Thứ Hai, 16 tháng 12, 2024

Thằng Cuội


Ngày xưa, có một nông gia giầu bậc nhất nhì trong xứ, nhưng khốn nỗi cũng lại là - con người hà tiện keo bẩn nhất trần gian!

Vốn là con một, gã đã may mắn được trọn hưởng cái gia sản kếch sù của ông cha để lại gồm có rất nhiều túi vải đựng đầy tiền, những ruộng đồng bao la, những rừng cây um tùm bát ngát. Thêm vào đấy, còn có cả một trang trại đẹp đẽ với những dãy chuồng nuôi trâu, bò, lừa, ngựa ; vậy mà gã vẫn sống cô đơn.

Phải, chỉ một mình thôi, bởi gã nhất định không chịu thuê mướn một nhân công nào giúp việc, dù là một chú mục đồng nho nhỏ để đỡ đần tay chân cho gã ; ấy chỉ vì gã sợ phải tiêu mất những đồng tiền quý báu hằng nằm yên trong những chiếc túi đầy ăm ắp.

Ngay đến cảnh vợ con, gia đình, gã cũng không hề màng tới. Là vì, trước tiên, việc cưới hỏi nhất định sẽ phải tốn mất nhiều tiền, và sau đó là những sự tiêu pha liên tiếp, những khoản chi phí không ngừng trong việc may sắm cho bà vợ và bầy con của gã.

Ấy là chưa nói đến việc chúng có thể phá phách của cải hoặc gây nên rất nhiều tổn hại cho gã sau này!

Vì những lẽ ấy, cho nên gã chỉ thích cô độc, sống ích kỷ một mình, không bạn bè và cũng chẳng cần ai giúp đỡ. Suốt mùa hè, gã lầm lũi một mình, làm quần quần ngoài đồng suốt từ sáng tinh sương cho đến khi trời sẫm tối với mục đích duy nhất là gặt hái cho được nhiều lúa mì, nhiều chừng nào hay chừng nấy.

Mùa đông đến, gã tự tay khâu vá áo quần, đóng lại những đế giày ; tự tay xe sợi, đan áo ấm và cặm cụi ngồi đẽo thật nhiều guốc, đan giỏ mây và kết những thảm rơm để đem ra bán ngoài chợ tỉnh.

Gã ăn mặc rách rưới tồi tàn như một kẻ hành khất, chịu kham khổ, rét lạnh trong ngôi nhà trống trải, rộng thênh thang của gã : Ngôi nhà không hề được trang hoàng tu bổ nên cảnh tượng nom cũng tiêu điều, ủ rũ như chính... chủ nhân của nó vậy. Lẽ tất nhiên là không bao giờ gã dám thắp một ngọn đèn cũng như dám nghĩ đến việc thêm củi vào lò sưởi : vì đó chỉ là những sự phí phạm dầu đèn và củi lửa một cách vô ích mà thôi...

Nhưng, buổi tối hôm ấy trời bỗng nhiên trở rét, gió lạnh buốt thấu xương, rét đến độ làm cho gã bị tê cóng cả tứ chi. Mười ngón tay của gã cứng đờ, không con điều khiển nổi những sợi mây, và chiếc giỏ đương đan đành phải bỏ dở.

Gã đắn đo suy tính:

- "Nghĩ kỹ lại, nếu bây giờ mà ta thắp lửa lên cho đỡ lạnh để có thể tiếp tục làm cho xong công việc này trước khi đi ngủ thì thế nào ta cũng có lợi hơn. Vậy ta thử ra ngoài xem may ra có còn lượm thêm được mớ củi nào chăng."

Thế rồi, mình mặc chiếc áo chẽn xanh vá chằng vá chịt, gã mò mẫm bước thấp bước cao len lỏi giữa những hàng cây cao lớn.

Từ mấy ngày qua, những trận gió bấc thi nhau thổi ào ào liên tiếp nên mặc dầu trước đây không lâu gã đã vơ vét đến kỳ sạch cả những nhánh vụn thế mà giờ đây, mặt đất đã lại ngổn ngang những cành khô củi mục. Vì vậy chỉ trong chốc lát gã đã nhặt nhạnh được khá nhiều.

Rồi sau đó, gã lần bước trở về nhà, vác trên lưng một bó củi khô to tướng. Gã khấp khởi mừng thầm vì số củi dự trữ dồi dào đã vượt xa lòng mong mỏi. Vừa đi gã vừa đắc chí nghĩ bụng:

- "Chà! Thật ta đã hành động rất phải khi gây được nỗi khiếp sợ với những kẻ lân bang. Nếu không vậy thì trong lúc này, bọn khố rách áo ôm ở xung quanh đã thừa cơ hội để vét sạch những bó củi khô quí giá này rồi còn đâu. Nhưng mà việc này ta khỏi phải bận tâm vì chắc chắn là không có đứa nào dám liều lĩnh đụng chạm đến củi khô hay lúa ruộng của ta đâu!"

Điều ấy, khốn nạn thay! Quả đúng thật như vậy. Những người nghèo khó, cơ hàn và nhất là những trẻ con trong làng đều khiếp sợ gã ; khiếp sợ khúc gậy ngắn của gã, khiếp sợ những cạm bẫy mà gã, giăng mắc một cách rất kín đáo, ở những nơi thật bất ngờ trên khắp vùng đất đai của gã.

Tóm lại, không một ai lại dại dột mạo hiểm bước chân vào lãnh vực của con người độc ác keo bẩn kia...

Nhưng đột nhiên, gã vô cùng sửng sốt khi trông thấy một bóng người thấp thoáng từ nẻo rừng cây đang tiến dần về phía gã, và... ô kìa!!! Người ấy lại dừng ngay trước mặt gã!

Đó là một người đàn ông đã đứng tuổi, mình khoác một chiếc áo choàng nâu lụng thụng, tay chống gậy dò đường, vành mũ lụp xụp che ngang mắt, thái độ nghiêm trang, chan chứa âu lo, hàm râu điểm tuyết sương lấp lánh.

Bằng một giọng ôn tồn lễ độ, người lạ mặt cất lời:

- Thưa bạn, tôi là một kẻ viễn hành trên đường đi đến một miền xứ xa xôi cùng vợ tôi và đứa con thơ dại. Nhưng qua đây, chúng tôi đã bị vô cùng khốn khổ vì tiết lạnh của vùng này. Tôi đã thử tìm cách thắp lửa lên để nấu sữa cho đứa hài nhi song vô hiệu. Vậy bạn hãy vui lòng bớt lại cho tôi vài nhánh khô trong bó củi bạn đương mang.

Gã đã đứng im đợi cho người lạ mặt nói dứt lời, nhưng qua khe hở của cặp mí mắt nhăn nheo, đôi đồng tử dường như càng sáng quắc và phát ra những tia nhìn dữ tợn.

- Giỏi thật! Ngươi đã dám lấy trộm củi của ta để thắp lửa và ngươi lại còn dám cả gan dẫn xác đến đây để đòi xin những nhánh khô... Muốn sống thì rời khỏi nơi này ngay tức khắc! Ai bảo ngươi đi đâu xa trong khi trời rét lạnh làm gì? Ngươi, vợ ngươi và con ngươi, hãy kéo nhau lên cung trăng mà ở!!

Trước sự sỉ nhục của những lời thóa mạ trên đây, người lữ hành chỉ đưa tay ra dấu van lơn:

- Tôi xin bạn. Hãy bớt lời, hãy bớt lời bạn hỡi! Đừng để rồi một ngày kia những câu nguyền rủa ấy sẽ có thể trở lại dày vò chính bạn. Đấng Thiên Chúa chí công hiện ngự giữa chúng ta và đang nghe thấy bạn. Hãy tỏ ra nhân từ, bác ái, tôi van bạn, vì lợi ích riêng cho bạn...

Nghe đến đây, gã liền thốt ra những lời mắng nhiếc nặng nề cho đến nỗi trong khoảnh khắc, tuyết lạnh bỗng dường như trở nên giá băng, mặt đất biến thành khô rắn và cây cối hóa ngay đơ, trông khẳng khiu như những bóng hình ma quỉ.

- Ta bảo ngươi phải cút khỏi nơi đây. Hãy xéo mau ra ngoài vùng đất của ta!

Nghe những lời dọa nạt trên đây, người khách lạ chỉ buồn bã lắc đầu rồi trở gót quay đi. Gã đưa mắt hằn học nhìn theo và lúc bấy giờ gã mới trông thấy người thiếu phụ cùng đứa trẻ đang ngồi dưới một gốc cây với con lừa bên cạnh họ : người mẹ đặt con mình nằm trên hai đầu gối. Chợt gã hết sức ngạc nhiên khi thấy một vầng ánh sáng bao phủ cả hai người. Thoạt tiên, gã tưởng đâu là phía sau lưng họ còn có một đống lửa đang cháy, và gã đã bắt đầu nguyền rủa họ, cho họ là những kẻ trộm cắp, xâm nhập đất đai...

Nhưng thình lình, gã bỗng dưng thất sắc vì gã vừa được mục kích rõ ràng vầng ánh sáng rực rỡ ấy tỏa ra xung quanh đầu họ như những chiếc mũ triều thiên kết hợp bằng muôn vàn tinh tú.

Gã bị chói lòa cả đôi mắt, chỉ còn trông thấy mập mờ hình ảnh người khách lạ đang đỡ vợ con ngồi trên lưng lừa đoạn nắm lấy dây cương và chậm chạp bước đi.

Ngay sau khi nhận định được hành vi vô-ý-thức của mình, tên hà tiện nắm chặt hai tay tự đánh mãi vào đầu:

- Ta chỉ là đồ lừa!... Ngu đần hơn cả những thằng ngu!

Gã phát cáu vì không ngờ được rằng những kẻ bị gã xua đuổi kia đều không phải hạng tầm thường.

Một thiếu phụ và một hài nhi đội trên đầu những chiếc vương miện đẹp đến thế thì nhất định là phải thuộc vào một gia đình giàu sang quí phái ; cũng có thể đó là một vị nữ hoàng cùng với vị hoàng nam trên đường đi lánh nạn, dem theo với họ cả kho tàng châu bảo.

Gã vò đầu bứt tóc, tự trách mình sao không bán ngay bó củi kia với một giá thật cao... Những người sang trọng dường ấy chắc sẽ không khi nào mặc cả. Tại sao gã lại có thể bỏ lơ cơ hội tốt đẹp như vậy? Gã tự lấy làm xấu hổ nhục nhã vô ngần...

Rồi sau đó gã phóng mình chạy bừa, len lỏi giữa những hàng cây, miệng cất tiếng ngọt ngào kêu gọi:

- Này các bạn ơi! Hãy nghe đây! Tôi đến ngay bây giờ. Hãy nán chờ tôi với!

Tuy nhiên, gã vẫn không tìm đâu ra vết tích của ba người khách lữ hành kia và cũng không trông thấy những vầng hào quang bao phủ trên đầu họ nữa. Chỉ còn lại cảnh đêm trường tịch mịch, bức màn đêm bao phủ khắp không gian với một mầu tối đen như mực. Song le, vì quá ham muốn số tiền lời thâu được cho nên gã nhất quyết chẳng nản lòng.

Và, bó củi to vẫn vác trên lưng, gã cắm đầu chạy thục mạng trong bóng đêm, vấp phải những gốc cây, mô đất ngã lăn quay không biết mấy mươi lần ; nhưng gã vẫn chạy, hy vọng rằng sẽ đuổi kịp những kẻ lữ hành bí mật kia.

Gã cảm thấy rằng không bao giờ gã sẽ được yên lòng nếu gã chưa thấy hiện ra, dù là ở rất xa, những ánh mũ triều thiên lấp lánh. Gã nhất quyết không trở về nhà nếu chưa  bán được bó củi. Phải, vì nếu không bán được bó củi này thì biết đến bao giờ lương tâm gã mới tha thứ cho cái lỗi ngờ nghệch khổng lồ kia?

Sau cùng, mắt gã chợt nhìn thấy một điểm sáng lập lòe trông giống như những ánh hào quang của vương miện ; và càng tiến đến gần, điểm sáng nọ mỗi lúc một trở nên to dần và càng thêm rực rỡ.

Rồi bỗng nhiên, gã thấy mình đang đứng giữa một vùng chan hòa ánh sáng chói lọi huy hoàng ; sáng đến nỗi làm cho gã bị lòa cả đôi mắt không còn trông được vật gì ở khắp xung quanh. Gã bèn cất giọng rao to:

- Bán đây! Bán đây! Củi khô bán đây! Có ai mua không?

Vì, gã tự nghĩ thầm: "Nếu ta không nhìn thấy họ thì chắc họ phải nghe được ta và sẽ quay lại để mua củi cho ta".

Đoạn gã cắm đầu ra sức chạy trong vùng ánh sáng lung linh, miệng vẫn không ngớt lời rao bán. Và gã tiếp tục chạy, chạy hoài, chạy mãi... vì chưng gã, con người hà tiện keo cú ấy đã lên đến cung Trăng!...

Bó củi khô vẫn vác trên lưng và tuy đã khòm người vì già nua, mệt mỏi, gã vẫn bị hình phạt phải luôn miệng cất tiếng rao: "Ai mua không! Có ai mua không!"

Cho đến một ngày có những giọng ca trong trẻo của các em nhi đồng từ dưới đất vọng lên mới làm cho gã hiểu rằng những kẻ xưa kia đã từng bị gã xua đuổi ấy là ai.
 

Và như các bạn đã đoán biết, đấy chính là Hài đồng Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse trên đường lánh nạn sang Ai Cập.

Thế rồi, thay vì rao: "Có ai mua không!" gã đổi lại là: "Kyrie eleison". có nghĩa là: "xin Chúa thương xót chúng tôi!"

Cuối cùng, tâm hồn gã được cởi mở, lòng thanh thản, bình yên và gã sẽ được tận hưởng một nguồn Hạnh Phúc vô tận mà xưa kia gã chưa từng được biết đến.
 

Hoài - Sơn     

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 12, ra ngày 25-12-1963)

Không có nhận xét nào:

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>