Thứ Hai, 20 tháng 4, 2020

Cho Môi Nở Nụ Hồng


Gió thổi lồng lộng làm tóc Nga bay cuống quít. Thằng Thi hỏi vu vơ:

- Tóc làm đau mặt không hở chị Nga?

- Không. Thi hái cho chị cọng cỏ may đi.

Nga dùng cọng cỏ cột đuôi tóc lại. Thi nhìn chị cười khoe răng khểnh:

- Chị Nga hay ghê, chị làm cho em với.

- Làm gì hở Thi?

Thằng Thi kề tai Nga:

- Cột tóc cho em với.

- Eo ơi! Thi không sợ thằng Thuận cười hở, con trai không cột tóc được đâu, xem nào! Tóc Thi ngắn thế kia làm sao cột được.

- Thế con gái mới cột được sao?

- Ờ con gái tóc dài.

Thằng Thi thôi hỏi chuyện Nga nữa, nó quay sang ngắt cỏ sâu. Nga biết nó sắp sửa đan cỏ làm máy bay nữa rồi đấy. Lúc đó Nga sẽ vểnh tai lên nghe nó kể: Bố lái máy bay nhá. Mẹ ngồi ôm Thi vào lòng này, còn chị Nga ngồi gần bố nhá và ; chị ơi! Sao bố đi lâu về thế... Nga sẽ không biết trả lời sao nữa. Thôi thì đừng cho thằng bé hỏi nữa cho xong. Nghĩ vậy, Nga đứng dậy. Thi ngơ ngác:

- Chị về đấy hở chị Nga?

- Ờ. Thi chơi một mình nhá!

Thằng Thi lúc lắc mái tóc vàng cháy vì nắng. Nó buông mấy cọng cỏ sâu ra, nhón lên tai Nga thì thầm:

- Chị giận Thi hở?

- Không, lại đàng kia chơi đi Thi.

Thằng Thi cười với Nga, băng cỏ chạy xuống từng mô đất con con. Nga dừng lại, gió làm bóng thằng em phất phơ trong cỏ. Nga ngồi thụp xuống ngắt vu vơ cọng cỏ đưa lên miệng. Có chiếc máy bay quân sự bay trên đọt ô môi. Nga chợt nghĩ đến bố, ờ nhỉ, sao bố lâu về thăm Nga ghê nơi. Thảo nào thằng Thi cứ nhắc bố mãi. Nga nhớ lần bố về, bố mua cho Nga cặp sách này, áo quần này, con búp bê tóc vàng mắt xanh. Bây giờ những đồ chơi ấy đã cũ mất rồi mà bố vẫn chưa về thăm Nga.

Thằng Thi chạy đến bên Nga hờn dỗi:

- Chị dối em, chị bảo xuống kia chơi, sao chị ngồi đây?

- Thôi thì bây giờ chị em mình chơi rượt bắt nhá!

Thi mỉm cười chịu cho Nga chạy trước để nó rượt bắt. Thằng bé chạy thật lanh lẹ, Nga cuống quít, bỗng nghe té đau dưới chân, Nga thụp xuống, có máu loang ra mấy cọng cỏ xanh. Thằng Thi chạy đến bên Nga cười vang:

- Chị Nga thua nhé, em chạy thì phải biết.

Thấy Nga cúi xuống chân, Thi nhìn theo:

- Eo ơi chị Nga sao thế?

Một miểng mảnh sành ghim dưới lòng chân, thằng Thi nhai vội vàng mấy cọng cỏ nhổ phì phèo vào chân Nga. Nga nhăn mặt:

- Đau, Thi dẫn chị về ngay đi, đau quá.

- Khoan đã, để hết máu đã, hôm nọ thằng Thuận cũng chảy máu chân, em đắp cỏ ngày mai là lành ngay.

Nga lắc đầu dợm đứng lên. Thằng Thi đỡ chị:

- Thế bây giờ về ngay hở chị Nga?

- Ừ chị đau quá.

Hai chị em dìu nhau về, thỉnh thoảng Nga dừng lại xuýt xoa:

- Chậm lại Thi ơi, đau quá nè.

Thằng Thi dừng lại, mắt dõi cuối xóm, rồi nhìn ra đầu ngõ có hàng tre xa mút. Thi bỗng mở to mắt, bóng người lính đầu đường mòn nhìn nó vẫy tay:

- Ơ, bố về, chị Nga ơi bố về.

Thằng Thi cắm đầu chạy. Nga gượng đứng lên, bố đang hỏi thằng Thi, thằng Thi chỉ Nga cho bố thấy. Nga thấy rõ ràng bố về, bố mỉm cười với Nga. Nga reo lên trong nỗi vui sướng tột cùng:

- Bố ơi!

Bố bồng Nga lên hổng đất, chúi mũi vào tóc Nga:

- Nga đạp miểng chai hở?

- Dạ, bố mới về hở bố.

- Ừ! Kỳ này bố ở nhà với Nga một tuần, chịu không hở con gái cưng?

Nga mỉm cười, bố dìu Nga về. Thằng Thi đang nặng nhọc khênh chiếc ba lô cho bố, tíu tít hỏi chuyện:

- Sao bố lâu về thế hở bố?

- Ừ, bố bận đánh nhau. Thi ở nhà đừng buồn nhá, lâu lâu bố về bố thương bố mua kẹo cho.

- Thế bây giờ bố về bố có kẹo không?

Bố xoa đầu thằng Thi:

- Kẹo cho Thi nhiều lắm, còn ô mai cho chị Nga nữa chứ.

Nga nghe chân mình hết đau, nụ cười ánh mắt của bố đã làm Nga xóa hết mọi ưu phiền. Nga chỉ biết bố với chị em Nga đang về nhà, con đường đất mọi hôm nay dễ thương hơn nhiều. Nga thấy thế.

Bố trìu mến hỏi Nga:

- Nga học ra sao rồi?

- Năm nay Nga được lên lớp nhất, em Thi lớp ba.

Thằng Thi kể cho bố nghe kỳ bãi trường năm ngoái nó được lãnh thưởng mấy cuốn tập bao bìa màu xanh, một hộp bút màu, mấy cuốn truyện nhi đồng tranh màu rực rỡ. Bố yên lặng nghe Thi kể rồi bố mỉm cười khi thấy thấp thoáng cái cổng nhà.

Thằng Thi chạy về trước gọi mẹ, Nga thấy mẹ mỉm cười. Thi xổ tung ba lô bố ra, Nga khập khễnh lấy được gói ô mai ôm vào lòng. Thằng Thi mừng tíu tít với mấy gói kẹo ngon. Nga thấy bố mẹ nhìn chị em nó rạng ngời...


PHẠM THỊ KIM PHƯỢNG     

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 35, ra ngày 7-10-1972)

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020

Tuổi Hoa Trong Khói Lửa


Mới chiều mồng một Tết, mẹ gọi cả bọn lại, dặn dò bằng giọng trang trọng:

- Sáng mồng hai có Gia Đình Tuổi Hoa đến thăm đấy. Các con phải ngoan, phải...

Ba ngắt lời mẹ:

- Mẹ chúng mày lúc nào cũng Tuổi Hoa với lại Tuổi Xanh, làm như trên đời này chẳng còn có việc gì quan trọng hơn.

- Ơ hay! Cái ông này! (mẹ có vẻ cáu nhưng vì là Tết nhất nên mẹ phải cố làm lành). Với tôi thì Tuổi...

- Biết rồi, khoe mãi. Đùa thế chứ tôi cũng chiều ý mẹ con mợ lắm, chả thế mà tôi đã cấm không cho lũ trẻ đốt hết pháo, dành riêng cho Gia Đình Tuổi Hoa của mợ đến những non một thước à?

- Thôi, tôi không ơn chuyện đó, tôi ghét pháo lắm, đốt đì đoàng cứ y như là tiếng súng.

- Mẹ quê! Mẹ quê...

- Đứa nào dám nói mẹ quê? Vuốt râu hùm nhá?

Mẹ giả vờ nghiêm nghị, nhưng giọng lại hết sức khoan hồng, âu yếm. Cu Minh được trớn, tiếp luôn:

- Pháo đốt nghe vui tai chớ pháo gì lại y như tiếng súng? Mẹ nhát gan lắm!

- Ha! Mẹ nhát gan thỏ đế! Mẹ nhát gan thỏ đế...

Thế là cả lũ nhao nhao. Thu sắp dùng quyền chị cả quát lên song mẹ đã vui vẻ:

- Thôi con ạ, mặc chúng, cho chúng tự do đầu năm.

Hai mẹ con quay sang bàn chương trình đón khách quí ngày mai.

Phải nhận rằng năm nay mẹ đặc biệt quan tâm đến mấy lọ hoa hơn năm nào hết: Mẹ chọn lay-ơn mầu đỏ sẫm, thứ bum búp, cánh nào cũng bụ bẫm, cặm chen vào với những cành liễu trong chiếc lọ to tướng mầu trắng tinh như tuyết đọng. Pen-xê thì mẹ chọn mầu xanh nâu đựng trong chiếc lọ nhỏ hơn, bằng thủy tinh mầu hạt dẻ. Thủy trúc cao lêu đêu, lá nào cũng xòe ra như cái tán, xanh biêng biếc, óng ả nổi bật trên những viên cuội bóng loáng, trong suốt y như những viên đường phèn, bình đựng là một vật... thật Thu không biết nên gọi nó là cái gì cho đúng vì nó giống hình dáng cái bình cà phê, lại vừa giống cái liễn xúp, lại vừa giống cái ca múc nước, cao, sâu, miệng rộng, có quai, bằng thủy tinh trong suốt và rất dày, mẹ sắm nó từ hồi Thu mới chập chững biết đi, mà bây giờ Thu đã lái Suzuki được, đủ biết nó lớn tuổi là chừng nào!

Thu lo kiểm những thứ dọn khách ; này nhé: hạt dưa dòn khứu, mứt sen thơm ngát, mứt khoai bùi ngậy, mứt dừa beo béo, kim quất đỏ ong, mứt thơm dẻo quánh, dưa hấu bổ thử quả nào cũng ruột đỏ tươi, ngọt lịm. Hồng khô thì gồm đủ mùi vị thơm, bùi, ngọt, dẻo... đó là thứ không được dân tộc tính cho lắm, nhưng con Hà nó ưa nên mẹ chìu nó, chứ Thu thì Thu chỉ ưa những món cây nhà lá vườn.

Đành rằng sự thật thì Thu không làm được những ngần ấy thứ, nhưng mà ai biết đấy là đâu? Gia Đình Tuổi Hoa hãy cứ biết rằng thưởng thức những thứ ấy tại nhà Thu, mà Thu là con gái lớn của mẹ, thì những thứ ấy là sáng tác phẩm của Thu chứ còn ai vào đấy nữa. Đấy các bạn xem, Thu cũng biết "tam đoạn luận", Thu cừ đấy chứ?

Vốn là người chu đáo (!) Thu bàn riêng với mẹ:

- Này, mẹ nhớ có phong bao lì xì cho Gia Đình Tuổi Hoa nhé? Năm mới mà!

Mẹ trợn mắt lên:

- Ơ hay, con bé này! Các anh ấy đâu phải trẻ con? Bộ mày tưởng ai cũng như mày chắc, cả năm cứ chong mắt chờ Tết để vòi tiền...

Thu sắp sửa giận mẹ, vì điều này: hễ mẹ sai khiến, quở trách thì mẹ nói: "con gái lớn tướng" rồi, còn so sánh với ai thì mẹ mới: "đâu phải ai cũng trẻ con như Thu" có phải mẹ vô lý không?

Nhưng mà Thu nguôi ngay, ngày Tết giận hờn thế, không hên. Mẹ lại tiếp, giọng hết sức âu yếm:

- Con nói phải, nhưng mà mẹ không mừng Tết bằng tiền mới, mẹ có quà đặc biệt cho các anh ấy bằng... thôi, chả nói. Để lúc đó con sẽ thấy.

*

Tối mồng một, mẹ và Thu lo mang hoa ra sân, thay nước, cắt gốc, bẻ nát át-pia-rin cho vào lọ, lại chọn chỗ thoáng giữa trời để hoa được hứng sương đêm. Giọng mẹ êm như lời ru, và có pha một chút hãnh diện:

- Con thấy hoa mẹ chọn hay không? Sáng mai mồng hai sẽ nở đều cho mà xem.

Thu gật gù:

- Con thấy hoa nhà bác K. không đẹp và tươi như hoa mẹ đâu. Mới hôm này mà đã nở tung cả rồi.

- Rõ mẹ hát con khen!

Ba từ nhà trên xuống, trêu một câu. Mẹ lờ đi, làm như không nghe vậy.

Thu cũng vừa sực nhớ, sà đến bên mẹ, nài nỉ:

- Mẹ cho con xem thử quà của...

Mẹ khoát tay:

- Con sao lạ quá thôi. Đã bảo là để sáng mai con sẽ thấy mà.

Chuyến này thì Thu giận mẹ thật sự, Thu vùng vằng đi lên. Trên nhà, ba, Vũ, Hà, Minh và Bé đang bàn nhau cách đón tiếp khách ra sao.

Thu thấy hay hay cũng nhập bọn, bàn cãi rất hăng. Sau hơn nửa giờ bàn qua, tán lại, ba phân công thế này: Khi Gia Đình Tuổi Hoa vào đến ngõ là mẹ vén màn cửa mời vào. Mọi người vừa an tọa thì Hà lập tức khai hỏa. Gọi là mừng khách quí! Thu trách nhiệm việc mời mứt, kẹo. Vũ lo pha nước ngọt. Nếu có anh Cả thì ba sẽ mời rượu. Có cả thuốc lá cho anh Vi Vi và anh Cấp nữa.

Nếu có những nhóc tì của "Đồng cỏ non" thì mẹ đã chuẩn bị sẵn phong bao lì xì và Minh, Bé sẽ sẵn sàng tiếp đón. Rõ là chu đáo đến một trăm lẻ một phần trăm. Muốn cho bay bướm, Vũ với Minh thêm:

- Trong lúc mọi người trò chuyện, tụi này cất lẻn ra sân cho nổ một cái pháo lẻ để mẹ và quí khách giật mình chơi.

Ba vỗ tay tán thưởng:

- Các con khá lắm, thật nhiều sáng kiến.

Nhưng mẹ lườm ngay và dọa bằng giọng cực kỳ nghiêm nghị:

- Liệu hồn, nếu chúng mày muốn ăn đòn ngày Tết thì bảo trước.

Cả hai xìu mặt xuống y như cái bánh xe hơi của ba bị xì lốp. Thế nhưng rồi chỉ một phút chúng lại tươi tỉnh lên như cũ khi nghe mẹ dung hòa ý kiến với chúng, nghĩa rằng mẹ không bằng lòng chúng cất lẻn đốt pháo lẻ làm giật mình khách quí nhưng mẹ bằng lòng cho đốt pháo mừng khi khách bước qua khỏi ngõ!

Nghe con Hà khoe váng lên rằng nó đã được Họa sĩ Vi Vi gọi bằng em và Vũ thì rằng "Em có nói chuyện với anh Trinh Chí nữa" Thu lấy làm ấm ức hết sức. (Chả là hôm nọ hai anh tới nhà Thu đi học nên chưa được yết kiến dung nhan hai vị này) Thu nhất định trọn ngày mồng hai không bước chân ra khỏi ngõ, chờ cho kỳ được. Nhưng muốn tỏ ra mình không phải tay xoàng, Thu làm mặt khinh khỉnh, nói:

- Cái gì làm bộ vậy? Tao không như tụi mày đâu. Tao còn quen cả anh Cấp với lại anh Quyên Di kia nữa ấy chứ...

- Nhưng chị làm gì được bác Trường Sơn cho ăn xí muội? Em, em được...

- Ối trời! Tao chở mẹ lại tòa soạn mỗi ngày, bác ấy vẫn hỏi chuyện tao kia, nhãi ạ! Bác vẫn bảo tao ngồi ở xa lông, khỉ ạ! Đừng tưởng...

- Ghê gớm nhỉ! Này Hà, mày có biết mẹ đối đãi với mấy ông tài xế ra sao không? Mỗi lần các ông ấy đến nhà, mẹ...

Vũ nheo mắt hỏi kháy con Hà. Nó trả lời ngay khi nghe chưa dứt câu:

- Em biết, em biết! Này nhé: mẹ mời ngồi, rồi mẹ giục chị Thu pha nước, rồi mẹ hỏi chuyện vồn vã, rồi...

- Đấy nhá? (giọng Vũ châm biếm) Bác Trường Sơn bác đối xử với tài xế của mẹ lịch sự cũng như mẹ đối xử lịch sự nhã nhặn với tài xế... Có gì đáng hãnh diện đâu? 

- Hỗn phải không? Tao đánh bây giờ!

- Đánh đi coi! Ngày Tết, mẹ còn chưa đánh nữa là chị, ỷ lớn phải không?

Cuộc đấu khẩu trở thành "găng" làm mẹ phải can thiệp:

- Thôi! Im! Không được cãi nhau. Đứa nào cãi nhau, ngày mai mẹ không cho phép ra chào khách đó.

Câu đó coi như có hiệu quả. Cả bọn im thin thít. Riêng Thu, Thu có tính nói dai, nên cũng còn cố trả đũa em trai mình một câu:

- Ừ, tài xế đó! Có gì là xấu hổ không? Khối đứa ao ước chảy nước dãi ra mà vẫn không được sờ đến cái bánh xe ấy chứ lị.

- Ai thèm sờ bánh xe chị? Người ta có xe đạp chớ không sao?

- Xe đạp nghĩa lý gì... hừ, xe đạp...

Vũ không kém cạnh một ly con nào:

- Phải! Xe đạp không nghĩa lý gì, mà không tốn xăng là được rồi. Nếu ba mẹ không cho tiền mua xăng coi, chị có bị treo giò không? Nói phét!

- Nói ai treo giò, thằng khỉ? Tao đánh coi!

- Đàn bà con gái mà vũ phu, hở chút là dọa đánh.

Mẹ giận đến một trăm linh hai độ rồi. Máu trong huyết quản mẹ như sôi lên, mẹ lẳng lặng vô phòng tắm rút cái roi nghe đến "soạt" một tiếng, may thay, ba can thiệp:

- Thôi, ngày Tết mợ tha cho chúng, rồi sẽ trị tội sau.

*

Sáng mồng hai, mới tờ mờ sáng, mẹ và Thu đã săn sóc mấy lọ hoa. Thu nảy ra cái sáng kiến là lấy bình bơm nước (mẹ thường dùng bơm nước để ủi quần áo) mà bơm nước lên cho đều tận các cuống hoa. Mẹ tán thành ngay. Mẹ lại thay nước cũ, thay bằng nước mát trong tủ lạnh, xong đâu đấy, hai mẹ con khệ nệ bưng mấy lọ hoa lên. Chưa khỏi cửa nhả ngang đã nghe tiếng gõ cửa. Mẹ ngạc nhiên, quay hỏi Thu:

- Ai mà đến sớm thế nhỉ?

- Bác dậy chưa? Cẩn thận nhé! Có đánh nhau đấy. Đừng ra đường đấy. Giới nghiêm suốt ngày đấy!

Giọng bác K. vọng vào từ cửa lớn, đầy vẻ kinh hoàng. Mẹ tưởng mình nghe lầm, hỏi lại:

- Bác nói gì? Ai đánh nhau?

- Bên kia chứ còn ai, thế ra bác không hay gì sao? Ra-đi-ô nói từ sáng sớm...

- Trời ơi!

Thu và mẹ cùng kêu lên một loạt. Tuy nhiên, Thu chưa biết mức độ nguy hiểm đến bậc nào, chỉ ngay ngáy có một điều: nếu quả thật giới nghiêm ban ngày, cấm đi lại thì hết hy vọng Gia Đình Tuổi Hoa đến được... nhà mình.

Mẹ tức tốc phóng ba bước lên gác, gọi ba dậy, báo tin này. Ba tức tốc mở ra đi ô nghe tin tức. Không khí bỗng trở nên căng thẳng. Mẹ ra sân ngước mắt nhìn lên bầu trời, trời u ám chứ không đẹp như mọi hôm. Mẹ có vẻ buồn nhưng không nói gì nữa.

Thu vẫn còn ấm ức:

- Như vậy chừng nào con mới đi thăm và chúc Tết các thầy con được, hả mẹ?

Mẹ trầm ngâm không trả lời. Vũ và Hà hí hởn:

- Đi sao được? Chị đem hai hộp quà ra chia cho tụi em quách đi cho xong.

- Sao chúng mày tham ăn thế? Lúc nào cũng mong mỏi có mỗi chuyện ăn.

Ba pha trò nhưng chẳng ai cười được. Có tiếng chuông reo. Hà phóng ra ngõ, Vũ phóng ra ngõ, mẹ và Thu cũng phóng ra ngõ. Dì Đ. mặc áo ngắn, tay bế đứa con trai mới đầy năm của dì, tay nữa xách cái tay xách nhỏ, hớt hải vào nhà, thở hào hển, nói không ra tiếng:

- Đánh nhau to quá, anh ấy chở em đến ở nhờ anh chị đây, không dám ở nhà.

Trọn ngày, mẹ chỉ những ra, vào, lên, xuống và ngong ngóng nghe tin tức. Lần thứ hai trong đời Thu, Thu trông thấy mẹ chịu khó nghe tin tức ở đài Phát thanh. (Lần đầu mẹ nghe là lần đảo chính 1/11/63) Giới nghiêm 24 trên 24 tiếng. Nhạc. Tin chiến sự các nơi. Thu chán, hết muốn nghe. Thu nuôi cái hy vọng mỏng manh là ngày mồng ba sẽ hết giới nghiêm, hoặc cũng chỉ vào buổi tối.

Song mồng ba chẳng khác gì. Trèo lên gác thượng nhìn về phía Chợ Lớn, những cột khói, những tiếng nổ thi nhau xuất hiện và vọng lại tai Thu. Báo có hai trang đăng toàn hình ảnh và tin tức chiến sự.

Thế mà ai cũng đua nhau mua. Ba không cho ai ra đường hết. Mẹ và Thu sốt ruột trông thấy.

Sớm mồng bốn, lại có thêm dì H. và các con của dì đến tránh đạn. Nhà dì ở cạnh cầu chữ Y nên dì rất hãi, nhà lại có một mình dì và các con, chú ấy mất đã lâu, còn cậu T. thì lo đi cứu trợ đồng bào với các bạn dưới trụ sở sinh viên suốt ngày.

Vậy là nhà thêm bốn đứa trẻ nữa, cả bọn tha hồ đùa nghịch ầm ỹ, mặc dù mẹ và các dì không ngớt lo ngại, đăm chiêu, nhất là vào buổi tối, một tiếng động khẽ cũng đủ làm cho mọi người nhớn nhác, kinh hoàng.

Mẹ hằng ngày vốn ghét truyền hình, bây giờ mẹ chỉ ngóng đợi đến giờ để mở ra xem. Mục gì mẹ cũng không chê, chỉ cốt cho thần kinh bớt căng thẳng, cho quên. Đêm ai cũng giật mình thon thót, nín thở, lắng tai...

Mẹ mặc áo đi lăng quăng trong xóm cho qua thì giờ, nhưng thì giờ như ngưng đọng không chịu trôi qua.

Tối mồng bốn, trong lúc mọi người đang xúm xít trước máy truyền hình, bỗng có tiếng "kêu gọi" bên ngoài văng vẳng. Mẹ đứng bật dậy đến bên mành cửa nhìn ra nghe ngóng. Tiếng nói chợt im. Từ bấy giờ trở đi, mẹ ra lệnh chỉ mở xem hình mà thôi, không cho nghe tiếng. Buồn cười hết sức, tuồng cải lương đang hồi gay cấn, chỉ còn thấy môi các diễn viên mấp máy và điệu bộ múa may, chả hiểu gì sốt.

- Chán bỏ xừ đi, tắt quách còn hơn.

Dũng, con trai dì H. cầu nhầu. Dì nạt nó:

- Đứa nào không coi thì đi ngủ đi, đừng chê bai gì hết.

- Cố đoán mà hiểu, thế này con hơn ngồi không.

Thình lình, tiếng kêu gọi lại vọng lên mồn một:

- Yêu cầu đồng bào hãy sẵn sàng giáo mác, gậy gộc để sáng mai ra đường...

Trong một nháy mắt, tất cả đèn đóm đều tắt ngấm, truyền hình cũng vậy. Các dì, mẹ, mỗi người sờ soạng trong bóng tối bồng và dắt lũ trẻ vào giường. Tội nghiệp em Bé: nó sợ cho đến nỗi mồ hôi nó toát ra ướt đẫm lưng, nhưng nó không nói gì cả, chỉ ôm chặt mẹ.

Thằng Xinh đã thôi bú mẹ, nhưng mấy hôm nay lại được mẹ nó cho bú nhiều hơn bao giờ hết. Dì không dám để nó vòi, nó khóc, làm như tiếng khóc của thằng bé mới thôi nôi đó kêu gọi sự nguy hiểm tới vậy.

Trong ngoài, trên dưới phẳng lặng, một sự im lặng ghê rợn đầy đe dọa. Thu nằm yên bên em Bé và mẹ, cả ba đều nghe rõ nhịp thở của nhau.

*

Ngày mồng năm, ngày mồng sáu, tiếng súng nghe như quen tai đi, khi xa tít, khi xa vừa, nhưng cứ từng chặp, từng chặp đoàn người kéo nhau lũ lượt đi vào con hẻm nhà Thu. Họ lôi thôi, lếch thếch, ngơ ngác như những kẻ mất hồn.

Truyền hình có từ hai giờ rưỡi. Giới nghiêm từ hai giờ chiều.

Cả nhà (kể cả mấy dì) đều ngồi lại chơi bài trừ mẹ và cu Minh, em Bé, Thu, Vũ, Hà đều mê mải say sưa. Con Hà gớm thật, mới tập có mấy hôm nay mà đã thạo.

Mẹ không bằng lòng, nhưng mẹ không nỡ cấm, cấm thì cả nhà còn biết làm gì? Không ra khỏi ngõ được, hạt dưa, mứt, kẹo, hoa quả cạn dần. Thu và mẹ cũng hết muốn can ngăn, dành phần cho những người khách quí mà cả nhà đã mỏi mòn chờ đợi.

Trưa mồng sáu, ba đề nghị:

- Này, hay là anh đi chơi một chốc xem?

- Rồi chiều hai giờ, ba về không kịp thì sao?

- Không sao, nếu về không kịp thì ba cứ ở lại, sáng mai về. (Mẹ nói)

- Không, con không chịu ba đi. (Minh phụng phịu)

- Cái gì mà sợ? Ba ở nhà buồn, hãy để ba đi chơi một hôm cho đỡ quẩn chân. Mẹ ở nhà với con mà.

Chiều mồng sáu, vì không có ba nên mẹ cho ăn cơm sớm, gài chặt cửa nẻo, lên lầu chơi. Không ai nói ra nhưng mọi người đều không che giấu được nỗi lo âu. Truyền hình được mở ra. Ai cũng có vẻ chăm chú nhưng kỳ thật không một ai còn lòng dạ nào mà thưởng thức. Thì giờ ngưng đọng.

Sau cùng mẹ bảo:

- Mẹ chia ra: tụi con trai ngủ trên lầu. Mẹ, dì Đ. và con gái ngủ dưới nhà. (Dì H. và ba con của dì về nhà từ sáng qua). Vũ, Minh và Sơn (con chú B. ở Dĩ An về chơi, bị kẹt) kéo chăn trùm kín mít. Giá mẹ thấy thì mẹ rầy đấy. Nhưng bây giờ mẹ còn lo cắt xếp nhà dưới.

Chỉ một chốc sau là lũ con trai ngủ say. Con gái cũng vậy, còn lại mẹ, dì và Thu thao thức, phập phồng lo sợ. Bỗng mẹ lay khẽ Thu một cái, thì thào:

- Y như có tiếng chân người.

Thu cùng mẹ nhẹ nhàng nhỏm dậy hé cửa sổ nhìn ra, ngoài vườn, một toán người võ trang kéo nhau đi, nép sát vào tường, không nghe tiếng giày mà chỉ nghe võ khí va nhau canh cách. Thu lạnh cả người, không thở được. Song mẹ vẫn bình tĩnh, chạy sang phòng dì phía trước xem, sau cùng mẹ chạy lên lầu, đoàn người vẫn kéo nhau nép sát tường y như một con rắn khổng lổ. Họ vòng ra phía trước và cuối cùng mất hút sau con hẻm đổ ra đường Nguyễn Thiện Thuật.

Mẹ chạy vụt xuống, thì thào với dì Đ. và Thu:

- Nguy quá, chắc là...

Nhưng mẹ chưa dứt lời, một tràng tiếng liên thanh nổ ròn, rồi tiếng chó sủa vang lên.

Mẹ kéo Thu về giường. Súng càng lúc càng nổ mau, nhiều và gần hơn. Mẹ trải chiếu xuống đất, bế Bé đặt nằm xuống với Thu rồi lo chạy lên lầu đánh thức tụi con trai dậy. Sơn lấy chăn che đầu phóng xuống. Vũ vẫn còn ngái ngủ, ngồi lên, nằm xuống mấy lượt mới tỉnh hẳn theo chân Sơn. Mẹ  bế cu Minh, sờ soạng trong bóng tối, xuýt ngã mấy lượt.

Phòng bên kia có tiếng ọ ẹ của thằng Xinh, rồi tiếng nó ngoạm vú dì nút nghe chim chíp. Một con mối tắc lưỡi đâu đó. Quái, đồng hồ y như chết rồi, Thu đợi mãi chẳng nghe nó đổ 15 phút đều đều như thường lệ.

Trong sự căng thẳng ghê rợn đó, thỉnh thoảng một tiếng mèo gầm gừ lên, đâu dưới bếp làm Thu giật thót cả mình.

Rồi Thu thiếp ngủ cho đến khi nghe súng bắn gần quá mới thức dậy. Trời tờ mờ sáng rồi, Thu mừng quá. Mẹ lo súc hồ lấy nước và giặt gịa. Mặt trời lên thì xong. Thu giúp mẹ phơi áo quần mà chỉ nơm nớp sợ đạn nó véo trúng mình. Súng càng lúc càng bắn già. Xung quanh xóm nhốn nháo chạy sang gõ cửa xin nấp nhờ. Nồi cơm bắc lên thật khó khăn mới chín.

Mẹ mới mở cửa nhòm một cái thì có tiếng ra lệnh:

- Vào nhà, đóng cửa cẩn thận đi, bà.

11 giờ. Mẹ cho cả nhà ăn cơm, bát đũa mang xuống, nhưng chưa rửa, còn mẹ, mới bới chén cơm bỏ vào chút muối vừng rang, thì súng lớn nổ rung chuyển cả nhà. Thế là mọi người náo loạn cả lên. Mẹ bảo hãy nằm yên. Vừa lúc đó có tiếng ba gọi cửa.

Thu mở cửa cho ba vào, mừng quá. Ba nói:

- Thu coi mở cửa nhà xe, mau. Lũ nhỏ mỗi đứa lo lấy áo quần phần mình cho vô cặp, chờ ba đem xe ra trước, chạy ngay. Dì Đ. bế thằng Xinh đi luôn.

Tụi nhỏ coi thế mà cũng khá lanh. Chỉ một nhoáng là chúng xách mỗi đứa một cái cặp phóng theo ba liền.

Mẹ, Thu ở lại. Vì có muốn theo cũng không kịp nữa. Thu gài kỹ cửa, chạy vào nằm bên mẹ. Tiếng khóc, tiếng cầu nguyện vang lên, thỉnh thoảng bị súng lớn, súng nhỏ át đi. Lũ trẻ (nhà hàng xóm) ban đầu còn khóc thét, khóc ngằn ngặt, sau cùng chúng im thin thít, giương những con mắt kinh hoàng thao láo nhìn quanh. Tội nghiệp con út của bác P. bác bị chặn ở bên nhà, nên Phương là anh trai nó, mới 12 phải bế nó chạy sang. Nhiều đứa không thèm bú mẹ nữa. Một bà ra dáng can đảm nhất chạy xuống cửa bếp nhìn qua khe, chỉ một phút sau bà tái mét chạy bật lên, nói:

- Ghê quá, nhiều lính phía sau quá. Bao nhiêu là súng lớn, súng nhỏ...

- Lính nào?

- Lính nào?

- Đố ai mà biết được. Rõ...

Nhưng không ai giận ai. Trong nguy hiểm, mọi người xích lại gần nhau hơn. Dựa vào nhau để thêm can đảm và như đứa trẻ cần che chở. Bà N. bế con nhỏ, bụng gần sinh, khóc òa lên:

- Trời ơi, nhà tôi cắm trại cả đêm nay, chắc chết thôi!

Mẹ sợ xanh mặt nhưng cố làm gan, nắm tay bà, an ủi:

- Đừng sợ, không sao đâu, chị à!

Rồi mẹ hỏi cô K. ngồi bên mẹ:

- Bà cụ đâu? Chị M. đâu?

Lúc bấy giờ cô Kiên mới nhớ ra mẹ và chị mình bị kẹt bên kia. Cô hoảng lên và nghe tiếng đứa cháu 18 tháng khóc, cô đâm cáu, gắt:

- Có câm họng đi không?

Mẹ can:

- Thôi, tội cháu. Đừng gắt nó.

Lũ trẻ càng khóc già. Mẹ hé cửa tủ lấy chùm nho cuối cùng (chùm nho mà mẹ không cho đứa nào đụng đến, để phần ba) ngắt ra chia cho đứa vài quả.

Đạn nổ nghe lách cách, đạn nổ nghe xoàng, xoàng, xoàng... tạch tạch tạch, đạn nổ nghe veo veo veo... Nhà cửa rung lên từng hồi.

- Con coi lấy ít áo quần cho vào xách tay.

- Còn mẹ?

- Mẹ cũng vậy.

Nhưng hai mẹ con đều không dịch chân được. Các cửa phòng bị những người nấp nhờ dùng đồ đạc của họ mang theo chắn đạn mà đạn cứ xuyên qua vách, lóe sáng lên, xoi cả cầu thang. Mẹ không còn hy vọng mang theo gì được nữa. Song mẹ dặn Thu:

- Hễ ngớt tiếng súng là mẹ con ta chạy liền, nghe chưa. Không cần đem theo gì cả. Miễn thoát chết thôi.

Súng thưa đi. Mẹ ra hiệu bằng mắt, lập tức Thu chạy lại cửa, nhưng rồi Thu lùi lại ngay:

- Trời ơi! Con thấy... ghê quá, không chạy được đâu.

- Cái gì? Cô thấy cái gì?

- Một người đàn ông với một người phụ nữ nhảy tường vào nhà mình, đang chong súng chờ sẵn... chắc...

Tiếng súng tiếp liền theo đó, át lời Thu. Mẹ bịt hai tai lại. Giọng mẹ nghẹn ngào, tuyệt vọng:

- Thôi, thế là mẹ con mình đành chờ chết thôi.

Mọi người không hơn chi mẹ: run rẩy, tái xanh, hoảng sợ. Có người như ngất đi. Tiếng súng ngay sau lưng, tiếng súng ngay trước mặt, ngay bên tả, bên hữu...

Tất cả gục xuống như những cái xác. Lũ trẻ hết cả hơi, không kêu, không khóc nữa.

Mùi thuốc súng cay nồng cả mũi. Có tiếng chân người chạy rầm rập, toán loạn, tiếng kêu: "Cháy, cháy" bên ngoài. Súng thưa đi, tiếng kêu la dồn dập. Mọi người nhất loạt đứng dậy, chạy ùa ra. Lửa rực trời, lửa chói lọi, khói đen như một cái cột khổng lồ...

Máy bay quần đảo rợp trời. Tiếng loa kêu gọi nhưng chẳng ai nghe gì cả. Ba chạy vào nhà, bảo mẹ:

- Mẹ con chạy ngay đi.

- Chạy đi đâu? Sao anh không mang các con đi xa cho yên thân, còn trở lại làm gì?

- Không sao, chúng đã ở xa tầm đạn lửa, an toàn lắm. Mợ và Thu chạy đi. Ngớt bắn rồi, mau lên, không lại không kịp đó.

Thu lúng túng không biết nên lấy cái gì, vơ mấy chiếc áo dài thì mẹ ngăn:

- Không, chạy giặc, con đem áo dài theo làm chi? Lấy những thứ bền, chắc, gọn gàng kia.

Ba vẫn giục. Mẹ nhìn quanh, mẹ nói thế nhưng mẹ thì do dự, cái gì đối với mẹ cũng quí, cũng đầy kỷ niệm. Mẹ không biết nên mang theo cái gì, để lại cái gì.

Sau cùng hai mẹ con mang theo hai cái chăn, hai cái quần đen và một cái áo rách. Ra đến cửa mẹ nhớ sực, hỏi ba:

- Anh để xe chỗ nào để tôi ra với con chứ?

- Cứ đi thẳng. Đi thẳng là tới.

- Còn anh? Đi luôn cho xong.

- Không, để anh xem lửa có thể cháy nhà mình không, anh đi sau. Không sao đâu.

Thế là hai mẹ con bị cuốn trong lớp sóng người cuồn cuộn từ sau đổ ập tới, tuôn thẳng ra đường Phan Thanh Giản.

Mẹ nhìn ngang, nhìn thẳng, nhìn quanh chẳng thấy xe, dì với lũ trẻ đâu.

Súng bắt đầu nhặt lại. Lửa bốc cao, khói mịt mù. Thu với mẹ ngừng lại, lui tới quanh quẩn vẫn không thấy xe. Lính từ trên các lầu cao chĩa súng xuống, to tiếng giục đi qua mau, kẻo nguy hiểm... Mẹ và Thu như hai kẻ mộng du, chẳng còn tỉnh táo gì nữa. Cứ bước, bước tràn... Qua Trần Quốc Toản rồi lại qua Cao Thắng. Nhiều chiếc xe hơi vút qua, nhiều chiếc xe gắn máy vút qua, không thấy tăm dạng ba đâu. Mẹ muốn lộn lại song đường vào hẻm bị chận. Nhưng mẹ không khóc, mẹ đi ra Phan Thanh Giản. Mẹ hỏi Thu:

- Có phải con nghe ba nói cứ đi thẳng không?

- Vâng, con cũng nghe y như mẹ.

- Vậy thì cứ đi. Thế nào cũng gặp.

Thỉnh thoảng hai mẹ con lại bị đuổi, phải ngừng lại, nép sát vào hè phố cho chiếc xe nhà binh, lăm lăm đẩy mũi súng chĩa ra chạy vụt tới.

Mọi người cùng chạy đã tản mát dần. Mẹ con đâm hãi! Gặp ông bà Q. bốn người nhập lại, thấy vững lòng hơn.

Ngang nhà họa sĩ M., ông vồn vã mời ông bà Q. và mẹ cùng vào. Bà chủ nhà cắt dưa, mang bánh mì mời mọi người, nhưng mẹ và Thu chỉ xin cốc nước lọc.

Lúc chia tay, bà chủ nhà nắm tay mẹ rưng rức khóc mà rằng:

- Bà đi bình yên. Chúng tôi chắc cũng chạy thôi. Tôi hãi quá rồi...

- Xin ơn trên gia hộ cho ông bà và các cháu. Mong còn có ngày chúng ta gặp nhau. Bà hãy bình tĩnh, chắc khu này chưa đến nỗi nào...

Ông bà Q., mẹ, Thu và 5 đứa con chị D. với bà S. kéo nhau thành một tiểu đội lếch thếch. Ông bà Q. tỏ ý không bằng lòng, nhưng mẹ không thể nào rứt được mấy người này. Sau cùng ngang nhà thương Bình Dân mẹ chạy vào nài nỉ xin gửi 5 em bé và bà S. lại. Bà ta khóc, mẹ phải giảng giải:

- Chị và lũ trẻ không thể theo tôi được, tôi còn phải quay lại tìm nhà tôi với các con tôi. Nắng, lôi chúng theo chúng đến ốm mất thôi, vả lại vướng chân, chậm, lỡ họ bắn cho thì khốn. Cứ ở đây tránh nắng. Rồi sẽ tính sau. Đừng sợ gì hết. Yên xong tôi sẽ tin cho cha mẹ chúng lại đón.

Bà S, gạt nước mắt, bằng lòng.

Mẹ ngần ngừ, muốn quay về lối cũ tìm ba và các em nhưng ông Q. chỉ cho mẹ những cột khói đen nghịt ngay tầm mắt. Thu và mẹ cùng kêu lên:

- Trời! Cháy lan đến cả đường Nguyễn Thiện Thuật rồi.

Bà Q. lẩm bẩm:

- Những ba cột khói. Thôi, chắc nhà chúng ta tiêu tan rồi, bà ạ! Đừng quay lại, chắc ông và các cháu chạy xa rồi.

- Bây giờ bà và cháu định chạy đi đâu?

Ông Q. hỏi mẹ. Mẹ thẫn thờ đáp:

- Tôi chưa biết chạy đi đâu cả. Vả lại, tôi còn phải tìm các cháu và ba chúng.

- Bây giờ bà hãy cùng chạy với chúng tôi, thong thả sẽ tính sau.

Mẹ và Thu phân vân, nhìn những cột khói ngụt trời, và lắng nghe tiếng nổ một giây, rồi lặng lẽ theo chân ông bà Q.

Trời nắng gắt, mẹ xách hộ ông Q. cái xách tay. Ngang nhà một người quen của ông, ông dừng lại, nói vọng vào mấy câu. Trong nhà chạy ùa ra, chào hỏi, trò chuyện một chút rồi đưa biếu hai quả cam. Lại chia tay trước khi hứa hẹn, dặn dò. Những lời đó thoáng qua tai Thu rồi bay mất.


Đến ngã tư Lê văn Duyệt - Phan Đình Phùng ông bà Q. gọi được chiếc xích lô, ông bà bước lên, chúc mẹ may mắn rồi bảo xe chạy về phía Trương Minh Giảng. Thế là còn có hai mẹ con. Xung quanh toàn người lạ. Ai cũng lầm lì câm nín hay hớt hải, kinh hoàng.

- Giới nghiêm rồi đó mẹ, mẹ tính đi đâu?

- Cứ đi thẳng. Đến nhà bác C. rồi tính sau. Thế nào mẹ cũng phải tìm ba với các em. Mẹ gửi con ở đó đặng dễ...

- Không, con đi với mẹ kia.

- Đi làm gì cho vướng? Mà thôi, hẵng cứ đến đó xem đã.

Đường bắt đầu vắng. Trừ vài cái xe gắn máy chạy vút qua hay chiếc xe Hồng Thập Tự phóng nhanh, không thấy ai đi bộ nữa. Mẹ con lại nhìn nhau, bối rối.

Ngang trước một cái nhà sơn xanh, một thiếu phụ chạy ra hỏi mẹ:

- Bà ở đâu mà chạy đến đây? Giới nghiêm rồi...

Mẹ dừng chân, đáp:

- Thưa tôi ở đường Phan Thanh Giản, trong hẻm Vườn bà Lớn...

- Rõ khổ, xóm đó là xóm nhà của người bạn tôi. Anh L. đấy, không biết gia đình anh ấy có thoát không...

Người chồng lên tiếng. Mẹ nhìn người đàn ông, hỏi lại:

- Thưa, ông có biết nhà tôi?

- Thế chị là chị L. phải không?

- Vâng! Tôi là...

- Anh ấy và các cháu đâu? Trời ơi! Chị vào đây nghỉ đã.

Bác gái nắm tay mẹ lôi vào, còn bác trai thì nắm tay Thu. Mẹ kể lại đầu đuôi. Bác trai chạy sang nhà bên cạnh (hóa ra là nhà bác V. anh họ của ba) báo tin. Bác V. hớt hải chạy sang:

- Bây giờ thím tính sao?

- Thưa, tôi gửi cháu Thu ở đây quay lại tìm nhà tôi, thế nào cũng phải tìm...

- Để tôi bảo cháu nó chở thím đi, đừng đi một mình.

Và bác trở về nhà, bảo con trai bác đem xe qua chở mẹ. Thu có ý không bằng lòng, mẹ phải dỗ dành mãi, Thu mới thuận. Anh K. (tiếng là anh em mà Thu chưa từng biết mặt bao giờ) cho nổ xe rồi mời mẹ lên băng sau, chạy về đường cũ. Thu sốt cả ruột, hết ra lại vào. Lòng dạ nào mà uống nước cam. Làm sao mà vui được trong lúc mẹ một đường, ba và các em một ngả? Nhưng Thu không dám khóc, Thu ngồi dí ở cánh phản, đăm đắm nhìn ra đường.

Cỡ bốn giờ chiều thì anh K. chở mẹ trở về. Dáng mệt mỏi và thất vọng, mẹ nói cho Thu biết rằng không tìm thấy xe ba. Mẹ ngồi rốn, uống cốc nước dừa rồi xin phép vợ chồng bác V. đi đến nhà bác C. vì Thu không thích ở nhà bác V. (Thu không quen ai trong nhà cả, nhà bác C. thì Thu chở mẹ đến ngày một, khi đến chơi, khi đến giao bài cho báo, mẹ lại thân với bác gái, còn Thu thì quen với lũ nhỏ con bác ấy)

Cửa đóng im ỉm, mẹ vừa gõ cửa vừa lo: "ngộ hai ông bà chạy mất thì nguy"

Nhưng may quá, có tiếng bác gái trả lời ngay và cửa mở ra. Thu cảm thấy an toàn, thân mật trong khung cảnh nhà bác C. hết sức.

- Tôi chỉ lo ba cháu bị thiêu trong lửa... và lũ nhỏ...

- Trời ơi! Chị cứ lo... người như anh ấy mà lại dại dột cho đến nỗi... Chị và cháu mệt lắm rồi, hãy cứ nghỉ đây. Mai sẽ tính.

Nhưng mẹ không ngồi yên, bác lại chở mẹ đi nữa. Rồi lại thất vọng trở về. Đường phố im vắng. Mặt trời xuống thấp. Hai bác kiếm đủ lời để trấn an mẹ. Bữa cơm chiều được dọn ra. Thu nghe hai tiếng yên tâm được lập lại nhiều lần, song nét mặt biểu lộ tất cả những gì trái lại. Thu thì chưa kịp biết sợ, biết lo. Đây là lần thứ nhất trong đời, Thu nếm mùi loạn lạc. Đạn nổ, lửa cháy, ngay giữa thành phố Sàigon giữa mùa Xuân. Thu tức nghẹn.

Truyền hình được mở ra. Nhưng tất cả phảng phất quanh Thu như nửa thực nửa mộng.

- Mẹ, con bỏ quên cái học bạ ở nhà rồi, chắc cháy tiêu rồi.

- Tất cả đều cháy tiêu, riêng gì cái học bạ của con đâu.

Mẹ trầm giọng, nói. Bác gái cho giăng màn, mời hai mẹ con đi nghỉ, kẻo mệt.

Đèn tắt ngấm. Hai mẹ con nằm bên nhau cùng nén tiếng thở dài và tiếng kêu than. Mẹ không ngủ được. Mẹ rón rén ngồi lên, ra phòng khách, vặn đèn đọc báo. Song hình như mẹ không đọc được. Mẹ lại tắt đèn chui vào màn. Mẹ quàng tay qua ôm lấy Thu và mẹ nức lên khóc, song mẹ cố giữ, không cho tiếng khóc được bật ra to. Thu thì thào: "Mẹ đừng khóc, mai con sẽ đi tìm ba với mẹ, mẹ con cùng đi, chừng nào thấy mới thôi"

- Tội nghiệp con Bé, nó không bao giờ rời mẹ. Tối nay...

Giọng mẹ nghẹn lại, tiếng khóc lại bật lên. Thu không cầm được nữa. Đến lượt mẹ dỗ dành:

- Chớ khóc, để yên hai bác ngủ. Đừng lo. Đã có mẹ bên con.

Nhưng Thu cứ khóc, Thu cứ khóc. Thu khóc cho đến nỗi khan cả tiếng, ngạt cả mũi, không thở được và Thu phải ngồi lên để thở một chút.

Tiếng súng nhặt thưa từ xa vọng lại trong đêm khuya. Mẹ dìu Thu nằm xuống.

Mẹ hôn lên tóc, lên mặt Thu, thì thào, giọng đẫm nước mắt:

- Phải, mai mẹ con ta đi tìm các em với ba. Nhất định phải tìm ra. Ngày mai...

Ngày mai! Nếu ngày mai không tìm ra? Mãi mãi không tìm ra? Thu lạnh người, rùng mình khi nghĩ tới điều này. Y như có bàn tay khổng lồ bóp nghẹt tim Thu, y như máu trong huyết quản Thu ngừng chảy, tim ngừng đập. Thu nghẹn thở vì kinh hãi. Trong một chiều tai biến đến nhanh như thế sao? Nhà cửa, áo quần, sách vở, tranh ảnh mất?... Được! Nhưng còn ba và các em... Thu nhắm chặt hai mắt lại, nước mắt ràn rụa trào ra. Nước mắt mà Thu tưởng Thu khóc cạn cả rồi...

- Hãy can đảm! Còn có mẹ đây, con ạ!

Còn có mẹ! Còn có mỗi mình mẹ! Với hai cái xách tay nhỏ bé đựng hai chiếc quần và một cái áo rách, hai chiếc chăn. Với mấy phong bao tiền mừng tuổi ngày tết. Với cuốn sổ tay của mẹ, bên ngoài bìa có hàng chữ "Never alone" mầu xanh và cái bút nguyên tử đỏ. Thu xót xa thấm thía. Liệu mẹ có thể đương đầu với những bất trắc của Ngày Mai? Ngòi bút liệu có nuôi nổi mẹ và Thu? Chao ơi! Sao mà ghê rợn thế? Ba và các em giờ này ở đâu? Ba làm sao rửa ráy, săn sóc chúng thay Thu và mẹ được? Chắc là lạnh lắm, buồn khổ lắm. Con Bé và cu Minh chúa bướng, chúng khóc đòi mẹ và chị, ba liệu cách nào?... Hàng chục hàng chục câu hỏi xoay ngang, xoay dọc trong đầu Thu, chật ních.

Thu cảm thấy mình mệt mỏi rã rời, chán nản hơn bao giờ hết. Trong bóng tối, mẹ sờ tay lên mặt Thu, bàn tay ướt đẫm vì nước mắt, giọng mẹ bỗng nhiên trầm tĩnh và tin tưởng lạ thường:

- Con đừng buồn nữa, ngủ đi! Hãy cảm ơn trên, dù sao, mẹ mừng còn có con bên cạnh. Rồi mẹ con ta sẽ vượt qua thử thách ghê gớm này. Chắc xe ba rẽ vào một ngõ hẻm nào đó... ngày mai gặp, thế nào mẹ cũng bị ba rầy... Con yên tâm.

Thu vụt im bặt, một tia hy vọng lóe sáng trong đầu Thu, Thu cố bám vào đó. Phải! Ba điềm tĩnh, khôn ngoan, có lẽ nào...

Vả lại, dù gì đi nữa, mẹ nói đúng: Thu còn có mẹ, mẹ còn có Thu.

Rồi tất cả sẽ qua đi như một cơn ác mộng. Dù đây không phải là ác mộng và chưa biết ngày mai ra sao. Hãy cứ biết cảm ơn trên và tin tưởng. Thu thiếp dần trong vòng tay mẹ và trong tiếng súng rời rạc nhắc nhở nỗi kinh hoàng trong dịp đầu năm.


MINH QUÂN    

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 87, ra ngày 15-3-1968)

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2020

Lòng Người Ra Đi


 
















Mai tôi đi rồi
xin giã từ thế giới học trò với nhiều thương tiếc.

Mai tôi đi rồi
xin giã từ bạn bè với nhiều kỷ niệm,

Mai tôi đi rồi
đi đột ngột như một loài hoa nở về đêm,

Mai tôi đi rồi
kỷ niệm nào tôi mang theo,
kỷ niệm nào tôi để chết trong quên lãng?

Mai tôi đi rồi
hành trang nặng trĩu tủi hờn
và bước chân tuổi trẻ mang hành trình vào chất tưởng,

Mai tôi đi rồi
thời gian sẽ là buổi sáng có sương trắng ngủ dài trên mặt đất với cảm tưởng đầu tiên tôi xin giao hòa 1 bài thơ thứ nhất để định nghĩa cuộc đời:

Ai đã bảo cuộc đời là đoạn đường lý tưởng?
Ai đã bảo cuộc đời là đoạn đường chông gai?
riêng tôi cuộc đời là tiếng mẹ ru con ngủ và tiếng khóc của người thân thuộc hoặc u mê hơn cuộc đời là chiếc nôi và hố dài hình chữ nhật.

Mai tôi đi rồi
không có người đưa tiễn
bởi mặt trời xuống núi cũng mù sương,
con chim đó bây giờ đã vỗ cánh,
các bạn và người thân đừng nghĩ gì đến người ra đi mà nên cầu nguyện cho quê hương từng đêm về súng nổ,

Mai tôi đi rồi
bài thơ này xin làm quà giã biệt.

TRẦN MIÊN TRƯỜNG      
(ĐỖ TƯ LONG)             

--------------------------
Đỗ Tư Long, 1 bạn thơ của chúng ta đã giã từ nếp sống học trò để vui đời quân ngũ
Long xin các bạn thơ viết thư cho Long vào những lúc rảnh.

Địa chỉ: Đỗ Tư Long, Đại đội 1-67, Trung đội 1, Tiểu đội 2, KBC 4773

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 66, ra ngày 1-4-1967)

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2020

Cầu Tre Lắt Lẻo


- Minh, mầy làm luận văn chưa?

- Rồi. Còn mầy?

- Chưa, mầy cho tao mượn bài mầy một chút đi.

Thằng Minh khe khẽ lắc đầu, một thoáng buồn trên đôi mắt to đen. Thằng Hưng, không thất vọng, từ dãy ghế sau chồm lên:

- Cho tao mượn một chút thôi. Lẹ lên mầy, ổng sắp vô rồi kìa.

Thằng Minh lặng lẽ cất quyển vở luận văn vào cặp. Thằng Hưng tưởng bạn giỡn cù nhầy liền thọt lét vào nách thằng Minh:

- Thôi mà. Đưa lẹ đây cho tao nhờ.

Gương mặt thằng Minh vẫn bình thản đến dửng dưng. Tiếng nó khô và lạnh:

- Tao không giỡn.

Thằng Hưng tròn xoe mắt trước thái độ này. Một ánh nhìn hờn dỗi vây bọc lấy thằng Minh.

- Đừng tưởng tao cần. Không có mầy bộ tao chết sao? Hừ, thứ học giỏi làm phách.

Thằng Hưng quay đi, nỗi buồn tỏa rộng trên khuôn mặt thằng Minh. Thế có phải là đã chấm dứt rồi không, tình bạn giữa nó và thằng Hưng. Những quyển vở mới, những trang giấy còn thơm mùi gỗ, những ngòi viết lá tre bóng lưỡng, còn không, còn không trong tháng ngày sắp tới. Ngần ấy thứ, đối với nó bây giờ vẫn là những món cần thiết mà nó đã đánh đổi bằng những bài toán làm sẵn, những bài luận viết xong cho thằng Hưng "sao" lại. Hai đứa đã giao kết với nhau như vậy. Hai đứa đều có lợi như nhau. Như vậy đó. Như vậy đó Hưng. Nhưng chợt một đêm nó thấy bứt rứt lạ lùng. Nó nghĩ là mình đã chơi xấu với bạn một cái gì. Hành động đánh đổi đó có phải là giúp đỡ bạn không. Chắc chắn là không rồi. Chỉ có hại cho người được giúp đỡ thôi. Và nó quyết định thật vội như sợ người thứ ba để mắt nhìn tới...

Một tiếng hô nghiêm đẩy bật dậy những đứa học trò còn ngồi lơ đãng tán dóc. Thầy giáo Tâm, với gọng kính trắng như bao giờ, với gương mặt phúc hậu trầm tư mênh mông theo tháng ngày lặng lẽ, đã đứng trên bục gỗ trắng bụi phấn, bên cạnh cái bàn giấy tróc sơn, đối mặt với hơn mấy mươi đôi mắt sáng tinh nghịch, những tiếng thì thầm chảy ngầm trong vùng yên tĩnh tạm thời. Bọn học trò con trai là vậy hết. Những tay chân nó chừng không ngừng cử động, những ánh mắt đó như không thôi liếc ngang.

Biết tính nết học trò, đó là bổn phận của hầu hết những bậc gõ đầu trẻ. Biết rõ chúng, rồi theo một phương pháp hướng dẫn thích nghi. Tuổi thơ không biết ngoan cố. Chúng chỉ bướng vì thích bướng vào một lúc nào đó thôi. Sự mềm dẻo khéo léo của ông thầy vẫn là phương pháp duy nhất uốn nắn ngọt lịm khoanh sắt cứng đầu đó.

Thầy Tâm ngồi yên trên chiếc ghế, bài Việt sử đặt trước mặt. Bọn học trò xì xào nhỏ to gì đó. Thầy Tâm đập một nhát thước kẻ lên bàn. Chúng im lìm. Bài sử mang cái tựa rất hấp dẫn: Lê Lợi và mười năm kháng chiến. Bọn học trò xầm xì bàn tán cũng vì bài sử mà chúng chờ đợi từ lâu.

Một ý nghĩ là lạ thoáng hiện trong trí thầy Tâm. Ờ há, mình phải đặt câu hỏi đó với chúng, xem chúng có còn nhớ tí ti gì hay không. Nụ cười tròn trên đôi môi khô tái. Thầy đứng lên bục gỗ:

- Các em im lặng cho thầy đặt một câu hỏi trước khi giảng bài. Câu hỏi rất dễ, trò nào trả lời đúng được mười điểm.

Bọn học trò la lên một tiếng mừng rỡ:

- Thầy nói lẹ đi thầy.

- Còn hổng trúng thì sao thầy?

Thằng Hưng thúc cùi chỏ thằng Lợi:

- Mầy hỏi lãng nhách hà.

- Cái gì lãng nhách mậy.

- Hổng phải sao? Khi không cái hỏi hổng trúng thì sao thầy, thì ăn trứng ngỗng chớ còn gì nữa.

- Kệ tao!

Tiếng thầy Tâm:

- Thầy đố các em chớ trước khi Lê Lợi lên làm vua, ông đã làm nghề gì?

Lớp học bỗng yên lặng sau tiếng nói chậm đều đó. Những trí nhớ sâu hút được bọn học trò dò dẫm thăm viếng lại. Những vòng  tay bất động ngoan ngoãn trên bàn đầy  vết mực tím xanh. Ánh nhìn thầy Tâm đậu trên từng đứa. Thầy tin chắc bọn học trò mình đứa nào cũng thông minh, cần nhất là phải biết cách tận dụng và khai thác sự thông minh đó đúng lúc. Thầy bật cười nhỏ khi thấy chúng chống tay lên trán ra vẻ suy tư như người lớn. Có đứa lại ôm đầu hay bóp chặt vầng trán. Ngày xưa thầy cũng ham điểm, thích được khen thưởng như chúng. Ngày xưa...

Những ngón tay mọc lên lần lần. Những ngón tay khác cứ chực giơ cao, nhưng e ngại hay phân vân gì đó lại thôi. Thầy chỉ một trò, ngồi ở góc cuối lớp:

- Hãnh! Nói cho thầy nghe đi.

Thằng Hãnh đứng bật dậy:

- Dạ thưa thầy trước khi Lê Lợi lên làm vua, ông đã là... học trò ạ!

Cả lớp bật cười vang. Thầy Tâm cũng không nín được tiếng cười chân thành của một sự hòa mình thân thiết nhất. Đến một trò khác, trò Khang.

- Trước lúc lên làm vua, ông Lê Lợi đã... làm quan.

Cả lớp nảy nhổm lên:

- Trật lất!

- Vậy mà cũng giơ tay!

Thằng Khang đỏ mặt ngồi thụp xuống ngay. Đến hai ba trò nữa cũng trật luôn. Chúng hầu hết đều cho Lê Lợi những chức tước do chúng tưởng tượng. Có đưa cho Lê Lợi làm tướng, có đứa lại quả quyết là quan văn, quan thượng thư... Thầy Tâm nói:

- Thầy cho hai trò nữa trả lời thôi.

Thằng Lớn nhanh nhẩu đứng lên:

- Dạ, trước khi Lê Lợi làm vua, ông đã đi lính dân vệ.

Tiếng cười dồn động một lúc vì câu trả lời đó. Phải nhận là thằng Lớn đã rất thành thật và tin tưởng mình đáp đúng. Nhưng sự thật không phải vậy.

Thầy Tâm gõ lên tiếng cuối cùng cho thằng Minh trả lời. Bao nhiêu ánh mắt đổ dồn về thằng Minh. Bàn ghế sách vở bị bỏ quên tội nghiệp dưới bàn tay tinh nghịch đập phá.

- Bình Định Vương trước khi lên ngôi Vua, ông là một nông dân áo vải...

Tiếng thầy Tâm mừng rỡ:

- Trò Minh đã trả lời rất đúng, vậy trò được 10 điểm.

Bọn học trò ríu rít lên như bầy chim buổi sáng...

*

Thằng Minh lấy làm lạ không hiểu sao gần tám giờ hơn rồi mà thầy Tâm chưa đến lớp. Thầy bận việc gì chăng. Hay cơn bịnh nào đó đã đến với tuổi già mệt mỏi của thầy. Bao ý nghĩ giăng mắc trong trí thằng Minh. Hồi chiều qua, nó đã gặp thầy. Thầy hiền kính và giản dị như nơi trú ngụ quá đơn sơ đó. Mái nhà thầy, những tấm phên ngăn đôi, những cái ghế, cái bàn, những cuốn sách chữ Tàu, những cơn gió lùa đập loạn xạ phía sau bụi chuối khô rã rượi. Thầy, chỉ có ngần đó thôi. Thầy hiền kính như người cha, thầy bao la như con sông dài qua nhiều miền đất lạ.

Muốn đến nhà thầy Tâm, thằng Minh phải qua một cây cầu tre. Lần đầu nó bước đi cẩn thận lắm, sợ té bõm xuống nước. Con lạch nhỏ dịu dàng lặng lẽ ở phía dưới những đóa bèo tỏa rộng, cỏ mướt ngọt với màu sắc dung dị. Khi tan buổi dạy thầy Tâm đạp xe về nơi đây. Đến cầu thầy phải dắt bộ. Nhiều lần nên thầy quen đi, dắt xe qua cầu thật gọn và chắc.

Thằng Minh không nghe thầy nói gì về gia đình, cũng không thấy ai thân thích cả.

Bọn học trò chạy đuổi quanh lớp, những đứa tinh nghịch nhẩy, leo lên bàn nhún nhẩy và cười. Thằng Minh nóng mặt quá, nhó lên đứng bục gỗ, cầm cây thước kẻ vỗ đôm đốp trên bảng. Bọn học trò quay nhìn nó phản đối, rồi tiếp tục chạy giỡn. Thằng Minh không thất vọng, nó hét to:

- Các bạn ngồi ngay tại chỗ. Đừng  giỡn đùa nữa.

Có tiếng la:

- Bộ mầy là thầy hả?

- Ê! Thằng kia, mày là gì mà dám ra lịnh chứ?

Tiếng thằng Minh:

- Tao là trưởng lớp.

Thằng Hưng xua tay:

- Trưởng lớp cũng mặc kệ trưởng lớp.

Bọn học trò chia làm hai phe: một phe ủng hộ thằng Hưng, một phe thì lừng khừng. Tiếng chân, tiếng cười làm ồn động cả lớp. Thằng Minh đỏ mặt vì tức giận:

- Tao nói lần chót, ai không ngồi lại chỗ, tao ghi tên mai đưa cho thầy phạt ngay.

Lần này bọn học trò hơi hoảng. Chúng lần lượt về chỗ ngồi. Chỉ có thằng Hưng thì đứng chống nạnh ở cuối lớp tỏ vẻ phản đối ngang ngạnh.

- Hưng. Về chỗ ngồi đi!

Thằng Hưng sấn tới:

- Tao hổng về rồi làm sao?

Tiếng thằng Minh:

- Mày hổng sợ thầy hả?

- Sợ... thì cũng sợ vậy. Nhưng thầy nghỉ tao có quyền về!

Thằng Minh ngăn lại:

- Sao mầy biết thầy nghỉ?

- Thầy hổng tới tức là nghỉ chứ còn gì nữa!

- Thây kệ mầy muốn làm gì thì làm.

Nó trở lại bục gỗ:

- Dù thầy có nghỉ tụi mình cũng không được ra về. Đó là lời dặn hồi tuần trước của thầy. Bây giờ ai muốn về thì cứ tự tiện.

Bọn học trò nín thinh. Chúng bắt đầu sợ oai thằng Minh. Thằng Minh trở về chỗ ngồi, lấy tập ra học. Thằng Hưng cũng không dám về, ngồi múa may tay chân với lũ bạn phá nghịch nhất.

Đúng giờ, bọn học trò kéo nhau ra khỏi lớp. Thằng Minh đóng cửa lớp rất cẩn thận, đoạn lên xe đạp, phóng vút về hướng nhà thầy. Buổi trưa nắng gắt. Mồ hôi rỉ đọng trên vầng trán thằng Minh. Nó dựng xe ở gốc cây, chạy lại bên cầu. Nước lạnh trong veo lặng lờ như bao giờ. Nó phóng lên cầu, nhà thầy đó, sau giàn mồng tơi xanh tím. Nó bước chầm chậm. Cánh cửa sổ bụi bám. Căn nhà tối om.

- Dạ thưa thầy.

Thầy Tâm nằm đó, trên bộ ván ọp ẹp cạnh bàn viết. Hơi thở mệt nhọc thoát từ đôi môi tái. Những buổi dạy đường xa, bao sức lực thầy dồn không quản ngại vào bầy trẻ thơ ngây. Hình ảnh chúng là hình ảnh thầy những năm xưa xa lắm. Chiếc xe đạp thân quen, con đường đất bụi bám vai, bước chân hôm nào thầy nghe như nặng trĩu. Thầy ráng lê vào nhà, rồi nằm rũ như con chim ướt cánh. Cơn sốt với mồ hôi vã nhầy nhụa khung trán nhăn nheo. Giờ này, bọn học trò thân mến của thầy, chúng đang làm gì. Căn nhà quạnh hiu, những lỗ trống xác xơ nắng nghiêng vào mặt. Thầy nhớ những chiều mưa, những khuôn mặt, những hình bóng thân ái, những nụ cười, những tiếng hát trẻ thơ, những vòng chong chóng cuốn quay trong đầu. Và thầy thiếp đi...

Thầy ngước mắt nhìn đứa học trò đứng trước mặt. Giọng hỏi thầy rơi vào khoảng không thật mệt nhọc:

- Trò Minh đó phải không?

Thằng Minh ôm cặp sát vào ngực:

- Dạ thưa thầy con đây.

Thầy Tâm đưa tay vuốt xoa mái tóc đứa học trò yêu mến:

- Thầy mệt quá, nên sáng nay không đi dạy được. Và có lẽ, ngày mai... cũng vậy.

Thằng Minh nhìn thầy với đôi mắt thương cảm. Thầy Tâm cố gắng ngồi dậy nhưng không được. Thằng Minh kể lại cho thầy nghe câu chuyện của lớp lúc sáng. Thầy ôm chặt lấy nó, cho nó những lời khen chân thành nhất. Thầy bảo:

- Thôi, trưa rồi, về dùng cơm đi Minh, kẻo ba má trò mong. Thầy bịnh, nhưng... không sao đâu!

Thằng Minh xin nán lại đôi chút nhưng thầy Tâm không cho. Nó ôm cặp, chào thầy rồi đi ra. Nó dừng lại vài lần, nghĩ gì đó, rồi bước đi thật vội. Cây cầu tre in bóng dưới con lạch hiền hòa...

*

Buổi mai mờ mờ những sương mù. Trời lạnh rét trong mọi ngõ ngách hang hốc, trong đám lá xì xào, trong tổ chim co rúm với bầy chim biếng hót.

Thằng Minh gò lưng trên chiếc xe đạp cũ. Tự nhiên nó thấy đường đến nhà thầy sao quá dài. Đôi chân siêng năng làm những vòng tròn thật vội. Thỉnh thoảng nó lại cho tay về phía sau, cái bọc đó vẫn còn. Những trái cam ngon ngọt, những trái vú sữa giữa mùa vẫn còn. Nó hăng hái thêm khi nghĩ đến nụ cười khỏe mạnh tươi vui của thầy. Nó sẽ tự tay bóc cam đưa lên miệng khô đắng của thầy những múi cam ngon, mùi vị đó sẽ chảy tan trong cơ thể nóng đem đến sự tươi mát cho dòng máu, cho da thịt và thầy sẽ bớt nhức bớt mệt vì căn bệnh kéo dài. Thầy sẽ đi dạy lại một ngày gần đây.

Thằng Minh dựng xe ở nơi rất xa cây cầu. Nó ôm bọc cam chạy thật mau. Bỗng dưng nó đứng sựng lại. Cây cầu tre đã sụp từ bao giờ. Con lạch đục ngầu như cau có với sự biến đổi bất ngờ. Vậy là sao? Nó phóng mắt qua bên kia con lạch, nhà thầy vẫn còn đó. Nó, không do dự, xắn cao quần, băng qua con lạch. Nước lạnh làm co rúm da thịt ở bắp chân. Bọc cam được thằng Minh cắn chặt lủng lẳng giữa hai hàm răng. Nước lên tới cổ nó, nó cố không cho bọc cam bị ướt. Nó khám phá những vỏ đạn, những bụi cỏ trốc gốc. Nó càng thấy lo. Rõ ràng là đêm qua trận đánh đã diễn ra ở đây. Cảnh tượng xơ xác như lòng nó bây giờ.

Thằng Minh chạy như điên trên khoảng đường lồi lõm. Nhà thầy đây rồi. Nó ghé mắt nhìn. Trời ơi, thầy đâu rồi? Thầy đã ra sao? Thầy còn bệnh kia mà? Nó xô cửa vô nhà. May quá đồ đạc vẫn còn nguyên không sứt mẻ dù những viên đạn đã xuyên thủng vài lỗ trên vách. Thầy đâu. Nó muốn khóc, bọc cam nhăn nhó trong bàn tay nắm chặt. Thầy ơi! Thầy đâu rồi. Thằng Minh rớt nước mắt vì nỗi lo âu tỏa đặc trong hồn.

Một lúc, bỗng có tiếng chân người ở phía sau nhà. Thằng Minh đứng bật dậy. Một người lính trẻ có vẻ hấp tấp:

- Cậu bé này, có phai nhà ông giáo Tâm đây không?

Thằng Minh đưa tya lên ngực:

- Dạ... thưa anh phải.

- Em biết giấy tờ của ông Tâm để đâu không?

- Dạ biết.

Thằng Minh mở ngăn kéo, nhanh nhẹn lấy ra một xấp giấy. Người lính gật đầu:

- Tốt lắm. Thôi tôi đi nghen.

Thằng Minh chạy theo:

- Dạ, anh khoan đi đã. Cho em hỏi... thầy em...

Người lính ngắt lời:

- Ông Tâm là thầy em hả? Ổng được đưa đi lên tỉnh để chữa bịnh rồi.

- Em đi theo được không anh?

- Đi theo làm chi?

- Dạ, để săn sóc cho thầy... Thầy em... có một mình hà...

- Không được đâu.

Người lính phóng lên xe, tiếng động cơ xa dần.

Thằng Minh đứng trơ ra đó, nhìn bọc cam, nhìn căn nhà xơ xác, nhìn con lạch, rồi bỗng òa lên khóc một mình.


Vũ Chinh      

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 87, ra ngày 15-3-1968)

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2020

Từ Mọi Góc Đời


Bạn thân mến,

Nhận phụ trách  một mục ngăn ngắn trong một tạp chí, việc băn khoăn đầu tiên của người viết là làm sao đặt một cái tựa. Tuy thế, nhiều băn khoăn khác, to lớn hơn, đã kế tiếp theo đó. Muốn viết được nhiều, muốn nói được nhiều, mà những điều mình viết, mình nói, đừng trở nên vô bổ. Nhưng lại không muốn làm một kẻ khuyên bảo người khác. Thế nên, "Từ Mọi Góc Đời" sẽ chỉ là một nơi mà chúng ta có thể kể cho nhau nghe những điều nghe, thấy, cảm nhận được trong đời sống của chính chúng ta – dĩ nhiên, những điều có thật.

"Từ Mọi Góc Đời" sẽ là nơi gom góp những chuyện vắn, chuyện dài, xảy ra ở bất cứ nơi nào từ mái nhà, từ lớp học, từ đường đi, từ mọi nơi của cuộc sống mà người kể và người nghe đều nhìn đó bằng đôi mắt và bằng sự phán xét của một người học trò. Chuyện vắn, có thể là một truyện ngắn. Nhưng chuyện dài, thì không phải là truyện dài. Chỉ có thế. Ở đây, chúng ta kể và nghe. Kểnghe, thật giản dị. Nhưng, từ mọi góc đời, biết đâu chúng ta sẽ cảm nhận được những điều khích động, và thấy đời sống bớt đi phần nào sự hời hợt, thiếu thốn.

Thân ái              
NGUYỄN THỊ MỸ THANH 


CHUYỆN VẮN

 Chuyện Ở Một Ngã Tư

Một buổi sáng ở ngã tư Phan Thanh Giản – Hai Bà Trưng.

Đèn hiệu ở đường Phan Thanh Giản bật xanh để cho một đoàn xe chạy ra hướng xa lộ. Một đám tang. Cũng khoảng năm phút chờ đợi như vậy. Xe từ hai chiều của đường Hai Bà Trưng kẹt lại.

Và đoàn xe cũng qua hết. Khi đến chiếc xe cuối cùng của đám tang, đèn đường Phan Thanh Giản đổi vàng. Xe đường Hai Bà Trưng chuẩn bị chạy. Nhưng kìa! Có tiếng la lớn:

– Chạy nhanh lên! Nhanh lên!

Năm, sáu chiếc xe đạp nối đuôi đoàn xe đưa đám tang chạy vút tới. Những đôi chân đạp nhanh lia lịa, cố vượt qua trước khi đèn đỏ. Những tấm lưng cúi rạp trên xe. Áo trắng, quần xanh. Những gương mặt rạng rỡ như một cái gì đó thật vui bắt đầu cho một ngày sống mới.

Xe đường Hai Bà Trưng phải vội vã thắng lại. Thay vì những cái nhíu mày bực bội, những câu phàn nàn hay chửi rủa, hình như ai cũng nhìn nhau cười. Vì họ nhận ra đoàn “cua-rơ” kia là một đoàn học sinh. Không cần nhìn đèn, họ nhường bước cho đoàn xe đạp – đoàn xe đua độc đáo. Một “cua-rơ”, vì chạy sau chót, hoảng hốt, mất thăng bằng ngã té. Cậu vội vã đứng lên dựng xe và chạy tiếp, nhưng – lại hoảng hốt – làm rơi một chiếc dép giữa đường. Cậu định bỏ luôn, vì đứng lại thế nào cũng bị cảnh sát “thộp cổ” về tội vượt đèn đỏ.

Nhưng… ông cảnh sát cũng… cười, và đứng yên. Sau một chút ngập ngừng, cậu học sinh trở lại nhặt chiếc dép, và quẹo hướng Hai Bà Trưng vì lúc đó các bạn đã đi xa. Xe đường Hai Bà Trưng cũng đang ùn ùn chạy.

Lạ! Buổi sáng đó, ở ngã tư đó, hình như ai cũng vui vui.


CHUYỆN DÀI
  
Trong Những Bức Thư Của Danh

Phước Tuy 19-8-1973

Tôi đã rời bỏ chiếc xe lăn oan nghiệt, để đi bằng cặp nạng. Phải mất gần hai tháng tập đi và cho đến bây giờ đã khá nhanh nhẹn, dễ dàng rồi! Thật chẳng có gì vui thích bằng khi mình làm lại những động tác mà đã từ lâu quên mất.

Phước Tuy 26-8-1973

Tôi vừa lấy được chân giả. Mừng quá! Cứ nghĩ là mình vừa chết đi và được cứu sống lại… Vậy là tôi đã hết ghét đời, không còn đả phá, khích bác.Và chỉ còn một thế cờ nữa là “chuẩn bị cho tương lai khi đã bình phục”. Chị Hạ Huyên! Tôi đã bình phục chín mươi chín phần trăm. Một phần trăm còn lại là phải tập đi. Tuy thế, tôi cũng còn cần những lời khích lệ của chị để giúp tôi có nhiều nghị lực gạt bỏ những mặc cảm ra ngoài.

Phước Tuy 27-9-1973

Về phần tôi, đã có chân giả rồi, đã đi hơi vững. Nhập viện lại vì vết thương cũ không chịu thuyên giảm…

Phước Tuy 17-10-1973

Tôi đã đi vững, nhưng chưa thể đến trường, vì hoàn cảnh…

Phước Tuy 10-12-1973

Tính đến ngày hôm nay, tôi đã về nhà được hai tháng.

Phước Tuy 31-1-1974

Nghĩ lại vẫn thấy chưa làm được gì, buồn ghê chị Huyên ạ! Tôi chỉ nằm ở nhà, xem lại sách vở cũ, và đọc sách, tự lấy đó làm thú vui riêng.

Phước Tuy 31-3-1974

Cảnh quê nhà đã khiến tôi không còn nghĩ gì nữa cả. Tôi chẳng còn ham gì ở những chuyện đã qua trong đời. Cũng hay chứ, chị Huyên! Tuy thế vẫn cảm thấy nhớ sài Gòn. Bởi đất Sài Gòn vẫn là nơi tôi gửi gắm nhiều kỷ niệm. Nhiều khi muốn quên, nhưng những động tác bé nhỏ bất chợt cũng đủ khiến cho mình nhớ lại cả một khoảng thời gian rộng lớn.

Vết thương cũ nơi chân gãy chưa chịu lành, đã vậy còn làm thêm một vết nữa. Nghĩ dại, nếu vết thương hoành hành dữ dội để đến phải cắt bỏ một chân nữa!!! Viễn tượng chiếc xe lăn dính liền với cuộc sống hàng ngày khiến tôi nhiều lần rùng mình…

Hoàn cảnh của tôi hiện giờ: đi không xa lắm, chịu nắng không được lâu, lại thêm chứng nhức đầu mới bộc phát, không rõ nguyên do tự đâu… Thật không xứng danh “kẻ nam nhi đầu đội trời chân đạp đất” phải không chị Huyên?

Chuyện của tôi – chuyện đến trường – bây giờ tôi mới khám phá ra rằng tôi không thể đến trường như đã mơ ước và hơn một lần thố lộ với chị. Rất buồn vì cảm thấy mình bất lực trước hoàn cảnh. Tôi vẫn xem lại sách vở, nhưng…

Phước Tuy 22-9-1974

Tôi lại bắt đầu nghĩ đến việc mình phải làm. Làm gì bây giờ hả chị Huyên? Nằm không thì buồn chết. Còn học thì… đang thử. Chắc chắn là có rất nhiều trở ngại. Còn làm ruộng… không thể được rồi! Buồn buồn xem lại một cuốn truyện. Tôi phân vân quá! Không biết rồi mình có “vĩ đại” như nhân vật Nghiêm trong “Khúc lan can gẫy” được không?

Phước Tuy 22-12-1974

… À, chị Huyên, tôi mới thêm một lần nữa nhập viện để chuẩn bị cắt xương dư và điều trị vết thương nơi chân phải. Lại một đoạn văn làm tôi nhớ đến. Và không hiểu tôi nên vui hay nên buồn cho cái sự đang tăng trưởng của mình, cho lứa tuổi đang “trẻ” của mình (nhiều khi tôi cứ tưởng mình đã già từ lâu).

Phước Tuy 20-1-1975

Từ buổi chiều đến thăm chị về, tôi còn ở lại Sài Gòn mất mấy ngày nữa để cố gắng nạp được tờ đơn thi Tú Tài. Rồi sau đó mới về nhà thật sự.

Hôm gặp chị, nghe chị kể câu chuyện cô bé Mai Phương, tôi đã có một sự so sánh. Mai Phương bất hạnh hơn tôi, khó nhọc hơn tôi: mất cả đôi chân từ thuở lên mười, mà lại là con gái, đôi chân gỗ chắc nặng hơn tôi nhiều. Tôi thấy không có gì để tôi bi quan nữa. Tự nhiên tôi cảm thấy tôi vẫn còn đủ sức thực hiện những điều mà tôi đã nói với chị. Nếu tôi bỏ ngang? Thật là vô lý! Vì ít ra tôi cũng đã tìm lại cho tôi vẻ náo nức khi chen lấn nạp đơn thi. Viễn ảnh được (không phải “bị”) cắp sách đến trường cũng là một trong những thúc đẩy bén nhạy nhất ở tôi.

Chị Huyên có biết là lúc này tôi đang yêu đời và phấn chấn đến mức độ nào không? Xin trả lời ngay là: hơn khi nào hết.

Tôi còn nhớ thời gian tôi học với thầy Tâm ở trường Truyền Tin. Một hôm trong giờ sinh ngữ thầy Tâm hỏi tôi bằng tiếng Anh đại khái là: “Anh Danh! Anh đã dự bị cho tương lai của anh chưa?”. Tôi đáp, thật là oái oăm: “No!”. Bây giờ nhớ đến thầy Tâm, tôi vẫn nhớ đến cái tiếng “No” trơ trẽn ấy và đâm ra hối hận vô cùng.

Chị Huyên mến! Tuổi học trò đã sống dậy nơi tôi. Vui mừng này, tôi không biết phải nói cho ai, ngoài chị…

Điện tín của Hạ Huyên

Ngày 31-1-1975

Danh! Đã nhập cuộc, hãy tiếp tục vào cuộc. Gắng ôn bài. Chúc Danh thi đậu.


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 233, ra ngày 1-4-1975) 


Thứ Tư, 15 tháng 4, 2020

Nói Về Xin Lỗi


Các em thân mến,

Trong một số báo gần đây chúng tôi có bàn với các em về sự quan trọng của hai tiếng cám ơn.

Hôm nay, chúng tôi xin nói chuyện với các em về việc xin lỗi.

Trong đời sống hàng ngày, chung đụng với mọi người, chúng ta không làm sao tránh được những sự lầm lỗi, những cử chỉ vụng về làm phật lòng những người xung quanh. Đúng như người đời thường nói, không ai hoàn hảo trên thế gian này, thì sự sai lầm, phạm lỗi là điều không thể tránh được tất cả.

Việc tốt nhất để xóa bỏ sự lỗi lầm, không phải là làm như không nhận thấy lỗi mình, mà là phải biết nhận lỗi và xin lỗi.

Khi các em lỡ làm dơ sách vở của bạn, làm hỏng bút của bạn, đi ngoài đường hay nơi đông người, chật hẹp đạp nhầm chân hay chạm phải người nào, khi các em làm bể một vật gì của ai, giản dị nhất là các em nên nhận lỗi và xin lỗi với người liên hệ.

Đừng bao giờ các em cho sự lầm lỗi là nhỏ nhặt, không đáng để các em hạ mình xin lỗi. Một nhà triết học Trung Hoa đã nói: Chớ khinh việc nhỏ, lỗ hở chìm thuyền, chớ khinh vật nhỏ, con vi trùng làm chết được.

Các em cũng đừng cho rằng hạ mình để xin lỗi là hèn. Thánh kinh đã dạy: Sự tự hạ mở đầu cho sự vinh quang. Người Trung Hoa cũng thường hay nhắc câu: Bậc thánh không cậy mình cái gì cũng giỏi.

Các em càng hạ mình để nhận lỗi các em càng làm cho phẩm cách các em lên cao, các em tỏ cho các người xung quanh thấy các em là con người lịch sự, con người có giáo dục.

Các em cũng không nên chỉ nói hai tiếng xin lỗi ngắn ngủn, cho là đủ rồi. Các em phải có cử chỉ chứng tỏ các em hối tiếc đã làm buồn phiền người liên hệ và nên nói tùy trường hợp: xin lỗi em, xin lỗi anh, xin lỗi chị, xin lỗi ông bà, tôi đã làm phiền (hay thiệt hại) anh chị (hay ông bà) quá nhiều, xin anh, chị, ông (hoặc bà) bỏ qua cho và xin cám ơn anh chị (hoặc ông bà).

Dù lỗi lầm các em làm có nhỏ nhặt thế nào, các em cũng tỏ ra đấy là một lỗi nặng mà các em lấy làm hối tiếc đã gây nên. Sự cho rằng lỗi nhẹ dành cho người nhận sự xin lỗi.

Một vài trường hợp, chúng ta không nên xin lỗi, để tránh làm nặng thêm lỗi lầm của chúng ta. Đấy là trường hợp chúng ta hớ hênh. Sự xin lỗi chỉ làm cho tình thế khó thở hơn lên. Nếu các em hỏi thăm sức khỏe thân sinh của người bạn thân của các em, trong khi ông cụ vừa mới mất mà các em không hay biết, các em nên xin lỗi vì không được tin và nên có đôi lời chia buồn. Nhưng khi các em hỏi thăm về người bạn gái thân nào đó của bạn, trong khi vị hôn thê của bạn đứng sờ sờ bên cạnh mà các em không hay biết, khi được biết, các em nên giữ sự tự nhiên, nói lờ sang chuyện khác và nhớ đừng xin lỗi.

Đấy là các em biết xin lỗi tùy theo trường hợp.

Các em thân mến,

Người ta thường nói: sự khiêm tốn là mẹ của các đức tính.

Một khu các em biết dùng thường xuyên hai chữ xin lỗi và hai chữ cám ơn là các em thu phục được  cảm tình của mọi người, bắt đầu các em đi đến sự thành công rồi vậy.

Thân mến,               
NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 80, ra ngày 11-3-1973)

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2020

Tóc Mẹ và Màu Đỏ Của Tim













Ngày xưa dưới bóng trời thơ dại
Tóc ngắn mười năm vướng ở đâu
Ta trải thương yêu vào tóc mẹ
So đo từng sợi tím mây sầu

Mẹ chải lược mòn hơi gió nhẹ
Thoảng hương bông lúa chín đầu mùa
Nhặt tóc rơi nhiều trên áo mỏng
Mà nghe tình nghĩa nặng như vừa

Có người dệt mộng trắng đêm nay
Từng giấc ngủ hờ lạnh gió may
Nhịp võng chưa mòn đêm lụn xuống
À ơi! Con ngủ mẹ thương hoài

Mẹ đem tóc mẹ dệt mây trời
Che nắng mùa Thu, chiếc lá rơi
Những ngón tay gầy khô đổ vỡ
Vết hằn năm tháng lạnh, buồn ơi

Con lớn lên trong đời tưởng nhớ
Đầu mùa bông mướp phấn vàng tươi
Mẹ nấu canh, bông chiều mới hái
Còn thơm hương tóc mẹ vui cười

Nhìn con tập viết giấy hàng đôi
Từng nét cong, tròn như nét môi
Những dấu son buồn màu mực đỏ
Là màu máu của đứa con côi

Tóc mẹ thêm nhiều bông tuyết rụng
Oằn vai da thịt đã gầy mòn
Mẹ là con nước phù sa chảy
Theo lòng biển mẹ ở trong con

Năm lên 18 con theo chồng
Xa mẹ buồn, như cách mấy sông
Những dòng sông với phù sa đỏ
Chở nặng ân tình ra biển Đông

Bây giờ mồ mẹ xanh cây cỏ
Lá nhuộm cát, màu như máu tim
Của người con gái ngày xưa cũ
Nhặt tóc mười năm nhớ mẹ hiền

Mỗi lần hong tóc trời loang nắng
Từng sợi khô gầy ơi tóc may,
Lược rẽ hàng đôi thương giấy trắng
Tóc dài nhuộm đỏ nắng, chiều say

                                  TRƯƠNG TIỂU THƯ
                                      (Và Một Đời Du Mục)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 174, ra ngày 1-4-1972)

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2020

Ta Đã Từng Chiến Thắng Mông Cổ!


Chúng ta không sinh ra cho chúng ta mà cho xứ sở chúng ta. (Platon)

Vào thế kỷ 13 thì đến quốc Mông Cổ phải kể là một đế quốc vô địch. Gengis Khan Thành Cát Tư Hãn con cháu của Dòng Sói Xám, đã từ vùng chân núi Bourkhane lần lượt chinh phục các bộ tộc để lên ngôi Đại Hãn. Với những chiến sĩ kỵ mã thạo nghề chinh chiến, Gengis Khan đã đánh chiếm cả vùng Trung Á, Ba Tư, một phần Đông Bắc Âu, rồi kéo xuống Tây hạ, Kim quốc, Triều Tiên và cuối cùng là Trung Hoa. Cuộc thôn tính đang dở dang thì Gengis Khan từ trần, nhưng con cháu của vị Đại Hãn này vẫn tiếp tục bước tiến của cha ông. Nước Trung Hoa bị chiếm trọn, Mông Cổ thống trị và đặt ra nhà Nguyên rồi tiếp tục chinh phục các xứ lân cận trong cuộc trường chinh không ngơi nghỉ.

Bấy giờ, Việt Nam ta dưới quyền cai trị của nhà Trần. Và so với Nguyên quốc thế lực, tưởng chừng như nước ta chỉ như trứng bên đá. Thế mà vua Trần Thái Tôn đã biểu lộ sắc thái ái quốc, anh hùng khi dám bắt giam sứ giả của nhà Nguyên sang khuyến dụ thần phục. Chiến tranh Việt Nguyên bùng nổ. Quân Nguyên đánh chiếm Thăng Long, giết tất cả mọi người còn có mặt trong thành để trả thù cho sứ thần bị giam và chết trong ngục. Nhưng rồi chiến thắng Đông Bộ Đầu, rồi chiến thắng Quý Hòa đã khiến giặc phải rút lui.

Hai mươi sáu năm sau, dưới đời Trần Nhân Tôn, Thoát Hoan dẫn nửa triệu quân sang xâm lăng nước ta lần thứ nhì. Ta bắn mù mắt Sài Thung. Đầy Trần Di Ái tham quyền và sẵn sàng chống giặc. Tiết chế Trần Quốc Tuấn thống lĩnh quân đội, triệu tập Hội nghị Diên Hồng để tìm hiểu lòng dân rồi truyền hịch khắp nơi hô hào toàn dân quyết tâm bảo vệ đất nước. Giặc mạnh ta lùi, Thăng Long mất, Trần Bình Trọng bỏ mình để thà làm quỷ nước nam còn hơn làm vương đất bắc. Nhưng rồi trận Chương Dương Độ, trận Tây Kết, trận Vạn Kiếp đã đuổi quân Nguyên ra khỏi biên giới, và Thái tử Thoát Hoan, con cưng của vị vua Nguyên với thế lực và đế quốc rộng lớn đã phải chui vào ống đồng thoát thân.

Hai năm sau, Thoát Hoan trở lại lần nữa cũng không chiếm nổi một tấc đất Thăng Long, bị Trần Khánh Dư phá tan thuyền lương tại Vân Đồn, rồi Trần Quốc Tuấn dụng mưu Ngô Vương Quyền trên Bạch Đằng Giang, cuối cùng, Phạm Ngũ Lão đón giặc vùng biên giới, Nguyên quân đành bỏ mộng xâm lăng.

Bảy thế kỷ trước, ta đã có những anh hùng xả thân vì nước. Bảy thế kỷ trước, ta đã có Hội nghị Diên Hồng. Và bảy thế kỷ trước, ta đã từng ba phen chiến thắng Mông Cổ. Thế giới đã coi Gengis Khan như một đại họa giáng xuống nhân loại, thế giới đã khiếp sợ cái đế quốc rộng lớn, hùng mạnh mà tàn bạo Mông Cổ, và thế giới cũng đã khâm phục Việt Nam, dân tộc duy nhất trên thế giới đã chiến thắng Mông Cổ!

Có lẽ rằng chưa hẳn những anh hùng, tướng lãnh... đã đem lại chiến thắng cho Việt Nam, mà hẳn phải kể đến sự đoàn kết một lòng của dân Việt, sự nắm tay bền vững nhất của người dân một tiểu quốc, tuy nghèo nhưng lòng ái quốc thì chất ngất cao vời!

Người Việt ta đã chứng tỏ chí khí anh hùng. Việt Nam ta đã đánh bại cả một đế quốc. Tất cả, do sự đoàn kết. Tuổi trẻ Việt Nam nói riêng, toàn dân ta nói chung, hãy ghi nhớ bài học đoàn kết!


(Trích từ chuyên mục "Hãy yêu Việt Nam" kỳ 1, tạp chí Tuổi Hoa số 232, ra ngày 1-3-1975)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>