Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018

Tiếng Hú Trên Đỉnh Non Chà Hóc_CHƯƠNG MỘT




CHƯƠNG MỘT


Tiếng hú kéo dài rền rĩ, rồi biến thành một tiếng rống ghê rợn bao trùm những dãy nhà sàn cheo leo ngủ yên ở trên sườn núi Ca-Tha.

Ông chúa làng Bu-Then chống tay run rẩy ngồi dậy, chong tai ngồi nghe giữa khoảng tối dày. Từ khi bắt đầu bập bẹ những tiếng đầu tiên cho đến bây giờ, mái tóc bạc phau và lưng còng lại như cây gáo già ở trước cổng buôn, ông chưa bao giờ nghe một tiếng hú lạ lùng như thế.

Cố gắng chống lại một cơn cảm sốt làm ông rũ liệt đã nhiều ngày rồi, ông choàng tấm "dồ" lên mình, sờ soạng bước ra đầu nhà.

Tiếng hú vẫn cứ vang dài như chạy lông lốc trên đầu các ngọn cây cao, rồi tỏa tứ bề, lẫn lộn những lời khóc than kể lể và khi dịu lại nghe như tiếng rên của một người sắp xuống mồ. Ông Bu-Then quờ quạng bám tay vào tấm phên che, chỗ lối xuống lên, ngồi nhẹ xuống sàn như sợ ngôi nhà sụp đổ, giương đôi mắt đã đục lờ, hõm sâu, thảng thốt nhìn về một hướng núi xa.

Có lẽ tiếng hú xuất phát từ đỉnh Chà Hóc cao nghệu, hoang vu, dân làng chưa ai bén mảng đến đấy bao giờ. Những câu chuyện về ma quỉ, về thần núi do lão phù thủy Sa-Keo kể lể khiến họ sợ hãi, chỉ đứng xa nhìn đỉnh núi như ngắm nhìn con quái vật linh thiêng.

Gió khuya ướt đẫm mùi sương khua động rạt rào cây lá, bốc thổi từng luồng lạnh ngắt, khiến ông chúa làng co rút mình lại, kéo tấm "dồ" lên phủ kín đôi vai. Mặt trăng đã chìm sau núi, chỉ còn le lói đôi vệt sáng mờ sau rặng cây xa, đẩy vùng bóng tối đen dày của ngọn Ca-Tha phủ kín lấy buôn Nước Ràng.

Ông Bu-Then nhướng mắt nhìn quanh, không một bóng người thấp thoáng, không tiếng động nào vang lên giữa cảnh âm thầm. Dân làng có lẽ bị chôn vùi trong giấc ngủ nặng nề sau ngày làm việc nhọc mệt trong rẫy, trên nương, hoặc đang co rúm trên các sàn nhà, nín thở lắng nghe tiếng hú kỳ quái bất thần nổi dậy giữa đêm lạnh lẽo tối tăm.

Ông chúa làng nhớ mấy ngày trước đây, khói đen bốc tỏa mờ mịt về phía Chà Hóc như báo một điềm chẳng lành. Tai họa sẽ giáng xuống dân Nước Ràng hay sao? Ông thấy xúc động nghẹn ngào và buông một tiếng thở dài.

Tiếng hú, sau hồi thét vang rùng rợn, bỗng như khàn hơi ngừng bặt. Cả vùng núi rừng bao la chìm đắm trong sự câm lặng nặng nề. Tất cả sinh hoạt về đêm thường khi cựa quậy rộn ràng, bây giờ nén lại trong sự chờ đợi hồi hộp. Ông chúa làng nghe rõ tim đập dồn dập trong lồng ngực mình. Lâu lắm ông mới nhận được từ xa tiếng suối Nậm Nui rì rầm luồn qua khe đá. Và chim cheo-meo chiêm chiếp thảm thiết ở trong bụi rậm sau buôn.

Khi ông lấy lại được sự bình tĩnh, chống tay lom khom đứng dậy thì tiếng hú lại bắt đầu vang lên. Đó là những tiếng gào khan như thoát ra từ cổ họng của một con người to lớn dị thường, và con người ấy tưởng có thể nuốt dễ dàng được cả cây rừng, đá núi. Rồi tiếng gào ấy chuyển sang tiếng thét dữ dội như muốn phá tung lòng núi thẳm sâu để trút hết nỗi căm hờn chất chứa đời đời kiếp kiếp. Lúc tiếng thét đã dịu lại, trở thành tiếng hú, máu trong người ông Bu-Then như ngừng chảy hẳn. Ông ngã khuỵu xuống sàn nhà, tê lạnh người đi vì nỗi hãi hùng. Tiếng hú thê thảm quái gở như tụ hội hết hồn ma, vía quỉ lạc loài trong chốn rừng hoang. Tiếng hú ghê rợn độc ác như cào cấu trên da thịt con người, xuyên thủng màng tai, xoắn lấy não tủy.

Như cây gáo già sống trước cổng buôn gặp cơn bão rừng thổi mẹp vẫn luôn cố gắng chống lại mưa gió phũ phàng, ông đã từng đem sinh lực cường tráng giúp cho dân làng xua rạt bao loài thú dữ để rời lũng sâu ẩm thấp mà về bám trên sườn núi Ca-Tha đất rẫy phì nhiêu. Khi sinh lực ấy mỏi mòn, ông đã đem sự khôn ngoan của kẻ trải nhiều bất trắc gian lao giúp cho dân làng trồng trọt, dạy cho dân làng thuận hòa, biết thương rẫy lúa, nương ngô, suối nước, cây rừng. Bây giờ chúa làng Bu-Then lại để tiếng hú ma quái xô ngã như cành củi mục hay sao? Chúa làng Bu-Then để mặc cho bao nhiêu người run rẩy trong cơn khiếp đảm hãi hùng hay sao?

Ông già Bu-Then loạng choạng đứng lên, cố chống lại sự hoảng hốt xáo trộn lòng mình. Bám chặt bàn tay gầy gò vào khung cửa liếp, ông lần mò leo xuống chiếc thang gỗ làm bằng thân cây cốc rừng được đẽo hõm vào nhiều nấc để đặt bàn chân. Gió núi thổi tạt từng luồng lạnh buốt, bật tung tấm "dồ" khỏi cái thân hình xương xẩu, muốn kéo ngã ông xuống dưới sân buôn. Ông đi sờ soạng, nghe chân tê nhức ở trên nền đất khô cằn. Trăng đã chìm hẳn, chút sáng nhợt nhạt trên vùng cây xa cũng tắt từ lâu.

Ông già Bu-Then tìm về cuối buôn, chỗ nhà phù thủy Sa-Keo. Phải đi hỏi lão, vì chỉ có lão là biết ý định của loài ma quỉ.

Lên đến nấc cuối của cây thang gỗ, ông chúa làng thấy qua tấm liếp che trống trải, Sa-Keo đang ngồi im lặng trước một bếp lửa đã tàn, chỉ còn âm ỉ một ít than hồng đỏ rực. Đầu lão to lớn quấn vành khăn rộng xồ xề, trông như một chiếc cối giã lắc lư nhè nhẹ, trong khi hai cánh tay dài loeo ngoeo quấn chặt lấy cặp đầu  gối xương xẩu nhô lên đụng tới chân cằm.

Ông già đưa tay đẩy mạnh tấm liếp. Sa-Keo như chợt bừng tỉnh, mở rộng đôi mắt ốc nhồi thao láo nhìn về phía cửa, cất giọng khàn khàn:

- Ai đó?

Ông già đáp lại như trong hơi thở:

- Ta đây... Bu-Then.

- A, ông chúa làng. Khuya lắm rồi mà.

Ông Bu-Then lại gần bếp lửa, ngồi xuống, hơ tay lên chút ánh sáng hoi hóp:

- Này, Sa-Keo, tiếng hú gì thế?

Lão phù thủy giương mắt nhìn chăm chắm vào khoảng tối dày sâu thẳm ở ngoài cửa liếp, không trả lời lại. Tiếng hú chừng như cũng vừa đánh thức lão dậy, và lão bó gối ngồi chong bên bếp lửa tàn, lắng nghe vọng về một thứ âm thanh kỳ lạ chưa từng nghe thấy trong đời.

Tiếng hú còn đó, át hẳn mọi tiếng xao động của chốn rừng già, tiếp tục gieo rắc kinh hoàng, gợi lên bao nhiêu hình ảnh chết chóc.

Ông Bu-Then hỏi lại:

- Tiếng hú gì thế, Sa-Keo?

Lão phù thủy gỡ tay khỏi đầu gối, vuốt mặt chầm chậm rồi nghiêng lại gần tai ông chúa làng, nói nhỏ:

- Chắc là tiếng của ma quỉ.

- Xưa nay chưa nghe nó mà.

- Chưa ai nghe cả, ông Bu-Then à. Nó từ hang sâu thăm thẳm trồi lên, nó từ rừng hoang lạc loài chạy tới, đói khát tìm mồi.

- Dân làng ta sống nổi không? Dân làng ta có khổ sở đấy không, Sa-Keo?

Sa-Keo im lặng, nheo mắt nhìn vào vùng tối trước mặt. Giây lâu lão mới cất giọng khàn khàn đáp lại một cách chậm chạp:

- Ma quỉ muốn gì, chưa biết rõ cái bụng nghĩ của nó được đâu. Chờ một đêm nay đã mà. Nó kêu mệt nhọc rồi nò nằm nghỉ. Ngày mai Sa-Keo tìm hỏi cây rừng, núi đá, tìm hỏi hồn ma, vía quỉ lang thang...

Lão dừng lại, nhìn vào mặt ông chúa làng chăm chắm, rồi tiếp:

- Giao ngựa của ông Bu-Then cho Sa-Keo dùng.

Ông chúa làng im lặng gật đầu. Rồi lão phù thủy khoanh tay bó gối, cặp mắt riu ríu dần lại và đầu lắc lư.

Ông già Bu-Then cũng ngồi yên lặng một lát bên vùng ánh sáng hắt heo của bếp lửa tàn. Rồi ông chệnh choạng đứng dậy:

- Về đây, Sa Keo.

Lão phù thủy vẫn im lặng.

Ông già lần mò tiến ra phía cửa. Gió hắt từng luồng lạnh buốt. Tiếng hú dịu dần, bây giờ kéo dài thành lời than vãn xen lẫn tiếng khóc, tiếng rên buồn thảm lạ lùng.

Ông chúa làng cũng buồn lòng hết sức. Đã lâu, dân buôn không còn mấy ai tin cậy ở lão Sa Keo. Khỏe mạnh mà lười biếng, lão chẳng chịu làm khổ nhọc như là dân buôn. Thèm uống nhiều rượu, thèm ăn nhiều thịt, tính tình nóng giận bất thường, lão sống cô độc trong ngôi nhà sàn cuối buôn. Thỉnh thoảng có những con bệnh không thể chữa lành bằng các lá rừng, thì lão được thỉnh cậy đến xua đuổi tà ma ám ảnh. Nhưng chẳng mấy khi con bệnh được khỏi, và lão Sa Keo cho rằng ma quỉ muốn đưa họ về một cõi đời khác tốt hơn, no hơn, khỏi làm mệt nhọc mà cũng có ăn, có uống hàng ngày. Ở cõi đời ấy, có sẵn nhiều rượu, nhiều thịt, nhiều lắm lắm đó. Đừng có buồn mà. Lão nói như vậy, nhưng những bà con của kẻ qua đời vẫn khóc như mưa như gió.

Ban ngày, Sa Keo lẩn quẩn trong rừng, trong núi, hái lá, đào củ hoặc lặn lội xuống các buôn phía dưới đổi chác vật dụng, đến mùa tỉa lúa, trồng bắp mới thấy có mặt trên nương, trên rẫy vài hôm. Nghĩ rằng lão tiếp xúc được với loài ma quỉ nên có những lối đi lại, nói năng kỳ dị, dân làng vẫn sợ hãi lão, cho lão thức ăn, thức uống hàng ngày, nhưng không ai dám gần gũi.

Thế mà bây giờ chúa làng Bu Then phải đến hỏi lão, và khi chào lão ra về, lão không thèm nói một lời. Trước cái tiếng hú ma quái, ông già Bu Then cảm thấy chừng như uy quyền của mình đã bị Sa Keo lấn át mất rồi.

Ông lọ thọ đi từng bước, nghĩ đến số phận ngày mai của dân buôn, xót thương cho họ. Chúa làng Bu Then già rồi, chết đi cũng chẳng làm sao. Nhưng còn biết bao con trai, con gái tốt tươi, khỏe mạnh như khóm là ngà ven suối, biết bao trẻ con xinh đẹp như những  hoa rừng, dễ thương như những lộc non vừa hé sau mùa mưa lạnh vừa tàn. Chúng nó không thể bị hủy diệt đi lúc còn sức trẻ. Chúng phải được sống, được lớn cao lên rồi được già đi sau khi sinh sôi nảy nở ra nhiều lớp khác khỏe mạnh và tốt tươi hơn, cho người Mơ-Nông mãi mãi vẫn còn xanh thắm như những cây rừng.

Ông già Bu Then nghe lòng xúc động, bước đi chậm lại, vội đưa cánh tay khẳng khiu, buốt lạnh lau dòng nước mắt lăn dài xuống đôi má hõm khô gầy.

Khi đi ngang nhà Xiu Bân, ông thấy một cái bóng đen ngồi ở đầu hè. Đây đó những bóng đen khác hiện lên trên khoảng sàn nhà trống trải nhô ra nơi bậc thang lên. Rồi những nhà khác, những bóng đen khác âm thầm xuất hiện. Ông già dừng lại. Dân làng cũng thao thức như ông, cũng đang lo sợ như ông khi nghe tiếng hú lạ lùng.

Ông thấy nhiều bóng đen xuống thang gỗ, lần lượt, lặng lẽ vây quanh lấy ông. Giữa vùng tối lạnh mênh mông chỉ được soi sáng từ xa bởi đôi vì sao le lói, ông Bu Then thấy rõ mình vẫn còn là một chỗ dựa cho dân Nước Ràng. Nỗi lo sợ ở nơi ông được xua tan đi, và ông chúa làng tiếp được những hơi thở ấm của dân làng mình. Ông nói gần như thì thầm:

- Hãy ngồi xuống đi.

Những cái bóng đen nhẹ nhàng ngồi xuống, tạo thành vòng tròn vây bọc quanh ông. Im lặng. Tiếng hú yếu dần, vẳng lại như một tiếng rên mệt nhọc của kẻ đuối sức. Rồi nó tắt lịm đột ngột, khiến cảnh âm u của chốn rừng đêm trở thành u uất nặng nề. Giây lâu người ta lại nghe tiếng suối Nậm Nui rì rầm tuôn qua khe đá. Và chim cheo meo cất những tiếng kêu thảm thiết trong những bụi rậm sau buôn.

Ông già Bu Then ôn tồn bảo với dân làng:

- Ta đã đến nhờ Sa Keo ngày mai tìm hỏi hồn ma, vía quỉ tiếng hú từ đâu mà đến buôn ta. Không còn sống được ở đây, chúng ta sẽ kéo nhau đi về ngọn núi khác. Đừng có lo buồn. Chúa làng Bu Then sẽ sống chết với các người. Hãy nghe lời ta, về nhà nằm ngủ cho yên, đừng có nói chuyện ồn ào, đừng có khêu cao ngọn lửa. Ngày mai lên rẫy, lên nương, đừng đi một mình. Con gái mang theo rựa trành, con trai mang theo cung nỏ.

Ông dừng lại, nhìn quanh. Rồi bảo:

- Về đi!

Những cái bóng đen từ từ đứng dậy, âm thầm lặng lẽ tiến qua mấy dãy nhà sàn, dần dần mất hút trong các vũng tối đen dày.

Ông Bu Then lại thấy mình trơ trọi giữa vạt sân buôn, kéo tấm dồ che kín cổ để tránh gió lạnh từ xa thổi đến đã nghe khua động rạt rào.

Ông đi chậm chạp về nhà. Và cùng với hơi gió ấy, tiếng hú từ xa vẳng lại, mỗi lúc càng rõ dần hơn như tiếng hốt hoảng kêu gào của loài ma quái giãy giụa giữa những vòng dây trói chặt.

______________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG HAI

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2018

Bài Luận Cho Con


















 
Sao con ngồi im lặng
Bên trang giấy học trò
Đôi mắt nhìn xa vắng
Như đượm vẻ âu lo.

Xoa đầu con, ba hỏi
Con có chuyện gì buồn
Thật lòng con cứ nói
Để ba giúp cho con.

Ngập ngừng con nói nhỏ
Cô bảo con làm bài
Luận văn tả con thỏ
Phải nạp sáng ngày mai.

Mà con thì chưa thấy
Con thỏ một lần nào
Cho nên con áy náy
Không biết tả làm sao.

Ba cười: Ồ dễ quá
Ba sẽ giúp cho con
Cho con làm thật khá
Cho bài luận vuông tròn

Này nha: Con thỏ có
Hai lỗ tai thật dài
Thỏ bạch mắt mầu đỏ
Như hòn bi ve chai

Thỏ vá mắt mầu đen
Thịt thỏ thật ngon mềm
Bộ lông nhung óng mượt
Rờ vào nghe êm êm.

Cái đuôi thì cụt ngủn
Hai chân sau lại dài
Mỗi lần nghe tiếng động
Nó phóng mình như bay

Người ta ví như thỏ
Những đứa trẻ rụt rè
Hay giật mình rút cổ
Hay run rẩy khóc nhè

Với những đứa như thế
Họ cười bảo nhau rằng
Nhát gan như thỏ đế
Trên cung điện chị Hằng

Còn con ba thì sao
Oai phong như thế nào
Hay suốt đời như thỏ
Lo sợ chuyện tầm phào

Con bảo rằng nhất định
Con sẽ làm người hùng
Nếu ngày sau đi lính
Con sẽ chẳng ngại ngùng

Cũng như ba vậy đó
Hiên ngang giữa trận tiền
Chưa bao giờ biết sợ
Trong gian khổ triền miên

Cho con niềm hãnh diện
Của người cha kiêu hùng
Cho tình thương thể hiện
Trong ánh mắt bao dung

Cho mọi người kính nể
Mà ngước mặt lên trời
Chứ không thèm thỏ đế
Để uổng phí một đời

Nhưng mà khuya rồi đó
Ba giắt con lên giường
Ru con vào giấc ngủ
Đầy mộng đẹp yêu thương

Bên ngoài trăng sáng tỏ
Sao giăng kín bầu trời
Nhớ bài luận con thỏ
Ba cảm thấy vui vui.

                 NGUYỄN TẤN TÀI

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 111, ra ngày 12-10-1973)

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

Giọt Sương Đẫm Máu


Vẫn như thế, giọng nói đanh thép, ngắn, gọn, rổn rảng, xen với âm hưởng lạnh lẽo của nhà vua bao giờ cũng thế:

- Gia đình tội nhân đã nạp được bao nhiêu gia súc rồi?

Tể tướng Tân Du cúi mọp xuống, điệu bộ bợ đỡ cố hữu mọi ngày:

- Tâu bệ hạ một bầy bò, một đàn dê, còn gà vịt vô số kể! Ngoài ra còn có cả thớt voi mà bệ hạ vẫn ngợi khen...

Với một nụ cười thỏa mãn trên vành môi khô khan, nhà vua khoát tay:

- Nó oan đấy! Chắc có nhiều kẻ thù oán. Ta tha!

- Tâu bệ hạ, y sẽ được về nhà trước tối hôm nay.

- Nhưng còn dân chúng? Ta vẫn muốn dân chúng phải được thỏa mãn, phải được chứng kiến cuộc hành quyết.

- Tâu bệ hạ cái đó không khó gì. Mọi người đứng đằng xa vẫn sẽ thấy đao phủ khai đao... và một cái đầu rơi xuống.

Nhà vua hơi ngạc nhiên đưa mắt nhìn, Tân Du mỉm một nụ cười nham hiểm:

- Xin bệ hạ cứ tin cậy ở kẻ hèn mọn này. Một tên vô danh tiểu tốt nào đó kiếm được không khó.

- Ngươi là một kẻ thông minh hiếm có. Truyền tội nhân không được xuất hiện trong vài năm để mọi người quên đi. Nó phải được bí mật đưa ra khỏi kinh đô trước rạng đông ngày mai.

- Xin phụng mệnh!

*

Nhà vua đã trị vì vương quốc của ông ta bằng đường lối xảo quyệt ấy.  Có thể nói ông ta không sợ gì ở thế gian này. Nhưng một ngày kia cơn sợ hãi bỗng thoáng đến với ông từ một cơn mơ, rồi nó ám ảnh nhà vua suốt ngày. Nhà vua đã mơ thấy triều đại của ông ta đã sụp đổ : tử thù của ông lên kế vị, ông bị dẫn bộ đi khắp trong nước, đến đâu ông cũng bị ném đá, rồi cuối cùng ông phải chịu án tử hình hết sức nhục nhã. Linh hồn ông không được lên Niết Bàn.

Liên tiếp cơn ác mộng ấy tái hiện như một điềm báo trước, kẻ hầu hạ ông run sợ mỗi khi ông đến gần.

Qua ngày thứ tư, ông ẩn vào một dinh thự ở xa và cấm không ai được đến phá rầy cảnh cô tịch của ông. Truyền xong, ông mặc áo vải sô, cho cắt các móng tay dài của ông mà trước kia đều được bọc bằng những ống chạm vàng, và ông nhịn ăn.

Khi ông trở về triều đình, ít ai nhận ra ông là vua: phong mạo kiêu căng ngày trước đã được thay thế bằng một dáng điệu khiêm tốn. Ông nói nhỏ nhẹ và hỏi các thượng thư những ý kiến xây dựng, nhưng dĩ nhiên ai dám trung thực nêu lên.

Các nhạc sĩ và ca sĩ trước kia có nhiệm vụ luôn luôn gây một hòa điệu thường xuyên tại Hoa Viên nay được lệnh nghỉ. Khắp nơi hoàn toàn im lặng như một nghĩa địa.

Viên thái giám lầm tưởng long thể bất an, quì xuống tâu lên:

- Tâu bệ hạ, 10 nữ đồng trinh đẹp nhất nước đã đến từ hôm qua và đang chờ đợi lệnh của ngài.

- Khanh hãy cấp cho họ của cải và trả họ trở về lại với gia đình.

Đến lượt Tân Du thưa trình:

- Tâu bệ hạ các thủ phạm trong vụ trộm vàng nhà quan thượng thư đã bị bắt. Nhưng bộ hạ của chúng đã nổi lên quấy phá...

- Hãy qui tất cả các tội trạng của thần dân vào cho trẫm, vì trẫm không nêu gương tốt. Nên nhớ những triều đại quí hóa ngày xưa. Các vị tiên đế của ta đã thực hành công khai những đức tính tốt và nhân gian từng noi theo. Kể từ hôm nay, trẫm sẽ ăn năn và sống theo gương các tiên đế.

Tất cả quần thần đều cúi đầu. Họ không hiểu lý do về sự thay đổi đột ngột ấy, và không ai tin là sự thật! Họ sợ đây chỉ là sự thử thách ác nghiệt để dò phản ứng của họ. Phải rồi, chỉ có im lặng là một thái độ dè dặt nhất, vì có thể họ sẽ thấy con Hổ vùng dậy!!

Thế nhưng, ngày qua tháng lại, nhà vua vẫn không thay đổi thái độ nào mới. Nhà vua nói với vị tể tướng rằng:

- Thượng đế đã hài lòng, rõ ràng Ngài đã tha thứ cho ta. Hãy xem, đã hơn 100 ngày nay, mặt trời không ngừng soi sáng cung điện và làm chói mắt ta!

Tân Du chợt cảm thấy đầu ông ta lắc lư trên vai, đây là việc ông ngại hơn gì hết. 

Đã hơn 100 ngày nay, một sự nóng bức, sau mấy tháng hạn hán, đã giáng xuống khắp nước, mùa màng đã bị hư hại, có thể bị tiêu tan hết, dân gian cầu van các thần thánh vẫn không được gì, và người ta thì thầm: đó có thể là một sự trừng phạt của trời đối với tội ác của nhà vua.

Tuy nhiên, lòng nhiệt thành sám hối của nhà vua càng ngày càng tăng. Ông đã cho phóng thích các tội nhân, hoàn lại đất đai cho nông phu mà ông đã chiếm, trả lại cho các nhà giàu của cải đã bị tịch thâu, và ban cho dân chúng những đặc ân mà họ rất ngạc nhiên lãnh nhận.

- Ta muốn các người già cả không phải đi ăn xin. Phía bắc cung điện ta không cần thiết nữa, có thể cho hằng trăm người cơ cực trú ẩn. Mọi việc này phải làm xong trước ngày hết trăng để đón tiếp họ và các thành thị phải làm như ý ta.

- Dân chúng sẽ hoan hô bệ hạ. Kể từ ngày mai, tin ấy sẽ được rao khắp tại kinh đô.

Nhưng những người già cả và xấu số lại thích sự cơ cực của họ hơn chỗ trú ẩn nguy nga và họ nguyền rủa kẻ đã ban ơn nó. Không một người nào đến ở cả.

Lập tức, nhà vua tuyên bố sẽ sửa đổi luật lệ và cho đặt trước cửa cung điện một tấm bảng để mọi người dân có thể viết lên những ý kiến xét bổ ích cho nhân gian. Cạnh tấm bảng, một cái phèng la dùng để báo tin sẽ cho nhà vua biết một ý kiến vừa được phát biểu.

Nhưng phèng la vẫn im và tấm bảng vẫn trắng.

Một sự đối nghịch ngấm ngầm dẹp tan mọi sáng kiến. Nhà vua hỏi vị tể tướng:

- Sao ta bị thù ghét quá như vậy hở khanh? Nói đi!

- Tâu bệ hạ, kẻ nghèo khiếp sợ!

- Hãy nói thật, có phải họ thù ghét ta đến đỗi từ chối cả ân huệ của ta không?

- Muôn tâu bệ hạ không! Họ tôn kính bệ hạ, họ biết rằng sự nghiêm khắc của bệ hạ là cần thiết, mọi sự cải cách đều do bệ hạ ban ra do sự khôn ngoan của bệ hạ là vô tận!

Nhưng lời nịnh hót của tể tướng không còn lọt vào tai nhà vua. Ông lắc đầu:

- Ta tự thề sẽ thoái vị và vào ẩn náu tại một nhà chùa để cầu nguyện cho đến chết, nếu, trước ngày mai, không có ai dám cầm cái dùi gõ lên chiếc phèng la.

Bỗng khi đó, một tiếng lanh lảnh nổi lên và Tân Du đi theo chủ mình, tiến ra phía cửa lạnh lùng mà không một ai dám bước qua.

Một hành khất đứng đó! Chính y đã báo hiệu sau khi đã viết lên bảng.

Nhà vua hớn hở nhìn kẻ lạ mặt và nói:

- Ít nhất nhà ngươi cũng không lẩn tránh.

Người hành khất thản nhiên đáp:

- Tại sao tôi sợ? Tôi có phải là một nịnh thần đâu?

Nghiêm chỉnh trong chiếc khố rách, hắn ta lui lại và chỉ lên tấm bảng có ghi rằng: "Mạng sống của một người lắm khi có thể cứu vãn một quốc gia, nếu sự hy sinh ấy làm hài lòng thần thánh!".

Vị tể tướng không che giấu được một nét hãi hùng sợ sệt. Người mà dư luận công chúng đã trăm lần đòi lấy đầu chính là y, linh hồn nham hiểm của hắn không một ai dám động đến. Phút chốc, y thoáng thấy quần chúng reo hò mãn nguyện xung quanh thi thể của y trước mặt các vị thần.

- Tâu bệ hạ, ý kiến nầy quá tàn bạo. Máu đã chảy ra nhiều và sự phẫn nộ của trời đất chỉ có thể hết đi với lòng nhân từ. Bệ hạ nên theo dõi con đường đã vạch sẵn.

- Nhà ngươi có để ý đến mặt của người hành khất này không?

- Dạ thưa có, mặt mày y thật hung dữ!

- Ta thấy mặt y cao nhã, đẹp hơn các hoàng tử, các con ta!

- Mắt của y độc ác, thưa ngài!

- Không, trái lại, rất dịu dàng! Đó là cái nhìn của một người được ơn trên soi sáng. Biết đâu rằng dưới bề ngoài rách rưới ấy...

- Muôn tâu, lòng nhân đạo đã làm bệ hạ bị lạc hướng. Xin bệ hạ cho phép hạ thần bắt tên ôn đãng ấy. Nó sẽ không bị đánh đập, chúng thần chỉ yêu cầu nó nói thôi và bệ hạ sẽ thấy thật tâm của nó, chắc chỉ là một người dân tồi tệ nhất của bệ hạ!

- Tân Du, hãy để cho y đi, và nhìn xem...

Cuối đường gồ ghề, người đó đi xa dần và hình như không chạm đất, dáng điệu trở nên nhẹ nhàng hơn ; cát bụi bay quanh y vàng rực, một quầng sáng chói bao lấy y.

Nhà vua ngẩn ngơ nói nhỏ: "Y kéo ánh sáng theo y!"

Tân Du cố bào chữa:

- Tâu bệ hạ, đó là ánh nắng gay gắt đã lừa bệ hạ. Bệ hạ hãy nhìn nóc cung điện và các nhà tranh lụp xụp, chiếc xe kia của người dân quê, và chiếc võng nầy của kỹ nữ, con chó trong đống nước bùn và con bướm đang bay, tất cả đều được soi sáng như vậy, tất cả tỏa ra ánh sáng. Có gì lạ đâu.

- Ừ, không một đám mây, không một giọt mưa!

Nhà vua nhắc lại, như sực tỉnh:

- Không một giọt nước.

Và bỗng thấy cây cối khô héo, mùa màng sắp tan nát, đồng ruộng vàng úa và trong đồng ruộng nguồn sống vẫn còn ngắc ngoải thật mong manh, hàng triệu người đang đau khổ. Dân quê đã vứt bỏ những dụng cụ đang trở thành vô dụng và ngồi khóc trên thềm lều, trẻ con xanh xao và ốm yếu, đưa tay cầu khẩn đến những bát cơm khô cạn, xác chết của những kẻ xấu số chồng chất trước các đền.

- Không một giọt nước!

Đấy là hiện tượng sự trừng phạt của Thượng đế, chính đó mới phải giải trừ!

- Thần thánh đã cho biết.

Nhà vua trở vào phòng đọc kinh, đập trán xuống sát mặt đất lót bằng gạch bạc, cầu nguyện rất lâu trước pho tượng có vừng trán lấp lánh các vì sao. Khi ông ta đứng lên, ông ta đã tìm thấy lại sự bình thản của tâm hồn.

Tất cả đã đến, tập trung trong cung điện theo lệnh của nhà vua. Có mặt đầy đủ quần thần, những kẻ chuyên nịnh hót.

Cũng có mặt các thủ kho, các vị tướng, các thầy số, các hoàng thân mà những ý kiến xây dựng của họ đã bị các nịnh thần làm sai lạc, và cuối cùng là một người ăn mặc toàn màu đen, một hình dáng khổng lồ, mặt mày lạnh lùng và hung dữ: đó là đao phủ thủ. Ai cũng biết sẽ có một người sắp đền tội, một lệnh xử trảm sẽ được ban ra và sẽ được thi hành.

Nhà vua tươi cười, chưa khi nào tỏ ra thảnh thơi, tin tưởng nơi mình, bình thản sung sướng như vậy. Và chính đó là điều đáng lo sợ!

Tân Du nghĩ đến các cực hình tinh xảo mà y vừa mới khoe khoang. Và có lẽ y sẽ bị làm thử lần đầu. Chính điều ấy đã làm cho bộ mặt con người đủ quyền lực hằn học vì sự độc ác không chịu nhượng bộ. Kẻ nịnh thần biết rõ rằng cái chết của y sẽ làm mãn nguyện dân chúng nhất.

Nhà vua bắt đầu nói, giọng khoan hòa, trầm mặc:

- Một người phải hiến thân để làm cho thần thánh hài lòng. Đó là kẻ bất chính nhất trong chúng ta, kẻ đã gây những tội ác khiến làm nản lòng trời đất. Tân Du, ngươi nói trước đi, ai là kẻ ấy đây?

Mặt Tân Du trắng nhợt. Lão lắp bắp:

- Xin bệ hạ khoan hồng, lúc nào hạ thần cũng lo sợ cho sự bình an của dân chúng.

- Một tên thôi. Ta cần một tên!

Vị tể tướng nhìn quanh các đình thần rồi sợ hãi nói:

- Tất cả những người này đã trung thành với bệ hạ, không nên tìm trong số người đó. Tại một nhà cũ kỹ tiều tụy, trong ngõ hẻm bên kia đồi, có một tên chuyên xem tướng số theo các ngôi sao để gây oán thù. Nên giết tên đó, vì do hắn mà tai ách đã giáng xuống vương quốc này.

Một nịnh thần khác giơ tay:

- Tâu bệ hạ, nếu tên thầy số ấy được bệ hạ dung tha, thần xin buộc tội một kẻ giàu có đã bóc lột cả tỉnh và làm cho công khố thiếu hụt. Đó là kẻ đã có một dinh cơ lớn nhất ngoài hoàng thành...

Trong một tiếng đồng hồ, mỗi người dâng lên một mạng, mạng của một kẻ thù riêng mình, một người vắng mặt hoặc một người vô tội. Một tia hy vọng trở lại.

Khi người cuối cùng đã nói, phô bày một tội trạng đâu đâu hoặc một tội ác tưởng tượng, nhà vua đứng lên với cặp mắt sáng ngời, nói:

- Các ngươi đều là những kẻ mù quáng. Không có một người nào trong các ngươi dám nói lên sự thật. Hãy tránh xa ta tất cả!

Được lời như cởi tấm lòng, tất cả mọi người đổ xô nhau mạnh ai nấy chạy. Duy chỉ có các hoàng thân là ở lại bên ngoài. Ngài phán:

- Kẻ mà ta đang chờ đợi chính là ta đó! Người có tội nhất là ta, vì ta chỉ nghe theo dục vọng, vì ta đã trở nên bất xứng đối với ơn mưa móc của thần thánh. Chính ta sẽ cứu vãn dân gian, mà bấy lâu ta đã dày xéo.

Và nhà vua đưa ngón tay chỉ vào thái tử:

- Con sẽ kế vị ta. Con hãy ghi nhớ những gì đã nghe và sẽ thấy.

- Cha! Cha yêu quí!

- Đừng động lòng yếu mềm như một người đàn bà! Hãy hãnh diện và cương trực. Đời sống chỉ là một sự thử thách ngắn ngủi mà ta phải chịu đựng một cách cao đẹp. Con sẽ trị vì một mình con. Con sẽ khinh bỉ những kẻ nịnh hót, và con sẽ đi thăm viếng khắp trong nước.

Nhà vua tiến đến quì trước mặt đao phủ đang đứng tựa trên cây kiếm, ngài phán:

- Hãy làm phận sự của ngươi đi.

Con người vạm vỡ của tên đao phủ khiếp hãi, lùi một bước và buông ngọn đao sáng quắc xuống đất làm vang lên một tiếng khủng khiếp.

Nhà vua cầm lấy cây đao lên đưa cho đao phủ và nói lại:

- Chém ta đi! Ta truyền lệnh cho ngươi đó!

Ngọn đao vung lên như một ánh chớp và rơi xuống thành một âm thanh nặng nề. Một nhát, chỉ một nhát thôi! Đầu nhà vua đã lăn đến tận bậc ngai vàng.

Mặt trời bỗng nhiên sầm tối lại! Ở ngoài, trên khắp nước, mưa đã bắt đầu rơi xuống, đầm ấm và nhuận từ...


TÚY HÀ               
(Phỏng dịch La Rosée Sanglante
của GILLE PHABREY)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 60, ra ngày 15-10-1972)


Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2018

Một Chuyến Về Thăm Buôn














Ta về thăm buôn nghèo chiều thứ bảy
Nắng vàng hanh ôm ấp núi rừng xanh
Quê hương ta ngàn chim hót trên cành
Gọi ríu rít mau họp đàn về tổ

Chiều dần lên, mặt trời le lói đỏ
Lũy tre làng hồi hộp đứng chờ đêm
Buôn ta đây ngày tháng vẫn êm đềm
Không xe ngựa ồn ào như phố thị

Vẫn hiên ngang trên Trường Sơn hùng vĩ
Vẫn trường tồn với rừng núi thâm u
Vẫn ngàn đời không đốt lửa hận thù
Nhưng biết hát, biết ca mừng lúa mới

Nay về thăm sau bao ngày chờ đợi
Nhớ buôn làng mà héo cả tâm tư
Nhớ ghềnh đá giữa lòng suối hiền từ
Nơi ta sống trong môi trường riêng biệt

Với rừng núi thiêng liêng màu xanh biếc
Có ai về mạn ngược nhớ thăm đây
Buôn ta nghèo nhưng ưu ái dẫy đầy
Sống kham khổ nhưng nụ cười vẫn nở.

                                      Buôn Bôn-Chư-Ya-Nam
                                      PB 06-71 KSOR-MINH

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 12, ra ngày 20-10-1971)

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018

Chỉ Cần Ba Thước Đất


Ba-Tôn (Pakhomn) là một nông dân Nga tham lam, hết sức tìm cách làm cho tài sản, đất đai của mình ngày càng nhiều thêm. Biết thế, người ta chỉ ông ta đến miền Đông Nga tìm họ Bách-Kiên là những người  bán đất rất rẻ. Ba-Tôn vội gom góp tiền bạc và quyết định tìm đến đấy.

Đến nơi, lý trưởng Bách-Kiên bảo hắn: "Chúng tôi bán đất từng ngày, nghĩa là ông đi vòng trong ngày được bao nhiêu đất thì tất cả sẽ là của ông. Và giá một ngày là một ngàn "rúp".

Ba-Tôn ngạc nhiên bảo:

- Nhưng một ngày người ta có thể đi vòng quanh một thửa đất rất rộng?

Người lý trưởng bật cười:

- Vâng, tất cả sẽ thuộc về ông, nhưng với điều kiện: nếu trong một ngày, ông không trở về đúng điểm khởi hành, ông sẽ bị mất tiền mà không được gì cả.

- Và thế nào nữa Ba-Tôn hỏi tôi sẽ đóng cọc nơi tôi đã qua chứ?

- Chúng tôi sẽ chỉ ông nhiều thửa đất, tùy ý ông chọn lựa. Chúng tôi sẽ ở lại đó, còn ông, ông sẽ đánh một vòng. Con tôi sẽ cỡi ngựa theo ông và nơi nào ông ra lệnh, chúng sẽ cắm cọc làm dấu. Kế đó từ cọc nầy đến cọc kia, chúng tôi sẽ dùng cày, cày lên một luống đất. Ông có thể đánh một vòng to bao nhiêu tùy ý. Duy có điều này là: khi mặt trời lặn, phải trở về đến điểm khởi hành. Tất cả đất ông đã đánh một vòng chung quanh sẽ thuộc về ông".

Ba-Tôn bằng lòng...


Ngày hôm sau, vừa rạng đông, hắn đã ra đi.

Người lý trưởng để cái nón bằng lông chồn trên đỉnh đồi và bảo hắn:

- Đấy, điểm khởi hành. Hầu cận của ông sẽ ở lại đây. Đặt tiền xuống đi. Ông đi từ đây và cũng phải trở về từ đây. Hãy nhớ phần đất ông đi vòng quanh được sẽ thuộc về ông.

Ba-Tôn thong thả bước đi. Độ một cây số, hắn ra lệnh đặt một cây cọc và tiếp tục con đường. Một lúc sau, hình như thấy đi như thế chậm quá, hắn bắt đầu đi mau.

Sau khi đến đầu mút con đường, hắn ra lệnh đóng một cái cọc khác. Ba-Tôn quay lại nhìn ngọn đồi sáng rỡ dưới ánh mặt trời và thấy mọi người đang ở đấy.

Ba-Tôn tin rằng hắn đã đi được 5 cây số.

Cảm thấy nóng quá, hắn bỏ áo ngoài, nới rộng thắt lưng và tiếp tục con đường. Được 5 cây số nữa, hắn lại thấy nóng ; trời nắng gắt. Hắn ngước nhìn trời lẩm bẩm: ""À! Đã đến giờ dùng bữa trưa rồi"

"Chà, mình đã đi được nửa ngày rồi, còn nửa ngày nữa thôi, không có giờ trở lại ; nóng quá, thôi ta bỏ giầy ra đi"

Đoạn, hắn ngồi bệt xuống, bỏ giầy ra và lại tiếp tục đi. Cảm thấy khoan khoái, hắn nghĩ thầm: "Mình sẽ đi năm ki-lô-mét nữa rồi hẵng quẹo sang bên trái. Đất chỗ nầy tốt quá..."

Ba-Tôn tiếp tục bước đi, hắn quay nhìn ngọn đồi: người đứng ở đấy chỉ nhỏ bằng các con kiến!

"Bây giờ phải quẹo đây. Mình đã đi thẳng nhiều quá". Ba-Tôn nghĩ thầm.

Hắn đã ướt đẫm mồ hôi và cảm thấy khát. Ba-Tôn dốc ngược chai nước vào miệng và vừa đi vừa uống như thế. Hắn lại ra lệnh đóng một cây cọc xuống, xong hắn quẹo sang trái. Ba-Tôn đi, đi nữa... Cỏ đã cao và trời nắng gắt hơn ; hắn bắt đầu mệt. Nhìn trời, Ba-Tôn thấy đã đến lúc dùng cơm chiều.

"Thôi, phải nghỉ một chốc".

Ba-Tôn dừng lại ăn một tí bánh mì nhưng hắn nhất định không ngồi vì hắn nghĩ:

"Khi người ta ngồi, người ta sẽ muốn nằm và sẽ ngủ luôn".

Hắn đứng im, hít thật mạnh vài hơi và lại tiếp tục con đường.

Ban đầu, Ba-Tôn bước đi nhẹ nhàng vì bữa ăn chiều đã giúp hắn lấy lại sức. Nhưng trời càng nắng gắt hơn và cơn buồn ngủ đến xâm chiếm hắn. Ba-Tôn cảm thấy mệt đến cực điểm rồi.

"Nhưng, hắn nghĩ, một giờ chịu khổ, một thế kỷ sống sung sướng".

Ý nghĩ này giúp Ba-Tôn có sức bước đi thêm và hắn đi dọc theo cạnh này 10 cây số nữa. Rẽ sang trái, hắn trông thấy một khe nước trên núi chảy xuống, nước trong vắt.

"Uổng thật, mình đã bỏ nó lại bên ngoài vòng đi rồi, ở đây cây gai mọc tốt quá".

Thế là Ba-Tôn đi vòng trở lại khe nước và cắm ở đó một cây cọc để khe nước thuộc trong phần đất của hắn. Đoạn hắn quay trở về ngọn đồi.

"Nhưng hắn nghĩ thầm mình đã kéo dài 2 cạnh đầu quá, giờ cạnh nầy phải ngắn hơn."

Hắn vội vã đi dọc theo cạnh thứ ba và nhìn trời: mặt trời đã gần đến lúc lặn xuống rồi. Chỉ còn hai cây số nữa là Ba-Tôn đã đi hết cạnh thứ ba và điểm khởi hành còn mười lăm cây số.

"Đất của mình đã rộng quá. Thôi trở về điểm khởi hành là vừa."

Và Ba-Tôn đi thẳng về phía đồi.

Nhưng Ba-Tôn cảm thấy mệt lả đi. Hắn bước đi với đôi chân nhức nhối. Thật thế, chân hắn đã bầm tím và người hắn oằn xuống vì mệt. Hắn rất muốn nghỉ, nhưng không thể được.

Hắn không thể đạt mục đích khi mặt trời lặn. Mặt trời không chờ hắn, dường như nó đang rơi như được ai đẩy mạnh.

"Than ôi! Ba Tôn nhủ thầm, tôi đã nhầm, tôi đã đi vòng xa quá. Tôi sẽ ra sao nếu  tôi không đến đích kịp giờ? Còn xa quá mà tôi đã mệt lả đi rồi! Có thể tôi sẽ bị thua 1.000 rúp mà không được gì cả, còn phải mệt nhọc thế này nữa! Không thể như thế được."

Ba-Tôn bắt đầu đi nước kiệu. Da chân hắn đã tróc ra và ri rỉ máu. Nhưng mặc, hắn vẫn chạy. Hắn chạy, chạy, nhưng đích hãy còn xa. Hắn vất cả áo, quần dài, chai nước, mũ.

"Ôi, tôi đã quá tham lam. Tôi đã thua rồi. Tôi không thể đến kịp trước khi mặt trời lặn."

Ba-Tôn chạy. Mồ hôi ướt đẫm áo trong và quần dài. Miệng hắn khô đắng, ngực phập phồng như bể lò rèn, tim đập như trống, hắn không còn cảm giác gì ở đôi chân nữa.

Hắn gập mình lại. Ba-Tôn không nghĩ đến đất đai nữa, hắn chỉ nghĩ đến sự chết bất thình lình.

Hắn sợ chết nhưng hắn không thể dừng bước.

"Tôi đã chạy nhiều rồi, nếu giờ đây tôi dừng lại người ta sẽ cho tôi là điên."

Hắn nghe những anh em Bách-Kiên huýt gió la hét: nhờ những  tiếng kêu ấy, tim hắn càng nô nức hơn nữa.

Ba-Tôn vận dụng hết tàn lực và mặt trời hình như đang nhẩy xuống rõ ràng. Đích không còn xa, Ba-Tôn đã thấy rõ mọi người trên đồi! Người ta đưa tay ra dấu cho hắn đi nhanh lên. Hắn cũng thấy cái mũ lông chồn của người tù trưởng dưới đất.

"Có nhiều đất quá, hắn nghĩ thầm, không biết trời có cho mình sống không? Ồ! Tôi chết mất!" Và hắn tiếp tục chạy.

Trên trời, mặt trời đỏ ối lớn dần lên và gần mặt đất hơn, rồi cái vành ngoài đã lặn khuất. Ba-Tôn chạy hết tốc lực đến chân đồi thì mặt trời vừa lặn.

Ba-Tôn buột miệng kêu: "Ồ...!" một tiếng tuyệt vọng. Hắn nghĩ rằng đã thua sạch cả rồi. Nhưng chợt nhớ rằng ở dưới thấp, người ta không còn thấy mặt trời, tuy nhiên mặt trời vẫn chưa lặn đối với những người đang đứng trên đỉnh đồi.

Hắn leo lên một cách vô cùng nhanh chóng và nhìn thấy cái mũ lông chồn. Kia rồi! Ba-Tôn reo lên và ngã xuống, tay đã nắm chắc chiếc mũ lông chồn.

"A! Hoan hô, người mạnh mẽ của tôi, ông lý trưởng là lên, ông đã thắng được rất nhiều đất".

*

"Ông đã thắng được nhiều đất" một câu nói mỉa mai vô cùng độc ác... Vì Ba-Tôn đã chết. Người lý trưởng liệng một cái mai cho tên đầy tớ, bảo: "Vùi xác hắn đi! Diện tích đất đủ để chôn một người". Thật là một câu chuyện đau thương. Dù đây là một chuyện cổ bên Nga nhưng lòng tham không đáy ở đây đúng với mọi quốc gia và mọi thời gian.


Theo Léon Tolstoi          
(Ce qu'il faut de terre à l'homme)
THÙY NHI              

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 33, ra ngày 25-10-1965)


Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

Thu Đã Về















 
Thu đã về cúc bên nhà đua nở

Sắc kiêu sa như chiếc áo lụa vàng 

Thu đã về  cả bầu trời thương nhớ 

 Mây mù giăng cho nắng hết chói chang


Và có khi mặt trời đi ngủ sớm 

Gió ru thầm trên những phiến tơ mây 

Đem chút mưa trên nụ hoa vừa chớm


Cúc vàng tươi cho lòng cứ ngất ngây


Đầu tháng mười thu về như trong mộng

Phút mơ màng nghe tiếng gió thổi ngang 

Sóng lăn tăn nước hồ thu giao động

Biết là thu mà sao cứ ngỡ ngàng


Đầu tháng mười gió đìu hiu mưa nhỏ

Hạn đã lâu làm khô héo cánh rừng

Một chút xanh điểm tô trên đồng cỏ 

Trời vào thu nên cây cối vui mừng


Thu đã về cây rừng thay sắc lá

Nhuộm màu vàng dọc suốt cả con đường

Và nhẹ nhàng khói nhà ai buông thả

Trên khung trời mang ấm áp yêu thương.


                                                          Nhã Uyên
 

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

Bệnh Bất Mãn


Có lần chị đã bầy một trò chơi thế này, là từ sáng sớm, chị ghi nhớ tất cả những lời trách móc và cám ơn của mọi người về bạn họ. Buổi tối, chị ngồi ôn kết quả thì thấy trong ngày hôm đó, chị gặp và trò chuyện với 14 người: 4 người than phiền rằng có 1 người bạn nào đó không tốt, hoặc nhờ việc không làm, 3 người than rằng họ đã có tới 2 người bạn xấu và 1 chị bạn khó tính nhất, chị ấy than về tất cả những người xung quanh chị ấy và tự thấy như bị trời đầy. Còn 5 người kia chỉ nói chuyện vu vơ. Duy có một chị thì vừa gặp chị đã ríu ra ríu rít kể rằng chị ấy may quá, ra đường  gặp ngay bà bạn cho quá giang xe lại đây. Chị ấy tíu tít khen chị về cuốn sách của thư viện mà con chị ấy mượn được, về đọc cho má chị ấy nghe, cụ vui lắm. Rồi chị ấy hỏi thăm tình hình báo chí, thấy báo khỏi phải đóng 10 triệu chị ấy reo lên lấy làm mừng là con chị có báo lành mạnh đọc và chị ấy sốt sắng hứa sẽ đến tòa soạn để chơi đùa với các em.

Không phải chị ấy không than, có chứ, chị ấy nói: "Trời mấy bữa nay độc ghê, nhiều nhà có người đau quá. Mình vừa ghé tiệm thuốc gặp một bà đội khăn kín, bà nói nhà bà đau hết, còn có mình bà là khỏe, nên mới đi mua thuốc được. Mà vừa nói bà vừa ho sù sụ. May nhà mình có mình là yếu nhất, mà cũng chỉ cảm ho sơ sơ. Nghĩ tới mấy đứa nhỏ lang thang đầu đường xó chợ, đánh giầy v.v... không biết lúc này ra sao. Phải chi có một nơi trú ngụ thật lớn, miễn có cái mái, để mấy đứa nhỏ lang thang có chỗ trú mưa nắng". Chị ấy không hề trách 1 người nào. Chị ấy không lấy sự bị cảm của mình làm quan trọng, mà chỉ nhân trời mưa bão, chạnh nghĩ tới trẻ lang thang. Chị tin chắc chắn rằng nếu có một chiến dịch nào đó, thí dụ: "Một chỗ cho trẻ không nhà" thì chị ấy sẽ rất sốt sắng để góp sức, và góp sức một cách đắc lực, vì người như thế, vui vẻ, yêu đời, có lòng tốt thì đi tới đâu cũng làm cho mọi người lên tinh thần em ạ.

Sau khi kiểm điểm, chị mới nghĩ ra điều này, là nếu mình để cái "ta" to quá, mình tưởng rằng mình là rốn của vũ trụ, mọi người phải phục vụ mình thì rút lại, mình sẽ khổ ghê lắm. Vì người khác cũng sẽ tưởng họ là rốn của vũ trụ, sẽ chẳng có ai hy sinh cho ai, nếu mình làm phiền người ta quá, làm người ta điên cái đầu, người ta cực chẳng đã mà phải chiều mình cho nó yên chuyện, thì thâm tâm người ta chỉ mong sao cho mình đi chỗ khác chơi, cho người ta được yên thân mà thôi. Người yêu đời thấy ai giúp được chút nào, đã vội mừng rỡ, là đã được thượng đế thưởng rồi đó. Thượng đế thưởng cho họ được sống vui trong đời này, được thương yêu mọi người, và nghĩ rằng mọi người cũng yêu mến mình. Họ cảm thấy có hạnh phúc bên họ, và họ đang sống trong thiên đường của yêu thương êm đềm. Còn nếu mình cứ bất mãn quanh năm, thành ra lòng mình lúc nào cũng oán giận, chỉ thấy mọi người cư xử xấu, chìm đắm trong thù ghét, là bị thượng đế trừng phạt rồi, là bị thượng đế không cho thưởng thức những bông hồng ở mọi người, và tự ràng buộc mình trong địa ngục của căm hờn. Rồi tâm hồn mình cũng khô héo lại. Nhìn thấy đời sống đầy rẫy sự xấu. Không cởi mở cõi lòng để thông cảm và thương yêu, riết rồi tính tình sẽ ác độc, tàn nhẫn, khi đó, mình sẽ là tai nạn của mọi người.

Chị thiết tha mong các em hiểu rằng chị không hơn gì các em. Chị còn tệ hơn nhiều em thơ ngây của chị. Nhưng chị luôn tìm tòi. Trong gai góc của đời sống, chị mò mẫm tìm lấy một lối để tự giải tỏa cho mình bớt những phiền muộn, và tìm được con đường nào thấy có ánh sáng, chị lại vội vã dìu dắt các em mà thôi. Cho nên, mỗi khi nói với các em, những lời của chị đều phát xuất từ trái tim yêu mến cuộc đời của chị, các em phải nghe chị, phải nhớ bảng tóm tắt sau đây của chị:

1 Thành thật cảm ơn người giúp mình, dù một việc rất nhỏ.

2 Khi người ta đã giúp mình, dù rằng không kết quả cũng đừng tỏ ra cho người ta thấy, với mục đích để khỏi cảm ơn người ta. Chỉ nghĩ tới tấm lòng người ta đối với mình là quí, đáng cảm ơn rồi.

3 Tìm tòi những điều tốt của mọi người quanh mình, để mà thấy rằng mình không bị Thượng Đế đầy đọa phải sống trong địa ngục. (Có hay gì cái sự than thở rằng mình khổ sở, người ta bận chuyện người ta, chẳng ai chú ý lắm đến mình, nhất là ai cũng chán nghe kêu ca oán trách).

4 Không than phiền nói xấu người vắng mặt để tránh gây thù chuốc oán, tránh sự đôi co cãi lẫy rất là tai hại cho nhân cách của mình.

5 Gặp bất cứ dịp nào có thể giúp ai, đừng bỏ lỡ. Được giúp đỡ người khác là được Thượng Đế ưu đãi hơn người phải nhận sự giúp đỡ của mình, rán sao cho khỏi phụ lòng Ngài.

6 Luôn luôn vui vẻ với mọi người và nhớ là Vũ Trụ không có Rốn. Mọi người đều bình đẳng. Ai giúp mình là vì người ta tốt, ai không giúp mình là vì họ là người bình thường. Không trách móc ai. Luôn nhớ câu "Kẻ nào nhận là vô tội thì hãy ném viên đá đầu tiên" của Chúa. Nếu chịu xét mình khắt khe như xét người khác, sẽ thấy mình cũng không là người toàn hảo. Thượng đế cho mỗi người được định đoạt phần tinh thần. Chị đã thấy nụ cười thật mãn nguyện nở trên môi người mẹ ăn mày mù, khi bà cúi xuống nhìn con bà đang bú, bằng cặp mắt lòi tròng. Trong cái khổ sở cùng cực, hoa lòng vẫn nở được. Vậy nếu mình còn cha mẹ, gia đình, tứ chi, ngũ quan, thì mình được ưu đãi, mà còn buồn phiền, oán hận để làm buồn lòng mọi người chung quanh, là tội nặng đáng bị trừng phạt. Tin chị, nghe lời chị đi, các em thân yêu của chị, các em sẽ thấy đời tươi đẹp và các em sẽ thấy các em đã cóđược hưởng quá nhiều, còn có thể chia sớt với biết bao người bất hạnh hơn, rồi các em sẽ thấy yêu mến tất cả, cảm ơn tất cả và trên hết, cảm ơn Thượng Đế  rằng các em đã được hưởng nhiều đặc ơn, đời sẽ tươi đẹp chung quanh các em.

   
Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH   

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 59, ra ngày 8-10-1972)

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2018

Tiểu Thư


Xuân qua  diện áo lụa hồng
E ấp hai hàng mi cong
Đỏ hây má hồng con gái
Đường chiều ai đợi hoài công

Hạ sang trời đan mây trắng
Cổng trường lặng lẽ trầm tư
Áo vàng em loang màu nắng
Phượng rơi từng cánh giã từ

Thu tới quay cuồng lá đổ
Hồ xanh  sóng gợn lăn tăn
Em bảo yêu màu đỏ thắm
Một mình qua phố hát thầm

Đông về âu sầu mây xám
Khẽ khàng áo tím em bay
Gió bên thềm van niềm nhớ
Đường mây khép kín u hoài....

                         Trần Thị Phương Lan
                          (Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018

Tổ Ấm























Truyện ngắn bằng thơ của Trụ Vũ

Ngoài trời, gió mưa lạnh lẽo,
Trong ni, lớp học ấm nồng.
Mấy chục tâm hồn thơ nhỏ,
Quây quần tho ló mắt trong.

Chẩu mỏ như con chim ấy,
Tổ xinh chờ mẹ mớm mồi.
Bài giảng văn, vui biết mấy,
Chà! Giờ tiếng Việt thì thôi!

Thầy giáo đứng lên trên bảng,
Tươi như trẻ lại vài năm.
– “Hôm nay học về tổ ấm…
Em nào thấy chim gì chăng?”

– “Thưa thầy, em thấy chim sâu,
Nó nhẩy trong cây chùm rụm.”
– “Thưa thầy, em thấy chim cưỡng
Nó đậu ở giữa lồng son.”

– “Thưa thầy, em thấy chim nhồng,
Ăn ớt đỏ kè con mắt.”
– “Bồ câu” “Con công” “Con két.”
– “Có chim én nữa thầy ơi!”

Thầy gõ thước: “Thế đủ rồi!
Này, ai thấy con chim nhỏ,
Con chim trong tổ ấy mà…”
– “Thưa thầy, có… em thấy đó…

Em thấy có tổ chim sâu,
Nó rớt xuống tàn cây thị
Tội nghiệp… bữa đó gió mưa… “
Em kể xong rồi rướm lụy,

Cả lớp chép miệng tội theo.
Thầy tiếp: “Đàn chim non ấy,
Cũng có cha mẹ, gia đình,
Như thể các trò đây vậy.”

Cả lớp vang tiếng xì xào,
Một em ngây thơ cười cãi:
– “Mà thầy! Em có cha đâu…
Cha chết từ hồi năm ngoái!”

– “Con chim sướng hơn em mà,
Cha em đi từ dạo đó!”
– “Thưa thầy em cũng không cha,
Em có thấy người đâu có.”

– “Các em im nghe thầy giảng:
Chim non cũng thể các trò.
Tối tối nằm trong tổ ấm,
Được mẹ xòe cánh ấp cho.”

– “Còn má em thì ở vú,
Nhà nghèo đâu có tổ xinh!
Má mắc ấp con nhà chủ,
Đêm đêm, em ngủ một mình.”

– “Má đi chia bài tứ sắc… “
– “Má đi bán chè bột khoai… “
– “ Chu choa! Em thương má quá.”
– “Tổ ấm là chi vậy thầy?”

– “Các em im nghe thầy giảng:
Tổ ấm là nơi yên vui,
Thấm thía tấm tình chim mẹ,
Yêu thương trong cảnh mớm mồi!”

– “Nhà em không vui chi cả:
Má em đi đánh bạc hoài,
Có bao giờ cho em kẹo,
Như chim mẹ đó thầy ơi!”

Nghe em cả lớp cười ồ.
– Chúng cười hay là khóc đó?
Ôi, tội cho lũ trẻ thơ,
Có biết chi là cái tổ!

Cái tổ ấm ấm xinh xinh,
Nơi đó Thân Yêu đoàn tụ.
Cái tổ ngát hương gia đình,
Đẹp như Bài Thơ Vũ Trụ.

Thầy thấy xót xa trong ruột
Thầy thấy bứt rứt trong lòng.
Muốn nói cho các em hiểu,
Cái tổ TÌNH THƯƠNG ấm nồng.

Ngoài trời gió mưa lạnh lẽo,
Sấm sét vẫn dậy ầm ầm.
Trong lớp, thầy giáo đứng dậy:
– “Đây rồi… đây rồi, biết không?

Các trò là LŨ CHIM NON,
Mà thầy là CHIM MẸ ĐÓ.
Chúng ta âu yếm, sum vầy… “
Cả lớp nghe, cười… hoa nở…

Ở đây sao mà ấm quá,
Ở đây không có bị đòn,
LỚP HỌC CHÍNH LÀ TỔ ẤM,
Ngàn đời ríu rít chim non.

                                         TRỤ VŨ

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 79, ra ngày 15-10-1967)

----------------------
Ghi chú: Bài này được một độc giả gởi đến nhưng lại ghi bên dưới bài thơ một cái tên nổi tiếng là cô Hợp Phố. Vụ này “được” tòa soạn phát hiện và đính chính ở số kế với thông tin: bài thơ gốc được in ở tập san Diễn đàn Giáo Dục số đặc biệt Xuân Bính Ngọ (1966).
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>