Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

Thách Thức


Tôi đang ngồi đọc báo trong nhà, bỗng con Tuyến, cháu nội cô Ba tôi, chạy vào mếu máo mách:

- Chú Phương ơi, anh Thắng ảnh đánh Tuyến!

Tôi buông tờ báo, đứng lên:

- Cha chả, cái thằng ăn hiếp em há!... Thôi nín đi cưng, để chú xử tội nó.

Đoạn tôi bước ra ngoài tìm thằng Thắng. Thấy nó còn đứng trước sân, lấm lét nhìn vào, tôi quát:

- Thắng, vô đây!

Nó ngần ngại, coi bộ muốn bỏ chạy đi. Nhưng rồi, có lẽ liệu chắc khó thoát khỏi tay “già” chú có cặp giò sếu vườn nầy, nên nó ngoan ngoãn đi vào. Nó vừa đến gần, tôi lấy mặt hầm hầm, quắc mắt hỏi:

- Sao mầy đánh em, hả?

Nó bướng bỉnh nghênh mặt, trả lời một hơi:

- Ai biểu nó đạp mấy cục đạn đất của tui. Công người ta ra ruộng móc đất sét về, vò nắn cả buổi mệt thấy mồ, mới đem phơi, nó chạy ngang đạp dẹp đép hết trọi, tức hôn?...

Con Tuyến xen vào:

- Tại em hổng thấy mà, anh phơi ngay đường đi ai mà biết.

- Chỗ đó có nắng, tao phơi chứ sao. Con gái gì mà đi hổng coi trước coi sau, nhảy choi choi như con khỉ!

Tôi nạt:

- Thôi im! Kiếm chuyện rầy trở lại người ta để chạy tội hả?... Chuyện có thế cũng đánh em. Vậy mà mầy nói thương nó lắm đa!

Thắng cúi đầu, lặng thinh một lúc rồi nói:

- Tui đâu có muốn đánh nó…

Tôi cười:

- Không muốn đánh mà phát vào lưng người ta đau đến khóc được. Mầy nói nghe lạ quá!

Nó giải thích:

- Hồi đầu tui chỉ dọa nó thôi. Tui nói: “Tao vố mầy một bạt tai bi giờ”. Nó hổng sợ, còn nghinh nghinh bảo: “Ừ, ngon đánh đi, dám dữ!”. Tức quá, tui mới thụi đại nó đó chứ bộ.

Nghe xong, tôi quay sang la con Tuyến:

- Tuyến, đáng kiếp lắm! Sao thách nó chi vậy?

Giọng tôi biểu lộ cả một sự trách móc ghét giận, vì chính thật lòng tôi lúc ấy bỗng dưng tràn đầy bực tức. Con bé đã bị anh đánh còn thêm chú Phương rầy nữa, uất ức khóc òa lên. Nhìn cái miệng nhỏ mếu xệch, đôi mắt ướt nhòe của nó, lòng tôi dịu lại dần. Hơi hối hận, tôi đưa tay vuốt tóc nó, nhưng chẳng nói chi. Đầu óc tôi mải để đâu đâu, những chuyện xa xưa, những hồn ma cũ vụt hiện về trong tâm tưởng.

Tôi rầy con Tuyến không phải vì bênh thằng Thắng. Lâu nay tôi vẫn cưng nó hơn thằng anh nghịch ngợm của nó nhiều. Tôi gay gắt với nó, chỉ vì một nguyên nhân sâu xa đã ghi đậm vào hồn tôi một ấn tượng không tốt, đối với bất cứ một lời thách thức nào, của ai. Tôi vừa chợt nhớ đến Thảo, cô bạn gái nho nhỏ ngày thơ. Kỷ niệm ấu thời theo đó lại đến, khuấy động hồn tôi bao nỗi xót xa buồn giận.

*

Hồi đó tôi đâu tám chín tuổi, Thảo cũng xuýt xoát vậy. Nhà hai đứa ở gần, thường chơi đùa với nhau, thân lắm. Tôi chỉ có mình Thảo là bạn lối xóm – mẹ tôi không muốn tôi giao thiệp với tụi trẻ du côn quanh đấy – nên tôi dành trọn cảm tình cho Thảo. Tôi mến Thảo nhiều vì ưa tánh nết dịu hiền, và cũng vì cảm thương cảnh sống đáng buồn của bạn. Tuy còn bé tôi cũng nhận ra đời Thảo rất khổ, chịu lắm thiệt thòi, bất công.

Nhà Thảo không nghèo kém gì. Thảo có ba má đàng hoàng, và có cả em nữa. Sống trong một gia đình đầy đủ như vậy đúng lý Thảo được sung sướng mới phải, nhưng mà ngược lại : Thằng Phúc, em Thảo, được ba má tưng tiu nuông chiều bao nhiêu thì Thảo bị đối xử tệ bạc bấy nhiêu. Ba Thảo hờ hững với Thảo như người dưng không bằng. Má Thảo thì hở một chút là đánh đập, chửi bới Thảo, chẳng khác nào một bà mẹ ghẻ ác độc. Lâu lâu tôi lại nghe Thảo bị đòn. Đứng bên nhà mình, tôi hồi hộp nghe rõ tiếng Thảo khóc ré lên, xen lẫn tiếng dì Ba Cang, má Thảo, rít lên giận dữ. Thường là:

- Tại sao mầy bỏ đi chơi, không đưa võng em?

- Đồ bò, để em té vậy hả?

- Tao mượn xách có thùng nước mà cũng cằn nhằn cửi nhửi… Nầy, nầy… cho bỏ cái tật làm biếng…

Những lúc ấy tự nhiên tôi cảm thấy ghét giận cái dì Ba đó quá. Tại sao dì nỡ tàn nhẫn với con thế? Mẹ tôi không bao giờ đối xử với tôi như vậy. Những lần tôi phạm lỗi mẹ chỉ rầy rà khuyên bảo thôi. Song như vậy mà tôi sợ, cố gắng không làm mẹ phiền lòng nữa. Tôi nhớ, từ nhỏ tới lớn hình như tôi bị mẹ đánh đòn đâu có vài lần, và lần nặng nhứt là lần tôi bắt chước tụi trẻ trong xóm dùng lời tục tằn với chị tôi. Mẹ đánh chẳng nương tay, giận dữ bảo:

- Ở nhà nầy không có cái thứ ăn nói như vậy, nghe không!

Bị nếm đòn phen ấy, tôi khó quên được : Những lằn roi quất vào mình rát như xé thịt, đau điếng người đi. Tôi bị có mấy roi mà “tởn tới già”. Còn Thảo bị đòn liền xì chịu sao nổi?

Mà thật ra theo tôi thấy, Thảo có vô dụng lười biếng gì đâu? Hằng ngày Thảo phải giữ em, giúp đỡ lặt vặt cho ba má, còn gì nữa? Đành rằng đôi khi Thảo cũng phạm lỗi lầm, nhưng con nít làm sao tránh được điều đó.

Nhận thấy cảm tình của dì Ba, dượng Ba đối với Thảo có cái gì lạt lẽo làm sao ấy, có bận tôi hỏi mẹ:

- Mẹ, sao ba con Thảo coi bộ hổng thương nó, hổng để ý gì đến nó hết, còn má nó dữ với nó quá…

Mẹ gạt ngang:

- Thôi nè, con nít đừng tìm hiểu chuyện người lớn làm chi.

Không bỏ được sự tò mò, một hôm tôi hỏi ngay Thảo:

- Nè Thảo, phải dượng Ba, dì ba là ba má mầy thiệt không, sao mà… kỳ vậy?

Chúng tôi vẫn quen xưng hô mầy tao thế. Thảo có vẻ buồn, đáp:

- Ba tao thì tao hổng biết có phải thiệt hôn, chứ má tao thì tao chắc thiệt. Tao có thấy hình chụp má tao ẵm tao hồi nhỏ mà.

- À, hay ba má mầy là ba má ghẻ đó? Tao nghe người ta nói ba má ghẻ ghê lắm, hổng có thương con.

- Tao cũng hổng hiểu… Mà ba má ghẻ là ba má làm sao hả Phương?

- Ờ, là… thì… để bữa nào tao hỏi mẹ tao coi.

Quả thật thuở đó tôi không biết cha mẹ ruột, cha mẹ ghẻ là thế nào. Nhiều khi tôi có ý nghĩ buồn cười: Cha mẹ ruột là cha mẹ có nhiều ruột, cha mẹ ghẻ là cha mẹ có lắm… ghẻ!

Bấy giờ tôi đã đi học. Phần Thảo không nghe dì Ba nói chừng nào cho cắp sách đến trường. Thảo đi học ai coi giữ thằng Phúc? Tôi nghĩ đó là một điều may mắn cho Thảo, và ước sao được vậy. Ở nhà khỏe, đi học mệt nhiều : nào phải học bài, nào sợ thầy phạt, còn bị tụi bạn ăn hiếp nữa. Nhưng Thảo thì xem ra thích đi học lắm. Tôi hay đọc những bài ám đọc ở trường cho Thảo nghe để khoe tài. Thảo mê ghê, đòi tôi dạy lại, học thuộc lòng thôi. Thảo ưa nhất là bài “Con Cò”. Ngồi không, hai đứa thường đọc ăn rập với nhau:

“Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao!
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.”

Thảo còn năn nỉ tôi dạy học chữ nữa. Tôi cũng chẳng hẹp hòi gì mà từ chối. Vả lại, bỗng dưng được làm thầy giáo, còn chi khoái bằng. Hai đứa dắt nhau đến chỗ vắng, tôi kẻ chữ xuống mặt cát mà dạy Thảo đọc theo viết theo:

- i… đi học, u… đánh đu, ư… cái lư, ơ… quả mơ…


Thỉnh thoảng Thảo đọc hay viết sai, tôi bắt chước giọng ông thầy ở trong lớp, gắt:

- Chà, cái trò nầy dở quá, xè tay ra phạt hai khẻ, hột vịt!

Bị đánh, Thảo không khóc, mà lại cười vì thật ra tôi cũng không nỡ đánh mạnh. Hơn nữa phạt vạ trở nên vô ích với Thảo. Dù tôi không đánh, Thảo cũng tự cố gắng sửa chữa điểm sai lại. Có lúc tôi hỏi:

- Nè Thảo, mầy tính học chữ để làm gì chớ?

Thảo đáp:

- Thì để đọc nhựt trình hay học những bài ám đọc như mầy vậy. À, mấy bài mầy đọc, hay ghê nha!

Tôi nghĩ mà thầm phục sự siêng năng của Thảo. Tôi, hằng ngày đến trường có thầy chỉ dẫn đàng hoàng, tối về lại được mẹ kềm dạy thêm, nhưng tôi ngán chữ hơn ngán cơm nếp, đâu như Thảo vậy.

Tuy phải giữ em, giúp việc cho má, và gần như bị cấm đoán sự vui đùa, nhưng Thảo cũng cố tìm dịp gặp tôi thường để cùng bày trò chơi. Ấy là những lúc tôi nghỉ học, ba má Thảo đi vắng, hay thằng Phúc đã ngủ say. Tuy biết rủ Thảo đi chơi là hại Thảo – dì Ba bắt gặp thì Thảo phải đòn về tội bỏ nhà, bỏ em – song với lứa tuổi con nít đó, chúng tôi không thể dẹp bỏ sự chơi đùa đi được.

Thảo ưa chơi cất nhà chòi. Cô ta đi kiếm cây làm sườn. Còn tôi lén đánh cắp mấy tấm lá chằm dựng sau hè nhà mình đem lợp mái, vừng vách. Cái nhà làm xong, nhỏ như một cái hộp, chỉ vừa đủ hai đứa chui vào ngồi. Với hình dáng méo mó lạ lùng của nó, không biết nên gọi nó là cái nhà không, nhưng bấy giờ chúng tôi lại thấy đẹp, thích chí, mãn nguyện trước công trình xây cất của hai đứa nhiều. Thỉnh thoảng tôi quên lửng đang ngồi trong chòi vụt đứng dậy đi ra. Thế là, tôi đội luôn cả cái mái, cột kèo bị nhổ gốc, ngã xiêu xó hết trọi. Thảo la chói lói. Hai đứa lại phải mất công làm lại.

Có nhà rồi, Thảo đi nhặt lá cây hái hoa “nấu đồ ăn” bán cho tôi. Tôi xin được của mẹ mấy cái chung nhỏ, một lưỡi dao cùn cho Thảo làm vật dụng. Ở trong chòi sửa soạn “hàng quà” xong, Thảo cất tiếng trong trẻo rao:

- Ai ăn chè bột khoai đường cát hôn?...

Hoặc:

- Mại vô mại vô, bánh bò nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây!

Tôi đi ngang, dừng lại hỏi:

- Có ngon không mà rao om sòm đó thiếm?

- À, ông Hai, ngon lắm chứ, ông dùng thử thì biết.

Tôi ngồi xuống:

- Đâu múc cho tôi một tô coi nào.

Chúng tôi sống rất thật với cảnh mua bán giả đó. Tiếp lấy tô chè – toàn bằng hoa lá – Thảo trao, tôi vừa giả bộ ăn, vừa cằn nhằn:

- Thiếm nầy, bán cái gì mà mắc đắng!

- Chè ngon mà ông Hai. Lúc nầy đường cát lại lên giá, tôi phải bán mắc một chút để kiếm lời chớ sao.

Nhiều khi đang giữa cuộc chơi, bỗng nghe thằng Phúc khóc ré trong nhà, hay tiếng dì Ba réo gọi, Thảo hoảng hốt vất cả chén bát, bỏ chạy đi. Còn một mình tôi ngồi ngơ ngác như “ngỗng đực”.

Một hôm tôi bày thêm một trò chơi mới. Học được cách xếp tàu ghe bằng giấy của mấy đứa bạn trong lớp, tôi về xếp ngay hai chiếc ghe thiệt đẹp, có lợp mui, có vẽ con mắt đằng trước mũi. Tôi gò gẫm viết lên hông từng chiếc những chữ to : “Của Phương”, “Của Thảo”. Đoạn tôi đem chiếc “Của Thảo” tặng cho cô bạn. Thảo thích thú nhận lãnh, trầm trồ khen ngợi hoài khiến tôi sướng phổng mũi. Thảo hỏi:

- Sao chiếc ghe cũng có con mắt ha?

Tôi giải thích:

- Tao nghe mẹ tao nói thì hồi xưa ở dưới sông có cá sấu cá mập nhiều lắm, người ta phải vẽ mắt cho ghe để chúng tưởng con quái gì hổng dám lại gần… Mà có con mắt, chiếc ghe coi ngộ ghê chứ hén?

Thảo gật gù:

- Ờ, ngộ thiệt!

Tôi rủ Thảo đem thả ghe ngoài ao trước sân nhà tôi – Cái ao nhỏ ấy ngày nay đã cạn mất rồi – Tôi lấy xà bông gắn sau lái ghe. Thả xuống nước, xà bông tan đẩy ghe chạy tới như có máy vậy. Đứng ven bờ nhìn ghe chạy, chúng tôi vỗ tay reo hò như cổ võ. Chợt, Thảo nói:

- Ghe “Của Phương” chạy chậm hơn ghe “Của Thảo”, ê!...

Quả nhiên tôi cũng nhận thấy điều đó và đang tức bực đây : Ghe mình cho người ta lại tốt hơn ghe của mình. Đã vậy người ta còn ngạo mình nữa, ghét chưa! Tôi cãi:

- Ê, tại ghe “Của Phương” chưa xả hết ga.

- Chứ không phải nó liệt máy? Coi kìa, nó chạy rề rề như miếng giấy trôi!...

Tôi đổi giọng:

- Thôi, đừng có làm tàng nghe mậy!

Thảo nguýt:

- Làm tàng cái gì? Có mầy nói hổng lại rồi nổi cộc đó.

Tôi bốc giận, cung tay:

- Ừ, tao cộc rồi mầy làm gì tao? Nói lớ quớ tao xô xuống mương bây giờ.

Thảo hất mặt, trề môi, xê mình lại gần tôi:

- Giỏi xô đi, dám xô dữ à!

Đôi khi hai đứa gây lộn, Thảo cũng ưa thách thức như thế, tôi chịu thua không làm gì. Nhưng hôm ấy, bỗng dưng tôi nóng giận lạ, thấy vẻ mặt khinh khỉnh của Thảo đáng ghét vô cùng. Thình lình, tôi đưa hai tay đẩy mạnh Thảo xuống ao. Chỉ nghe Thảo thét lên một tiếng kinh hoàng. Tiếp đó, một tiếng “ùm”, nước văng tóe vào mặt tôi.

Cái ao không sâu lắm, nhưng đủ làm chết hụt những đứa trẻ cỡ như tôi và Thảo. Tôi thấy Thảo chìm sâu dưới mặt nước, rồi trồi lên, quạt tay chới với, cứ há miệng toan la, nước lại tràn vào òng ọc. Bấy giờ tôi mới hoảng hốt, kêu to lên:

- Mẹ ơi, mẹ!

Mẹ tôi đang ở trong nhà, không kịp mang guốc, tức tốc chạy ra:

- Cái gì vậy?

- Con Thảo té mương!

Bước vội lại bờ ao, mẹ cúi xuống vớ lấy tay Thảo kéo lên. Cô bé ướt loi ngoi, đứng run rẩy, mặt xanh chành còn in rõ nét hãi hùng cùng tột. Sau khi hoàn hồn, Thảo vụt khóc òa, rồi bỏ chạy về nhà mình luôn.

Mẹ tôi nhìn theo, hỏi:

- Sao nó lại té vậy Phương?

Tôi cúi đầu, ngập ngừng đáp:

- Dạ… tại… con xô nó!...

Mẹ trợn mắt:

- Mầy xô nó?,,, Chơi ác vậy hả Phương?

Đoạn mẹ phát vào mông tôi, lôi vào nhà:

- Tội nặng lắm! Tao phạt mầy năm ngày không được đi chơi!

Tôi lặng thinh, lòng hối hận hết sức. Giả thử mẹ phạt tôi mười ngày hay đánh tôi cả chục roi đi nữa, tôi cũng chẳng than van. Tôi tự trách mình sao đang tâm hành động thế ấy. Đã rồi, tôi lại giận Thảo : Một phần cũng tại nó. Bị mình dọa, sao nó không làm mặt giận hờn, bỏ về nhà, “xả” mình ra, có phải mình sẽ xuống nước xin lỗi nó không? Nó lại thách đố nầy nọ làm chi cho nên nỗi.

Tôi đang ngồi cú rũ trong góc nhà để mặc ăn năn xấu hổ dày vò, bỗng nghe Thảo khóc thét lên, cùng tiếng dì Ba mắng chửi vang rõ bên kia. Chắc rằng thấy Thảo chạy về với thân hình ướt đẫm, dì Ba đã hạch hỏi và đánh mắng nó. Nghe tiếng khóc của Thảo tôi càng xốn xang trong bụng. Chợt mẹ tôi từ dưới bếp bước lên, lại nắm tay tôi lôi đi:

- Theo tao, mau!

Tim tôi đập thình thịch, chưa biết mẹ có ý gì thì người đã kéo tôi vào nhà Thảo. Dì Ba đang vũ động con roi, dừng lại, nhìn mẹ tôi dò hỏi. Mẹ đẩy tôi về phía dì:

- Xin chị tha cho con Thảo, chỉ thằng nầy mới đáng tội, làm ơn đánh nó giùm tôi!

Tôi run rẩy thụt lùi lại. Sẵn ghét sợ dì  Ba, tôi càng kinh hãi hơn.  Trời ơi, với bàn tay đó, con roi mây đó mà quất vào mình một cái thì chết mất! Nhưng may thay, dì không làm theo lời mẹ tôi, lại lộ vẻ ngạc nhiên, hỏi:

- Chị nói gì tôi không hiểu? Sao chuyện con Thảo lại dính dáng đến thằng Phương nữa?

- Ủa, thế chị không biết à? Thằng Phương đã xô con Thảo xuống mương…

- Vậy sao? Con Thảo nó nói với tôi là đi trật chân té, chứ ai dè.

Tôi liếc nhìn Thảo đang đứng nép trong cánh cửa khóc thút thít, lòng rạt rào cảm mến. Thảo đã không khai tội tôi ra! Tại sao?

Mẹ tôi hỏi:

- Chị Ba, chị xử tội thằng khốn nầy đi chứ!

Dì Ba khẽ cười:

- Ối, chị dắt cháu về đi. Tôi đánh con Thảo thật ra chỉ vì tội nó bỏ nhà đi chơi không coi em đó. Cháu Phương, từ nay đứng chơi dại vậy nữa, nghe.

Mẹ tôi nạt:

- Phương, còn đứng trơ đó à, không lại xin lỗi, cám ơn dì Ba tha tội cho, còn chờ gì?

Tôi lật đật vâng theo, bước lại gần dì khoanh tay, cúi đầu thật thấp nói lí nhí mấy lời cám ơn, xin lỗi. Tôi thật không ngờ dì ác với Thảo mà rộng lượng với tôi thế.

Từ bữa đó tôi không được gặp Thảo. Tôi bị mẹ phạt không được ra khỏi nhà. Còn Thảo cũng chẳng thấy đi đâu. Không biết cô bạn nhỏ của tôi có giận tôi lắm không? Tôi mong có dịp xin lỗi riêng Thảo mới yên lòng. Nghĩ cũng kỳ, tôi phạm lỗi mà Thảo bị đòn. Rồi đáng lẽ phải xin lỗi Thảo, tôi lại bắt buộc xin lỗi dì Ba!

Ba ngày trôi qua, buồn ơi là buồn! Đi học về, lại phải lấy sách ra học, đem cửu chương ra nhẩm, ở miết trong nhà, tôi thấy bực bội khó chịu khác nào một con nai tơ bị buộc cẳng. Sân cỏ trải rộng trước nhà, căn chòi còn đứng nép dưới gốc mận bên mấy bụi hoa kia, thế giới diễm ảo của tôi và Thảo còn mở ra đó, nhưng hai đứa vì đâu ngày ngày không còn dắt tay nhau bước vào nữa vậy? Tay cầm quyển sách, miệng lẩm bẩm đọc, song tôi không ghi được chữ nào vô óc. Trước kia tôi học rất chóng thuộc bài, học rút để đi chơi chứ. Nhưng mấy ngày nầy, không hy vọng có chuyện đi chơi, tự nhiên tôi học tới đâu quên tới đó. Thật ra, tôi có chăm chú vào bài vở đâu. Tôi mải nghĩ:

- Chà, mấy hôm trước, giờ nầy mình với con Thảo đang ở ngoài chòi đây.

- Phải chi mình được dông ra sân chạy nhảy một hồi cho đã thì khoái biết mấy!

Ngày phạt thứ tư, xế chiều, thấy mẹ mắc bận dưới bếp, tôi vứt tập, chạy ra trước hàng ba ngồi ngó mông ra lộ xem người đi cho đỡ buồn. Chợt nhìn sang nhà Thảo, tôi bắt gặp Thảo đang lui cui nhổ cỏ trước sân. Ngập ngừng suy tính một lúc, tôi quyết định sang xin lỗi bạn. Bước nhẹ đến bên Thảo, tôi gọi khẽ:

- Thảo!

Thảo liếc nhìn tôi rồi lại cúi đầu, lặng thinh bứt cỏ. Tôi ngồi xuống một bên:

- Mầy còn giận tao lắm sao? Tao biết lỗi của tao nặng lắm, nhưng mầy tha cho tao một lần đi nhen. Từ nay tao không dữ với mầy nữa.

Thấy Thảo không lay chuyển, tôi tiếp:

- Mầy bỏ giận, tao xếp cho mầy hai ba chiếc ghe, hai ba chiếc tàu, xếp đầu lân nữa… Ngộ lắm Thảo ơi!

Bấy giờ Thảo mới vùng vằng thốt:

- Thôi đi, mầy làm bộ cho tao, rồi của tao tốt hơn mầy, mầy lại tức gây lộn, xô tao nữa, tao hổng thèm đâu!

Thảo đã mở miệng, một điều đáng mừng. Tôi nói:

- Không đâu, chuyến nầy nhứt định tao hổng có xấu vậy. Nếu tao xấu mầy nghỉ chơi tao luôn.

- Thiệt hôn?

Câu hỏi gián tiếp chấp nhận. Tôi vui mừng đáp:

- Thiệt mà!... À, hôm mầy bị đòn có đau lắm không?

- Sao không?

- Tao xè tay nè, mầy đánh lại tao trừ.


Thảo mỉm cười vỗ vào tay tôi, bảo:

- Đó, cho chừa nghe! Thôi về đi, để tao nhổ sạch mấy cọng cỏ nầy. Bằng không má tao ra thấy chưa xong lại bị mắng.

- Ừ, tao cũng phải về ngay. Mẹ tao phạt tao không được ra khỏi nhà. Tao đi như vầy bả thấy rầy chết.

Và rồi, tôi với Thảo lại hòa, chơi như cũ. Tuổi nhỏ dễ giận, chóng quên là thế. Tình thân giữa hai đứa còn có phần khắng khít hơn xưa, vì tôi đã cố chiều chuộng, nhường nhịn Thảo để chuộc lại những lỗi lầm đã tạo.

Tôi những tưởng tình bạn của hai đứa sẽ không bao giờ rời rã. Thằng Phương và nhỏ Thảo sẽ được ở gần nhau, vui đùa có nhau mãi vậy. Nhưng, mấy ai đoán trước được sự đổi thay đột ngột ở đời. Một hôm tôi vừa đi học về, mẹ tôi báo ngay cho tôi biết : cả gia đình Thảo vừa dọn đi phương xa, nhà bán lại người khác. Nghe qua tôi bàng hoàng cả dạ. Bực tức, giận dỗi, nuối tiếc xáo trộn, tôi như vừa đánh mất một cái gì quí báu. Thôi hết, Thảo đã rời xa tôi mất hút đi rồi! Biết đến bao giờ hai đứa mới gặp lại? Hình bóng cô bạn nho nhỏ đó từ đây tôi muốn tìm họa chăng chỉ lần trong ký ức. Còn chi xót xa bằng, hai đứa chia tay xa nhau mãi mãi mà không một lời tiễn biệt?

Suốt mấy hôm, tôi nhớ Thảo. Thơ thẩn tìm đến những nơi hai đứa họp mặt thường ngày, tôi đứng lặng một mình, nghe lòng trơ trọi, buồn chán làm sao! Hoa nở rộ bên rào kia, nhưng không có Thảo cùng lo trang hoàng căn chòi thì hái để làm gì. Trong chòi, chén bát đồ chơi còn ngổn ngang đó, mà bàn tay xinh xắn vén khéo của “cô hàng” đã biến mất tận đâu? Ô, cảnh sao mà buồn vậy?

Từ đấy tôi không còn gặp Thảo. Nhưng nếu chuyện chỉ có thế, chắc bé Tuyến không bị tôi rầy, tính thách đố không đến nỗi bị tôi “lên án”. Đâu năm sáu năm sau, sự buồn thương luyến nhớ của tôi đối với Thảo đã chìm dần vào quên lãng. Tôi quên phức Thảo, đến nỗi muốn gợi lại hình ảnh của cô bạn thân nầy, cũng khó lòng hình dung được. Thời gian thật tàn nhẫn, nó cứ chực xóa đi tất cả những gì mình đã ghi vào hồn trong tuổi ấu thơ. Trừ cái kỷ niệm xô Thảo xuống ao, những chuyện khác liên quan giữa tôi và Thảo, tôi chỉ nhớ mang máng, còn lãng quên không buồn ngẫm lại. Chính lúc ấy thì tên của Thảo được nhắc đến, và đã gieo thêm cho tôi một sự đau lòng.

Một chiều, chợt có bạn thân của mẹ tôi là cô Tư Liên ghé qua nhà. Trước kia cô cũng ở trong xóm, sau khi buôn bán xa, bẵng đi một dạo, nay mới có dịp trở về đây ghé thăm mẹ tôi luôn thể. Gặp tôi, cô vui vẻ hỏi:

- Thằng Phương đây hả? Cha, mới ngày nào còn khóc lè nhè nhõng nhẽo mẹ, đòi khúc mía củ khoai om, mà nay lớn đại. Mau thiệt há!

Rồi cô nói huyên thuyên, chuyện xưa tiếp đến chuyện nay, đem ra kể cả dọc. Tính cô vẫn vậy, ăn nói hoạt bát lắm, nên buôn bán dễ dàng cũng phải. Đang thuật chuyện đi đó đi đây bỗng cô hỏi mẹ tôi một câu khiến tôi chú ý:

- Nầy, chị còn nhớ chị Ba Cang hồi trước nhà ở kế đây không?

Dì Ba Cang, chính má Thảo! Mẹ tôi nói:

- Nhớ chứ. Hiện giờ chỉ ở đâu, làm nghề gì?

- Tôi gặp chỉ ở dưới Bình Đại. Hai vợ chồng mở tiệm hàng xén, làm ăn coi bộ cũng khá.

- Mấy đứa con của chỉ chắc cũng mạnh?

Mẹ tôi hỏi chính câu tôi mong. Cô Tư đáp:

- Chị hỏi tôi mới nhớ. Hiện chị ấy chỉ còn cậu con trai. Đứa con gái, con Thảo con Thiết gì đó, chết lâu rồi…

- Thảo chết! Sao vậy?

Mẹ và tôi đồng kêu lên sửng sốt. Cô Tư tiếp lời:

- Theo chị Ba Cang thuật lại thì bữa nọ chị em nó dẫn nhau ra chơi ngoài cầu tàu. Rồi chẳng rõ cớ gì hai đứa lại sinh cãi vã. Thằng em dọa xô con chị xuống sông, con chị thách lại, thế là gây nên chuyện…

- Lúc con nhỏ té xuống sông không ai thấy sao?

- Cũng theo lời chỉ thì lúc ấy cầu vắng người. Hơn nữa phải chị có đi miệt Bình Đại hẳn biết, sông ở dưới lúc nước ròng, nước chảy xiết, sóng nhiều, bờ sông lại cao lắm, té xuống quả khó vớt.

Nghe xong tôi cúi đầu than thầm : lại cũng thách thức! Câu chuyện gây gỗ về hai chiếc thuyền giấy ngày xưa giữa tôi và Thảo vụt hiện đến với tôi. Sao nó trùng hợp với chuyện cô Tư Liên vừa thuật thế? Nhưng, trong khi kết quả lời thách thức của Thảo trong vụ đó chẳng có gì, thì kết quả lời thách thức sau nầy thật bi đát quá. Tôi không bao giờ có thể ngờ được.

Thách thức! Than ôi, thách thức! bắt đầu từ đó tôi căm thù những lời thách thức.


DẠ NHẤT PHƯƠNG   


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 48, ra ngày 1-7-1966)

Thứ Năm, 17 tháng 7, 2014

Những ngày hè


Thật là bực mình, khó chịu cho tôi với những ngày hè. Đây là thời gian mà bệnh nhức đầu của tôi sau một thời gian dài ngủ yên, chừ bỗng nổi dậy đùng đùng hành hạ một “nạn nhân khó tính”. Vâng! Thưa bạn, “nạn nhân khó tính” đó chính là tôi – “Nữ chúa” của một bọn nhóc gồm mười đứa: lớn, bé đủ cỡ, trai, gái đều có mặt. Lực lượng con gái thật hùng hậu chiếm tới bảy mạng, còn con trai chỉ loe que ba tên mà tên nào cũng xứng đáng đại diện cho hãng tăm tre Việt Nam, chẳng bù cho bọn con gái chúng tôi – đứa nào trông cũng “phì nhiêu” cả. Nói ra thật xấu hổ chớ thật tình chẳng bao giờ tôi thích làm “nữ chúa” cả (nghe nó làm sao ấy!). Bọn nhóc bầu cho tôi đấy ạ (có lẽ tại tôi có tánh “chằn”). Nghe chúng tán mãi – nào “Chị Tư “hiền thục” nhất nhà, xứng đáng điều khiển bọn em”, nào “Chị Tư mà làm nữ chúa trông “hách” lắm” v.v… và v.v… Trời ơi! Tụi nhóc nói ngọt như đường làm tôi xiêu lòng chớ chức “nữ chúa” ấy tôi mà ham gì. Con gái mà làm “Nữ chúa” ai dám “rước” về bạn nhỉ? (ấy là lời mẹ tôi “mắng yêu” đấy nhé!)

Bây giờ trở lại bệnh nhức đầu của tôi. Nguyên nhân chẳng phải mất công tìm kiếm đâu xa. Nó ở rất gần tôi, bên tôi và xung quanh tôi. Xin thưa: lũ nhóc nhà tôi đấy bạn ạ! Trường chúng vừa đóng cửa nghỉ hè là y như nhà tôi có… loạn. Loạn giữa trưa, loạn buổi sáng và loạn cả vào buổi tối nữa. Loạn cả ngày, thế mà vẫn có chuyện xảy ra làm tôi cứ ngỡ là “chuyện lạ bốn phương” không bằng. Chuyện như thế này: một hôm mẹ tôi vừa đi chợ về, lũ nhóc đang bu quanh mẹ tranh quà (dĩ nhiên có mặt tôi nên tôi mới được chứng kiến “chuyện lạ bốn phương” này). Bà Năm hàng xóm dắt cu Sơn – con út bà ta – vào năn nỉ với mẹ tôi:

- Bác cho tôi gởi cháu ở nhà bác cho nó chơi với các cháu đây. Nó nghịch và dữ quá, cho nó chơi chung với các cháu nhà bác may ra nó bắt chước các cháu đây mà bớt nghịch.

Rồi bà khen thêm để lấy lòng mẹ tôi:

- Thật cả xóm này ai cũng khen bác – con đông mà cả ngày không nghe lấy một tiếng. Các cháu ngoan quá!

Dĩ nhiên mẹ tôi bằng lòng ngay và sung sướng ghê lắm. Riêng tôi và lũ nhóc đứng ngẩn cả ra. Khi bà Năm chào mẹ tôi về rồi lũ nhóc được dịp ôm bụng cười rũ ra. Mẹ tôi phải mắng:

- Tụi bây thật lạ. Người ta khen không thích sao mà đứng đó cười?

Con Hương cố nín cười nói:

- Thật tội nghiệp bác Năm! Bọn nhóc nhà mình nghịch phá như giặc mà bác ấy cứ ngỡ…

Rồi nó lại cười rũ ra. Thằng Tý lại bên cu Sơn thân mật:

- Mày đừng lo, cứ yên tâm ở đây chơi với tụi tao. Tụi tao sẽ huấn luyện cho mày thành một vị tướng tài ba.

Không biết cu Sơn có tin lời hứa của thằng Tý không. Chỉ biết đang từ bộ mặt “nai vàng ngơ ngác” cu Sơn nhoẻn miệng cười làm quen với thằng Tý trông “có duyên” tệ.

Sự có mặt của cu Sơn không thêm gánh nặng cho tôi vì hắn chỉ tới chơi ngoài giờ ăn và giờ ngủ. Nhưng thấy lũ nhóc nhà tôi “đồng bệnh” nghịch với hắn, thằng nhỏ thích chí quá và lũ nhóc nhà tôi cũng chịu cu Sơn vô cùng. Thật nản cho tôi. Thế này thì có lẽ tôi điên mất! Mấy tháng hè ở nhà chỉ mỗi việc “chăn” lũ nhóc thì chán thật. Sau nhiều đêm không ngủ (?) nằm suy nghĩ, tôi tìm ra được một biện pháp để tự “giải thoát” lấy – phải tìm một việc làm. Có việc làm tôi sẽ chỉ ở nhà một buổi, như thế cũng bớt nhức đầu nhiều. Đi làm tôi sẽ có tiền riêng tha hồ “hách xì xằng” với lũ nhóc, lâu lâu mua cho chúng cái bánh, chiếc kẹo hẳn chúng thích lắm. Hoặc giả tôi muốn mua quyển vở, cây bút khỏi xin bố mẹ, và thỉnh thoảng thêm vài viên ô mai, xí muội tôi khỏi “mè nheo” với mấy bà chị.

Dự định đi làm của tôi cũng gặp nhiều khó khăn. Đầu tiên là sự phản đối của bố mẹ tôi. Bố tôi bảo:

- Học hành cả một năm, nghỉ hè có một hai tháng con phải nghỉ ngơi để lấy sức sang năm mà học tiếp chứ.

Mẹ tôi thực tế hơn, mẹ nói với bố:

- Ấy, con gái mình nó muốn tránh việc nhà nên bày vẽ đòi đi làm. Bộ ở nhà giúp tôi đây, trông nom các em không phải làm việc sao?

Bạn phải biết – như tôi đây phải có ý chí ghê gớm lắm mới không nao núng trước câu nói của mẹ. Những lần trước giá nghe mẹ nói thế hẳn tôi “tự ái” ghê lắm. Nhưng lần này không, phải khéo léo mới được việc. Lúc này tôi phải tận dụng “ba tấc lưỡi” để thuyết phục mẹ:

- Con chỉ xin đi làm một buổi còn một buổi ở nhà giúp mẹ. Lúc này vật giá đắt đỏ, con đi làm có thêm chút tiền thêm vô tiền chợ của mẹ, cả nhà lại được ăn ngon. Các em có đòi quà bánh con mua cho chúng thế là chúng khỏi vòi mẹ. Hơn nữa nghỉ hè rảnh rang không đi làm phí thời giờ đi…

Lũ nhóc nãy giờ ngồi im theo dõi câu chuyện chưa có ý kiến nào. Nghe tôi nói xong hẳn trong đầu óc chúng hiện ra ý nghĩ – Thì ra “thiện chí” đi làm của chị Tư chỉ nhằm “phục vụ” bọn nhóc chúng mình. Thế thì phải ủng hộ mạnh chứ lỵ! Thế là tôi có đông đảo “đồng minh”. Kể ra tài “mè nheo”, nhõng nhẽo của tôi và lũ nhóc không đến nỗi dở lắm. Năn nỉ mãi bố mẹ tôi rồi cũng xiêu lòng. Người bắt tôi phải hứa chỉ tìm việc gì nhẹ và hợp với khả năng thôi. Dĩ nhiên tôi bằng lòng điều kiện dễ dàng này ngay chứ lỵ!

Khó khăn thứ hai là đi làm mà làm việc gì đây? Đầu tiên tôi phải tìm mua tờ báo nào có nhiều mục rao vặt, cần người nhất để theo dõi và… chờ đợi. Hơn một tuần, ngày nào cũng tốn tiền mua báo tôi vẫn chưa tìm được việc gì hợp với khả năng mình. Đã thế, lũ nhóc lại có dịp trêu tôi. Lâu lâu nhỏ Hoa ong óng cái mồm:

- Này, chị Tư! Ở đây cần người làm nè.

Rồi nó trịnh trọng đọc to cho cả nhà nghe: “Cần một em gái sạch sẽ, ngoan để giữ em. Lương tháng bốn ngàn…”

Tôi cáu lên:

- Có câm mồm lại không? Tao “từ” mặt mày ra, mai mốt đi làm có tiền đừng hòng tao cho một đồng…

Con nhỏ to gan thật – nó vẫn không sợ cứ ngồi cười khoe hàm răng “vô trật tự” của nó một cách “dễ thương”.

- Hì… hì… chị Tư rộng rãi thấy mồ. Chị Tư đâu cho một đồng ít rứa, chị Tư cho mười đồng cơ…

Việc tôi… chờ đợi rồi cũng đến. Một mẩu tin đăng cần người: cần một cô giáo kinh nghiệm, hiền, ngoan, yêu trẻ để kèm một em nhỏ. Hỏi số… đường… được chị em tôi mổ xẻ, phân tích kỹ lưỡng: Một cô giáo kinh nghiệm – Chết! Tao đã dạy ở đâu mô nờ mà kinh nghiệm với không kinh nghiệm – Thì chị cứ nói đại đã từng dạy nhiều nơi, ai biết được. Hiền – Tụi bây thấy tao có hiền không? – Có, hiền cỡ bà “chằn”. Ngoan? – Cũng tàm tạm. Yêu trẻ? – Điều này tao ngán nhất, một lũ em như chúng mày tao hết muốn yêu trẻ rồi. Một em nhỏ – mà em nhỏ bao nhiêu tuổi? Có nghịch phá như lũ nhóc không?

Bàn qua tính lại mãi cuối cùng tôi nhất định tới hỏi “thử”, biết đâu công việc lại chẳng hợp với tôi.

Lũ nhóc tiễn tôi “lên đường” với hy vọng tràn trề. Bé Hằng dặn:

- Xong việc mua quà cho em nghe.

Lũ nhóc nhao nhao:

- Mua cho em cây bút mực.

- Mua cho em quyển tập.

- Mua cho em cái cặp.

Tôi vừa dắt xe ra cổng vừa “mắng yêu” lũ nhóc:

- Chưa xin được việc tụi bây đã “trù” tao “sạt nghiệp” rồi.

Nhỏ Hương đòi đi theo nhưng tôi sợ nhỡ “có chuyện chi” không ổn nó về kể lại thì “quê” quá. Thế là tôi một mình một… xe trực chỉ đường T.M.G.

Tánh tôi ở nhà ưa làm hùm làm beo với lũ nhóc nhưng ra đường thì nhát như “thỏ đế”. Ngồi trước mặt bà chủ tôi khớp quá! Tôi hối hận – phải chi lúc nãy cho nhỏ Hương theo được việc hơn. Bà chủ xem ra cũng phúc hậu (ấy là tôi nhìn người đoán). Bà hỏi tôi:

- Cô đã dạy những nơi nào? Cô có đem giấy chứng nhận, cho tôi xem.

Tôi ấp úng:

- Cháu… không có… giấy… chứng…

Bà chau mày nhìn tôi hỏi tiếp:

- Trông cô còn nhỏ quá! Thế cô đã dạy nơi nào chưa?

Tôi buột miệng:

- Thưa bà chưa! … ý… ý… dạ rồi, dạ rồi ạ!

Tôi đọc được sự khó chịu trên mặt bà ta. Bà lớn giọng:

- Cô rắc rối quá, chưa rồi rồi. Tôi biết đằng nào mà tin. Tôi hỏi cô lần chót – Cô đã dạy nhiều năm chưa và dạy ở đâu?

Tự nhiên tôi nóng mặt và đâm ra lúng túng. Tôi quýnh lên:

- Tôi… dạy ở nhà, tôi dạy… mấy đứa nhỏ…

Sự tức giận làm mặt bà đỏ gay. Bà nói như mắng:

- Thôi cám ơn cô, mời cô về, ở đây chúng tôi chỉ cần những người kinh nghiệm.

Tôi lủi thủi dắt xe ra đường. Buồn ơi là buồn! Và tôi chực khóc. Giá nghe lời bố mẹ ở nhà có phải sướng thân hơn không. Việc gì tôi cũng ngỡ dễ dàng không ngờ thực tế khó khăn quá – tìm được một việc làm không phải dễ. Lúc đi hy vọng bao nhiêu lúc về hy vọng thành mây khói cả. Chả lẽ đem bộ mặt “đưa đám” về trình với lũ em, tôi tà tà chạy xe về tòa soạn T.H. chơi. Hy vọng không khí vui vẻ ở gia đình T.H. biến đổi bớt bộ mặt “đưa đám” của tôi. Giờ này ở nhà chắc lũ nhóc đang ăn cơm. Thấy tôi về trễ hẳn chúng có quyền hy vọng tôi còn bận đi mua… kẹo. Tôi đoán bữa ăn hôm nay của lũ nhóc phải sôi động lắm, vì hôm nay chúng đỡ nghe tôi cằn nhằn. Mọi lần ở nhà vào giờ cơm tôi rất cực mỗi khi gọi lũ nhóc xuống ăn cơm. Đứa ở lầu trước đứa ở lầu sau, đứa ở tuốt sân thượng. Gọi cho được tất là tôi khan cả giọng. Có đứa giả vờ không nghe để ngồi nán lại chơi thêm một chút. Lần nào tôi cũng phát cáu:

- Phải sắm cái trống để gọi chúng mày xuống ăn cơm. Mỗi ngày gọi ba lần, mỗi tháng vị chi tám mươi tư lần, rồi một năm, hai năm… còn chi là sức lực tao nữa…

- Vậy mà em có thấy chị sụt ký lô mô, mô nờ?

- Suỵt! Mi đừng nói rứa tội nghiệp chị Tư. Lúc này tao thấy “chỉ” còn “thịt bọc xương” không à…

Tự nhiên tôi bật cười với những ý nghĩ của lũ nhóc. Thiên hạ đi đường trố mắt nhìn tôi – chắc họ tưởng con bé này điên chắc?

*

Vừa về tới nhà đã thấy lũ nhóc ngồi đợi ở cổng. Chúng bàn chuyện gì mà nói to khiếp – chuyện đi làm của tôi chắc? May quá, lúc nãy tôi ghé tiệm đầu ngõ mua gói kẹo. Dù “thất bại”, có những chiếc kẹo xanh xanh, đỏ đỏ phát cho lũ nhóc cũng thấy vui. Vừa thấy tôi, chẳng biết đứa nào “dặn nhỏ” ở nhà lũ nhóc reo lên:

- Lạy cô ạ!

- Chúng em xin chào cô.

Tôi mỉm cười với lũ nhóc rồi giơ cao túi kẹo. Nỗi buồn lúc nãy cơ hồ đã tiêu tan. Tôi thấy lũ nhóc nhà tôi đáng yêu quá. Một ý nghĩ hiện ra trong đầu óc “mù mịt” của tôi – tại sao tôi không là “cô giáo” của lũ nhóc nhỉ? Những ngày hè của tôi sẽ không còn vô vị, chán nản. Tôi sẽ không thèm làm “nữ chúa” nữa. Tôi sẽ làm cô giáo, học trò của tôi là lũ nhóc dễ thương, và cả cu Sơn nữa. Bố mẹ hẳn hài lòng lắm. Ý nghĩ làm tim tôi reo vui. Chia kẹo xong tôi tung tăng vào nhà, theo sau tôi là một cái đuôi dài – lũ nhóc nhà tôi đấy bạn ạ!


Trần thị Hậu

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 181, ra ngày 15-7-1972)


Thứ Tư, 16 tháng 7, 2014

Mùa Trái Cây


Mùa hạ đến thật bất ngờ, chỉ qua vài cơn mưa đầu mùa tầm tã, mấy búp huệ nhô lên từ từ, vài ngày sau thì nở đỏ cả cây. Gốc phượng nhà bé đã nhú ra những búp non, vài cánh nở đỏ thẫm, mấy cánh phượng mẹ vẫn nói buổi trưa nhìn nhức cả đầu. Bé thì chẳng thấy khó chịu chi hết, còn thích nhìn vì mát mắt vô cùng. Những ngày hè bé thích ở lại xem các chị lớn tập văn nghệ nên tìm đủ mọi lý do để ở lại trường vào buổi trưa. Trưa hè, nằm trên thảm cỏ xanh mượt nhìn lên nền trời xanh, thật xanh; vài cánh phượng nổi bật đỏ chói. Bé thích cây phượng chi lạ. Hoa đẹp nè, búp hoa để bé chơi bán hàng nè, trái phượng ăn thật là ngon và ngày hè nóng bức cây phượng là bóng thật mát che phủ khắp nhà bé. Lúc bé còn học lớp ba đó, chị Hạnh lén mẹ trồng một gốc phượng và bây giờ thật lớn, nở đỏ cả khung trời nhà bé.

Mùa hè về thì vườn sầu riêng, dâu sau nhà bé cũng chín, hương sầu riêng ngan ngát. Giàn thiên lý thì xanh hơn, hoa bắt đầu nở, rủ rê những chú bọ ngựa bò tha thẩn trên giàn suốt cả ngày. Cây sầu riêng, thiên lý là của mẹ, mẹ chăm bón phân, săn sóc nên năm nào cũng ra thật nhiều trái. Chị Hạnh thường than mẹ sao trồng ngay cửa sổ phòng học làm chị, mỗi lần hè đến ngồi học bài bên cửa sổ mà mùi thơm cứ bay vào, làm răng mà học được! Ngồi học mà mấy chùm dâu chín mọng, sầu riêng thơm ngát quyến rũ bao tử vô cùng.

Một buổi trưa bé đang thiu thiu ngủ thì ngoài vườn tiếng ve bỗng vang lên inh ỏi. Bé ngồi nhỏm dậy lắng tai nghe, chắc ve mới đến vì mấy ngày qua bé đâu có nghe. Những cô ca sĩ tí hon ấy hát thật đúng và đều đặn, lúc thật lớn, thật cao rồi từ từ xuống thấp, bỗng dứt hẳn. Rồi đến lúc một cô cất giọng, cả bọn phụ họa theo nghe cũng thật vui tai. Bé thích quá nằm nghe mãi, nghĩ đến chú ve nhỏ, xinh xắn với đôi cánh trong suốt những đường gân xanh, đôi mắt cứng mà ngơ ngác. Bây giờ mà có một chú nhỏ cầm trong tay, nghe chú hát mãi thì thú biết mấy. Bé ngồi dậy rón rén bước ra trước, thằng Tí đang đọc truyện. Bé gọi nó:

- Tí, ra vườn bắt ve với chị nghe, Tí!

- Thôi em không đi đâu, ba đánh chết!

Bé thuyết phục nó:

- Sao mẹ biết được, mẹ ngủ rồi mà, đi với chị Tí nhé!

Nó cáu, gạt tay bé:

- Thôi, không đi đâu hết…

Bé tức mình quá, thằng nhỏ khó chịu thật. Thế thì đi một mình vậy, nhưng bé vẫn nói cho nó tức chơi:

- Không đi thì thôi, ai cần. Người ta ra vườn hái măng cụt, hái dâu ăn!

Thằng nhỏ nghe bé nói thế, vội vàng bỏ sách xuống, năn nỉ đòi theo. Bé phì cười.

Hai đứa rón rén mở cửa sau ra ngoài. Thằng Tí nhắc ghế trèo lên mở cổng vườn. Chả là ba sợ hai đứa lén ra vườn trèo cây nên rào kỹ như thế. Thằng Tí mới học lớp nhì mà gan ghê, tuần trước lén trèo rào hái dâu, bị ba đánh một trận. Bé là chị, chỉ hơn nó hai tuổi nhưng nhát như cáy, chuyện chi cũng nhờ Tí.

Vườn thật rộng, mát rượi; ánh nắng mặt trời không thể nào soi thủng tàn lá dầy, rậm đó nên khu vườn mát vô cùng. Cách vài cây lại có một mương nhỏ. Ngày xưa lúc chưa đến mùa trái cây, ba cho hai đứa tự do ra vườn. Bé hay rủ con Ly vô vườn kiếm mấy cánh hoa tim tím, vàng vàng chơi bán hàng.

Thằng Tí cầm cây sào một đầu buộc với cái bọc nhỏ. Nó nhẹ nhàng trèo lên một cây măng cụt, ve đang kêu ran bỗng im bặt. Bé hồi hộp nhìn lên. Một chú ve đang nằm im như ngủ say lắm, cái bọc từ từ đến và chụp vào, chú ve tỉnh hẳn vội vàng bay đi, lại kêu rầm rĩ như báo động làm mấy con khác kêu ầm lên.
 
Hơn năm lần như thế, thằng Tí mới bắt được một chú. Bé thích quá, bỏ chú vào túi áo. Thằng Tí trèo lên hái dâu, măng cụt xuống. Hai đứa ngồi ăn dưới gốc cây. Măng cụt ngọt quá, múi trắng trong bỏ vào miệng ngọt ơi là ngọt. Dâu nữa chứ, dâu tròn ăn cũng ngọt ghê. Chưa bao giờ bé được ăn nhiều thế, mỗi ngày mẹ chỉ cho mỗi đứa ăn vài trái chả thấm vào đâu. Hai chị em cắm cúi ăn. Bé ăn nhiều quá, bụng nằng nặng đầy những trái cây.

Chiều đến, bé bỗng thấy đau bụng dữ dội. Bé muốn khóc, muốn ngủ nhưng sợ ba biết. Bữa cơm chiều, bé phải miễn cưỡng ngồi vào bàn. Ác thay, chiều ni anh Hải về phép nên bàn ăn đầy những món hấp dẫn. Lại có cả ổ bánh bông lan to nữa chứ. Bé ngồi nhăn mặt, ôm bụng nhưng cố nén. Mẹ lại tiếp tế đồ ăn đầy chén, bé chỉ ngồi nhìn mà nhăn mặt, tiếc hùi hụi. Những quả măng cụt lúc trưa sao ngon ngọt thế, mà giờ mỗi lần ợ, bé nghe toàn mùi chua chua, chỉ muốn tống ra ngoài.

- Ô, sao con không ăn? Sao thế, sao lại khóc?

Thằng Tí nhìn bé phì cười. Bé vừa tức giận vừa thẹn, nước mắt ở đâu cứ tuôn ra hoài. Cơn đau lại kéo đến, bé bỏ chén đũa ôm bụng, ruột quặn đau. Cả nhà hốt hoảng lên, ba mẹ, anh Hải, chị Hạnh hỏi lao xao. Con ve nằm trong túi áo bị bé ôm bụng đè phải, kêu ran lên. Bé sợ quá, cơn đau biến từ từ, bé run rẩy vì sợ. Ba tròn mắt nhìn bé, ánh mắt ba soi mói dễ sợ. Bé liếm liếm môi; ba nhìn một lúc rồi nói:

- À, dám cả gan bắt ve ngoài vườn à, lại hái trái cây ăn nên đau bụng chứ gì? Ba đã nói mấy mươi lần, nhớ không? Tội cãi lời cha mẹ, Tí đâu lấy cho ba cây roi, mau lên!

Mẹ cũng mắng bé:

- Con gái gì mà nghịch quá! Tao chán lũ mày quá rồi!

Bé hoảng quá, toan khai luôn thằng Tí nữa, thì ba đã quát:

- Hảo, nằm xuống ngay!

Bé chậm chạp, lom khom đi lại phía ba. Bé liếc thấy thằng Tí nhìn bé che miệng cười. Bé đảo mắt nhìn xem có đồng minh không. Có lẽ vì cặp mắt van nài và gương mặt của bé (có lẽ lúc đó buồn cười ghê lắm), anh Hải can:

- Thôi, tha cho bé một lần đi ba, tội nghiệp công chúa nhè mà!

Tiếng mẹ:

- Lại đây với mẹ, mai mốt đừng có dại nữa nghe con!

Bé bước mau lại trong vòng tay mẹ, tay chùi nước mắt. Bé liếc thằng Tí thật dài. Người ta bị như thế này mà nó còn nhe răng cười, lại hí hửng lấy roi cho ba nữa. Bé phải tẩy chay hắn mới được. Bé giở túi áo ra nhìn, con ve chết nát nhừ trong túi áo. Chỉ tại mày, bé mới suýt bị đòn. Anh Hải cười to nhìn bé:

- Cu Tí đâu, mau kêu xe anh đưa bé đi nhà thương…

Có tiếng thằng Tí cười dòn…


Trần Hữu Nghiêm   
(Bình Dương tháng 5-70)


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 133, ra ngày 15-7-1970)

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

CHƯƠNG XIX, XX_NGỌC BÁU NGAI VÀNG


CHƯƠNG XIX

"KẺ ĐÁNG TIN CẬY"


Bây giờ tôi mới biết là cậu Hải Minh tôi nhanh chân lẹ tay thật. Đúng lúc Pha-ra-ma-Lả xáp tới bên Trí để chộp chiếc ly báu, cậu tôi đã chồm lên. Hai người ôm nhau, giằng co, vật lộn, chân đá tay đấm vung vít... Nhưng ông "cà mèn" đâu có thể "so găng" với cậu tôi vốn là một tay lực sĩ cỡ bự được. Chớp mắt, ông ta đã "đo ván" nằm dài trên mặt đất, hai tay bị cậu Hải Minh khóa chắc theo đúng kỹ thuật nhu đạo, kiểu "khóa số 2".

Đột nhiên, có tiếng lanh lảnh nghe oai nghiêm lồng lộng như giọng nói của một bậc quân vương quyền uy tột đỉnh:

- Buông tay người đó ra ngay, ông Hải Minh!

Tiếng nói của... Thái Tử Hà Lam!

Vẻ mặt ngỡ ngàng, chưa được năm giây đồng hồ, cậu tôi đã riu ríu tuân theo trong khi ông "cà mèn" nhổm đứng ngay lên, nhẹ nhàng đưa tay vuốt tóc, phủi bụi ở áo quần.

Cài lại xong hai chiếc khuy đã bị bật tung ra trong cuộc "so-găng", Pha-Ra-Ma-Lả quay lại nghiêm nghị nhìn Trí. Tiếng ông ta nói nghe như những nhát búa nện xuống mặt đe:

- Nhân danh Quản Đốc Vương Khố Ca-sa-bỉ-ba quốc, tôi ra lệnh cho chú em đưa tôi cái báu vật chú em đang cầm nơi tay kia, lập tức!

Bối rối không biết tính sao, Trí liếc nhanh Thái tử Hà Lam ngầm hỏi ý. Hà Lam nhè nhẹ gật đầu. Tay Trí đưa cho ông "cà-mèn" cái báu vật mà trong mắt anh tôi đọc được ngay một niềm luyến tiếc vô bờ.

Pha-ra-ma-Lả trịnh trọng nâng chiếc ly báu trong hai tay, đĩnh đạc tiến đến trước mặt Hà Lam. Ông ta quỳ xuống trước mặt vị Đông cung Thái Tử, hậu duệ của Vua Hà Kim nhân đức:

- Hạ thần cung nghinh điện hạ Hà Lam! Ông ta nói líu ríu câu gì bằng tiếng Ả-Rập rồi tiếp ngay bằng tiếng Việt Nam rất sõi Thành kính dâng lên điện hạ tín vật của Hoàng đế Ca-sa quốc, ông ta cúi đầu thấp hơn nữa Kính xin điện hạ, từ giây phút này cho thần được dùng lễ chúa tôi tiếng nói của Pha-ra-ma-Lả chợt cao lên nghe sang sảng như tiếng chuông đồng Ca-sa-bỉ-ba Hoàng đế vạn vạn tuế!

Đoạn Pha-ra-ma-Lả hai tay cung kính dâng lên chiếc ly báu. Cuộc "lễ đăng quang" thật giản dị, nhưng thật tôn nghiêm, vô cùng cảm động. Liếc nhìn đám khán thính giả, tôi chợt thấy bà Lan Anh và má tôi đưa nhanh khăn mùi-xoa lên mắt.

Thái Tử Hà Lam ngắm nghía chiếc ly báu, bảo vật Ca-sa quốc, tín vật giá trị vô song như hòn ngọc tỷ của các vị tiên vương. Người xoay chiếc ly đủ mọi góc cạnh, chăm chú nhìn ngắm nơi dưới đáy. Pha-ra-ma-Lả, nụ cười rạng rỡ điểm trên môi, tiến đến gần, hai tay đỡ nhẹ cái ly báu. Rất khéo léo, ngón tay trỏ của ông bấm nhẹ vào một chiếc lá chạm trổ nơi đế ly. Một tiếng "cách" khẽ vang lên và viên ngọc báu rơi vào bàn tay hứng sẵn của viên quan nhất phẩm triều đình Ca-sa quốc. Viên ngọc xanh biếc, sáng lấp lóe hầu như soi rõ mặt của mọi người hiện diện. Viên ngọc thần, biểu tượng của "bình minh rạng rỡ", hình ảnh của "sắc sảo khôn ngoan". Pha-ra-ma-Lả dịu dàng đưa cho Hà Lam. Hai nhân vật chúa, tôi nhìn nhau, nước mắt đoanh tròng, ràn rụa cả xuống má.

Tiếng nói của Hà Lam nghẹn ngào nhưng âm thanh đượm một vẻ gì quyết liệt:

- Ma-Lả cầm lấy đi! Giữ gìn nó, săn sóc nó cho ta! Hỡi "kẻ đáng tin cậy", cánh tay phải của phụ hoàng! Chúng ta có thể hồi loan về Ca-sa quốc được rồi. Hồi loan đặng phục hưng ngôi báu cho tổ quốc yêu dấu ngàn đời.

Ngẫu nhiên bọn chúng tôi lại vừa được cái hân hạnh lớn dự khán một buổi lễ đăng quang thứ thật. Lễ đăng quang thật, đức Vua thật, chiếc ly bạch kim và viên ngọc báu cũng đều là đồ thật cả. Thái Tử Hà Lam đã nhận ngọc tỷ bước lên ngôi báu trị vì chăn dắt muôn họ tại tiểu quốc Ca-sa-bỉ-ba.

Tất cả xúm lại chúc mừng vị... tân vương... chính hiệu. Riêng tôi, tay nắm chặt bàn tay Hà Lam miệng láu táu, nhưng trong lòng vẫn nói lên nhiều thắc mắc. Tôi buột miệng:

- "Ừ, nếu Rả Bây không biết có viên ngọc báu đó, thì tại sao hai tên Kha Bỉ và Du Đả lại hay được?"

Pha-ra-ma-Lả bất ngờ nói ngay:

- Hai đứa ấy và tôi, nội vương quốc chỉ có ba người chúng tôi biết mà thôi!

Hà Lam quay nhìn mọi người:

- Pha-ra-ma-Lả là "kẻ đáng tin cậy" mà vua cha đã viết trong bức thư cuối cùng của người. Ma Lả mới cho tôi biết ngay phút vừa qua, lúc bị ông Hải Minh giữ đè trên mặt đất đó.

Pha Lả giải thích thêm:

- Du Đả chính là con của một nhà kim hoàn trong cung điện Ca-sa quốc. Dưới triều đại đức minh quân Hà Kim, Du Đả lúc đó mới chỉ là một tay thợ học việc trong tiệm của cha hắn. Cũng vì thế mà nó biết được là có viên ngọc báu này. Về sau đức vua thấy nó hay lấy trộm vàng bạc trong cung cấm mới tống cổ ra khỏi kinh thành. Uất hận, Du Đả bỏ đi theo Rả Bây vào sa mạc.

Trí từ lúc nào vẫn im thin thít thốt nói:

- Và nó có ý định... tống tiền Rả Bây? Có đúng thế không, ông? Một là Rả Bây phải chọn người ăn mày do nó và Kha Bỉ đã định từ trước, hai là nó sẽ đi tố cáo với toàn thể dân chúng Ca-sa-bỉ-ba điều tối mật có thể ngăn trở được Rả Bây chiếm đoạt ngai vàng.

Pha ra Ma Lả bật lời khen ngợi:

- Đúng! Hoàn toàn đúng như vậy, chú em! Tôi thành thực ngợi khen trí thông minh có một của chú em!

Vậy là mọi điều bí mật đều sáng tỏ như ban ngày. Thái Tử Hà Lam giờ đây đã nắm được chiếc ly bảo vật và viên ngọc báu trong tay. Việc hạ bệ tên Rả Bây phản trắc chỉ còn ở trong tay với. Đã đến lúc nghĩ đến việc hồi loan. Quả nhiên, cậu Hải Minh đưa cổ tay xem giờ:

- Thái Tử Hà Lam! Ngay tối nay tôi bay về Ca-sa-bỉ-ba. Và đến trưa mai là hạ cánh. Xin Thái tử cho biết người có hồi loan ngay bây giờ không? Đã đến giờ phải lên phi trường!

Hà Lam vội vã nhận lời và hứa sẽ sửa soạn xong nội trong mười phút. Bác Phối, qua giây phút sôi nổi nóng hừng hực, lại trở lại với bản tính hiền từ trung hậu như cũ, rụt rè xin với cậu Hải Minh giúp bác một tay lắp lại bộ khung máy quạt còn rã rời từng mảnh nằm ngổn ngang trên thảm cỏ. Và bác mạnh bạo nói thêm:

- Tôi tha thiết xin cái hân hạnh được lái xe đưa Thái Tử lên phi trường.

Cậu tôi vừa lắp bộ khung máy quạt lại:

- Nhất định là như thế chứ còn gì nữa! Chúng ta phải đi hết cả chứ? Có hai xe rồi, rộng chán! Chị Liên (tên thật của má tôi) về sửa soạn quần áo với đồ lề của em đi! Xong cái nầy là em đánh xe về lấy, rồi, ai muốn lên phi trường thì sửa soạn sẵn sàng, em về là đi ngay đó, nghe!

Mọi người gật đầu đồng ý.

Một giờ sau, đoàn xe chở các yếu nhân bắt đầu lăn bánh. Giáo sư Bích Tâm, tôi và Trí lên xe của cậu Hải Minh. Bà Bích Tâm, má tôi và bà Huỳnh Lan Anh ngồi với Thái Tử Hà lam và Pha-ra-ma-Lả trên chiếc Rolls Royce, "con ma ánh bạc", với bác tài Đinh Văn Phối nơi ghế lái với cái mũ kết, viền vàng, lưỡi trai bóng loáng, vải mũ màu trắng mới tinh. Chưa kể đến bộ đồ lớn của bác, sơ mi cổ cồn trắng, cà vạt màu tím sậm. Trông bác Phối như trẻ ra được mười tuổi.

Vừa ngồi yên chỗ tại băng sau với Trí, tay tôi đưa về phía sau, chợt quơ đụng một gói bọc giấy bạc: ôi chà!... Chiếc bình bông tí con bằng đồng của má Trí tôi đã dùng để điệu mãnh hổ Kha Bỉ ly sơn... Mới bữa nào đây mà tôi tưởng chừng như đã lâu lắm rồi vậy.



CHƯƠNG XX

MỘT PHA "BÓNG CHUYỀN"


 Sau gần một tiếng đồng hồ lăn bánh vùn vụt, đã thấy hoàng hôn bảng lảng khắp vùng. Trên đám ruộng còn trơ gốc rạ, trên rặng thông lả ngọn gió đùa, màn sương xám đã mờ mờ giăng phủ. Phía tay trái, cách chùng non cây số, ánh đèn chiếu sáng rực một góc trời: phi trường Tân sơn Nhất!

Trí lầm thầm nói bên tai tôi:

- Không biết tin tức gì về hai tên Kha Bỉ, Du Đả cả hả Chiêm?

Tôi nói đại, đôi mắt vẫn không rời phía ánh đèn sáng:

- Có lẽ các ông Cảnh Sát Báu và Minh Khánh đã thộp cổ tụi nó rồi đó!

- Chưa đâu, Chiêm ơi! Nếu rồi thì họ đã báo cho anh em mình, hoặc bác Phối biết chứ!

Cậu Hải Minh chợt ngoái cổ lại, mỉm cười:

- Hai anh em nói chuyện gì thế, Chiêm, Trí?

Tôi cho cậu biết:

- Về hai tên Kha Bỉ và Du Đả đó cậu!

Vừa nói dứt lời, tôi ngây người sửng sốt khi thấy cậu hãm bớt tốc lực, rà thắng rồi đậu xe nép bên lề đường.

Giáo sư Bích Tâm cũng lấy làm lạ:

- Dừng lại làm gì vậy, cậu Hải Minh?

Nét mặt cậu lộ vẻ nghiêm trọng:

- May quá! Chợt nghe hai cháu Chiêm, Trí nhắc đến hai tên Ả Rập tôi mới sực nhớ ra. Phải căn dặn trước Pha-ra-ma-Lả và Hà Lam đề phòng mới được!

Chiếc xe Rolls Royce êm như ru lướt tới. Cậu Hải Minh giơ tay ra hiệu cho bác Phối đậu phía sau xe cậu. Thái Tử Hà Lam, Pha ra ma Lả bước xuống, xáp lại chỗ chúng tôi, để bác Phối vẫn ngồi ở ghế tài xế và các bà an vị ở "băng" đằng sau.

Cậu Hải Minh hạ giọng nói với Hà Lam và Ma Lả:

- Trí vừa nhắc tôi đến hai tên Kha Bỉ và Du Đả. Tôi nghi rằng hai tên này còn âm mưu một cái gì có thể làm hại chúng ta lần chót đặng cướp lại chiếc ly bạch kim và viên ngọc báu. Và xin Thái Tử cùng ông Ma Lả chớ quên tên Ba-i-Rỉ, người của bạo chúa Rả Bây cùng qua đây với chúng ta một chuyến phi cơ đó. Hắn có giấy phép đặc biệt để vào hangar nơi để máy bay đó, nghe!

Pha-ra-Ma-Lả gật gật cái đầu đã đội mũ "cà-mèn":

- Ông Hải Minh nói đúng! Bè lũ Rả Bây biết rằng giờ đây chúng đã thất bại trên mọi mặt. Vậy không còn gì nữa mà sợ mất, chúng sẽ dám cả gan làm bất cứ cái gì để phá... Theo ý ông, liệu chúng có dám thi hành thủ đoạn gì tại phi trường này không?

- Dám lắm chứ! Khi tụi nó thấy Thái Tử Hà Lam ra phi cơ, chúng sẽ biết ngay là bọn mình đã tìm ra chiếc ly và viên ngọc báu rồi. Tất nhiên chúng sẽ làm mọi cách để cướp lại bằng được.

Giáo sư Bich Tâm xáp lại:

- Làm mọi cách cũng không đi đến đâu! Bên ta có những sáu người kia mà.

Ông "cà-mèn" có vẻ lo ngại:

- Vẫn biết vậy! Tụi nó có ba, kể cả thằng Ba-i-Rỉ, người của Rả-Bây. Hừ! Nhân số địch chỉ bằng nửa bên ta, nhưng tụi nó to con mà lại mưu cơ lắm.

Nghe lọt câu chuyện của mấy người lớn, trong óc tôi bỗng nảy ra một chương trình hành động. Nhưng không thể đem ra bàn soạn với ai được, ngoài Trí, liền kéo anh ra một nơi, trình bày kế hoạch chi tiết. "Sếp" tôi tán thành nhiệt liệt.

Chợt có tiếng cậu gọi tôi. Hai anh em chạy lại leo lên xe. Tay mở máy, miệng cậu nói nhanh:

- Cậu cũng mong đừng xẩy ra sự gì rắc rối cả. Nhưng cần dặn trước hai anh em là phải để ý trông cho kỹ, nghe! Nếu bất chợt thấy mặt mấy tên đó, báo cho cậu biết ngay!

Xe hơi tiến qua cổng phi trường dễ dàng nhờ nhiều nhân viên an ninh biết mặt cậu Hải Minh. Chúng tôi tiến đến hangar số 10. Chiếc phi cơ mới toanh của Ca-sa quốc đã sẵn sàng. Cậu tôi rỉ tai người phi công phụ câu gì đó. Rồi nói to:

- Cho phi cơ ra và mở máy đi! Năm phút nữa mình bay!

Tôi ngây người ngó chiếc máy bay vĩ đại, tối tân. Một xe trục kéo nó bò ra khỏi hangar, tiến dần ra phi đạo. Bốn đầu máy nổ vang như sấm động, lúc sau, dịu hẳn đi để chỉ còn kêu sè sè thật êm dịu.

Tiếng nói cậu Hải Minh nghe ngắn và gọn:

- Sẵn sàng!

Thái Tử Hà Lam quay ra bắt tay từng người một. Có tới hơn một phút ông Hoàng Ả-Rập mới gỡ nổi thân hình ra khỏi vòng tay khoẻ mạnh của bà Huỳnh Lan Anh để tiến tới chỗ Trí và tôi đứng. Hai tay Hà Lam đặt lên vai hai anh em:

- Tạm biệt hai người bạn của tôi. Lần sau ông Hải Minh có dịp về thăm nhà, tôi sẽ nhờ ông đón hai bạn qua Ca-sa quốc chơi với tôi nhé!

Tôi sướng rơn người và có cảm tưởng mình là một tay hiệp sĩ trong những bộ phim cổ La-Mã. Nhất là cái hơi ấm trên vai từ lòng bàn tay một vị quốc vương thứ thiệt. Tia mắt tôi thẫn thờ nhìn hết người bạn "vua chúa" đến các người lớn đứng chung quanh. Tia mắt ấy chợt sáng lên rất nhanh rồi lại dịu ngay xuống: tôi vừa bắt gặp một hình thù động đậy trong bóng tối. Liếc nhanh nhìn Trí, tôi nhận ra là anh cũng đã thấy như tôi rồi. Cả bọn đứng tụ tập ngay trước khuôn cửa sát chổ phi cơ đậu. Tôi rỉ vào tai cậu Hải Minh:

- Cậu ơi! Coi chừng phía sau đó cậu! Tụi nó có mặt tại đây rồi!

Cậu Hải Minh quay phắt người lại: Kha Bỉ, Du Đả từ trong bóng tối nhô ra đang lớn bước xáp tới. Tôi nói nhanh vào tai Hà Lam, đồng thời dúi vào tay người cái bình bông của má Trí còn gói nguyên trong giấy bạc:

- Thái Tử cầm lấy cái này! Tụi nó sẽ tưởng là chiếc ly đựng viên ngọc báu! Chờ tụi nó đến sát tận nơi, lập tức ném chuyền cho tôi. Như vậy hai thằng cướp sẽ quay lại đuổi tôi. Trong khi đó Thái Tử cứ đàng hoàng bước lên phi cơ, nghe!

Kế hoạch "bóng chuyền" của tôi đã lọt vào tai cậu Hải Minh. Cậu gật đầu ra ý đã hiểu. Vừa lúc đó hai tên kia chỉ còn cách sáu bẩy thước.

Tôi hét lên:

- Mau, Thái Tử liệng tới đây, tôi giữ cho!

Chiếc bình bằng đồng bọc giấy bạc bay lên không trung, vẽ thành một hình cầu vồng rất đẹp. Thái tử Hà Lam nhắm khá quá nên gói bảo vật rớt đúng hai bàn tay tôi đang khum lại. Tôi giơ gói của quý ấy thật cao và la lớn:

- Đây rồi! Đây rồi! Ha ha!

Kha Bỉ lanh mắt thấy ngay gói bọc giấy bạc, y nghiêng người lao lại phía tôi. Chờ cho hắn chỉ còn cách hơn một thước, tôi chuyền lẹ "banh" cho Trí, và tự khen một câu: "Cầu thủ bóng chuyền số dách thiệt". Kha Bỉ vừa chồm sang phía Trí thì "trái banh" lại bay tới tay tôi vừa tầm bắt khiến tôi lại phải khen sếp một câu "cũng kha khá, gần bằng mình chứ không dở đâu". Và cứ "mớm banh" như vậy, bốn chân của hai anh em tôi tiến xa dần ô cửa, chỗ mọi người thân yêu tụ tập. Và tôi thầm chê gã Kha Bỉ: "tên này chơi bóng chuyền bết quá sức". Quả nhiên hắn đã thở hồng hộc mà không vẫn hoàn không. Có tới ba phút sau, Kha Bỉ đổi chiến thuật. Y la to gọi Du Đả và bảo tên này tới chộp tôi còn săn bắt Trí là phần hắn. Liếc mắt nhìn nhanh về phía sau lưng: bác Phối, giáo sư Bích Tâm, má tôi, và bà Lan Anh chỉ còn là những bóng đen mờ ảo. Ngay lúc đó, tiếng phi cơ gầm thét vang trời. Loáng tia nhìn ra ngoài phi đạo, chiếc phi cơ Ca-sa quốc đã bắt đầu lăn bánh, mới đầu còn chậm chậm chưa đầy phút sau đã lao nhanh như gió cuốn.

Tên Kha Bỉ hình như đã đoán ra được phần nào sự thật. Y chạy chậm lại rồi dừng chân. Nhìn mặt tôi biết ngay hắn đã hiểu là bị lừa rồi. Không còn một chút hy vọng nào cướp được chiếc ly bạnh kim trong có viên ngọc báu nữa.

Bây giờ hắn mới nhận ra tính chất nguy hiểm của hành động liều mạng đánh cướp tài vật của người khác. Hắn hoảng sợ thực tình, đâm đầu chạy về phía cửa ra, hai tên đồng bọn Du Đả và Ba-i-Rỉ lao theo bén gót. Rủi cho chúng! Giáo sư Bích Tâm, má tôi và bà Huỳnh Lan Anh lại đứng chắn ngay giữa ô cửa ra phi đạo không khác mấy nhân viên công lực bố trí dàn chào. Vừa định thét gọi mọi người bảo để ý chận chúng lại, tôi đã thấy bà Lan Anh tiến lên một bước, đúng lúc tên Kha Bỉ lao người tới. Một cái quơ tay rất nhanh, bà Lan Anh đã kéo tuột chiếc khăn quàng "hồng xà" khỏi cổ, tung ra như một vòng dây thòng lọng. Đồng thời giáo sư Bích Tâm cũng đưa dài một cẳng chân ngáng tên Kha Bỉ khiến hắn vấp ngã chổng bốn vó, lưng đập xuống nền "xi-măng" nghe "bịch" một tiếng. Con "mãng xà hồng" do bàn tay của bà Lan Anh điều khiển, ngoe ngẩy, vươn dài như một con rắn thật, quấn riết hai tay, hai chân khiến tên cướp gỡ được tay ra cũng còn khó, nói gì đến chuyện đứng dậy mà chạy nữa. Nói thì lâu, nhưng mọi việc xẩy ra không đầy một phút. Hai tên đồng bọn Du Đả, Ba-i-Rỉ hùng hục chạy sau, bị Trí và tôi vừa đuổi vừa la hét vang trời, cuống quít, lao bổ lên người Kha Bỉ. Thế là cả ba ngã dồn cục lên nhau. Chân tay chúng quẫy đạp vung vít, ba cái miệng lại "bắn" ra từng tràng như súng liên thanh: "a rả, a rả, a rỉ..."

Ngay lúc đó, tiếng còi cảnh sát ré lên lanh lảnh, các nhân viên an ninh phi trường ào ào chạy tới. Ba tên cướp còn đang đo ván kềnh càng trên mặt xi-măng lúng túng chưa xong với khúc mình lông lá của con "mãng xà hồng" quấn khoặc tay tên nọ vào chân tên kia. Nhân viên an ninh thộp cổ cả ba không một chút khó khăn. Và Kha Bỉ, Du Đả cùng Ba-i-Rỉ cúi đầu chịu còng tay, lầm lũi bước theo, đưa những cặp mắt ốc bươu nhìn nhau, không một lời "a rả".

Bọn tôi im lặng đúng bên nhau nơi ô cửa lối vào phi đạo, đưa mắt nhìn theo chiếc máy bay Ca-sa-quốc đang bốc cao dần. Mỗi bên cánh có hai ngọn đèn xanh, hai ngọn đèn vàng sáng rực khiến chúng tôi nhận ra nó đang lượn vòng về phía cả bọn. Một bên cánh phi cơ nghiêng hẳn đi. Tôi biết là cậu Hải Minh cùng Hà Lam, Pha-ra Ma-Lả đang nhìn xuống, gởi theo gió lời chào tạm biệt...

Bà Huỳnh Lan Anh mời tất cả quay về biệt thự dự tiệc trà. Vừa bước chân vào phòng ăn, tia mắt tôi đụng ngay một người công dân... Ca-sa quốc: Khâu Rỉ ! Thì ra, công việc chồng chất, dồn dập không lúc nào ngơi đã khiến tôi quên bẵng mất nhân vật đáng ngại này. Giờ đây, bất ngờ lại đụng độ, tôi lạnh cả gáy, muốn xỉu đi luôn. A, thiệt kỳ lạ... Tay đầu bếp khổng lồ này, thay vì hét lên như bữa nọ, lại nháy mắt nhìn tôi... thân thiện. Và y đặt trước mặt tôi một đĩa tôm xào chua ngọt trộn với... lá nho non xanh mướt.

Nếm thử một miếng. Ngon thơm lạ lùng!

Ba bữa sau, vừa mới thức giấc, chưa ra khỏi giường nằm, đã thấy má tôi chạy vào. Trong tay bà cầm một tờ giấy màu xanh: bức điện tín của cậu Hải Minh từ Ca-sa-bỉ-ba gởi về. Và tôi đọc:

Mọi việc tốt đẹp Stop Rả Bây đã bỏ trốn vào trong núi Stop Hai ngày nữa Hà Lam đăng quang tức vị Stop Toàn dân lập hội hoa đăng đón mừng đức chí tôn, hậu duệ của vua Hà Kim nhân đức Stop Hà Lam gởi lời cám ơn Chiêm, Trí Stop Cậu Hải Minh cũng gởi theo đây cho hai anh em cái bắt tay thật chặt Hẹn kỳ tới Stop.

Vừa đọc xong bức điện tín thân yêu, đã nghe chuông điện thoại reo vang. Má tôi lại bước vào:

- Dậy rửa mặt mặc quần áo đi con! Bà cười thật tươi nhớ mua xà-bông thơm và bàn chải mới nghe, con! "Người ta" vừa báo cho má biết rằng cá sấu lại cần tắm rửa kỳ cọ kỹ lắm đấy!

Sau tiếng cười vui chế riễu, má tôi bước ra, để tôi một mình với những ý nghĩ riêng tư:

"Cái tên Trí "đầu bò" này không chịu ngồi yên bao giờ chắc! Cứ thích "mua dây cột vào mình" hoài à!"

Bực mình hết sức, tôi gục mặt vào làn gối êm thơm, nhắm mắt định... ngủ nữa. Nhưng chỉ phút sau đã nhổm ngay lên, tung chăn ngồi dậy, chạy vào phòng rửa mặt, đánh răng, sửa soạn mặc quần áo... đi tìm bạn.

Qua cửa sổ, nắng đẹp đã lên.

Ngọn cỏ đu đưa, gió bay mát rợi.

Bầu trời cao, và thật trong.

 
NAM QUÂN 
Saigon 14-6-71



Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

CHƯƠNG XVII, XVIII_NGỌC BÁU NGAI VÀNG


CHƯƠNG XVII

LỄ ĐĂNG QUANG


Ngày thứ sáu sau đó quả là một ngày buồn quá là buồn. Phần thì tiết trời u ám, mưa không mưa, nắng không nắng. Nhưng điều khiến bọn tôi khó chịu nhất là mọi hy vọng hầu như sắp biến thành mây khói.

Đang lúi húi với Trí trong Phòng Thí Nghiệm, bỗng tiếng phát thanh từ cái radio "pin" của anh vang vang rõ rệt như người nói chuyện. Phát ngôn viên loan tin buổi lễ đăng quang của vị tân vương Ca-sa quốc Rả Bây đã hoàn tất và Rả Bây đã chính thức bước lên ngai vàng cầm đầu trăm họ.

Đại cương những nét chính của mục tin tức là như vậy. Nhưng sao lại! Những bản tin chi tiết lại có tính chất nói quanh nói quẩn, trắng đen không rõ rệt gì cả. Dài lắm, cái bản tin chi tiết về ngày lễ đăng quang đó dài lắm. Hình như khi gần đến lúc kết thúc đã xẩy ra nhiều biến cố dị kỳ. Không ai được biết đích xác một điều gì thêm. Vì lẽ, từ lúc tân vương Rả Bây lên ngôi báu, nhát kéo của "bà Kiểm duyệt" đã không ngớt hạ xuống xoèn xoẹt, cắt ngọt xớt mọi tin tức từ Ca-sa-bỉ-ba loan đi. Thái độ chính phủ mới của Ca-sa-bỉ-ba ra sao, không một ai hay biết.

Sau khi nghe tin tức như thế, chúng tôi chạy đi tìm cậu Hải Minh ngay. Cậu cũng chẳng hơn gì hai anh em, nghĩa là cũng không biết được một tin tức gì đặc biệt.

- Cậu đã thử gọi điện thoại qua bên đó nhưng không một ai trả lời. Hình như mọi đường dây liên lạc với Ca-sa-bỉ-ba đều bị trưng dụng, dành cho quốc sự hết.

Có tiếng Thái Tử Hà Lam:

- Tôi cũng đã gọi sang Anh Quốc, về tòa đại sứ. Nhưng ở bên ấy chẳng ai biết tin gì ngoài tin chúng ta mới nghe ở đài phát thanh. Điều này đáng ngại lắm! Các đại sứ Ca-sa-bỉ-ba là những người đầu tiên phải được biết mọi biến cố quan trọng của Ca-sa quốc chứ!

Trí điềm tĩnh trấn an mọi người:

- Thôi được! Để đến mai thử coi!

Không ai bảo ai mà mọi người như một, đều nóng lòng chờ đợi ngày thứ Bẩy. Đầu óc ai nấy sôi lên như có lửa đốt. Chiều thứ Bẩy nào cũng có chương trình phát hình tin tức thời sự quốc tế.

Cậu Hải Minh:

- Coi phát hình xong là cậu lên đường về Ca-sa quốc đấy, Chiêm à. Bay đêm. Phi hành đoàn đã sẵn sàng cả rồi. Trưa chủ nhật là tới nơi.

Tiếng Hà Lam nói thầm thì:

- Tôi cũng muốn theo ông về quê quá!

Cậu tôi ôn tồn:

- Tôi cũng muốn đưa Thái Tử cùng về, nhưng ngại nguy hiểm cho người lắm.

Hà Lam nghẹn ngào:

- Tôi biết!

Riêng tôi, tôi cũng cảm thấy cay đắng tràn ngập cả tâm hồn. Mọi sự có vẻ gần như thất bại. Thất bại nặng nề! Còn gì nữa đâu! Hãng Thám Tử Tư Sê-Tê-Hai của Chiêm Trí. Danh tiếng đang nổi như sóng cồn sau vụ "Đồng tiền giả" ! Mà bây giờ...

Lễ đăng quang đã hoàn tất. Cậu Hải Minh sửa soạn quay trở về Ca-sa-bỉ-ba và Thái Tử Hà Lam thì lại sẽ là... một sinh viên Văn Khoa như hàng ngàn sinh viên khác tại Saigon.

Ấy thế mà bữa đó may sao tôi lại vớ được một vài phút vui sướng hân hoan. Chỉ vài phút thôi nhưng cũng đã đủ để xua đuổi được cái không khí hắc ám nhất là từ lúc buổi trưa trở đi, cứ trĩu nặng thêm mãi trong lòng. Nguyên là khi đạp xe lên Thủ Đức đưa báo về, tôi giật nẩy người vì một tiếng còi xe hơi chát chúa ngay phía sau lưng. Bàng hoàng quay đầu ngó lại: Ô kìa! Chiếc xe Rolls-Royce màu cà phê sữa nhạt sáng lấp lóe. Chưa hết: nơi ghế tài xế, bác Phối bằng xương bằng thịt ngồi chễm chệ.

Bác giơ tay ra hiệu, hãm tốc lực, rà rà vào lề đường, dừng lại. Rồi bác đợi tôi tới gần, nở một nụ cười thật tươi, đưa tay vào túi áo vét lôi ra chiếc "bóp phơi". Lật bóp, bác chìa vào mắt tôi tấm giấy đỏ có in chữ và đóng dấu son: cái bằng lái xe của ông Đinh Văn Phối.

Nét cười vui của bác in lên ánh mắt:

- Ông Trưởng Ty Cảnh Sát Mạc Kính sai Phó Thẩm sát Viên Minh Khánh đem đến trả cho anh tận nhà, lúc vừa ăn cơm xong đó, chú Chiêm!

- Họ đã bắt được hai tên Kha Bỉ và Du Đả chưa?

- Không bắt được. Chúng nó trốn hết rồi! Anh đã phụ lực với Cảnh Sát lục soát căn buồng của Kha Bỉ. Nhưng không một dấu tích gì để lại...! Chim trời đã tung cánh! Hà hà!

Tôi cũng vui theo vác Phối:

- Chúng đã trốn hết! Thôi, thế càng hay! Rồi Cảnh Sát sẽ bắt lại mấy hồi! À sao? Bác phối! Gỡ oan được rồi, bác Phối thú không?

Bác tài xế giọng nghiêm trọng:

- Cũng nhờ hãng "Sê-Tê-Hai" Chiêm Trí đấy! Phó Thẩm sát Viên Minh Khánh đã nói rõ cho tôi nghe các chú em khám phá bí mật trong vụ xe đụng này ra sao rồi. Thật cám ơn các chú không để đâu hết. Rồi đây anh sẽ đền đáp các chú thật xứng đáng.

Dứt lời, bác Phối giơ tay chào theo kiểu nhà binh, mỉm cười thân ái, gài số cho chiếc Rolls-Royce lao vút đi.

Tôi đưa mắt nhìn theo, lòng rộn ràng với ý nghĩ vui vui: "Chỉ cần bác tài xế được minh oan, giữ mãi tình bạn không kể tuổi tác thắm thiết của bác đối với tôi và Trí, đồng thời luật pháp được triệt để tôn trọng".

Buổi chiều hôm đó, trong phòng khách biệt thự Huỳnh Lan Anh có đủ mặt quan khách: má tôi, vợ chồng giáo sư Bích Tâm, Thái Tử Hà Lam, cậu Hải Minh, Trí, bác tài Phối và tôi. Dĩ nhiên là cả bà chủ Huỳnh Lan Anh nữa.

Bà Lan Anh tính nết vốn vui vẻ đem hộp kẹo lớn ra mời khắp mọi người, luôn luôn ve vẩy chiếc khăn choàng "hồng xà", gần như một thói quen, khó lòng để im tay được một phút.

Cái miệng tươi cười của bà bật thốt:

- Ôi chà! Hồi hộp lắm nhỉ ! Anh em chúng ta ngồi đây sắp sửa được xem một buổi lễ đăng quang thứ thiệt đây. Cái máy truyền hình kể cũng tài tình... Hừ! Hà Lam, tội nghiệp cho con... Đáng lẽ người làm chủ lễ đăng quang bữa nay phải là con đó! Nhưng... hỡi ôi... tội nghiệp quá chừng...

Bác Phối khoan thai tiến lại gần tủ máy truyền hình, bấm nút. Một tiếng "cách", không khí im lặng trong phòng khách như đặc quánh thêm lên. Mọi người hình như dằn cả hơi thở mà ngay đến bà chủ nhà vui tính "hay nói" cũng im luôn, ngoại trừ hai bàn tay không ngớt sục sạo bới mò trong cái túi xinh xinh để tìm... kẹo.

Mặt kính Tivi trắng đục sáng dần: một đoàn kỵ mã phóng qua màn ảnh như gió cuốn. Phía xa xa, người ta nhận ra nhiều tòa kiến trúc màu trắng toát, bên trên thiết trí những tháp canh hình thù thật kỳ dị. Tiếng xướng ngôn viên vang lên trầm ấm:

"Quý vị khán thính giả, chút nữa đây sẽ được dự kiến một cuộc đại lễ rất độc đáo, rất đặc biệt của miền Cận Đông, tại một tiểu vương quốc trù phú nổi danh là có nhiều giếng dầu hỏa. Kính thưa quý vị! Đó là vương quốc Ca-sa-bỉ-ba. Chúng ta sẽ được chứng kiến lễ đăng quang của vị tân vương Ca-sa quốc, nhũ danh là Ca Líp An Men Ben Rả Bây, gọi tắc là Rả Bây.

Kể từ lúc rạng đông tới giờ phút này đã có những cuộc trình diễn rất lạ kỳ, vô cùng hấp dẫn; tập tục cổ truyền của Ca-sa-bỉ-ba từ ngàn xưa nay sống dậy để hoan tụng vị tân vương.."


Mọi người trong phòng khách chăm chú ngắm nhìn cuộc diễn hành của những bộ lạc miền sa mạc. Những kỵ mã nét mặt hung hãn, lạnh lùng như đá tạc, cưỡi ngựa phóng như bay. Họ giơ cao những khẩu súng trận đen nhánh, nhiều người lại huơ những mũi lao sáng loáng khổng lồ, nhọn hoắt. Quanh cảnh đột nhiên thay đổi, in rõ hình hai chiếc xe tăng vĩ đại, rồi tới bốn chiếc phi cơ loại khu trục, giàn máy hộc lên xé bầu trời xám đục, vút qua như một ánh chớp hãi hùng trong một giấc mơ kinh dị.

Tiếng xướng ngôn viên lại vang lên:

"Bây giờ chúng ta sẽ được coi một "pha" hồi hộp nhất, tôn nghiêm nhất trong đại lễ đăng quang tức vị. Nghĩa là: vị tân vương sẽ cùng uống nước đồng sinh chung một cái ly với một... gã ăn mày, người công dân nghèo khổ nhất tại vương quốc".

Trong bóng tranh tối tranh sáng của gian phòng khách rộng mêng mông, tôi chợt nhận ra khuôn mặt Trí thấp thoáng lờ mờ do ánh sáng hư ảo màn ảnh Tivi chiếu hắt ra. "Sếp" tôi nghiêng người chồm hẳn về phía trước, nét mặt căng thẳng. Tôi biết ngay rằng anh ta không bỏ sót một chi tiết nào quang cảnh đang diễn ra trước mắt. Tôi cũng bắt chước làm theo anh.

Khuôn mặt Rả Bây chiếm gần trọn màn ảnh. Thoắt một cái, ống kính thu hình lùi ra thật lẹ. Vị tân vương xuất hiện trong bộ vương phục riêm rúa từ đầu đến chân. Khăn choàng lụa trắng rộng như một tấm mền, trên trán chít hai giải viền màu vàng cẩn bốn hột bảo thạch lấp loé dưới ánh đèn. Kế bên trái, phía trước tân vương là một gã áo quần rách rưới nhơm nhếch, râu tóc bờm xờm, mặt mũi thân hình và tay chân trông rất thảm hại, kệch cỡm một cách rất khôi hài. Suýt nữa bật phì cười, nhưng ngay lúc đó, tôi lại giật mình khi nghĩ rằng tên "cái bang" này nhất định phải là bạn thân hoặc một người thân thích họ hàng với bạo chúa. Và... khi cuộc lễ hoàn tất, y sẽ được lãnh một số vàng bạc châu báu khổng lồ đủ để sống vương giả suốt một đời.

Gã "cái bang" thản nhiên đưa tay đỡ lấy ly nước đồng sinh, nhẹ nhúng cặp môi dầy vào làn nước phép, rồi giơ cao cái ly báu trình cho muôn dân tường lãm... Ống kính thu hình xán đến thật gần: chiếc ly báu giống hình một chiếc bình bông, chạm trổ công phu một cách lạ thường, hiện rõ từng nét.

Tiếng xướng ngôn viên:

"Giờ đây muôn dân Ca-sa quốc hoan hô chúc tụng Tân Vương!"

Đột nhiên trong tâm tư sâu kín tôi cảm thấy đôi chút mừng thầm vì tiếng hoan tụng tung hô vị vua mới từ đám đông lương dân Ca-sa quốc sao nghe lại xầm xì y như một bài đồng ca buồn rầu trong một đám táng.

Trên màn ảnh hiện ra quang cảnh tổng quát in rõ hình đám đông dân chúng. Đông lắm. Không biết hàng mấy muôn người! Coi bộ ai nấy đều thản nhiên im lặng và rõ ràng là người nào cũng chăm chú nhìn không chớp mắt thẳng ngay mặt tân vương Rả Bây và tên hành khất. Tiếng "đồng ca" kỳ dị lại nổi lên, mới đầu còn lào xào như lá thông reo nhè nhẹ, rồi cứ lớn dần, cao mãi lên... biến thành những tiếng la hét như ở ngoài bãi chiến. Có thể nói ngay rằng đám đông đang nổi cơn phẫn nộ. Hai khuôn mặt Rả Bây và tên ăn mày hiện ra trước mắt chúng tôi: cả hai hình như có vẻ ngạc nhiên, sững sờ, xen lẫn niềm băn khoăn lo ngại.

Tiếng cậu Hải Minh:

- Dân chúng đang nói cái gì vậy? Đám đông la hét cái gì mà dữ thế?

Hà Lam:

- Tôi cũng chưa nghe rõ. Tiếng ồn nhiều quá. Nhưng hình như đám đông đang đòi xem những cái gì là "hòn ngọc", "ánh sáng" rồi "khôn ngoan" gì gì. Trời ơi! Tôi cũng chẳng hiểu gì cả!

Dứt lời, ông Hoàng Tử quay phắt về phía Trí như chờ đợi nơi anh một sự giúp đỡ.

Trí đã đứng dậy từ lúc nào. Anh cúi lom khom, mũi gần như dán vào màn ảnh Tivi. Chợt anh kêu lên:

- Tụi nó không có! Tụi nó không có cái đó rồi! Cái nầy không phải là chiếc ly báu thật.

Lại tiếng người xướng ngôn viên:

"Kính thưa quý vị! Hình như tại nơi đây đang có biến cố gì kỳ lạ lắm mà thực tình chính bản đài cũng chưa hiểu rõ. Chỉ biết rằng hiện giờ đám đông dân chúng đang nổi cơn phẫn nộ và lên tiếng đe dọa định làm dữ... vị tân vương. Chúng tôi sẽ loan tin giờ chót với quý vị nếu tìm hiểu được lý do đích thực của sự xáo trộn bất thình lình này! "

Màn ảnh tivi nhòa nhạt nhường chỗ cho một cô xướng ngôn viên có nụ cười tươi đẹp:

"Kính thưa quý vị, đoàn đặc phái viên của bản đài phái đi lượm tin tại Ca-sa-bỉ-ba quả xứng đáng với lòng sở cậy và sự mến phục của quý vị cũng như của ban Quản Đốc bản đài. Lý do: họ đã phải đương đầu với biết bao trở ngại mới quay được cuốn phim tài liệu nóng hổi, đầy hình ảnh sống động mà quý vị vừa dự khán. Thay mặt ban Quản Đốc bản đài, chúng tôi xin được cùng với quý vị gởi lời nồng nhiệt cám ơn các anh chị em đặc phái viên dũng cảm ấy. Nhờ có anh chị em chúng ta mới được tai nghe mắt thấy tận nơi một đại lễ đăng quang kỳ thú như thế... Rả Bây hiện giờ là vị quốc trưởng đứng đầu chính phủ Ca-sa-bỉ-ba quốc."

Tiếp theo đó là một phim quảng cáo thương mại. Trí vặn nút tắt Tivi đoạn quay lại ngó chúng tôi, giọng nói của anh run run vì cảm xúc tột độ:

- Rả Bây chưa chính thức lên ngôi báu. Hà Lam! Hà Lam còn nhiều hy vọng lấy lại ngai vàng!

Cậu Hải Minh bật la to:

- Thật không, Trí? Mà tại sao lại bảo còn nhiều hy vọng?

Tất cả đều ào ào đứng lên, quây lấy Trí. Các bà trợn tròn mắt hỏi dồn dập:

- Ừ, mà tại sao chứ? Tại sao lại còn hy vọng là thế nào? Giải thích rõ đi coi Trí!

Trí trừng trừng nhìn thẳng mặt Thái Tử Hà Lam:

- Hà Lam! Nghĩ kỹ một chút coi! Cố nhớ lại xem nào ! "Đá quý" "ánh sáng" và "khôn ngoan"! Những chữ đó Hà Lam hiểu ra sao?

Im lặng. Nghe được cả tiếng lá rơi ngoài lối đi trải sỏi trắng. Vị hoàng tử Ca-sa quốc nhíu đôi chân mày. Người đang suy nghĩ điều gì lung lắm. Chợt nét mặt tươi hẳn, Hà Lam nói gần như la lên:

- Xin chờ một chút!

Rồi anh chạy vút ra khỏi phòng khách. Ai nấy vẫn sững sờ đứng ngây người, đợi chờ khắc khoải.

Hà Làm đưa ra một tờ giấy gấp tư màu đã ngả vàng:

- Đây là bức thư cuối cùng của vua cha. Trong có nhiều câu tôi không hiểu nghĩa. Đã từ lâu rồi, tôi cứ băn khoăn suy nghĩ mãi mà nghĩ không ra. Xin đọc để mọi người cùng nghe.

"Nếu ngày mai tai họa có giáng xuống đất nước yêu quý ta, con vẫn phải nhớ chính con mới là đích tử của "anh sáng" và của "khôn ngoan" Mọi nguyện vọng, mọi ước muốn của con sẽ cứng rắn như là đá vậy. Rồi một nhân vật vẫn được gọi là "kẻ đáng tin cậy nhất" sẽ gánh vác mọi việc cho con!"

Mọi người đều chăm chú ngó Thái Tử Hà Lam. Lời lẽ bức thư Thái Tử vừa đọc cũng khó hiểu y như tiếng Ả Rập vậy. Nhưng, hình như Trí có vẻ hiểu được một vài điểm gì đó.

Quả nhiên, anh cất tiếng nói rành mạch:

- Đây! Theo tôi thì mọi việc đáng lẽ phải như thế này! Trong buổi đại lễ đăng quang, giây phút tôn nghiêm nhất, khi cùng uống nước phép "đồng sinh", gã ăn mày phải moi từ trong cái hốc ở đáy ly quý ra một viên ngọc báu, tượng hình của Ánh sáng và Khôn ngoan. Chớ nếu hai kẻ vua tôi chỉ cùng uống nước phép thôi thì vẫn là chưa đủ. Viên ngọc báu lấy từ đáy ly biểu trưng cho sự kiện vua lấy được quyền uy từ khối dân chúng mà ra. Vậy, nếu chưa nhận được viên ngọc báu đó, tất nhiên không đủ oai quyền để trị vì. Đằng này chúng ta thấy rõ ràng là gã ăn mày chưa hề đưa viên ngọc đó cho Rả Bây. Gã không đưa vì... gã không thể đưa được. Lý do: chiếc ly hiện cầm nơi tay không phải là cái ly báu thật. Và tôi dám nói chắc rằng: chiếc ly báu đó hiện còn đang nằm im kín trong chiếc xe Rolls Royce này đây!

Trí óc sôi sục lên như nồi cơm trên bếp than hồng, tôi cất tiếng hỏi:

- Thế tại sao gã bạo chúa không nhét đại một viên ngọc thạch thường nào đó vào đáy chiếc ly giả mạo có được không?

Tiếng Thái Tử Hà Lam:

- Rả Bây không biết là có viên ngọc báu đó. Mà thực ra, hắn không thể biết được. Vì lẽ, trước khi kéo quân tràn về kinh thành để cướp ngôi thì hắn vẫn chỉ là tù trưởng một bộ lạc du mục nơi sa mạc hoang vu man dã. Hắn chưa thông hiểu một chút gì đời sống, phong tục trong cung điện cũng như mọi nền nếp sinh họat chốn kinh thành đô hội văn minh. Rồi ngay cả những bộ hạ, quân sư của hắn, đã giúp hắn đắc lực trong việc tiếm đoạt ngai vàng của phụ vương cũng thế. Dũng mãnh, tụi nó có dư, nhưng cơ mưu, trí lự thì lại không bằng hột bắp. Khi xốc tới kinh thành, tràn vào cung điện vua cha, tụi chúng chỉ lo đuổi giết tận tuyệt tất cả các quan đại thần, trung và hạ đẳng, không trừ một người nào. Trong số người bị chúng đánh đuổi chạy tứ tán đó, làm gì mà chẳng có kẻ hiểu biết về vấn đề cái chung bạch kim quốc bảo và viên ngọc thần, tượng trưng cho Ánh Sáng, Khôn Ngoan. Đối xử nương tay với họ một chút, làm gì mà họ chẳng mách bảo cho điều bí mật tối quan trọng ấy. Rả Bây đã tính sai nước cờ.

Trí bật kêu lên:

- Thôi, mau đi! Chiêm! Chạy ngay lên căn buồng trên nhà để xe đi! May ra hai gã Kha Bỉ và Du Đả, trong lúc vội vã đào tẩu, có thể đã để quên lại cái hộp đen quý hóa, cái máy dò hiệu "Gây-Sơ" đấy. Lẹ lên!



CHƯƠNG XVIII

CÓ THẾ CHỨ!

Thời gian ánh chớp, gian phòng khách rộng trong biệt thự Huỳnh Lan Anh đã biến thành thao trường chạy đua. Trí dẫn đầu, tôi theo anh sát gót. Tiếp đến là bác Phối, cậu Hải Minh. Sát cánh cậu là giáo sư Bích Tâm rồi sau rốt là các bà.

Trí hô to như một viên tướng chỉ huy ra lệnh cho quân sĩ:

- Bác Phối! Đánh xe ra đây ! Chiêm, chạy đi tìm xem tụi kia có bỏ quên cái hộp "Gây-sơ" không?

Tôi tung chân leo lên cầu thang nhanh như con vượn, tông cửa xộc vào phòng. Bên trong bừa bãi hỗn độn ghê gớm. Rõ ràng là hai tên Ả Rập, trong lúc vội vàng chạy trốn, đã xả đồ vật tùm lum; ô hộc kéo tuột ra, nằm kềnh trên sàn nhà, bàn ghế gỗ to nhỏ xô lệch chồng chất ngổn ngang.

Lục lọi các góc kẹt một hồi, lật tung bàn ghế nệm giường: vô hiệu. Tôi quay ra thọc tay bới tìm trong đống áo quần mặc dơ nằm lẫn lộn với đám mùng mền... Đây rồi! Chiếc hộp cứng, đen bóng như sừng nhỉnh hơn hộp thuốc lá đã nằm gọn trong tay. Khư khư giữ chặt vật quý, tôi lao vút xuống cần thang. Quang cảnh diễn ra trước mắt khiến tôi ngây người đứng sững : chiếc Rolls Royce màu cà phê sữa lạt, lộng lẫy, "con ma ánh bạc" trắng sáng ngời giờ đây đã bị phân ra trăm mảnh.

Bên thùng xe phía trước, nắp đã tháo rời, cậu Hải Minh và bác Phối khom mình, đầu cúi gầm, ngó trừng trừng khối máy. Trong tay mỗi người nắm chắc một cái búa con, thay nhau gõ nhè nhẹ vào mọi tảng thép, tất cả các ống tròn, bẹp để rình nghe tiếng động lạ. Xa xa một chút, vợ chồng giáo sư Bích Tâm và má tôi, sau khi na hết cả sáu tấm nệm nơi ghế ngồi trong xe ra đặt trên mặt sân sỏi, hì hục đập đập vỗ vỗ, rờ nắn cẩn thận từng phân một. Đứng sát đó, bà Huỳnh Lan Anh hai tay thay phiên nhau phe phẩy chiếc khăn quàng "mãng xà hồng" như vị nữ tướng quân phất cờ hô quân xung sát. Đôi viền môi tươi của bà không ngớt phát thanh. " Tìm kỹ nghe! Tìm thật kỹ đó!"

Thái Tử Hà Lam ngây người đứng im trên thảm cỏ mướt xanh, ngơ ngác nhìn quanh cảnh náo nhiệt trước mắt. Có lẽ anh tưởng chừng như mọi người vừa mới mắc bệnh thần kinh.

Tôi đưa chiếc hộp điện tử "Gây-sơ" cho Trí: Anh cầm đầu hộp đưa sát vào mọi hốc kẹt, thành xe, giàn thép, từng chút, từng chút một. Chiếc kim trên mặt kẻ chữ số vẫn im lìm. Có tới mười lăm phút sau, như chợt nghĩ ra một điều gì, giáo sư Bích Tâm đứng thẳng người lên:

- Chính! Trời hơi mờ mờ tối rồi. Con chịu khó vào giong ngọn đèn điện chỗ hàng ba kia ra gần đây. À, này, con! Chúng ta tìm đây là tìm cái ly báu bằng bạch kim, nhỏ xinh xinh chỉ bằng cái lọ cắm hoa tí hon. Vậy mà dùng cái máy dò "Gây-sơ" ba chắc chẳng ăn thua gì đâu. Bạch kim là vàng trắng, một loại kim khí quý, cũng như vàng đỏ, nó đâu có tác động gì vào cái máy dò này được.

Trí quay lại nhìn cha:

- Tuần lễ trước con đã lên Biên Hòa, sưu tầm kỹ tài liệu trong thư viện. Và con đã mò ra được một số báo trong đó có đăng mục lẽ đăng quang tức vị của vua Hà Kim. Cũng ở mục ấy, con đã nhờ ông Quản thủ thư viện giảng cho một đoạn nói về lịch sử chiếc ly báu của Ca-sa quốc. Nguyên đó như thế này: Cách đây khoảng hai trăm năm, một người thuộc bộ lạc du mục, bất ngờ tìm thấy tại một hang sâu trong vũng núi đá cao chớm chở của Ca-sa quốc một viên ngọc lạ, tròn như hòn bi. Viên ngọc thật kỳ dị: ban đêm phát ra ánh sáng như lân tinh. Anh ta lượm lấy, đem về dâng lên Ca-sa quốc vương. Vị vua hồi đó liền sai thợ kim hoàn làm cái ly nhỏ bằng bạch kim, dưới đáy ly có một lỗ bỏ vừa viên ngọc báu. Từ đó, chiếc ly, bên trong đựng viên ngọc quý, trở thành bảo vật có một ý nghĩa rất mực thiêng liêng. Và từ ngày xa xưa đó cho đến tận bây giờ, chiếc ly báu phải xuất hiện và chỉ xuất hiện trong ngày lễ đăng quang lên ngôi báu của các vị vua liên tiếp.

Giáo sư Bích Tâm:

- Nhưng chất khoáng sản phát ra ánh sáng lân tinh chẳng hiếm gì. Và đa số chúng đều không có chất phóng xạ. Con thấy không? Vậy thì cái máy rà "Gây-sơ" kia chắc cũng vô ích mà thôi !

Trí vẫn điềm tĩnh:

- Ba ơi! Hôm nọ được biết là tụi Kha Bỉ, Du Đả đã dùng cái mày rà này, con cũng lấy làm lạ lắm, không hiểu tại sao. Về sau, vào thư viện tìm được một cuốn sách dầy nói về địa chất tại miền Trung Đông con bắt gặp một trang nói đến việc các kỹ sư đã khám phá ra nhiều loại muối chứa chất uranium phóng xạ trong những vùng núi cao tại Ca-sa-bỉ-ba. Vậy thì có thể chắc chắn được rằng viên ngọc báu nói trên, tượng trưng cho Ánh Sáng, biểu hiện của Khôn ngoan, chứa một phần nào chất muối phóng xạ đó.

Đến lượt cậu Hải Minh lên tiếng:

- Cho dù trong chiếc xe Rolls này tàng ẩn một vật gì đó có chất phóng xạ thì vật đó tất nhiên cũng bị lớp tôn pha chì che lấp đi rồi. Có rà máy cách mấy, nhất định chiếc kim báo cũng không thể nào nhúc nhích được đâu!

Bỗng "sếp" tôi chẳng để ý gì đến cuộc bàn qua cãi lại của mọi người nữa. Đứng sững ngay trước mũi xe hơi, đôi mắt anh nhìn chăm chú bộ khung bao ngoài bốn cánh quạt sáng loáng. Tiếng thét bất thình lình của Trí khiến ai nấy giật nẩy người:

- Đây rồi! Có thế chứ!

Đám đông xúm lại, mọi nét mặt cũng như dây thần kinh đều căng thẳng. Trong khi bao nhiêu con mắt ngạc nhiên nhìn anh thì anh giơ tay chỉ thẳng vào bộ máy quạt, cất tiếng lanh lảnh:

- Bác Phối! Hôm nọ nói chuyện, bác bảo chếc xe Rolls này được chế tạo năm nào nhỉ?

Tiếng bác tài xế:

- 1925.

Trí reo lên:

- Đúng rồi! Tôi đoán đúng rồi!... Chiếc ly báu hiện nằm trong bộ khung máy quạt này đây!

Quay lại, tia mắt đắc thắng của anh đụng ngay phải bao nhiêu ánh mắt nghi ngờ.

Sếp tôi thản nhiên thuyết trình với mọi người. Cách xưng hô của anh nghe lại có vẻ như chỉ nói riêng với ông Bích Tâm:

- Đây nhé! Ba nhìn kỹ nghe ba! Con cũng đã đọc một quyển sách nói về lịch sử loại xe Rolls Royce này. Một điều quan trọng con được biết là: bắt đầu từ khi loại xe Rolls tối tân ra đời, bộ máy quạt chưa hề bị sửa đổi một điểm nào hết, ngoại trừ cái chi tiết này: khi vị chủ nhân sáng lập thứ hai tên Henry Royce từ trần vào năm 1933, các kỹ sư quyết định từ đó về sau phải sơn hai chữ R quấn lấy nhau, màu đen, để để tang ông Henry Royce (Vị chủ nhân thứ nhất cũng có tên bắt đầu bằng chữ R mất năm 1910) chứ không sơn đỏ như trước nữa. Vậy mà, xin tất cả ngó kỹ bộ máy quạt coi, chiếc xe Rolls Royce này được chế tạo năm 1925, tức là trước khi ông Royce chết... tại sao hai chữ R lại đã được đi màu đen rồi là thế nào?... Chẳng có gì đáng thắc mắc! Chúng ta có thể kết luận ngay rằng: "bộ khung máy quạt này đã được thay thế bằng cái khác". Và thay cái khác để làm gì nếu không là để giấu yểm một vật gì trong đó?

Mọi người im lặng đứng nghe, hết thẩy trong lòng đều nóng như lửa đốt. Bác Phối lấy "lắc-lê" tháo bốn chiếc đinh vít ở bốn góc bộ khung quạt, nhấc cái nắp ở ngoài ra. Trí tiến đến kê sát hộp máy rà "Gây-sơ" vào bộ khung bao quanh cái quạt máy. Hộp máy rà kêu "cờ-lích" một tiếng... rồi lại êm ru. Mọi người thở ra một hơi dà thất vọng. Nhưng Trí vẫn lầm lì rà từ từ ghé thật sát cái hộp đen vào bộ khung quạt. Đột nhiên, chiếc kim nhỏ như râu con dế lửa đen nhánh nhẩy loạn xạ lên. Lồng ngực của mọi người đứng xung quanh phồng căng để đến khi xẹp xuống, bật ra những tiếng reo... đắc thắng.

Giờ đây tôi chỉ còn nhớ mang máng cái quang cảnh hỗn loạn nhưng tưng bừng nhộn nhịp lúc đó. Ai nấy cố sức xô đẩy nhau giành chỗ, chân tay múa vung vít quanh cái khung quạt máy "nạn nhân" đó. Đột nhiên, bác Phối, vẻ mặt nghiêm trọng, giơ thẳng mặt bàn tay:

- Bữa trước, trong hầm đá tôi đã từng nói rằng tôi linh cảm có một cái gì lạ lắm ở trong này. Nhưng lúc đó vì hồi hộp, mất bình tĩnh quá nên đã cho rằng mình hoa mắt, lầm lẫn chăng?... Giờ đây, hà! Quả thật là tôi không lầm: quả nhiên chỗ này có một điểm kỳ quái lắm!

Mọi người nín thở trước vẻ mặt khắc khoải của bác tài xế từ xưa đến nay vẫn nổi tiếng là hiền lành ít nói. Giờ đây bác lại có vẻ trầm nghiêm, dõng dạc "thuyết trình" như thể người bị ma làm. Chợt, bác giơ thẳng một tay:

- Kìa! Cái ống dẫn nước kia kìa!

Gần chục cái đầu quay phắt lại, nghiêng xuống có tới hai phút để coi cái ống dẫn nước bao quanh bộ máy quạt xem có gì lạ. Và tôi nhận ra ngay: cái ống thép nhỏ dẫn nước ăn thông từ miệng bình đi xuống, uốn vòng theo viền khung máy quạt, tới chỗ bắt góc... lại chia làm hai nhánh thay vì một. Nhánh ống chính thức chạy ôm rất sát viền khung, còn cái "ống phụ" kia trông như ngón tay thừa mọc cạnh ngón tay cái của người sáu ngón, lại chui tụt mất hút vào bên trong bộ khung bao quanh máy quạt nước.

Không sai! Nhất định chỗ đó là chỗ giấu chiếc ly báu. Thảo nào mà không ai phát giác ra được kỹ thuật yểm giấu đồ vật như vậy, thế gian chắc chỉ có một.

Cậu Hải Minh xắn hai ống tay áo, bác Phối phụ một tay, nhẹ nhàng tháo từng chút một. Cái "tua vít" nhỏ xíu trong tay cậu không ngớt xoay xoay, cái kẹp nhọn luôn gãi kẽ ống từng li từng tí. Không ai dám thở mạnh, mãi cho đến khi cậu Hải Minh ôm gọn báu vật trong tay, mọi người mới phào ra một hơi tưởng chừng như một làn gió Nam lướt tới rời rợi. Miệng cười thật tươi, cậu tôi trao chiếc ly báu cho Trí.

Chiếc ly báu! Bảo vật của Ca-sa quốc có khả năng quyết định cả một ngai vàng, cả một vương quốc, cả một khối lương dân phú cường nhân số kể có tới hàng bao nhiêu triệu. Báu vật đó, giây phút này nằm gọn trong tay chúng tôi. Mọi người ai nấy đều như hóa điên vì hân hoan tột độ. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau miệng hò reo tở mở, chân nhẩy, tay múa, già cũng như trẻ không khác các thân chủ của Dưỡng trí viện Biên Hòa.

Thốt nhiên, một giọng nói lạnh lùng làm tất cả giật bắn người, đứng ngay sừng sững:

- Ly báu đó, đưa cho tôi, ngay lập tức!

Một bóng người từ phía sau nhà xe tiến ra: Pha ra Ma Lả! Ông "cà mèn" cao lớn, râu đen nhánh, thân hình thẳng đứng lạnh lùng lớn bước tiến đến... tiến đến... Cánh tay phải ông ta giơ ra, bàn tay to lớn ngửa lên, cứng ngắc trông như mũi lao nhọn khủng khiếp. Tia nhìn dữ dội, rõ rệt là ông ta sẵn sàng làm đủ mọi chuyện để chiếm cái bảo vật vô giá Trí đang cầm trong tay.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG XIX, XX
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>