Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2024

Nhật Ký Nội Trú

 


 Thứ ba, ngày... tháng... năm 1970

Đêm đầu tiên sống xa nhà, Nguyên nghe thiếu vắng vô cùng ; chuyến bay ban chiều đã đem Nguyên đi xa. Xa rời thành phố thân yêu với những khuôn mặt dấu yêu quen thuộc.

Nguyên nhớ lại rằng : mình đã khóc khi đưa mắt nhìn qua khung cửa kính nhỏ, bóng dáng ba già yếu đứng dưới sân bay ngước mắt nhìn Nguyên như nhắn nhủ, dặn dò. Máy bay chạy dần vào phi đạo, cuốn bóng dáng ba xa dần trong tầm mắt Nguyên... Núi đồi, biển rộng dưới kia mờ nhạt qua làn nước mắt, Nguyên nghe vị mặn thấm trên đầu môi và muốn trở về ngay trong giây phút đó - Về với ba mẹ, với đàn em bé thơ trong căn nhà quen thuộc...

Đã hơn 11 giờ. Khu nội trú chìm trong im vắng, những hàng cây dưới vườn xanh thẫm màu bóng tối. Nhìn qua đồ đạc ngổn ngang chưa được xếp vào vị trí và những khuôn mặt chung quanh còn xa lạ, Nguyên thấy mình bơ vơ quá, đêm nay chắc Nguyên ngủ một mình và mãi về sau... không còn những đêm mưa lạnh, nằm co rút tìm hơi ấm bên bà nội, được ru ngủ bằng những lời cầu kinh trầm trầm quen thuộc của bà.

Giờ này ở nhà, chắc gia đình Nguyên đã êm đềm trong giấc ngủ, căn phòng của Nguyên có ai nằm không nhỉ? Chắc là không, vì hôm Nguyên đi me có nói "Căn phòng con Nguyên cứ để im đấy cho nó, để Tết hay hè nó về"...

Nguyên thượng me quá, suốt đời me chỉ tận tụy với chồng con, những nỗi chật vật của cuộc sống đã làm me già đi trước tuổi. Lúc chiều, ăn cơm dưới câu lạc bộ nhà trường, những món ăn nhạt nhẽo, không quen miệng, khiến Nguyên nhớ me thật nhiều với những bữa cơm gia đình đầm ấm do chính me nấu! Những khúc cá kho mặn mà vị ớt, tô canh ngọt ngào dư vị thương yêu... khóc rồi đấy hả Nguyên? Ngoài trời mưa đang rơi, hồn Nguyên cũng giăng kín mây buồn. Mây đêm nay đưa Nguyên vào giấc ngủ tràn đầy nhung nhớ.

Thứ tư, ngày... tháng... năm 1970

Một ngày trôi qua trong bận rộn. Sáng, Nguyên đến lớp học mới - Bước chân ngỡ ngàng e ngại tìm đến phòng học mới lạ. Nguyên có cảm giác như ngày đầu tiên đi học trường làng xưa. Bốn giờ học trôi qua bình thản, những môn học mới lạ cho Nguyên một vài sự quyến rũ. Bạn bè mới trong lớp Nguyên vẫn chưa quen ai cả, ngồi chơ vơ một mình Nguyên nhớ lại lớp học cũ với những khuôn mặt bạn bè quen thuộc, đối diện nhau suốt sáu năm dài. Nguyên gọi thầm: "Ân-Vân-Liễu-Trang... cho mình biến thành chim trắng nhỏ cho trọn vẹn ước mơ"...

Buổi chiều nghỉ, nhưng Nguyên phải đi mua một ít đồ dùng. Chuyến xe "lam" đưa Nguyên vào thành phố ; cũng những chuyến xe lam như thế, Nguyên đã đến trường mỗi sáng khi trời còn mù sương trên những con đường quen thuộc, chiếc cầu Trịnh Minh Thế bắc ngang sông Hàn và những người lính gác cầu đứng thu hình, im lặng, giờ trở thành hình ảnh đáng yêu nhất khi Nguyên đã xa rời...

Phố sá Qui Nhơn có vẻ vắng buồn, không có sắc diện ồn ào náo nhiệt, hay là hôm nay không phải là chủ nhật??

Tối nay trời tạnh ráo. Xa xa trên ngọn núi : căn cứ của người Mỹ những ánh đèn xanh đỏ lấp lánh, hòa lẫn với sao đêm thật giống những ngọn đồi cao ở Sơn Trà, mà sao đây không phải là căn phòng quen thuộc của Nguyên?

Tiếng cười đùa vui vẻ ở phòng bên vẳng đến tai Nguyên, hình như có chị nào đó đang hát bản "Mùa thu chết" của Phạm Duy, làm Nguyên nhớ bé Ti thật nhiều, cô bé láu lỉnh nhất nhà, cả ngày luôn miệng "Mùa thu chết... đã chết rồi"... không biết vắng Nguyên, cô bé có nhắc không? Hôm Nguyên đi, bé cứ đòi theo làm Nguyên bịn rịn không rời - Bé Ti ơi - Tết chị về sẽ có quà cho Bé nhé.

Hôn bé một cái thật kêu, chúc Bé của chị ngủ thật ngon nhé.

Thứ năm, ngày... tháng... năm 1970

Hôm nay mưa suốt ngày, trời buồn gì mà "khóc dai" thế không biết? Đà Nẵng chắc cũng đã mưa, những cơn mưa dầm cùng những làn gió lạnh buốt khiến Nguyên liên tưởng đến ba: Buổi sáng ba dậy thật sớm, uống sữa rồi vội vã đi làm, chiếc áo mưa nhà binh to lớn làm ba nhỏ yếu thêm và khuôn mặt ba đầy nước mưa, tái lạnh khi trở về, khi ở nhà Nguyên vẫn chạy đi tìm khăn cho ba lau, giờ ở nhà có ai lấy khăn cho ba không? Bé Ti nhỏ quá mà! Nguyên thương ba quá, đến ngày nào cho Nguyên được báo hiếu ba, để ba yên tâm tĩnh dưỡng tuổi già.

Mới hai ngày, sao Nguyên thấy dài ghê. Chỉ mong cho thời gian chóng qua để Nguyên về thăm ba me và các em. Nhưng còn đến hơn ba tháng cơ, chắc Nguyên "dài cổ hươu" mất thôi.

Thôi bây giờ con gái ba me không kêu buồn nữa cho ba vừa lòng. Ba vẫn bảo "Các con còn nhỏ nên tránh buồn. Phải vui cho thật nhiều kẻo sau này lớn tuổi như ba, khó có dịp nào vui trọn vẹn, cuộc sống phiền muộn làm tâm hồn người ta già đi con ạ". Con sẽ gắng học cho ba vui lòng và mãn nguyện mong ước của ba. Con kể chuyện cho ba nghe. Bạn bè con chưa có ai ở đây để nói cả, con tả trường cho ba nghe nhé: Trường con xinh lắm ba ạ, cảnh trí chung quanh trường thật mát mẻ. Trước mặt trường là biển với những hàng thông xanh chạy dài trên cồn cát trắng. Trong trường con giữa hai dãy lớp có công viên đẹp lắm. Mỗi lần ra chơi con hay đứng trên hành lang nhìn xuống, qua cơn mưa cảnh vật mơ màng đẹp lạ. Con thích những buổi chiều ở đây hay có mưa phùn, mưa chỉ đủ đọng trên những thảm cỏ xanh mướt trong sân trường, con đoán là những cơn mưa phùn ngoài Bắc - quê hương ba, ba đã được sinh ra và lớn lên ở đó, nơi nuôi dưỡng tuổi thơ của ba - chắc cũng chỉ đẹp đến thế thôi.

Khí hậu ở đây mát mẻ dễ chịu. Con chắc là sẽ mập thêm để ba khỏi lo lắng cho sức khỏe con gái.

Con cầu mong ba me mạnh khỏe mãi.

Thứ sáu, ngày... tháng... năm 1970

Sáng nay dậy hơi muộn, Nguyên chả kịp ăn sáng nên đến giờ học cuối, bao tử nó "biểu tình" đả đảo dữ quá, đến tan học Nguyên leo lên thang lầu không nổi nữa, Nguyên vừa mệt và vừa buồn cười cho cái bụng "xấu đói" của mình.

Bữa cơm trưa đầu tiên ở trường Nguyên ăn thật ngon. A hôm nay Nguyên quen được một cô bạn rồi. Cô ta cũng học lớp với Nguyên, trông dễ thương và có vẻ láu lỉnh lắm, Nguyên hy vọng sẽ tìm được nguồn vui bên cô bạn mới này.

Buổi chiều, ăn cơm xong, Thảo, tên cô bạn, rủ Nguyên xuống công viên nhà trường ngồi chơi. Thảo nói chuyện thật vui, những nét hóm hỉnh, cười đùa trên gương mặt Thảo làm Nguyên thấy vui lây. "Cô nàng" hỏi Nguyên:

- Bồ nhớ nhà phải không? Hôm trước tôi thấy bồ buồn hoài.

Nguyên cười đáp:

- Chứ Thảo không nhớ nhà sao?

- Nhớ chứ, nhưng đừng có buồn quá mà xí gái chứ nghe cô. 

Thảo vừa nói, vừa cười và tinh nghhịch véo vào má Nguyên. Hai đứa cười thật vui và sóng vai đi về nội trú.

Tối Thảo ngồi hát và kể chuyện cho Nguyên nghe, nên Nguyên vơi đi phần nào nỗi buồn nhớ nhà như ngày mới vào. Thảo là con gái út trong nhà, ba Thảo chết từ lúc Thảo còn nhỏ, nhưng bù đắp vào sự thiếu sót đó, mẹ Thảo thương Thảo vô cùng nên Nguyên nhận thấy Thảo vô tư lắm, ít khi nào gương mặt Thảo mang nét buồn như hầu hết các cô gái đồng trang lứa.

Tuy mới quen mà Nguyên thấy mến Thảo nhiều. Cuộc sống Nguyên từ nay thêm một người bạn đáng yêu. Ngày mai Nguyên sẽ viết thư về kẻ với ba me, để ba me mừng và hết lo con gái không có bạn bè, buồn rồi khóc hoài. Từ nay con không khóc nữa đâu, kẻo Thảo nó chê con "mít ướt" đấy. Lúc nào nhớ nhà con sẽ viết thư về ba me và các em và kể chuyện học và cuộc sống của con ở đây cho ba me nghe là vui rồi ba me nhỉ?

Con gái yêu của ba me hôn ba me một cái thật dài.

Thứ bảy, ngày... tháng... năm 1970
Chủ Nhật, ngày... tháng... năm 1970

Suốt hai ngày nội trú có vẻ nhộn nhịp hơn ngày thường. Người ra kẻ vào, có chị xuống gặp thân nhân, chị đi phố.

Những nét hớn hở khi gặp người thân thuộc làm Nguyên thèm quá. Ba me chắc chả bao giờ đến được tận trường để thăm Nguyên đâu. Ba già yếu, me thì bận rộn việc gia đình.

Nguyên lỗi lời hứa với ba me mất rồi, lúc chiều có một bà từ xa đến thăm con: nhìn dáng dấp gầy yếu, lam lũ của bà, Nguyên nhớ me quá. Khi hai mẹ con gặp nhau mừng tủi Nguyên vội chạy vào phòng giấu giọt lệ qua mái tóc. Nguyên lại buồn, nhớ ba me và các em... Rồi lại thêm bao muộn phiền, Nguyên bồn chồn, lo lắng từ chiều đến giờ. Báo đăng tin Đà Nẵng bão to lắm, người ta phải dời cả các em cô nhi ở gần biển đi nơi khác. Nguyên lo quá, muốn về ngay trong lúc này với gia đình, cho Nguyên được san sẻ sự hiểm nguy cùng những người thân thuộc.

Khuya rồi mà Nguyên chả muốn ngủ. Cầu mong cho gia đình yên bình.

Ánh đèn xanh đỏ của chiếc máy bay vút vào trong đêm khuya, Nguyên nói thầm qua làn nước mắt "Cho Nguyên về với, cho Nguyên níu cái đuôi để Nguyên về với ba me..." Mà sao máy bay không thèm "trả lời" bỏ mặc Nguyên ngời chơ vơ một mình trong khu nội trú vắng im.

Thứ hai, ngày... tháng... năm 1970

Sáng được nghỉ 2 giờ sau vì vắng giáo sư. Nguyên về phòng định viết thư cho ba me thì Thảo sang, "cô nàng" có vẻ thật vui réo Nguyên ầm cả phòng... Thì ra cô có thư ở nhà. Nguyên bỏ mặc Thảo, chạy vụt đi tìm người đưa thư, hồi hộp, hỏi han để rồi buồn hiu trở lại phòng. Cả một chồng thư cao thật là cao mà Nguyên chả có lấy một cái. Nguyên buồn, tiếc và thấy cái mặt người đưa thư sao mà dễ ghét quá.

Nguyên tủi thân khóc ròng, mặc cho Thảo dỗ dành.

Chưa bao giờ Nguyên nhớ nhà như lúc này, lá thư viết dở dang lem nhem đầy nước mắt...

Bữa cơm trưa Nguyên ăn mà nghe mặn đắng, những miếng cơm nghẹn ngào trong cổ, Nguyên bỏ dở cả bữa cơm về phòng nằm vùi suốt buổi chiều tối, không thấy Thảo sang, chả biết nó nhận được thư của ai? Có gì vui, buồn không?

Sao mà lâu có thư ba quá nhỉ? Hay là ba đau... Nguyên lo quá, hôm Nguyên đi ba đã có vẻ mệt vì lo lắng, sửa soạn đồ dùng mang theo cho Nguyên, Nguyên thương ba quá, Nguyên chưa thấy ai lo lắng cho con đến thế: từ bàn chải đánh răng đến hộp kem, cho đến cái khăn lau mặt ba cũng tự tay mua cho Nguyên ; dưới mắt ba Nguyên vẫn còn bé dại vô cùng.

Nguyên chả viết nữa đâu. Viết rồi lại buồn và nhớ nhà thêm mà thôi.

Thứ ba, ngày... tháng... năm 1970

Trọn một tuần, Nguyên xa nhà. Cũng buổi sáng thế này tuần trước, Nguyên còn hiện diện nơi thành phố thân yêu giữa đám bạn bè đưa tiễn... giờ thì mỗi đứa một nơi, Nguyên nhớ khi xe car Air Việt Nam chạy, những cánh tay quen thuộc vẫy theo ; và những khuôn mặt cúi xuống che giấu những giọt nước mắt trào ra buồn tủi. Nguyên đã gục mặt xuống hàng ghế trước chả dám nhìn lâu hơn... rồi xa dần mất hút để Nguyên thui thủi một mình trong nội trú này...

Buồn quá Nguyên sang rủ Thảo xuống công viên chơi. Nguyên muốn tìm quên bên sự nhí nhảnh của Thảo. Hai đứa ngồi trên băng đá, lặng im đưa mắt nhìn ra xa : trời sắp hoàng hôn trông thật buồn, hương hoa đêm thoang thoảng hương vị ngất ngây. Nguyên như mê man trong vẻ im vắng của buổi chiều và hầu như quên đi thái độ khác thường của Thảo ; nó có vẻ buồn chứ không vui đùa như mọi ngày.

- Thảo ơi. Sao Thảo buồn thế, "vua hề" mà cũng buồn, lạ thật đấy chứ?

Nguyên cố pha trò cho Thảo vui, nhưng nó lại khóc thêm mới khổ chứ. Giọt nước mắt chảy dài trên gương mặt Thảo đắm chìm trong bóng tối làm Nguyên buồn thảm.

Nguyên không biết nói gì với nó cả khi mà Nguyên cũng chín muồi nỗi buồn trong lòng. Trời tối dần, Nguyên kéo Thảo đứng lên, dìu nó về phòng ; Nguyên cúi đầu bên tóc Thảo thì thầm: "Thảo ơi! Thế là hai đứa mình cùng là "Mít ướt" đấy nhé, từ nay đừng chế tớ nữa nghen"...

Tối Nguyên sang phòng Thảo đọc thư của mẹ Thảo, những nét chữ gầy yếu của bà mẹ già gởi cho con, nhắn nhủ, dặn dò. Nguyên chưa thấy lá thư nào hay hơn những lời lẽ chân thật, mộc mạc của bà mẹ già nua ấy.

Tối trời đầy sao, hành lang không một bóng người, ánh sáng vàng nhạt của đèn điện cắt lên tường bóng dáng hai đứa con gái ngồi thu mình bên nhau âm thầm lặng lẽ.


Nội trú Qui nhơn 20-10-70    
CỎ DẠI                

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 141, ra ngày 15-11-1970)
 

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2024

Con Lạc Đà

 

Từ hơn bốn ngàn năm trước cho đến nay, lạc đà vẫn còn được con người sử dụng để cưỡi hoặc chuyên chở hàng hóa đi khắp đó đây trên vùng sa mạc bát ngát mênh mông, vì chưa có một con vật thứ nhì hội đủ điều kiện cần thiết hầu đảm trách công tác thật bền bỉ và hữu hiệu cho bằng. Với khả năng di chuyển suốt cả ngày, liền trong một tuần lễ - dĩ nhiên trừ ban đêm - tới bất cứ địa điểm nào qua những bãi cát nóng bỏng có thể làm chín trứng, mà không cần phải uống nước, lạc đà quá xứng đáng với danh hiệu "Con tàu trên sa mạc".

Căn cứ vào địa khai tìm thấy, các khoa học gia đều công nhận: Cách đây hàng triệu năm, lạc đà đã xuất hiện đầu tiên tại Mỹ Châu, nhưng dưới vóc dáng nhỏ bé tựa loài thỏ chứ đâu có to lớn như bây giờ. Dần dần, thân thể phát triển, chúng chia thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất di cư sang Á Châu ngang eo biển Bering nước Nga, để tiến tới tận Á Rập và sa mạc Sahara, nhóm còn lại tràn xuống Nam Mỹ, đồng thời thay đổi hình dạng hoàn toàn thành một loài khác (1). Vì thế, hiện nay, người ta chỉ còn thấy lạc đà tại Á Châu, và đông đảo hơn cả là ở miền Tiểu Á cùng các quốc gia Phi Châu mà thôi.

Hình thù tuy xấu xí vì cục bướu trên lưng chẳng khác gì gù, lại lờ đờ, chậm chạp, kém thông minh, lạc đà dư sức chịu đựng khí hậu quá khắc nghiệt trên sa mạc, cũng như thừa khả năng chở nặng tới nam, sáu trăm cân Anh hàng hóa với tốc độ hai mươi lăm dặm mỗi ngày. Ngoài ra, một số lạc đà dùng trong quân đội có thể di chuyển hàng ngày từ bẩy mươi lăm tới một trăm hai chục dặm, và đặc biệt chạy nhanh tới chín, mười dặm một giờ. Loại này gọi là Dromas, tiếng Hy Lạp nghĩa là "chạy".

Trung bình cao khoảng hai thước mốt tính từ dưới đất lên tới bướu, đầu to nhưng dẹt, mõm lớn khoằm xuống chứa nhiều răng sắc bén, lạc đà ăn hạt đậu phơi khô, cõ, thân, lá, rễ loài thảo mộc, và "nhá" bất cứ thứ gì bắt gặp, ngay cả vải lều, dây cương, rổ rá bằng tre của chủ nó cũng không tha. Nhờ hàm dưới có thể chuyển dịch sang hai bên và hàm trên đủ rộng, lại thêm chiếc lưỡi dài, mỗi miếng, lạc đà cuốn vào miệng hàng đấu thức ăn, để rồi lúc rảnh rỗi "ụa" lên nhai lại, vì nó vốn thuộc loài ăn cỏ và nhai lại như trâu, bò v.v... Riêng hai lỗ mũi lạc đà thiệt mềm, nên dễ dàng nở lớn hay thu nhỏ tùy theo khí hậu trong vùng. Mắt lạc đà khá to, mầu nâu gồm hai mí bao phủ con ngươi, giúp nó khỏi bị mờ mắt trước những cơn bão cát khủng khiếp và ánh nắng chói lòa trên sa mạc. Dù chở nặng đến đâu, nhưng lạc đà không bao giờ chịu sa lầy, vì bốn cẳng thon thon nhưng bàn chân lại to bè bè gồm hai móng duy nhất. Móng này mềm chứ không cứng, hơn nữa, lớp da dưới gan bàn chân sẽ nở rộng đủ để nó đứng vững trên cát khỏi sợ bị lún sâu. Đã vậy giữa các khớp xương chân lạc đà còn có nhiều "miếng nệm" thật dầy, nên nó có thể quỳ xuống cát, hay dựa vào đất để lấy đà đứng lên dễ dàng.

Như chúng ta đã biết, lạc đà là con vật có bướu trên lưng. Bướu đó không phải bằng xương mà là bắp thịt được mỡ bao bọc. Lớp mỡ này chính là nguồn cung cấp chất bổ dưỡng nuôi thân thể, nên lạc đà thường không ăn uống cả tuần lễ khi đi công tác.

Xưa kia, nhiều người vẫn cho rằng lạc đà chứa nước ở cục bướu và bao tử, nhưng năm 1954, bác sĩ Kent Schmidt Nielsen thuộc Viện đại học Hòa Lan sang Algéri nghiên  cứu kỹ càng xem nguyên do nào loài này có khả năng chịu được nóng và nhịn uống tài như vậy. Theo ông thì sở dĩ lạc đà ít uống nước là bởi vì nhiệt độ trong người nó gia tăng theo khí hậu bên ngoài, nhờ vậy chất nước đỡ hao hụt. Khi cần uống, lạc đà chỉ thu lại đủ số lượng nước đã mất chứ không tích trữ bao giờ bằng cách cho nước ngấm vào các tế bào chung quanh bướu và dưới bụng, vì thế những phần này sẽ phồng lên khác thường, chứ làm gì có cơ quan riêng để chứa như vẫn đồn đại. Trong suốt một tuần lễ mùa hè hay hai tuần mùa đông, lạc đà mới uống nước một lần mà thôi.
 
Căn cứ vào số bướu, chúng ta có hai loại lạc đà:
 
a_ Lạc đà một bướu hay lạc đà Ả Rập lông ngắn, màu nâu xám như cát, hai chân trước cao, sống tại Bắc Phi, À Rập và miền Tây Á Châu.

b_ Lạc đà hai bướu hay lạc đà Bactria (2) da thật dầy, lông cổ và bắp chân cùng chung quanh hai bướu rất dài, dài tới nửa thước lận, màu nâu pha đỏ, hai chân trước thấp. Loại này khỏe hơn lạc đà Ả Rập nhiều, nhất là có biệt tài uống được cả nước mặn, bơi giỏi và bơi khá xa, chuyên sống ở Á Châu mà thôi.

Lạc đà tính tuy thuần, nhưng đôi lúc tỏ ra còn hoang dã và rất khó huấn luyện. Người ta chỉ có thể dạy nó quỳ xuống để chủ leo lên xong là đứng dậy chứ không thể tự ý làm được việc gì hết nếu chẳng bị ép buộc và dẫn dắt. Thỉnh thoảng lạc đà rất hung dữ, nó thường cắn, húc, đá loạn xạ.

Lạc đà cái mang thai mười một tháng mới đẻ đứa con độc nhất. Ngay khi sinh ra, lạc đà con cao gần một thước, chưa đi vững vì quá yếu nhưng cũng biết lần mò theo mẹ để bú. Nếu phải di chuyển xa, lạc đà con được đặt trong một cái giỏ treo lẫn lộn với vải vóc, túi nước, muối, lương thực... cột trên lưng mẹ nó, nhưng phải để cho mẹ nó trông thấy đứa con, bằng không nó không chịu đi. Trái ngược với ban ngày, về đêm khí hậu sa mạc lạnh kinh khủng, nên lạc đà mẹ phải ấp ủ con trong lòng cho nó ấm. Tới ba tuổi, nó bắt đầu chở những món hàng nhẹ. Từ mười lăm tới hai mươi tám tuổi, lạc đà đang sung sức nên mang được rất nhiều hàng hóa và đến ba chục tuổi trở đi, sức lạc đà yếu dần không kham nổi công tác nặng nhọc như xưa.

Cưỡi lạc đà cũng phải quen như thủy thủ không sợ sóng vậy. Sau khi chủ leo lên lưng rồi, lạc đà thường rống lên trước khi đứng dậy như kiểu chúng ta "hò dô ta" để kéo vật gì nặng. Đấy chính là lúc nó lấy đà đứng hai chân một bên lên trước, rồi mới đứng nốt hai chân bên kia. Vì lạc đà di chuyển lưng nó rung rinh nghiêng ngả chẳng khác gì con thuyền chòng chành trên sóng nên nó có tên "Chiếc tàu trên sa mạc".

Cảnh sát Ai Cập thường buộc chặt thân mình họ vào lạc đà để thi hành công tác truy tầm kẻ phạm pháp lẩn trốn trên sa mạc. Các quốc gia Ả Rập Phi Châu đều dùng lạc đà vào những cuộc hành quân chứ ít sử dụng cơ khí.

Ngoài số lượng hàng hóa chở đến, lạc đà còn là nguồn cung cấp lương thực cho sắc dân sống tại ốc đào. Họ lấy các chất béo trong sữa và bướu lạc đà làm thức ăn thay cho bơ và phó mát. Thịt lạc đà phơi khô hay muối, riêng bộ da của nó dùng làm lều, chăn, quần áo, dây thừng, giầy dép, túi đựng nước, thắt lưng, bao kiếm v.v... còn lớp mỡ đặc dành thắp đèn, nấu cơm và giữ cho da dẻ khỏi nứt nẻ.

Tuy hữu ích như vậy, lạc đà vẫn chưa được xếp vào hàng gia súc như gà, vịt, trâu, bò mặc dù người ta chăn nuôi, giữ gìn cẩn thận.

Lạc đà chỉ sống trong vòng năm mươi năm.


ĐẶNG HOÀNG     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 65, ra ngày 19-11-1972)

____________________
(1) Các khoa học gia còn cho rằng con Dromas, Alcapas và Vieffnas chính là con cháu thủy tổ lạc đà ngày xưa.

(2) Bactria - tên một quốc gia cổ xưa ở miền Đông Á Châu, nằm giữa sông Oxus và dãy núi Hindu Kush ở Ấn Độ.

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2024

Con Cám Khổ

 - u ơ... Má ơi đừng đánh con đau... Để con bắt ốc hái rau má nhờ... ội, ội nín ngủ đi cưng...

Con Cám ngồi bẹp dưới đất, đưa đẩy chiếc võng nhỏ xíu làm bằng một mảnh khăn lông cũ xì đen bẩn, hai đầu cột vào hai thanh tre cắm chặt xuống đất. Nằm trong võng không phải là một đứa bé, cũng chẳng phải một con búp bê, mà chỉ là một cái ve con con được quấn vải làm áo. Tuy nhiên qua đôi mắt to đen láy của con Cám, đó chính là một em bé vậy, và nó sống rất thật với cái cảnh dỗ em ngủ của một người chị nhà quê. Nó cất giọng trong trẻo buồn buồn hát lên những câu hát ru em có tự ngàn xưa, và đã thấm đượm vào hồn nó trong những lần mẹ nó ru nó ngủ ngày trước. Nắng trưa như dịu lại ; bóng mát của tàng cây vú sữa trên đầu con bé như dày hơn ; con chó Mực đang ngồi xổm trên vách nhà thè lưỡi thở hồng hộc, bỗng nằm mẹp xuống, gác đầu lên hai cẳng trước, lim dim cặp mắt ; con gà trống ô đứng trên chuồng heo im ngay tiếng gáy ; mấy con chim đang nhảy nhót trên cành đậu ngay lại, ngơ ngác nhìn quanh... tất cả cùng lắng nghe những câu ca trìu mến, thoát từ đôi môi xinh mộng của cô bé nghèo.

Nhưng giữa lúc ấy, chợt có tiếng cười hi hí vang lên, phá tan bầu không khí êm đềm : Tấn, một cậu bé ăn mặc sạch sẽ, từ trong nhà chạy ra vỗ tay nhái giọng:

- Ầu ơ... ội ội... Hay quá, hay quá!

Cám bực tức quay lại gắt:

- Đi chỗ khác chơi! Tao có ghẹo mầy đâu, sao mầy cứ phá tao hoài vậy?

Tấn nghinh ngang bước lại gần, đứng chống nạnh hất mặt nói:

- Tôi phá nữa, rồi chị làm gì?

- Tao đánh mầy chết!

Tấn cười giòn:

- Ngon quá ta! Nhưng  kìa, ba tôi ở sau lưng chị kìa.

Hai tiếng "ba tôi" như chứa một mãnh lực khiến Cám quay người lại, mặt thoáng vẻ sợ hãi. Song nó không thấy dượng Sáu đâu cả. Biết bị mắc lừa, nó toan mở miệng mắng cậu "em ghẻ" một câu, nhưng khi nhìn về chỗ cũ, nó nghẹn lời đi, vì căm giận quá sức: Hai trụ võng vừa bị thằng Tấn nhổ phăng vứt ra xa ; chiếc võng con sút sổ nằm vắt ngang rễ vú sữa nhèo nhò như  một mảnh giẻ rách bẩn thỉu ; "em bé ve chai" thì té lăn lóc gần đó, nó không đau, không khóc, mà chính Cám mới thấy quặn thắt trong lòng, nước mắt trào ra ướt nhòa đôi mắt to đen, vốn đã buồn như đêm tối. Tức giận vô cùng, nhưng không biết làm sao hơn, Cám chỉ mếu máo:

- Tấn, sao mầy chơi ác quá vậy?

Đã không chút hối hận, Tấn còn nhe răng cười, đoạn ra bộ, nhăn mặt nói:

- Ôi thôi, em nhỏ bị té rồi!... Lêu lêu mắc cỡ, khóc cái miệng méo xệch xấu quá ê!...

Không sao dằn được cơn giận nữa, Cám vớ lấy một nhánh cây nằm gần bên, quất vào mình Tấn. Nhưng nó lanh lẹ tránh khỏi, và vụt chạy vào nhà. Cám tức tốc đuổi theo. Gần đến cửa, sắp tóm được thằng bé ranh, Cám bỗng bị một bàn tay xô bật trở lại, kèm theo là một tiếng quát ồ ồ như cọp rống:

- Đứng lại. Làm gì rượt em mầy dữ vậy?

Cám lảo đảo, va người đánh rầm vào cánh cửa. Nó hoảng hốt đến quên cả đau, khi nhận ra người cản đường là dượng Sáu, ba Tấn, cha ghẻ mình. Tấn vừa đứng dừng lại, và vụt đổi thái độ: nó xịu mặt xuống làm như chực khóc òa lên, nũng nịu nói với cha:

- Ba ơi, chỉ rượt đánh con đó. Chỉ muốn giết con mà!

Dượng Sáu quắc mắt nhìn Cám:

- Đồ chó! Mầy ăn hiếp em hả?

Cám buông roi, phẫn uất nói:

- Con có ăn hiếp nó đâu? Nó ăn hiếp con thì có.

- Mầy không ăn hiếp, sao xách roi tính đánh người ta?

- Tại nó phá con, nó còn trêu chọc con nữa.

- Khá thật! Hôm nay mầy dám cãi lý với tao há!

Dứt lời, dượng Sáu sấn tới giáng vào má Cám một tát tai tối tăm mày mặt.

Một lần nữa, nó ngã quỵ vào vách, và ngồi phệt xuống luôn, ôm đầu khóc nức nở. Chiếc thân bé nhỏ xác xơ càng bé nhỏ xác xơ hơn với cái dáng thảm sầu. Hai bàn tay gầy guộc ôm lấy má, mái tóc rối phủ lấp cái mặt cúi gầm, thân hình ốm yếu co ro trong manh áo đen vá chằng  chịt cứ run lên qua từng tiếng nấc bi thương, trông nó chẳng khác một con chim non lạc lõng sau cơn giông gió phũ phàng. Đau đớn, uất ức, tủi thân quá, Cám cảm thấy mình nhỏ nhoi vô phước hơn một con vật. Nó khóc với tất cả đau buồn chất ngất trong tâm.

Ngay khi đó thím Tư, mẹ ruột Cám, từ nhà sau bước ra. Thấy cảnh con mình như vậy, thím cau có hỏi chồng:

- Ông đánh nó đó hả?

Dượng Sáu đáp cộc lốc:

- Ừ.

- Nếu nó có lỗi lầm chi, ông dùng lời răn dạy không được hay sao, sao lại nỡ đánh đập tàn nhẫn như vậy?

- Bây giờ bà giở giọng bênh con phải không?

- Vâng, việc gì cũng vừa phải thôi chứ. Ông đã đày đọa, bắt nó làm đủ chuyện cho ông, lại còn hà hiếp nó nữa à?

- Hừ, tôi làm thế đấy, rồi sao?

Nói xong, dượng Sáu hằn học đi vào trong. Tấn cũng vênh váo bước theo sau. Hai cha con điệu bộ giống hệt. Thím Tư khó chịu nhìn theo, đoạn bước lại bên Cám, ôm con vào lòng dịu ngọt hỏi:

- Con bị đánh đau lắm à? Vì sao con bị dượng đối xử tàn tệ như vậy?

Như được khơi thêm sầu tủi, Cám ngả đầu vào ngực mẹ, khóc to hơn. Thím Tư cũng rơm rớm nước mắt. Thím rút khăn lau mặt con, buồn bã nói:

- Thật khổ cho con gái tôi, mới từng tuổi nầy mà phải gánh chịu bao điều phiền muộn. Cũng tại má cả!... Cám à, con có giận má không?

Cám lắc đầu, tức tưởi nói:

- Không, con hổng có giận má. Con chỉ...

Nó muốn nói thêm nhiều, nhưng chẳng biết nói sao cho suôn, nên chỉ ấm ứ, rồi thôi. Hai mẹ con ngồi im nơi ngạch cửa, lặng thinh, mỗi người miên man với một ý nghĩ. Cám buồn cho hiện tại rồi nhớ đến dĩ vãng mà lấy làm lạ, không sao hiểu được thái độ lạ lùng của cha ghẻ mình. Nó còn nhớ rõ...
 
Dạo ấy, khi chú Tư mất, thím Tư ở vậy nuôi con được ba năm, rồi tái giá với dượng Sáu. Dượng cũng góa vợ, có một đứa con, thằng Tấn, và là người trong làng. Thím Tư ưng thuận với dượng phần lớn cũng chỉ vì lo cho cám, muốn cho nó được hưởng cái cảnh đầm ấm của gia đình, có đủ cha đủ mẹ đùm bọc chở che. Mà quả vậy, quãng đầu trong đoạn đời mới, mẹ con thím được sống trong vui sướng thật. Dượng Sáu tỏ ra rất thương yêu vợ kế, và chiều chuộng săn sóc con ghẻ như con ruột của mình. Cảnh ấm êm đó cứ tưởng thắm đẹp mãi, ngờ đâu mấy lúc gần đây, dượng Sáu lại thay đổi thái độ một cách đột ngột. Tự dưng  dượng  sinh ra ghét bỏ thím Tư, hằn học trong từng cử chỉ, lời nói, mỗi lần tiếp xúc. Phần Cám, dượng đối xử với nó chẳng khác một  đứa ở: mảnh áo lành thay vào manh áo vá, tình thương lấy đi thay bằng khác nghiệt. Thằng Tấn cũng nương theo cha mà hỗn láo với mẹ ghẻ, hiếp đáp chị. Mẹ con thím Tư cam chịu biết bao tủi cực không biết nguyên do đâu mà ra..

Trầm ngâm một lúc, thím Tư kéo con lại ngồi nơi bộ ván và hỏi:

- Hôm qua có cô Ba lại thăm, con có thấy không?

Cám gật đầu:

- Dạ thấy.

- Cổ đến bàn với má, muốn đem con về ở với cổ đó. Con chịu hôn?

Cám ngần ngừ không đáp. Nó không muốn xa mẹ, người nó yêu kính nhất đời. Ngoài ra, còn một lý do nữa khiến nó phải e ngại khi phải theo cô. Ngày trước, bà nội, ba nó còn sống, đã cùng má nó, cô Ba chung sống một nhà, nó thấy cô chẳng tốt chi. Cô ghen ghét má nó, tìm lời gièm pha nói xấu má nó với bà nội, làm phiền má nó luôn. Cám đã thầm giận cô lắm, bây giờ bắt về sống với cô nó không muốn chút nào. Cám định nói:

- Thôi má ạ, con hổng chịu đâu.

Song chợt một ý nghĩ lóe lên trong đầu, khiến nó lại thôi : Ờ, không chừng vì có mặt mình mà dượng xử tệ với má. Nếu mình đi, biết đâu lại khác. Mình ra thế nào cũng mặc. miễn sao má được sung sướng thì thôi. Má đã khổ nhiều lắm. Trước kia má phải chịu sự bắt nạt, đày đọa của bà nội, cô Ba và cả ba nữa, bây giờ cũng chẳng hơn gì. Đời má sao đáng buồn thế?

Thấy con suy tính quá lâu, thím Tư hỏi lại:

- Con nghĩ sao? Ở đây tuy gần má nhưng má nào có chăm sóc cho con được gì. Về với cô có lẽ con sẽ được sống đầy đủ hơn đó.

Cám gật đầu, nghẹn ngào nói:

- Dạ, con xin vâng lời má.

Rồi nước mắt lại trào ra chan hòa.

*

Cô Ba với lấy chiếc lược để trong góc bàn, tươi cười bảo Cám:

- Tắm rửa sạch sẽ rồi đấy à? Lại đây cô chải đầu cho, cháu cưng.

Cám ngoan ngoãn vâng theo. Chải gỡ lại mái tóc rối và ướt của nó xong, cô lấy kéo vanh móng tay cho nó nữa. Vừa làm, cô vừa nói:

- Má mầy thiệt tệ, có mỗi một đứa con gái mà không chăm lo gì đến cả.

Cám nói:

- Tại má con không có thời giờ săn sóc con thường đó thôi. Chứ má con thương con lắm, cô ạ.

Sửa soạn cho Cám xong rồi, cô Ba lấy kiếng đưa nó soi. Cám đỡ lấy, ngạc nhiên nhìn vào bóng mình. Con Cám mà xinh thế ư? Với mái tóc đen mượt chảy xuôi ra đằng sau lòa xòa phủ xuống bờ vai nhỏ, để lộ gương mặt tròn trĩnh sáng sủa, với cặp mắt to chớp chớp đôi hàng mi cong dài, lộ nét vui thích thơ ngây, với cái miệng cười chúm chím đẹp như cánh hoa chớm nở, trông nó khác lạ thế nào!

Cô Ba vui vẻ hỏi:

- Sao, có đẹp không cô bé?

Cám cúi mặt, thẹn thò không đáp. Lòng cảm mến đối với cô len vào hồn nó sâu thêm chút nữa.

Cám về ở với cô Ba đã bốn năm hôm. Mấy bữa đầu nó buồn bã, kém ăn kém nói. Song dần dần, nhờ cô Ba khéo an ủi vỗ về nên nó vui tươi trở lại. Cũng do những cử chỉ thân ái đó, mà sự ngờ vực cô mình tan biến ngay trong đầu Cám. Trái lại, nó càng thấy mến thích cô nữa là khác. Từ trước đến giờ có ai nuông chiều, dịu ngọt với nó như cô vậy? Nó nghĩ rằng thời gian đã gột rửa đi lòng ích kỷ của cô rồi. Nhưng sự thật, đã là ớt thì khó mà hết cay. Cô Ba đem Cám về sống với mình là để thực hiện một tham vọng đấy, nào có thương tưởng gì đến thân nó đâu. Những cử chỉ trìu mến, những lời lẽ ngọt ngào vuốt ve cõi lòng cô đơn của con bé chỉ là những mánh khóe trong bước đầu kế hoạch của cô đó thôi. Và bước đầu có thể nói là hoàn toàn thành công rồi, cô quyết định lần sang bước thứ hai ngay chiều nay... Cô vụt hỏi Cám:

- Cám à, con thích có nhiều tiền hôn?

Cám hơi sửng sốt. Lâu nay nó ít nghĩ đến điều đó, không dám nghĩ thì đúng hơn. Tiền! Ờ, nếu có nhiều tiền thì vui biết mấy. Cám sẽ mua quần áo mới để mặc, mua sách vở học như thằng Tấn vậy, mua búp bê nữa, và còn bao nhiêu thì đưa má xài. Nhưng làm sao Cám có nhiều tiền chứ? Cô Ba hỏi vậy làm gì vô ích. Cám nói:

- Con cũng thích, nhưng...

Cô Ba ngắt lời:

- Không nhưng chi cả. Nếu con thích, con có thể có được như thường.

Đôi mắt to của Cám càng to thêm, cái miệng tròn vo hỏi:

- Cô nói sao? Con làm việc chi được mà có nhiều tiền?

- Được chứ. Như con Bánh đó nó có lớn hơn con đâu nào.

- A, con hiểu rồi: Muốn có tiền, con phải đi ở mướn như con Bánh phải không ạ?

- Đúng vậy. Con xem, con Bành đi làm ở tỉnh mỗi lần về làng nó ăn mặc bảnh bao biết chừng nào! Nghe nói ba má nó nhờ nó mà đỡ túng bấn đấy... Con hãy nghĩ, có nên đi làm như nó không? Con nói rằng con thương má con, nhưng chẳng có ý gì chứng tỏ. Nếu con đi làm kiếm tiền cho người thì mới rõ lòng hiếu thảo được.

Lời cô Ba phải quá. Cám đã thấy xiêu lòng:

- Nghe cô nói con cũng chịu. Nhưng ở đây đâu có ai mướn đứa ở?

- Ờ, thì cô sẽ dẫn con ra tỉnh kiếm chỗ làm. Có khó chi, miễn con chịu làm là được.

- Dạ con chịu rồi đó. Mà chừng nào hở cô?

Cô Ba ra vẻ âu yếm, vuốt tóc Cám, dịu lời hơn:

- Cháu của cô ngoan quá! Bàn vậy chứ chưa vội gì. Phải để con nghỉ ngơi vài ngày đã chứ.

Đoạn cô cười, mừng rơn trong bụng.

Thế là hai hôm sau, cô Ba dắt cháu khăn gói ra tỉnh.

Khi đi ngang qua nhà dượng Sáu, Cám níu cô đứng lại:

- Khoan đã cô, cho con vào thăm má con lần nữa, và cho bả hay con theo cô đi làm, nghe?

Cô Ba cau mày toan nạt nó một câu, song nghĩ sao, cô dịu giọng:

- Không nên con à. Ba ghẻ con chẳng ưa gì con. Thấy mặt con, thằng chả sanh giận rồi ghét lây cả má con nữa đa... Vả lại, cô nghe nói má con đi đâu vắng mấy hôm rày, gặp sao được?

Dứt lời cô kéo Cám đi. Nó riu ríu theo sau, mặt xụ xuống, đôi mắt buồn lại chực khóc.

Ra đến tỉnh, cô Ba đưa Cám đến ở nhờ nhà một người quen. Phần cô lo chạy đi kiếm chỗ làm cho nó. Một mình ở nơi nhà người lạ, nhìn trước mắt cái gì cũng khác thường, con bé cảm thấy bỡ ngỡ bơ vơ như một con nai xa lạc rừng thẳm. Bấy giờ, người thân thích gần nó nhất là cô Ba. Nó cần có cô bên mình hơn cả má nó nữa. Cô bỏ nó đấy mà đi, nó ra vào trông ngóng, thầm trách sao cô đi lâu quá vậy. Nếu cô không về với nó, thì chắc chết! Con nhỏ cứ nghĩ thế mà sợ cuống lên.

Nhưng rồi đến chiều cô Ba cũng trở về. Cô vui vẻ cho Cám hay đã tìm được chỗ làm cho nó với lương tháng 300 đồng.

Sáng hôm sau cô Ba dẫn Cám đến nhà chủ. Giao cháu cho bà chủ xong, cô dặn dò nó mấy câu, rồi đi. Cám chạy theo nói như van:

- Cô ơi, có rảnh ghé thăm con nghe cô!... À, có gặp má con, cho con gởi lời thăm với.

Cô Ba quay lại tươi cười:

- Con cứ yên lòng làm lụng cho giỏi. Cô vẫn ở ngoài tỉnh, sẽ đến thăm con thường mà.

Nhà Cám ở làm gồm có một bà mẹ, tức bác Bảy, hai người con là anh Hai đi làm việc, và anh Hoàng học ở trường trung học. Lần đầu tiên bước vào cuộc đời đi ở mướn, Cám lo sợ e ngại vô cùng. Nó đi đứng khép nép, gần như run sợ khi đứng trước mặt chủ. Song chỉ một tuần lễ sau, mặc cảm nhỏ nhoi tiêu tan dần, nó tươi tỉnh lên đôi chút. Bà chủ mà ban đầu nó tưởng rất nghiêm khắc, lại rất nhân từ. Bác Bảy đối xử với nó như con cháu trong nhà vậy. Anh Hai cũng chả khó hơn. Anh Hoàng thì dễ chịu nhất rồi. Công việc của Cám có chi là nặng nhọc so với lúc ở với dượng Sáu? Quét  nhà, phụ nấu nướng với bác Bảy, giặt đồ, thế thôi. Riêng anh Hoàng, áo quần của anh anh lo giặt lấy, không chịu giao cho Cám. Anh bảo lúc trước không có nó thì nhờ ai? Vả, anh làm theo ý mình vẫn thích hơn. Thấy Cám tỏ ý ham học, những lúc rảnh anh dạy nó học chữ nữa. Công việc hơi khó một chút, bởi Cám chưa biết gì cả. Nó có đến trường bao giờ? Tuy thế, anh chẳng lấy làm phiền, trái lại còn vui vì tự cho mình đã làm một việc có ích cho người. Chẳng bao lâu mà Cám đã ê, a đánh vần đọc báo được. Ơn anh Hoàng nó ghi khắc trong tâm khảm, khó mà phai. Cám tự nhủ: Nếu được ở với bác Bảy, anh Hai, anh Hoàng như thế này nó cũng vui.

Cuối tháng đầu, cô Ba đến lãnh tiền. Cô đưa cho Cám mười đồng bạc và bảo:

- Con giữ để dành ăn bánh. Còn bao nhiêu cô đem về cho má con nhé.

Cám vui vẻ nói:

- Phải đó. Con có xài chi lắm mà lấy nhiều.

Nó tưởng tượng ra vẻ mặt ngạc nhiên mừng rỡ của thím Tư khi nhận được tiền của nó, mà vui vô hạn.

Cuối tháng thứ hai, cô Ba hơ hãi đến cho Cám hay má Cám đau nặng, và xin bác Bảy cho nó về. Nghe mẹ bệnh, Cám cũng nóng được gặp mặt. Nó vội vàng thu xếp quần áo, từ giã chủ. Bác Bảy trao tiền cho cô Ba, dặn cô chóng dẫn nó trở lại, nếu có chuyện gì thì cho bác hay. Anh Hoàng đưa Cám ra tới cổng. Nó nắm tay anh:

- Thôi em đi nghe anh. Má em hết bệnh, em trở ra liền. Xa anh lâu nhớ lắm.

Đoạn nó chạy theo cô Ba. Đi một đỗi, Cám lấy làm lạ khi thấy cô Ba không dẫn nó ra bến xe để về làng, mà dắt nó tới một ngôi nhà ngói nọ. Nó đứng dừng lại trước cửa cổng, trợn mắt hỏi:

- Sao không trở về làng thăm má con lại tới đây? Hổng lẽ má con ở trong nhà nầy sao cô?

Cô Ba cười hì hì:

- Lúc nãy cô nói má con đau, là nói dối để có cớ cho con thôi việc, đặng dẫn con đến làm ở đây đó. Làm chỗ nầy lương cao hơn nhiều con à.

Rõ ra, Cám bực tức hết sức. Tại sao cô Ba nỡ đem má nó làm phương tiện lừa dối gia đình bác Bảy, đánh lừa cả nó nữa? Tại sao cô không nói thẳng với bác Bảy? Bác Bảy, anh Hai, anh Hoàng đều là người tốt, xử sự như vậy thật không phải chút nào. Cám giận ghê lắm. Song nó chịu đè nén đã quen, nên chỉ vùng vằng đôi chút, rồi cũng theo cô Ba đi vào nhà nọ.

Bắt đầu từ hôm ấy, Cám sang ở mướn một gia đình mới: Ông bà Phán và đám con tám đứa lúc nhúc như gà con. Về ở nơi đây, Cám đã trở lại với kiếp sống đọa đày từng bấu víu lấy nó. Con bé còn khổ sở hơn là lúc sống với cha ghẻ. Mặc kệ tấm thân ốm yếu với mớ tuổi mười hai, mười ba, người ta bắt nó làm cho đáng tiền mướn chứ. Mỗi ngày Cám phải thức dậy thật sớm giặt cả thau vun quần áo, rồi nấu nước, pha sữa, chạy ra chợ mua thức ăn điểm tâm cho chủ, về nhà lại quét tước, chẻ củi lo nấu cơm, trưa thì lau nhà, ủi đồ, xế thì xách nước tưới kiểng, tắm rửa cho đám trẻ... Hình như lúc nào cũng có công việc cho nó làm. Đã vậy nó còn bị bà chủ rầy mắng luôn, và mấy đứa con lớn của bà hiếp đáp, hành hạ nữa. Tủi cực chồng chất, nhiều lúc nó nhớ lại cảnh sống với gia đình bác Bảy mà tiếc thầm. Có lần nó thấy anh Hoàng đi ngang qua nhà, nó hoảng hốt chạy vào trong lánh mặt, dù thực tâm vẫn muốn gặp lại người mình yêu kính. Nó sợ anh Hoàng hỏi ra, cho nó là phường dối trá, ham tiền thì khổ.

Cám làm đủ một tháng, cô Ba lại đến lãnh tiền. Lúc cô xuống nhà dưới, nó kéo cô ra sau hè, rơm rớm nước mắt mà nói:

- Cô ơi, làm ở đây cực quá, lại bị chê trách rầy rà hoài, con chịu hổng nổi. Cô cho con thôi, trở về làm với bác Bảy hoặc đi làm ở đâu khác cũng được.

Với những lời van lơn tha thiết đó, Cám những tưởng cô Ba sẽ chiều theo, hay ít nhất cũng an ủi nó vài lời. Nào ngờ cô sa sầm nét mặt, quắc mắt, nghiến răng:

- Cực cái gì? Chà, lúc nầy lại sanh tật làm nũng hả? Không thôi chi cả! Mấy phải rán làm sao cho bà chủ vừa ý. Để cho bả phàn nàn điều gì thì biết tay tao.

Cám kinh ngạc đến  sững sờ, và trong lúc cô quay đi, nó úp mặt vào tay khóc rấm rức. Thằng Quyền, con đầu lòng của bà Phán, không biết đứng rình gần đấy tự hồi nào, bước lại bảo:

- Mầy muốn thôi hả? Còn lâu! Cô mầy lãnh tiền trước hai ba tháng rồi đó.

Đoạn nó cười ha hả và bỏ đi. Cám thấy tan nát cả lòng. Phải chăng cô nó chỉ thương tiền mà không chút thương nó? Ủa, mà tiền nó làm ra, cô nó bảo là đem về cho má nó hết, thì ít nay nhiều nào có lợi gì cho cô, sao cô quan tâm đến thế? Cám không sao hiểu. Nó gục đầu khóc lớn hơn.

*

Bà Phán gọi Cám lại, trao cho nó một cái tô kiểu và bảo:

- Lại tiệm chú Tiều mua hai đồng tương ngọt. Tấm giấy hai chục đây, mua rồi nhớ đếm kỹ tiền thối nhé. Đi nhanh lên.

Thằng Quyền đứng bên xen vào:

- Ê, đừng có ăn lời đấy nhé!

Cám làm thinh cầm tô đi. Tiệm chú Tiều cách nhà không xa mấy. Lúc Cám vào, tiệm vắng khách. Nó hỏi mua tương và trao tô, tiền cho chệt Tiều. Chú chưa kịp múc thì có một ông ăn mặc đàng hoàng hước vào hỏi mua lung tung. Chệt Tiều lật đật nhét tiền của Cám vào túi, đặt tô lên bàn, lo tiếp ông khách đã. Hai người, kẻ thách người trả một hồi mới mua bán xong. Cám nóng ruột quá. Đi mua lâu như vầy, không khéo về lại bị chủ mắng. Lúc chệt Tiều múc tương xong, nó vội tiếp lấy tô, quày quả ra khỏi tiệm. Nhưng đi được một đỗi, Cám sực nhớ mình chưa lấy tiền  thối. Nó trở lại đòi. Dè đâu chệt Tiều hầm hầm cất giọng lơ lớ bảo:

- Đừng có nói bậy. Lúc nãy mầy đưa có hai đồng, bây giờ nói hai chục hả?

Mặc cho con bé hết lời van xin, chú ba Tàu nhứt định không trả lại tiền dư. Chú quát:

- Về đi, từ nay đừng tới đây mua. Bán cho mầy xui quá!

Thấy không thể nào làm cho chệt mở lòng nhân được, Cám đành  đi ra. Nó rầu rĩ không biết phải nói làm sao với bà Phán. Giữa lúc khốn cùng, nó bỗng nảy ra một ý, và thấy nhẹ hẳn lòng. Ờ, thôi thì lấy tiền của mình trả cho chủ vậy. Mỗi lần lãnh lương cháu, cô Ba đưa cho nó năm mười đồng. Nó cất đấy không ăn xài chi cả, định để dành mua một con búp bê. Nhưng bây giờ thì thôi, tan mộng! Mừng vì thoát được nguy, buồn vì mất cả tiền, hai cảm nghĩ trái ngược lẫn lộn trong đầu con nhỏ, tạo nên một nét mặt kỳ dị, làm như nửa cười nửa khóc.

Về đến gần nhà, Cám chợt để ý đến một cặp vợ chồng vừa đi sớt ngang. Người đàn ông dáng dấp trông giống cha ghẻ nó quá. Còn người đàn bà bị ông ta che khuất nên không thấy rõ. Cám lập tức đuổi theo, xem có phải dượng và má nó chăng. Chứng đến gần nhìn kỹ, nó sửng sốt: Người đàn ông đúng là dượng Sáu, nhưng người đàn bà không phải là thím Tư. Tại sao cha ghẻ Cám không đi với má nó, lại chung bước với ai lạ hoắc vậy? Nó thất vọng, thắc mắc vô cùng. Cám không ưa gì dượng Sáu, nhưng chẳng hiểu sao nó mong thím Tư luôn sống với dượng, và không muốn ai chia rẽ dượng với má nó cả. Bây giờ linh cảm rằng chính người đàn bà đã cướp mất vị trí của má nó bên dượng Sáu, tự dưng nó thù ghét bà ta hết sức. Bất giác Cám bước sấn tới, toan hỏi cho ra lẽ. Nhưng vừa khi ấy, dượng Sáu quay lại, trừng mắt nhìn. Như chạm phải một luồng điện, bỗng dưng nó bủn rủn tay chân, đứng dừng hẳn lại. Rồi tưởng chừng như dượng sắp nhảy tới, giáng cho nó hai ba tát tai như thuở nào, nó quay người bỏ chạy. Bất ngờ, vấp phải một cục đá, nó té lăn kềnh. Tô tương sút khỏi tay, văng ra bể nát. Cám chết điếng cả người. Trời ơi! Hoạn nạn sao mà dồn dập thế nầy? Mất tiền còn có thể đền, bể cái tô kiểu biết tìm đâu ra cái thứ hai? Cám hoảng sợ đến không khóc nổi. Tay chân nó run lẩy bẩy, tim đập muốn vỡ ngực. Nó hình dung nét mặt, bộ điệu giận dữ của bà chủ mà rùng mình. Có nên trở vào nhà không? Không! Phải trốn. Nó thất thểu đi như lần dò trong một đêm tối mịt mù đầy gió bão.
 

Cám cứ lê bước không định hướng, đầu óc choáng váng gần như không ngại gì, không biết gì đến khung cảnh rộn rịp của phố xá. Hình như có đôi lần nó va phải người đi đường, bị xô ra chửi cho một câu, hoặc sắp đâm đầu vào xe đang chạy. Đêm dần buông, đường phố đã lên đèn, nhưng không soi rọi vào lòng nó một tí ánh sáng nào. Mỏi mệt, vô tình cũng vừa đến một công viên, nó lại ngồi phệt trên một băng đá, ngỡ ngàng nhìn người qua lại.

Gần chỗ Cám ngồi có một đám trẻ đang tung tăng chạy nhảy reo đùa bên cạnh cha mẹ chúng. Đứa nào cũng quần áo tươm tất, vui tươi như chim sẻ. Nhìn chúng, rồi ngó lại mình, Cám thấy tủi thân. Con nhỏ kia với nụ cười hồn nhiên, mái tóc chải chuốt, áo quần giày vớ đẹp đẽ đó, cũng chỉ là một con bé thường thôi, nó nào khác, mà sao người ta sung sướng vậy, còn nó vì lẽ gì phải khổ sở thế này?  Ôi, cũng vì nó sinh ra trong một gia đình nghèo, lại thiếu cha xa mẹ. Nếu nó được làm con của một gia đình khá giả, thì kém ai? Tội nghiệp cho con bé. Má nó đặt cho nó cái tên là Cám, chắc cũng mong đời nó sẽ  giống như con Cám, trong truyện cổ tích vậy. Mà giống thật, nhưng than ôi, chỉ giống con Cám ở cái đoạn nó sống với mẹ ghẻ, cái đoạn bị chết lên chết xuống, mà không chịu giống cái hồi nó hoàn lại hình người, về làm vợ thái tử, mới đáng buồn chứ! Hơn nữa, con Cám ngày xưa trong lúc khốn khó còn được Tiên, Phật giúp đỡ, có  áo tiên giày tiên nầy nọ, còn nó nào được an ủi gì? Con Cám này đúng là "con Cám khổ" chớ không phải "con Cám sang" mà!

Ngồi nghỉ một lúc hết mỏi chân, Cám định rời băng đá, bỗng nghe có tiếng kêu ngạc nhiên lẫn mừng rỡ vang ngoài sau, rồi ai đấy chạy tới ôm chầm lấy nó. Nó kinh hoảng, tưởng chắc bà Phán dò theo bắt mình. Nó vùng vẫy la oái oái. Người ấy liền buông nó ra ngay, lo lắng hỏi:

- Ô kìa Cám! Con làm gì vậy?

Nghe cái giọng rất quen, êm ái, thân yêu quá, Cám vụt quay lại nhìn kỹ người nọ. Đoạn nó mừng rỡ kêu to một tiếng:

- Má!

Thì ra đó là thím Tư. Nhận ra mẹ, Cám bỗng gục đầu vào lòng thím khóc ồ lên. Thím để mặc cho con khóc, vì chính thím Tư cũng khóc kia. Hồi lâu, thím Tư vuốt tóc con âu yếm bảo:

- Thôi nín đi con. Cô Ba con đâu lại để con đi một mình? Sao con buồn quá vậy?

Nước mắt chảy nhiều, buồn phiền cũng vơi bớt, Cám nói:

- Chuyện dài lắm má ơi, để rồi con nói má nghe. Còn má đi đâu lạc đến đây vầy nè?

- Má đi tìm dượng... mà không, tìm con đấy.

- À, hồi nãy con thấy dượng đi với ai đó. Con tính...

- Thôi đừng nhắc tới y nữa. Từ nay con không còn dượng chi hết, chỉ có má thôi, và má sẽ ở mãi bên con, chịu hôn?

- Vậy hả má? Sướng quá chừng!

Im lặng một chốc, nó hỏi:

- Mỗi tháng con có nhờ cô Ba trao tiền con làm ra cho má, má có nhận được không?

Thím Tư ngạc nhiên hỏi lại:

- Ủa, con đi làm việc gì, hồi nào? Không có ở với cô Ba sao? Má có nhận được tiền gì con gởi đâu?

Cám thừ người. Hiều rõ hành động của cô Ba nó giận quá sức. Thím Tư chắc lưỡi:

- Tiếc thật!

Cám la lên:

- Tiếc thật mà! Tiền con làm cực khổ mới có, mà cổ lấy hết!

Thím Tư lắc đầu:

- Má không nói tiếc tiền, tiếc là tiếc mấy năm trời sống với lão cha ghẻ con đấy. Nếu má không tái giá, má con mình chắc không đến nỗi khổ như ngày nay.

Trầm tư một lúc, thím đứng dậy bảo con:

- Thôi đi con à.

Cám hỏi:

- Bây giờ đi đâu má?

- Đi về cái nhà hai má con mình đã ở với nhau lúc ba con mới mất đó.

Cám reo:

- Vậy hả? Đi liền!

Đèn công viên đẹp ghê! Gió từ ngoài sông thổi lộng vào mát mẻ lạ! Mãi lúc nầy Cám mới nhận ra thế. Nó siết chặt tay thím Tư, tung tăng chạy theo. Hai mẹ con cùng cảm thấy cõi lòng như ấm hẳn lại.


NGUYỄN VĂN NGHỆ      

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 34, ra ngày 25-11-1965)

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2024

Tuổi Học Trò

 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trong sáng hồn nhiên tuổi học trò
như chim buổi sáng hót líu lo
em cùng các bạn tung tăng bước
đường nhỏ rộn lên tiếng chuyện trò

Vui với thầy cô với bạn bè
giờ học em ngồi lắng tai nghe
bồi hồi ôn lại trang sử Việt
bút màu tô điểm dãy sơn hà.

Giờ chơi rộn rã tiếng cười đùa
góc sân cửa lớp tiếng guốc khua
áo trắng sân trường bay thấp thoáng
như đàn chim nhỏ hót thi đua.

Trường lớp  em ngoan từng gốc cây
bảng đen phấn trắng có Cô Thầy
bạn bè bàn ghế quen thân quá
sách vở nâng niu giữ từng ngày.

                                       ĐĂNG VƯƠNG

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 113, ra ngày 2-11-1973)

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2024

Tìm Thủ Phạm

Hồi chuông đêm vang lên giữa cảnh vắng lặng của một nội trú ở miền ngoại ô cách khá xa thành phố. Các nội trú sinh, như thói quen thường lệ, lặng yên nối đuôi nhau lên cầu thang vào nhà nguyện dâng mùa kinh tối. Tiếng dép giày khua trên bậc cầu thang tạo nên một âm thanh thật lạ tai đối với những người mới tới đây lần đầu tiên. Một vài tiếng xầm xì và cười khúc khích nho nhỏ nổi lên rồi im bặt khi có một bóng áo thâm chùng xuất hiện ở đầu cầu thang. Chuông vẫn ngân dài, đêm nội trú buồn lại buồn hơn. Mỗi nội trú sinh theo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Người cuối cùng đặt chân vào nhà nguyện, tiếng kinh cầu được bắt lên. Trên cung thánh ngọn đèn chầu leo lét mờ ảo, tượng Chúa Giêsu tượng Đức Mẹ vẫn bất động... Tất cả như ngây ngất đắm chìm trong biển linh thiêng mầu nhiệm. Riêng mình Thiện, miệng vẫn đọc kinh nhưng lòng trí lại suy tính nghĩ ngợi lung tung về một biến cố quan trọng vừa mới xảy ra trong nội trú nầy. Không biết điều đó quan trong như Thiện nghĩ hay là vì tính Thiện hay quan trọng hóa mọi vấn đề. Thiện thúc cùi chõ vào thằng bạn ngồi cạnh đang dường như ngất trí đi về thế giới linh thiêng theo lời kinh và nói thật nhỏ:

- Tối họp ở sân thượng có chuyện quan trọng!

Thằng bạn khẽ gật đầu... Thiện mở hai mắt lớn nhìn lên tượng thánh giá cố cầm trí đọc kinh nhưng chẳng được, nhiều hình ảnh vô thứ tự hiện ra trên màn ký ức bắt buộc Thiện phải phân tích, xếp đặt và suy đoán. Đồng hồ buông 10 tiếng báo hiệu 30 phút đã trôi qua và sắp hết giờ đọc kinh, đến giờ ngủ.

Dứt câu kinh cuối cùng Thiện bái quì bước ra ngoài. Trán Thiện nhăn lại, miệng lẩm bẩm rồi chợt mỉm cười như vừa khám phá ra một lối thoát cho một vấn đề gay go nào đó. Thiện định nói với Tâm, tên thằng bạn ngồi kề Thiện ở nhà thờ - một điều gì đó, nhưng liếc thấy bóng thầy giám thị đầu kia đi lại, nên lặng yên bước vào nhà ngủ...
 
Chuông điện reo và đèn bỗng tắt, bóng đen bao trùm. Không gian ngập đầy yên lặng và màu đen. Thiện buông mùng, nằm yên lắng nghe tiếng xe Mỹ chạy ầm ầm dưới đường, tiếng súng bên cầu vọng lại, tiếng gió rít qua khe cửa. Tất cả những âm thanh nghe được chỉ là những tiếng mơ màng mờ ảo kết thành một khúc nhạc du dương... Năm phút trôi qua nhà ngủ vẫn chìm trong yên lặng, Thiện nhè nhẹ bước xuống khỏi giường rồi từng bước thận trọng đi về phía cửa sát với cầu thang. Một bóng đen khác xuất hiện và đi về phía Thiện. Bóng đen ấy là Tâm. Cả hai lặng yên thận trọng bước dò dẫm từng bậc cầu thang chìm trong đêm đen. Họ càng cố nhẹ chân bao nhiêu thì tiếng động họ tạo ra dường như càng lớn hơn. Họ có thể nghe được nhịp tim đập mạnh của nhau. Bỗng một bóng đen thứ ba xuất hiện rồi ánh đèn pin bật sáng. Thiện và Tâm hoảng hốt lách mình qua cánh cửa khép hờ của phòng rửa mặt. Ở đầu cầu thang, bóng đen kia vẫn vô tình bước và tiếng chân nện trên cầu thang nghe xa dần rồi tắt hẳn. Tâm thì thầm nói với Thiện:

- Ai như Cha Giám Đốc! May quá ngài bắt được thì chết.

Thiện không trả lời, nắm tay bạn kéo chạy ra khỏi phòng về hướng cầu thang lên sân thượng.

Đêm hôm nay có lẽ là một đêm ba mươi, trời không có trăng nhưng có ngàn vì sao lấp lánh giữa khoảng đen bao la. Ánh đèn điện ở bên cầu và ở phố lập lòe mờ ảo. Thiện và Tâm đến ngồi ở một góc kín. Tiếng Thiện thì thầm:

- Tâm biết chuyện gì mới xảy ra không?

Chuyện gì vậy, Tâm đâu biết!

- Chuyện thằng Tân ấy.

- Người ta đang sốt ruột, mà nói rứa ai hiểu được.

- Thằng Tân có 15.000đ để trong tủ nhà ngủ có khóa số hẳn hòi nay mất tiêu.

- Nó làm gì giữ tiền nhiều vậy?

- Tiền học nó quên nộp chừ mất.

- Mà sao thấy nó tỉnh khô vậy?

- Có lẽ nhà nó giàu.

- Nhưng điều nầy quan trong hơn: thủ phạm dám để lại tấm giấy nói "mượn đỡ tết Công gô sẽ trả". Chúng mình phải tìm ra vụ này.

- Mà Thiện có thấy tấm giấy nớ không?

- Chỉ nghe thằng Tân nói vậy.

Tâm tự trách mình:

- Sao Tâm vô tâm quả chẳng biết gì về chuyện này cả.

- Cha Giám đốc bảo Tân đừng nói với ai sợ làm xôn xao anh em. Mình gạn hỏi mãi nó mới tiết lộ đó...

Bỗng có tiếng chân người ở đầu sân thượng bên kia. Cả hai đều im lặng không biết phải làm gì. Tiếng chân mỗi lúc nghe gần hơn và nhịp tim của Thiện và Tâm càng đập mạnh và nhanh hơn. Bỗng tự nhiên Thiện bật đèn pin sáng lên soi xuống nền như để tìm vật gì. Tâm không hiểu cũng bắt chước làm theo.

- Hai cậu làm gì đây bây giờ mà chưa đi ngủ?

Tâm nhận ra được tiếng của thầy giám thị và lo lắng nghĩ đến  một hình phạt nào đó thầy sẽ "ban" cho hai đứa. Nhưng Thiện đã nhanh nhẹn trả lời tuy giọng nói hơi run run:

- Thưa thầy em tìm cái chìa khóa, khi tối sau giờ cơm em lên đây chơi làm rớt mất.

- Tối thế nầy làm sao tìm được (vừa nói thầy vừa soi đèn xuống nền một vòng). Thôi về ngủ mai hãy lên mà tìm.

Thiện cũng như Tâm thở ra nhẹ nhàng... nhưng  tim vẫn còn đập  mạnh. Tâm nói nhỏ với Thiện khi xuống cầu thang:

- Có mất chìa khóa thật không, nói dối mang tội chết.

- Nói dối một nửa thôi. Thiện có mất chìa khóa thật nhưng không phải khi nãy lên sân thượng để tìm chìa khóa. Về nhà ngủ lấy "Tế rê phôn đặc biệt" ra bàn tiếp chuyện, mai chúa nhật rồi có học đâu mà sợ. Nhớ để băng FM!

"Té ré phôn đặc biệt" của Thiện và Tâm là hai máy radio nho nhỏ, hai dây nghe (earphone) và hai mi cờ rô không dây (micro sans fils) mua ở chợ trời. Thiện và Tâm có thể nói chuyện với nhau như trên teléphone thật  vậy...

Tâm nghe tiếng Thiện thật rõ:

- Nhờ chữ nó viết trên mảnh giấy mình có thể tìm ra bí mật.

Tâm yên lặng một chút rồi nói:

- Mà giấy mình đâu có xem thấy đâu...!

Thiện trở mình, đổi lại thế nằm cho dễ  chịu hơn rồi nói chậm từng tiếng cốt để Tâm nghe rõ:

- Đó là điều quan trọng, Thiện ra lệnh cho Tâm phải thi hành ngay ngày mai. Nghe rõ đây, ngày mai Tâm phải tìm cho ra tấm giấy đó nghe.

Tâm thắc mắc:

- Mà giấy ở đâu mà tìm.

Thiện có vẻ bực tức:

- Cái gì cũng "mà" hết! Phải gạn hỏi thằng Tân thì biết. Không lẽ hai đứa mình đầu hàng vụ nầy sao.

- Chuyện chi đầu nàng, mình phải cố gắng. Nhưng bây giờ phải đi ngủ, Tâm buồn ngủ quá rồi. Good night.

- Good night.

Cuộc điện đàm đã xảy ra trên 2 giường kê cách nhau khá  xa, phòng ngủ vẫn chìm trong yên lặng. Thiện tắt máy radio, gỡ earphone ra khỏi tai và dẹp tất cả qua một bên, nhắm mắt như dỗ dành giấc ngủ, nhưng Thiện không tài nào ngủ được. Những chấm hỏi thật to hiện ra trong óc Thiện bắt Thiện phải suy nghĩ... chập chờn mãi, thao thức mãi rồi Thiện thiếp ngủ trong mệt nhọc...

*

Tâm đi về phía cuối hành lang, chạy nhanh lên cầu thang rồi lại chạy xuống đi thật nhanh về phía lớp học. Gặp một thằng bạn đi ngang Tâm đập vai hỏi:

- Thấy thằng Tân đâu không?

- Hình như nó chơi ping pong ở dưới nhà chơi. Hồi nãy thấy nó ở dưới.

Tâm chạy nhanh như bay xuống cầu thang và đi về phía nhà chơi. À kia rồi! Tân đang so tài với con nhà nghĩa. 
 
Tâm cười xã giao và nói:

- Cho "moi" chơi với!

Nghĩa trả lời:

- Chơi thì chơi!

Nghĩa trao raquette cho Tâm và nói:

- Thôi Tân và Tâm chơi với nhau. Nghĩa đi lên viết mấy lá thư đã.

- Thư hồng, thư xanh hay thư đỏ đó.

- Thư gì kệ người ta, Tâm nhiều chuyện... Con nít không nên tò mò.

Cả ba cùng cười...

Nghĩa đi rồi, Tâm không biết "mở đề" thế nào để hỏi Tân về vấn đề mất tiền. Tâm thắc mắc sao Tâm vẫn tỉnh khô khi mất số tiền khá lớn như vậy. Tiếng banh đồng trên bàn gỗ, tiếng raquette châm banh tất cả như hối thúc Tâm thực hiện cuộc phỏng vấn ngay tức khắc.

- Ê Tân, mầy mới bị mất tiền hả? - Tâm bất thần hỏi Tân.

- Sao mấy biết? Thôi bỏ qua chuyện đó đi. Đỡ nầy... tiên...

Tâm chưa thất vọng vội hỏi thêm:

- "Nó" còn để lại giấy nữa hả? Giấy viết gì vậy? Coi nét chữ là tìm ra thủ phạm.

Tân có vẻ lo ngại một chút rồi lại cười như thách đố:

- Mầy với thằng Thiện thử trổ tài điệp viên lần nữa thử xem. Tìm được tao thưởng cho 6000đ, một nửa đó.

- Mầy còn giữ tấm giấy nớ không?

- Ở cha giám luật nớ.

Tâm đỡ hụt và trái banh rơi xuống vòng đến cuối phòng. Tân cằn nhằn:

- Sao hôm nay mầy chơi dở rứa Tâm. Thôi nghỉ, không chơi với mầy nữa.

Tâm chạy đi lượm banh. Tân mở lưới cuốn lại. Cả hai đều im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng tư.

*

Tâm và Thiện đứng tựa bao lơn đưa mắt nhìn xa xa trong yên lâng như đang suy tính điều gì quan trọng. Bỗng Thiện quay qua nói với Tâm:

- Thôi được, để Thiện lo việc nớ. Còn Tâm để ý thử có ai đáng khả nghi về vụ nầy không...

Rồi Thiện rời bạn đi lên lầu ba... và ngừng lại trước phòng cha giám luật. Thiện hồi hộp gõ vào khung cửa kính ba tiếng cốc cốc cốc.

- Mời vô...

Tim Thiện bắt đầu đập mạnh. Nhưng Thiện lấy lại bình tĩnh ngay và đẩy cửa bước vào.

Thiện chưa kịp nói gì cha giám luật đã hỏi:

- Có việc gì đó Thiện?

- Thưa cha... thưa cha... cho con mượn cuốn văn học sử Việt Nam...

- À! Để Cha vô trong nầy kiếm đã... chờ Cha chút nghe...

Cha Giám luật vào trong. Thiện lợi dụng ngay thời gian ngắn ngủi thuận tiện nầy để tìm tờ giấy... nhưng nó ở đâu? Thiện đảo mắt một vòng thật nhanh rồi dừng lại ở con sư tử bằng đá chăn trên một tờ giấy vở. Thiện nhanh nhẹn lấy tờ giấy liếc sơ qua một lượt rồi mỉm cười nhét vào túi. Bàn giấy của Cha giám luật vẫn như cũ chỉ thiếu mất "1 tờ giấy quan trọng"... Cha giám luật trở lại với cuốn sách trên tay. Thiện đưa hai tay nhận sách, cúi đầu cám ơn và chào Cha để rút lui. Cha giám luật ngồi vào bàn giấy tiếp tục làm việc. Ngài đâu có ngờ vừa rồi có "một điệp viên" vào phòng ngài để ăn cắp một tài liệu...

Tâm đón Thiện ở đầu hành lang lầu hai:

- Được chưa?

- Được là cái chắc.

Thiện vừa nói vừa chỉ vào túi quần.

Cả hai cùng đi ra nóc nhà bếp và ngồi núp sau ống khói để bàn "chuyện quan trọng". 

Thiện thận trong mở tờ giấy ra và hai cái đầu chụm lại. Thiện lên tiếng trước:

- Viết theo kiểu chữ in ri khó mà biết ai viết được. Nó khôn thật.

- Nhất định phải là một thằng trong lớp mình.

- Mực đen...! Lớp mình đứa mô thường viết mực đen...? Hầu hết tụi mình viết mực xanh mà.

- À để bữa nào phát bài để ý xem. Mực pilot đen hả... coi lại kỹ thử...

- Đúng rồi... nét viết pilot... Mực pa-ke đen hơn pilot. Đây là mực pilot.

- Nhưng đâu có gì là dấu hiệu chắc chắn giúp mình điều tra đâu.

Cả hai lại yên lặng... trí óc hoạt động ráo riết... Thiện bỗng đứng dậy nói với Tâm:

- Thôi đi chơi... mai hãy hay. À mai khi phát bài kiểm soát Tâm nhớ để ý xem nghe...

Hai đứa xuống nhà chơi để đánh banh bàn... Thiện  chủ trương khi trí óc sáng suốt mới có thể tìm ra đáp số của một bài toán khó...

Giờ học hôm nay sao dài thế. Thiện cũng như Tâm trông cho hết giờ. Chuông vẫn chưa chịu reo. Thiện nhìn đồng hồ, kim giây vẫn nặng nề quay quanh mặt số. Còn 10 phút nữa... Lời thầy giảng bài chỉ là những âm thanh mơ màng đối với Thiện hiện giờ. Đầu óc Thiện muôn ngàn ý tưởng lộn xộn, trái ngược nhau hiện lên. Thiện đưa mắt quanh lớp mong tìm ra một dấu vết nào về vụ Tân mất cắp 15.000đ, nhưng Thiện lắc đầu chán nản.

Chuông reo... Thiện chạy ngay về phía Tâm hỏi cộc lốc:

- Sao?

- Ra ngoài hãy nói cho nghe.

Hai đứa vội vã ra ngoài. Thiện hối bạn:

- Nói đi!

- Tâm nghi quá...

- Nghi ai?

- Thằng Nghĩa... chỉ có mình nó viết mực đen. Nó lại ngồi kề thằng Tân.

- Có thể... nhưng đừng vội kết luận. Vụ này khá rắc rối...

Hai đứa lại yên lặng... để tìm ra những câu trả lời cho những chấm hỏi thật to trong đầu óc.

Giờ chơi trôi qua thật nhanh, chuông reo vào lớp. Thiện nói vội với Tâm:

- Tôi nghĩ khác với điều Tâm nghĩ. Chiều nay tôi phải xin phép Cha Giám đốc đi phố chụp bóng về làm học bạ và thẻ học sinh nữa mới chết... À Tâm có kính lúp không, sau cơm trưa đem lên sân thượng... cần lắm...

*

Thiện trải tờ giấy ra trên nền xi măng và nhìn qua kính lúp. Những hàng kẻ vở, những chữ viết mực đen và cả những vết bẩn hiện lên thật rõ ràng và lớn hơn thường lệ... Hai cái đầu chụm vào nhau. Thiện bỗng rời tay khỏi tờ giấy, đập mạnh vai Tâm và nói:

- Tâm thấy gì không, sắp thành công rồi.

Nhưng... một cơn gió mạnh thổi qua cuốn tờ giấy bay đi... Thiện chụp lại... nhưng muộn mất rồi...

- Chạy xuống lượm mau - hỏng cả rồi...

Cả hai chạy bán sống bán chết xuống cầu thang.

May thay tờ giấy rớt vào ống máng ở nóc nhà bếp... Tâm nhanh tay nhặt tờ giấy lên... và hỏi Thiện:

- Có gì lạ đâu?

Thiện không trả lời bạn nhưng mỉm cười vu vơ:

- Mới thành công một nửa...

- Có gì lạ nói người ta nghe thử!

- Để từ từ hãy hay...

*

Thiện đứng sát lề đường đưa tay vẫy nhưng chiếc xe đã đầy khách, bác tài lắc đầu chạy luôn... Thiện chợt nhận ra hình như Tân ngồi ở băng trước gần bác tài... Thiện thắc mắc:

- Tân nó đi phố làm gì mà nó có giờ rảnh là nó đi.

Thiện lại nhủ thầm:

- Biết đâu mình nhầm... người hồi nãy không phải là Tân...

Một chiếc xe khác đang "trườn" tới. Thiện vẫy tay. Xe ngừng lại. Thiện bước lên. Xe chạy...

Thiện đang đi bỗng dừng lại... a... ai như Tân... đúng rồi... Tân chớ ai nữa... nó làm chi đứng đó?Mấy thằng đầu tóc bù xù mặc đồ hippy đang đứng với nó là ai thế...? Bạn nó?

Tân và năm thằng con trai khác quay lưng lại với Thiện và đi về phía tiệm cà phê Loan, một tiệm cà phê sang nhất thành phố. Thiện bước nhanh và khoảng cách giữa Thiện với bọn đó thu lại. Thiện có thể nghe được cuộc  đối thoại của họ:

- Bữa ni Tân chơi bảnh quá ta. Thế mới xứng là dân chơi.

Tiếng Tân đáp lại:

- Chớ răng, may hai bộ quần "pát" áo eo kẻng nhất, đóng đôi giày còn lại năm ngàn khao tụi bây một bữa... Mục thứ nhất là cà phê... Ghét ông già ghê ít khi cho tiền tiêu, tao phải tự kiếm...

- Mầy nhập hội tụi tao nhé... phải để tóc để râu cho có vẻ dân chơi chút...

- Tại vì tao ở nội trú mắc mấy ông Cha ông thầy ủ lậu dễ ghét.

- Sao mầy không ra ngoài học, phè phỡn hơn không?

- Ông già tao không chịu...

Thiện lấy làm lạ sao Tân mới mất 15.000đ mà vẫn còn tiền ăn chơi dữ vậy. Rồi Thiện lại tự nhủ:

- Chắc nhà nó giàu... mình cứ hay nghĩ bậy...

Dầu vậy Thiện không khỏi nghi ngờ thắc mắc về vụ Tân mất 15.000 đ... Ai lấy được khi tủ khóa...? Mất 15.000đ sao Tân tỉnh khô vậy...? Hay... Thiện không dám nghĩ tiếp. Sợ rằng mình nghi oan cho bạn. Thiện  nói một mình:

- Đừng nên đi đến kết luận nếu chưa có những bằng chứng chắc chắn. Để chiều về coi lại tờ giấy...

Thiện vừa đi vừa suy nghĩ lung tung suýt nữa bị xe đụng...

*

Hai cái đầu chụm vào nhau, Thiện bỗng ngẩng lên:

- Chừ thấy cái chi lạ chưa - Đây nè... bài tập Pháp văn viết tờ trên in dấu xuống tờ nầy, thấy chưa. Chỗ nầy giáo sư gạch. Ngoài lề có điểm 5/20 đây nè thấy chưa. Thành công rồi...

- Mà làm sao biết chữ của ai đó?

- Cái gì cũng nhưng với mà!

- Xuống nhà lớp mượn vở bài tập Pháp văn của thằng Nghĩa lên đây... Mau đi Tâm!

Tâm đứng dậy đi ngay. Sau vài phút Tâm trở lại với một cuốn vở trên tay... Thiện bảo Tâm:

- Đếm vở thử được mấy tờ.

Tâm không hiểu cũng cứ làm theo lời Thiện. Một phút qua nhanh, Tâm nói:

- Đủ cả 100 trang!

Nụ cười thành công trên môi Thiện chợt tắt. Trán Thiện nhăn lại... Một  hồi lâu sau đó, nét mặt Thiện bỗng tươi hẳn lên và hét lên:

- Đáp số có rồi. Xuống lấy vở bài tập Pháp văn của thằng Tân lên đây. Nó đi phố chưa về đâu. Xuống tủ nó lấy càn lên đây.

Tâm chạy xuống cầu thang rồi trở lên thật nhanh.

Thiện mở từng bài tập ra so sánh...

- À đây rồi - Thiện ngừng lại ở trang có viết chữ cuối cùng và la lên - Chính xác quá rồi. 5 điểm trên 20 đây. Je n'ai pas de l'argent đây. Chỗ giáo sư gạch đây... Thành công rồi...

Tâm lấy làm ngạc nhiên không hiểu nên hỏi:

- Ai là thủ phạm?

- Thằng Tân chớ ai.

- Sao thằng Tân, điên hả?

- Bình tĩnh nói cho nghe. Sự thật thằng Tân không có mất tiền, nó chỉ giả vờ làm thế, phao tin mất tiền để lấy tiền học phí đi tiêu xài. Mình không ngờ...

- À thế mà Tâm ngu quá... Chừ  mình phải làm gì đây... Cứ để vậy thêm gây nghi ngờ nhau. Phải trình cho Cha giám đốc biết vụ nầy.

- Lẽ dĩ nhiên rồi. Mình giữ cuốn vở nầy và tờ giấy làm bằng chứng... Nó điên thật, mượn viết mực đen của thằng Nghĩa viết giấy nầy để đánh lạc hướng điều tra. À mà nầy, mình cũng nên thú tội với Cha giám luật đã đánh cắp tấm giấy nầy.

- Mình có công chuộc tội rồi sợ gì.

- À nầy, việc vô trình Cha giám đốc tờ giao cho cậu đó nghe...

Tâm ngần ngừ rồi nói:

- Thôi đi vô cả hai đi... Có Thiện trình bày đầu đuôi ngài mới rõ được. Vụ nầy Tâm đâu giúp Thiện được gì đâu.

- Sao không... Thôi đi cả hai...

*

Cha giám đốc kêu Tân vô gạn hỏi, ban đầu Tân chối nhưng sau Tân đã thú hết tội.


THIỆN MỸ GIANG      

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 188, ra ngày 1-11-1972)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>