Thứ Ba, 16 tháng 3, 2021

Cô Gái Dũng Cảm

 


Nằm tách rời khỏi Âu Châu, nước Anh được ví như chiếc bình phong ngăn chận những cơn bão tố từ ngoài khơi Đại tây dương thổi vào lục địa, nhất là bờ bể Northumberland (Noóc-thăm-bớc-len) phía tây bắc quốc gia này mặt biển luôn luôn khuấy động.

Để hướng dẫn tàu bè di chuyển trong vùng kể trên đỡ bị lạc hướng kẻo gặp tai nạn đá ngầm khi sương mù dầy đặc buông tỏa khắp nơi, hoặc mưa to gió lớn bất ngờ, người ta thiết lập nhiều ngọn hải đăng trên các hòn đảo nhỏ rải rác chung quanh.

Năm 1815, William Dorling (Uy-li-em Đóc-linh), chuyên viên hải đăng, rất tận tâm với nhiệm vụ, đưa gia đình tới Longstone (Lông-sì-tôn) trên quần đảo Farne (Phác-nơ). Là công chức gương mẫu, là chồng tốt, cha hiền, William chưa từng sao lãng bổn phận đối với nghề nghiệp và gia đình. Ngoài những lúc kiểm soát, tu bổ ngọn hải đăng do mình phụ trách, ông còn chăm sóc, dạy dỗ con cái học hành cùng tìm hiểu các sinh vật ngoài biển. Gặp ngày đẹp trời, mấy cha con lại lang thang qua bờ đá, khe nước tìm kiếm tổ chim đem về nuôi cho tới lúc lớn khôn mới chịu thả ra. Riêng cô bé Grace Dorling (Gờ-rết-sơ Đóc-ling) trưởng nữ ông bà William nhu mì, hiền hậu, vẫn chịu khó giúp đỡ mấy chú hải cẩu leo trèo tinh nghịch khỏi rơi tọt xuống khe đá lởm chởm, đoạn thân mật đùa rỡn chẳng khác gì bao đứa trẻ cùng lứa thường chơi với chó, mèo vậy.

Gia đình William Dorling rất hạnh phúc tuy cuộc sống thật tầm thường, chật vật. Hàng ngày, Grce vô cùng thích thú tựa bên cửa sổ ngắm nhìn khung cảnh đẹp đẽ lúc bình minh hay buổi hoàng hôn thơ mộng nơi đại dương bát ngát mênh mông.

Dù còn nhỏ, Grace cũng hiểu rằng ngọn hải đăng với bức tường đá kiên cố được xây cao cách mặt bể tới hai chục thước chỉ đủ bảo đảm mọi người thân yêu của mình trú ngụ an toàn dưới cơn cuồng phong luôn luôn xẩy ra tại địa phương, chứ không thể giúp bất cứ chiếc tàu nào chẳng may còn lênh đênh giữa khoảng trời nước bao la kia tránh thoát từng đợt sóng khủng khiếp sẵn sàng phá vỡ tan nát mọi chướng ngại vật bắt gặp.

Dần dần, các em cô rời Longstone lên tỉnh học, Grace lúc ấy đã hai mươi hai tuổi tình nguyện ở lại đỡ đầu cha mẹ.

Ngày 6-9-1838, ngay từ hồi chiều nhiều dấu hiệu báo cho biết một cơn giông tố phũ phàng sắp đổ xuống Northumberland. Trời tối sầm. Mây đen kéo về nặng chịch. Gió vần vũ rích lên như giận dữ hắt mưa ào ạt vào ngọn hải đăng, đồng thời kéo theo muôn ngàn lớp sóng cao ngất, ùa lên ghềnh đá từng nhịp, bọt tỏa trắng xóa dọc duyên hải.

Bất hạnh thay, trong cơn biển động, chiếc tàu thủy Forfharshie (Pho-pha-si) chở sáu chục hành khách đang trên đường di chuyển từ Hull (Hăn) tới Dundee (Đăn-đi) không may gặp nạn. Vào thời bấy giờ, tàu chạy hơi nước còn thô sơ, tốc độ yếu kém, thành thử thuyền trưởng và thủy thủ đã biết trước hiểm nguy cùng lo chuẩn bị đối phó vẫn không thể làm cho con tàu chạy nhanh hơn thường lệ để kịp thời ghé tạm vào bờ trú ẩn. Vì thế chiếc tàu bị nhồi lên nhồi xuống, chòng chành, nghiêng ngả. Cuối cùng, nồi "súp-de" tan vỡ, mọi người đành bó tay lúc con tàu lật về một bên, để rồi sóng gió cuốn trôi phăng phăng đập mạnh vào ghềnh đá thuộc quần đảo Farne.

Tất cả hành khách trên chuyến này đều bị giòng nước lôi đi mất tích lúc con tàu rã ra từng mảnh, ngoại trừ chín người sống sót nhờ may mắn bám chặt lấy vách đá lởm chởm cách ngọn hải đăng một khoảng khá xa. Dù hết sức kêu gào cầu cứu nhưng những lời khẩn thiết đó vẫn không tới nơi mà tan loãng với tiếng gió trong đêm hãi hùng. Mưa mỗi lúc một mạnh hơn, cuồng phong càng thêm khốc liệt. Ai nấy đều quá mệt mỏi, vậy mà họ vẫn phải cố gắng chống trả bao đợt sóng thi nhau táp vào bờ, bằng cách người nọ giữ người kia để chờ đợi từng giây, từng phút được cấp cứu. Thời khắc chậm chạp trôi. Họ kiên nhẫn chịu đựng như vậy suốt đêm. Mãi tới sáng hôm sau, tình cờ Grace đến bên cửa kính ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài trong lúc trận bão vẫn còn tiếp diễn, cô thấy có nhiều dấu hiệu một vụ đắm tàu qua những mảnh ván trôi nổi đó đây. Lập tức, Grace báo cho cha hay. William vội chạy lấy ống nhòm nhìn quan sát: Dưới cơn mưa tới tấp, nhiều người đang chống trả với cơn thịnh nộ của biển cả một cách tuyệt vọng. Họ gần như đuối sức vì bị nhiễm lạnh. William náo nức muốn cứu nhưng mình ông làm sao xoay sở trên chiếc xuồng mỏng manh không người trợ giúp để tới tận nơi xa ngót hai cây số. Ông bóp trán suy nghĩ, mắt đăm đăm nhìn ra khơi. Như đọc được nỗi băn khoăn lo lắng trên khuôn mặt người cha, Grace quả quyết đề nghị: "Để con cùng cha tới cứu họ, chứ nếu chờ được lúc có người, chắc đến nơi chẳng còn ai nữa..." William quay lại. Ông nhìn con thương hại vì Grace gầy gò ốm yếu quá. Ngập ngừng một phút suy nghĩ, ông đồng ý. Thế là hai cha con sửa soạn chiếc xuồng rồi mở cửa ra đi.

Xuống tới ghềnh đá, gió thổi mạnh như muốn hất tung hai người lên khỏi mặt đất. Sau một hồi vất vả, tay vuốt nước mưa, tay chèo, tay lái, Grace cùng cha cũng đến được mục tiêu. William nhảy lên bờ rồi chạy ngay tới đám người đang run lập cập vì đói và rét còn Grace ở lại giữ cho xuồng đừng tách bến, bằng không lát nữa đây nó sẽ quay tròn theo con xoáy lớn hoặc trôi tuốt ra khơi. Ác thay, gió càng lúc càng thổi mãnh liệt, chiếc xuồng nhỏ bé nhẹ như bấc chao đi chao lại một hồi đoạn quay ngang, bỏ mặc các nạn nhân trên bờ lo sợ khôn cùng. Da dẻ tím ngắt vì lạnh, hai tay rã rời, Grace không dám buông mái chèo. Cô cắn răng giữ chặt tay lái trong lúc chiếc xuồng dập dình theo đợt sóng đưa đẩy suýt xô vào vách đá. Dù mắt hoa lên chan hòa nước mưa, dù mức chịu đựng cùng cực, Grace vẫn tìm cách hướng mũi xuồng vào bờ một cách tuyệt vọng sau nhiều lần xoay sở mãi không được. Trên bờ, William cùng những người kia hồi hộp chờ đợi ; họ sốt ruột nếu tình trạng ấy kéo dài chắc chắn Grace sẽ chết đuối mất thôi. Lừa dịp gió ngơi đôi chút, Grace lấy hết sức bình sinh đẩy mạnh mái chèo và tay lái. Nhờ vậy, chiếc xuồng quay mũi và áp vào bờ. Chỉ đợi có thế, William lao ngay xuống xuồng, đồng thời kéo theo một nạn nhân còn khỏe mạnh để họ tiếp tay với Grace, đúng lúc cô gái dũng cảm sắp quỵ vì kiệt sức. William trở lên đưa thêm bốn người nữa xuống xuồng rồi quay về. Dọc đường, Grace mới dám nghỉ tay đôi chút cho khỏe.

Đến nhà, trong lúc William cùng hai gã đàn ông khỏe mạnh trở lại hòn đảo để cứu nốt bốn người sau chót, Grace phụ giúp mẹ lấy chăn, mền đắp cho các nạn nhân sau khi thay quần áo khô. Cô đốt lò sưởi đoạn bưng lên từng bát cháo nóng mời họ dùng tạm ấm lòng. Đặc biệt, Grace lo săn sóc và luôn luôn ở bên cạnh một thiếu phụ đau khổ vì hai đứa con nhỏ chết đuối theo con tàu. Cô tự cho mình có bổn phận phải an ủi, khuyến khích bà trong lúc buồn tủi này.

Chẳng bao lâu, tin tức truyền đi khắp nơi. Cả nước Anh coi Grace như một vị nữ anh hùng. Nhiều quà tặng gửi tới cho William và Grace. Nhưng buồn thay, sức đã yếu lại thêm cảm lạnh, Grace nhuốm trọng bệnh từ đấy. Sau bốn năm liệt giường liệt chiếu, mùa xuân 1842, cô gái can đảm quên thân mình vì nghĩa vụ đối với đồng loại trút hơi thở cuối cùng để lại bao mối tiếc thương cho gia đình, họ hàng và người thọ ơn chưa có dịp đáp đền.


ĐẶNG HOÀNG              
(Phỏng theo L'héroine de la mer)  

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 80, ra ngày 11-3-1973)

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2021

Làm Bạn Với Sách

 

 Các em thân mến,

Sau Tết, chúng tôi có đến thăm một người bạn. Chúng tôi hỏi thăm trong mấy ngày Xuân, anh ta có được vui chăng. Anh bạn trả lời: Tôi định lên Đà Lạt hoặc ra Vũng Tàu nghỉ ít hôm, nhưng ngại lại không đi. Ba ngày Tết, không biết làm gì, ngồi nhà mãi chán quá, trông đến mồng bốn đi làm cho đỡ buồn.

Trong quyển "Một vài cảm nghĩ", bác sĩ Nguyễn Tấn Phát than thở: Ngày chủ nhật có lẽ là ngày tôi bắt đầu ghét nhất. Ngày thường trong tuần đã có chương trình rõ rệt, sáng làm gì, trưa làm gì, tôi làm gì. Trong những khoảng thời gian ấy, mình được gặp những người mình gặp hàng ngày để bàn luận những chuyện làm ăn, hoặc nói chuyện phiếm. Chủ nhật đến, chương trình đảo lộn cả, nhiều khi không biết làm gì. Muốn tìm bạn thân cũng khó vì hôm đó họ cũng ít khi có nhà. Kiếm một cái phim hay nhiều khi cũng không có nốt. Nằm ở nhà thì buồn. Thành thử nhiều khi phải đi lang thang ở phố, dán mũi ở hiệu sách hoặc ở cửa kính cho nó có việc. Đi về thêm mệt mỏi và vẫn thấy chán như thường.

Cũng hôm Tết vừa rồi, chúng tôi có đến thăm bà Mộng Tuyết. Sau khi thi sĩ Đông Hồ mất đi, bà dời về một căn nhà ở miệt Tân Sơn Nhứt với ba đứa cháu nhỏ. Trong nhà có nhiều kệ chứa đầy sách. Ban ngày, mấy người cháu mắc bận công việc, bà Mộng Tuyết sống thui thủi một mình, trông nhà như vắng vẻ.

Vì là chỗ thân tình, tôi gọi bà Mộng Tuyết bằng cô Bảy. Tôi hỏi bà: "Thưa cô Bảy, cô sống một mình như vầy, có lúc nào cô thấy cô đơn và buồn chán không?" Bà Mộng Tuyết cười: "Khi nào nghĩ đến anh Đông Hồ, tôi buồn. Nhưng tôi không đủ thì giờ để đọc sách thì làm sao buồn và chán được. Có sách vở bên cạnh tôi có lúc nào cô đơn đâu. May mắn, mình được cái thú ham đọc sách nên thấy đời lúc nào cũng vui và đáng sống. Chỉ tiếc, tuổi đã lớn, mắt không còn tỏ, nên đọc hơi chậm." Lúc trước, bác sĩ Diên Hương, cũng là một thi sĩ có tiếng ở miền Nam, tác giả quyển Phép làm thơ và Tự điển Thành ngữ Điển tích hay khuyên những người bạn trẻ nên đọc cho thật nhiều sách để mở mang kiến thức. kẻo đến khi già như bác sĩ mắt mờ không còn đọc được sách.

Có được cái thú đọc sách, ba ngày Xuân, nếu không đi đâu, làm bạn với sách, báo Xuân cũng rất thú vị. Ngày chủ nhật là dịp tốt để thưởng thức những đoạn văn hay mà ngày thường mình mải bận công việc không thì giờ nhìn tới.

Người ham đọc sách không còn thì giờ đâu để giết, để buồn bã, để chán nản.

Nhà văn lỗi lạc Trung Hoa Lâm Ngữ Đường có nói: Đọc sách hay là tìm nguồn vui trong sách vở bao giờ cũng được coi là một lạc thú ở đời.

Không có bạn để tâm tình, ta làm bạn với sách vì như Descartes đã nói đọc sách là nói chuyện với những người thành thật nhất của các thế kỷ đã qua.

Các em thân mến,

Chúng tôi khuyên các em nên đọc sách, đọc rất nhiều sách và cần phải chọn sách hay và hữu ích, rồi các em sẽ thấy các em được đời ưu đãi.


Thân mến                 
NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG  

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 30, ra ngày 19-3-1972)

Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021

Qua Phút Kinh Hoàng


Tuyền đang cắm cúi gò lại lần cuối cùng bài tập viết bỗng giật nẩy mình. Một cái thước cây do bàn tay tinh nghịch nào không biết khều nhẹ vào lưng. Tuyền quay nhanh lại. À thì ra Thanh. Với một thái độ khó hiểu, Thanh ra hiệu cho Tuyền im lặng rồi dúi nhẹ vào tay Tuyền một thỏi kẹo "xúc-cù-là". Liếc nhanh thỏi kẹo, Tuyền đút lẹ vào túi quần và sốt ruột đợi chờ...

Tiếng trống ra chơi vừa điểm, chỉ chờ có thế Tuyền chạy vội về phía Thanh. Hai đứa dẫn nhau ra gốc lim tán gẫu. Vừa nhai kẹo, Tuyền vừa hỏi giọng ngạc nhiên:

- Ê sao bữa nay giàu quá vậy? Kẹo "xúc-cù-là" mắc lắm cơ, ở đâu mầy có hả Thanh?

Thanh nhìn quanh rồi hạ thấp giọng thì thầm:

- Của một bà đi đường cho tao. Ngon không?

Tuyền lắc đầu, bĩu môi:

- Láo, bà nào tự dưng lại đem kẹo cho mầy?

Thanh trợn mắt, gằn giọng:

- Tao nói thật đấy. Bà ấy dặn tao đừng nói cho ai nghe hết, tao chỉ nói với mầy thôi. Mà mầy cũng đừng nói lại với ai hết nghen. Ờ mà có lẽ bà ta sợ phải cho nhiều kẹo. Bà ấy nói với tao rằng bà còn nhiều kẹo lắm, cả nhà kẹo ở trong rừng, tao muốn ăn lúc nào cũng có. Nếu chiều nay mẹ tao không đi đón, tao sẽ theo bà ấy đi lấy kẹo.

Tuyền chợt nhớ ra một điều nhưng rồi lại vụt quên ngay. Cố gắng hết sức Tuyền cũng không nhớ nổi. Đành vậy. Tuyền kéo tay Thanh, hai đứa cùng bước song đôi dưới hàng lim trơ lá... Giờ chơi đã hết, Tuyền, Thanh lẳng lặng xếp hàng vào lớp.

Ngồi trong lớp tự nhiên Tuyền nhớ ra. Ừ phải rồi! Cách đây khá lâu, dễ chừng có đến ba bốn tháng, nhân một hôm đọc báo, má dặn Tuyền không được nhận tiền bạc hay quà bánh của ai, nếu má không cho phép. Má nói những bọn bất lương thường dụ dỗ trẻ nít cho ăn kẹo hay món nầy vật nọ rồi bắt đem đi để đòi tiền chuộc hoặc bán qua bên Lào bên Miên cho ở mướn suốt đời.

Tuyền rùng mình. Tuyền thấy mình cần phải dặn Thanh không được đi lấy kẹo. Tuyền quay xuống:

- Thanh, tao nói cho mầy...

- Tuyền!

Tiếng thầy Lâm làm Tuyền giật mình xoay nhanh lại, cúi đầu tránh đôi mắt nghiêm khắc của thầy. Tuyền run rẩy đứng lên.

- Trò chép cho tôi một trăm lần câu "em sẽ không nói chuyện trong giờ học!"

Tuyền "dạ" một tiếng yếu ớt rồi ngồi xuống giở tập chép phạt. Tay mỏi rụng rời, Tuyền cũng chỉ đếm được có sáu chục câu, thì tiếng trống tan giờ vừa điểm. Tiếng "lục đục", "lộp cộp" bắt đầu vang lên, học trò lần lượt rời khỏi lớp. Tuyền cũng thu xếp tập vở theo ra. Lúc ngang bàn thầy Lâm bỗng thầy chận Tuyền lại:

- Trò đã chép phạt xong chưa?

Tuyền mếu máo:

- Dạ chưa...

Thầy Lâm thét lớn:

- Ngồi lại chép cho xong mới được về!

Tuyền thất thểu quay về chỗ. Ô, bóng ai như thằng Thanh đang thập thò ngoài cửa lớp. Vừa lúc ấy Thanh ló đầu vào. Tuyền vui mừng ra hiệu bảo nó chờ. Thanh gục gặc đầu tỏ ý hiểu.

Bất chợt thầy Lâm nhìn thấy Thanh liền dằn viết xuống bàn:

- Thanh, trò không muốn về hả? Trò đợi trò Tuyền phải không? Không đợi chờ gì hết, đi về! Trò liệu hồn đấy, một lát mà tôi còn thấy trò lấp ló ở đây thì trò sẽ biết tay tôi.

Thanh khẽ dạ rồi riu ríu ra về. Tuyền hốt hoảng la to:

- Không, không, thầy đừng cho Thanh về, nó sẽ đi lấy kẹo "xúc-cù-là", rồi nó sẽ...

Thầy Lâm đập mạnh chiếc thước lên mặt bàn:

- Trò Tuyền, trò nói gì? Cái gì lấy kẹo "xúc-cù-là" hả? Ai cho phép trò nói?

Bóng Thanh mỗi lúc một xa dần. Quên cả sợ, Tuyền lao mình về phía cửa hét lớn:

- Thanh đừng đi, đừng đi lấy kẹo Thanh ơi!

Thầy Lâm hầm hầm bước khỏi bục gỗ nắm tay Tuyền lôi vào lớp và ấn Tuyền xuống bàn, nói như thét vào tai:

- Tôi cấm trò, trò còn nói thêm tiếng nào nữa tôi sẽ mời ông hiệu trưởng xuống đây lập tức.

Tuyền bật khóc:

- Thầy không hiểu...

Thầy Lâm giận dữ quát:

- Trò bướng phải không?

Tuyền ngồi im cố nuốt nước mắt. Nửa giờ sau, bài phạt chép xong, thầy Lâm cho phép Tuyền về và không quên gửi cho ba Tuyền một lá thư.

Thầy Lâm vừa quay ra là Tuyền quơ cặp chạy nhanh tìm Thanh nhưng không thấy bóng nó đâu. Về ngang nhà Thanh thấy bóng nó trong phòng khách, Tuyền mới yên lòng. Tuyền toan bảo nó không được đi lấy kẹo nhưng nhớ đến bức thư thầy Lâm, Tuyền phát rùng mình, tự nhủ: "Để mai sẽ nói với nó cũng được, bây giờ phải về nhà sớm chừng nào tốt chừng nấy, trễ nữa thì đau đòn". Tuyền lại nghĩ bà cho kẹo thằng Thanh bỏ ý định bắt cóc nó rồi. Chắc bà ta sợ mấy ông cảnh sát. Mấy ông ấy hay thì có nước đi tù. Nghĩ thế Tuyền đỡ lo, cắm đầu chạy một mạch về nhà. Tuyền đoán thế nào cũng bị đòn.

Mà Tuyền bị đòn thật! Đến nhà chưa kịp thưa, ba nhìn thấy thư thầy Lâm, ba quơ lấy đọc nhanh rồi đùng đùng nổi giận. Ba hét vang nhà và bắt Tuyền leo lên cúi. Thế là... năm roi Tuyền "lãnh đủ"!

Bữa cơm tối hôm đó Tuyền nuốt không trôi và đêm nằm Tuyền trằn trọc lo âu.

Sáng hôm sau ba dẫn Tuyền đi học. Không hiểu ba nói gì với thầy Lâm mà khi ba về thầy kêu Tuyền lên, lạnh lùng nói:

- Trò Tuyền, ba trò dặn tôi không cho trò ra chơi trọn tuần này để trò hết bướng và không còn nói chuyện trong giờ học nữa. Thôi trò ngồi lại lấy bài ra học đi.

Tuyền ngồi lại lớp, trước mặt là cuốn tập nhưng trí óc thì để đâu đâu. Chợt nhìn ra hàng rào keo Tuyền lặng người khi thấy Thanh ra hiệu cho mình là nó được kẹo nữa, nhìn lại thầy Lâm lúc đó đang đứng nói chuyện với các thầy khác, Tuyền yên lòng tìm giấy viết:

"Thanh, tao dặn mầy không được đi lấy kẹo nếu..."

- Trò Tuyền, tôi dặn trò học bài kia mà.

Tuyền  giật mình nhìn lên. Thầy Lâm đã đứng đấy tự bao giờ. Thầy giựt mảnh giấy con cầm lên xem, gương mặt xám dần. Tuyền mếu máo phân trần:

- Thưa thầy...

- Không thưa gởi gì hết. Tôi không cần nói nhiều lời, câm họng lại nghe chưa. Xếp cặp lại lên trên kia.

Tuyền làm theo lời thầy, nước mắt tràn ướt má, bụng phập phồng chờ hình phạt của thầy Lâm, nhưng từ đó cho đến cuối giờ thầy Lâm vẫn lầm lì, giữ gương mặt lạnh lùng, không nói với Tuyền lời nào ngoài việc đổi chỗ ngồi.

Trống tan học vừa điểm, bóng thầy Lâm vừa khuất ở cuối đường thì Tuyền cũng vội ôm cặp hối hả chạy tìm Thanh. Tìm mãi cho đến một đoạn đường vắng thì thấy Thanh đi giữa hai mụ đàn bà. Tuyền muốn kêu lên nhưng không thấy dạng một ai. Thấy họ sắp sửa đưa Thanh lên một chiếc xe hơi, Tuyền lại càng thêm hoảng hốt. Đâm liều, Tuyền giở thùng xe chui tọt vào. Không ai trông thấy hành động của Tuyền kể cả Thanh và mụ kia. Tuyền yên tâm chờ đợi. Mấy giây sau chiếc xe chạy đi. Độ mười lăm phút, xe ngừng lại. Tuyền nghe tiếng trao đổi lẫn lộn giữa ba người rồi tiếng mở và đóng cửa. Chiếc xe lại chạy vụt đi. Tuyền lạ lùng hé thùng xe nhìn ra ngoài và ngạc nhiên khi thấy họ xuống xe đi bộ vào một căn nhà ngói nhỏ kín đáo khuất sau một khu vườn rậm rạp trồng toàn cây ăn trái rất to lớn. Sợ mất dấu, Tuyền cố gắng nhìn kỹ cảnh vật chung quanh và bắt đầu lục lọi. Đây rồi, một hộp nhớt đầy nằm gọn ở góc thùng xe. Mừng hơn bắt được vàng, Tuyền hé nắp thùng xe khi xe chạy và cứ cách một khoảng ngắn thì Tuyền lại trút một ít nhớt. Hộp nhớt vừa cạn thì xe cũng vừa trở về đến thành phố. Xe dừng lại ở rạp chiếu bóng quen thuộc. Có tiếng mở và đóng cửa xe. Chờ một lúc không nghe gì khả nghi, Tuyền giở nắp chui ra. Người lái xe đã đi đâu mất. Trên xe chả còn một ai. Tuyền nhìn lần nữa số xe và nhận rõ vị trí rạp chớp bóng rồi chạy nhanh về nhà.


Số Tuyền còn hên vì ba đi đâu từ sáng chưa về mà Tuyền vẫn còn lo ngay ngáy trong bụng. Ấy, Tuyền vẫn ngán ba lắm. Ba mà đánh thì phải biết! 


Bữa cơm trưa hôm ấy Tuyền cố gắng nuốt cho ba má khỏi nghi chớ Tuyền nào thấy đói. Ăn xong, đợi ba vào phòng riêng nghỉ trưa là Tuyền thót ngay xuống nhà dưới cà rà xin má năm đồng, dối là mua thước để đi học sớm. Đó là lần đầu tiên Tuyền dối má.

Tới lớp, Tuyền kêu thằng Bạch, bao nó ly nước đá để gạ mượn chiếc xe đạp.Tuyền đạp về rạp chiếu bóng rồi từ đó Tuyền tìm vết dấu nhớt. Tuy bị khô vì những vết nhăn của các loại xe nhưng Tuyền vẫn còn nhìn ra. Theo vết nhớt, Tuyền tìm ra đến ngoại ô và không khó khăn lắm, Tuyền nhận được ngôi nhà ngói nhỏ nằm khuất sau tàn cây rậm rạp, nơi giam giữ thằng Thanh. Không dám quan sát lâu sợ hư chuyện, Tuyền quay lại đạp vội về trường vừa lúc tiếng trống báo hiệu giờ học bắt đầu.

Buổi chiều, Tuyền không ngạc nhiên lắm thấy má đón mình ở cổng trường. Tuy tin Thanh bị bắt cóc được giữ kín nhưng má Tuyền cũng hay và bà dẫn Tuyền ghé thăm. Gặp má Tuyền, mẹ Thanh khóc mướt. Một lúc sau, bà đưa má Tuyền một mảnh giấy nhỏ, Tuyền lén đọc thấy viết là 10 giờ tối nay bà phải gói đủ 100.000$, một mình vào nghĩa trang thành phố và đặt gói bạc cạnh ngôi mộ gần cửa ra vào. Đúng 12 giờ, nghĩa là hai giờ sau bà sẽ nhận được con. Nếu bà cãi lời, cố tình gài bẫy hoặc báo cành sát bà sẽ nhận được xác thằng bé.

Xem xong má Tuyền hỏi:

- Bây giờ chị tính thế nào?

Mẹ Thanh buồn rầu:

- Chị bảo tôi phải làm sao?

Má Tuyền tần ngần hồi lâu rồi quả quyết:

- Hiện giờ mình chưa rõ gì về bọn cướp nhưng chắc chị cũng chưa quên qua báo chí, các vụ bắt cóc thường xảy ra như cơm bữa và phần đông gia đình nạn nhân tuy đã mất tiền nhưng vẫn mất con. Họ đã bắt chúng nó để phi tang vì sợ bọn nhỏ có thể giúp cảnh sát tìm ra tông tích họ. Theo tôi, một mặt mình vẫn làm đúng theo lời đòi hỏi của bọn họ còn một mặt mình bí mật báo tin cho cảnh sát biết, chắc rằng cảnh sát sẽ không đến nỗi sơ hở để bọn chúng nghi ngờ. Biết đâu cảnh sát sẽ túm trọn ổ trước khi mình đem tiền chuộc thằng Thanh?

Mẹ Thanh lau nước mắt nói nhỏ:

- Vâng, tôi xin nghe lời chị. Xin chị giúp tôi báo tin giùm với cảnh sát. Tôi sợ họ có cho người theo dõi tôi. Nếu tôi đi báo cảnh sát, họ biết được thì chết thằng Thanh.

Má Tuyền nhận lời rồi từ giã ra về. Ngồi trong xe Tuyền nghĩ phải đem khám phá của mình ra nói với má mới được. Tuyền mở lời:

- Má nè...

- Để yên má suy nghĩ.

- Phải má đang nghĩ về việc thằng Thanh bị bắt cóc không? Con cũng muốn nói với má chuyện đó.

Với vẻ giận dỗi, má đáp:

- Việc của người lớn má cấm con không được hỏi lôi thôi. Có im không nào?

- Nhưng con biết...

Má lại quát lên:

- Biết cái gì? Nín không? Độ rày Tuyền hư lắm, má đánh bây giờ.

Tuyền ức lắm nhưng không dám khóc. Đến nhà, sau khi trả tiền xe má hầm hầm bước xuống, Tuyền lẽo đẽo theo sau. Tới phòng khách, má đuổi Tuyền vào trong rồi cùng ba bàn bạc xem chừng rất bí mật và quan trọng vì ba má chỉ nói rất nhỏ. Tuyền đoán là ba má đang bàn về việc thằng Thanh ban chiều.

Lát sau Tuyền trở ra thì ba má đã đi rồi. Tuyền ngồi nơi phòng khách, lòng nóng như lửa đốt. Chiếc đồng hồ trên tường thong thả gõ chín tiếng. Tuyền lẩm bẩm, giọng lo âu:

- Chết rồi, chín giờ rồi, chỉ còn một giờ nữa là tới giờ hẹn trong thư. Không, mình phải đi cứu Thanh. Thanh ơi, tao đi cứu mầy đây.

Tuyền đóng nhanh các cửa rồi tìm giấy viết, viết thật nhanh bức thư:

"Ba má, con đi cứu Thanh đây. Con biết chỗ giam giữ nó nhưng không ai tin con cả. Má cũng thế và có lẽ ba nữa. Ba về nhà được giấy này ba hãy đi nhanh ra đường cái, ba cứ theo những vết phấn dài con vạch từ mặt đường thành phố ra đến ngoại ô. Đường từ thành đến đó không xa lắm đâu, đi bộ độ nửa giờ thôi. Ba sẽ theo lằn phấn và sẽ tìm được ngôi nhà ngói nằm ẩn trong cùng một khu vườn trồng cây ăn trái. Đó là nơi giam giữ thằng Thanh. Con đi đây".

Hôn ba má         
Tuyền.            

Tuyền dằn thư lên ghế salon, tìm phấn nhét đầy hai túi quần, luôn cả con dao xếp Tuyền đem theo. Xong xuôi Tuyền chạy nhanh ra lộ, vừa đi Tuyền vừa vạch những lằn phấn thật đậm trên mặt đường. Đến nơi rồi, Tuyền nương theo những tàn cây chạy vụt vào nhà. Không có ai trong nhà cả! Đèn đuốc tắt tối đen nhưng nhờ có ánh trăng rọi vào nên Tuyền tìm ra dễ dàng căn phòng nhỏ nơi giam giữ Thanh. Tuyền thận trọng núp bên vách nghe ngóng ; chẳng có tiếng động nào. Tuyền yên lòng xoay nhẹ quả đấm. May quá, phòng không có khóa.

Tuyền hé cửa chui vào và chạy nhanh lại phía giường. Tuyền muốn ứa nước mắt khi nhìn Thanh bị trói chặt vào giường, mồm bị nhét đầy giẻ. Tuyền thấy thương Thanh quá vội cúi xuống nói khẽ vào tai Thanh:

- Thanh ơi, tao đến cứu mầy đây. Mầy có đau lắm không? Tao mở trói cho mầy nghen.

Thanh gật đầu, mắt sáng lên. Tuyền bậm môi cố thào gút dây trói nhưng vô ích vì các gút thắt quá chặt. Thất vọng, Thanh đưa đôi mắt đẫm lệ nhìn Tuyền. Tuyền cũng quýnh quáng và lo sợ không kém Thanh. Tuyền lo bọn bắt cóc về thình lình giữa lúc Tuyền chưa tháo được dây trói cho Thanh thì cơ mưu bị bại lộ hết, lúc ấy Thanh cũng khổ mà Tuyền chưa chắc gì thoát tay bọn chúng. Chợt Tuyền nhớ lại con dao xếp trong túi. Cẩn thận, Tuyền cắt dây trói cho Thanh. Được cởi trói, nó ôm chầm lấy Tuyền khóc ngất khiến Tuyền hoảng hốt vội bịt miệng Thanh:

- Mầy nín đi chớ, bọn họ mà nghe được thì chết tao chết mầy.

Thanh nghe nói vội nín khóc. Tuyền nhíu mày:

- Họ đâu cả rồi?

Thanh buông thõng:

- Đã đi hết rồi.

- Vậy thì may quá, tao với mầy phải trốn khỏi nơi đây lập tức, mầy đã hết đau chưa? Ráng chạy nhanh theo tao rồi mình sẽ...

Tuyền im bặt, có tiếng chân người đang đi lần đến. Thanh hốt hoảng lùi lại núp sau lưng Tuyền. Tuyền cũng sợ điếng người, nhưng tự ái vùng lên, Tuyền tự nghĩ: "Không lẽ đứng yên chờ họ đến nắm cổ cả hai hay sao? Không thể được, vậy là "dở" lắm, phải chống cự đến phút cuối cùng..." Nghĩ thế, Tuyền vùng dậy xô Thanh qua một bên và chụp vội chiếc bình hoa sành trên bàn ném mạnh về đằng trước.

Bất ngờ, kẻ kia kêu "ối" một tiếng rồi ngã rầm vào vách, chiếc đèn trên tay cũng văng xuống đất vỡ tan. Thanh đã lấy lại bình tĩnh và ôm ngay chồng sách trên bàn, xách luôn cây chổi lông khá dài. Mắt nó trợn trừng, môi mím lại. Nó đã nhận ra mụ đàn bà đã dụ dỗ nó dẫn vào đây, nó nghiến răng ném cả chồng sách vào mụ ta trong lúc mụ đang loạng choạng bò dậy. Nhận ra sự có mặt của Tuyền, mụ vừa rên vừa rủa:

- Thằng ôn con nào đó hử? Mày theo ai vào đây? Bày dám cả gan chọi bà thì bà xé xác mày ra con ạ.

Thanh không nói không rằng mím môi vụt thêm về phía mụ mấy cuốn sách. Nhưng... những cuốn sách không làm mụ sợ nữa. Mụ nhảy choai choai lên chồm tới toan bóp cổ Tuyền nhưng Thanh không biết tìm đâu được một bình mực ném về phía mụ. Trông mụ ta lúc ấy thật đáng sợ. Mụ ta thét liên hồi xông nhanh về phía Thanh và Tuyền. Không còn gì để ném mụ nữa, Tuyền kéo Thanh chạy vào phòng. Mụ ta không bỏ, cũng chạy theo. Thanh nhờ núp gần cánh cửa nên khi mụ chạy vào phòng thì Thanh thoát được ra ngoài, còn Tuyền bị kẹt lại phía trong. Mụ đàn bà liền bỏ Thanh nhào về phía Tuyền, hung hăng như con hổ cái. Tuyền khiếp đảm thụp người xuống vuột khỏi bàn tay mụ ta và hét Thanh:

- Đi, mày hãy chạy ngay đi. Cứ nhắm ánh trăng mà chạy ra đến đường cái, mày sẽ theo vạch phấn trên mặt đường và về nhà cho ba tao hay...

Thanh bật khóc:

- Không, tao không đi, tao đi thì mụ quỷ cái kia sẽ giết mầy, tao không đi đâu, hu hu...
 

Mụ đàn bà lúc nầy xem chừng thấm mệt nhưng vẫn không buông tha Tuyền. Tuyền chạy quanh phòng né tránh mụ, thuận chân đá luôn nào ghế nào gối mền văng bừa bãi xuống đất để cản chân mụ. Mụ ta tung chân hất văng những chướng ngại vật rồi phóng theo. Thoáng một cái, lúc Tuyền còn lúng túng thì mụ đã nắm được chéo áo Tuyền. Mặt mụ đỏ gay, mắt mụ long lên như tóe lửa, mụ hét lớn:

- Phen nầy thì hết chạy, cho mày giỏi.

Nhưng Tuyền đã dùng hết sức giằng ra. "Soạt", áo Tuyền đứt làm hai mảnh. Mất đà, Tuyền chúi nhủi còn mụ đàn bà to lớn bật ngửa ra phía sau, đầu dập mạnh vào chân ghế. Mụ hét lên đau đớn. Tuyền cũng đuối sức, liệu chạy không nổi liền chui tọt xuống gầm giường vừa thấp vừa hẹp nằm thở dốc. Mụ đàn bà cũng bật dậy chui theo, nhưng mụ loay hoay mãi cũng mới chui được có nửa mình.

Đứng bên cửa phòng chứng kiến cảnh tượng nãy giờ, Thanh run lẩy bẩy, mặt xanh như tàu lá. Bàn chân Thanh bỗng chạm nhằm một vật vừa êm vừa dài. Dưới ánh sáng lờ mờ của bóng trăng, nó cúi xuống sờ soạng. Ồ, cây chổi lông gà, Thanh mừng quýnh nhặt lên.

Mụ đàn bà đã chui gần lọt vào gầm giường và bàn tay thô bạo kia sắp quơ vào Tuyền để kéo ra thì mụ hét lên đau đớn rồi thụt trở ra. Nhân cơ hội ấy Tuyền bò ra ngoài. Thanh vẫn còn nắm chặt ngọn chổi, dùng hết sức bình sinh quất loạn xạ vào người đàn bà trong lúc mụ chưa bò ra khỏi gầm giường. Mụ thét lên từng hồi nghe sởn tóc gáy, miệng mụ lầm bầm chửi rủa Thanh và Tuyền. Cùng lúc ấy, có tiếng chân người rầm rập chạy vào. Thanh buông chổi ôm chầm Tuyền, hai đứa cùng khóc ngất tuyệt vọng. Mụ đàn bà lốm cồm bò dậy, trong mắt mụ thoáng lên ánh vui mừng. Mụ nhặt cây chổi đã nát bét toan vụt mạnh vào người Thanh và Tuyền, nhưng... không... mụ đã lầm vì bóng cảnh sát đã xuất hiện trên ngưỡng cửa phòng. Rụng rời cả chân tay, mụ ném cây chổi phóng mình toan chạy ra cửa nhưng đã trễ rồi. Chỉ bằng một thế võ tầm thường, thoáng một cái, tấm thân đồ sộ to béo trên tám mươi ký lô của mụ đánh rầm xuống chân tường. Viên cảnh sát cúi xuống nhẹ nhàng còng tay mụ lại. Cùng lúc đó, một bóng người khác hiện ra. Thanh và Tuyền cùng chạy nhào về phía cửa. Ba tiếng kêu cùng phát ra một lúc:

- Con!

- Ba!

- Bác!

Thanh, Tuyền ngã vào tay ba nức nở khóc, ba không nói gì, cúi xuống bồng hai đứa ra xe...


*

Bây giờ thầy Lâm không còn nghiêm khắc với Tuyền nữa và thỉnh thoảng thầy còn nhìn Tuyền với đôi mắt chan chứa thương yêu. Riêng Tuyền lại được trở về chỗ cũ để đôi khi cho thằng Thanh từ bàn dưới nhìn lên "cóp" bài. Về phần Thanh, nó không còn dám nhận kẹo "xúc-cù-là" của ai nữa hết. Lâu lâu, Thanh lại đem vào trường những thỏi _xúc-cù-là" vừa béo vừa ngọt có mùi thơm phưng phức của má nó mua cho. Và, những lần như vậy, nó không quên chia phần cho Tuyền.


HOÀNG THI TRANG    

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 26, ra ngày 25-2-1965)

 

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2021

Cổ Thụ Biết Khóc

 

Trong một dịp tình cờ, tôi được xem lại cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư xa xưa. Cuốn sách cũ vàng, thô sơ, nhưng từng trang, từng trang chứa đựng hồn thiêng dân tộc, tình nghĩa đồng bào qua những bài học ngắn thật ngắn dùng để dạy các em bé Việt Nam, tương lai của dân tộc Việt Nam Anh Hùng. Đọc qua những giòng chữ cũ xưa trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, tôi nhận thấy hết sức gần gũi những gì là tình Việt Nam, nghĩa đồng bào, tôi thấy yêu thương những mái nhà tranh, thương những con đường làng ngoằn ngoèo giữa các hàng tre xanh, tôi thấy tình cảm Việt Nam và tình cảm Đông Phương chan hòa.

Đọc Quốc Văn Giáo Khoa Thư xa xưa, tôi nhận thấy niềm cảm xúc của tôi trái nghịch hẳn niềm cảm xúc khi đọc những cuốn sách mà hiện nay các em bé Việt Nam đang học được in rất đẹp ở Úc, ở Đài Loan nhờ tiền viện trợ Mỹ. Giở trang một cuốn sách Quốc Văn bây giờ, tôi cảm thấy xa lạ, cũng những giòng chữ Việt Nam, cũng những mẩu chuyện Việt Nam mà sao thấy dân tộc tính xa vời, thấy không khí Việt Nam gượng gạo.

Cuốn Quốc Văn giáo khoa thư được ín dưới thời Pháp thuộc, thời mà bọn thực dân chỉ biết bóc lột dân thuộc địa chớ chưa dốc toàn lực để chế ngự dân bản xứ đời đời kiếp kiếp bằng vũ khí văn hóa : dùng văn hóa tiêu diệt văn hóa. Nhờ thế cuốn Quốc Văn giáo khoa thư mới là cuốn sách đầu tiên bồi dưỡng nhiều vào tâm hồn các em bé Việt Nam trong cảnh dân tộc bị ngoại bang phân hóa. Hai mẩu chuyện trong Quốc Văn giáo khoa thư làm tôi xúc động nhứt là chuyện ông Đại Tướng về thăm thầy và chuyện ba anh em họ Điền.

Một ông Đại Tướng quyền uy lừng danh thiên hạ trở về làng xưa giở mũ chào thầy cũ: "Thưa thầy! Con về thăm thầy đây ạ!" Cảm động và nghĩa khí biết là chừng nào! Tình nghĩa thầy trò thiêng liêng đã được un đúc một cách hết sức chân thành thiết tha vào đầu óc một con người Việt Nam thuở còn thơ. Chả bù bây giờ, trong không khí phá sản tột cùng của một xã hội đô la - chim cút thiếu căn bản tình người, các con người Việt Nam thuở còn thơ phải luôn luôn chứng kiến cảnh trái tai gai mắt, người bóc lột người... và mới đây học trò Việt Nam còn phải chứng kiến cảnh ông thầy của mình đánh nhau ngay cửa lớp vì chim Cút tại một trường lớn ở Saigon!!! Hòa bình ơi! Mau về đây để không khí Việt Nam trong Quốc Văn giáo khoa thư được trở về nhưng trở về trong Việt Nam của người Việt chớ không phải trong Việt Nam của đế quốc.

Tình nghĩa thầy trò dâng lên cao ngút trời trong chuyện trên thì tình anh em, tình đồng bào ruột thịt lại thấm thía xót xa trong chuyện ba anh em họ Điền.

Ba anh em nhà họ Điền, cha chết, bèn chia nhau gia tài, cái gì cũng chia ba, từ cái nhà, cái giường, cái nồi đến cả miếng giẻ rách. Cuối cùng, chỉ còn một cổ thụ phía trước nhà. Ba người dự định sáng hôm sau đốn cổ thụ đó rồi chia ba. Nhưng bất ngờ, sáng hôm sau, ba người tính ra đốn cổ thụ thì thấy cổ thụ bỗng nhiên úa tàn hết sức bất ngờ dù mới hôm qua còn tươi tốt xum xuê. Ba anh em họ Điền ngạc nhiên nhưng thình lình, chợt nghĩ ra, người anh cả ôm mặt khóc hu hu. Thấy lạ, hai người em hỏi anh thì anh trả lời:

- Trước cảnh chia rẽ của anh em ta, cổ thụ là cây cỏ mà còn biết buồn rầu, héo tàn, huống chi chúng ta là con người...

Hai em nghe nói xong, cảm động, khóc theo anh. Thế là ba anh em họ Điền ôm nhau khóc vùi và bỏ ý định chia rẽ.

Cổ thụ biết buồn, biết khóc đã thức tỉnh được lòng người.

Kể từ đó, ba anh em nhà họ Điền thương nhau hơn cả bao giờ...

Mẹ Việt Nam đã buồn khổ, già nua, khóc nhiều vì cuộc chiến này. Tôi ước mơ, một ngày nào đó toàn thể ba mươi triệu người Việt Nam sẽ ôm nhau khóc vùi khi nhìn mẹ Việt Nam như ba anh em nhà họ Điền nhìn cổ thụ héo tàn.

Ngày ấy, không còn hận thù, không còn người này người nọ, ngày ấy chỉ có tình đồng bào ruột thịt, chỉ có người Việt Nam thương yêu nhau cùng tạo lịch sử dân tộc oai hùng, cùng xây dựng non nước Việt Nam hùng cường.

Ngày ấy... Ngày ấy...


Mỹ Tho 14-2-71        
HOÀNG ĐĂNG CẤP    

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 148, ra ngày 1-3-1971)
 

Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2021

Ngồi Xuống Đây Em


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 (Cho Nai Ngọc của chị)

Hãy ngồi xuống đây, chúng ta dự cuộc
Bướm chim về trái chín nở qua tay
Nắng reo vui chim quên tim lạnh buốt
Em ở đây, nhạc mừng quay cả ngày

Ngồi xuống đi em cùng cười ngàn nụ
Nụ dài, nụ ngắn, nụ thơ ngây
Và cất tiếng hát vang chim mừng trú ngụ
Em sống ngây ngô như một kiếp mây

Nào, hỡi em, ngậm trên môi giọt rượu
Nóng hồng môi và ửng má gầy
Ta nắm tay reo mùa thành tựu
Tuổi ngọt ngào, khoảng đời thơ ngây

Vui em nhé, hôm nay và mãi mãi
Ngồi xuống đây em dưới đám cỏ xanh
Đất ở đây không làm bẩn gót hài
Và nồng ấm không bao giờ giá lạnh

Ơi em nhé, nhìn vào mắt bướm hoa
Cho mắt xanh và sợi tóc đen dài
Hong khô mắt bé lệ nhạt nhòa
Ngồi xuống em nhé và mãi mãi ngày mai.

                                               NGUYỆT THANH

(Trích tuần  báo Thiếu Nhi số 78, ra ngày 25-2-1973)
 

Thứ Năm, 11 tháng 3, 2021

Niềm Vui Tỉnh Lẻ


Mỗi khi nghe lại những bài hát của thập niên '60, hoặc chỉ nhìn những hình bìa nhiều màu sắc tươi vui minh họa những bài hát đó thôi, tôi cũng thường hay bắt gặp mình hoài niệm về những tháng ngày tuổi ấu thơ bất đắc dĩ phải sống nơi tỉnh lỵ Châu Đốc. Bìa bài hát Đêm Buồn Tỉnh Lẻ vẽ một thanh niên áo khoác vắt trên vai, đứng lặng nhìn dãy phố buồn thiu của một tỉnh lỵ miền Tây nào đó, khiến tôi tự hỏi, không lẽ tỉnh lẻ chỉ có những nỗi buồn, cho dù là nỗi buồn man mác đi nữa?

Hồi tưởng lại những chuỗi ngày tháng tuổi thơ êm đềm đó, tôi mới nhớ ra rằng, thật ra, tỉnh lẻ cũng có những nguồn vui riêng của nó, tuy không ồn ào náo nhiệt như chốn đô thị phồn hoa, bằng không thì tại sao người ta vẫn có thể sống hết năm này tới năm khác, ở những nơi bị mệnh danh là tỉnh lẻ?

Châu Đốc nằm sát biên giới giữa nước ta và nước Cambodia. Hàng năm vào rằm tháng 10 âm lịch, người ta thường tổ chức cuộc thi đua ghe mừng Lễ Cúng Trăng. Tôi chỉ được tham dự có một lần duy nhất, và thành thật mà nói, tôi cũng chẳng hề muốn có thêm cơ hội lần hai! Bác gái dắt chị Tâm và tôi chen vào đám đông nêm chật cứng bên đây  bờ sông Hậu Giang. Lùn xủn vì chỉ mới khoảng sáu, bảy tuổi, tôi chẳng thấy được gì ngoài rừng người chen chúc, hò hét để cổ vũ cho đoàn đua ghe, và cái nóng bức chật chội muốn nghẹt thở. Thỉnh thoảng tôi mới ghé mắt qua khoảng cách giữa những người lớn đứng trước tôi, để  thấy dưới sông hàng chục chiếc ghe đang được cật lực chèo bởi vô số những đấng nam nhi đầu quấn khăn, và trông rất vạm vỡ, lực lưỡng. Đối với một đứa trẻ con, nhất lại là trẻ gái, đội nào thắng thì có khác gì nhau đâu, nên tôi chẳng cảm thấy hứng thú gì, nhưng lại không dám một mình rời khỏi đám đông vì sợ bị lạc. Trên đường về nhà, bác gái nói bị móc túi mất mười đồng! Nếu không có chi tiết này, chắc tôi cũng đã quên khuấy cái lễ hội đua ghe Ngo ấy từ lâu.

Thỉnh thoảng bác gái cũng lững thững dắt chúng tôi ra chùa Bồ Đề gần nhà xem hát chèo (?). Có lần tôi biết được tên vở chèo đó là Quan Âm Thị Kính nhờ sự diễn giải, thuyết minh, chỉ trỏ của bác gái. Sân khấu cách chỗ chúng tôi đứng cả trăm mét, nên tôi chỉ thấp thoáng thấy khi thì Thị Mầu vận yếm đào, thắt lưng xanh hoa lý, vấn khăn mỏ quạ; còn Thị Kính thì bận áo nhà chùa, nhưng ai nấy cũng đều tô son đỏ choét, trát bự phấn  trên mặt. 

Tôi rất thích những buổi diễn miễn phí ngoài trời chung quanh phạm vi chùa Bồ Đề, vì tôi được tha hồ quanh quẩn đi tìm hoa để bứt. Chùa trồng rất nhiều các loại hoa, và tôi đã tha hồ hái mà chẳng bị ai la rầy, có lẽ vì lúc đó  tôi vẫn còn là một đứa con nít, hay do những vị sư sãi của chùa quá đỗi hiền lành nên đã chẳng chấp nhất gì? Chỉ nhớ tôi đã bứt vô số những bông cúc đơn cánh đủ màu hồng vàng cam..., mà vì không biết tên, và cũng chẳng hỏi ai được, nên tôi đã tự đặt tên cho chúng là Cúc Chùa! (Trông mặt đặt tên mà!). Ngoài ra tôi còn tìm thấy, sát bên hàng rào sắt của chùa, những bụi hoa cao hơn đầu tôi, bông li ti màu đỏ và mọc thành chùm khá thơm mà tôi tự gọi là hoa Hải Đường! 

Đối diện với chùa là công viên, nơi trồng những cây phượng đỏ, chỉ nở hoa vào mùa hạ. Đối với lũ trẻ chúng tôi, hoa phượng rất quý, dĩ nhiên là vì hoa phượng đẹp rực rỡ, nhưng trên hết là vì hoa phượng mọc quá cao, vượt tầm với của lũ trẻ chúng tôi, nên rất khó hái. Vì vậy, mỗi khi vô tình có được chùm hoa phượng trong tay, do những đứa trẻ trai nghịch ngợm dùng sào chọc xuống rồi làm rớt hoặc lượm không xuể, tôi mê man nhặt lấy, rồi tha hồ ngắm nghía lật tới lật lui những cánh hoa phượng màu đỏ ánh cam thật lộng lẫy, bên những chùm trái phượng nhỏ to đủ cỡ. Có lần vì tò mò, tôi còn tách cả những trái phượng đó ra để coi có gì, chỉ để thấy cuộn bên trong cũng chỉ là những bông hoa phượng còn non chưa đủ kích thước, nằm co quắp chờ tới ngày được chào ánh mặt trời, trông nhỏ xíu và thật ngộ nghĩnh. Đưa lên mũi hửi, tôi cảm thấy hơi thất vọng vì loài hoa hữu sắc nhưng vô hương đó. 

Gần cuối tháng tư âm lịch, khách thập phương tứ xứ và ngay cả dân chúng trong vùng nữa, nô nức kéo nhau đi dự lễ vía Bà ở núi Sam. Cả tỉnh lỵ bé nhỏ Châu Đốc bỗng tấp nập rộn rịp khắc hẳn ngày thường. Hàng chục chiếc xe đò phun khói, hàng trăm chiếc xe lôi mà người lái gò lưng liên tiếp nối đuôi nhau chạy về phía xa xa. Lần  đó tôi nhớ mình đã một mình tự leo lên núi Sam và đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy bắt rễ lẫn trong những tảng đá xanh khô khốc đó, lại có thể mọc lên những cây ăn trái rất tươi tốt như mãng cầu, lồng mứt, lủng lẳng những trái tuy vẫn còn non. Gần lên tới đỉnh núi, thấy nhiều lớp hàng rào dây kẽm gai, bót canh gác và những tấm biển ghi hàng chữ, Không phận sự miễn vượt rào hoặc Khu quân sự cấm vượt rào gì gì đó trông thật bí hiểm, và mặc dù tính hay tò mò rất muốn khám phá, tìm hiểu núi Sam cao thêm nữa, tôi đành chép miệng tiếc nuối quay trở xuống. Cứ đi xe là tôi bị ói, (trừ xe gắn máy), vì vậy tôi chỉ đi dự lễ vía Bà duy nhất một lần trong đời đó mà thôi, còn thì tôi toàn chọn giải pháp ở nhà chơi để lãnh hai đồng bạc mua chuối nấu ăn, vừa ngóng những thành viên khác trong gia đình bác đi dự lễ trở về!

Hình như đi coi xi nê cũng là một trong những niềm vui tỉnh lẻ ở Châu Đốc, dù trong suốt quãng thời gian năm năm ở dưới đó, tôi chỉ được đi coi một hay hai lần. Hình như cả tỉnh Châu Đốc chỉ có hai rạp chiếu bóng là rạp Lạc Thanh (có lẽ chuyên chiếu phim Ấn Độ?), và rạp Tân Việt (gần nhà bác tôi hơn). Có lần rạp chiếu cuốn phim Ngày Dài Nhất với nhạc phim mang cùng tên, nói về đệ nhị thế chiến. Tôi còn nhớ những người lính trên phi cơ đã đổ hết hộp này tới hộp khác đầy những đinh là đinh xuống đất, và chỉ khi dưới đất bùng nổ ầm ầm và khói lửa kinh hoàng khắp nơi thì tôi mới biết hóa ra những cây đinh nhìn trông vô hại đó lại chính là những trái bom, và phi cơ  phe Đồng Minh đang thả bom tiêu diệt phe Trục Đức-Ý-Nhật!

Nếu không vào dịp có lễ lạc gì, tôi đoán những đứa trẻ tỉnh lẻ đã tự tạo niềm vui cho chính mình, bằng những vật dụng dễ tìm, không mất tiền mua  ở xung quanh nơi ở hay môi trường sống. Chúng sống gần gũi với thiên nhiên hơn, không như những trẻ em thành phố ngày nay, với những tiện nghi hiện đại như rạp chiếu phim 4D, 5D, thậm chí 8D, 9D..., những trò chơi điện tử, những thiết bị công nghệ đời mới... Con nít thời thập niên '60 chỉ biết bắt những chú dế ngoài đồng để chơi đá dế, bắt những chú cánh cam trong bụi bỏ vào lon nhưng chẳng biết để chơi trò gì, leo cây hái trộm trái trứng cá, ổi xá lỵ... hay bông hoa nhà hàng xóm, tắm mưa, bắn bi, chơi u, chơi năm mười, chạy đua trên những con đường phẳng phiu nhưng vắng vẻ thơ mộng trong những buổi chiều có những trái sao dầu rụng bay như chong chóng trên đầu, và những thú vui đơn giản, bình dị khác ở tỉnh lẻ mà chẳng phải bỏ tiền mua như túm năm tụm ba tán gẫu trong những đêm mùa hạ trời lấp lánh sao. Thường thường tôi nhớ đã thấy nhiều trẻ em trai hơn những trẻ em gái chạy lăng quăng chơi bên hàng xóm hay ngoài đường, có lẽ vì trẻ em gái bị quản thúc chặt chẽ, nghiêm ngặt hơn chăng?

Có lần tôi đang ngồi trên hai tầng ghế: một ghế gỗ có tay vịn phía dưới, độn thêm một ghế con bên trên cho cao lên, và tôi thì vắt vẻo trên cùng, để được cắt tóc, kiểu "bum bê", thì bác gái đi chùa về, theo sát sau là một chú chó đi lạc! Con nít rất sợ "bị" cắt tóc, nhưng tôi không nhớ đã khóc lóc la hét gì. Vì ngược lại, tôi lại thấy rất dễ chịu khi cứ việc ngồi không hưởng làn gió mát hiu hiu đưa tới, tai nghe tiếng tông đơ hay kéo lách cách bên tai, tiếng bác thợ hớt tóc dạo mài dao lên tấm da dài nghe xoàn xoạt, nhìn những cụm tóc cứ rơi lả tả xuống đất, và cái êm dịu của bông phấn đưa qua đưa lại nhồn nhột sau gáy nghe mát ơi là mát, và sau cùng, được bác thợ ẵm xuống đất, đối diện với chú chó mới thấy lần đầu tiên trong đời! Sáng  sáng khi trời còn sớm, chú chó đó đã chạy đua theo chúng tôi ra Ty Thông Tin chơi, cùng chúng tôi tập thể dục, mà không cảm thấy xa lạ ngại ngùng chút nào. Người ta nói chó vô nhà thì giàu! Chưa kịp thấy giàu đâu, thì một hôm chú chó đó đã ra đi không một lời từ biệt. Chắc chú ta nhớ và đã tìm đường về với chủ cũ.

Tôi tới Châu Đốc chỉ một lần, và xa lần đó tới giờ chưa hề có dịp quay trở lại thăm thêm một lần nào nữa. Nhưng nghe nói Châu Đốc bây giờ đã khác xa ngày trước. Nên thôi, cứ để vậy coi bộ mà hay, còn hơn là bị thất vọng khi thấy tỉnh lẻ đó giờ cũng chẳng khác gì Sài Gòn chốn đô hội. Tôi muốn giữ mãi hình ảnh êm đềm của Châu Đốc, với những cánh hoa lục bình đơn sơ nhưng đầy thơ mộng, những giàn bông giấy rực rỡ trong vườn, những cánh hoa phượng đỏ thắm khi hè sang, những trái sao dầu bay bay trên những lối đường trong chiều lộng gió, và những cuộc tán gẫu dưới tán cây nhạc ngựa đêm hè, để còn yêu mãi nhớ hoài, những NIỀM VUI TỈNH LẺ...

Trần Thị Phương Lan    
(Bút nhóm Hoa Nắng)    

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>