Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2019

Không Ai Mua Được Một Vật Kỷ Niệm


NGUYỄN HIẾN LÊ tuyển dịch

Tôi cho rằng bất kỳ ai cũng có ít ra là một bài thơ ở trong thâm tâm muốn đặt thành vần, cũng như có ít nhất là một câu chuyện để kể. Nhưng nhiều người có thể chép chuyện của mình lên giấy được, chớ rất ít người có thể tìm được vần điệu cho bài thơ của mình. Nghĩ vậy, tôi cho đăng mục này trên một tạp chí: "Bài thơ của bạn và của tôi." Tôi yêu cầu tất cả những người nào có một bài thơ ở trong óc, cứ viết thư cho tôi biết ý bài thơ đó ; tôi hứa sẽ đăng bức thư của họ lên báo, rồi làm bài thơ cho họ theo ý họ muốn.

Bạn sẽ phải ngạc nhiên về số thư tôi nhận được. Có mấy ngàn người có một bài thơ chôn ở trong lòng. Vài bức thư không thành hình, có bức lại đầu Ngô mình Sở. Nhưng không một bức nào nhạt nhẽo, vì hết thảy đều phát tự đáy lòng ra. Tôi không bao giờ quên được một bức của một thiếu phụ chỉ ký tên là Marry chứ không cho biết họ gì.

Đọc thư  tôi cảm thấy rõ ràng tâm hồn nàng. Muốn cho bạn cảm thấy như tôi, tôi nghĩ chỉ có cách kể lại đầu đuôi câu chuyện của nàng.

Một hôm, trong cái giỏ chứa đầy thư từ mới gởi tới, tôi thấy một bức thư người viết như hữu ý dùng mấy tờ giấy kẻ sẵn rất tầm thường, ở trong có gấp một tấm giấy bạc Mỹ kim đã cũ. Đọc bức thư đó tôi có cảm tưởng nghe người đó kể chuyện.

"Thưa bà, bà bảo bà sẵn sàng làm một bài theo ý của mỗi người rồi cho đăng lên tạp chí của bà. Nhưng tôi tự hỏi không biết bà có chịu làm một bài thơ rồi gởi cho một mình tôi đọc thôi, chứ không đăng báo không? Vì vậy mà tôi gởi theo đây một tấm giấy một đồng. Xin bà vui lòng nhận cho vì tôi không muốn bà mất công vì tôi mà không được đền bù.

"Tôi chắc rằng bà muốn biết qua loa về tôi. Tôi mới chào đời được ít bữa thì bị liệng bỏ ở cửa một cô nhi viện ; vì tôi không đẹp lắm mà cũng không lanh lợi lắm nên chẳng ai nhận tôi làm con nuôi cả. Vậy tôi phải ở cô nhi viện cho tới lớn, viện không nuôi tôi nữa mà cho tôi vào làm một xưởng nọ. Một người lính gợi chuyện tôi. Anh ấy hỏi tôi có ở một mình không, tôi đáp có ; rồi anh ấy bảo anh ấy cũng vậy, mà không phải là người ở đây và ảnh hỏi tôi có muốn dạo mát một chút với nhau không.

"Ở cô nhi viện, người ta dặn tôi không bao giờ được nói chuyện với một người đàn ông nào lạ không được viện giới thiệu. Nhưng ảnh bận quân phục, tôi nghĩ như vậy không sao. Chúng tôi vừa đi vừa chuyện trò. Ảnh kể rằng ảnh ở nhà quê ra, ở trong trại, phía bên kia sông. Ảnh ở với bà mẹ và ảnh là con một. Chưa có vợ. Ảnh chưa bao giờ giao du với một thiếu nữ nào cả vì má ảnh hay được thì bà sẽ nổi quạu ghê gớm. Ảnh mời tôi đi ăn tiệm rồi cùng đi coi hát bóng."

Do đó mà Marry quen Ross. Ngồi trong rạp hát bóng nàng thấy bàn tay người lính trẻ đó kiếm bàn tay nàng. Và không còn ngờ gì nữa, nàng hiểu rằng nàng yêu chàng. Một tháng trôi qua. Rồi một chủ nhật nọ, họ cùng ngồi trên một cái ghế trong công viên mà bàn tính về tương lai.

"Trước cái ngày chủ nhật mà anh Ross bảo tôi rằng ảnh yêu tôi, muốn cưới tôi, thì đời tôi có tương lai gì đâu. Dĩ nhiên tôi nhận lời ảnh. Mặt anh sa sầm lại khi anh thú rằng không bao giờ dám báo tin đó cho má anh hay. Vậy thì anh không thể nào làm giấy ủy quyền cho tôi lãnh lương của anh được, cũng không thể cho tôi lãnh bảo hiểm nhân mạng của anh được. Nhưng tôi đâu có cần những cái đó. Tôi chỉ muốn có ảnh thôi, có tình thương của ảnh thôi ; tôi chỉ mơ ước có một người thuộc về mình thôi. Khi tôi nói với anh như vậy thì mặt anh tươi lên."

Marry và Ross cưới nhau và mỗi lần được nghỉ phép chàng tới căn phòng nhỏ của nàng. Chàng tặng cho nàng chiếc áo lụa đầu tiên, những đôi giày cao gót và một chiếc áo hở tay hở ngực, không phải thứ bận trong nhà đâu, mà thứ tốt để dự tiệc kia. Và nhất là món quà này mới đẹp nhất: chiếc nhẫn cưới. Rồi tới ngày chàng xuống tàu để ra mặt trận. Tối nào Marry cũng viết thư cho chàng, còn chàng thì lúc nào rảnh mới viết. Thơi gian trôi qua. Rồi một ngày nọ, đương làm việc thì nàng té xỉu. Viên y sĩ trong xưởng bảo nàng có mang. Nàng đang viết thư báo cho Ross hay tin mừng nhất đời đó, thì ghê gớm làm sao, nhè đúng lúc đó, số phận đập nàng một cách tàn nhẫn vô cùng: nàng được một bức công điện.

Nàng viết:

"Như ai đập mạnh vào đầu tôi vậy, thưa bà. Chồng tôi tử trận. Thôi, tôi không còn bao giờ được thấy môi chàng trên môi tôi nữa, cánh tay chàng trên cánh tay tôi nữa. Nhưng tôi vẫn còn một niềm an ủi. Tôi không còn là thiếu nữ tội nghiệp hồi trước nữa. Tôi không còn anh Ross, nhưng anh đã để lại cho tôi một bảo vật, nó sẽ luôn luôn là của tôi."

Marry làm việc cho tới gần tới ngày sinh đẻ, rán để dành từng xu một vì không được lãnh tiền bảo hiểm nhân mạng của chồng, mà chính mẹ chồng mới được lãnh. Nàng sinh một em gái trong một nhà thương thí. Ở nhà thương ra nàng phải kiếm tiền nuôi con, nên nàng phải gởi con suốt ngày cho một viện dưỡng nhi.

Nàng viết:

"Sáng tôi đem cháu lại gởi đó rồi chiều đi làm về, tôi lại đón. Trừ chủ nhật, còn những ngày thường ít khi tôi được thấy cháu thức. Tôi kiếm không được bao nhiêu, may mắn thì vừa đủ trả tiền ăn, tiền nhà, tiền đóng cho viện dưỡng nhi, nên cháu không được bận áo tốt mà cũng không có đồ chơi. Áo cháu bận ban ngày và cả đồ chơi nữa đều là của viện. Tôi chỉ mua được cái nôi cho cháu nằm, cái mền len cho cháu đắp và cái núm bằng nhựa cho cháu ngậm. Nhưng trong khi làm việc ở xưởng tôi sung sướng nghĩ rằng chiều về đi đón cháu bồng về nhà, ôm cháu trong khi cháu ngủ.

Thế là Marry trở lại tình cảnh hồi đầu: một thiếu nữ không đẹp lắm, không lanh lợi lắm, nghèo xác, chỉ giàu tình thương. Đây là đoạn cuối bức thư:

"Vì cháu không có áo đẹp, cũng chẳng có một đồ vật nào mà các em bé khác thường có, cho nên tôi không giữ được của cháu một vật kỷ niệm nào đẹp cả. Và tôi sợ rằng lâu dần tôi sẽ quên hình ảnh của cháu, Có thể lắm, tới một lúc nào đó tôi nhắm mắt lại cũng không thấy lại được nét mặt của cháu nữa. Vì vậy tôi muốn bà làm một bài thơ về cháu, một bài thơ cũng đẹp như cháu, một bài thơ làm cho cháu gần gũi tôi hơn mỗi khi tôi ngâm lên, một bài thơ cho tôi cảm giác rằng cháu luôn luôn ở gần tôi, không phải ở trong cánh tay mà ở trong lòng tôi. Xin bà gởi bài thơ đó cho: Marry, thư lưu trữ. Tôi sẽ ngày ngày lại sở Bưu điện hỏi cho tới khi nào nhận được mới thôi."

"Rồi một buổi chiều nọ, viện dưỡng nhi kêu điện thoại bảo tôi phải tới gấp... Hỡi ơi! Tôi tới thì đã trễ."

Thật là một sự nghịch lý khá kỳ cục. Bài thơ đó là một trong những công việc khó nhất trong đời tôi mà đồng thời lại là một trong những việc dễ nhất. Tôi không giữ lại một bản sao, sợ một ngày nào đó không cưỡng lại nổi mà đem đăng báo, như vậy nó không còn là vật độc hữu của Marry. Khi bỏ bải thơ đó vào bao thư, tôi đã thoáng có ý muốn gởi trả lại tấm giấy bạc của nàng. Rồi tôi nghĩ lại kịp: như vậy tàn nhẫn quá. Vì tôi cảm thấy rằng nàng muốn tặng con nàng một món quà cuối cùng. Sau đó tôi đã rán tìm tung tích của nàng mà không ra. Khi nàng đã lại sở Bưu điện lãnh bức thư lưu trữ rồi thì nàng biến luôn.

Chuyện đó xảy ra khá lâu rồi. Nhưng tới nay tôi vẫn còn giữ tấm giấy một đồng đó để mong có cơ hội gặp nàng trên đường đời. Nếu một ngày nào đó may mắn gặp được thì tôi sẽ trả lại nàng và bảo rằng không ai mua được một vật kỷ niệm. Một vật kỷ niệm phải luôn luôn là một vật tặng.


MARGARET SANGSTER  
(trong Ý CAO TÌNH ĐẸP)    

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 122, ra ngày 1-3-1974)

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2019

Niềm Tin


Nhà bếp lăng xăng, mấy chị lớn càng lăng xăng tợn. Mùi thức ăn xào chiên, mùi bánh nướng thơm lừng, điếc mũi. Nhưng tôi khác hẳn các bạn đồng cảnh ngộ: tôi không vui mà cũng không thèm. Tôi đọc trong mắt bạn, nhất là những đứa nhỏ sự thèm muốn, khát khao đến tội nghiệp. Điều đó làm tôi đau đớn xót xa thêm. Có một lúc tôi như quên mình cũng đồng cảnh như lũ trẻ côi cút này, tưởng như tôi là một kẻ khác, một kẻ bàng quan đang ngắm nhìn, quan sát cái tập thể đáng thương kia, cái tập thể bất hạnh đã là nguyên nhân giúp cho một số thị dân nhàn rỗi có tiếng tăm, được nhiều người biết, kể cả người ngoại quốc!

Từ nhỏ, cha tôi đã làm cho tôi hiểu rằng con người ăn cốt để sống chớ không phải sống để ăn. Cha tôi không hạ thấp giá trị miếng ăn xuống, nhưng ông cũng không bao giờ đề cao, cũng như khi nói đến những tiện nghi vật chất. Ông không dạy tôi bằng lời nói mẹ tôi cũng vậy mà dạy tôi bằng cách nêu gương... Mẹ tôi! Trời ơi! Tôi nghẹn ngào khi nhớ đến bà, suốt một đời, cho đến khi xuôi tay, nhắm mắt mẹ tôi là biểu hiệu cho cái gì chân thật nhất, hiền hòa nhất, trong lành nhất. Có lẽ phần lớn vì vậy mà từ khi trôi giạt vào cái thành phố thủ đô của miền Nam nước Việt này, tôi càng ngày càng thấy nhớ đến mẹ, nhớ dai dẳng không nguôi. Ở đây không bà nào giống mẹ tôi cả. Về phía đàn ông, tôi không dám xác tín rằng họ kém cha tôi, vì tôi không có dịp tiếp xúc với các ông.

Một đôi khi, các ông thò mặt vào sân Hội, vẫn giữ nguyên vị trí: đang ngồi trước tay lái, cao giọng hỏi các bà (vợ các ông ấy) chừng nào thì có thể trở lại đón về. Chỉ thế thôi. Các ông không thừa thì giờ đâu để nhìn kỹ chúng tôi, kể cả thì giờ để kịp nghe chúng tôi kính cẩn chào hỏi theo thông lệ. Vút một cái các ông mất dạng cùng với những chiếc xe hơi bóng loáng, đủ mầu, đủ kiểu ra khỏi khuôn viên Hội.

Về phần các bà, các bà lui tới thường xuyên không phải tất cả, một số ít nào đó Người ta đã dạy rằng chúng tôi phải biết ơn các bà, vì nhờ có các bà, lũ trẻ con mồ côi, mồ cút, tứ cố vô thân từ một vùng lửa đạn nào đó trên đất nước mới được có chỗ dung thân, có cơm ăn, áo mặc, có thuốc men, được săn sóc khi đau ốm, có khi còn được đi học đàng hoàng. Và dù cho một số kênh kiệu thấy dễ ghét hơn là kính yêu, tôi cũng công nhận quả có vài bà đầy đủ từ tâm như những người trong sách! Nhưng tại sao tôi ghét họ? Thật khó trả lời. Tôi có một thằng bạn mới, không thân, song nó có vài nét giống tôi, nó không có cái cung cách quì lụy của một số đông lũ trẻ mồ côi ở đây, nhưng nó quá vô ơn. Nó vẫn bĩu môi bảo tôi:

- Ôi xào! Phước thiện! Mày ngu lắm, quê lắm, mày không biết cóc gì hết, tao thì, tao biết hết. Đừng tưởng họ nuôi mình. Nhà nước nuôi mình chớ bộ...

Tôi, tôi không đồng ý với nó. Dù cho Nhà nước có nuôi chúng tôi đi nữa, chúng tôi vẫn phải hàm ơn các bà, vì dù sao, các bà vẫn có công tôi biết có bà còn bỏ tiền ra chút ít nữa kia Sau nhiều ngày nghiền ngẫm, tôi lờ mờ hiểu tôi không có thiện cảm với các bà là vì cái giả dối bề ngoài của một số đông. Họ khác mẹ tôi chỗ đó, trong mấy chục bà đấy là chỉ kể những bà thường xuyên lui tới hội thôi tôi không tìm ra một chút gì của mẹ tôi, từ ánh mắt, nụ cười, từ lời nói, dáng điệu, cử chỉ. Mẹ tôi dung dị bao nhiêu, đơn giản bao nhiêu. Các bà thì cầu kỳ quá, diêm dúa quá. Đó, ác cảm bắt nguồn từ đó. Bà thì đội tóc giả, bà thì lông mi giả. Chưa bao giờ có một bà để làn da, khuôn mặt tự nhiên xem thử ra sao. Đỏ chóe, tím thẫm, xanh lè, trắng toát, trông thật ngán! Nếu có một đứa nhỏ nào đang khóc hội của các bà có đứa từ 15 như tôi cho đến đứa sơ sinh năm tháng như bé Hà nếu muốn dỗ dành, tôi biết các bà cũng khó mà day trở: áo đẹp quá, bế lên, ngộ nó đái ướt thì phiền, móng tay dài, nhọn quá, thế nào cho khỏi vướng?

Có vài bà, suốt buổi ngoài việc chuyện trò vớ vẩn với bạn về giá cả đồ nữ trang vải vóc, thời trang hay điện thoại lăng nhăng là đến giờ về, đâu có thì giờ hỏi han săn sóc chúng tôi?

Nhưng hôm nay, Trung thu Tết Nhi Đồng. Bà Hội trưởng đã triệu tập một khoáng đại Hội nghị bàn tính kỹ chương trình Tết nhi đồng cho chúng tôi thưởng thức. Từ đầu tuần, lác đác đã có một số tư nhân từ tâm (!) hay vài đoàn thể mang đến tặng quà bánh cho chúng tôi. Một vài người cùng đến với số quà, sau phần xã giao đúng theo thông lệ, cùng bà Hội trưởng đi quanh một vòng gọi là thăm viếng các em.

Hai bên không tiếc lời khen nhau, nghe đến nhàm chán, nhưng tôi cam đoan là các bà thì không bao giờ chán! Mặt các bà rạng rỡ lên vì những lời khen (Thật ra phải nhận công đó là của các chị giúp việc trong hội chớ không phải công các bà)

Đôi khi có cả người ngoại quốc đến thăm. Không khí càng trang trọng khi nào có máy hình hay máy quay phim chiếu cố đến chúng tôi Dĩ nhiên, các bà luôn luôn đứng cạnh chúng tôi, hay dàn cảnh một pha hỏi han săn sóc rất là cảm động!

Cũng có khi các bà dắt các công tử hay tiểu thư đi theo chơi, nhất là vào ngày tết Nhi đồng hay Lễ Giáng sinh. Và luôn luôn là có tiệc.

Chúng tôi bọn lơn lớn cỡ tôi bận luôn tay. Lũ nhỏ vô tư được ăn trước. Kế đến là các bà. Chúng tôi, bọn lơn lớn được triệu dụng trong mọi việc, từ việc giăng dây đèn, nấu nướng, trang hoàng sân khấu, rửa dọn v.v... cũng có một mâm riêng. Thường thì quanh năm chúng tôi có một thực đơn rất là đơn giản. Nhưng những dịp này, có một bà hội viên nảy ra sáng kiến là ngoài các món do các nhà hảo tâm tặng cho phần nhiều là bánh kẹo, thức ngọt các bà tự động mỗi người làm một món đem đến trước đãi nhau, sau đãi trẻ mồ côi.

Song trẻ mồ côi đông quá, cho nên khi đến lượt bọn lớn như chúng tôi ngồi vào bàn thì phần ăn chỉ còn có tô bún bò khá to với rất nhiều xương.

Thật ra, tôi không quan tâm đến phần ăn, nhưng thằng bạn mới của tôi thì cho là chuyện này rất đáng để ý đến. Nó hích tôi một cái, cười cái cười rất dễ ghét, nói nhỏ:

- Đó! Mày coi! Từ tâm của quí bà thể hiện trong tô bún đầy xương! Nhớ là lần này tụi mình mới thực sự hưởng từ tâm đó, nghe mày! Còn nem nướng, chả giò thì... đâu đến phần mình! Ngó lại coi, làm gì mà cứ chúi mũi vô tô bún vậy? Ngó một chút cho đỡ thèm đi, bồ!

Tôi rất bực mình, song cũng phải ngẩng lên. Và trời ơi! Tôi bắt gặp một đôi mắt và khuôn mặt khác thường, một khuôn mặt thật như khuôn mặt mẹ tôi ngày trước, cũng cái nhìn như ngọn lửa sưởi ấm lòng tôi những chiều đông lạnh cóng tôi từ trường trở về nhà. Cũng đôi môi hồng nhạt, tự nhiên không tô son, cũng bàn tay dịu dàng với những móng cắt ngắn, không nhuộm đỏ. Bà cúi nhìn chúng tôi bằng cái nhìn bao dung, âu yếm, giọng trầm ấm lạ thường:

- Các em đây đều từ miền Trung vào trong chuyến tháng tư, sau trận đánh...

- Ngồi đây! Rồi thong thả chị sẽ biết hết, vội gì. Ăn chút gì với tụi này nghe? Chị dùng gì? Bún bò? Nem nướng? Chả giò?

Người đàn bà lạ mỉm cười:

- Mình không đói. Có lẽ thằng cháu mình đói thì phải, cho cháu...

- Thì cứ ngồi xuống cả hai mẹ con coi! Ngồi đi cháu!

- Ái chà! Cháu bữa nay lớn dữ há? Sao? Sắp đi ngoại quốc chưa?

- Chị thì lúc nào cũng đi ngoại quốc!

- Thôi, ăn cái đã, trò chuyện sau.

- Ngồi đây cháu, bên mẹ cháu này...

Tôi liếc thấy một thằng con trai suýt soát tôi, nét mặt dễ mến, dáng bộ rụt rè đang lúng túng và tôi biết ngay nó là con cái bà lạ kia. Thằng bạn quái quỉ của tôi chưa chịu ngưng trò châm chọc của nó, hích thêm tôi cái nữa:

- Đó, coi công tử ăn nghe! Họ làm là để đãi các bà khách, ông khách và các công tử, tiểu thơ đó chớ đâu tới tụi mình, tụi mình chỉ mang tiếng thôi!

Người đàn bà nói gì tôi không nghe rõ, vì thằng bạn bắt tôi quay lại để nghe nó, bên này. Song tôi thấy đứa con trai bà ấy tiến lại ngồi bên tôi, cười một cách tự nhiên và cầm đũa, bưng một tô bún đầy xương ở bàn tụi tôi, ăn rất ngon lành.

Đầu bàn bên kia, hai ba tiếng kêu to, phản đối:

- Kìa, sao để cháu ngồi bên đó? Nó ăn cái gì bên đó?

- Để cháu ngồi đây, coi!

- Qua đây!

Tiếng bà mẹ:

- Các chị để cháu ngồi bên đó, nó sẽ được tự do hơn với người lớn.

- Nhưng bên đó không có chả, chị...

Tiếng nói đang cất lên chợt ngưng bặt bất ngờ làm tôi chú ý. Và tôi nghe cái giọng trầm ấm, cái giọng của người đàn bà lạ giông giống mẹ tôi lần này thấp, nhỏ, chắc chỉ cốt nói cho những bà bên đó nghe thôi:

- Không có chả đã sao đâu? Mình không muốn để cháu nó ngồi bên này, coi không được. Bàn nào cũng là bàn. Phải làm cho lũ trẻ thấy chúng không khác gì chúng ta hết, không khác gì con chúng ta hết. Được vậy, các chị mới thành công.

Có lẽ, bà không ngờ là có đứa để ý, lắng nghe, vì bà nói rất nhỏ và bên này các bạn tôi cũng đang bàn cãi ồn ào vì quá vui, quên giữ ý.

*

- Này Khoa, tao mới được thư! Mày muốn coi không? Mày mà được coi cái thư này, mày sẽ no luôn!

Thằng bạn quỉ quái hỏi tôi, nét mặt nó rạng rỡ khác thường. Không phải nó mới vui vẻ từ ngày hôm nay. Cả tuần rồi, mặt nó tươi hơn hớn. Nó hát luôn miệng và nó mất cái vẻ châm chọc, cay cú hằng ngày. Tôi hơi ngạc nhiên về điều này và càng ngạc nhiên hơn khi nghe nó khoe vừa nhận được thư: nó vẫn bảo là nó không còn một ai là thân nhân hết. Cái gì đã thay đổi được tính nết khó ưa của nó? Ai đã viết thư cho nó vậy? Phải có gì đặc biệt nó mới bảo là no luôn, vì nó vốn háu ăn.

- Thư ai đó?

Tôi hỏi nó. Khoa vui vẻ:

- Thư cái bà hôm tới đây này, mày quên sao?

- Bà nào? Mà tới hôm nào? Ở đây mỗi ngày có biết bao nhiêu bà làm sao tao nhớ nổi?

Khoa có vẻ bực bội:

- Tao tưởng mày không quên được mới phải chớ...

- Tại sao vậy?

- Tại sao? Mày còn hỏi tao, thì mày quê quá!

- Thì tao quê là cái chắc, có khi nào mày thấy tao nhận là người thành phố đâu mà mày phải nhắc hoài?

Tôi cáu kỉnh, gắt nó. Lạ thay, Khoa vẫn vui vẻ như thường:

- Thôi, xin lỗi bồ! Đừng giận, tao sẽ cho coi thơ, hay lắm.

- Không! Tôi vẫn cáu, lắc đầu Tao không coi thơ riêng của mày đâu. Người ta gởi cho mày, tao coi làm chi?

- Mày vẫn giận tao đấy à? Thôi mà, bữa nay sao khó tính vậy? Bỏ qua đi! Này coi thơ coi...

Nó nhứ nhứ cái thư trước mặt tôi như nhứ bánh với trẻ con. Tôi bật cười, xê tay nó ra, nghiêm giọng:

- Không giận hờn gì hết, tao không coi thơ riêng của mày.

- Cứ coi đi mà! Thư của bà ấy...

Nó kỳ kèo làm tôi hết sức ngạc nhiên và cùng một lúc nhớ lại phần đầu câu chuyện: bà nào? Tôi hỏi nó:

- Bà ấy là bà nào, mày chưa nói rõ...

- Cái bà hôm Trung thu đến đây đó, bà khác mấy bà kia đó, bà có đứa con trai ngồi ăn chung với tụi mình đó, nhớ chưa? Tao chưa quên bà ấy, đáng lẽ mày cũng vậy mới phải...

Tôi lẩm bẩm một mình: Không! Tôi cũng không quên. Và tôi nói lớn lên:

- Nhớ ra rồi. Sao? Bà ấy gởi thơ cho mày hở? Dóc đi! Tao không tin...

- Phải! Mày không tin là phải. Tự nhiên đời nào bà ấy viết cho tao, tại tao viết cho bà ấy trước, bà trả lời... mày hiểu ra chưa?

Tôi há hốc miệng:

- Mày viết thơ cho bà ấy?

Khoa gật đầu, đỏ bừng mặt lên, không nói. Tôi gặng lại:

- Thật không? Mày viết cái gì?

Nó càng lúng túng thêm, song cũng cố gắng trả lời tôi dứt khoát:

- Tao viết chớ sao... không biết cái gì xui tao... mà... mà viết xong tao cứ tưởng bà ấy sẽ không thèm trả lời, ai ngờ...

Khoa chợt im bặt, tôi chưa tha nó:

- Mày viết cái gì trong đó?

- Thôi! Làm sao nhớ nổi? Đọc đi thì biết...

- Đã nói tao không đọc thơ riêng của mày mà.

Giọng Khoa chùng xuống vì xúc động:

- Thơ riêng mà cũng như chung. Tao nghĩ là bà ấy không viết cho mình tao mà viết cho tất cả bọn bạc phước như tụi mình. Mày đọc đi!

Lần này, tôi không đợi nó nài nỉ thêm tiếng nào, đón lấy lá thư dày cộm trên tay nó.

*


"Cháu thân mến,

Tôi đã đọc kỹ thư cháu, không phải một mà đến ba lần. Cháu nói rất đúng, tôi không trách cháu đâu. Nếu tôi là cháu, tôi cũng có những cảm nghĩ y như cháu. Có điều cháu làm tôi buồn cười khi cháu bảo là "cháu tưởng bà cũng như mấy bà khác, đi ngang tụi cháu như vị tướng đi duyệt binh, cười xã giao với tất cả mà không có thì giờ để ban phát riêng cho đứa trẻ bất hạnh nào một nụ cười. Cũng như các bà nhà giàu khác, bà vô các hội thiện để được chụp hình, diễn thuyết, hội họp..." Không đâu, cháu lầm rồi, tôi không vô một hội thiện nào hết, không phải tôi chê không vô mà vì tôi bận việc quá, không có thì giờ để vô hội. Tôi giúp đỡ hội một vài phương diện nào đó, khi có thể, nhưng không là hội viên của một hội nào. Điều thứ hai khiến tôi còn ở ngoài các hội ấy là vì một vài điều khá tế nhị, không tiện nói ra. Mục đích của các hội thiện đều tốt, nhưng khi thực hiện, người ta đã làm sai đi chút ít. Tôi rất ghét dù là vô tình làm cho trẻ mồ côi luôn luôn cảm thấy mình sống nhờ xã hội, ăn bám vào xã hội, luôn luôn có những điều trước mắt nhắc nhở trẻ điều đó. Tôi muốn các hội thiện phải làm sao cho các trẻ không may mắn thấy rằng sự cưu mang của xã hội là một bổn phận tất nhiên đối với chúng. Rằng việc các hội thiện giúp đỡ các em là một bổn phận chứ không phải là một sự cúi xuống, một sự bố đức, thi ân... Nhưng tôi không đủ sức để có thể làm điều ích lợi thiết thực đó, và tôi buồn lắm.

Cháu ơi! Tôi xúc động biết bao khi được thư cháu, và cái câu "Cháu không ngờ được cái hân hạnh cùng ăn một bàn, một thức ăn với quí tử của bà". Không đâu cháu, con của tôi cũng như cháu, đều cần được đối xử ngang nhau, không thể vì một lý do gì mà biệt đãi đứa này hơn đứa kia, điều đó vô lý. Khi tôi quyết định bảo con tôi lại ngồi ăn chung với các cháu, tôi cho đó là một điều tự nhiên, song tôi không ngờ lại làm cháu chú ý và nhất là chao ơi! Hữu ích biết bao nhờ đó mà cháu lấy lại niềm tin, xóa được cái mặc cảm mang nặng nhiều ngày trong lòng cháu.

Cháu bảo: cháu muốn nói chuyện với tôi mà không dám? Như vậy hóa ra tôi vẫn có vẻ cách biệt với các cháu lắm phải không? Tôi tiếc là cháu đã không nói gì với tôi, tôi ao ước quen các cháu, tìm hiểu ước vọng, dự tính của các cháu, nhưng tôi cũng vụng về quá, không biết mở đầu ra làm sao. Thật ra, tôi cũng sợ... sợ làm phật lòng các cháu bằng những chuyện kém tế nhị làm cho các cháu có thể lầm là gặng hỏi tông tích của các cháu, hay là sự tỏ ra thương hại vô ích có khi còn chạm vào tự ái của các cháu nữa kia Cho nên tôi dè dặt khi gặp các cháu.

Có lẽ tôi cũng như các bà khác, tôi không tốt hơn họ đâu, song tôi quả có nhạy cảm, hơi tế nhị chút đỉnh, có lẽ thế.

Cảm ơn cháu, cảm ơn cháu nhiều lắm! Làm sao tôi không vui được khi đọc thư cháu, cháu bảo cháu là tên bạt mạng, không được mọi người ưa, cháu xấu xa, ích kỷ, độc ác, song xúc động vì cử chỉ tôi nên cháu cảm thấy yêu đời, cảm thấy được đối xử như một đứa con, đứa cháu, đứa em trong gia đình chứ không còn mang cái mặc cảm là đứa trẻ sống nhờ, đứa ăn xin. Có lẽ còn nhiều người tốt hơn tôi, khu xử khéo léo tế nhị hơn tôi mà vì một lý do gì đó, cháu chưa được gặp, cháu nên tin điều tôi nói.

Có lẽ từ nay, tôi sẽ thu xếp thì giờ để có thể lui tới Hội nhiều hơn và cố tìm cách lôi kéo những người bạn hơi giống tôi tới nữa. Nếu quả cháu bảo là cháu và các bạn ao ước được gặp nhiều người như tôi, cháu sẽ không thất vọng đâu. Có một điều tôi tưởng cũng nên nói rõ cho cháu biết: lối phục sức và trang điểm kiểu cách của các bà phần lớn là do sự dễ tính, do thói quen của những người sống trong thành phố lớn và do sự chú ý đến thời trang, chớ sự thật các bà ấy cũng có tâm hồn của người mẹ như tất cả phụ nữ khác, cháu không nên khắt khe quá.

Tôi thật quả bối rối khi viết đến đây. Cũng như cháu, tôi không vừa mắt về các bà dĩ nhiên là cái bề ngoài diêm dúa ấy nhưng biết làm sao đây? Đôi khi, tôi đã làm phật ý vài người về chuyện này rồi, và tôi còn biết rằng chỉ trích không đi đến đâu cả.

Rồi một ngày kia, khi lớn lên, cháu sẽ thấy là đôi khi mình phải biết nhắm mắt làm ngơ đi một vài nhỏ nhặt, phải hòa mình vào với người khác trong một vài nhỏ nhặt miễn mình vẫn giữ được bản sắc riêng.

Cũng như cháu, tôi ao ước người ta giữ và trau dồi cái đẹp thật, giữ được tâm hồn trong sạch, lương hảo và để đạt đến đó, người ta cần phải chân thật từ điều nhỏ trở lên. Nhưng trong lúc chờ đợi, ta cũng không có quyền buộc ai làm đúng như mình, vì mỗi người có tự do riêng, cháu đồng ý chứ?

Cháu ơi! Điều tôi sung sướng nhất là cháu hứa cháu sẽ trở nên hiền hòa, tin tưởng và cháu bảo đã bắt đầu yêu đời.

Tôi không biết nói gì hơn, nhưng tôi thành thật mong cháu hiểu rằng hiện tôi đang sung sướng lắm. Nhưng người có tuổi rồi như cỡ tôi mà làm cho ai tin tưởng yêu đời được thì thật không có gì đáng kể, đáng hãnh diện hơn.

Mong được gặp cháu, được nói chuyện và được thư từ với cháu. Đó cũng là một nguồn vui của tôi, cháu ạ!

Thư đã quá dài, có lẽ tôi viết không được khúc chiết lắm, cháu nên hiểu là do tôi xúc động mà ra. Và tôi tin là mặc dù cháu có một bề ngoài khó ưa, cháu vốn có đời sống nội tâm phong phú, sâu sắc và cháu đang bắt đầu tự hoán cải, xây dựng con người mình. Như vậy là đủ, là đã quí báu lắm rồi. Cháu há không đang bắt đầu khi viết thư cho tôi đó hay sao?

Chúc cháu an mạnh và cho tôi gửi lời thăm bạn cháu!

Ký tên : Hoàng Mai

Tôi đọc một hơi, quên cả thở. Tôi không ngạc nhiên về lời lẽ trong thư mà ngạc nhiên về Khoa: thằng bạn nổi tiếng khó thương trong hội. Nó có thể viết thư cho bà ấy? Nó, với bề ngoài châm chọc, cục cằn, thô lỗ, độc ác đôi khi nữa mà có thể làm điều đó ư? Đột nhiên, tôi thấy gần nó quá, thấy mến nó quá!

Tôi quay sang nó, nó đang chăm chú nhìn tôi, mắt ngời sáng, môi hé mở, dáng bộ hết sức dễ thương:

- Mày thấy sao?

- Thấy cái gì kia?

Tôi ngỡ ngàng hỏi lại. Khoa thấp giọng:

- Thấy bà ấy dễ thương chớ thấy cái gì?

Tôi gật đầu:

- Thì chắc rồi, tao đồng ý với mày.

- Mày có ưng bà ấy vô đây đều đều không?

- Đừng hỏi điên, sao lại không ưng!

Tôi cười, gắt nó, song lòng tôi vui như ngày bé đợi mẹ ở ngõ, chờ quà.

Và tôi biết kể từ đây đời tôi sẽ có chút ý nghĩa hơn, dù tôi không bao giờ được như các trẻ bình thường khác, có cha, có mẹ, dù tôi biết bà ấy sẽ chẳng làm gì thiết thực cho tôi, cho tất cả chúng tôi.

Quả thật Trung thu năm nay là một Trung thu đáng nhớ trong đời côi cút của tôi.


MINH QUÂN    

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 189, ra ngày 15-11-1972)

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2019

Mới Lớn
























Em mới lớn như thông non mọc thẳng
Nét trang đài còn ngượng ngập làm quen
Má mới hồng môi mới thắm màu son
Mắt mới biếc và tóc dài theo tuổi

Em mới lớn nhìn ấu thơ lần cuối
Vẫy tay chào kỷ niệm nhỏ đơn sơ
Nhìn tương lai em hồi hộp đợi chờ
Ngày mai đó ra sao em có biết!?

Xin một lần với muôn lời tha thiết
Mơ làm sao, em: chim nhỏ hồn nhiên
Mắt  trong xanh xin đừng vướng ưu phiền
Môi hãy chớm nụ duyên cùng năm tháng

Hãy biết hăng say như mặt trời buổi sáng
Và dịu dàng như gió nhẹ buổi chiều
Đoan trang nhưng không mang tiếng làm kiêu
Yêu lý tưởng nhưng không quên bè bạn

Mơ làm sao, em: Thiên thần sáng láng
Bước giữa đời mà mắt ngắm trăng sao
Với tha nhân em vui vẻ đón chào
Với Thượng đế, em cúi đầu cảm phục

Em là Thiên thần nắm trong tay Hạnh phúc
Và nâng niu trao tặng những ai quen
Em biết cúi đầu khiêm tốn trước lời khen
Biết vui vẻ nghe phê bình trách móc

Biết chia xẻ với những ai mệt nhọc
Biết mỉm cười cùng ai thiếu tình thương
Tâm hồn em trong suốt tựa giọt sương
Cương quyết giống đá hoa cương vững chắc

Em mới lớn, đáng yêu từ ánh mắt
Và dễ thương từ mái tóc buông dài
Nhớ nghe em, đường dẫn tới tương lai
Em hãy rắc cho hoa hồng ngập lối.

                                                  QUYÊN DI

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 149, ra ngày 15-3-1971)

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2019

Giấc Ngủ 20 Năm Của Rip Van Winkle


LTS. Mặc dù câu chuyện "Rip Van Winkle" của Wasington Irving đã có người phiên dịch và in thành sách, nhưng nhận thấy đây là một bản dịch có giá trị của một bạn đọc còn rất trẻ, chúng tôi vẫn chọn đăng trong Ngàn Thông số này để các bạn cùng thưởng thức.

Lời của Washington Irving gởi cho độc giả:

Câu chuyện sau đây được tìm thấy trong đống giấy tờ của Diedrich Knickerbocker, một người quý phái đã đứng tuổi ở Nữu Ước. Trong suốt cuộc đời ông, ông rất tò mò tìm hiểu về lịch sử của những người Hòa Lan đã đặt chân lên xứ này. Dù rằng ông không thể tìm thấy nhiều chi tiết của đề tài ông nghiên cứu qua sách vở truyền lại, nhưng ông biết được bằng cách nghe chuyện những bô lão sống lâu đời ở đây và đặc biệt hơn: ở những bà vợ của họ. Mỗi khi tình cờ ông khám phá ra những gia đình chính gốc người Hòa Lan, sống một cuộc sống đầy đủ tiện nghi trong những căn nhà mái thấp trong trang trại, dưới tàn cây cổ thụ ; ông cho đó là những chi tiết thực, quý báu và ông thường nghiên cứu những điều này một cách kỹ lưỡng.

Kết quả của công trình nghiên cứu này là vài năm sau đó, ông cho xuất bản một quyển sách nói về lịch sử của miền Nữu Ước trong suốt thời gian bị cai trị bởi người Hòa Lan. Trong quyển sách này, ông chỉ viết lại sự thực, chỉ trình bày các sự kiện mà thôi. Do đó, nó được các sinh viên môn sử học kính trọng vì có tính cách hoàn toàn trung thực. Các tài liệu sưu tầm về sử học cũng chấp nhận nó nữa.

Chẳng bao lâu sau khi cho xuất bản công trình của mình, ông qua đời. Nay thì tuy thân xác ông đã trở về cát bụi nhưng ta không thể trách rằng đáng lẽ ông nên dùng thì giờ đó vào những công chuyện khác quan trọng hơn. Mỗi người có một lối sống. Ông thích tìm những ích lợi cho kiến thức của mình theo một đường lối riêng và dù rằng đôi khi ông có vụng về đối với láng giềng và bạn hữu, cái chết của ông vẫn hằng được nhắc nhở một cách buồn rầu hơn là giận dữ. Phần lớn mọi người đều nghĩ rằng suốt cuộc đời ông ông không có ý làm điều gì ác độc.


Ai đã từng đi du lịch ngược dòng sông Hudson chắc chắn sẽ nhớ dãy núi Kaatskill. Nó là một phần đại sơn lệ Appalachian nằm về phía đông xứ ta. Dãy Kaatskill nhô lên về phía Tây dòng Hudson, ngự trị một vùng chung quanh. Màu sắc và hình dáng của dãy núi thay đổi luôn luôn: thay đổ hàng giờ tùy theo thời tiết, tùy theo mùa, cứ nhìn dãy núi người dân địa phương cũng có thể đoán thời tiết mà không sợ sai. Khi dãy núi có màu xanh thăm thẳm và các đỉnh nổi bật trên nền trời, bầu trời rất nhẹ êm. Nhưng đôi lúc, mây trời trên đỉnh đã tản mác bay đi về nơi chân trời, ta thấy đỉnh núi như đội một cái nón màu xám nhạt, trông giống một chiếc vương miện lung linh trong ánh nắng yếu ờt buổi hoàng hôn.

Ngay dưới chân dãy núi kỳ lạ này, du khách có thể nhận thấy những làn khói mỏng bốc lên, uốn éo trên những ngọn cây cao trong nắng chiều. Nơi xuất phát là một làng nhỏ, đã có từ lâu đời ; người Hòa Lan đã ở đó từ những năm mới sang đặt nền móng đô hộ. Đến nay vẫn còn một số nhà, nguyên thủy là của những người Hòa Lan này. Những ngôi nhà này được xây cất theo kiến trúc Hòa Lan và được làm bằng vật liệu cũng được đem từ xứ Hòa Lan.

Rip Van Winkle là người trong làng, chàng đã sống tại đây nhiều năm trước, trong khi xứ ta vẫn còn lệ thuộc Anh quốc. Rip là một người giản dị, chất phác, hiền lành dù rằng tổ tiên chàng đã từng anh dũng chiến đấu chống quân xâm lăng Hòa Lan. Tôi vừa nói rằng Rip là một người giản dị, chất phác, hiền lành. Hơn thế nữa, anh còn là một người hàng xóm tốt bụng, một người rất nhún nhường, "nể" vợ. Mọi việc trong nhà đều do bà vợ kiểm soát và quyết định nên thét rồi anh có thói quen là luôn gật đầu đồng ý trong tất cả mọi chuyện.

Đối với các bà trong làng, Rip là một đề tài mà họ ưa chuộng và thường đem ra nói nhiều nhất. Bất cứ khi nào họ nói về những vụ cãi cọ lộn xộn mới xẩy ra trong gia đình của Rip, họ luôn luôn kết luận rằng Rip phải, Rip có lý và dĩ nhiên là chị vợ luôn luôn lầm lỗi. Những đứa trẻ trong làng thường la hét vui mừng khi Rip đến gần. Chàng làm đồ chơi cho chúng, dạy những trò mới lạ và kể cho chúng nghe những chuyện dài với điệu bộ hết sức duyên dáng, hấp dẫn. Chàng đi đến đâu cũng bị đám trẻ vây quanh và chó trong làng không bao giờ nhè chàng mà sủa.

Rip Van Winkle chỉ có một lỗi lầm lớn: chàng ghét tất cả những công việc có ích lợi. Thật khó hiểu tại sao chàng không ưng làm việc bởi vì Rip có đủ kiên nhẫn và khả năng để đeo đuổi công việc trong một thời gian lâu. Ví dụ như chàng thường ngồi trên một tảng đá ẩm ướt, tay cầm một cần câu dài, nặng trĩu. Chàng ngồi như thế cả buổi không động đậy than van dù rằng có thể chàng đã biết hôm nay khó lòng mà câu được. Rip cũng thường mang súng săn lên vai, đi bộ hàng giờ, từ đồi này sang đồi khác chỉ để bắn vài con thỏ rừng hay chim sẻ. Chàng không bao giờ từ chối nếu láng giềng cần giúp đỡ, ngay cả những công việc khó khăn nặng nề như xây giúp bức tường đá. Các bà trong làng cũng thường nhờ Rip đi đưa thư dùm hay làm những việc vặt mà chồng họ mắc bận chưa làm được. Nói một cách khác, Rip là một người sẵn sàng làm dùm mọi chuyện của người khác, trừ chuyện chính mình. Những công chuyện trong nhà và săn sóc vườn tược cho đàng hoàng thứ tự, Rip thấy rằng không thể nào thực hiện nổi. Thực vậy, Rip thường tuyên bố rằng nông trại của mình đã trở nên vô dụng. Vườn trại của Rip xấu nhất trong vùng. Hàng rào xung quanh cứ lần lượt gãy đổ, bò thì cứ mất lần mất hồi hay đang phá phách dẫm nát vườn rau. Không bao giờ có cây gì mọc được đàng hoàng ngay ngắn trong trại của Rip cả. Dù đã làm mất nhiều đất của ông cha để lại cho vì canh tác cẩu thả ; bây giờ chỉ còn có miếng đất nhỏ xíu, nó cũng không thể nào so sánh được bằng một góc các nông trại khổng lồ chung quanh. Còn các con của Rip nữa, chúng nó cũng lôi thôi, lếch thếch y như cha chúng vậy. Đứa con trai lớn của Rip, giống hệt chàng như đúc, mặc một cái quần cũ của Rip thải ra nên nó phải luôn luôn để một tay lên lưng quần giữ cho khỏi tuột. Rip thấy cuộc đời thật vui vẻ, dễ chịu, chàng ăn ngon hay dở cũng được, không bao giờ suy nghĩ hay lo lắng, chỉ thích ngồi mơ mộng hay huýt sáo để tự do cho tâm hồn bay bổng chơi vơi. Nhưng chị vợ thường kéo Rip về thực tai khi la mắng chàng nào là: vô công rồi nghề, lười biếng v.v... Sáng, trưa, chiều, tối miệng lưỡi chị hoạt động không ngừng. Bất cứ việc gì Rip nói đến hay rờ vào chỉ tổ làm chị thêm giận dữ. Những lúc đó, Rip chỉ có cách trả lời vợ (cách này lâu ngày thành thói quen): đó là ngồi một chỗ, ngẩn mặt nhìn lên trời và im lặng. Tuy nhiên về sau cách này cũng không hiệu nghiệm ; thái độ này làm chi la to và ồn ào hơn nên Rip không còn cách nào khác hơn là đi khỏi nhà. Trong gia đình, người bạn duy nhất của chàng là con chó tên Sói. Chị vợ Rip cũng thường đánh mắng Sói luôn vì chị ta coi cả hai: Rip và Sói là một bọn lười biếng, vô tích sự như nhau. Trong rừng Sói là một con chó can đảm vào bậc nhất. Tuy vậy có con chó nào đủ can đảm đứng bình tĩnh trước những lời dữ dằn của miệng lưỡi đàn bà?! Ngay khi bước vào nhà đầu Sói gục xuống để đuôi quấn xung quanh thân. Nó đi nhẹ nhàng, rảo xung quanh nhà với cặp mắt sợ sệt và sẵn sàng chạy ra cửa nếu chị vợ Rip có vẻ hơi không bằng lòng chuyện gì.

Năm tháng qua đi, tính sợ vợ của Rip càng ngày càng tăng. Một người đàn bà chanh chua hung dữ không bao giờ trở nên hiền dịu hơn dù rằng số tuổi ngày càng chồng chất và một cái lưỡi "nhọn" thì như một con dao càng ngày càng sắc hơn vì được đem dùng thường xuyên. Về sau, mỗi khi vợ Rip la hét, giận dữ thì chàng lẳng lặng rút ra khỏi nhà đến ngồi với mấy người bạn cũng "vô công rồi nghề" như chàng. Họ thường ngồi trước cửa một quán cóc đầu làng, một thứ "khách sạn" bé nhỏ.

Tại đây, họ ngồi dưới bóng mát của một cây cổ thụ để tránh ánh nắng chói chang của mùa hè, kể cho nhau nghe những câu chuyện buồn ngủ dài lê thê, không đâu vào đâu. Đôi khi một người trong bọn tình cờ lôi ra được một tờ báo cũ mèm của mấy người khách ngủ trọ bỏ quên thì lập tức họ ngồi ngay ngắn lại, nghiêm trang nghe Derrick Van Bummel (thầy giáo trong làng, một con người học rộng biết nhiều và không hề sợ những chữ dài, rắc rối trong tự điển) xướng to lên, bằng một giọng trang trọng khác thường. Và sau đó họ bàn cãi một cách sôi nổi và khôn ngoan làm sao những tin tức xảy ra cả mấy tháng trước! Sau cùng ý kiến của cả bọn được phê bình bởi Nicholas Vedder, một người già nhất trong làng và cũng là chủ nhân ông quán cóc này. Cụ ngồi trên bục cửa quán cóc từ sáng đến tối, chỉ xê xích vừa đủ để tránh những tia nắng gay gắt của mùa hè, chiếu lọt qua tàng cây rậm rạp. Hầu như cụ không bao giờ nói, chỉ hút ống điếu luôn mồm. Khi có tin tức gì trong báo làm cụ phật ý, cụ rít ống điếu một cách giận dữ, nhưng những khi hài lòng, cụ hút một cách chậm rãi, bình thản. Đôi khi rút ống điếu ra khỏi miệng, cụ ngửa cổ thả những sợi khói xanh lên trời, hai mắt lim dim, đầu gật gù. Đó là những lúc cụ tán đồng một ý kiến gì. Nhưng sự thoải mái ở đây cũng chẳng kéo dài được lâu. Một hôm ngẫu nhiên chị vợ Rip khám phá ra cái "hội" này và dĩ nhiên đời nào chị ta bỏ qua (!). Chị đến nơi mắng xa xả vào mặt những người theo chị không có một tí giá trị nào. Đến ngay cả cụ già Nicholas Vedder chị cũng không buông tha. Đến nước này thì thôi! Chàng Rip khốn khổ xách súng lên vai và đi vào rừng với một nỗi tuyệt vọng đau đớn ê chề. Chàng ngồi dưới một gốc đại thụ và vuốt ve người bạn trung thành: chó Sói. Rip thì thầm: "Sói yêu quí, đời mày cũng cực khổ và buồn tẻ lắm nhưng mày không hề biết sợ. Bây giờ tao ở đây, mày theo tao nhé". Sói ve vẩy đuôi nhè nhẹ và ngước mắt nhìn chủ nó một cách buồn rầu. Sau một hồi đi lang thang trong rừng, Rip nhận thấy chàng đang leo lên ngọn cao nhất của dãy Kaatskill. Bốn bề hoàn toàn yên lặng, chỉ có tiếng xào xạc của lá khô mỗi khi Rip dẫm lên. Mệt mỏi và buồn rầu chàng nằm dài trên bãi cỏ đưa mắt nhìn lá rơi. Rip thấy làng chàng ở cách đó mấy dặm trông nhỏ xíu ở bên dưới và dòng sông Hudson ở xa, rất xa.  Ngoảnh mặt nhìn về phía khác Rip nhìn thấy thung lũng sâu thăm thẳm với một vẻ man dại, cô tịch. Đáy thung lũng đầy những đá, lở ra từ sườn núi đá khổng lồ. Nắng chiều đã nhạt, thung lũng đã tối dần, Rip thấy nếu về đến nhà thì trời đã tối lâu rồi. Và chàng thở dài nhè nhẹ, buồn thấm thía khi nghĩ đến khuôn mặt giận dữ của chị vợ ở nhà. Ngay khi Rip đứng lên quay lưng đi về, chàng nghe tiếng gọi mơ hồ đàng xa "Rip Van Winkle, Rip Van Winkle". Chàng nhìn xung quanh nhưng không thấy gì ngoại trừ một cánh chim trời đang soãi cánh bay về tổ. Rip cho là mình nghe lầm nên quay lưng lại định bước đi nhưng chàng lại nghe, lần này rõ hơn, một giọng người vang lên trong chiều vắng: "Rip Van Winkle, Rip Van Winkle". Lông con Sói dựng đứng lên và nó lùi dần về phía Rip, mở to mắt nhìn về phía thung lũng với một vẻ hãi sợ khủng khiếp. Bây giờ Rip cũng cảm thấy một bầu không khí ghê gớm bao bọc chung quanh và chàng cũng đưa mắt lo lắng nhìn về phía thung lũng. Chàng chợt nhận thấy một khuôn mặt kỳ lạ, chậm chạp bám lấy những hòn đá nhọn leo lên, trên lưng hắn có mang một vật gì chắc hẳn là nặng lắm vì lưng hắn cong oằn xuống. Rip hết sức ngạc nhiên và tự hỏi không biết người nào mà lên đây, chốn hoang vu, quạnh quẽ này làm gì. Nhưng Rip lại cho rằng đó là một người láng giềng nào đó đang cần sự giúp đỡ nên chàng vội chạy đến.

Khi Rip đến gần, chàng lại càng ngạc nhiên hơn. Hắn là một người lùn, đầu vuông vuông, tóc rậm rạp, có một hàm râu xám. Hắn đã già, ăn mặc theo kiểu cổ Hòa Lan: một cái áo choàng ngắn có một sợi dây lưng, hắn mặc một cái quần có rất nhiều túi và có hai hàng nút ở hai bên ống quần. Hắn mang trên vai một thùng gỗ nhỏ và hình như chứa đầy một chất lỏng. Hắn dừng lại và ra hiệu cho Rip đến gần giúp đỡ.

Dù rằng trong lòng hoang mang và không hoàn toàn tin tưởng vào người lạ mặt, Rip vẫn bước đến đưa hai tay ra gỡ lấy gánh nặng trên vai hắn. Và họ cùng leo men theo một đường rãnh hẹp trong núi đã bị xoi mòn trước kia bởi một giòng nước từ trên núi cao đổ xuống. Trong khi đang leo, Rip nghe thấy nhiều âm thanh khác thường. Hình như là tiếng sấm và dường như nó xuất phát từ thung lũng sâu thẳm để rồi vang dội vào vách đá. Rip hơi dừng lại một tí để nghe cho rõ hơn, và chàng yên tâm cho rằng đó là tiếng sấm của một cơn mưa cách đây không xa lắm. Hài lòng với sự giải thích của mình, Rip tiếp tục đi nhanh hơn. Đi xuyên qua khe núi chàng thấy ở đàng xa nhưng không xa lắm có một khoảng đất thấp được đào xuống hơi sâu như những hí viện trong lòng đất của Hi Lạp cổ. Trong suốt lúc đi cả hai người đều im lặng dù rằng Rip rất thắc mắc, không biết người lạ này đem thùng gỗ lên đây làm gì. Rip cảm thấy sợ hãi và hình như chàng mất hết cả can đảm.

Khi đến khoảng đất, Rip lại càng ngạc nhiên hơn bao giờ hết. Ở chính giữa khoảng đất là một miếng đất phẳng phiu, có một nhóm người lạ mặt đang chơi trò chơi "chín trụ". Những người này ăn mặc theo lối cổ xưa. Có người dắt dao lủng lẳng bên sườn và hình như cả bọn ai cũng đều mặc một cái quần dài đã cũ. Bộ mặt của họ cũng lạ và già. Rip chưa hề thấy những khuôn mặt này bao giờ. Người nào cũng có một bộ râu, màu sắc khác nhau, người râu xám, kẻ râu đỏ, râu vàng. Bọn họ ai cũng có đội một cái nón. Có một người như là lãnh tụ của nhóm. Hắn có vẻ quý phái, đã già, thân hình mập mạp, mang một sợi dây nịt to bản, đầu đội một cái nón cao có dắt lông chim, đi vớ đỏ và mang một đi giày ống cao. Rip thấy họ ăn mặc như hình vẽ ở bức tranh cổ trong làng. Bức tranh này được những người Hòa Lan định cư đầu tiên đem sang.

Quang cảnh thật lạ lùng vì dù họ đang chơi một trò chơi, vẻ mặt người nào cũng nghiêm trang và trầm trọng. Họ chơi trong im lặng và thật vậy: đây là một cảnh buồn tẻ nhất mà Rip chưa hề trông thấy. Chỉ có tiếng va chạm của mấy trái banh cắt đứt sự im lặng nặng nề. Khi mấy trái banh lăn, nó gây ra tiếng rền vang như sấm. Bỗng nhiên họ ngừng chơi và chăm chú nhìn Rip, một cái nhìn chòng chọc làm tim Rip muốn nhảy ra khỏi lồng ngực cùng với hai đầu gối muốn khuỵu xuống. Người già lúc nãy rót một thứ nước từ thùng gỗ ra những ly to bằng kim loại rồi vẫy Rip lại ra hiệu cho chàng bưng mời bọn người lạ mặt. Rip riu ríu làm theo với một nỗi lo sợ vô tả. Bọn họ yên lặng cầm ly uống một hơi dài rồi trở lại trò chơi. Dần dần sự sợ hãi của Rip không còn nữa. Khi không ai trông thấy, Rip nghiêng thùng gỗ, rót một ly và uống cạn. Chất nước mới thơm ngọt làm sao! Rip lại lén uống một ly khác. Cứ ly này đến ly khác, một lúc hai mắt Rip nặng chĩu, đầu gục xuống và chàng đi vào giấc ngủ, giấc ngủ say sưa.

Khi tỉnh dậy, Rip thấy mình nằm trên bãi cỏ xanh, nơi mà lần đầu tiên chàng thấy ông già lạ mặt vác trên lưng cái thùng gỗ nặng nề. Rip dụi mắt và nhận ra trời đã sáng. Mấy con chim sơn ca ríu rít vui tươi trên cành, lá non xanh mướt khẽ lay động trước gió ban mai. "Ủa! Tối hôm qua mình có ngủ ở đây đâu, mình nhớ rõ ràng lắm mà!" Rip nghĩ thầm. Chàng nhớ lại tất cả sự việc xảy ra trước khi ngủ một giấc dài, say sưa: người lạ mặt với thùng rượu trên vai con đường xuyên qua núi bọn người nghiêm trang, lạ mặt chơi trò "chín trụ" chất nước ngon ngọt. "Trời ơi! Ly rượu." Rip rên lên. "Bây giờ về nhà ăn nói sao đây hở trời?!"

Rip nhìn xung quanh tìm cây súng nhưng thay vì cây súng đẹp đẽ, được chùi dầu mỡ bóng loáng, Rip tìm thấy một cây súng cũ kỹ, rỉ sét nằm cạnh bên. Chàng suy nghĩ một lúc rồi kết luận bọn người lạ mặt đã đánh lừa chàng: cho uống rượu mạnh rồi ăn cắp cây súng mới.

Con Sói trung thành của chàng cũng đi đâu mất. Có lẽ nó đang đi tìm săn một con thỏ hay con chim. Rip huýt sáo và kêu to tên  nó lên nhưng không có gì, chỉ có tiếng kêu của chàng dội vào vách đá vọng lại, mang đầy vẻ chế riễu. Rip quyết định quay trở lại sân chơi chiều qua. Rip thầm nghĩ: "Nếu ta gặp họ, ta sẽ đòi lại cây súng và con chó".

Khi đứng dậy, Rip thấy hai chân nhức mỏi, nặng nề hơn thường lệ, chàng cảm thấy đau nhức ở lưng nữa. "Nằm giữa trời cả đêm mà không nhức cũng uổng. Nếu về nhà mà ốm một trận thì mình chắc phải nghe những lời chanh chua của mụ gấp mười lần thường ngày". Rip nghĩ thầm.

Rip đi lần xuống thung lũng một cách khó nhọc. Chàng tìm thấy con đường xuyên qua núi đá chiều hôm qua nhưng lạ lùng làm sao! Chiều hôm qua khô cạn, bây giờ có một dòng nước từ trên núi đổ xuống. Dòng nước chảy từ hòn này sang hòn khác, đổ vào thung lũng với tiếng rì rào vui tươi. Rip đứng há hốc mồm kinh ngạc nhưng rồi chàng cũng cố gắng leo lên những cành cây mọc theo con suối, đi men từ cây này sang cây khác. Sau cùng chàng đến nơi mà những tảng đá mở rộng ra: đó là đường vào sân chơi chiều qua. Một lần nữa Rip lại ngạc nhiên: không có một dấu vết gì chứng tỏ các tảng đá khổng lồ này đã có lần mở ra chừa một lỗ hổng.

Các tảng đá xếp chồng lên nhau thành một chướng ngại vật nguy hiểm, không thể nào qua được. Rip đành phải chịu thua. Một lần nữa, chàng lên tiếng gọi con Sói trung thành nhưng cũng chỉ nghe tiếng vang vọng lại mơ hồ. "Bây giờ phải làm gì?" Rip tự hỏi. Cả buổi sáng đã qua đi và bụng Rip như có những gai nhọn đâm qua nhắc rằng sáng nay chàng chưa ăn điểm tâm. Rip buồn rầu vì mất Sói, người bạn thân yêu nhất đời và chàng lại run lên khi nghĩ đến mặt mụ vợ dữ dằn. Tuy nhiên suy đi nghĩ lại Rip mang cây súng rỉ sét lên vai và lòng đầy lo lắng, Rip tìm đường khác rảo bước về nhà: chàng không muốn chết đói trong rừng.

Khi về gần đến làng, Rip gặp rất nhiều người nhưng chàng không thấy ai quen cả. Rip rất ngạc nhiên và suy nghĩ rất lung vì hầu như chàng quen mặt tất cả mọi người chung quanh vùng. Còn y phục của họ nữa! Người nào ăn mặc cũng kỳ cục và rất khác y phục của các người quen, láng giềng của chàng. Bọn họ cũng ngạc nhiên và nhìn Rip chăm chú, người nào cũng đưa tay lên rờ cằm. Bất giác Rip cũng đưa tay lên rờ cằm và chàng suýt la lên khi thấy râu mình mọc dài ra, rậm rạp.

Bây giờ chàng đã đến đầu làng. Một đám đông trẻ nít lạ mặt chạy theo chàng, la hét và chỉ trỏ hàm râu quái dị. Còn những con chó nữa, tất cả đều khác lạ với các con chó trong làng mà chàng biết. Chúng chồm lên sủa một cách dữ dội. Ngay cả cảnh vật trong làng cũng thay đổi và hình như làng có rộng hơn trước. Có nhiều dãy nhà mới mà Rip chưa hề thấy bao giờ và có nhiều ngôi nhà mà chàng nhớ như in trong óc giờ đã biến đi đâu mất. Các cửa tiệm trong làng mang những tên lạ chàng chưa hề nghe và đây đó lố nhố những khuôn mặt mà chàng chưa hề thấy. Tất cả mọi việc xung quanh Rip đều kỳ lạ. Bây giờ chàng cảm thấy lo lắng hơn trước. Chàng nghĩ rằng có một sự gì huyền bí đã thay đổi, kiểm soát, chế ngự chàng và thế giới chung quanh.

Chắc chắn đây là làng quê của Rip. Chàng mới rời làng ngày hôm qua đây. Dãy núi Kaatskill nằm đó kìa và dòng sông Hudson lung linh như một sợi chỉ bạc đang chảy dưới xa. Các đồi núi và thung lũng kìa, phong cảnh thật quen thuộc y như trong trí nhớ của chàng, không có gì thay đổi. Rip suy nghĩ một lát rồi thở dài: "Chính vì chén rượu tối hôm qua".

Cũng khó khăn Rip mới tìm được đường vô nhà và chàng đi vào thật nhẹ nhàng, có ý lo lắng chờ nghe giọng nói the thé chanh chua của vợ. Nhưng Rip đứng lặng người đi, kinh ngạc. Ngôi nhà thật điêu tàn: mái ngói sụp đổ tan tành, cửa sổ sút bản lề văng từng mảnh và cửa chính thì nằm lăn lóc trên mặt đất. Một con chó chỉ còn da bọc xương trông y như con Sói, đứng bên tường nhà đổ nát. Rip gọi tên nó lên nhưng con chó chỉ nhe răng ra rồi quay đi. Điều này tàn nhẫn và đau đớn quá làm chàng tê tái cõi lòng. Rip thì thầm: "Sói ơi, Sói yêu quí trung thành ơi, cả đến mày cũng quên ta nữa sao?"

Chàng bước vào căn nhà đổ nát định nói hết sự thực với vợ. Nhưng ngôi nhà trống rỗng, vắng lặng. Người đã đi rồi. Sự cô đơn của Rip òa vỡ ra, lớn mạnh hơn sự sợ hãi những lời đay nghiến của vợ. Rip cất tiếng gọi vợ và các con ầm ỹ nhưng chỉ có căn nhà vắng điêu tàn nhái lại lời chàng từng chập.

Giờ thì chàng chạy ra khỏi nhà, đến quán đầu làng nơi chàng đã ngồi hàng buổi cho tiêu thì giờ nhàn rỗi. Nhưng, thất vọng thay! Quán cũng không còn nữa. Một ngôi nhà lầu đồ sộ, cũ xưa xây cất bằng gỗ đã chiếm chỗ. Trên cửa cái là một tấm biển đề hàng chữ: "LIÊN HIỆP KHÁCH SẠN, chủ nhân: Jonathan Doolittle". Trên cây cổ thụ trước quán có một cái sào dài treo một lá cờ đầy sao và sọc. Tất cả mọi sự đều lạ lùng, Rip không tài nào hiểu được. Và chàng nhớ lại trước quán có treo một bức hình vẽ vua George đệ tam. Chàng ngẩng đầu lên thì chao ôi! ngạc nhiên làm sao, áo khoác của nhà vua màu đỏ giờ đây được thay bằng màu xanh và đầu ngài đội nón thay vì một vương miện ; bên dưới lại có hàng chữ: ĐẠI TƯỚNG HOA THỊNH ĐỐN.

Có một đám đông bu quanh trước cửa nhưng Rip không nhận ra ai cả. Chàng đưa mắt tìm ông già khôn ngoan sành sỏi Nicholas Vedder với khuôn mặt to, có cằm đôi và một ống điếu dài nhả khói cuồn cuộn khi nghe đọc một bài báo "ngu xuẩn". Chàng cũng đưa mắt tìm Van Bummel, thầy giáo làng có nhiệm vụ đọc to lên nội dung tờ báo cũ rích. Ở một góc trong quán có một người ốm, cao dong dỏng, điệu bộ trông thật khó coi, đang nói về các quyền của người công dân, cuộc tuyển cử, dân biểu, nghị sĩ, tự do và các danh từ lạ lùng khác. Những danh từ này chẳng có ý nghĩa gì cả với đầu óc rối loạn của Rip. Rip nhìn lại thân mình: bộ râu dài thượt, áo quần cũ kỹ và khẩu súng rỉ sét. Đám đông vây quanh chàng, xoi mói dòm từ đầu đến chân. Một trong số các người đang bàn luận ở trong góc quán đứng dậy. Họ đi đến gần Rip và hỏi thì thầm: "Ông bỏ cho bên nào?". Một người lùn hơn, điệu bộ nóng nảy, giật lấy cánh tay Rip và hỏi chàng thuộc về bên nào. Trong khi Rip đang cố gắng suy nghĩ để hiểu xem họ nói gì thì một người đàn ông, dáng dấp có vẻ quan trọng, đến đứng trước mặt chàng nghiêm giọng: "Tại sao ông đến cuộc tuyển cử này với một khẩu súng trên vai và một đám đông đi ồn ào theo sau? Có phải ông định bắt đầu gây rối loạn trong làng này hay không?"

- "Trời ơi, thưa ngài" chàng Rip khốn khổ la lên. "Tôi là một người đau khổ nhất đời. Tôi sinh trưởng và lớn lên ở nơi đây. Tôi luôn luôn một lòng trung thành với nhà vua. Xin Chúa phù hộ cho ngài!"

Đám đông la lên, ồn ào, giận dữ: "Xin Chúa phù hộ cho nhà vua!? Đuổi nó đi! Bỏ tù nó ngay!" Người đàn ông "quan trọng" phải vất vả lắm mới trấn tĩnh được đám đông rồi quay sang Rip: "Ông đến đây làm gì? Ông là ai? Ông muốn tìm kiếm cái gì?"

Rip nức nở: "Thưa ngài, tôi là một người vô hại. Tôi đến đây để tìm vài người láng giềng thường ngồi chơi với tôi trước quán này".

- Rồi, những người láng giềng của ông là ai? Kể tên ra.

Rip suy nghĩ một lát rồi hỏi thăm: "Nicholas Vedder đâu rồi?" Cả đám đông đứng im lặng, ngạc nhiên. Một lúc sau, một người đàn ông già nua nói to lên bằng một giọng ngạc nhiên: "Nicholas Vedder! Tại sao kỳ cục vậy? Ông ấy đã chết cách đây 18 năm rồi mà."

- Brom Dutcher đâu rồi? Rip hỏi.

- Ồ! Hắn đã đi vào quân đội từ lúc mới bắt đầu chiến tranh. Có người nói hắn đã chết trong trận đánh ở Stony Point. Có thể hắn còn sống mà cũng có thể hắn đã chết. Tôi không biết. Nhưng từ ngày hắn đi đến nay hắn không hề trở lại.

- Vậy thì Van Bummel, thầy giáo làng đâu rồi?

- Ông ấy cũng đi vào quân đội rồi. Ông ta đã lên tướng và mới đắc cử vào quốc hội.

Lòng Rip tựa hồ tan nát khi nghe những đổi thay, những đổi thay đã làm chàng mất đi các người thân yêu cũng như bè bạn, những đổi thay đã bỏ chàng ở lại một mình trơ vơ cô đơn trên cõi đời này. Cứ mỗi câu trả lời lại làm cho đầu óc chàng rối bời thêm. Chàng thoáng hiểu mơ hồ là đã có một khoảng thời gian khá lâu đã trôi qua chứ không phải mới một ngày như chàng tưởng. Có những danh từ mới chàng không tài nào hiểu được: chiến tranh, quốc hội, Stony Point v.v... Bây giờ thì chàng sợ rồi, rất sợ không dám hỏi thêm câu gì về bạn bè nữa và bất chợt khóc lên trong nỗi đau đớn, tuyệt vọng cùng cực: "Vậy thì ở đây không ai biết Rip Van Winkle hay sao?"

"Ồ! Rip Van Winkle!" Có hai người đứng trong đám đông la to lên: "Phải, đúng rồi! Chỗ kia kìa, chỗ đó Rip Van Winkle thường hay ngồi khi xưa." Chàng Rip khốn khổ giờ đây hết sức đáng thương. Chàng tự hỏi rằng chàng là Rip hay một người nào khác. Trong khi Rip đang ngồi ôm đầu suy nghĩ thì có người trong đám đông la to lên: "Ông là ai? Tên ông là gì?"

"Chỉ có trời biết!" Rip rên lên trong niềm đau đớn tận cùng "Tôi không phải là tôi nữa, tôi là một người khác. Tối hôm qua, tôi chính là tôi nhưng rồi tôi buồn ngủ và ngủ say ở trên núi, chúng đã đổi súng của tôi và rồi tất cả mọi sự đều đổi thay và tôi cũng thay đổi ; bây giờ tôi không biết tên tôi cũng như tôi là ai!".

Mọi người nhìn nhau với những nụ cười ý nghĩa. Người ta thì thầm: "Dễ hiểu quá mà! Ông già này điên rồi" và có người hạ giọng: "Tước lấy súng hắn đi thôi. Ai biết hắn sẽ làm gì?"

Nhưng đúng lúc đó, một người đàn bà dáng dấp lịch sự rẽ đám đông đi vào, nhìn Rip chăm chú. Nàng có bồng một đứa bé trên tay và nó khóc to lên vì sợ hãi trước hình dáng cổ quái của chàng. "Nín đi Rip" nàng nói với con như thế. "Nín đi con, ông già sẽ không làm gì con đâu".

Tên của đứa con, thái độ của người mẹ và giọng nói của nàng: những điều đó như làm thức tỉnh ký ức của Rip. Chàng hỏi:

"Thưa bà, tên bà là gì?"

- Judith Gardenier.

- Và ông thân của bà?

- Ồ, cha tôi là một người bất hạnh. Ông cụ tên là Rip Van Winkle nhưng đã hơn 20 năm nay từ ngày ông ấy bỏ đi khỏi nhà, xách theo cây súng thì không ai nghe tin tức gì về ông nữa. Con Sói của ông về đến nhà một mình và ông cụ tôi đã tự tử hay bị dân da đỏ bắt cóc thì không ai biết được. Còn tôi, tôi là con gái út của người.

Rip chỉ còn cần hỏi một câu nữa thôi và với giọng run run chàng nói:

"Vậy thì mẹ của bà đâu?"

- "Ồ! Mẹ tôi mất rồi, cách đây cũng đã hơi lâu. Bà bị đứt mạch máu trong một cơn giận dữ với người bán hàng rong ngoài đường".

Có một cái gì êm ái, dễ chịu làm Rip thở phào. Chàng ôm chặt con gái và đứa cháu, nấc lên: "Cha chính là cha của con đây" Rip khóc òa "Chàng trai trẻ Rip Van Winkle ngày nào, bây giờ là ông già Rip Van Winkle. Không ai biết Rip khốn khổ này hay sao?"

Đám đông ngạc nhiên quá, cứ đứng yên há hốc mồm ra. Phải một lúc sau mới có một cụ già rẽ đám đông bước vào, đứng trước mặt Rip nhìn chàng một lúc rồi la lên: "Đúng rồi! Đủ rồi! Đây chính là Rip Van Winkle. Chính hắn! Chúng tôi vui mừng mà thấy ông bạn trở về." Cụ già ngừng lại thở dốc rồi tiếp tục "Nhưng suốt 20 năm nay ông ở đâu?"

Câu chuyện của Rip được kể lại đầy đủ: câu chuyện lạ kỳ mà 20 qua đối với chàng chỉ một đêm không hơn không kém. Cả đám đứng yên nhìn chàng chăm chú nghe truyện. Có vài người không tin nhìn nhau mỉm cười. Người đàn ông "quan trọng" nhún vai rồi lắc đầu.

Tuy nhiên sau cùng mọi người thảy đều chấp nhận ý kiến của cụ già Peter Vanderdont được một người trong bọn nhận ra và mời cụ vào trong khi cụ đang đi chậm chạp trên đường. Cụ Peter là người già nhất trong làng đang còn sống cho đến bây giờ và biết hết những chuyện xưa tích cũ của miền. Cụ nhớ ra Rip ngay và nghe chuyện với một dáng hết sức thích thú, hài lòng. Cụ đoan chắc rằng có một sự huyền bí hiện hữu trong dãy Kaatskill. Tổ tiên cụ đã từng kể cho cụ nghe rằng Hendrick Hudson, người đầu tiên khám phá ra dòng sông. Cụ cũng kể rằng chính ông thân cụ đã trông thấy ngài và các cụ già Hòa Lan của ngài chơi trò "chín trụ". Ngay cả cụ nữa, cụ cũng đã nghe thấy tiếng banh chạm nhau nghe rền như sấm vào những buổi trưa hè.

Rồi đám đông giải tán và trở lại những liên quan quan trọng hơn về cuộc tuyển cử. Rip được con gái mời về nhà ở. Nàng có một căn nhà đầy đủ tiện nghi. Chồng nàng là một trại chủ rất vui tánh và Rip cũng nhớ ra hắn là một đứa bé trong làng thường được Rip cõng nhiều lần. Và còn con trai của Rip nữa, nó giống chàng như đúc. Bây giờ nó đang làm việc cho một nông trại trong vùng. Nó giống tính Rip ngày trước, chuyện gì cũng tham dự vào trừ chuyện của mình.

Bây giờ Rip trở lại nếp sống ngày xưa. Chẳng  bao lâu chàng tìm lại được nhiều bạn cũ. Họ thường tụ họp kể cho nhau nghe những cuộc bể dâu. Rip thích làm quen với bọn thanh niên trong làng, chúng đã bắt đầu mến chàng.

Ở nhà không có việc gì làm và cũng đã đến tuổi già, cái tuổi mà không bị người nào ghét vì ăn không ngồi rồi. Rip lại kiếm  một chỗ ngồi trước quán làng như ngày xưa. Chàng được mọi người kính trọng như các cụ già trong làng và chàng có thể kể những câu chuyện về ngày xưa chuyện "trước cuộc chiến tranh". Phải mất một thời gian lâu Rip mới hiểu rõ hết những biến cố kỳ diệu xảy ra trong suốt giấc ngủ 20 năm của chàng. Rip biết rằng có một cuộc chiến tranh để thoát khỏi ách cai trị, lệ thuộc vào Anh quốc. Giờ đây chàng là một công dân tự do của Hiệp chủng quốc thay vì một người dân dưới sự cai trị của vua George đệ tam. Tuy nhiên, Rip không phải là một chính trị gia nên những sự thay đổi về quốc gia, đế chế không làm chàng xúc động nhiều. Chàng chỉ hiểu rõ một thứ độc lập đến với chàng đó là thoát khỏi cái miệng chanh chua, dữ dằn của vợ. Vì được hoàn toàn yên ổn nên Rip có thể đi chơi đây đó bất cứ lúc nào tùy thích. Mỗi khi có ai nhắc đến vợ, Rip lắc đầu nhè nhẹ và đưa mắt nhìn lên khoảng không. Không ai biết rằng thái độ đó của chàng biểu lộ một sự chấp nhận số mệnh hay vui mừng vì thoát khỏi phải nghe những lời đay nghiến hàng ngày.

Rip thường kể lại câu chuyện của mình cho bất cứ người khách lạ nào đến làng. Người ta nhận thấy rằng đầu tiên, Rip có thay đổi chi tiết đôi chút mỗi lần kể chuyện, nhưng sau cùng câu chuyện giữ nguyên không đổi nữa mà nó giống y như lời mà tôi kể ra đây. Có vài người tỏ ý nghi ngờ về sự thật câu chuyện nhưng các cụ già trong "hội các người đồng bang gốc Hòa Lan" đoan chắc rằng câu chuyện có thật. Cho đến ngày nay cứ mỗi khi dân chúng trong vùng nghe sấm vọng lại từ dãy Kaatskill vào trưa hè nào đó, họ nói ngay rằng Hendrick Hudson và các người của ngài đang chơi trò "chín trụ". Và ở trong vùng, các ông chồng kém may mắn như Rip Van Winkle đôi khi mong ước được uống một chén: chén rượu tiên đưa vào giấc ngủ dài.


ĐÀO THÁI CHÂN dịch    

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 22, ra ngày 20-3-1972)

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2019

Thầy Kể Em Nghe Quê Hương Nước Việt












Gởi lớp 5 3 G.Ô.T.

Thầy kể em nghe quê hương nước Việt
Hình chữ S dài cảnh đẹp nên thơ
Một dải giang sơn bao người góp lại
Băm sáu triệu người tính vẫn đơn sơ

Thầy cũng như em chưa từng đi hết
Chỉ học trong bài cũng thấy yêu thương
Bắc, trung, nam lẫy lừng trong sách vở
Mỗi một miền đều gợi nét quê hương

Thầy đã sinh ra nơi miền bắc rộng
Núi xoải chân hình nan quạt âm u
Có những dòng sông đi vào lịch sử
Và những hội hè thầy vẫn tương tư

Thầy đã đi qua nơi miền trung hẹp
Thác chảy đưa đường dẫn tới kinh đô
Qua những cao nguyên đậm tình kinh thượng
Bãi biển đông người thuyền lưới ra vô

Thầy đã lớn lên nơi miền nam đó
Ruộng thẳng cánh cò sông chẻ trăm nơi
Thầy vẫn hiên ngang được làm dân Việt
Ăn bát cơm nhà cũng thấy thơm hơi

Thầy giảng em nghe cho lòng sống dậy
Những nét rạng ngời của nước non ta
Em đã sinh ra và làm dân Việt
Phải biết bảo tồn xây dựng quê cha.

                                              THẬP CẨM
                                              (giờ địa lý 21-2-75)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 136, ra ngày 15-3-1975) 

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2019

Khai Từ Cho Sáu Tháng Đầu Năm




Tháng giêng

Bước sang đường nắng vừa lên
Phố chưa khai bảng, còn then đỏ cài
Thoáng sương còn lấp lánh mai
Mười phương đem gió về thay cho mùa

Tháng hai

Hương trầm ngút tỏa cổ lư
Phay phay muội khói trầm tư ngậm ngùi
Cành đào hoen nắng xuân tươi
Hồn mùa xanh có rong chơi một mình?

Tháng ba

Vàng lên thấm ngọn trúc xinh
Tháng ba về với thanh minh tiết buồn
Én xa rời bỏ mùa xuân
Giấu đôi tiếng hót bên đường cỏ non

Tháng tư... lối cỏ héo hon
Mưa mùa chừng đã khóc mòn nắng hanh

Tháng năm... chờ tiếng hoàng oanh
Về trong từ cánh lá xanh trái mùa

Tháng sáu... mưa muộn mưa thừa
Tiễn ta đi để cho vừa lòng nhau...

                                                  NHÃ ĐẢO

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 219, ra ngày 15-2-1974)


Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2019

Một Cuộc Dạo Mát Bên Bờ Biển


"Sáng nay trời đẹp quá! Chúng ta hãy đi dạo mát dọc theo bờ biển đi" Wendy nói với hai cô bạn học, Margaret và June, đang nghỉ hè tại nhà nàng trên bờ biển Yorkshire. Má Wendy gói cho họ ít thức ăn trưa, và rồi ba cô khởi hành, hẹn tới giờ uống trà thì về.

Thực đúng là một ngày tươi đẹp. Ánh nắng tươi sáng nhưng không nóng lắm. Biển im lặng và họ có thể thấy một làn sóng trắng nhịp nhàng xô chạy vào bờ, với tiếng rạt rào từ dưới nhẹ nhàng đưa lên. Các hải điểu  lượn đi lượn lại trên đầu họ. Đi trên đám cỏ ngắn mềm, thỉnh thoảng có vài con thỏ sợ sệt chạy vào hang, họ nói với nhau những gì họ đã làm ở trường và những gì họ định làm khi trở lại.

June nói:

- Ở đây thích thú hơn ở thành phố nhiều chứ nhỉ. Ước gì chúng ta được ở đây luôn. Miền quê thực sự còn thú hơn là một công viên.

Họ ngồi xuống rìa bờ dùng cơm trưa, và nán lại đây để ngắm cảnh đẹp. Margaret bỗng cảm thấy lạnh.

Nàng bảo:

- Trời bắt đầu nổi gió và kìa, nhìn các đám mây đen kéo đến.

Wendy nói:

- Hình như sắp có bão, nếu không tìm chỗ trú chúng ta sẽ ướt mất thôi. Tốt hơn là ta chạy lại cái nhà cũ bỏ hoang đằng kia cách đây chừng một dặm. Hiện không có ai ở đấy cả, ta có thể vào được.

Họ vội vã đi tới, chưa tới nơi đã có chớp sáng lòe. Rồi sấm nổ rền và vừa tới lúc họ tìm thấy lối vào qua một cửa sổ, mưa đổ xuống như thác.

Margaret nói:

- May mà chúng ta vào được đây. Nhưng tại sao nhà lại bỏ hoang? Nhà nầy ở được đấy chứ.

Wendy bảo:

- Trước kia đây là một cái trại. Nhưng đất không có mầu mỡ, mà lại ít nước, nên họ bỏ đi. Các chị có thấy cái giếng lớn ngoài sân kia chứ? Giếng sâu lắm, thế mà hầu như khô cạn quanh năm.

June hỏi:

- Có một cái thang sắt bên cạnh. Nó dẫn tới đâu vậy?

Wendy trả lời:

- Tôi cũng chẳng hiểu. Khi mưa tạnh rồi ta sẻ ra đấy xem nếu chị thích.

Cơn giông không quá một giờ đã dứt, tuy sấm sét còn ầm ì ở xa xa. Mưa vừa ngớt, ánh nắng lại lóe lên. Họ rủ nhau ra khu giếng. Nhìn xuống lòng giếng họ chẳng thấy chút nước nào cả và chiếc thang đưa xuống mất hút vào khoảng tối thăm thẳm như không có đáy. Wendy nghĩ rằng có lẽ chiếc thang nầy dùng để xuống vét giếng hoặc sửa thành giếng.

June thắc mắc:

- Nhưng nó cũng phải đưa tới đâu chứ? Để tôi xuống coi.

Hai người kia khuyên nàng đừng xuống, sợ có thể trượt chân. Nhưng June tò mò muốn biết chiếc thang tới đâu, và bắt đầu leo xuống một cách cẩn thận. Xuống được chừng mươi thước, hai bạn đứng trên thấy nàng ngừng lại và ấn vào thành giếng, nói vọng lên:

- Có cái cửa, tôi đi vào coi.

Vài phút sau June lại xuất hiện ở dưới giếng, nói vọng lên:

- Có một con đường hẹp đưa tới một phòng nhỏ rồi tới một con đường hầm dài thông ra biển. Tôi nghe thấy tiếng sóng và nhìn thấy ánh sáng nữa ở cuối đường hầm. Các chị xuống đây chúng ta cùng thám hiểm xem.

Hai người kia quả quyết:

- Thôi, chị lên đi thì hơn. Muộn rồi đấy và từ đây về nhà còn xa. Về sớm chừng nào càng tốt.

June nói:

- Tôi xem một chút nữa thôi.

Rồi nàng lại khuất dạng. Nhưng chưa tới năm phút sau, nàng chui ra và leo lên thang, sẽ nói:

- Có một người đi vào đường hầm.

Leo tới mặt giếng, nàng thuật lại với các bạn, khi nàng sờ soạng trong căn phòng tối thì thấy có một cái túi da để trên kệ đá. Trong đó đầy những vật gì nhỏ và cứng. Rồi nàng nghe có tiếng động trong đường hầm, và thấy có người tiến tới nên nàng vội bỏ chiếc túi lại đó, leo lên.

- Đây là một vài vật trong bao. 

Và nàng móc túi ra: có năm nhẫn vàng nạm kim cương.

Mọi người đều bàng hoàng lo sợ. Margaret bàn:

- Nếu hắn mà lên đây, hắn bắt chúng ta mất.

June đề nghị:

- Chúng ta phải đẩy hắn.

Wendy nói:

- Không. Ta lại phía bờ đằng kia. Như vậy chúng ta có thể trông thấy hắn, nếu hắn ra khỏi giếng.

Margaret nói:

- Nhưng nếu hắn trèo lên khỏi thì sao?

Wendy đáp:

- Từ chỗ nấp, chúng ta có thể trông thấy cả khu nhà nầy. Hắn sẽ không biết ta ở đâu, vả lại chắc hắn không biết June đã thấy hắn đâu.

Họ chạy tới ven biển nấp sau những tảng đá, thở hồi hộp. June ngóc đầu nhìn ra sân trong lúc hai cô bạn nhìn xuống dưới biển. Họ nhận thấy một chiếc thuyền nhỏ gần bờ hơi xích về bên trái nơi họ nấp, nhưng thuyền không có người. Tất cả im lặng. Không có một tiếng động nào lạ. Chợt June thì thào:

- Hắn đang leo ra khỏi giếng!... Hắn băng qua sân... Hắn định vào nhà...

Margaret hỏi:

- Liệu hắn có biết ta ở đây không?

June đáp:

- Nếu biết cũng chẳng sao. Chờ coi hắn có ra không... Có!... Hắn ra kìa!... Hắn đang chạy...

Cả ba nhìn ra sân. Họ thấy người kia lẩn xuống giếng, có vẻ vội vàng. Một vài phút sau dường như hắn chui ra từ dưới tảng đá và đi về phía chiếc thuyền. Một người khác, ẩn núp nơi nào đó bước tới, rồi cả hai cùng xuống thuyền chèo dọc theo bở biển. Khi họ ngang qua chỗ ba cô gái nấp, Wendy bảo các bạn:

- Nhìn kỹ hình dạng chúng nhé.

Khi chiếc thuyền đã khuất dạng, cả ba đứng dậy trở về nhà, vừa lúc trời tối. Cha của Wendy đưa họ tới cảnh sát, nói lại câu chuyện và trình bày mấy chiếc nhẫn vàng.

Một cảnh sát viên nói:

- Tôi biết chiếc nhẫn này ở đâu ra rồi. Tuần vừa qua một tiệm kim hoàn bị mất trộm. Liệu hai tên đó có thấy các cô không?

Nàng đáp:

- Không! Tôi chắc chắn họ không thấy.

Người cảnh sát quả quyết:

- Nếu thế thì tốt hơn là ta đợi đến sáng mai xem. Tôi sẽ cho vài người tới khám xét nơi đây và tóm cổ chúng nếu chúng trở lại.

Họ đã làm y lời và khám phá ra một số lớn nữ trang có giá trị gần ngay nơi mà June tìm thấy cái bao da đựng nhẫn. Bọn chúng dùng căn nhà hoang đó làm sào huyệt và không ngờ đã bị bại lộ.

Không đầy một tuần, bọn trộm bị tóm cổ. Chúng vờ làm thuyền chài chèo thuyền tới. Một tên đi vào hầm quen như lần trước và bị tóm cổ tại ngay căn phòng nhỏ. Tên kia, nghe thấy tiếng động bỏ chạy về phía thuyền, nhưng có hai cảnh sát núp sau tảng đá, nên hắn không trốn thoát. Sau đó các cô nhận diện được chắc đúng là hai tên đã gặp trước.

Khi Wendy, Margaret và June trở lại trường học vào đầu mùa thu, mỗi cô được một chiếc nhẫn vàng xinh xắn để khoe với bạn học.

Những chiếc nhẫn là phần của giải thưởng mà họ nhận được, nhờ sự khám phá ra đồ nữ trang, châu báu bị mất cắp.

Wendy kể lại truyện nầy đã nói thêm: "Thật ra thì công của June đã làm".


NGUYỄN LŨY dịch    

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 14, ra ngày 25-2-1964)

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2019

NHYCDAY


Mình bày đặt viết nhật ký đây, Hứng lúc nào viết lúc đó. Không cần rõ thời gian. Đối tượng hay đập vào mắt mình là cô bé ngồi đầu bàn hai của dãy giữa. Mình chỉ chú ý từ hôm cô ta mắc mưa, mặc áo dài ướt vào lớp phải khác đỡ áo ấm của cô bạn. Hoàng, anh bà con của cô ta, làm mình bận tâm không ít. Hắn là ai mà thân mật với cô ta thế. Mình kín đáo điều tra xong mà vẫn chưa an tâm. Biết đâu (?)... Họ bồ bịch từ lớp năm ngoái... Không phải mình là kẻ dễ đam mê, theo nghĩa Triết học, nhưng vì mỗi lần nhìn bảng, thì từ góc phải mình cứ thấy ngay đầu tóc hay cột chiếc khăn tay cho gọn ấy. Và có lẽ dáng ngồi nghiêng, chúi mũi xuống sách vở (cái mũi mà tụi bạn láu táu chê là mũi hỉnh, sao mình vẫn thấy duyên) hay vờ xăm xoi cặp, bút... mà miệng lén thì thầm... làm mình quên bao mệt nhọc.

Thuận, Long, Lừng... lũ bạn thân vẫn không tha mình, cố tật bọn ấy là hay châm chọc sở đoản của người. Bạn mới cũng tìm sơ hở của mình mà ra tay, nhưng mình không giận đâu, Diễn và Thái... vốn vui tính và hãy còn vô tư ở ngưỡng cửa bấp bênh vào đại học, để tính tình lớn khôn.

Dịp may mình biết tên cô ta là Thủy khi thày Vạn Vật trả bài kiểm. Từ đó mình hay nguệch ngoạc hai chữ B.T. ở trên bàn, tập nháp, giấy vụn, bìa sách... thói quen một cách vô thức và không tính toán. Mình sẽ dùng nó làm bút hiệu mỗi khi viết văn, làm thơ... Bảo Thủy nghe cũng hay đấy. Cũng vì ghép tên như vậy mà mình khốn khổ từ mấy năm qua ở khung trời gọn ghẽ Sao Mai. Trường Sao Mai với B.H. Bảo Hạnh năm đệ tam và Bảo Hương năm đệ nhị vừa qua. Mình dài giòng giải thích đó là tên tỉnh Biên Hòa, cũng là số B.H. của xe cà tàng mình đi, mà vô ích, lũ bạn đã đoán trúng cả tim đen mình. Những lúc rảnh rỗi, chúng thường lải nhải ca cải cách: "Anh viết tên em trên giấy, trên xe... Anh viết tên em trên áo, trên tim..." làm mình sợ các đối tượng biết thì ngượng chết. Đổi trường sang L.B.T. mình vẫn không thoát tập quán từ hai năm rồi. Nên càng bị trêu chọc mình càng làm già. Đâu, để tìm lúc thuận tiện mình phải làm quen mới được, sợ gì chứ...

Thi, ngồi bên cô ta, đùa bảo: "Con nhỏ coi vậy mà hăm mốt tuổi rồi đó... (?) Thiệt, tao nhìn thấy ở thẻ học sinh đánh rơi..." Cái thằng xạo, giỏi lắm độ mười chín, bằng tuổi mình là cùng. Thôi mình hãy lo học, chớ xao lãng mà rơi vào bẫy cáp đôi của chúng nó. Mà việc gì mình phải bận tâm đến chuyện không đẹp khi hãy còn mài đũng quần ở ghế nhà trường năm cuối. Mình vẫn dặn lòng cố giật mảnh bằng "Tú Kép" rồi hãy nghĩ chuyện xa vời. Dù đôi khi cõi lòng trống trải, bóng tà áo trắng làm mình thoáng rung động...

Không ngờ coi vẻ nhu mì bên ngoài, mà Thủy lại là một tay sinh hoạt. Trước Tết, cô hăng hái nhận lời lo về phần "ban nhạc sống" trong tiệc Tất Niên. Giúp đắc lực anh Trưởng Lớp và chị Phó Trưởng Lớp không ít. Mình cứ ray rứt mãi cái hôm đó. Hôm mà mình làm le giành gõ trống với anh của Thủy, còn sỗ sàng thốt: "Học không... dạy cho??" Thủy hơi đỏ mặt, liếc vội anh cô ta và trả lời một câu không liên quan vấn đề gì: "Anh ruột Thủy đó, vừa ngồi đánh trống đó" Mình lúng túng: "Ấy chết... có sao không?" Thủy chỉ cười gượng, liếc xéo anh Thủy và bỏ đi. Mình cố nhớ thái độ của anh Thủy hơi bất mãn. Mình quá vui quên cả giữ gìn, dám làm quen trước cách ấy, khi mà hai anh Thủy chơi nhạc còn khá hơn mình nhiều. Mình đa tài năng nên không môn nào xuất sắc cả. Tiệc vẫn rỉ rả kéo dài với phần trình diễn của mỗi người, kẻ thì ca, người kể chuyện vui... Mình giả tạo vẻ thản nhiên lên máy vi âm ca hai bản... Rồi chờ mong cô ta sẽ đến phiên, nhưng Thủy từ chối khéo với tất cả vì lý do khan tiếng... Cũng dịp này mình mới chắc chắn Hoàng đúng là anh họ Thủy. Nhưng sao mình lại bận tâm chi vấn đề đó. Và chú ý làm gì chiếc áo dài hoa đỏ thắm của Thủy làm cô ta lớn hẳn lên, dù không nổi bật lắm trong đám đông bạn gái.

*

Thuận vừa thành lập bút nhóm "Mây Nguồn". Mình không quản công khó, thức đêm để viết cho xong xấp giấy "Stancil"này... Mỏi cả tay! Thôi lần sau, thì nhóm chịu khó đánh máy vậy, mình sẽ trang trí thơ và tựa cho thêm đẹp. Mình vẽ lên đây những xõa tóc của Thủy, đôi má và vài chấm mụn... Và gương mặt hơi bầu, chiếc mũi hỉnh... Đố ai biết mình vẽ ai (?) Quên, còn ký hai chữ B.T. nữa... mình đã cho vào góc tâm tư hai chữ B.H. rồi sao? Có lẽ mình đã thay đổi đối tượng đam mê, dùng danh từ Triết sao có vẻ si nặng, mình chưa đến nỗi ấy đâu. Chỉ mới thoáng rung động nhè nhẹ, mà mình vất vả những ngày nghỉ Tết, không thấy bóng tà áo trắng quen quen, tâm hồn, tình cảm, như muốn run lên... Ta điên!...

Không! Mình phải làm một cái gì, tìm một lối thoát cho bài Toán... À, nhờ Thái tặng hộ Thủy thi phẩm đầu tay của nhóm, mà mình đã góp phần tô điểm quan trọng. Sao mình nhát thế, lại bị Thái, anh bạn bạo dạn... lanh lẹ chọc đùa thêm... Nhưng, cám ơn, chuyện cũng xong xuôi.

Thủy có vẻ ngạc nhiên trước cảm tình đặc biệt của mình. Như mình đoán, cô ta có vẻ để ý Thi và Thuận ngồi gần hơn. Đó là các bạn xuất sắc dễ làm đám đông ưa mến. Mình vốn nhiều mặc cảm để có tự tin trước phái khác. Mình thất bại rồi sao? Chỉ vì Thái nghỉ học, mình nhờ Thi đưa bức thư... Thi vốn không khéo léo như Thái, đã vụng về làm hỏng nhịp cầu. Tâm lý của Thủy phức tạp thật, có lẽ cô ta không vừa ý vì người đưa thư là Thi, người mà Thủy dành nhìn với đôi mắt khác hơn... Nhưng Thi thuộc "típ" người ưa hoạt động ồn ào, và tâm sự với mình những chuyện riêng, với các cô em khác cơ... vì thế mình mới bạo gan viết thơ cùng Thủy...

Cả một ngôi thần tượng sụp đổ, khi lần thứ hai, tháng sau mình nhờ Thái tặng hộ thi phẩm thứ nhì. Thủy đã lịch sự chối từ: "Biết của ai rồi, thôi không dám lấy đâu!" Mình đã vờ đạp máy xe, nghe rõ hết và phóng vội về nhà...

Mình bày tỏ thái độ ngầm, khi Thái trả lại tập thơ "Ronéo", mình xé cả vứt vào sọt rác... Có lẽ, cô ta phiền vì những giòng đề tặng lãng mạn lần trước, kèm với bút hiệu mà bây giờ sao nó vô duyên: "Bảo Thủy". Mình bôi đen hết những dấu vết đau buồn ấy... Từ đây mình sẽ mãi ký bút hiệu "Nhycday", nó đã tiên đoán sẵn con đường gãy đổ của mình. Thôi! Từ đây giã từ những khi về hai giờ sau, cố gắng theo dõi nhà cô ta. Con gái gì mà lạng xe ác thế, không biết nhà cô ta cũng may. Khỏi phải cặm cụi, viết thơ theo đường bưu điện, sẽ phí thì giờ học hành...

Năm nay mình không dạy kèm trẻ cùng xóm, sao vẫn khó học ghê, đâu phải tại chương trình dài. Đừng nghĩ đến con người kém hiểu biết ấy, mình lo học kẻo nhập ngũ sẽ buồn lòng cha mẹ. Mình như già trước tuổi, đôi khi hằn nét ưu tư mỗi lần nghĩ đến đàn em dại với cảnh nhà nghèo. Mình sẽ cố để vào Đại Học Sư Phạm, hoài bão nhỏ bé ấy sẽ không thành nếu cứ vấn vương chút tình tuổi học trò.

Mình vừa gắt Thái, đã đi học thêm Toán Lý Hóa mà cứ hay đùa, lo ra, và làm thơ... Thái biết hết tâm sự mình thố lộ, tặng mình bài thơ để an ủi... Mình chép vào đây hai đoạn trùng hợp nhất.

... Rồi cũng buồn lên môi mắt thôi.
Với em xa cách, cách xa rồi.
Với anh tình đã ngoài tay với.
Trời đêm chợt thấy sao đổi ngôi.

Rồi thét âm thầm chua xót lên.
Mượn hồn con ốc đó không tên.
Vì anh mặc cảm trầm tư lắng.
Trau chuốt cho em, bớt muộn phiền.

Những đoạn giữa và cuối nghe thảm quá, mình không thích, tình trạng của mình không đến nỗi tuyệt vọng như vậy.

*

Có gì đâu, mình sẽ tìm vui trong hình ảnh Vạn Vật. Nhật ký này mình muốn vứt cho xong.

Cuối năm.

Mình lại lôi nhật ký để ghi tiếp những kỷ niệm dù buồn. Cô ta đưa lưu bút cho hầu hết các bạn, trừ mình ra... Thái, Thi, Diễn... đều  nhận thấy thế khi viết quyển lưu bút dày bốn trăm trang ấy. Mặc! Mình không cần dù hơi tức. Con người gì mà hẹp hòi, không tha thứ những phiền giận của giây phút tàn niên học. Vẫn nhí nhảnh xách máy đi chụp hình cùng các bạn gái, cười đùa trên sự đau khổ của mình. Thế nên trong hình với các bạn phe Nam, mình nhếch môi không nổi. Mình là con người "sầu muôn thuở" với bút hiệu "Nhycday", mình giãi bày những u ẩn ấy cho các bạn. Chẳng có gì khó hiểu, "Người Hay Yêu Chẳng Được Ai Yêu", những chữ tắt mà mình không cần tìm tòi cũng có ngay trên đầu óc. Mãi mãi mình vẫn cô đơn, rượt bóng trên đường tình một chiều. Những thoáng vu vơ của tuổi trẻ, chưa trưởng thành, còn mới với ngưỡng đời Đại Học hay Quân Trường gian khổ chực hờ... Mình sẽ chấm dứt nhật ký dù chưa đủ, mà tạm rõ ràng lắm, tất cả những vấp ngã ở niên học có lẽ cuối cuộc đời học sinh này.

Chấm dứt không phản ảnh và điều kiện. (Nhycday)


ĐƠN HOÀI PHAN     

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 22, ra ngày 20-3-1972)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>