa. Ba kể cho má nghe. Má buồn lắm, nhưng không thấy má kêu than một tiếng. Má chỉ nói: "Phần số mình như vậy thì gắng chịu chứ biết sao". Rồi khi má đủ sức, má lại đi bán hàng rong. Má dậy sớm hơn trước, lại về muộn hơn trước, nhưng vẫn không kiếm thêm được bao nhiêu. Thấy vậy, ba em ngắn má đừng thức khuya dậy sớm nhiều, sợ mất sức. Em cũng nói thêm vào. Má đâu nghe. Chiều rồi, trời mưa như trút. Má gánh hàng về giữa cơn mưa. Đến tối, má mắc bệnh. Ba em và chúng em lo lắng lắm. Em với con Nhàn phải dỗ mãi, thằng Nhân mới chịu ngủ yên để ba cạo gió cho má. Xong, em còn phải thức để đun nồi nước cho má xông. Và em không học bài...

Thầy nghe em kể chuyện gia đình thì thương em lắm, mới nói:

- Cảnh nhà con thật khốn khổ, thầy tiếc rằng mình không mấy dư dật, thành ra chỉ biết đứng bên lề mà thương cảm. Dù sao, thầy cũng cố dò hỏi để tìm cho ba con một chỗ làm. Riêng con, con đã biết ba con đang buồn, vậy con phải cố học cho chăm để ba con bớt buồn đi, giờ ra chơi con đừng ra ngoài nữa, cứ ở trong lớp mà học...

Em nghe lời thầy, ngồi lại học bài. Em học thật chóng thuộc vì vừa rồi, em nghe thầy bảo sẽ tìm giùm ba em một chỗ làm. Ba ơi, ba sắp có việc làm rồi, ba có biết không?

Về học, em kể lại với ba, ba mừng lắm. Má đã bớt bệnh, nghe nói cũng vui lây, má bảo bệnh má nhẹ hẳn đi. Nhưng niềm vui chợt tắt khi ba em hỏi: "Nhưng biết ba có làm được việc thầy giáo tìm cho không?" và em không trả lời được. Dù sao, mọi người vẫn hy vọng. Ngày mai, em sẽ hỏi lại xem thầy định tìm cho ba em việc gì? Má em cứ cầu Trời khẩn Phật cho ba em chóng có việc làm, vì nửa tháng trôi qua, tiền dành dụm đã tiêu đến phân nửa. Ba em thì nóng ruột không yên, hỏi em thật nhiều về thầy giáo. Em trả lời những gì em biết. Cuối cùng, ba bảo em: "Sáng mai con dẫn ba đến gặp thầy giáo nghe". Em gật đầu nói:

- Vâng, ngày mai...


4

Gần nhà em có trường dạy lái xe hơi, nơi đó, ba em có quen biết chút đỉnh. Nhưng muốn học lái xe hơi đâu phải chóng, quen biết bất quá họ dạy tận tâm hơn, hoặc hơn nữa, lúc thi được nâng đỡ, chứ quen biết đâu đã đem đến sự thành thạo. Ba em lại không muốn có cái bằng trong tay mà chạy xe chưa vững, thành ra ba định học những nửa tháng thay vì một tuần như ông chủ trường nói. Tiền học tuy được bớt chút ít nhưng vẫn là một gánh nặng mà ba em thấy khó vượt qua. Ba má và em lo nghĩ không ngơi về việc ấy.

Mãi một tuần sau ngày thầy ngỏ ý tìm cho ba em một chỗ làm, thầy em mới hân hoan đến tận nhà em báo tin rằng vừa nghe một người bạn cần tìm tài xế lái xe hơi nhà. Thoạt nghe, ba em mừng thật mừng, nhưng nghe rõ ra, ba em bỗng thở dài chán nản, vì ba có biết lái xe đâu. Thầy em mới an ủi và nói nếu ba em chịu đi học lái xe, thầy sẽ nói với người bạn kia dành chỗ cho ba em. Ba má em cân nhắc mãi rồi mới nhận lời... Và, trở ngại thứ nhất, cũng là trở ngại khó khăn nhất là tiền học... Ba em định hỏi mượn thầy em, vì trong nhà tiền đã cạn, chỉ còn đủ ăn tiêu nửa tháng, nếu đem đóng tiền học hết thì còn gì? Sau ba nghĩ lại, lại thôi. Trước là bởi ba không muốn phiền thầy em nhiều, sau là bởi thầy em cũng không dư dả mấy. Đành nghĩ cách khác vậy. Làm thế nào để có tiền bây giờ? Đi vay ư? Vay ai? Và ai cho mình vay trong lúc mình đang không có việc làm? Cầm cố ư? Nhà còn gì đáng giá mà đem cầm cố.

Giữa lúc gia đình em đang lo lắng, thời may nhà ông Bách ở đầu xóm cần tìm thợ sửa lại nhà. Tất cả là ba người, hai thợ xây và một phụ hồ. Ba em không biết xây đành làm chân phu. Kệ, gì cũng được, miễn có việc làm là được. Và ba em tính với tiền công những ngày làm cho ông Bách, ba chỉ còn thiếu khoảng vài trăm. Số tiền ấy hiện chưa biết làm sao có nhưng cũng kệ, tới đâu hay đó. Ba, má em cùng nói vậy.

Riêng em, em đâu chịu nghĩ thế. Đã lo phải lo cho trót chứ, ai lại để nước đến chân mới nhảy. Nghĩ thì nghĩ thế chứ thật ra, em cũng chả biết phải làm sao để giúp đỡ ba má cả. Dầu vậy, em vẫn suy nghĩ thật lung. Câu hỏi hiển hiện thường xuyên trong đầu óc em là: "Làm sao để có đủ tiền cho ba học lái xe?".

Câu hỏi này, em đã có trả lời. Lớp em thường có thằng Ngoạn, nghèo nhưng khá lắm, nó học suýt soát em. Thường cứ khi người ta phục nhau vì tài, người  ta dễ thân nhau. Em cũng vậy, em thân với thằng Ngoạn từ dạo đầu năm. Vì vậy, em được biết nhiều về gia đình nó. Năm nay Ngoạn mới mười hai tuổi mà đã phải lo kiếm tiền phụ giúp gia đình rồi. Ba nó đạp xích lô, má nó bán chè. Gia đình cũng đông con nên Ngoạn phải ra sức làm việc. Nó lãnh phần chia báo tháng cho những gia đình quen quanh vùng, ngoài ra, nó còn bán cà rem, bán bóng, kẹo, đậu phọng nữa. Ngoạn thu xếp việc học với việc làm vén khéo lắm, thành ra nó không mất buổi học nào mà vẫn đi bán được.

Mấy hôm nay Ngoạn bệnh. Ngay chiều hôm đầu nó nghỉ học, em đã đến tận nhà thăm bạn. Ngoạn cảm động lắm. Trong lúc nói chuyện, nó thì không, nhưng má nó thì than ghê đi, bà nói nó không đi chia báo được, sợ khách hàng họ bỏ mua chỗ khác thì khổ. Mà ba nó lại không thể thay thế, vì nhiều lẽ. Nghe nói, óc em lóe lên một tia sáng. Đã có lần, em theo Ngoạn đi chia báo và em đã nhớ hầu hết khách hàng của nó. Em lại biết cả chỗ lãnh báo nữa. Ý nghĩ giúp bạn ấy, em nói ngay cho Ngoạn biết. Má Ngoạn mừng lắm, riêng nó có vẻ không vui, có lẽ nó sợ em phiền. Em phải bảo cho nó biết là em có thừa thì giờ (!) để giúp nó, vả, bạn bè giúp nhau những lúc này mới quý. Nó phải bằng lòng.

Em không cho ba má em biết sợ không được phép, thành ra em đành nói dối quanh. Lúc thì lý do này, khi lại lý do nọ. Ba má em không nghi ngờ gì cả, vì em nói dối khéo (!), lại hợp lý nữa (!). Đằng khác, em chỉ đi có bốn ngày, mỗi ngày có nửa tiếng. Đấy là không kể những lúc em lén làm một việc mà em cho là bậy hết sức. Thế mà em vẫn làm.

Việc ấy là thế này. Lúc đầu, em có ý đi chia báo hộ thằng Ngoạn, hoàn toàn là do lòng em muốn giúp bạn. Nhưng sau đó, về nghĩ lại, em mới sực nhớ là ngoài việc chia báo, Ngoạn còn bán cà-rem, bán bóng... Ba em lại đang cần tiền. Vậy thì tội gì em không mượn đồ nghề của Ngoạn đi bán kiếm thêm chút ít. Khi nghĩ đến đây, em đã biết là em sắp làm một cuộc phiêu lưu. Vì đi bán đâu phải dễ, phải rao làm sao, phải đối xử với khách làm sao? Lại nữa, nhất định em chả dám cho ba má em biết rồi. Muốn đi bán, em phải đi lén. Mà lén lúc nào? Còn có lúc nào để đi được, ngoại trừ... liều trốn học. Như thế, ba má em sẽ chẳng biết được. Có khó làm sao xin nghỉ. Em ngỏ ý với Ngoạn, nó bằng lòng và em đã dối thầy để nghỉ học.

Dối cha mẹ, dối thầy, em biết tội ấy nặng lắm. Nhưng biết sao hơn khi em muốn giúp ba đủ tiền đóng học phí học lái xe. Cuộc phiêu lưu của em đem kết quả không ngờ. Mỗi buổi đi bán, em lời đến gần trăm bạc. Thật là một số tiền to lớn. Em đem tất cả lén bỏ vào hộp tiền của má em lúc má mới gánh hàng về và vì bận với em bé, má chưa kịp đếm ngay. Hôm đầu, má em đã phải ngạc nhiên lắm. Má cứ thắc mắc không biết tại sao hôm đó lại lời nhiều quá. Hay là có ai lầm lộn gì. Em biết nếu cứ bỏ cả tiền kiếm được vào cho má, má sẽ không khỏi sinh nghi. Cho nên, hôm sau, em chia đôi, một nửa đem lén bỏ vào ngăn bóp thật kín của ba. Em định có lúc sẽ làm bộ lục lọi bóp của ba, và phát giác ra số tiền đó, bảo là của ba quên bấy lâu nay mà không biết. Và má em không còn ngạc nhiên gì nữa. Má vui lắm, má cứ bảo mấy ngày nay được lời nhiều. Em thấy thế, thích ghê.

Nhưng rồi thằng Ngoạn hết bệnh. Em phải đem trả đồ nghề cho nó. Má nó cảm ơn em rối rít và dúi cho bằng được vào tay em tờ giấy bạc năm chục. Năm chục ấy, em lại lén bỏ vào hộp của má.

Sau cuộc phiêu lưu lắm kỳ thú và hồi hộp ấy, em tưởng sẽ không ai biết gì hết. Chẳng dè, một hôm, hậu quả việc em làm đưa đến. Thầy giáo em thấy em nghỉ học mấy ngày liền với lý do bệnh, mới đến nhà thăm em. Bấy giờ ba má em mới phát giác ra việc em trốn học. Ba má gặng hỏi em vì sao lại bỏ học, nhưng em nín thinh. Em không muốn nói rõ việc mình làm. Cuối cùng, em mới bịa ra một cái lý hầu biện hộ cho sự nghỉ học của mình: là em chán học rồi!

Tức thì em bị ba đánh một trận nên thân. Ba nói với em nhiều lắm. Nào là còn bé mà không chịu học hành, lớn lên sẽ phải chịu cực khổ như ba ; nào là em đã phá vỡ hy vọng của ba bấy lâu nay. Má em không nói gì nhưng cứ nhìn em rồi khóc. Lúc ấy, em muốn nói ngay ra cho ba má biết hết, vì sao em nghỉ học, vì sao em cứ xin đi hơn nửa tiếng mấy buổi chiều liền. Nhưng rồi em lại thôi, em đành câm nín sợ ba má phải bận lòng nhiều vì em.

Sau trận đòn, em phải hứa với ba thật nhiều. Những lời hứa đó, không là những lời hứa suông của những đứa trẻ vì sợ đòn mà hứa cho xong chuyện, mà là những lời cam kết chân thành nhất của em.

Thầy giáo em trái lại, không trách em một câu. Chỉ cho em những lời khuyên nhủ. Và rồi... Mọi người đều tha thứ cho em, tha thứ cho em vì vụng dại đã trót có ý chán học (!) để ba má buồn phiền.

Em học hành lại tử tế trong khi ba em bắt đầu học lái xe. Mỗi đêm em đều cầu nguyện cho ba em chóng lấy được bằng, chóng có việc làm. Em nghĩ, ngoài cách đó ra, không còn cách nào nữa. Em còn bé.


5

Những phút giây sung sướng nhất đời em từ trước tới nay phải kể là lúc em nghe tên mình được đọc lên trước tiên trong danh sách học sinh trúng tuyển đệ thất. Thằng Hạnh cùng đi nghe kết quả với em thấy thế mừng quýnh, nó ôm chầm lấy em nói: "Anh An đậu rồi, sướng ghê". Em không nói được gì, tự dưng nước mắt nhỏ giọt. Bấy giờ em mới tin rằng khi sung sướng quá, người ta có thể khóc được. Nhưng em phải lau nước mắt ngay vì chợt nhớ ra mình đang đứng giữa đám đông. Cạnh em, thằng Ngoạn đang hồi hộp đợi. Em ôm thằng Hạnh ngóng mắt lên chiếc loa gần ở cổng trường. Tim em đập mạnh ghê đi, không hiểu vì nỗi mừng còn sót lại hay vì lo lắng cho bạn. Chúng em không phải đợi lâu, vì chỉ sau đó một chút, đã có tên thằng Ngoạn. Đến lượt nó mừng vui, reo inh ỏi như kẻ điên. Em vui lây cái vui của bạn.

Ngoạn kéo hai anh em ra ngoài quán nước để nó bao một chầu, em chịu liền. Thằng Hạnh dặn trước: "Em uống chanh tươi nghe anh", Ngoạn cười vui vẻ gật đầu. Em cũng cười theo. Nụ cười của Ngoạn thì em không biết có ý nghĩa gì, chứ của em, em thấy có nhiều ý nghĩa lắm. Trước tiên phải kể đấy là nụ cười mãn nguyện nhất của em, mãn nguyện vì đã làm vừa lòng biết bao người. Từ ba má, thầy giáo, đến lũ em của em, nhất là con Nhàn. Ngoài ra, nụ cười của em còn là nụ cười của một đứa con tự thấy mình đã giúp ích cha mẹ phần nào, dù rằng, chỉ được đền bù bằng một trận đòn.

Em nhìn thằng Hạnh đang uống nước đá chanh ừng ực, nói:

- Anh sẽ dẫn Hạnh đi coi truyền hình suốt một tuần. Ba hứa rồi.

Thằng Hạnh cười thật tươi:

- Cả chị Nhàn, thằng Phúc, con Ái nữa hả?

Em vênh mặt trả lời:

- Chứ sao.

Đằng đám đông, thỉnh thoảng lại có tiếng reo mừng vọng ra. Giọng đọc của vị giáo sư vẫn vang lên đều đều.

Gió buổi sáng thổi thật mát.


Nguyễn Thái Hải    

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 102, ra ngày 15-3-1969)

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2019

Tháng Ba... Còn Đâu Mùa Xuân














Tháng ba lung linh
Mắt ngẩn ngơ nhìn
Khung trời rực rỡ
Mây trôi ngập ngừng

Tháng ba thẫn thờ
Lối cũ bơ vơ
Nắng chiều se sắt
Chiều rơi hững hờ

Tháng ba ấm nồng
Gió nhẹ bâng khuâng
Mải mê màu nắng
Chân trời mông mênh

Tháng ba lao xao
Trúc khép lối vào
Ưu tư hình bóng
Lá khẽ thì thào

Tháng ba lắt lay
Bằng lăng rơi đầy
Bao niềm hoài vọng
Gió thoáng nồng say

Tháng ba ngả nghiêng
Nắng rớt bên thềm
Trăng treo đầu ngõ
Sương lạnh ngoài hiên

Tháng ba âm thầm
Phố vắng dấu chân
Mây trời phiêu bạt
Còn đâu mùa xuân...

Trần Thị Phương Lan
(Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2019

Người Anh Hùng Yên Thế Bất Diệt


HÙM THIÊNG YÊN THẾ HOÀNG HOA THÁM : 30 năm KHÁNG PHÁP (1888 - 1913)


TIỂU SỬ :

Hoàng Hoa Thám tên thật là Trương văn Thám người phủ Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.


HOẠT ĐỘNG KHÁNG PHÁP.

Năm 20 tuổi Thám gia nhập đoàn nghĩa binh do viên lãnh binh Bắc Ninh Trần Quang Soạn điều khiển để chống Pháp.

Năm 23 tuổi Thám theo cha nuôi là BA PHÚC đi Vân Nam để vận động nghĩa binh, rồi về giúp cho Cai Kinh ở Lạng Sơn. Cai Kinh thấy Thám còn trẻ tuổi, có thiên tài về quân sự nên phong cho Thám làm Đốc Binh, vì thế mọi người gọi Thám là ĐỀ THÁM.


ĐỀ THÁM LÃNH ĐẠO CUỘC CHỐNG XÂM LĂNG TẠI YÊN THẾ.

Vào ngày 6 tháng 7 năm 1888, Cai Kinh bị giết ở Lạng Sơn, Đề Thám đứng ra tụ họp một số nghĩa quân hết lòng vì đại nghĩa, và có hơn 500 khẩu súng. Đề Thám tập trung các nghĩa quân tại làng Đình Thảo thuộc Nhã Nam để làm lễ tế cờ, khao binh và uống máu ăn thế sinh tử có nhau, xong chia quân ra lập đồn ải ở khắp vùng Phủ Lạng Thương, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc Yên và chọn YÊN THẾ làm tổng hành dinh để kháng chiến lâu dài.

Dưới quyền Đề Thám có cá tùy tướng lừng danh như Thống Luận, Bang Kinh, Tổng Trụ đã từng làm Pháp điên đảo. Ngoài ra còn được ĐẶNG THỊ NHU rất tận tình giúp Thám, người này là vợ thứ ba của Thám thường được mọi người gọi là Nàng Ba.


HAI TRẬN CHIẾN LỪNG DANH HÙM THIÊNG YÊN THẾ.

Năm 1890 Pháp tấn công vào bản doanh Yên Thế, Đề Thám cho nghĩa quân phân tán vào rừng sâu. Trận này Pháp tổn hại nặng nề vì không quen trận thế và đường lối trong rừng sâu sình lầy.

Năm 1892 Pháp lại tấn công lần nữa nhưng vẫn đánh dẹp không nổi, tuy nhiên lần này hai bên đều bị thiệt hại. Đề Thám rút được nhiều kinh nghiệm, chiêu mộ thêm anh tài khắp nơi. Từ đây tổ chức binh đội mới hoàn bị.

Năm 1893 Pháp cử Tổng Đốc LÊ HOAN tìm cách chia rẽ và ám sát hàng ngũ nghĩa quân. Lê Hoan mua chuộc Ba Phúc đầu hàng rồi tổ chức ám sát Thám. Ba Phúc nhận lời tìm đến bản doanh Đề Thám mưu sát, Đề Thám biết được tương kế tựu kế mai phục đánh úp lại khiến quân Pháp bị thương khá nhiều.


GIAI ĐOẠN DƯỠNG QUÂN.

Năm 1894 Pháp muốn điều đình. Đề Thám buộc Pháp phải rút khỏi các đồn ở Yên Thế và Thám được toàn quyền cai quản và thu thuế 4 tổng Nhã Nam, Mạc Sơn, Yên Lễ, Hữu Thượng trong 3 năm. Pháp chấp thuận. Từ đó Đề Thám dưỡng quân, chiêu mộ nhân tài sửa soạn ngày tái chiến.


TRẬN CHIẾN TÁI DIỄN.

Năm 1895, Pháp thấy thanh thế Đề Thám  bành trướng mạnh. Đại tá Galliéni cầm quân kéo lên bao vây Ynh Thế buộc Đề Thám đầu hàng. Đề Thám bèn rút quân vào rừng để chiến đấu. Đại tá Galliéni tiến quân theo vào rừng. Chiến trận bắt đầu, càng lúc càng ác liệt vô cùng. Hai bên đánh nhau trong rừng sâu rậm rạp mãi đến màn đêm buông xuống Galliéni ra lệnh dừng binh (29-11-1895). Sáu giờ sáng ngày hôm sau (30-11-1895) Đại tá tấn công vào thì không gặp một ai. Đề Thám đã rút lui để lại chiến lũy.


GIẢNG HÒA VỚI PHÁP.

Năm 1897 thấy lực lượng giảm sút quá nhiều Đề Thám phải xin hòa, toàn quyền Doumer bằng lòng để được yên ổn một thời gian. Đề Thám củng cố lại hàng ngũ, nghĩa quân được trang bị bằng võ khí tối tân do Đề Thám nhờ người mua ở ngoại quốc.


TIẾP TỤC CHIẾN ĐẤU.

Đề Thám đã chủ mưu nhiều cuộc bạo động nhất là việc đầu độc sĩ quan Pháp ở Hà Nội. Việc đầu độc bại lộ, Pháp nhóm họp Hội đồng Đề hình để xử tội những người tổ chức, những cái án này đã làm dân làng Yên Thế kinh hoàng.

Năm 1909 Pháp mở cuộc Đại tấn công Yên Thế, Pháp bao vây đánh Yên Thế ròng rã 11 tháng trường.

Hàng ngũ nghĩa quân cơ hồ tan rã, Đề Thám chỉ còn Đặng thị Nhu và Cả Dinh là người tâm phúc ở bên cạnh. Tuy nhiên, Pháp tấn công mãi vẫn không bắt được Đề Thám.

Năm 1913 Toàn quyền Pháp mua chuộc tên giặc khách LƯƠNG TAM KỲ với giá 25.000 đồng để giết Đề Thám. Tam Kỳ nhận lời, phái ba tên bộ hạ vào rừng Thượng Yên giả như người theo trợ giúp, rồi thừa lúc chúng ra tay ám sát. Thi hành xong thủ đoạn chúng đem đầu Đề Thám nộp cho Pháp ở đồn Nhã Nam.

Cái chết của Đề Thám chấm dứt thời kỳ võ trang tranh đấu giành độc lập của Dân Tộc Việt.

Đề Thám đã để lại hậu thế những bài học kháng chiến và tinh thần bất khuất đời đời chói rạng.

Ba mươi năm bền tâm kháng chiến
Giặc xâm lăng đã phải nể kiêng
Vang danh Yên Thế Hùm Thiêng
Rừng sâu, chiến lũy, ngửa nghiêng quân thù.


(TLN)    

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 122, ra ngày 1-3-1974)

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2019

Đào Duy Từ


Phủ Hoài Nhơn (Bình Định), một địa thế tốt đẹp. Dân chúng thuận hòa giầu sang. Năm ấy đón tiếp một lữ khách từ phương Bắc đến. Kẻ lữ khách ấy, thẳng đường vào một nhà giầu làng Tùng Châu xin chăn trâu độ nhật. Nhà giầu này vốn chuộng văn chương, nên hay đặt tiệc mời danh nhân, dị sĩ về đánh chén ngâm thơ luận bàn kim cổ.

Nhưng một buổi chiều kia sự khác thường đã xẩy ra tại thi đàn. Các danh nhân trí thức đang say sưa câu văn ngọn bút, đang mê đắm luận bàn, thì tự đầu nhà, kẻ chăn trâu, quần nâu áo vá (tức người lữ khách ngày nọ) cầm roi tiên đến bàn tiệc xin được đối ứng cùng các danh sĩ. Mọi người sửng sốt, nhưng cũng đồng ý cho dự. Quả thật chàng ta là tay kiệt liệt, đối đáp thao thao bất tuyệt như nước chẩy thác ngàn, tựa mưa tuôn gió lũ. Lại đưa thêm những ý kiến thâm thúy, sâu sắc về tình hình thời cuộc. Sự am hiểu vượt bực này khiến các văn nhân giật mình bái phục. Nhà giầu nọ kinh ngạc hơn nữa, nên từ đó đãi chàng như tân khách. Chàng xưng tên tuổi mọi người mới biết là: ĐÀO DUY TỪ.

Sau nhà giầu này đem mách chuyện với quan Khâm Lý Trần Đức Hòa, tay cận thần của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Vương. Hòa mời ông về dạy học và gả con gái cho, để chờ dịp thuận tiện tiến cử.

Ông sinh năm 1527 tại làng Nam Hòa huyện Ngọc Sơn tỉnh Thanh Hóa, con của kép hát Đào Tá Hán. Thông minh từ nhỏ, nhưng cha mẹ đều mất sớm, nên không có tiền ăn học. Sau xin được vào học tại Chiêu Văn Quán ở Đông Kinh (Hà Nội). Được học an thân rồi thì lại thiếu ăn thiếu mặc. Ông kết nghĩa với người bạn học tên Lê Thời Hiến. Gia đình Lê Thời Hiến quý tài và chí cả của ông, nên tài trợ vật chất cho ông ăn học. Năm 1592, Bình An Vương Trịnh Tùng mở khoa thi Hương. Ông phải cải đổi tên họ để nộp quyển ứng thí. Vì thời ấy có luật không cho con nhà hát xướng ca nhi được thi, sợ khi ra làm quan bị ảnh hưởng mà gây bại hoại Phong hóa. Khoa ấy ông đậu Hương Cống. Trớ trêu thay, đậu xong thì bị phát giác và bị tước bỏ Hương Cống không cho đậu. Năm ấy ông vừa đúng 21 tuổi. Ông bỏ về quê cũ tiêu dao ngâm vịnh và vẫn cố công học tập.

Ở quê được ít lâu, có người mách bảo Chúa Nguyễn xứ Đàng Trong đang chiêu mộ nhân tài sao không vào tìm dịp tiến thân. Ông liền sửa soạn khăn gói ra đi. Khi đến sông Gianh (sông Linh Giang) là biên giới Bắc Nam, sự canh phòng rất kỹ lưỡng, không thể vượt qua nếu không có giấy phép. Ông phải dùng kế lấy ống tre làm phao lội qua sông vào lúc tối trời. Đến miền Nam ông còn đi du lịch khắp nơi sau mới chọn đất Tùng Châu làm nơi nương náu, đợi thời.

Năm Đinh Mão, 1627, Chúa Sãi đại thắng quân Trịnh trở về. Quan Khâm Lý Trần Đức Hòa đem dâng bài "NGỌA LONG CƯƠNG VĂN" của ông lên. Chúa Sãi đọc xong lấy làm xứng ý, truyền tuyển dụng ngay vào chức Nha Ủy Nội Tán tước Lộc Khê Hầu coi trông các việc quân chính trong ngoài. Lúc ấy ông đã 55 tuổi. Đặc biệt, người ta còn kể lại rằng khi ông sửa soạn vào gặp Chúa Nguyễn thấy Chúa mặc áo lụa trắng, chân đi văn hài xanh, tay chống gậy long trúc, đứng đợi ở dịch môn, ông liền quay ra không vào. Chúa tỉnh thức sửa sang áo mão chỉnh tề rồi mời ông hội kiến. Hỏi cách giữ yên bờ cõi, ông trả lời minh bạch thông suốt, nên tin ông như thần nhân trời cho xuống giúp mình.

Từ đấy ông ra công giúp Chúa đặt định lại các phương pháp khảo thí, huấn luyện quân đội, tuyển duyệt tráng đinh tinh nhuệ xung vào cơ phận chuyên biệt.

Năm Kỷ Tỵ 1626, Trịnh Tráng lên thay Trịnh Tùng muốn đem quân đánh chiếm miền Nam nên vin cớ Chúa Nguyễn không chịu nộp thuế hai trấn Thuận Hóa, Quảng Bình, sai sứ giả đem thư của vua Lê đòi thuế. Chúa Sãi không chịu. Trịnh lại cho sứ vào bắt phải đưa con ra hầu, cùng với 30 thớt voi, 30 thuyền chiến lớn để nộp nhà Minh. Chúa Sãi chưa biết giải quyết ra sao thì ông tâu:

- "Hãy cứ nhận sắc thư, tránh họ khỏi nghi ngờ gây hiềm khích. Rồi gấp rút thao dượt lại quân đội cho vững vàng, sửa soạn thuyền bè, thành quách vững chãi. Lúc đó tôi sẽ có kế trả lại sắc thư mà không lo sợ gì quân kia".

Chúa Sãi y lời, giao cho ông phụ trách việc phòng thủ. Ông nghiên cứu địa thế rồi xin đắp lũy Trường Dục (chạy từ chùa Non ở chân núi Trường Dục đến bãi Hạc Hải). Lũy cao 3 thước, dài chừng 10 cây số và rộng độ 6 thước, còn gọi là lũy Thầy. Sau ông lại xin đắp thêm lũy Đồng Hới (chạy từ chân núi Đầu Mâu đến gần cửa Nhật Lệ), cao khoảng 6 thước, dài 18 cây số. Công cuộc phòng thủ hoàn tất, ông khuyên Chúa Sãi không nên nộp thuế cho Trịnh nữa và sai người đem trả sắc thư ngày trước của vua Lê. Trước khi trả, ông sai người làm một mâm đồng có hai đáy, sắc thư được bỏ vào giữa, trên thì để vàng lụa vật quý, rồi dặn sứ giả phải lén trốn về ngay khi xong việc.

Sau khi sứ giả Đàng Trong trở về không lời từ giã, Trịnh Tráng mới nhận ra mâm có hai đáy. Lúc mở thì thấy sắc thư kèm theo bài thơ chữ Hán do Đào Duy Từ viết như sau:

"Mâu nhi vô địch,
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương dịch"

Trịnh Tráng đưa hỏi cả triều, không ai hiểu được ý nghĩa. May nhờ Thái Úy Phùng Khắc Khoan giải thích theo lối chiết tự thành bốn chữ: "DƯ BẤT THỌ SẮC" nghĩa là "ta không nhận sắc phong".

Chúa Trịnh hiểu rõ nổi giận, cất quân chinh phạt. Nhưng nghe tin họ Mạc quấy rối ở Hải Dương, Cao Bằng nên đình lại, và cho thuyết khách đem vàng bạc vào Nam dụ Đào Duy Từ về. Ông không chịu vì không thể phụ lòng người tri kỷ, nên phải mượn bốn câu ca dao trả lời:

"Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không.
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu..."

Chúa Trịnh cũng nhất định dụ cho được, lại sai thuyết khách vào. Ông phải gửi ra Chúa Trịnh hai câu thơ dứt khoát:

"Có lòng xin tạ ơn lòng,
Xin đừng lại nữa mà chồng em ghen."

Đào Duy Từ giúp Chúa Nguyễn được 8 năm thì mất, thọ 63 tuổi (1634). Con cháu Chúa Nguyễn sau này dựa vào hai kỳ công của ông, giữ yên bờ cõi, đại thắng quân Trịnh nhiều lần, mỗi lần giết hàng vạn binh lính xứ Đàng Ngoài ở chung quanh lũy, ai nấy đều khiếp sợ. Chúng ta thỉnh thoảng nghe những câu thơ truyền tụng, tả nỗi nguy hiểm ấy như:

"Thứ nhất nguy hiểm lũy Thày,
Thứ nhì Võ Xá đồng lầy gớm ghê."


YẾU PHU sưu tầm   

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 30, ra ngày 19-3-1972)

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2019

Một Đề Nghị Vượt Ngục


Ngày 28 tháng 3 năm 1930, tại phòng giam tử tội của khám đường Yên Bái, nhà cách mạng Nguyễn Thái Học trải qua một cơn bão tố trong lòng.

Trong bốn bức tường của "xà lim" đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân đảng một mình đối bóng phải cân nhắc để giải quyết một vấn đề lương tâm: nên vượt ngục đẻ tránh cái án tử hình mà hội đồng đề hình vừa tuyên xử buổi sáng hôm ấy hay là cúi đầu trước số phận, chịu đem máu đào tưới nơi pháp trường dưới lưỡi dao sáng quắc của cái máy chém để kết liễu bổn phận thiêng liêng của một đấng tu mi ái quốc.

- Sống hay chết?

- Và muốn sống liệu có sống được không?

Nguyễn Thái Học phân vân, bóp đầu bóp trán với những câu hỏi ấy.

Một thượng nghị sĩ gốc gác người xứ Algérie, có trách nhiệm canh gác khu giam tử tội đã đề nghị với Nguyễn Thái Học một cuộc vượt ngục ; anh ta vui lòng giúp cho nhà lãnh tụ cùng 12 đồng chí của ông hoàn thành việc ấy, nếu ông ưng thuận. Tên của 12 bạn đồng chí cách mạng vơ vẩn trong óc nhà thủ lãnh như tên của 12 đứa cùng chung một bà mẹ "Việt Nam" sanh ra:

- Phó Đức Chính.
- Bùi Tư Toàn.
- Bùi văn Chuẩn,
- Nguyễn An,
- Đào văn Nhít,
- Ngô văn Du,
- Nguyễn văn Tiền,
- Nguyễn Như Liên tức Ngọc Tỉnh,
- Nguyễn văn Cửu,
- Lê văn Tụ,
- Nguyễn văn Tính,
- Hà văn Lao.

Nguyễn Thái Học nhớ cả từng nét mặt, thói hay tật xấu của vài người đã vào sanh ra tử cùng ông trong khi còn bay nhảy bên ngoài, đánh phá thực dân bằng những đòn chớp nhoáng.

Ông không thể quên được nét mặt non nớt, hồn nhiên của Ngọc Tỉnh ngây thơ với cái tuổi 20 song lòng yêu nước thì sôi sùng sục ít người sánh được.

Với tất cả 12 sanh mạng treo trên sợi chỉ mành ấy, chỉ một cái gật đầu của Nguyễn Thái Học là họ được tháo củi sổ lồng, rồi chỉ còn một sớm một chiều là tất cả hay một phần 13 nhà cách mạng V.N sẽ có mặt trên đất Trung Hoa, theo đuổi ước vọng ôm ấp bấy lâu nay.

Anh gác khám tử tội đã tiếp xúc với Nguyễn Thái Học từ sáng hôm 27 khi tất cả 87 nhà cách mạng sắp bị đưa ra xử tại Hà Nội. Đợt thứ nhì bị bắt sau, gồm những người có dính líu trực tiếp hay gián tiếp vào vụ khởi nghĩa Yên Bái để xử án.

Lúc chưa ra tòa, viên Thượng sĩ Bắc Phi đã lân la đến cửa "xà lim" Nguyễn Thái Học mà trò chuyện.

Anh ta là một thanh niên mặt mày sáng sủa, chắc là có văn hóa ít nhiều: anh nói chuyện với đảng trưởng Việt Nam Quốc dân đảng bằng tiếng Tây lưu loát.

Anh cho ông Học biết rằng anh đọc báo, rất phục hành động của V.N.Q.D.Đ. và các nhà cách mạng Việt Nam đã mưu toan giải phóng quốc gia ; còn xứ Algérie của anh không biết bao giờ ngóc lên được, anh lo đến bị đồng hóa với Pháp mất.

Vì cảm tình với dân tộc Việt Nam mà anh thượng sĩ da đen ấy muốn tổ chức cho Nguyễn Thái Học một cuộc vượt ngục theo kế hoạch như sau:

Anh sẽ chờ đúng giờ chuyến xe lửa Hà Nội - Lào Kay ghé ra Yên Bái, là mở cửa khám tử tội ra, cho Nguyễn Thái Học kéo hết đồng chí ra ga, uy hiếp viên xếp ga rồi nhảy rốc hết lên xe lửa, bắt người tài xế phải mở máy cho xe chạy tới Lào Kay không còn xa mấy. Tới đây là giáp giới Trung Hoa, họ sẽ vượt biên giới và thoát sang lãnh thổ nước láng giềng.

Dù người Pháp ở Hà Nội có hay tin mà can thiệp thì cũng trễ rồi. Huống chi kế hoạch còn dự bị cho một số đồng chí ở lại chiếm nhà Bưu Điện, không cho đánh dây thép về Hà Nội. . Chờ xe lửa đi xa rồi, những đồng chí ở lại mới băng rừng thoát thân sau. Anh thượng sĩ xứ Algérie sẽ cùng trốn một lượt với Nguyễn Thái Học.

Kế hoạch sau đây, Nguyễn Thái Học nghe ra hợp lý và có thể thi hành được. Thời gian và không gian không phải là trở lực đáng kể. Lãnh tụ VNQDĐ suy nghĩ và chưa tiện trả lời chấp thuận đề nghị hay không. Ông bảo người bạn da đen để cho ông suy nghĩ kỹ đã. Ông cũng khêu gợi ba điều bốn chuyện để dò xét thâm tâm người đối thoại, nhận thấy anh ta không có điều gì khả nghi, gian xảo hết. Anh cũng có vẻ là một thanh niên nhiệt huyết, cùng một tâm trạng với những người có tư tưởng quốc gia, sống dưới ách thực dân da trắng.

Nhưng Nguyễn Thái Học còn thận trọng vì ông đã rút được một bài học kinh nghiệm lần trước, khi ông bị bắt hồi tháng hai và bị giam ở Hỏa lò Hà Nội. Hồi ấy có lần một viên đội Lê Dương (người Đức) gác khám cũng lân la nói chuyện với ông. Anh này cũng tỏ lời khâm phục và hỏi Nguyễn Thái Học có muốn viết thư hay nhắn tin ra ngoài anh sẵn lòng giúp.

Muốn thử thách lòng anh, ông Học bằng lòng nhờ anh giúp. Bắt đầu ông đưa cho anh này hai bức thư bỏ phong bì, một gửi cho thủ tướng Pháp, một gửi cho toàn quyền Đông Dương, kể hết tệ đoan trong giới quan lại Việt Pháp. Không biết số phận hai bức thư này ra sao?

Lần thứ hai, Nguyễn Thái Học gởi hai bài báo để đăng báo Hồng Kông. Một bài gởi cho tờ báo Anh ngữ (Sau này những nhân vật VNQDĐ ở ngoài kiểm soát lại thì thấy không tờ báo nào trong hai tờ ấy nhận được bài của Học cả).

Lần thứ ba, viên đội Lê Dương nhận một sứ mạng quan trọng hơn, một xấp thư bốn cái gởi cho bốn đồng chí của ông khuyên họ kiên tâm vì cơ hội sắp đến. Chỉ vài hôm sau, cả bốn người đều vô khám hết. Nhưng Nguyễn Thái Học đâu có khờ khạo đến làm hại cho đồng chí: thật ra bốn "đồng chí" ấy là bốn tên phản đảng lợi hại trong những giờ đầu. Bốn tên ấy đã phải làm vật hy sinh cho cuộc thử lòng dạ viên đội Lê Dương.

Thấy bốn "đồng chí" xộ khám, ông biết chắc là viên đội kia đã đưa bốn bức thư của ông cho sở Mật thám.

Đến lúc bị giam ở Yên Bái, gặp được viên gác khám người Algérie tỏ ý muốn giúp ông hết sức phân vân.

Không biết anh chàng này có giống anh đội Lê Dương ở Hà Nội không? Chẳng khác nào con chim một lần bị bắn, cứ thấy cành cây cong là sợ, nên Nguyễn Thái Học hết sức thận trọng, đề phòng.

Sáng hôm Hội đồng đề hình xử vụ đảng viên cách mạng V.N.Q.D.Đ. tức ngày 27-3-1930 và chiều hôm sau nữa, chàng thanh niên da đen gác khám lại đến hỏi quyết định của Nguyễn Thái Học nữa nhưng ông Học vẫn còn hẹn sẽ trả lời sau.

Viên gác khám thở dài nói:

- Còn suy nghĩ đến bao giờ nữa. Hiện giờ đề lao Yên Bái không được canh gác cẩn mật, chỉ nay mai xử xong các ông, họ sẽ đưa các ông về Hà Nội là lỡ cơ hội.

Thật thế, nhóm 13 tử tội sau khi bị xử án đã bị đưa về Hà Nội, chờ bộ Tư Pháp Ba Lê xét lại hồ sơ rồi sẽ thi hành án lệnh.

Nguyễn Thái Học cũng hiểu rõ thủ tục và biết rằng thì giờ không còn chờ đợi ai. Nhưng ông phân vân không quyết định. Biết đâu đây chẳng phải là một mưu kế của thực dân bày ra, để có cơ hội thanh toán cả 13 tử tội vì thực dân e ngại chánh phủ Ba Lê bị áp lực của dư luận báo chí sẽ cho giảm án. Nguyễn Thái Học không thể nào thoát án tử hình, điều ấy dĩ nhiên rồi. Dầu ông chết dưới máy chém của Cai Công hay dưới những viên đạn súng của lính thực dân đuổi theo khi ông vượt ngục, thì cũng chỉ là một cái chết. Nhưng còn 12 đồng chí của ông cùng án tử hình nhưng có người tội nhẹ hơn, có thể giảm án xuống chung thân khổ sai. Nếu mà họ đều chết dưới viên đạn súng của nhà thực dân thì ông Học sẽ mang trách nhiệm với lương tâm.

Nguyễn Thái Học suy luận như vậy nên đã không chấp nhận đề nghị của viên gác khám Yên Bái...

Suy đi thì như thế song nghĩ lại thì sao? Nếu như người gác khám thực dân muốn cứu mà mình từ chối thì có khác nào mình tự giết mình và giết luôn 12 người nữa ; mình bỏ lỡ cơ hội thoát chết. Sinh mạng 12 người phó thác vào một cái gật đầu của Nguyễn Thái Học.

Sau này về Hà Nội bị giam ở Hỏa Lò, Nguyễn Thái Học lặng thinh cả tuần lễ không nói chuyện với các đồng chí bị giam cùng một dãy "xà lim". Ông bị lương tâm cắn rứt vì thái độ của ông ở Yên Bái chăng? Và một hôm ông kể lại câu chuyện bỏ lỡ dịp vượt ngục cho vài bạn nghe như muốn chờ anh em xét xử... Ai cũng tiếc rằng ông quá nặng về đạo đức và không phải là người giàu thủ đoạn, có thể nói là thiếu thủ đoạn của con người cách mạng.

Nếu như hôm ấy Nguyễn Thái Học gật đầu một cái, mà cuộc vượt ngục được thành công một phần nào thì các yếu nhơn VNQDĐ cùng đảng trưởng đã hoạt động trên đất Trung Hoa, biết đâu cuộc diện Viêt Nam hồi ấy cũng có phần thay đổi, không thì ít ra ngọn lửa chống Pháp cũng còn duy trì được lâu hơn nữa và gây cho thực dân những trận điên đầu.


TẾ XUYÊN       
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 29, ra ngày 12-3-1972)

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2019

Kỷ Niệm Lễ Hai Bà Trưng


TÔ ĐỊNH, THÁI THÚ THAM TÀN

Năm Giáp Ngọ 934) Hán Quang Vũ sai Tô Định sang làm Thái thú Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, cai trị tàn ác khiến dân chúng vô cùng oán hận. Do đó gia đình ông Thi Sách quyết tâm đánh đổ chế độ Hán thuộc.

THI SÁCH KHỞI ĐẦU CUỘC CÁCH MẠNG

Năm Canh Tý (40) ông Thi Sách gởi thư cảnh cáo Tô Định và báo động một cuộc chiến tranh nếu Tô Định không thay đổi đường lối cai trị. Tô Định tức giận thừa lúc sơ suất của Thi Sách bắt ông chém đầu để thị uy với dân chúng. Trưng Trắc thay quyền chồng nổi dậy đem quân đánh Tô Định.

HAI BÀ TRƯNG KHỞI BINH

Trưng Trắc cầm đầu cuộc cách mạng với 4 lời thề gởi hào kiệt bốn phương. Lời kêu gọi được mọi người hưởng ứng, đảng của bà Nguyễn Đào Nương, đảng của ông Cao Doãn, đảng của ông Trương Quân... đã đem quân trợ giúp rất nhiều.

Hai bà cỡi voi trên bành vàng, che lọng vàng, mặc áo giáp vàng, phất cờ vàng tiến quân đánh thẳng vào Liên Lâu Thành, đuổi Tô Định về Tàu rồi tiến quân đánh chiếm 65 thành trì, đem giang sơn Việt thâu gồm một mối, chấm dứt cuộc nô lệ trên 100 năm dưới quyền thống trị của nhà Hán.

Thắng trận xong hai bà liền xưng Vương đóng đô ở Mê Linh.

MÃ VIỆN SANG ĐÁNH GIAO CHỈ

Năm Tân Sửu (41) Hán Quang Vũ sai Thượng tướng Trung Hoa là Mã Viện đã 70 tuổi nhưng còn khỏe mạnh và nhiều kinh nghiệm chiến đấu, lãnh 20 ngàn quân sang đánh. Cuộc chiến tranh kéo dài hai năm. Quân của Trưng Vương yếu thế, hai bà phải lui về Cấm Khê thuộc tỉnh Phú Thọ. Mã Viện tiến quân lên đánh, hai bà chạy về đến xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, bị thế bức phải trầm mình trên giòng sông Hát vào giữa ngày mồng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43).

Theo lời dân chúng thì ngọc thể của hai Bà trôi về bãi Đồng Nhân gần Hà Nội nên ở đấy có đền thờ hai Bà, hàng năm vào mồng 6 tháng 2 quốc dân làm kỷ niệm rất là trọng thể

HAI BÀ TRƯNG TRONG SỬ SÁCH

Vua Tự Đức khi coi lịch sử nước nhà về đoạn khởi nghĩa của hai Bà Trưng phê: "Hai Bà là hạng quần thoa mà khởi lòng anh hùng làm việc nghĩa chấn động đến triều đình Hán. Tuy rằng yếu thế, không gặp thời, nhưng cũng đủ khích lệ lòng người để tiếng thơm trong sử sách".

Sử gia Lê văn Hưu nói rằng: "Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy 65 thành trì, lập quốc, xưng vương dễ như giở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ người Tàu, mà không biết xấu hổ với hai người đàn bà họ Trưng!".

LỜI KHẤN CÁO CỦA BÀ TRƯNG TRƯỚC NGÀY KHỞI BINH

"Trời sinh một vị anh hùng, để làm tôn chủ cho cả trời đất muôn vật, vậy thì người đó, rất quan hệ cho sinh linh muôn vật, cho nên các đời Đế Vương, vua Thánh tôi Hiền, yêu dân mến nước, đem đức hóa thấm nhuần trăm họ, nên nước thịnh dân an. Nay có người khác họ, tên là Tô Định, lòng lang dạ thú, tự ý làm càn, ngược chính hại dân, Trời, Đất, Thần đều giận.

"Thiếp là một người cháu gái của dòng dõi Hùng Vương trước, nghĩ đến cảnh tàn thương của sinh linh, động lòng sa lệ.

"Vì lòng thương dân, ngày nay quyết khởi nghĩa trừ tàn bạo, mong nhờ trăm vị thần linh, hội đồng chứng giám, hợp sức phù hộ để Trưng Nữ này cầm binh đánh giặc, thu lại cơ nghiệp của tổ tiên và đem sinh linh ra khỏi vòng nước lửa để khỏi phụ lòng trời và thỏa anh linh đức Tiên Hoàng và tổi phụ nơi chín suối".


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 121, ra ngày 15-2-1974)

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2019

Người Mẹ Cao Cả


Năm Giáp Thân (1284) trước đình làng Phù Ủng, huyện Mỹ Hào, tình Hải Dương, nhân dân tụ họp đông đúc để xem tờ hịch của Hưng Đạo Vương. Bà Phạm Mẫu đọc xong tờ hịch, căm thù giặc Nguyên lại lo sợ cho tương lai đất nước. Khi trở về nhà, trời đã tối, bà đứng ngoài cửa chờ con.

Đàng xa, một thanh niên ngoài 20 tuổi, diện mạo khôi ngô, thân thể vạm vỡ, vai mang cung tên, tay xách mấy con chim rảo bước về nhà. Phạm Mẫu chạy lại đỡ lấy chim rồi nói: "Hôm nay con về muộn quá, mẹ mới đọc tờ hịch của Ngài Hưng Đạo Vương, được biết Thoát Hoan đã dẫn 50 vạn quân Nguyên sang xâm chiếm nước ta. Vậy con phải đi tòng quân đánh giặc để cứu nước".

Những lời nói sốt sắng ấy làm cho chàng thanh niên cảm động, im lặng rồi đáp: "Mời mẫu thân hãy vào trong nhà".

Hai mẹ con cùng đi vào túp lều tranh. Bà mẹ thở dài và nói lớn: "Phạm Ngũ Lão, mày không thể do dự được nữa, ngày mai mày phải đi tòng quân!".

Phạm Ngũ Lão đáp: "Thưa mẹ, con mồ côi cha từ thuở lên ba, được mẹ nuôi cho ăn học. Nay mẹ đã tuổi già sức yếu, nếu con đi xa thì còn ai nuôi mẹ. Con đang nghĩ cách nhờ người lo việc nhà và nuôi giùm mẹ chứ việc nước đã có nhiều người lo còn việc gia đình nầy chỉ có mình con".

Phạm Mẫu tức giận nói: "Con đã nghĩ sai rồi, nếu giặc Nguyên chiếm đất nước nầy, thì lúc bấy giờ con có được ở yên trong túp lều nầy để nuôi mẹ không? Quốc gia tồn vong, thất phu hữu trách". Huống gì con đang tuổi thanh niên, lại quên bổn phận làm dân, quý mẹ hơn quốc gia sao? Nhưng thôi mẹ chẳng nói nhiều, làm dân phải hy sinh vì nước, việc mẹ con chớ lo đến nữa".

Qua sáng hôm sau, Phạm Ngũ Lão thức dậy, thấy cửa buồng mẹ đóng kín, chờ một hồi lâu chẳng thấy tiếng động, kêu gọi không có tiếng đáp lại, ông vội phá cửa vào, thấy mẹ đã treo cổ tự tử. Trên bàn có mấy câu: "Con hãy làm sao cho mẹ vui lòng nơi chín suối mà không phải thẹn mặt với cha con".

Phạm Ngũ Lão mở dây đỡ mẹ xuống, kêu khóc rầm rĩ. Những người láng giềng chạy đến giúp đỡ, lo tang lễ và tống táng Phạm Mẫu rất chu tất.

Tháng 9 năm Giáp Thân, Hưng Đạo Vương dẫn quân từ Vân Đồn đến làng Kiếp Bạc để chống giữ giặc Nguyên. Khi đi ngang qua làng Phù Ủng, những người lính đi đẹp đường bỗng thấy một thanh niên ngồi giữa đàng đan sọt tre. Quân lính hò hét, thanh niên vẫn không nhúc nhích. Một người cầm giáo đâm vào đùi chảy máu, thanh niên vẫn ngồi yên. Lấy làm lạ, chúng liền báo với Hưng Đạo Vương, Ngài truyền gọi thanh niên đến hỏi. Người ấy thưa: "Tôi tên là Phạm Ngũ lão, người làng Phù Ủng, muốn ra đánh giặc cứu nước nhưng vì không được ai tiến dẫn, phải lập kế nầy để được yết kiến Đại Vương".


Hưng Đạo Vương khen ngợi vô cùng, cho lên ngựa đi theo về dinh. Trong một cuộc thi tài tại Diễn Võ Trường, Phạm Ngũ Lão chiếm giải nhất trong cá môn võ nghệ, chỉ thua Yết Kiêu về môn nhảy cao. Từ hôm ấy, đêm nào Phạm Ngũ Lão cũng buộc hai túi cát vào chân để tập nhảy. Qua kỳ thí võ lần thứ hai, Phạm Ngũ Lão nhảy cao hơn Yết Kiêu. Hưng Đạo Vương và các tướng khen ngợi là người có chí tự cường, chẳng chịu thua ai.

Tháng chạp năm Giáp Thân (1284) Thoát Hoan dẫn 40 vạn lục quân tinh nhuệ đánh vào Lạng Sơn ; Toa Đô dẫn 10 vạn thủy quân đánh vào Chiêm Thành.

Hưng Đạo Vương điều khiển các tướng chống cự. Vì quân Nguyên quen việc chiến trận đã từng thắng nhiều nước ở châu Âu cũng như châu Á, nên khi mới giao chiến quân ta thua liên tiếp. Hưng Đạo Vương phải lui về Vạn Kiếp. Vua Trần Nhân Tôn lo ngại, cho vời Hưng Đạo Vương đến bảo rằng: "Thế giặc mạnh lắm, chống với nó thì dân nguy, hay Trẫm chịu hàng để cứu muôn dân".

Hưng Đạo Vương đáp: "Bệ hạ nói câu ấy thật là nhân đức, nhưng giang sơn xã tắc thì sao? Nếu muốn hàng, xin Bệ hạ hãy chém đầu tôi trước rồi hãy hàng sau".

Vua Nhân Tôn yên tâm khi thấy tướng sĩ và nhân dân đều quyết tâm đánh giặc, người nào cũng lấy mực thích vào cánh tay hai chữ "Sát Đát" nghĩa là giết quân Mông Cổ. Thoát Hoan tiến quân đến gần Thăng Long, dùng súng đại bác bắn vào trại quân ta. Hưng Đạo Vương rước Thượng hoàng và vua Nhân Tôn chạy vào Thanh Hóa.

Trần Bình Trọng ở lại miền Bắc, đánh nhau với giặc bị bắt nhưng không chịu hàng.

Bấy giờ thế lực quân Nguyên mạnh lắm. Toa Đô, Ô Mã Nhi, Đường Ngột Ngại ở miền Nam đánh ra Nghệ An. Nước nhà nguy biến vô cùng. Trần Kiện trấn thủ Nghệ An hàng giặc, các tên phản quốc như: Trần Ích Tắc, Trần Tu Viên, Lê Tắc đều chạy theo quân Nguyên. Hưng Đạo Vương sai thượng tướng Trần Quang Khải và Phạm Ngũ Lão đem quân vào giữ Nghệ An. Toa Đô không đánh nổi liền dẫn quân xuống thuyền vượt bể ra Bắc hợp binh với Thoát Hoan.

Quân Nguyên thất bại, tức giận lắm nên đóng thêm chiến thuyền, tăng thêm quân mã để sang báo thù.

Qua tháng 1 Đinh Hợi (1287) Hốt Tất Liệt sai con là Thoát Hoan làm đại nguyên súy cùng các tướng Ô Mã Nhi, A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Trình Bằng Phi, Phàn Tiếp... dẫn hơn 30 vạn quân sang đánh nước ta.

Quan trấn thủ biên thùy phi báo về Thăng Long, các quan xin tuyển thêm binh, Hưng Đạo Vương nói: "Quân cốt giỏi chứ không cốt nhiều. Nếu nhiều mà không giỏi thì 100 vạn quân cũng vô ích".

Khi mới giao chiến, thế lực quân Nguyên mạnh lắm, quân ta chống không nổi. Hưng Đạo Vương phải rút quân về giữ Thăng Long rồi rước Thượng hoàng và vua Nhân Tôn vào Thanh Hóa. Thoát Hoan đánh phá Thăng Long không được, đóng quân ở Vạn Kiếp, Chí Linh, Phả Lại, sai tướng Ô Mã Nhi đem quân đi đón đoàn thuyền lương của Trương văn Hổ tải lương từ bên Tàu qua tiếp tế. Tướng Trần Khánh Dư dùng kế phục binh lấy hết các thuyền lương và rất nhiều khí giới của Trương văn Hổ.

Được tin mất hết lương thực, quân Nguyên náo động. Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp rút thủy quân về trước rồi lục quân sẽ rút sau.

Hưng Đạo Vương sai Nguyễn Khoái đem quân lên thượng lưu sông Bạch Đằng, kiếm gỗ đẽo nhọn bịt sắt đóng khắp dòng sông rồi phục binh chờ nước thủy triều lên thì đem quân khiêu chiến. Lại sai Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa dẫn quân mai phục ở ải Nội Bàng (Lạng Sơn) chờ quân Nguyên.

Hưng Đạo Vương tiến lên đánh giặc, nghe báo tin Ô Mã Nhi đã kéo quân về đến Bạch Đằng, Ngài khích lệ quân sĩ và chỉ xuống sông Hát mà thề:

"Trận nầy không phá xong giặc Nguyên thì không qua sông nầy nữa".

Tháng 4 năm 1285, Trần Nhật Duật đánh bại quân Toa Đô ở cửa bể Thiên Trường.

Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão từ Nghệ An dẫn quân xuống thuyền vượt bể đuổi theo quân Toa Đô. Đến bến Chương Dương, hai người xông vào trại giặc. Toa Đô và Ô Mã Nhi không địch nổi, phải bỏ thuyền chạy lên bờ. Phạm Ngũ Lão nhảy lên mình ngựa, đi trước sĩ tốt đuổi quân Nguyên chạy dài đến thành Thăng Long.

Trần Quang Khải và Phạm Ngũ lão đem quân vào Thăng Long rồi báo tin thắng trận về Thanh Hóa. Hưng Đạo Vương đem quân ra Tây Kết (Hưng Yên) đánh Toa Đô, quân Nguyên đại bại, Toa Đô bị bắn chết, Ô Mã Nhi lẻn xuống thuyền về Tàu.

Hưng Đạo Vương kéo quân tiến đánh Thoát Hoan, Thoát Hoan đại bại chạy đến Vạn Kiếp gặp phục binh của Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, quân Nguyên chết quá nửa. Tướng giặc là Lý Hằng bị Phạm Ngũ Lão bắn chết. Thấy Phạm Ngũ lão đuổi gấp quá, Thoát Hoan chui vào ống đồng để lên xe bắt quân kéo chạy. Về đến gần châu Tư Minh, Thoát Hoan lại gặp hai tướng Hưng Võ Vương Nguyễn Hưng và Huệ Vương Úy (con của Hưng Đạo Vương) đánh cho một trận. Lý Quán bị tên chết, Thoát Hoan, A Bát Xích, Phàn Tiếp chạy thoát về Tàu.

Hốt Tất Liệt thấy thái tử Thoát Hoan bại trận, sai Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc, Ô Mã Nhi đem quân phục thù. Nguyễn Khoái đem thủy quân khiêu chiến, Ô Mã Nhi đuổi theo, khi nước thủy triều xuống, quân Nam đánh quật lại, chiến thuyền quân Nguyên bị chạm vào cọc chết và đắm rất nhiều. Các tướng giặc đều bị bắt tại trận. Trận đại chiến Bạch Đằng nầy xảy ra tháng 3 năm Mậu Tý (1288).


Thoát Hoan cùng các tướng Trình Bằng Phi, A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Trương Quân, Trương Ngọc dẫn quân chạy về Tàu. Khi đến ải Nội Bằng, gặp Phục Binh của Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh. Trương Quân đi đoạn hậu bị chém chết. Các tướng A Bát Xích, Trương Ngọc bị bắn chết. Thoát Hoan và Trình Bằng Phi chạy đường tắt về Tàu.

Phạm Ngũ Lão được phong Đại tướng quản linh Thánh dực quân mã. Hưng Đạo Vương đem con gái thứ hai gả cho.

Từ khi quân Nguyên thua chạy về Tàu, phía Bắc nước ta được yên, nhưng phía Tây Nam thường bị quân Ai Lao quấy nhiễu. Nhiều lần vua Trần Nhân Tôn, Trần Anh Tôn thân chinh nhưng vì đường sá khó khăn, rừng núi hiểm trở nên không dẹp xong.

Đời vua Trần Anh Tông, Phạm Ngũ Lão đứng đầu hàng võ, nên dẫn quân đi đánh nước Ai Lao.

Có lần quân địch dùng mấy trăm con voi xung trận, ông trá bại, để dụ đàn voi vào những nơi đã đào hố sẵn, trải phên tre và cỏ lên trên. Hàng trăm con voi sa xuống hố, các con khác quay lại giày xéo quân Lào. Phạm Ngũ Lão đem quân đuổi theo phá tan được sào huyệt của giặc. Từ đó Ai Lao không sang quấy nhiễu nữa.

Ông Phạm Ngũ Lão xuất thân là một học trò nghèo, con nhà bình dân. Ông là một dũng tướng và còn là một văn sĩ, có nhiều bài thơ còn truyền tụng đến bây giờ.

Ông rất được quân sĩ mến phục và nghe lệnh của ông vô cùng. Người đời bấy giờ gọi quân lính của ông là "Phụ tử chi binh".

Chính bà mẹ của ông, bà mẹ hiền giàu lòng yêu nước đã đào tạo nên bậc danh tướng anh hùng ấy.


Thái-Sơn (sao lục)   

Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 40, ra ngày 1-3-1966)



Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2019

Giải Danh Dự Kỳ Thi Văn Chương Phụ Nữ 1973


ĐỀ THI:

Trong một dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng, người ta thấy có treo hai câu sau đây:

"Võ công Trưng, Triệu nêu gương"
"Văn nghiệp Điểm, Hương soi sáng"

Hãy giải thích và bình luận 2 câu trên.

BÀI LÀM

Hàng năm, cứ đến ngày mồng sáu tháng hai âm lịch, ngày lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng, mọi người đều tưởng niệm anh linh Hai Bà, hai Vị Nữ Anh Hùng, đã không quản thân nhi nữ, quyết đứng lên đánh đuổi ngoại x6am. Trái với lời người xưa thường bảo "Gái thì giữ việc trong nhà", Hai Bà đã vì nợ nước thù nhà, lao thân vào cõi chiến trường để mưu đồ hạnh phúc cho toàn dân. Không những trên trường quân sự, Nữ giới đã được Hai Bà nêu gương sáng, mà xét trong nền văn học nước nhà, biết bao người phụ nữ đã góp công rất nhiều để tô điểm cho văn chương nước ta được phong phú. Điển hình nhất là những tác phẩm của Đoàn thị Điểm và Hồ Xuân Hương mà chắc hẳn trong chúng ta, không ai không nghe nói tới. Để tỏ lòng khâm phục, nhân một dịp kỷ niệm Hai Bà, cũng là ngày chung cho nữ giới, có người đã nói:

"Võ công Trưng, Triệu nêu gương"
"Văn nghiệp Điểm, Hương soi sáng"

Vậy chúng ta hãy giải thích và phê bình 2 câu trên để tìm hiểu về sự nghiệp của các bậc anh thư ấy.

Từ ngàn xưa, nước ta đã thấm nhuần tư tưởng Khổng giáo, từ Triều đình cho đến dân gian, nhất nhất đều theo Nho học. Là phận nữ nhi, người con gái suốt ngày chỉ quanh quẩn trong gia đình, lo việc thêu thùa, bếp núc. Họ không được biết đến những việc cứu nhân độ thế vì người đời thường cho rằng "Nữ nhi khuê môn bất xuất".

Trong thời bình, người con gái ở nhà với cha, mẹ phải lo trau giồi công, dung, ngôn, hạnh để mai sau xuất giá khỏi bị tiếng đời chê bai:

Xưa nay mấy bậc dâu hiền
Công, dung, ngôn, hạnh là tiên phàm trần

Khi chiến tranh xảy ra, cuộc đời người con gái cũng chỉ quanh quẩn trong nhà, tuy rằng trách nhiệm của họ có phần nặng nề hơn.

"Tang bồng hồ thỉ nam nhi trải"

Thì phụ nữ phải:

"Thiếp xin về nuôi cái cùng con".

Dù rằng đã bao lần nàng mơ ước:

"Giá vua bắt lính đàn bà,
Để em đi đỡ chàng vài ba năm".

Nhưng trước cảnh quốc biến gia vong, phụ nữ không thể nào an tâm lo việc nội trợ cho được bởi vì:

"Nước nhà gặp cơn bĩ
Trách nhiệm gái trai chung".

Cũng vì hiểu như thế, biết bao anh thư liệt nữ đã bước vào trường cung kiếm, nam nhi ra trận, họ cũng ra trận làm quân thù bao phen khiếp đảm.

Lần giở trang lịch sử nước nhà, có ai quên được chiến công oanh liệt của Hai Bà Trưng? Giận quân Tàu hung bạo, Bà Trưng Trắc cùng chồng âm mưu chống giặc. Nhưng hỡi ơi! Chồng Bà, Thi Sách, bị giết trước khi cuộc khởi nghĩa được đề xướng. Vì lòng căm phẫn quân thù, vì không muốn cho dân chúng phải chịu lầm than mãi với sự cai trị hà khắc của Thái thú Tô Định, Bà cùng em là Trưng Nhị chiêu binh mãi mã, đuổi quân thù ra khỏi đất nước. Khi ra trận, Hai Bà mặc áo giáp vàng, cưỡi Voi, chỉ huy một cách khéo léo, làm nức lòng bao nhiêu binh sĩ. Giữ yên được 3 năm, quân Mã Viện lại tràn sang xâm lấn, sức yếu, thế cô Hai Bà không làm sao chống nổi, nhưng không vì thế mà hèn nhát hàng giặc, Hai Bà cùng trầm mình nơi giòng sông Hát để lại cho dân Việt bao nỗi thương tiếc ngậm ngùi.

Rồi có ai quên được câu nói của bà Triệu, Nhụy Kiều tướng quân: "Tôi quyết cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối chứ không thèm bắt chước người đời, cong lưng làm tì thiếp cho người ta". Ôi anh dũng biết bao! Hùng tráng biết bao!

Hai Bà Trưng, Bà Triệu làm cho lịch sử nước nhà thêm ngời sáng qua sự nghiệp lừng lẫy. Có ai nghĩ đến đó mà không thấy cõi lòng mình hân hoan phấn khởi. Như thế, ai dám bảo nữ nhi không có tài kinh bang tế thế, là kẻ chân yếu, tay mềm?

Noi gương Hai Bà, biết bao người nổi lên chống giặc. Hơn một ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc ta vẫn còn duy trì được nòi giống mình. Rồi thời kỳ Pháp thuộc, bao nhiêu người đã "Vị quốc vong thân".

Quả thật: "Võ công Trưng, Triệu nêu gương" vậy, về phương diện văn học, nữ giới chúng ta cũng đã tỏ ra có thực tài:

"Văn nghiệp Điểm, Hương soi sáng".

Ngày xưa, phụ nữ chúng ta ít được đi học, có chăng là chỉ sơ lược vài điều về tam tòng, tứ đức, vì người xưa cho rằng "phụ nhân nan hóa". Nhưng xét trong văn học nước nhà, người phụ nữ cũng đã đóng góp rất nhiều.

Dù rằng không được học bao nhiêu, nhưng với tính tình dịu dàng, yếu đuối, dễ xúc động trước ngoại cảnh, người con gái đã sáng tác những tác phẩm tuyệt tác mà ai cũng công nhận là hay cả.

Bà Đoàn thị Điểm với dịch phẩm "Chinh phụ ngâm" mà chúng ta thường nghe nói tới đã làm xúc động bao nhiêu người. Còn gì buồn hơn nỗi lòng người chinh phụ khi chồng đi chinh chiến miền xa. Bà đã diễn tả thật khéo léo, cảm động. Thân thế của bà không khác gì người chinh phụ bao nhiêu. Vừa mới nên duyên, chồng Bà đã đi sứ bên Trung Quốc, bỏ lại Bà vò võ nơi quê nhà. Như thế, còn buồn nào hơn nữa. Đây là tác phẩm bà diễn Nôm nhưng từng lời thơ, từng âm điệu đã làm cho người đọc rung động bồi hồi.

Với hai câu bản chính:

Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân

Bà đã diễn tả thật khéo léo:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Thơ Nôm được như bà thì thật là tuyệt tác vậy. Bà đã làm cho nhiều người phải bái phục, rạng danh đàn bà nước Nam.

Trong trường văn học, Bà Hồ Xuân Hương cũng đã nổi tiếng rất nhiều. Thơ văn Bà sáng sủa, dùng chữ bình dân. Đến thời Bà, thơ Đường đã đi đến chỗ cực thịnh. Văn chương Bà đã thoát khỏi ảnh hưởng Hán học, vì thân thế long đong nên thơ Bà đượm nhiều vẻ mỉa mai nhưng chúng ta không  thể chê trách được gì. Từ thơ tả cảnh đến tả tình, ở lãnh vực nào Bà cũng tỏ ra xuất sắc. Khi đọc bài thơ "Đèo Ba Dội" của bà, chúng ta hiển nhiên như nhìn thấy rõ cảnh đèo ấy ở trước mắt, và không cần nhìn tựa, ta cũng biết ngay đó là cảnh đèo Ba Dội.

Một đèo, một đèo lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

Hai câu ứng đối của Bà khi bị vấp té, đã làm cho nhiều người ngạc nhiên trước trí thông minh của nữ giới:

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài.

Còn tài tình nào hơn nữa?

Bà Đoàn thị Điểm và Hồ Xuân Hương đã làm rạng danh cho nữ giới vậy.

Chúng ta đã giải thích hai câu trên và tìm hiểu sự nghiệp oai hùng của Bà Trưng, Bà Triệu, tài văn chương của Đoàn thị Điểm, Hồ Xuân Hương.

Sau đây, chúng ta tiếp tục phê bình hai câu thơ trên.

Xét qua những điều trên, ta đã thấy rằng phụ nữ đã có tài về phương diện quân sự mà sang địa hạt văn chương, họ cũng không thua kém gì. Xã hội thời xưa đã ràng buộc họ trong đời sống gia đình, nhưng dù ở giai đoạn nào nữ giới cũng tỏ ra xuất sắc không kém gì nam giới cả. Trên trường văn, trận bút cũng như nơi trường tên mũi đạn, nữ giới bao giờ cũng sáng chói.

Người phụ nữ phải mang nhiều trách nhiệm lúc còn ở trong gia đình, họ phải thờ phụng Cha Mẹ, khi lập gia đình rồi họ còn phải mưu sinh kế, buôn tảo bán tần để nuôi chồng ăn học:

Xin chàng kinh sử học hành
Để em cày cấy cửi canh kịp người
Mai sau xiêm áo thảnh thơi
Ơn trời lộc nước đời đời hiển vinh.

Người phụ nữ Việt Nam còn phải:

Có con thì khổ vì con
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.

Với những bổn phận làm dâu, làm vợ, làm mẹ như thế, người phụ nữ đã phải đầu tắt mặt tối. Hoặc rằng suốt ngày ở nơi đồng áng hay trong những buổi chợ, người phụ nữ chỉ mong gia đình được sung túc, đủ sức nuôi chồng ăn học, con cái khôn lớn:

Miệng ru mắt nhỏ hai hàng
Con càng khôn lớn mẹ càng lo thêm

Đôi khi vì chinh chiến, vì một phận sự nào đó, người chồng, người cha vắng mặt trong gia đình, họ còn phải:

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân

Hay:

Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

Khéo léo trong việc tề gia, lo việc bếp núc, người phụ nữ cũng tỏ ra có tài trong các lãnh vực khác. Qua lịch sử nước nhà, người con gái đã xuất sắc trong việc điều binh khiển tướng: như Bùi thị Xuân, một nữ tướng mà đã làm cho quân Nguyễn Vương lo sợ. Để rồi, Bà đã chọn cái chết anh hùng cùng các con. Thêm Cô Giang, Cô Bắc sống trong thời Pháp thuộc, cũng hợp tác cùng Nguyễn Thái Học chống Pháp. Phải chăng gương anh dũng của Hai Bà Trưng, Bà Triệu đã ăn sâu vào tâm trí dân tộc Việt? Mang danh dải yếm, quần thoa, người con gái cũng cố gắng luyện tập kiếm cung để sau này khi nước nhà nguy biến sẽ đem ra ứng dụng:

Ai về Bình Định mà coi
Đàn bà cũng biết múa roi đi quyền

Như thế, phụ nữ đâu phải chỉ quanh quẩn trong xó bếp. Vượt ra ngoài lãnh vực này, họ cũng có thực tài. Về võ công, là môn ngày xưa chỉ dành riêng cho nam giới, thế mà khi hữu dụng, người con gái cũng xông pha tòng quân diệt giặc.

Hai Bà Trưng, Bà Triệu là những nữ anh hùng đầu tiên xông pha nơi trận mạc mà lại có kết quả: đem thanh bình về cho xứ sở, làm bao người khâm phục.

Xét về phương diện văn chương nữ giới đã đóng góp được gì?

Người đàn bà ngày xưa cũng tỏ ra hiếu học, họ đã nói ước vọng của mình:

Dốc một lòng lấy chồng hay chữ
Để ra vào kinh sử mà nghe.

Trên trường thi ca, qua văn chương bình dân nước ta, nữ giới đã sáng tác rất nhiều. Lời thơ êm ái dịu dàng, đã cho người đọc bùi ngùi xúc động. Không có một tình cảm thiết tha, một mối u hoài chan chứa, người ta đã không thể nào làm nên những vần thơ đó.

Chúng ta cũng đã thấy Bà Ngô Chi Lan với những bài thơ tứ thời. Rồi Bà Huyện Thanh Quan với những vần thơ trang nghiêm đài các.

Nhưng dù sao, đến những sáng tác của Đoàn thị Điểm và Hồ Xuân Hương đã làm mọi người khen ngợi. Nữ giới cũng được tiếng thơm lây.

Ngày xưa thì thế, ngày nay ra sao? Phụ nữ ngày nay đã được tiến triển về mọi mặt. Được cắp sách đến trường, cùng những tiện nghi về đời sống khiến cho người phụ nữ rảnh rang việc gia đình, bước chân ra xã hội nhiều hơn. Từ lãnh vực quân sự chúng ta có những Đoàn Nữ Quân Nhân, Nữ Nhân dân tự vệ cùng chung vai sát cánh quyết bảo vệ quê hương. Sang lãnh vực văn chương, khoa học, phụ nữ đã góp công rất nhiều. Những bài thơ trác tuyệt của Bà Tương Phố, những nữ chuyên viên nơi phòng thí nghiệm, há không nhờ ở gương Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Đoàn thị Điểm, Hồ Xuân Hương sao? Chúng ta lại còn có những Nữ Y Tá, cùng xông pha với chiến binh nơi trận chiến, để băng bó vết thương...

Còn biết bao nhiêu hình ảnh thật đẹp của Nữ giới nữa, chúng ta kể làm sao cho xiết.


Tóm lại, là nữ nhi trong đời sống hiện tại, trước anh linh Hai Bà, chúng ta hãy cùng nhau sát cánh để giữ vững quê hương trước tình thế hiện tại của đất nước. Nhưng dù sao, chúng ta có lo tròn được bổn phận người con, người vợ, người mẹ trong gia đình thì mới dấn thân ra ngoài xã hội được. Vì gia đình là nền tảng của xã hội. Gia đình có yên ấm, hạnh phúc, xã hội mới yên vui. Người Phụ nữ, như ta thấy, họ đã có thực tài văn võ song toàn không kém gì nam giới. Nhưng không vì thế mà chúng ta quên hẳn gia đình. Người đàn bà là bông hoa tươi thắm, là điểm tựa của đàn con, là nguồn an ủi, thúc đẩy ông chồng làm việc. Môi trường hoạt động thích hợp nhất của đàn bà vẫn là tổ ấm của gia đình. Người đàn bà giỏi giang là người biết thu xếp việc nhà một cách khéo léo, vì rằng, nước nhà đang cần những bàn tay xây dựng và vốn dĩ đàn bà là những người khéo léo, họ có thể góp phần kiến tạo quê hương bằng những phương tiện văn hóa, xã hội.


TRẦN NGỌC KIM
Học sinh Trường Nữ Trung Học
 Trưng Vương Sài Gòn.

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 199, ra ngày 15-4-1973)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>