Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

Phe Bố Phe Mẹ


Hệt như một tình trạng chung trong các lớp học, cô giáo thường cưng học trò trai, thầy giáo cưng học trò gái ; gia đình Dung cũng thế : Con gái về phe bố, con trai về phe mẹ.
 
Phe bố có vẻ yếu một tí. Chẳng phải vì bố có chân trong hội “nể vợ” – nhiều lần, bố đã dùng cái quyền gia trưởng mà đàn áp mẹ tơi bời – Nhưng phe bố yếu vì nhà chỉ có hai đứa con gái : Dung và con Chi. Lực lượng phe mẹ quả là hùng hậu : có những bốn ông con trai theo phò. Anh Khanh, thằng Duyệt, thằng Liệu, cu Tân. Trong bốn ông tướng trời ấy, Dung chỉ ngán có anh Khanh. Anh chuyên môn về hùa với mẹ đàn áp phe đối lập. Có lẽ nhờ thế mà anh được mẹ cưng, ngày nào đi chợ cũng mua cho quà bánh. Dung hay chế anh : “Lêu lêu mắc cỡ kìa, lớn đầu rồi mà còn vòi quà mẹ”. Những lần đầu, anh còn cãi : “Ai bảo với mầy là tao lớn rồi ? Mày xem cái mặt tao xem, còn ngây thơ trong trắng quá mà”. Và Dung sẽ trả miếng, anh đáp lại, thành một vụ gây hấn nho nhỏ. Nhưng rồi sau, anh phớt tỉnh mỗi khi Dung mở lời trêu chọc làm Dung cụt hứng, tự nhiên không trêu anh nữa.
 
Trong các vụ tranh chấp, phần thắng thường vẫn về phe mẹ. Mới đây, phe mẹ lại thu về một chiến tích vẻ vang. Chả là tại lâu quá không đi xi nê, chị em Dung xin bố cho đi. Xui xẻo làm sao, nhằm cuối tháng, tiền túi của bố vừa cạn, hóa ra muốn đi xi nê thì phải có sự ưng thuận của mẹ, để mẹ xì tiền cho. Bố bày cách thảo một “dự thảo luật” cùng Dung và con Chi ký tên chuyển qua mẹ để lấy biểu quyết. Mẹ đón nhận tờ “dự thảo luật”, trao cho “thư ký quốc hội” là anh Khanh đọc. Anh Khanh to giọng :
 
- Việt Nam Cộng Hòa.
 
Người nhận : mẹ con thằng Khanh.
 
Trích yếu : dự thảo luật về vụ đi xi nê.
 
Xét vì :
 
Lâu quá, chưa đứa nào được đi xi nê.
 
Ti vi dạo này dở quá.
 
Trẻ con cần phải được giải trí, kẻo học quá hóa điên.
 
Nay quyết định : chủ nhật này cả nhà sẽ đi xi nê.
 
Ký tên : Bố, Dung, Chi.
 
Mẹ nghe xong, mặt rồng bừng bừng lửa giận :
 
- A, gớm thật, bố con ông gớm thật. Gì chứ chuyện này thì nhất định là không được…
 
Anh Khanh với giọng nịnh thần :
 
- Mẹ nói đúng đấy, con cũng phản đối vụ này… không không, trăm lần không, ngàn lần không…
 
Bố hỏi anh :
 
- Mày phản đối cái gì ? Nếu có đi, tao có quên cái mặt mày đâu nào…
 
Mẹ lắc đầu :
 
- Nhưng tôi bảo không được là không được. Này nhé : lâu quá không được đi xi nê. Cứ như tôi đây, cả mấy năm trời không bước chân đến cái rạp hát thì đã sao chưa ? Còn cái chuyện ti vi, ừ, cứ cho là ti vi dạo này dở đi, nhưng ai bắt ép bố con ông xem. Chỉ tổ tốn tiền điện. Lại đến cái chuyện học. Đâu nào (mẹ quay sang nhìn Dung và con Chi), đứa nào đâu, đứa nào học quá hóa điên đâu ? Thử đứng ra nhận trước mặt tao xem nào ?
 
Dĩ nhiên là hai đứa con gái của mẹ đứng im thin thít, nhìn bố mà lòng đau như cắt. Bố nài nỉ :
 
- Thế mẹ thằng Khanh nhất định không bằng lòng à ?
 
Mẹ nghinh mặt :
 
- Ừ đấy, tôi không bằng lòng.
 
Bố nổi sùng :
 
- Nhưng tôi bằng lòng…
 
Mẹ không kém, quát to :
 
- Nhưng tôi không bằng lòng…
 
Anh Khanh phải dàn xếp :
 
- Bố mẹ cho con xin. Con đề nghị lấy biểu quyết cho công bằng là xong. Việc gì bố mẹ phải to tiếng…
 
Bố mẹ cùng phải bằng lòng. Và cuộc biểu quyết được diễn ra mau lẹ. Phe đòi đi xi nê chỉ có ba cánh tay : phe bố. Phe phản đối những năm cánh tay : phe mẹ.
 
Bố thở dài, chán nản nói với Dung :
 
- Đành chịu vậy thôi con à, mình thế cô sức yếu…
 
Nhiều lúc, Dung tự nghĩ sao mình không là con trai để được ở phe mẹ, hưởng nhiều quyền lợi. Nhưng nghĩ quanh quẩn, nghĩ đi nghĩ lại, lại thấy thương bố. Những lần bị “thất trận”, bố chỉ biết bảo với chị em Dung, Chi : “Anh hùng thì phải cô đơn, chịu thiệt thòi. Mình yếu thế nhưng được tiếng anh hùng, hai con ạ”. Và sau đó, ba nụ cười gượng méo mó.
 
Phe mẹ thì luôn luôn có những tiếng cười đùa vui vẻ. Anh Khanh bô bô cái mồm : “Mẹ ơi, cái áo của con bị thằng bạn làm vương giọt mực vào, mẹ tẩy cho con, mẹ nhé.” Mẹ nhìn Dung : “Cái việc cỏn con ấy thì cần gì đến tao, để tao bảo con Dung tẩy cho.” Thằng Duyệt khoe : “Tháng nầy con đứng nhất đấy mẹ.” Mẹ xoa đầu nó : “Ừ rồi tao thưởng cho chầu kem”. Thằng Liệu tả oán : “Hôm nọ con Chi vẽ bậy vào tập con, làm con bị cô giáo mắng quá cỡ”. Mẹ chỉ tay vào mặt con Chi : “Sao mày hư thế hở ? Chi?”.
 
Phe bố với những bất mãn, ngấm ngầm chờ dịp bùng lên, làm một cuộc cách mạng. Một dịp may đưa đến, bố vớ lấy ngay để “nông thôn vùng dậy”. Nhân mẹ gởi bố ít tiền nhờ bố mua vé số, bố lấy luôn bảo Dung đi mua chục quít về ba bố con chia nhau ăn. Bố tính toán : “Cứ ăn xong là ổn hết. Chả lẽ mẹ mày lấy dao moi bụng ba bố con để lấy quít đem trả cho bà hàng, đòi tiền lại à ?” Chị em Dung khoái chí vô cùng, hai đứa cùng khâm phục bố quá cỡ.
 
Nhưng… đáng thương thay cho ba kẻ “anh hùng”, mới vừa ngốn được người một hay hai trái, vô phúc thế nào, một cái hột quít văng ra khỏi cửa phòng học. Thằng Liệu tình cờ trông thấy, bèn nhặt lên, đưa cho anh Khanh khảo sát. Tiếng anh Khanh từ phòng ngoài vang vào làm đứng tim ba kẻ ăn vụng trong phòng học :
 
- Hột quít còn ướt, chứng tỏ nó vừa thoát ly khỏi miệng một người, suy ra nhà có người ăn quít, do đó, việc phải làm là… ới mẹ ơi, lên đây mà xem này, có người ăn quít mà không trình mẹ này…
 
Từ nhà bếp, mẹ hối hả chạy lên. Và phe mẹ ùa vào phòng học, bắt quả tang phe bố đang ăn quít ngon lành. Mẹ chống nạnh :
 
- Gớm thật, bố con ông dám mua quít ăn lén mẹ con tôi nữa ?
 
Dung và con Chi sợ xám mặt. Bố bình tĩnh gỡ gạc :
 
- Ừ, thì bố con tôi ăn đấy, có sao không ?
 
- Có sao không à ? Tôi hỏi ông, ông vừa bảo với tôi tiền túi của ông đã hết, thế ông lấy tiền ở đâu mà mua quít ?
 
Bố tỉnh bơ :
 
- Tôi lấy tiền bà nhờ mua vé số không được sao ?
 
Mẹ ngửa mặt :
 
- Ối giời ! Ông dám cả gan nói với tôi thế à ?
 
- Chứ sao ? Tôi đây can đảm có thừa mà.
 
- Rồi… ông tính sao đây ?
 
- Tính gì ? Bà cứ việc moi bụng bố con tôi ra mà lấy quít…
 
Mẹ run giọng :
 
- Giời ơi…
 
Mặt mẹ xám lại, bờ môi run run. Mẹ tức lắm rồi đấy. Dung biết tính mẹ, hễ tức lên là như thế. Và khi tức quá, thế nào mẹ cũng… khóc. Bố thì hẳn là phải rành hơn ai hết, khôn ngoan vuốt giận :
 
- Ờ nhưng mà mẹ thằng Khanh à, bố con tôi mua quít về đâu phải để ăn một mình… à quên… ba mình… Bố con tôi cũng biết phải quấy lắm đấy chứ. Mẹ thằng Khanh không thấy à ? Đây này, còn đúng năm trái để dành cho năm mẹ con bà đây thôi…
 
Bố thật mồm mép. Dung nhìn xuống đống quít còn lại. Vừa vặn năm trái nằm chơ vơ. Anh Khanh thấy phe mình cũng có phần thì bảo mẹ :
 
- Thôi mẹ ạ, bố đã biết điều thì mẹ cũng vui lòng hỉ xả một phen làm phước, mẹ nhé !
 
Hai tiếng “mẹ nhé” ngọt sớt làm mẹ đổi nét mặt, cười thật tươi. Mẹ chỉ đống quít nói :
 
- Được rồi, lần này tôi tha. Đưa quít đây cho mẹ con tôi.
 
Dung với cõi lòng tan nát đưa năm trái quít cho mẹ. Mẹ chia ngay cho bốn gã nịnh thần mỗi gã một trái, một phần mình. Anh Khanh trổ mòi tham ăn :
 
- Mẹ ơi, hình như mẹ không ăn chua được thì phải. Nếu chua, mẹ cho con mẹ nhé !
 
Lại mẹ nhé ! Mẹ bóc quít bỏ vào miệng một múi, tấm tắc khen :
 
- Con Dung chọn quít đấy hở. Ngọt lắm.
 
Anh Khanh xoay cách khác :
 
- Ngọt thật không mẹ ?
 
Mẹ mắc mưu anh, tách một múi trao cho :
 
- Này, ăn thử thì biết.
 
Ôi ! Phe mẹ hạnh phúc biết là dường nào !
 
Còn phe bố… mãi đến một ngày gần Tết, trời mới nhìn tới mà thương, ban cho một tin mừng. Bố hí hửng khoe với chị em Dung tin bố trúng số được ba ngàn. Con Chi khoái quá hét ầm lên. Bố vội bịt miệng nó lại, bảo :
 
- Này, im ngay. Phải giữ bí mật hoàn toàn mới được. Bộ mày muốn phe mẹ mày biết được để họ đòi chia phần hở ?
 
Con Chi hiểu ra, đưa tay vả vào má một cái tự phạt. Nó hỏi :
 
- Thế ba ngàn bạc bố tính làm gì ?
 
- Tao chưa biết rõ… chị em mày tính thử xem… Nhớ là tính sao thì tính, chỉ tính cho ba bố con mình thôi đấy…
 
Chi đề nghị :
 
- Bố mua vài ký mứt thật ngon…
 
- Đồ ngu. Mua về cho mấy thằng quỉ sứ ăn hở ?
 
- Thế… bố con mình đi nhà hàng…
 
- Cũng không được… nhà hàng lấy đắt lắm…
 
Dung góp ý :
 
- Hay là bố con mình may sắm ít bộ diện Tết ?
 
- Ừ, mày có ý kiến hay đấy… Nhưng mà… ba ngàn bạc, ba bố con thì sắm cho ai, đừng sắm cho ai ?
 
Bàn tính mãi, cuối cùng, đành phải để số tiền trúng số lại một chỗ, sau sẽ hay. Trước khi chấm dứt buổi họp, bố không quên căn dặn đừng đứa nào tiết lộ bí mật cả.
 
Bí mật được giữ một cách tuyệt đối. Tối hôm ấy, mẹ bỗng hỏi :
 
- Này, bố nó này, kỳ vừa rồi ông có mua số không đấy ?
 
Bố cố ra vẻ tỉnh bơ :
 
- Ơ… số gì ? Vé số hở ?... không… Tôi có mua tấm nào đâu…
 
Mẹ chỉ vào bảng kết quả xổ số trong tờ báo :
 
- Tại tôi thấy cái số trúng ba ngàn giông giống một cái vé hôm nào ông khoe tôi, mà tôi không nhớ rõ là kỳ trước hay kỳ vừa rồi…
 
Bố chối bay :
 
- Chắc là số kỳ trước… Bà nhớ dai quá… Tôi phục bà đấy…
 
Mẹ được khen, khoái chí và bỏ qua chuyện vé số. Hú hồn ! Chuyện Tết được đưa ra. Mẹ hỏi cả nhà :
 
- Tết năm nay, những ai muốn may quần áo mới đâu nào ?
 
Bảy cánh tay, kể cả cánh tay của bố, đưa cao lên. Mẹ phì cười bảo bố :
 
- Bố nó lớn rồi cũng đòi diện nữa cơ à ?
 
- Chứ sao không. Phải cho người ta le lói với đời một tí chứ.
 
- Le lói gì ? Sắp dở dùng rồi phải không ?
 
- Dở dùng dở quẻ gì, mẹ nó không thấy sao, quần áo tôi đã cũ hết…
 
Mẹ gạt phăng :
 
- Cũ ? Mới mặc có hai năm mà đã kêu cũ… Nhưng thôi, gác chuyện ông lại đã, để tôi tính chuyện với mấy đứa trẻ. Thế nào, con Dung, con Chi muốn may gì ?
 
- Con may áo dài hoa cà…
 
- Con may đồ bộ…
 
Mẹ bắt đầu chiến dịch càn quét phe đối lập :
 
- Con Dung tao nhớ còn cái áo dài thiên thanh mới may dạo nghỉ hè mà. Còn con Chi, mày còn nhớ mày có mấy bộ đồ không ?
 
Hai kẻ chân yếu tay mềm chợt nghe tay chân càng yếu, càng mềm hơn khi mẹ phán :
 
- Không có áo dài với đồ bộ gì hết. Để tao thêu cho mấy cái khăn tay làm đỏm cũng là luých lắm rồi…
 
Đến phiên bốn ông con trai dưới tay mẹ :
 
- Mẹ ơi, áo con hơi cộc rồi, mẹ may cho con cái sơ mi mới, mẹ nhé !
 
- Mẹ à, cái quần tây của con hôm nọ rách rồi đấy, mẹ may quần mới cho con nghe…
 
- Tết nhất mà mặc áo ngắn tay thì hơi kỳ mẹ nhỉ ? Mẹ may cho con cái áo dài tay nhé…
 
Cu Tân chưa nói sõi, chỉ tay vào mình cười toét miệng làm dáng. Mẹ cười theo nó, gật đầu :
 
- Được rồi, để tao mua vải về may cho… Tí nữa nhớ nhắc tao lấy kích thước lại nhé. Năm nay xem đứa nào đứa nấy lớn bộn rồi đấy…
 
Hạnh phúc của phe mẹ làm ức lòng phe bố quá. Con Chi chịu không được, tấm tức khóc. Mẹ quát :
 
- Khóc với lóc cái gì ? Ý chừng tao nói không đúng đấy ? Con gái con đứa gì mà chỉ ham ăn diện… Nghèo kiết xác ra thì hết đòi…
 
Con Chi càng nức nở hơn. Nó phân bì :
 
- Mẹ chỉ thiên vị con trai. Làm như con gái không phải là con của mẹ ấy.
 
Mẹ trả lời :
 
- Chứ còn gì nữa. Con gái là con của người… Rồi chúng mày cuốn gói đi hết chứ có đứa nào ở lại với tao đâu. Con Dung kia kìa, mười sáu mười bảy tuổi đầu rồi, không chừng sang năm đã có thằng đến rước đi…
 
Gương mặt Dung từ từ đỏ ửng. Nỗi tức giận như tiêu tan đi, nhường chỗ cho niềm e thẹn. Anh Khanh còn thủ thỉ với mẹ :
 
- Con nhớ như người xưa có nói : nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, mẹ nhỉ ?
 
Đúng là giọng lưỡi quân sư quạt mo.
 
Bây giờ bố mới vùng lên chống bất công :
 
- Vụ này phải cho tôi góp ý mới được. Bà có vẻ bênh tụi con trai quá, chúng nó thì được cái bộ gì, được cái bộ ăn với phá.
 
- Bộ ăn, bộ phá gì cũng được. Miễn về sau nó không bỏ tôi như hai đứa con gái là được…
 
Mấy ông con trai nói vuốt đuôi :
 
- Mẹ nói đúng đấy bố, tụi con nhất định ở với mẹ…
 
Bố nổi giận :
 
- Đúng, đúng cái gì ? Đúng cái thằng bố mày ấy !
 
Rồi bố quyết định :
 
- Được rồi, bà không lo cho con Dung, con Chi thì để tôi. Tôi sẽ may quần áo mới cho chúng nó. Để xem hai đứa con gái của tôi có thua gì mấy đứa ôn con của bà không ?
 
Mẹ thách thức :
 
- Tôi chờ ông đấy.
 
*
 
Tưởng chuyện chỉ có thế, chẳng dè đó lại là đầu mối của một cuộc chiến tranh. Phe này không thèm nói chuyện với phe kia, dù chỉ một lời. Đến bữa cơm, bên con trai chỉ mời mẹ, bên con gái chỉ mời bố. Bầu không khí thật căng thẳng.
 
Mẹ lo phần phe mẹ thật thảnh thơi : đi chợ mua ít vải về may cắt lấy. Đáng thương bố, đàn ông thì sao rành chuyện may sắm, lại nhằm dịp gần Tết, tiệm may nào cũng bận việc, không nhận thêm việc. Bố phải nghĩ mãi mới nhớ ra một nơi có thể nhờ được, đó là tiệm may của cô Oanh Oanh. Bố nhờ nơi này thì nhất. Chỉ phiền một cái là phải giấu mẹ. Mẹ mà biết được thì thế nào cũng có một màn Hoạn Thư tái sinh. Chả là trước kia, có một dịp, bố đã đeo đuổi cô Oanh Oanh.
 
Ba ngàn bạc trúng số nay đã có chỗ dùng. Bố dành cả để may sắm cho chị em Dung. Nhất định làm sao cho le lói hơn bọn con trai của mẹ, bố mới chịu.
 
Nhưng đấy chỉ mới là chuyện nội bộ. Còn chuyện đối ngoại… Vẫn còn gay go lắm. Hai phe tiến dần đến tình trạng đoạn giao. Mẹ sai anh Khanh viết mấy chữ để lên bàn giấy của bố :
 
- Mẹ bảo từ ngày mai trở đi, mẹ không có thì giờ thổi cơm cho bố và con Dung, con Chi nữa. Bố cứ nhờ con gái cưng của bố làm bữa cho. Mẹ cho mượn đồ đạc, bếp núc.
 
Bố không kém, viết giấy trả lời :
 
- Nhắn với mẹ thằng Khanh : bố con tôi từ nay sẽ không chịu trách nhiệm về vụ quét tước nhà cửa, bắt sâu, tưới cây ngoài vườn nữa. Việc ấy, xin dành lại cho mấy ông con trai của bà.
 
Hai phe nâng cao mức độ chiến tranh đến chừng ấy còn chưa chịu ngừng. Vài hôm sau, một buổi sáng chủ nhật, “thế chiến thứ ba” bùng nổ.
 
Cô Oanh Oanh may xong áo quần cho chị em Dung, sai người đem tới tận nhà. Và chẳng may, người trao hàng không biết tí ti gì về cuộc chiến tranh đang diễn ra trong nhà Dung, nhè trao ngay cho mẹ, còn kèm theo một câu :
 
- Cô chủ tôi nhờ nhắn lời hỏi thăm ông nhà.
 
Mẹ đùng đùng nổi giận. Hàng chữ “Tiệm may Oanh Oanh” in bên ngoài túi giấy đựng quần áo khiến mắt mẹ trừng lên, tay ném tung túi quần áo xuống đất. Mẹ gọi ngay lũ con trai lên rồi kể lể :
 
- Thằng Khanh, thằng Duyệt, thằng Liệu xem đấy… Hôm nọ đòi may quần áo mới để le lói, tao đã nghi rồi. Thế mà trúng phóc. Bố mày có nhân tình rồi. Tiền đâu bố mày may quần áo cho con Dung, con Chi? Bao nhiêu tiền lương tết đã đưa cả cho tao rồi còn đâu ? Không phải là con nhân tình nó may tặng thì còn gì nữa…
 
Rồi mẹ ôm mặt, bù lu bù loa :
 
- Ối làng nước ơi ra đây mà xem này, chồng tôi chê tôi là gái già, bỏ bê tôi, chạy theo nhân tình trẻ… Còn bắt tôi may quần, may áo mới để đi le lói với nó… Rồi lại nhờ nó may quần, may áo cho con gái tôi nữa này…
 
Bố chạy ra phân trần :
 
- Bà làm gì mà khiếp thế, để tôi kể đầu đuôi cho nghe…
 
Mẹ gạt phăng :
 
- Không có đầu có đuôi gì hết ! Ông không có nhân tình hở ? Thế tiền đâu ông may sắm cho hai đứa con gái ? Tiền trời cho chắc ?
 
Anh Khanh thấy mẹ giận quá đâm hoảng, vội can :
 
- Mẹ à, mẹ cứ để bố nói đầu đuôi xem sao rồi hãy tính cũng không muộn cơ mà…
 
Mẹ trừng mắt nhìn anh :
 
- A… ra bây giờ định phản tao đấy phải không ? Ừ, theo bố mày đi, cứ bỏ mặc con gái già này một mình đi…
 
Anh Khanh mếu máo :
 
- Đâu có… mẹ nói oan cho con quá…
 
- Oan với ưng… Tao bảo cho biết, còn theo tao thì im cái mồm lại, không thì cứ việc, theo bố mày rồi rước con đĩ kia về gọi bằng dì…
 
Bố đỏ mặt :
 
- Này, không được kêu người ta như thế đấy nghe…
 
- Giời ơi, đấy, mày nghe không Khanh, bố mày lại dám bênh nhân tình nữa đấy, rõ ràng quá rồi mà…
 
Có lẽ bố giận lắm. Mà giận thì mất khôn. Bố quát :
 
- Ừ đấy, thì tôi có nhân tình đấy. Có sao không ?
 
Thế là mẹ òa lên khóc. Chiến tranh chừng như vô phương cứu vãn. Sắp đến ngày tận thế mất rồi.
 
*
 
Đúng là sắp đến ngày tận thế. Hai phe đã tiến đến chỗ tuyệt giao hoàn toàn. Trước kia, tuy không nói chuyện với nhau, nhưng gặp mặt, còn nhìn nhau. Nay thì quá lắm, lỡ chạm mặt nhau là mạnh ai nấy cúi gầm xuống, bước thẳng. Buổi tối, phe bố chiếm cứ phòng học, phe mẹ đóng đô ngoài phòng khách. Ngay trong nội bộ mỗi phe tiếng trò chuyện cũng ít đi.
 
Chỉ còn hai ngày nữa là đến mồng một Tết !
 
Dung thầm lo nếu cứ tình trạng này mãi, bố tự ái, mẹ tự ái, lũ con bắt chước bố mẹ, cũng tự ái luôn. Rồi chỉ vì một chuyện đâu đâu, mà ngày mồng một tết nhà phải treo bảng “Không tiếp khách”, thì ôi thôi! Tết năm nay đúng là tết… chó.
 
Dường như anh Khanh cũng nghĩ thế, nên nhân lúc vắng vẻ, anh khều Dung, trao cho một mảnh giấy có ghi vài hàng :
 
- Bố mẹ giận nhau khiếp quá. Tao sợ năm nay mình hết ăn Tết. Nếu mày bằng lòng, mình sẽ đứng ra giải quyết vụ này gấp. Mày cho tao hỏi một câu : Tại sao bố lại có tiền may quần áo cho chị em mày thế? Tao biết, mẹ chỉ nghi bố có mỗi một chuyện này thôi.
 
Dung trả lời trên một mảnh giấy khác :
 
- O. K. Hứa sẽ hợp tác đắc lực với anh. Trả lời anh ngay đây : Bố trúng số được ba ngàn. Nhưng tại bố sợ phe bên ấy biết, thế nào cũng đòi chia phần nên mới giấu. Cũng nhờ thế, tụi em mới có tiền may sắm. Hiểu rồi chứ ? Anh bảo phải làm gì bây giờ ?
 
- Tao sẽ cho mẹ biết. Tưởng gì chứ có vậy thì dễ ợt. Mày cũng cố thuyết phục bố làm hòa nghe.
 
Hai sứ giả hòa bình thực hiện ngay công tác để mong “cứu vớt nhân loại”. Dung nói với bố ít câu. Bố có vẻ bằng lòng lắm, nhưng còn ngại : “Tao chỉ sợ mẹ mày không chịu làm hòa”. Anh Khanh thủ thỉ với mẹ, Dung lén nghe, thấy mẹ nói : “Có thế mà ông ấy giấu”. Tiếng anh Khanh : “Thì mẹ có để bố nói đâu nào”. Tiếng mẹ : “Ừ, cũng tại tao. Không biết bây giờ bố mày còn chịu làm hòa với tao không nữa ?”.
 
Thế là cuộc hòa giải đã đến mức tốt đẹp nhất. Chỉ còn chờ cơ hội để hai bên dễ ăn dễ nói.
 
Cơ hội đến vào buổi tối. Một người hàng xóm sang chơi, thấy trong nhà Dung chả có vẻ gì là sửa soạn mừng xuân cả, mới hỏi :
 
- Bộ năm nay bác không ăn Tết hay sao đây ?
 
Mẹ đáp :
 
- Ấy, tại bận việc quá, chúng tôi quên bẵng đi…
 
Bố tiếp lời :
 
- Vợ chồng chúng tôi định ngày mai mới đi sắm sửa…
 
Mẹ nhìn bố cười :
 
- Vâng, mai chúng tôi mới đi sắm sửa…
 
Lúc khách về, bố gọi Dung, con Chi ra khỏi phòng học – nơi cố thủ của phe bố bấy lâu nay – Và hai phe bắt đầu chiêu hồi nhau, cùng tung cánh chim tìm về tổ ấm. Xong xuôi, bố ra nằm khểnh trên phản, phát thanh miệng một bản tin :
 
- Chiến tranh đã chấm dứt, hai phe ngưng chiến và sống chung hòa bình. Ngày mai, cả nhà sẽ đi sắm Tết. Mẹ thằng Khanh được toàn quyền mua bán, bố con tôi xin lãnh phần “vận tải hàng hóa”.
 
Và tiếp theo đó, mấy cái máy phát thanh miệng của lũ con bố mẹ bất đắc dĩ phải im hơi lặng tiếng bấy lâu nay cùng mở một lúc. Mẹ lấy chìa khóa mở ngăn tủ đựng tiền lấy tiền ra soạn để mai đi sắm đồ. Cái ngăn tủ kêu cọt kẹt. Dung tưởng chừng nó cũng đang phát thanh một bản tin ngắn :
 
- Tin hòa bình : hai phe lâm chiến đều vô sự trong trận chiến ác liệt vừa qua. Chỉ có thân tôi, cái ngăn tủ đựng tiền, lãnh hoàn toàn tốn kém. Tôi biết lắm, mua sắm mà để đến ba mươi mới lo, đắt đỏ là cái chắc! Ới ông chủ, ới bà chủ, ới các cô, các cậu ! Chia phe làm chi cho khổ cái thân còm èo uột của tôi. Tôi buồn quá, tôi khóc đây này.. hu hu… cọt kẹt…
 
 
NGUYỄN THÁI HẢI    
 
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 122, Xuân Canh Tuất, ra ngày 15-1-1970)
 

Thứ Ba, 13 tháng 2, 2018

Chim viếng vườn hoa














Chim đến đây như một loài khách viếng

Vườn hoa xuân tươi muôn sắc muôn hương

Đã lâu rồi chim bay xa  vắng tiếng

Nay trở về trong khúc điệu du dương


Làm sống  dậy bao gió reo chắp cánh

Hoa mỉm cười vui trong ánh thái dương

Sương  trên cỏ là kim cương lấp lánh

Suối trong khe đang róc rách  bên đường


Chim đến đây cho vui lòng hoa cỏ

Lá vươn cao ngay phút đó chợt dừng 

Tiếng chim kêu là thầm thì hơi thở

Của khu vườn đang rất đỗi vui mừng


Nắng lung linh trên sắc hoa nhạt đậm

Cả mùa xuân chào đón  bóng chim sang

Gió thoảng qua cho hồn hoa êm ấm 

Như lời ca khi trở lại chim mang 

                                                Nhã Uyên

Thứ Hai, 12 tháng 2, 2018

Ba Mươi Tết














Hôm nay... Ba mươi Tết
Cúng dâng bữa cơm nghèo
Một năm vừa sắp hết
Mong muộn phiền tan theo

Tết vui ngày xưa đó
Giờ đây đã không còn
Đời người như khoảnh khắc
Mà sao lắm hoang mang

Xưa quây quần cỗ Tết
Nay mấy nén nhang thơm
Quyện hồn xua giá rét
Cũng là Tết đoàn viên

Luyến lưu ba ngày mộng
Vơi đầy nỗi hàn huyên
Hoa Xuân cành lay động
Thoảng như giọng nói hiền

Tết Xuân rồi cũng hết
Sẽ tan cuộc sum vầy
Hơn ba trăm ngày nữa
Hẹn nhau trong khói cay

Người đã xa cõi tạm
Xin dứt nghiệp dương trần
Tìm về nơi tịch lặng
Nơi vĩnh viễn mùa Xuân

(Ba mươi tháng chạp Bính Thân)
        THÁI QUANG TU

Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

Bụi Đường Xa


1

Tất cả đều đã ngồi vào bàn – thằng Long, con Nhàn, thằng Ti, và Hội. Ba đứa nhỏ nói chuyện ríu rít, mặc cho Hội bới cơm, múc canh và hối chúng nó ăn. Có nhiều câu chuyện ngắn ngủi ở trường, trong xóm, được khơi ra kể. Thằng Long vừa lau mắt kính vừa khoe nó được mười lăm điểm bài luận chiều nay. Con Nhàn thì phê bình cái mồm khó thương của bà hàng xóm vừa mới gây gổ với ông bán bánh giò, chỉ vì ông ta không chịu đổi cho bà cái bánh khác.Thằng Ti hết nghe người này đến nhìn người nọ, tay trái chống cằm như đang chú ý lắm. Và những câu chuyện cứ tiếp tục mãi, khiến Hội phải kêu lên:

– Ti, khéo bể chén! Nhàn, ăn đi kẻo nguội, đừng nói nữa. Còn Long, mang kính vào. Ăn uống xong rồi hẵng nói chuyện.

Đứa nào cũng nghe lời chị Hội, nên ngồi lại ngay ngắn. Thằng Ti múc cơm ăn. Con Nhàn múc canh cho vào chén trong khi đôi mắt liếc nhanh đĩa cá kho sắp hết. Thằng Long trịnh trọng mang kính vào. Đôi mắt lanh lợi nấp sau cặp kính bé nhỏ không ngừng nhìn ra đường – đó là tật của Long. Hầu như vị trí của nồi cơm, tô canh, đĩa cá và chén nước mắm đã quá quen thuộc với Long mỗi bữa nên nó chẳng cần phải nhìn mới gắp được. Vả lại, muốn nhìn, nó phải xử dụng đến cặp kính cận, khổ hơn. Nó ăn nhanh, gắp lẹ, như một cái máy, và nhìn ra đường như để ngắm bọn trẻ hàng xóm còn đang mải chơi banh – nhưng thật ra thì tâm trí nó đang đặt vào con số mười lăm đẹp đẽ cho bài luận chiều nay.

Đêm xuống đã khá lâu ngoài trời, nhưng bữa cơm của chị em Hội vẫn chưa xong. Giờ này cả xóm đều đã nghỉ ngơi. Tiếng máy truyền hình vang vang. Tiếng trẻ đùa trong ngõ ríu rít làm thằng Ti cảm thấy nôn nao. Hội và con Nhàn đã và xong miếng cơm cuối cùng trong khi thằng Long còn nhìn ra đường. Hội giục nó:

– Long, không ăn cơm nữa à? Cái tật lơ đãng không chừa nhé! Em nhìn cái gì thế?

Long giật mình, đôi mắt cận đảo nhanh và chợt dừng lại ở khung cửa sổ: có một người đàn ông đứng ở ngoài nhìn vào. Long nhìn người lạ, rồi nhìn chị. Hội cũng vừa thấy ông ta, và sau hết, Nhàn và Tí đều nhìn ra. Đôi mắt của người lạ nhìn chị em Hội đăm đăm. Đáng lẽ bốn chị em phải bực mình lắm về cái nhìn này. Nhưng, lạ thay, không một ý nghĩ khó chịu nào – dù rất nhỏ nhoi – hiện ra. Mà tất cả đều như cảm thấy tia nhìn của người lạ rất hiền và chan chứa mến yêu.

Hội bỗng kéo ghế đứng dậy, cau mày. Đúng rồi!!! Giống như ánh mắt của ba! Chỉ có ba mới có thể nhìn chị em Hội một cách trìu mến như thế… Người đàn ông này xa lạ quá, nhưng sao lại tỏ ra thân mến với chị em Hội? Long gỡ kính ra, nhìn chị. Có lẽ lúc này sự thắc mắc làm cho nó không cần đến cặp kính nữa – trong khi Nhàn và Ti ngơ ngác.

Hội lên tiếng:

– Ông, ông muốn hỏi chi ạ?

Người lạ không đáp câu hỏi, mà lại bước vào nhà. Người ấy ngồi xuống một chiếc ghế, và tiếp tục nhìn chị em Hội. Thằng Long hơi bực mình, sẵng giọng:

– Ông, chị tôi hỏi ông cần chi.

Người lạ nhoẻn miệng cười với Long như không để ý đến nét cau có trên gương mặt cậu bé. Một thoáng im lặng nặng nề, người lạ lại cười mỉm, và bây giờ ông mới cất giọng:

– Các cháu ngoan lắm!

Giọng của ông ta ấm và hiền hậu vô cùng, không có ẩn ý đe dọa nào có thể làm chị em Hội lo lắng. Hội nhanh tay thu dọn chén đũa trên bàn, mắt không rời người lạ. Thằng Long từ tốn trở lại, nhắc câu hỏi ban nãy:

– Thưa ông, ông muốn hỏi chi?

Người lạ lắc đầu:

– Bác không cần chi cả. Bác thấy các cháu ngoan, bác vào đây chơi, nghe các cháu nói chuyện.

Hội ngập ngừng:

– Xin lỗi, bác… là ai ạ?

Đôi mắt người lạ nhìn ra đường. Hai bàn tay ông xoa vào nhau, ông nói với giọng khoái trá:

– Bác là người hiệp sĩ tung bụi đường xa đi tìm nụ cười tiếng hát trẻ thơ nhưng chưa gặp. Bác là người thích gõ cửa nhà nào có đông con nít để kể chuyện cho chúng nó nghe. Khi mùa đông về bác ngồi trên đống tuyết hát cho chúng múa theo, và lúc xuân đến bác mua cho chúng nó rất nhiều bánh mứt.

Nói xong một hơi, đôi mắt người lạ nhắm lại, lim dim. Thằng Long nhăn mặt, kề tai Hội thì thầm:

– Ông ấy điên, chị ạ!

Hội lắc đầu:

– Không, ông ấy… khùng.

Tự nhiên bao thắc mắc sợ hãi tiêu tan. Trước mắt Hội, người lạ này là một “người khùng vui tính”, không có gì đáng sợ. Hội và Long cười với nhau. Và chừng như con Nhàn và thằng Ti đều cảm thông cái cười ấy nên chúng nó không ngần ngại đến gần người lạ. Ông ta đưa bàn tay vuốt ve khoảng không phía dưới cái cằm lún phún râu, cười xuề xòa:

– Cứ gọi bác là… bác Bảy đi, hay… ông tiên cũng được. Xem này, râu ông tiên đã dài rồi đây! Con của ông tiên cũng lớn lắm rồi, cao bằng ngần này, ngần này nè!

Ba đứa nhỏ ré lên cười khi người đàn ông đứng nhón chân lên sờ tay tận cái kệ sách cao. Thằng Ti bắt chuyện:

– Con ông tiên cao thế, sao ông tiên lùn vậy?

– Ấy ậy, ông tiên già rồi!

Hội vui lây với người lạ và các em. Hội chạy đi rót cho ông tiên một ly nước trà đầy. Dù ông là ai đi nữa, Hội đoán ông nhất định phải là người vừa đi một đoạn đường xa, nên chắc phải mệt lắm. Người lạ – không, bác Bảy – vui vẻ uống nước, và… xin ly nữa.

“Bác Bảy” cứ nói những câu dở khùng dở tỉnh nhưng vô hại, khiến chị em Hội cười quên thôi. Hội không ngờ những tiếng cười vui vẻ lại đến với mái gia đình nhỏ bé và thiếu thốn của mình một cách dễ dàng thế. Những đứa trẻ không bao giờ thắc mắc về lai lịch của người lớn – nhất là kẻ lạ – nên chẳng cần đặt ra câu hỏi “ông là ai” nữa. Con Nhàn và thằng Ti quấn quít bên “bác Bảy” đòi kể chuyện, như thể đã lâu lắm không được nghe một câu chuyện nào. “Bác Bảy” chiều ý chúng như chiều hai đứa cháu ruột rà. Thằng Long không còn giữ vẻ mặt trịnh trọng thường lệ, mà ngồi chống cằm nghe chuyện, ra điều thích thú lắm. Còn Hội, Hội không biết làm gì. Mà thật, Hội không hiểu “bác Bảy” này đang cần gì, muốn gì nữa…


2

– Má tụi cháu mới mất cách nay hai tháng. Má cháu còn trẻ lắm, bác cứ xem số tuổi của cháu thì đoán được má cháu trẻ đến đâu. Nhưng má cháu khổ cực lắm, mà lại hay bệnh hoạn nữa, nên má cháu bỏ tụi cháu mà đi. Ba tụi cháu lưu lạc bên Căm-bốt chưa thấy về. Hồi ba cháu đi, em Ti còn trong bụng mẹ. Vậy là đã năm năm rồi bác. Kìa, ảnh của ba cháu đó bác! Ba cháu hiền ghê chưa? Không biết ba cháu làm gì ở bển, mà không viết thư về. Má cháu mất, tụi cháu cũng không biết làm cách nào cho ba cháu hay. Vậy là tụi cháu kể như mồ côi. Tụi cháu sống nhờ chị Hội. Bác thấy hông, chị Hội mới mười sáu tuổi mà trông già giặn ghê, há bác!

– Chị Hội mần gì để nuôi các cháu?

– Chị cháu làm trong Hội Nhi đồng Tin Lành. Chị cháu dịch thư, lo việc trao đổi hình ảnh cho trẻ em trong hội. Nhờ vậy, chúng cháu không lo đói, mà lúc nào cũng có những người lớn để tâm, giúp đỡ chúng cháu.

– Chị Hội cháu giỏi lắm. Và bác có lời khen phục ba má cháu và các cháu đã có một đời sống tôn giáo cao cả. Dù là đạo gì đi nữa, mình phải có một đức tin để sống phải không cháu?

– Má cháu cũng vẫn thường nói thế. Chị Hội ham học lắm bác. Chị ấy học sinh ngữ một mình, nên mới có thể dịch thư trôi chảy. Tụi cháu học trường công, còn cu Ti chưa đi học.

– Má mất, các cháu có nhớ không?

– Nhớ ghê lắm, bác ạ. Và buồn nữa. Nhưng tụi cháu vẫn nghĩ rằng má cháu luôn luôn ở trong ngôi nhà này với tụi cháu. Với lại, còn ba cháu nữa, thế nào ba cháu cũng về với tụi cháu.

– Bác phục chị Hội cháu, bác phục cháu, tất cả các cháu. Bác không ngờ bác được gặp một gia đình trẻ thơ mà cao quý thế nầy. Chị Hội cháu có tinh thần tự lập, các cháu không hư đốn, bác mến lắm!

– Hồi má cháu mất, hàng xóm ai cũng lo ngại cho tụi cháu. Bà con tụi cháu cũng đông. Nhưng họ bàn việc đưa tụi cháu vào cô nhi viện. Chị Hội cháu nhất định che chở tụi cháu, đòi ở yên trong căn nhà này, chờ ba cháu về. Và tụi cháu đã chứng tỏ cho mọi người biết rằng tụi cháu tự lập được. Thỉnh thoảng cảnh sát có đến nhà. Họ ngạc nhiên ghê lắm, bác.

– Cảnh sát… có xét nhà hở cháu?

– Dạ, họ chỉ hỏi thăm thôi. Nhưng lâu lắm mới có một lần.

“Bác Bảy” xoay xoay ly nước trà trong tay. Thằng Long ngồi một bên bác, đôi mắt trở nên đăm chiêu sau cặp kính cận nhỏ bé. Cả hai người đều lặng im sau câu chuyện hơi dài. Hội đi làm chưa về. Con Nhàn và thằng Ti đang chơi rải gianh với bọn trẻ ngoài sân.

“Bác Bảy” trở thành người thân trong gia đình Hội. “Người khùng vui tính” đêm đó, sau khi kể những câu chuyện thần tiên, đã mở lời xin ngủ nhờ trên chiếc ghế bố ngoài sân. Chị em Hội không từ chối. Bác đã ngủ ở đó. Và sáng hôm sau, thằng Ti cứ nằng nặc đòi “bác Bảy” ở lại chơi với nó. “Bác Bảy” lại kể chuyện, lại vác Ti lên vai. Bác không làm chị em Hội e sợ một chút gì, hình như nhờ đôi mắt rất hiền của bác.

Và, sau khi bàn riêng với Long rất lâu, Hội đã ngỏ lời mời “bác Bảy” ở lại với chị em mình. Thằng Ti vắng mẹ đã lâu, thèm được bồng ẵm. Nó đeo theo “bác Bảy”, thân thiết như con ruột của bác. Bác Bảy ăn rất ít, chỉ khoái uống nước trà. Thỉnh thoảng bác lãnh sửa ống nước cho hàng xóm, được chút ít tiền bác lại mua quà bánh và đồ chơi cho tụi nhỏ hết. Hàng xóm ngỡ bác Bảy là bác thật của chúng nó nên không thắc mắc. Bác Bảy đôi khi nói nhiều câu ngô nghê rất buồn cười, khiến chị em Hội càng tin rằng bác đãng trí. Riêng Long, nó muốn bác Bảy là “người hiệp sĩ tung bụi đường xa”, riêng đối với nó thôi. Nhưng cũng có lúc bác Bảy ngồi yên nói chuyện rất từ tốn và có ý nghĩa như câu chuyện của bác với Long hôm nay.

Một lần, Hội thắc mắc về lai lịch của bác. Hội cố gắng gợi những hình ảnh nào quen thuộc may ra còn lại lảng vảng trong trí lự mù mờ của bác. Lúc đó, bác Bảy bỗng như xúc động ghê lắm. Bác nhíu đôi mày lại, nói như để cho một mình bác nghe:

– Bác có một người vợ, bác có một đứa con. Con bác… ờ… nó cũng dễ thương lắm chứ! Nó mủm mỉm như… thằng cu Ti vậy đó. Còn nhà của bác hả? Nhà bác mầu xanh lá cây nè, cửa sổ mầu vàng, có hoa leo đầy song. Trước hiên bác treo lủng lẳng nhiều lồng đèn hình lục lăng, bác làm đấy, để cho con bác nó nhìn. Nhà bác ở đâu? Ái chà! để bác nhớ xem… ở đâu nhỉ? Nhà bác ở… ở trong một cái hầm sỏi, một cái hầm đầy sỏi. Sỏi trắng tinh, đẹp lắm! Chẳng bao giờ bác nhìn thấy lại vợ bác, con bác. Trời ơi… tôi đã nhốt vợ con tôi trong đó rồi, trong hầm sỏi ấy…

Giọng bác chìm dần, đôi mắt bác long lanh. Nỗi băn khoăn hiện rõ trong lòng Hội. Hội không hiểu gì hết, nhưng Hội đoán rằng có một điều gì bí ẩn trong cuộc đời “bác Bảy”. Hội muốn giúp bác, nhưng không nghĩ ra được một cách nào.


3

Màu sắc rực rỡ của những ô vuông đầy bánh mứt đập vào mắt Hội. Phải mua nhiều thứ mứt cho các em ăn, nhất là con Nhàn, một cây hảo ngọt. Vả lại, Tết này có “bác Bảy” – Hội thấy vui rộn ràng khi nghĩ như vậy. Tự nhiên Hội nhớ tới câu nói vu vơ mà ngộ nghĩnh của “bác Bảy” đêm nọ – khi xuân đến bác sẽ mua cho chúng nó rất nhiều bánh mứt – Nếu bác có một đứa con, hẳn bác sẽ thương yêu nó lắm. Cũng như ba của Hội vậy. Những năm còn ba ở nhà, người hay dẫn chị em Hội đi sắm Tết. Ba chiều ý từng đứa, mua đủ thứ để bày biện trong nhà, nên những cái Tết xa xưa đó ấm áp vô cùng. Những mùa xuân kế tiếp không có ba, một mình má Hội phải lo hết. Sự thiếu hụt tiền bạc và sự bệnh hoạn thường xuyên của má Hội làm Tết nhất kém vui. Tuy đau ốm hoài, nhưng lúc nào người cũng nhắn nhủ Hội chú trọng đến đời sống tinh thần, và sau này dạy bảo cho các em như thế. Nhờ có má, Hội học chí tự lập. Khi má mất, Hội cương quyết đi làm nuôi em, không cho chúng vào cô nhi viện. Hội tin có ơn trên giúp đỡ cho gia đình bé nhỏ của chị em Hội, niềm tin đó làm tâm hồn Hội sáng ngời. Hội ngỡ rằng Tết năm nay một mình Hội sẽ thay mẹ dắt các em đi sắm những chiếc áo mới đơn sơ, một mình Hội sẽ chưng dọn lại nhà cửa, một mình Hội sẽ đi mua hoa hồng để bày trên bàn ăn – và trong bình hoa cho bàn thờ má Hội.

Nhưng không, Tết này có “bác Bảy”, người bác ngẫu nhiên của chị em Hội. Bác đến, rồi ở đó, như một “hiệp sĩ tung bụi đường xa” ghé nhà trọ bên đường, hay thơ mộng hơn, như một “ông tiên” đến thăm lũ trẻ nhỏ, kể chuyện cho chúng nghe và mua cho chúng rất nhiều quà bánh. Rồi sẽ có ngày bác ra đi. Nhưng bây giờ, chị em Hội cứ xem bác như người cha từ phương xa trở về.

Hội nghĩ không cần mua mứt vội, mà muốn về bàn với “bác Bảy” xem nên mua những thứ gì. Còn ngay bây giờ, Hội phải làm cho xong công việc: mang một giỏ quà của một người mẹ nuôi ngoại quốc đến trao cho một đứa bé trong Hội Nhi đồng. Theo địa chỉ, Hội tìm ra một ngõ hẻm. Ngõ này rộng nhưng hơi lầy lội vì chiếc máy nước công cộng đặt ngay ở đầu hẻm. Hội đạp xe len lỏi qua đám trẻ tụ tập quanh vòi nước, mỗi đứa cầm một cái gáo vừa tắm vừa hất nước vào nhau, đùa giỡn. Hội còn đang dáo dác tìm số nhà, thì một người đàn ông đến gần lên tiếng hỏi:

– Cô tìm nhà ai?

Hội đưa mảnh giấy ghi địa chỉ ra. Người nọ chắc lưỡi:

– Số này ở tuốt trong xa. Cô đi thẳng vô tận cuối ngõ kia, qua đó là xóm Hầm Sỏi, sẽ tìm thấy nhà.

Hai tiếng “Hầm Sỏi” lọt vào tai Hội nghe như quen thuộc lắm nhưng Hội không nhớ đã nghe nó hồi nào. Tự nhiên, không suy nghĩ, Hội cám ơn người đàn ông và đi sâu vào xóm trong. Nhà cửa san sát bên nhau, cao thấp không đều. Có những mái nhà lụp xụp nép bên ngôi nhà lầu đúc kiêu sa.Trẻ con chơi đầy đường, tiếng cười đùa náo nhiệt không át được nỗi băn khoăn trong lòng Hội.

Và Hội đứng sững trước một căn nhà. Căn nhà bằng gỗ sơn màu xanh lá cây. Hai khung cửa sổ màu vàng khiến Hội thấy rõ những dây leo trên các chấn song, nhưng lá và hoa thì đã héo úa. Cửa lớn đóng kín mít. Hội giật mình khi nhìn lên mái hiên: những chiếc lồng đèn be bé hình lục lăng đủ màu treo thành một hàng. Căn nhà im lìm và ủ rủ, không một bóng trẻ, không một tiếng nói. Hội thấy xót xa trong lòng. Đúng đây là căn nhà của “bác Bảy”!!!

– Cô tìm ai ở đây?

Một người cảnh sát đến gần Hội, vừa hỏi vừa đưa mắt dò xét. Hội hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn cứ hỏi:

– Xin lỗi thầy, nhà này của ai vậy thầy?

– Nhà của bà Vạn, nhưng đã bị niêm phong rồi. Cô muốn hỏi bà ấy à?

Hội gật đầu đại. Người cảnh sát lắc đầu:

– Bà ấy chết rồi!

– Chết??? Vì sao vậy thầy?

– Chồng bà ấy giết. Nhưng hắn ta bỏ trốn rồi.

Hội tròn xoe mắt, lắp bắp:

– Có phải… ông ấy… bị khùng không thầy?

– Đúng rồi, sao cô biết?

Hội nói không suy nghĩ:

– Tôi biết. Tôi biết ông ấy. Bác Bảy đó mà! Không, chẳng lẽ… Thưa thầy, ông ấy có một đứa con hở thầy?

– Đúng như vậy. Này, tôi hỏi lại, sao cô biết rõ thế?

– Tôi… Trời ơi!… Là “bác Bảy” sao?

Hội choáng váng ôm lấy đầu. Cánh tay Hội bỗng nhiên bị người cảnh sát nắm chặt. Người ấy kéo dài cây ăng-ten nơi chiếc máy truyền tin đặt trên bờ tường, nói rất nhanh những lời gì Hội nghe không kịp. Hội không thể phân trần gì hơn nữa…


4

– Bác đã giết vợ bác. Mọi người đều lầm, các cháu ạ! Bác đã lầm vì bác không ngờ người vợ mà bác yêu thương lại có can đảm tống cổ bác vào nhà thương điên, chỉ vì bác thất nghiệp. Bác tưởng căn nhà thơ mộng của bác giữ được vợ con bác và hạnh phúc gia đình bác. Nhưng không, vợ bác không thích lý tưởng như bác. Bác thích sống đời nghệ sĩ, nhưng bác bị giam trong thế giới của người mất trí. Bác trở thành người khùng thật các cháu à! Khi trốn về nhà, bác thấy căn nhà màu xanh của bác tang thương quá! Thằng con của bác, không được ai săn sóc, nó té xuống giếng chết từ lâu. Vợ của bác sống sa đọa. Bác đã… giết bà ta. Mọi người đều lầm, vì con người hiền hậu như bác mà lại có can đảm giết vợ cơ à? Bác đã làm như một người điên khùng. Bác… chỉ ân hận có một điều, là bác đã nói dối các cháu ngay khi bước vào căn nhà này, sau mấy ngày trời đi lang thang lẩn trốn. Bác chả là hiệp sĩ, chả là ông tiên gì hết. Bác khi tỉnh khi khùng. Tâm trí bác xáo trộn từ ngày vào nhà thương điên, và lại xáo trộn hơn từ ngày về nhà. Nhà của bác đẹp lắm, khi nào đi ngang đó Hội nhớ ghé qua thăm nghen! Ở xóm Hầm Sỏi đó cháu, bác đã nhớ ra rồi, xóm Hầm Sỏi…

“Bác Bảy” nói một hơi không nghỉ. Đôi mắt bác vẫn hiền từ nhìn chị em Hội. Bác không lộ một tình cảm nào đối với những người cảnh sát đang đứng bao quanh. Bây giờ lai lịch của bác không còn bí ẩn nữa. Hội đưa tay quẹt nước mắt, chợt thấy trên kệ sách có hộp mứt đầy và một chai rượu chát. Hội nghe bàng hoàng. Quà của “bác Bảy” mua về để ăn Tết với chị em Hội đó! Nhưng đôi bàn tay của người “hiệp sĩ” đã bị còng lại rồi kìa! Thằng Long mở to đôi mắt sau cặp kính cận – đôi mắt hàng ngày vẫn tinh ranh, giờ buồn rười rượi. Con Nhàn, thằng Ti không hiểu gì nhưng cũng mếu máo khi người ta chạm đến “bác Bảy”. “Bác Bảy” lần lượt hôn từng đứa rồi bảo với Hội:

– Hội cháu, đừng thấy chuyện của bác đây rồi bớt tin đời nha cháu! Má cháu dạy phải lắm, cháu tiếp tục đi! Bác mến phục đời sống của các cháu. Cám ơn các cháu đã cho bác sống những ngày rất đẹp. Các cháu ăn Tết vui nghen!

Hội òa lên khóc. Bọn trẻ nức nở theo. Thằng Long gỡ kính ra, chùi nước mắt, nghẹn ngào:

– Bác bỏ tụi cháu hở bác?

“Bác Bảy” nở nụ cười hiền từ:

– Đừng buồn, cháu! Rồi ba cháu sẽ về mà, cháu tin đi! Chẳng bao giờ các cháu thiếu tình thương đâu!

“Bác Bảy” khập khễnh đi theo mấy người cảnh sát. Thằng Ti chạy theo réo gọi:

– Bác Bảy! Bác nhớ về ăn Tết với Ti nhé!

Đôi bàn tay bị còng chung với nhau giơ lên vẫy vẫy. Chị em Hội đứng sững nhìn theo “bác Bảy” leo lên xe cảnh sát. Chiếc xe rẽ đám người bu đông đen, chạy đi cuốn tung bụi đất của ngõ xóm. Bụi bay lên mờ mờ, mang người “hiệp sĩ” đi tiếp đoạn đường xa…


Nguyễn Thị Mỹ Thanh  


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Tân Hợi, 1971)

Thứ Bảy, 10 tháng 2, 2018

Chợ Tết


Chẳng hiểu sao mấy ngày nay nhà bé cứ rộn rịp hẳn lên, mẹ và chị Hồng làm mứt, bánh bận rộn hoài chả có thì giờ chơi bày hàng với bé nữa. Buồn quá, mà bé cũng không hiểu tại sao, một mình bán hàng chán bỏ xừ. Bé cáu kỉnh đá luôn vào hông Ki Ki làm chú chỏ oẳng oẳng mấy cái rồi chạy vào nhà. Bé thơ thẩn đi dạo trong vườn, những cây cúc, mai đã hé nụ hay nở rực. A! Bé nhơ nhớ ra rồi, để xem nào, hàng năm cứ đến kỳ này là cúc nở. Tức quá, nghĩ hoài không ra, chợt bé giật mình:

- Cháu của ông làm gì mà bày đồ chơi bừa bãi ngoài sân thế?

- A, ông.

Bé chạy lại ôm ông thủ thỉ:

- Ông ơi, sắp đến ngày gì rồi vậy ông?

Ông hiền từ vuốt râu cười:

- Cháu hay quên quá đi thôi. S8áp đến Tết rồi đấy.

- A, Tết.

Bé vội vàng tụt khỏi lòng ông, cầm tay ông kéo vào nhà. Ông lật đật nói:

- Chết, chạy gì mà vội thế cháu?

Bé reo:

- Mẹ ơi, Tết đến rồi.

Nhắc đến Tết là bé thấy sướng ghê. Lòng bé rộn lên một sự hồi hộp, chờ đợi. Bé chờ đợi... đủ thứ! Căn nhà hôm ấy chắc sẽ sáng choang, được quét vôi, sơn một lượt mới, bàn ghế được lau chùi sạch bóng và nhất là xích đu của bé sẽ được sửa chữa như mới. Bé sẽ được mặc áo mới này, đi theo mẹ này, ăn bánh kẹo và cả mứt nữa này, thích ghê đi. Nhưng chắc một điều là bé sẽ khoái tiền lì xì hơn cả (lẽ dĩ nhiên!). Những tờ năm, mười đồng mới tinh, thơm phức, cầm mát cả tay. Bé phải nhắc mẹ mua ví mới để đựng mí được, ai lại bỏ tiền mới vào cái ví "bẩn thỉu", "rách nát" bao giờ. Chỉ nghĩ đến lúc cầm ví "kim tuyến" dầy cộm những tiền là bé đủ sướng rồi. À mà quên, mồng một phải dậy thực là sớm để cùng ông... uống nước chè Tầu ngắm hoa nở nữa chứ. Thế nào ông cũng kể dăm ba câu chuyện cổ tích cho coi.

Ông đi chậm quá (!), bé bỏ tay ông và chạy vụt vào bếp. Mẹ và chị Hồng vẫn luôn tay làm mứt, bé xán lại đập đập vào vai mẹ:

- Mẹ! Mẹ!

Mẹ bực mình gắt:

- Con chó con này phá mẹ mãi, xê ra.

Giá như ngày thường bé đã òa ra khóc rồi đấy, nước mắt cá sấu mà lị. Nhưng hôm nay "ngoại lệ" nên bé vẫn tươi như hoa, nũng nịu:

- Tết đến rồi mẹ ơi.

- Tết đâu mà Tết, còn cả tháng nữa cơ mà.

Bé cũng chẳng vừa:

- Thế sao mẹ làm mứt? Mẹ dối con đấy nhé, ông bảo còn vài ngày nữa thôi.

Mẹ nhìn ông:

- Cậu chỉ thế thôi, làm cháu nó "hư" quá càng mệt con nữa.

Ông cười. Quay sang bé, mẹ nói:

- Ừ thì Tết. Có chuyện gì đấy con?

- Mẹ dẫn con đi chợ Tết nhé mẹ!

- Ừ thì đi, nhưng mai vậy, hôm nay mẹ bận.

Thế là bé tung tăng chạy lên nhà:

- Mai mẹ cho bé đi chợ Tết nè, anh Tâm phải ở nhà ê.

Cu Tâm vội vàng ba chân bốn cẳng chạy xuống bếp réo:

- Ơ, mẹ cho con đi nữa nhé mẹ?

- Ừ, cả nhà đi hết, hét quá mẹ điếc tay bây giờ.

Cu cậu nhảy cỡn, khoe với bé:

- Mẹ cũng cho Tâm đi nữa nè.

Mẹ và chị Hồng chỉ nhìn theo bóng hai đứa cãi nhau mà cười khó hiểu.

*

Bé được toại nguyện rồi. "Đi chợ Tết", ba tiếng nghe êm tai làm sao, dù rằng nó đã quen với bé từ năm ngoái lận. Chiều nay, bé mới dám mở tủ sờ đến cái váy đầm "quí giá". Anh cu Tâm cũng vậy, có bộ cao bồi vác ra lí le hoài. Anh lại còn nói đi nói lại với bé những thứ cần mua để nhắc mẹ, riết rồi bé thuộc luôn. Có lẽ anh là con trai nên chỉ khoái có cái phi cơ trực thăng bay được của Thụy Sĩ còn bé thì chọn mua ví với búp bê biết nói (bé tham quá nhỉ?). Chứ con gái ai lại chơi phi cơ bao giờ, người ta cười chết (!).

Cơm nước đâu vào đấy rồi, cả nhà lăng xăng "đi chợ Tết". Nhất là cu Tâm và bé, cứ... nhộn cả lên. Hết giành nhau đi cạnh mẹ lại đến tranh nhau xách giỏ. Bố tức quá giao hẹn:

- Đứa nào xách giỏ phải xách luôn đi nhé.

Hai đứa vẫn không "sờn lòng" giành giựt nhau mãi, rốt cuộc sau khi đánh tù tì Tâm được phần xách giỏ. Bé bị thua buồn ra mặt, nhưng được đi cạnh mẹ nên cũng đỡ phần nào...

*

Bố phải đậu xe ở chợ Cũ, rồi cả nhà xuống đi bộ đến chợ. Bé kéo mãi mà mẹ chả chịu đi mau cứ đủng đỉnh vừa đi vừa nói chuyện với bố. Tức mình bé định bỏ sang đi với chị Hồng nhưng lại sợ anh Tâm chạy đến đi cạnh mẹ nên thôi. Chợ Tết năm nay đẹp lạ! Bé cứ ngẩn ngơ ra trước cảnh tưng bừng ấy. Bây giờ mẹ lại phải kéo bé đi kẻo bé như là chôn chân trước đầu chợ. Người người đông như kiến, kẻ thì mua kẹo, người mua mứt... loạn xà ngầu cả lên. Nắm chặt tay mẹ bé len lỏi giữa rừng người ấy. Mẹ đi mau quá chẳng kịp ngắm gì cả, chả bù với lúc nãy kéo mãi mẹ cũng không đi. Nhất là bố nữa, đi cứ như bay, theo kịp bố cũng mệt.

Qua hàng mứt. Mẹ mua hai ký mứt bí, ba ký mứt gừng, một ký rưỡi mứt hạt sen v.v... bé và anh Tâm tha hồ ăn vụng sướng mồm. Rất may là chẳng ai thấy hết...

Dưa hấu bày thành từng đống cao bằng đầu người. Có lẽ đây là nơi ít người dừng chân lại nhất, mẹ cũng nói:

- Để gần Tết mua cho nó rẻ.

Bà bán hàng cười:

- Lúc nào chả vậy, làm gì có chuyện mắc với rẻ.

Mua sắm đủ rồi, bố hướng dẫn mọi người sang đường Nguyễn Huệ. Ôi chu choa, sao mà lắm đồ chơi thế, nhìn không chán mắt. Bé và anh Tâm cứ chỉ chỏ cho nhau xem, nào là xe lửa chui hầm, nào là con gấu bông to lớn, phi cơ, tầu thủy đủ thứ, kể ra tha hồ mà mệt. Đến chỗ nào hay là hai đứa sán lại đứng chôn chân ở đấy làm bố mẹ, chị Hồng phải kêu mãi mới chịu dời chân. Hai đứa bắt đầu vòi mẹ mua đồ chơi, cứ lải nhải đến chán tai. Bố thì gạt phắt đi:

- Mua làm gì phí tiền, về ăn mứt cũng đủ rồi.

Mẹ ôn hòa hơn:

- Đắt quá các con ạ, thôi để hôm nào đi mua.

Hai đứa phản đối ngậu xị:

- Không, mua bây giờ cơ, không biết đâu.

Nhờ chị Hồng nói giúp nên mẹ cũng nhượng bộ và mua cho bé một con búp bê tuyệt đẹp, còn anh Tâm được một chiếc tàu bay chạy pin nhưng chưa có pin nên phi cơ chưa dám chạy (!). Hai đứa ngắm nghía mãi hai cái hộp, cãi nhau ỏm tỏi. Đứa nào cũng cho đồ chơi của mình là đẹp là tốt. Đến lúc nhìn quanh thì bố mẹ, chị Hồng đã đi đâu mất rồi, chỉ còn hai đứa lạc lõng giữa đám đông người. Bây giờ mới hoảng lên, hai đứa cuống quá đổ đi tìm. Mồ hôi ướt đẫm, hai khuôn mặt tái xanh tái xám, chúng bắt đầu... mếu!

Đột nhiên hai hộp đồ chơi bị ai hút bay bổng lên trời rồi hai đứa lại sợ quá khóc thét lên, chân tay chới với...

- Dậy đi bé, làm gì mơ hoảng dữ vậy?

Bé thẹn thùng ngồi dậy dụi mắt. Thì ra bé vừa mơ đấy, một giấc mơ vừa đẹp lại vừa hãi hùng. Ngẩng nhìn lịch, bé giật mình khi thấy con số 28 âm lịch to tướng. Nhớ giấc mơ bé mới nhớ ra chiều nay phải nhắc mẹ "đi CHỢ TẾT" mí được.


Nguyễn Thế Chiêu   


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Mậu Thân, 1968)

Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

Xuân Nương














 
gửi bạn hiền

Xin ngủ yên hạnh phúc
Về khi mới chớm Xuân
Tặng nhau bông Thúy cúc
Tặng hết cả tình thân

Một đêm bừng mắt dậy
Thấy Em thành Xuân Nương
Một chút tình yêu dấu
Phảng phất mấy mùi hương

Tình như mùa Đông cũ
Tình như thoáng gió thơm
Xuân Nương bàn tay nhỏ
Đuổi xô hạnh phúc buồn

Em như Tiên bị đọa
Ta mở cửa Thiên đường
Xuân Nương bờ môi thắm
Hồn nhẹ nhánh tình thương

Xin đừng như giấc ngủ
Em muôn đời hát ru
Hạnh phúc về muôn thuở
Xuân Nương còn thiên thu...

                                 NGUYÊN LY

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Giáp Dần, 1974)

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

Việt Nam Ăn Tết


Mỗi năm lại mỗi Tết. Tết xưa thật xưa mà tết cũng luôn luôn mới. Mỗi lần tháng chạp đến rồi ngày vơi dần, mọi người đổ xô đi mua sắm, may mặc... Trẻ con mong tết để được mặc áo mới, ăn bánh kẹo, nghỉ... học, được tiền lì xì ; người lớn cũng khoái tết không kèm, đi thăm nom nhau, vui chơi cho bõ ngày mệt nhọc. Trẻ thêm tuổi và già thêm kinh nghiệm. Ai cũng than nghèo đói, chán ngấy ngày tết. Nhưng đầu năm, nhà nào cũng hoa đèn rạng rỡ, người nào cũng xuôi ngược vui chơi. Không tiền cũng cố vay mượn mà có, mình không ăn nhưng chẳng lẽ để con cái nó chết thèm hay sao? Tết vui mà tết cũng khổ tâm là ở chỗ ấy. Và "khốn khó quanh năm, vui ba bữa tết" là vậy.

Có điều, Tết là Tết, nhưng hương vị Tết mỗi nơi mỗi khác. Tết làng, Tết tỉnh, Tết ta, Tết tây... Ngày xưa người Việt Nam ăn Tết thường rất lớn, tết cả một tháng giêng, bởi vì người dân quanh năm vất vả việc đồng áng, chỉ có tháng đầu mùa Xuân là thuận lợi cho việc nghỉ ngơi phè phỡn mà thôi. Điều đáng chú ý là ở Việt Nam dù quê hay tỉnh, Bắc, Trung hay Nam, người ta ăn tết cũng gần giống như nhau, các phong tục về ngày Xuân vẫn chung ý nghĩa và cả hình thức. Thi sĩ Bàng Bá Lân đã có những vần thơ mộc mạc sau đây để nói lên những hình ảnh Tết tiêu biểu nhất ở miền Bắc và cũng là của cả nước:

Tết về nhớ bánh chưng xanh
Nhớ tràng pháo chuột, nhớ tranh lợn gà
Nhớ cành đào thắm đầy hoa
Nhớ giây phút đợi giao thừa nghiêm trang
Nhớ ngũ vị, nhớ chè lam
Nhớ cây nêu, nhớ khánh vang tiếng sành
Nhớ tam cúc tẹt, nhớ mình
Nhớ cân mứt lạc, nhớ khoanh giò bì...


SỬA SOẠN ĂN TẾT.

Vui nhất là những ngày sửa soạn ăn Tết. Gia đình nào cũng dọn dẹp nhà cửa, quét vôi tường, sơn lại cửa. Bàn thờ Gia Tiên được lau dọn ; đồ thờ, lư đồng... được chùi bóng như gương, có nhà ngày xưa thì hầu hết lại treo, dán câu đối ở cột ở tường đỏ ối, kết hoa dán tranh vẽ cho thêm phần vui vẻ. Màu đỏ và hoa tượng trưng cho sự may mắn, hoan lạc.

Ngoài ra mọi người đều lo tích trữ thực phẩm càng ngon càng tốt để ba bữa tết chỉ ăn, giải trí và ngủ, không phải mất công mua sắm nữa. Các việc công, tư như buôn bán, trang trải nợ nần, đều phải cố thanh toán nốt trong ngày 30.

Người ta đong gạo nếp để gói bánh chưng, mua hương vàng để ngày tết cúng giỗ tổ tiên. Lại còn bánh, mứt, rượu ngày tết, mỗi thứ mua sẵn một ít trước là để cúng tổ tiên, sau là để gia đình cùng thưởng thức đầu xuân.

Ở nhà quê, những ngày cận Tết, trong họ ngoài làng ồn ào náo nhiệt, tiếng lợn bị chọc tiết kêu eng éc, tiếng các bà các cô gọi nhau ơi ới đi chợ Tết sắm hàng. Đi chợ Tết để mua bán mà đi chợ Tết cũng là để khoe quần áo đẹp, điều ấy dù ở quê hay đô thị đều đúng. Chợ Tết ở Saigon chen chân không nổi, nhưng người mua thì ít, kẻ đi khảo giá, diễu phố trình diễn thời trang thì nhiều.

Sửa soạn tết người ta cũng có tục lệ trồng cây nêu và vẽ cung tên ở trước đình, chùa hay tư gia. Đây là một trong những tục lệ được duy trì lâu bền nhất tại Việt Nam. Cây nêu được làm bằng thân một cành tre cao ngất, trên đầu có chùm lông gà, buộc cành vạn tuế hay cành dừa, ở dưới có bện bầu rượu bằng rơm, một bên buộc con cá bằng gỗ để kéo ngọn đèn chai tối thắp lên. Cây nêu được trồng vào ngày 30 tết và thường đến mùng 7 mới hạ xuống, gọi là lễ hạ nêu. Người ta bảo trong những ngày ấy ma quỉ dưới âm phủ được phép Diêm Vương lên trần gian vui chơi mấy bữa. Trồng cây nêu, ở trên có dán một lá bùa bát quái, là cốt để ma quỉ đừng ghé nhà mình quấy nhiễu.

Ngoài tục trồng cây nêu, người Việt còn có tục rắc vôi bột, vẽ cung tên trước cửa nhà và chung quanh nơi ở, cũng cốt bắn đuổi tà ma. Theo tục truyền, lệ này có từ thời vua Đinh Tiên Hoàng. Dưới thời vua trị vì có nạn dịch gây chết chóc cho nhiều người. Sau một tuần lễ cầu an được vị thần chỉ cách vẽ tên và rắc vôi bột như trên, từ đó, bệnh dịch và tà ma biến mất ; vì theo vị thần vôi bột tượng trưng cho đất Phật, ma quỉ không dám bén mảng tới.

Lo cho người sống đã nhiều, bây giờ quay sang người đã khuất. Tết đến cũng là dịp để con cháu kính nhớ ông bà, tổ tiên, nguồn cội của mình. 29 hoặc 30 tết, thiên hạ đem vàng, hương, hoa, nến đến, vun đắp lại phần mộ, khấn vái tổ phụ, xin ông bà phù hộ gia đình, về... vui chơi với con cháu trong ba bữa tết!


LỄ GIAO THỪA, HÁI LỘC
HƯƠNG LỘC, XÔNG NHÀ.

Lễ giao thừa diễn ra đúng vào 12 giờ đêm 30 tháng chạp. Đó là giây phút thiêng liêng nhất, tống cựu nghinh tân, bao nhiêu cái cũ, cái xui, cái bê bối phải quên hết, đá nó ra khỏi cửa để mời đón năm mới với tràn trề hy vọng ; năm mới tốt đẹp và mọi sự đều mới. Lễ Giao thừ còn có tên là lễ Trừ tịch. Tại tư gia, người ta bày hương án ở giữa sân, đồ lễ gồm bánh chưng, rượu, trầu, vàng, hương. Gia chủ là người đại diện cúng bái, ai nấy nghiêm túc, quần áo chỉnh tề.

Hồi trước "tết con khỉ phải gió" (1968), sau khi cúng xong, người ta đốt pháo tưng bừng, tiếng pháo làm rung chuyển cả lối xóm và có khi thiêu rụi cả nhà cửa nhân dịp tết. Nhưng cái xui ấy người ta sợ thì nhiều mà xảy đến rất hiếm. Dù sao tiếng pháo làm tăng sự hân hoan, lại trừ được ma quỉ. Người ta đốt pháo đuổi quỉ, hay mượn tiếng đuổi quỉ để được đốt pháo cho khoái thì không biết.

Trong khi đó ở khắp các chùa, đình, miếu, nhà thờ... đều có tổ chức lễ Trừ tịch, hương khói ngất trời, người đông như nêm cối, bánh trái chất thành từng đống... Người ta tới đây để cầu lễ, xin Thượng đế phù hộ cho bản thân, gia đình, tổ quốc được hưởng một năm mới may mắn, an bình, thịnh vượng.

Trên đường trở về nhà, người ta thường hái một cành hoa, cành lá đa, lá đề, hay cành si... về gài trước cửa, có khi cắm vào bình hương, gọi là hái lộc. Hái lộc là có ý xin ơn phước, sự giàu có của Trời đất.

Lại có người, trong lúc xuất hành đi lễ, thay vì hái cành lộc, lại xin lộc bằng cách đốt một nén hương hào (lớn) hoặc một bó hương nhỏ đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm tại bàn thờ gia tiên hoặc bàn thờ thổ công. Ngọn lửa mang từ các nơi thờ tự về tượng trưng cho sự phát đạt. Nếu trong khi đang di chuyển về nhà mà gặp gió, nắm hương bốc cháy, đó là điềm báo trước sự may mắn quanh năm. Những người theo Thiên Chúa giáo thì đặc biệt không xin lộc bằng cách này.

Xông nhà tức là vào nhà một người hay tự mình vào nhà mình trước nhất, tính từ sau giao thừa. Người ta thường hẹn một người bạn thân thiết tốt vía, sáng sớm mùng một Tết đến xông nhà. Người tốt vía sẽ mang sự dễ dàng, may mắn lại cho gia đình. Mà dù ai đến xông nhà, cũng thường đốt một tràng pháo để đón sự tốt lành đầu năm. Xác pháo đỏ, hồng phơi đầy sân, đầy nhà, tượng trưng cho sự vui vẻ.


NGÀY NGUYÊN ĐÁN

Sáng mùng một tết, nếu ở nhà quê, tại đình, các vị chức sắc, các nhân viên trong hội đồng kỳ mục cùng tề tựu làm lễ đức Thành Hoàng vị thần của mỗi làng sau đó chúc tết ông Tiên chỉ và chúc tết lẫn nhau.

Tại mỗi gia đình, con cháu chúc tuổi ông bà, cha mẹ. Có khi còn quì lạy các ngài nữa, đó là các gia đình nho phong lối cũ. Các cụ nhận lễ tết và lời chúc tụng của con cháu xong, liền hân hoan chúc tết lại con cháu những điều tốt đẹp. Con cháu lễ tết các cụ, thì các cụ cũng lì xì cho con cháu, mừng thêm tuổi khôn, tuổi thọ. Lì xì là tên gọi ở miền Nam, mừng tuổi là tên gọi ở miền Bắc... Tiền lì xì đầu năm thường được bỏ trong phong bao đỏ và thường được giữ cất đi làm điều may mắn.

Các vị Nho học, các ông đồ, nhân dịp tết hay có lệ chọn ngày giờ tốt để khai bút. Các ông làm một bài thơ hoặc viết một câu đối. Thơ hoặc câu đối này, làm xong có khách tới lễ tết, hoặc thân hữu tới thăm các ông đọc cho nghe hoặc ngâm vịnh. Tiện đây xin ghi một vài câu đối điển hình:

Môn đa khách đáo thiên tài đáo
Gia hữu nhân lai vạn vật lai

hay:

Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường

Tổ tôn công đức thiên niên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương

Tân niên hạnh phúc bình an tiến
Xuân nhật vinh hoa phú quý lai.

Tại các làng quê và cả thành thị, người đi gánh nước về chứa đầy các hồ, thùng, chum, vại ở nhà và tin rằng làm như thế, quanh năm tiền của, lợi lộc sẽ vào như nước.

Cũng trong ngày nguyên đán, người ta thường kiêng quét nhà, tránh nói những điều quái gở tục tằn (khỉ, chết, đau, bệnh tật...), người ta cũng kiêng mặc quần áo trắng... tất cả sợ giông gặp sự không may cả năm. Nếu nhà cửa có bẩn cũng chỉ dám quét sơ qua rồi dồn rác vào một góc nhà, đợi ba hôm động thổ rồi mới dám hốt đi. Đổ rác đầu năm là đổ đi mất Thần Tài...

Thưa các bạn, tục lệ về Xuân tại Việt Nam còn rất nhiều và đa số cổ truyền, kể không biết đến bao giờ mới hết. Có tục lệ nay còn thịnh hành, có tục lệ nay coi như bãi bỏ, nhưng tất cả đều nói lên cái dân tộc tính trọng lễ nghi, kính nguồn cội và luôn luôn hiền hòa sống tin tưởng của người Việt... Tết là dịp để đặt hy vọng mới, khởi sự những công trình, những bước đường xây dựng mới. Những tục chơi cành đào, tỉa mai, gọt thủy tiên, treo tranh tết đã nói lên tâm hồn rất nghệ sĩ của dân tộc. Chúng tôi thiết tưởng mỗi khi xuân đến, tìm hiểu các tục lệ cổ truyền, chính là giây phút chúng ta hồi tưởng để trở về nguồn và để biết rõ hơn cái dân tộc tính của người mình vậy.


THÁI BẮC       
Xuân Nhâm Tý 1972 


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông Xuân Nhâm Tý, 1972)

Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Tết Nghèo

Buổi học tất niên kết thúc bằng muôn vạn tiếng ca lời hát, câu chúc và những tấm thiếp hoa lá đầy những lời thương mến cho nhau. 

Tôi vui vẻ xách hành trang, mang theo cả một mùa xuân hoa nở về làng.

Cảnh vật bên đường vẫn như thế. Khi tôi ra đi thì trời vào thu buồn và hơi lạnh. Mạ non mới mọc, cành cây trơ nhánh, hai bên đường đầy xác lá vàng đưa tiễn, thân chúc một niên học được kết quả mỹ mãn và hẹn ngày tái ngộ lúc đông qua.

Ngày trở về là mùa xuân, vẫn như khi ra đi, nhưng trời xanh cao có đầy nắng ấm và chim hót. Lúa đã gặt, hai bên đường không còn xác lá vàng tiếp đón như lời hứa hẹn, nhưng tràn đầy lá xanh non, ngàn chim và muôn hoa đón mừng. Con đường mòn thì như mòn hơn ra, khuất khúc và nên thơ giữa đôi hàng tre cũ, lá dài giao nhau.

Thảo Dương quê nội hiện ra trước nhất là cây cổ thụ như mọi làng khác, rồi hàng dừa xanh mát, thân cau từng đốt cao gầy. Và óc quan sát chợt ngừng lại dưới chân cây cầu bắc ngang qua con sông vào xóm đã cạn nước. Một đứa trẻ xăn áo, xăn quần mò gì dưới sông. Một thoáng buồn vắt qua bầu trời trong mắt, khi tôi thấy thân hình gầy gò, run run của đứa bé trong bộ đồ của những kẻ nghèo nàn nhất, tội nghiệp cho cô bé xa lạ cùng quê.

Người trong làng tôi gặp đầu tiên, là em bé nầy Có lẽ sang năm quê nội phải vất vả thiếu thốn tôi vu vơ nghĩ với nửa miệng cười Phải làm điều gì lấy hên trước khi vào cổng làng.

Tôi dừng bước, và chợt hiểu ra, em bé đó đang mò tôm, tép. Tôi khẽ hỏi, có lẽ hơi vô duyên:

- Mai tết rồi, sao em không về sửa soạn ăn tết?

Hình như có mồi, cô bé chăm chú đưa cái vợt, mặt không ngẩng lên, đáp:

- Lo kiếm ăn trước rồi mới lo tết sau.

- Nhưng giờ này bắt tôm tép bán, có ai mua.

Cô bé đổ chỗ tép vớt được vào giỏ, ngẩng lên nói:

- Có chớ, mấy bữa nay họ vẫn mua, mua để làm mắm, mấy ngày tết nghỉ đâu có tôm tép mà mua.

À... ra thế, tôi gật gù. Và hỏi qua chuyện khác:

- Chắc em người làng này?

- Dạ.

- Em con thứ mấy?

- Dạ em là chị cả của năm đứa em. Nhà đã nghèo mà ba em lại vừa mất...

Cô bé chợt dừng lại, đưa mắt nhìn tôi dò hỏi. Để em khỏi thắc mắc, tôi vội nói:

- Chị học ở tỉnh và về quê ăn tết, có lẽ nhà chị với nhà em quen nhau vì cùng làng.

Cô bé cúi xuống và kéo vợt lên, kỳ này chỉ có vài con tôm.

Tôi chợt nảy ra một ý định, vội gọi cô bé:

- Em này...

rồi rụt rè:

- Chị về nhà ăn tết, có mang nhiều bánh quà cho các em của chị, nhưng có lẽ nhà chị cũng làm bánh nhiều rồi nên chị muốn cho em đem về để các em ăn được không?

Hơi do dự, cô bé dè dặt trả lời:

- Nhà em tuy nghèo, nhưng bà con trong làng mỗi người giúp một ít, nên cũng có chút đồ ăn tết, chứ không phải không.

Tôi mạnh dạn:

- Thì em cứ đem về cho các em. Mấy thứ nầy chị mua ở tỉnh, làng mình chắc không bán đâu. Em bằng lòng nhé?

Cô bé rụt rè trả lời:

- Nếu chị có lòng cho thì em xin nhận.

Thế là tôi mở va ly. Trao cho cô bé nào bánh, mứt, kẹo, cả toa xe lửa của thằng Hùng, đồ cậu Văn dặn đem về cho nó, con búp bê của bé Hạnh, đồ chị Châu gởi cho, và còn nhiều đồ chơi khác nữa.

Đứng nhìn cô bé nhảy chân sáo vào làng, tôi mỉm cười sung sướng.

- Thế nào sang năm cũng thi đậu trung học Tôi mang ý nghĩa "đền ơn của trời" kỳ cục đó vào làng.

Và, trước sự vui mừng, réo ầm lên đòi quà của các em, tôi cũng thoáng một chút hối tiếc, nhưng khi nhìn thấy những bộ quần áo đẹp đẽ, những chồng bánh chưng bày cao cả nửa thước, tôi thấy là mình làm việc đó không đáng tiếc một tí nào.

Và, để làm lành với cơn giận dỗi của hai em, tôi đành mang tất cả những tấm thiếp của các bạn tặng tôi cho chúng.

Để rồi tôi sung sướng tận hưởng những ngày Tết đầy đủ nhất nơi Thảo Dương quê nội.


Kiều Thanh    
( Đất Mẹ v.d.)   


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa Xuân Đinh Mùi, 1967)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>