Thứ Ba, 14 tháng 5, 2024

Gần Mực Thì Đen Gần Đèn Thì Rạng


 
  (Phỏng dịch theo truyện "The boy that nobody wanted" 
của Gwendolen L. Sherman đăng trong tạp chí Reader's Digest).
 
Khi Ban Đôn lên 5 tuổi, một hôm nó lượm được một bao quẹt, tinh nghịch nó quẹt lửa châm vào áo một con bạn gái khiến con bé bị phỏng nặng rồi chết.

Vài năm sau, nó lại nhặt được một khẩu súng lục trên bàn, nó cầm ra vườn hoa cạnh nhà, gặp một thằng bạn học cùng lớp mà bố thằng nhỏ là chủ nhiệm một tờ báo lớn của tỉnh nó ở. Khi thằng bạn cố giành khẩu súng khỏi tay Ban Đôn để xem thì khẩu súng cướp cò, viên đạn trúng bụng thằng bé khiến nó chết ngay lập tức.

Lần đầu, khi tôi, (lời nữ tác giả) gặp thằng Ban Đôn, lúc đó nó sống chung với gia đình, nhưng không được dậy dỗ cẩn thận, bố nó là một tay chuyên sống về cờ bạc, mẹ nó thì đã chết nên mọi người chung quanh đều cho rằng thằng bé rồi sau sẽ trở nên hư hỏng vì nó đã giết chết hai mạng người khi chưa đầy 8 tuổi.
 
Cha thằng Ban Đôn phải ngồi tù vì con dại cái mang, còn thằng bé được đưa ra Tòa Án Thiếu Nhi để quyết định tình trạng của nó, thời gian nầy tôi đang làm việc tại đây.

Bác sĩ sau khi khám bệnh nó bảo rằng nó ở tình trạng bình thường, có thể theo đuổi việc học được, trông nó thông minh lanh lẹ hơn những đứa trẻ khác cùng lứa tuổi.

Tôi nghĩ rằng giá có một gia đình nào chịu nhận nuôi và dậy dỗ Ban Đôn tử tế thì nó có thể trở nên một đứa bé khá được, nhưng chắc chắn rằng không ai muốn rước một thằng bé mà chưa đầy 8 tuổi đã giết chết hai mạng người, nghĩ vậy tôi đã toan nói với Tòa Án Thiếu Nhi là không có hy vọng gia đình nào chịu nuôi Ban Đôn, bỗng tôi sực nhớ đến gia đình chị Huy Lợi, một bạn thân của tôi. Cách đây hai năm, chị Huy Lợi có đến nhờ tôi để xin một đứa bé làm con nuôi. Vợ chồng chị là một trại chủ, yêu mến trẻ con vì không có con, nhưng chị không được thỏa mãn vì cả hai anh chị đều 45 tuổi, theo luật định thì Tòa Án Thiếu Nhi không được cho một người nào quá 40 tuổi nhận con nuôi. Do đó chắc chắn là anh chị Huy Lợi rất vui lòng nhận thằng Ban Đôn và tôi quyết định giao nó cho anh chị Huy Lợi nuôi.

Tôi hồi hộp khi lái xe vào trong sân trại của chị Huy Lợi, tôi nhẩm cầu nguyện cho công việc của tôi thành công. Lúc này vào tháng 7, đang vụ mùa nên tất cả gia nhân đều đang làm việc ngoài đồng. Trại của chị Huy Lợi với ngôi nhà lớn, cây mọc bao quanh, một bãi cỏ trước nhà và một chuồng bò, chắc là sẽ hợp với thằng Ban Đôn. Anh chị Huy Lợi vui vẻ đón tiếp tôi: "Chào chị Mỹ Lan, chị mạnh giỏi chớ, mời chị vào chơi trong nhà, dùng tạm trà đá và ăn trưa với chúng tôi" chị Huy Lợi vồn vã mời. Chúng tôi bước vào trong nhà, ngồi xuống quanh chiếc bàn ăn kê giữa nhà, anh chị Huy Lợi ngắm nhìn thằng Ban Đôn háu đói đang nhai ngồm ngoàm. Tôi nói với họ thằng Ban Đôn là đứa trẻ thành thị, nếu anh chị có gia súc chắc là nó thích xem lắm.

"Anh hãy dắt thằng bé ra chuồng bò xem bò" chị Huy Lợi nói với chồng như vậy.

Khi chỉ còn mình tôi với chị, chị hỏi tôi: "Có phải nó là thằng Ban Đôn không? Tôi đã thấy hình nó đăng trên báo, và nó đã làm một việc khủng khiếp phải không?" Tôi nói với chị lý do tôi tới thăm và tôi tin chắc rằng, sau vài tháng người ta sẽ quên dần việc làm của thằng bé, nó là một thằng bé bình thường, thông minh và sẽ trở nên một đứa bé ngoan như những đứa trẻ khác nếu như được dậy dỗ cẩn thận và nhất là có được tình yêu thương của một người mẹ. Nghe xong, chị nói: "Chị hãy ngồi chơi đây chờ tôi một tí để tôi chạy đi hỏi ý kiến nhà tôi đã".

Thấm thoát thằng Ban Đôn đã ở với anh chị Huy Lợi được 10 năm, 5 năm đầu thì hơi nhiều rắc rối, bố thằng bé bị chết vì khẩu súng của thằng Ban Đôn khi biết tin hiện nó đang sống với anh chị Huy Lợi, vì vẫn còn thù ghét thằng bé đã giết hại con và vì sẵn có tờ báo trong tay nên ông ta viết những bài báo nói xấu thằng bé. Chị Huy Lợi liền tự lái xe đến gặp ông ta, tôi không biết rõ chị nói với ông ta ra sao, nhưng từ sau buổi gặp gỡ đó thì không có sự gì xẩy ra nữa và Ban Đôn vẫn ở với anh chị Huy Lợi. Lúc đầu thì những người hàng xóm không cho con cái họ sang chơi với thằng Ban Đôn, sau anh chị Huy Lợi phải dắt thằng bé đến từng nhà chơi, rồi dần dần họ hiểu thằng Ban Đôn không phải là một đứa bé hư hỏng như họ tưởng nên họ bắt đầu mời thằng bé đến chơi.

Trong thời gian này tôi thường đến thăm vợ chồng Huy Lợi đều đặn và thấy thằng bé thay đổi hẳn, từ một đứa bé lúc nào cũng sợ sệt vì mặc cảm tội lỗi đã trở nên vui vẻ. Ở trường họ nó là một đứa trẻ xuất sắc nhất lớp và đậu bằng Trung học với hạng ưu.

Khi Ban Đôn 19 tuổi, cha nó xin với Tòa Án Thiếu Nhi cho nó trở về chung sống, nhưng Tòa quyết định là việc đó tùy ý thằng Ban Đôn. Sau khi mãn hạn tù, cha nó nhờ buôn may bán đắt nên trở nên giầu có, ông ta đã mua được một nhà hàng ăn lớn và lại cưới vợ lần nữa. Một năm hai lần ông đến thăm thằng Ban Đôn và thường viết thư cùng gửi cho nó những món quà đắt tiền. Lúc này thằng Ban Đôn đã trưởng thành và nhập ngũ. Trong thời gian ở quân ngũ, hằng tháng nó vẫn gửi tiền đều đặn về cho chị Huy Lợi. Trước khi được giải ngũ vào năm 1945, nó đã được ban thưởng 4 huy chương.

Một buổi sáng, chị Huy lợi điện thoại mời tôi đến ăn cơm, chị còn cho biết thêm rằng có cả cha thằng Ban Đôn cũng đến nữa.

Cha nó đến thăm anh chị Huy Lợi bằng 1 chiếc xe hơi lộng lẫy mà ông ta dự tính cho thằng Ban Đôn. Bây giờ thì ông ta đã tậu thêm được 2 nhà hàng ăn nữa và định dẫn dắt thằng bé theo nghề của ông.

Ban Đôn đã 22 tuổi, nó sẽ tự quyết định là sẽ ở lại với anh chị Huy Lợi hay là trở về sống chung với cha nó, tôi ngắm nó suốt 1 tiếng đồng hồ để cố tìm hiểu quyết định của nó. Nó yêu anh chị Huy Lợi lắm nhưng hình như nó có vẻ vui vẻ khi được gặp bố. Trước bữa ăn nó đi ra ngoài 1 lát, khi trở lại tôi thấy đôi mắt nó có vẻ tư lự: "Con không thấy có những con bò ở ngoài chuồng?" nó hỏi, "và ở đó cũng không còn dụng cụ nữa?"

Chị Huy Lợi đáp: "Chúng ta đã bán cả bò và dụng cụ rồi, và chúng ta dự tính sẽ bán luôn cả nông trại nữa, và..."

- "Tại sao vậy mẹ?" Ban Đôn hỏi ngắt lời chị Huy Lợi, rồi nó chợt nhận ra bố mẹ nuôi nó trong lúc này đã già và lưng đã còng vì làm việc vất vả.

"Nhưng bố mẹ đã quen sống ở đây rồi, bố mẹ chắc không thích khi phải sống ở thành thị. Con..." nó ngừng lại và nhìn bố đẻ nó ngồi ở đầu bàn, rồi nói tiếp: "Con nghĩ như vậy, và..." nó lại ngập ngừng và nhìn bố nó một lần nữa "và... con muốn ở lại đây với bố mẹ nuôi của con, con sẽ vay tiền để sắm dụng cụ mới, con luôn luôn thích sống ở đây hơn".

Nghe xong quyết định của nó, bố nó mỉm cười nói: "Ban Đôn con, ta hiểu rõ tình cảm sâu đậm của con đối với ông bà Huy Lợi, bố mẹ nuôi của con. Ta sẽ cho con mượn tiền để mua bất cứ thứ gì con cần". Chị Huy Lợi đứng dậy, ngảnh mặt đi để giấu hai hàng nước mắt đang lăn trên gò má vì cảm động. "Con không cần phải mượn tiền" chị nói, "Ta hãy còn giữ tất cả số tiền hàng tháng con gửi về trong thời gian con còn trong quân đội. Ta giữ để dành cho con, con yêu quý!"


VĂN VIỆT     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 38, ra ngày 14-5-1972)

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

Như Nước Trong Nguồn

  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mười mấy năm mẹ nuôi con ăn học
Gót chân mài mòn đá sỏi đường quê
Ngày tần tảo gió sương pha nhuộm tóc
Áo bạc màu tay nhuộm nắng buổi trưa.
 
Ngày tháng hạ những đồng khô cỏ cháy
Mẹ đan gầu múc nước tận ao sâu
Tưới luống rau con kịp thời đúng lứa
Góp nhặt từng đồng lo chuyện ngày sau.

Từng buổi cánh đồng mùa trơ gốc rạ
Mẹ một mình với nón rách tả tơi
Kiên nhẫn góp lần lần bông lúa đổ
Áo vải thô ướt đẫm những mồ hôi.

Những mùa gặt tháng ba tháng tám
Mùa đồng nai nắng lửa mưa dầu
Mẹ băng qua từng đồng sâu đồng cạn
Quên thân mình lo no ấm cho con.
 
Những ngày tháng mười mưa dầm nước lũ
Mẹ một mình lặn lội ao xa
Xúc từng mớ chà, rinh đem đổi gạo
Về mẹ con sống đỡ với ngày qua.
 
Bây giờ lớn lên mẹ ngày già yếu
Con làm gì cho mẹ được vui đây
Mẹ con phải những đêm dài suy nghĩ
Tóc mẹ bạc phơ tay đã yếu vai gầy.
 
                                                Xuân Dung
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 83, ra ngày 1-4-1973)
 

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2024

Vần Thơ Cho Mẹ

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 Kính gởi mẹ của con

Gió chiều nay lạnh ghê mẹ nhỉ?
Con đứng trong nhà cũng thấy run
Gió quyện vào cây nghe xào xạc,
Nghĩ đến mẹ con chợt thấy buồn.
 
Giờ này chắc mẹ đang dãi gió,
Kiếm gạo về nuôi nấng lũ con.
Tuổi mẹ già mà sao chồng chất?
Những tháng ngày khổ cực nuôi con.
 
Lòng mẹ chứa đầy những ước mong,
Cho con hết những gì mẹ có,
Cả tình thương lẫn những gai chông
Là cả biển trời ôi thăm thẳm! 
 
Không ngòi bút nào nói hết được,
Tình mẹ cho con thật sáng ngời
Chỉ mong sao cho con ngoan lớn,
Dù mẹ hy sinh cả cuộc đời.
 
Gió vẫn thổi ngoài trời vi vút,
Con xin dâng mẹ một bài thơ,
Dù lời của con sơ sài quá,
Nhưng thật lòng con đấy mẹ ơi!
 
                                    PHẠM UYÊN NHI
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 197, ra ngày 15-3-1973)

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2024

Lòng Mẹ

 

Cặp mắt Tân như dán chặt vào con bướm vàng sặc sỡ đang đậu trên chậu hoa vạn thọ đỏ. Cánh tay nó đang di động từ từ về phía con bướm. Các ngón tay nó cung tròn lại, chỉ còn một khoảng ngắn thì con bướm vụt bay lên. Tân hậm hực đưa mắt nhìn theo con vật. Con bướm bay lên cao lượn vài vòng, rồi như mỏi cánh nó là là hạ xuống một chậu hoa cúc. Tân nhẹ bước lại chỗ chậu cúc đó ; và cũng như lần trước nó bắt hụt, con bướm lại bay lên. Lần nầy con bướm không hạ xuống một chậu hoa nào trong sân mà lại bay thẳng ra ngoài vườn đậu trên một nhánh cam cao. Tân ngần ngừ vì ngoài vườn trời nắng quá và con bướm đậu trên cành cây hơi cao so với nó. Nó tiếc rẻ và định quay vào nhà nhưng con bướm đã bay xuống đậu trên một cành cam thấp hơn.

- Đẹp thật. Giá mình bắt được bó ép vào sách thì thích biết mấy - Tân nói một mình.

Trời vẫn nắng. Trên nhánh cam con bướm như muốn thách đố Tân, cặp cánh vàng lấm tấm những chấm đen đã đập lại càng nhanh hơn nữa. Chẳng kể trời nắng Tân chạy vụt ra vườn đuổi theo con bướm. Còn cách con bướm độ ba thước, Tân dừng lại. Nó nhẹ bước thêm vài bước nữa. Rồi như một tên trộm, nó đứng thẳng người im lặng, không dám thở mạnh, mím chặt môi và đưa thẳng tay chực bắt con vật. Bỗng có tiếng động mạnh ở sau lưng nó khiến con bướm vụt bay đi chỗ khác. Nó tức tối quay lại. Người gây ra tiếng động chẳng ai xa lạ chính là mẹ nó.

Mẹ nó âu yếm nhìn nó và bảo:

- Tân vào nhà chơi con, bắt nó làm gì. Trời nắng thế này coi chừng bị cảm đấy.

Tân nũng nịu:

- Tại mẹ đấy, không thì con bắt được nó rồi. Thằng Liêm bên nhà mình có một con bướm ép đẹp ghê, con cũng bắt con bướm này để ép như nó.

Nói xong Tân vội đuổi theo con bướm. Con bướm vẫn nhởn nhơ trong vườn chứ chưa bay đi chỗ khác. Mải mê theo con bướm, Tân chẳng để ý gì trời nắng và cũng quên luôn lời mẹ dặn khi nãy.

*

Tân sốt cả đêm nay, từ lúc đi học về nó cảm thấy ớn lạnh, cơn sốt mới bắt đầu từ lúc tám giờ tối.

Trên chiếc giường sơn đỏ, Tân đang nằm ngủ, trùm chăn kín chỉ chừa hở cái đầu. Bên cạnh, thím Ba, mẹ Tân, đang ngồi phe phẩy quạt cho con ngủ. Những nỗi băn khoăn lo sợ hiện rõ trên khuôn mặt thím. Thỉnh thoảng, thím lại đưa tay áp vào trán con xem chừng đã bớt nóng chưa ; hoặc lấy tay đuổi một vài con muỗi đang đậu trên mình con. Thím đưa mắt nhìn lên trên bàn, chiếc đồng hồ dạ quang đã chỉ đúng 4 gờ sáng rồi. Thím thôi quạt và đưa tay lên áp vào má con một lần nữa, rồi sờ chân, sờ tay thằng bé thấy vẫn còn nóng thím lắc đầu thở dài. Thím uể oải đứng dậy, lấy cây chổi quét dồn những miếng vỏ cam, hộp và toa thuốc quăng bừa bãi dưới đất. Xong, thím lại vặn tỏ thêm ngọn đèn dầu đặt trên cái ghế nhỏ cạnh giường. Quá mệt mỏi - vì thím đã thức trọn đêm canh chừng cho con - thím nằm xuống bên con và thiếp đi lúc nào không biết.

*

Trời sáng hẳn. Tân cựa mình, cơn sốt đã hạ, nó ú ớ mô5t lúc rồi dụi mắt ngồi dậy. Nó thấy mẹ nó đang ngồi một bên quạt cho nó, cặp mắt mẹ nó có lẽ vì thức khuya nên hơi lõm xuống và có quầng đen chung quanh. Mẹ nó trìu mến nhìn nó và bảo:

- Nằm xuống nghỉ đi con, đừng dậy. Mẹ đã nhờ thằng Liêm đem hộ giấy xin phép vắng mặt của con lên cô giáo rồi.

Tân yên lòng nằm trở xuống, và sực nhớ đến thằng Liêm, đến con bướm ép của nó, đến con bướm vàng trưa hôm qua. Rồi bao nhiêu sự gỉ xảy ra từ trưa hôm qua đến bây giờ đều lần lượt hiện ra trong óc nó từng hình ảnh một: Từ lúc nó đuổi bắt con bướm ở trong sân đến lúc ra vườn, mẹ nó ra bảo vào nhà chơi, cãi lời mẹ, nó đuổi theo con bướm. Đến chiều đi học, vào giờ Luận nó bị thầy phạt vì làm chưa xong bài. Từ trước đến nay, nó vẫn là người khá Luận nhất lớp. Bài Luận hôm nay so với những hôm trước có lẽ dễ hơn. Nhưng vì mải lo bắt bướm nên nó quên làm bài Luận nầy. Đến khi bướm bay mất, vào làm mới được nửa bài thì đến giờ nó phải đi học. Bây giờ hình dung lại những cặp mắt đầy vẻ chế nhạo nhìn nó khi nó bị thầy phạt, nó cảm thấy xấu hổ lắm.

Khi đi học về, không dám nói lại việc ấy với mẹ, nó bỏ vào phòng nằm. Đến tối, cơn sốt nổi lên, vì sợ mẹ la nó nằm im nhắm mắt giả ngủ. Nhưng không như nó tưởng, mẹ nó chẳng những không trách mắng gì nó mà còn ân cần đưa thuốc cho nó uống và lo đi nấu cháo cho nó. Ăn xong, mẹ nó đỡ nó nằm xuống giường ngủ. Đến khuya thức dậy, nó hé mắt ra nhìn thấy mẹ nó vẫn còn ngồi bên cạnh quạt cho nó ngủ. Gương mặt mẹ nó lúc đó hiền dịu làm sao. Bây giờ nhớ đến đó, nó lại quay sang nhìn mẹ nó, vẫn gương mặt hiền từ, thêm một chút vui mừng tươi tắn hơn hơn trước, nó cảm thấy xấu hổ ăn năn vì không nghe lời mẹ bảo nên bị thầy phạt và đã làm cho mẹ buồn. Sự hối hận càng thấm thía len lỏi trong lòng nó bao nhiêu, nó càng nhận thấy rõ được lòng mẹ thương mình bấy nhiêu.

Từ máy ra-dô của nhà bên cạnh vang ra một giọng hát trầm trầm:

Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào
Tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào.
.    .    .    .    .    .    .    .    .    .
Thương con, thao thức bao đêm trường, con đã yên giấc, mẹ hiền vui sướng biết bao...

Tân liên tưởng đến bài học thuộc lòng mà nó đã học:

Công cha như núi Thái Sơn.
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thò mẹ kính cha.
Cho tròn chữ hiếu, mới là đạo con.

Lúc nầy Tân mới thấy mình thương mẹ hơn lúc nào hết. Rồi với một giọng khôi hài nó khẽ hát:

Lòng mẹ bao la hơn biển Thái Bình rạt rào...

Thím Ba nhìn con mỉm cười.

Trong ánh mắt, nụ cười của thím chứa trọn một niềm thương con vô bờ bến.


T N. Phạm Phú Hải      

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 27, ra ngày 25-4-1965)

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2024

Chó Con

 

 - Chó con ơi, làm toán xong chưa?

Đang cắm cúi làm bài ở bàn học, nghe Ba hỏi, Bé giật mình ngẩng đầu:

- Dạ, chỉ còn một bài nữa thôi Ba ạ!

Chữ "ạ" của Bé kéo dài, hờn dỗi. Nào có ai hiểu cho nỗi khổ tâm của Bé đâu. Năm nay Bé đã chín tuổi rồi chứ bộ, ai cũng tưởng Bé còn bé bỏng nên coi Bé không hơn một con sứa. Ừ, mà Bé có thêm bớt gì đâu nào, cả gia đình Bé, lần nào cũng như lần nào, nhắc đến Bé là chỉ "chó con" với "chó con", còn tiếng Bé Điệp xinh xinh dễ yêu ngày xưa đâu rồi nhỉ? Hay là bị tiếng "chó con" xua đuổi nên nó giận Bé mà tạm biệt rồi chăng? Bé chả còn biết, chả còn hiểu gì cả. Đầu óc cứ rối bong lên, thế nầy thì làm sao Bé làm toán?

Bé chợt nhớ những lần Me đi chợ về, thì y như là:

- Chó con ơi, ra đây Me cho cái nầy này!

Buổi trưa ăn cơm, rủi Bé đổ vãi cơm ra bàn, Ba Bé mắng:

- Đồ chó con!

Và mỗi khi đi ngủ:

- Cho Ba Me hôn rồi ngủ, chó con!

"Chó con!", "Chó con!" Chao ơi! Hai âm thanh chát chúa bên tai, không gây với Bé một tí ti cảm tình nào. Mà trái lại, Bé còn ghét nó là đàng khác. Bé tưởng tượng mình giống như con chó "Phóc" bé xíu của con Ty nhà bên cạnh, lông đen xì, lốm đốm trắng. Mỗi lúc Bé qua nhà Ty chơi, nó ve vẩy cái đuôi ngắn ngủn, sủa gâu gâu đến phát ghét. Ừ, có lẽ Bé dễ ghét lắm nên Ba Me mới kêu như thế, chả bằng với chị Dung của Bé, nào là:

- Dung ơi! Ra giúp Me gọt khoai này!

- À! Dung, nhúm hộ bếp lửa cho Me đi con!

Sao mà âu yếm ghê không? Tự nhiên nước mắt Bé trào ra hâm hấp nóng trên má. Bé cảm thấy tủi thân ghê gớm...
 
*

Bé ôm con chó "Phóc" của Ty vừa cho chạy tuốt vô phòng. Chả là nhà nó có đến 2, 3 con chó nên muốn cho Bé bớt, thế thôi. Có tiếng Me sau bếp:

- Chó con ơi, rửa tay ra ăn cơm con, chiều tối rồi.

Bé vội vàng dạ to, kẻo Me vô phòng khám phá ra con chó thì lộ bí mật của Bé hết còn gì! Bé giấu kỹ con chó trong một xó phòng, được cái tủ che khuất. Thế là xong. Bé thở phào đi ra...

Tối hôm ấy, Bé ăn cơm thật nhanh vì chợt nghe tiếng rên ư ử của con chó ở trong phòng. Đầu óc Bé không ngừng làm việc: Bé khớp mõm nó bằng sợi dây da của con Ty cho rồi mà. À! Chắc nó đói. Bé hiểu ra rồi nên buông đũa tuột xuống ghế. Me lo lắng:

- Sao ăn cơm ít thế, chó con?

Ôi chao, chữ "Chó con" làm Bé xấu hổ. Hình như Me chỉ nói chuyện với con chó trong phòng Bé chứ không phải nói với Bé. Bé quay ngoắt mặt:

- Con no.

Rồi một diệu kế lóe trong óc, Bé giả vờ:

- Con nhức đầu quá Me ạ. Một hồi cho con uống thuốc nghe Me!

Bé rửa mặt, vô phòng nằm. Con chó vẫn còn rên rỉ. Bé không biết làm sao vì nó chưa quen Bé, rủi đụng tới, nó cắn Bé còn gì...

Ngoài cửa sổ, trời đã tối hẳn. Đêm nay, Bé không còn kêu mấy vì sao kể chuyện cho Bé nghe nữa vì Bé bận ghê lắm. Có tiếng dép kéo lê trên nền gạch tiến đến cửa phòng. Chết cha! Đúng là Me rồi. Đã đến lúc hành động. Bé ôm con chó để lên giường, cạnh cái gối ôm. Bé xổ mền ra, đậy kín cái gối lẫn con chó, rồi lăn nhanh xuống gầm giường, giương mắt chờ đợi...

Có tiếng Me:

- Chó con ơi, Me cho uống thuốc nầy. Ủa, rên hả, chắc chó con sốt rồi đấy!

Me bước lại gần giường, Bé hồi hộp, tim đập thình thình. Tiếng Me hoảng hốt, chới với:

- Trời ơi, con chó.

Có tiếng chân chạy vào, rồi giọng Ba:

- Còn chó con đâu? Bé Điệp ơi, Bé Điệp!

Nghe Ba kêu bằng tên Bé, Bé thương quá, chạy a ra, ôm lấy Ba, mắt rươm rướm lệ. Ba ôm Bé vào lòng, thương yêu:

- Sao con chơi kỳ vậy hả Bé?

Bé rúc đầu vào lòng Ba ngập ngừng:

- Tại Ba Me cứ kêu con bằng "chó con" hoài, kỳ ghê!

Tiếng chị Dung:

- Rồi Bé cho Ba Me gặp chó con thật phải không?

Me thở dài:

- Vậy mà Bé không nói, Ba Me đâu biết. Bé biết không, sở dĩ Ba Me kêu Bé như vậy là vì thấy Bé dễ thương như con chó be bé nhồi bông lông trắng trong tủ kiếng ấy, chớ nào ghét bỏ Bé đâu.

Rồi Me hôn trên tóc Bé:

- Con gái út của Me, Me không cưng thì cưng ai nữa hả Bé? À, mà Bé có nhức đầu thật không?

Bé xấu hổ:

- Ơ... ơ, con đâu có nhức đầu.

Rồi Bé chỉ vào giường:

- Chỉ có "chó con" nằm trên giường nhức đầu vì đói bụng ấy. Để con lấy cơm cho nó ăn nha Me!

Cả nhà cười ồ. Bé chạy nhanh ra sau bếp. Nỗi giận hờn đã bỏ Bé đi tự lúc nào.


LINH HƯƠNG        

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 90, ra ngày 1-5-1968)


Thứ Ba, 7 tháng 5, 2024

Tình Bạn

 

 Thư của em X. Gia Định:

... Em với Y là bạn thân, gần đây em được bầu làm trưởng lớp. Từ đó, Y ít nói chuyện với em vì mặc cảm thua kém. Sau đó, em có chuyện xích mích nhỏ với Y. Y có vẻ giận, nhưng vẫn nói chuyện vui vẻ.

Giờ ra chơi hôm thứ ba vừa qua, em và Y giỡn với nhau. Y lấy giẻ lau bảng in vào mặt em. Em nổi giận tát lại. Y nhìn em nói:

- Tao giỡn một chút mà mày làm vậy đó hả.

Em sừng sộ:

- Mày giỡn! Giỡn kiểu gì kỳ cục vậy?

Y bỏ đi và viết thư cho em rằng yêu cầu em từ nay gặp mặt đừng cười đừng hỏi. Nếu 1 trong 2 đứa sai lời sẽ chết vì bom đạn. Cuối thư Y buông gọn: cám ơn mày trước.

Chị ơi! Em biết làm sao để hàn gắn lại tình bạn giữa em và Y bây giờ. Em rất thông cảm và thương Y...

Trả lời:

Thư em khiến chị thật cảm động. Vào thời buổi này, cái tình bạn trong sáng của em thật đáng làm gương cho biết bao người. Tình bạn luôn luôn cao quí. Bạn cũ như rượu lâu năm, người xưa đã nói thế, vì bạn càng chơi với nhau lâu càng hiểu nhau và cảm thông nhau. Trong truyện cổ nước ta, đã có biết bao gương  về tình bạn mà chị chắc em đã đọc.

Chị biết em rất thương Y, đang đang rất bối  rối thấy tình bạn sứt mẻ cho nên chị phải trả lời gấp để an ủi em phần nào.

Trước hết, chị thấy em có 1 phần lỗi. Hai em đã thương nhau như vậy tất nhiên là bạn rất thân rồi. Vậy sao từ khi được bầu làm trưởng lớp thì bạn bắt đầu xa cách vì mặc cảm. Chơi thân với bạn mà còn để bạn bị mặc cảm là ta vụng xử rồi đó em. Đáng lẽ sự em làm trưởng lớp mà vui thì bạn em cũng phải cùng chung niềm vui đó cơ chứ. Chị e rằng em có 1 vài hành động vô tình nhưng bạn suy diễn thêm ra rồi thành mặc cảm chăng. Em cũng nên thông cảm vì luôn luôn người ở vị trí kém cũng dễ tủi thân, nếu không có một tâm hồn thật khoáng đạt.

Y giỡn em như vậy có lẽ cũng hơi quá, nhưng em trả đũa thì nặng em ạ. Em tội nghiệp Y là phải lắm, Vào hoàn cảnh ấy, Y đã rất đau lòng mà viết lá thư đó, em à. Đấy cũng là một phản ứng tiêu cực mà thôi. Bây giờ chị đề nghị thế này. Nếu em vì thương Y mà buồn khổ như vậy thì chắc Y cũng đang buồn khổ không kém em đâu. Em viết mấy chữ xin lỗi Y đi (có nhiều khi mình phải, mà vị tình vẫn cứ nên xin lỗi). Chị tin rằng Y sẽ ôm lấy em mà khóc, và 2 em sẽ hết giận nhau. Còn về vụ thề thốt thì em đừng lo. Thuở nay mỗi ngày có vài trăm ngàn người thề khắp nơi mà chẳng ai làm sao đâu. Nếu tin rằng có thần thánh để bắt những người thề phải lãnh hậu quả thì cũng phải tin số mạng, nếu số chưa chết mà chỉ vì giận nhau thề bậy mà chết được thì có khác gì người đời xử tử một người chỉ mắc có cái tội chạy xe sai luật đi đường hay sao. Vả lại, "tâm động quỉ thần tri" lòng em yêu thương bạn như thế thì quỉ thần cũng phải ủng hộ, sao lại phạt các em được.

Chị ước mong hai em đã hết giận nhau rồi. Còn nếu chư hết giận thì chị thiết tha mong Y đọc bài này, nghĩ tới tình bạn và nỗi buồn của X mà hết giận X, và hai em lại thân nhau như xưa, hơn xưa.

Cuối cùng, chị xin lỗi đã đổi cả tên hai em vì chị sợ rủi chị vụng về lại làm Y giận X thêm thì chị sẽ ân hận xiết bao.


Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH    

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 37, ra ngày 7-5-1972)
 

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2024

Vì Sao Xưa

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thuở nhỏ con ngồi bên cạnh mẹ
Những tối nhìn sao bám đầy trời
Con nắm tay mẹ tìm hơi ấm
Nghe lạnh bàn tay, chắc sương rơi!

Mẹ trỏ biển trời khẽ bảo con:
- Một vì sao đó, một linh hồn
Mẹ ngôi sao lớn, con ngôi nhỏ
Nằm cạnh bên nhau trọn cuộc đời

Thấy mảnh sao to chừng sắp tắt
Mẹ buồn: - mẹ sợ phận đời me
Một ngày nào đó băng đi mất
Bỏ ngôi sao nhỏ ai chở che? -

Con nào có hiểu lời mẹ nói
Nên cười lỏn lẻn bảo cùng me:
- Mai sau nếu đúng như lời mẹ
Thì ngôi sao nhỏ có trời che.

Mười mấy năm qua giờ con lớn
Ngước mắt mong tìm ngôi sao xưa
Sao còn nhưng sáng mong manh quá
Sắp lịm trong bầu trời chuyển mưa...

                                            HOA CỎ MAY
                                           (V.N. Hoa Thế kỷ)
 
 (Trích từ tạp chí Tuổi Hoa Xuân Kỷ Dậu, 1969)
 

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2024

Con Chim Chết

Bé thương con chim chết trong lồng. Nó nằm bất động, một chân giơ lên trời, một chân co quắp. Bé khẽ nâng chiếc cửa lồng, nâng xác con chim để trong lòng tay. Chim chết thật rồi. Người nó cứng đơ và giá lạnh, bộ lông vàng óng mượt của nó xù lên, cặp mắt tròn bé tí đen long lanh hôm nào đã nhắm lại vĩnh viễn rồi. Bé nhìn quả chuối chim mới ăn hết non nửa, cốc gạo còn đầy, hũ nước trong vắt mà rưng rưng... Bé khóc!...

Con chim nầy là con chim của anh Hoài Thu tặng bé. Anh Thu đi đâu rồi, Bé có biết đâu! Anh đi rồi, anh không về với Bé nửa. Bé nhớ anh, nhớ mợ. Mợ hay cho hai anh em ăn bánh, có lần mợ pha cả cà phê cho hai anh em uống nữa.

Mợ hay để ý săn sóc đến Bé luôn. Bé cảm động lắm. Có lần mợ hỏi bé:

- Hôm qua, Vân thức khuya phải không? Sao bé Vân không ngủ sớm, thứ làm gì cho mệt thế hở con?

Bé phục mợ quá:

Mợ tài ghê, sao mợ biết con thức khuya?

Mợ cười xoa đầu Bé:

- Bí mật mà, thế mới tài chứ!

Hôm mợ dọn đi, cả nhà cùng khóc. Mợ bế Bé trong lòng, Bé gục đầu vào vai mợ khóc ròng... Anh Thu đứng im lìm nhìn ra cửa sổ mờ mờ mưa bụi... Mắt anh cũng đỏ hoe... Mợ bế Bé mà nước mắt chảy ròng ròng. Thế là... Bé cùng anh Thu cũng khóc theo...

Chưa lúc nào Bé thấy thương mợ, thương anh Thu bằng lúc ấy. Bé chỉ muốn được mợ, được anh Thu ôm vào lòng, hôn lên đôi má hồng hào của Bé rồi cho Bé ăn bánh, ăn kẹo... Nhất là anh Thu, Bé vẫn thích cái giọng ngâm thơ trầm ấm của anh... Bé hình dung... nàng Thơ của anh đẹp... đẹp lắm theo lời anh tả. Bé nhớ, những khi Bé hờn giận, phụng phịu muốn khóc, anh Thu thường đem tập thơ anh làm ra ngâm nga cho Bé nghe... Anh lại còn cho Bé cả một tập thơ dày kết bằng giấy "bơ-luya" hồng, xanh, vàng, trắng tuyệt đẹp... Bé nghe như giọng ngâm trầm ấm của anh Thu còn vẳng đâu đây với bài "HOA KỶ NIỆM"...

Tôi có những mùa hoa xưa cũ
Trong đáy lòng ươm nở ý xanh xanh
Trước mắt tôi hoa lá trải thơm lành
Ôi kỷ niệm... bao niềm vui đẹp đẽ...
.    .    .    .    .    .    .    .    .    .    .    .

Nhưng... đã hết rồi còn đâu... và hiện tại là phút giây xa cách... Trời mưa, mưa nhẹ hột như lệ Bé rơi rơi. Bé không muốn lìa mợ. Bé càng khóc to khi mợ bảo chẳng có gì cho Bé làm "kỷ niệm"... Ngẫm nghĩ một lúc, mợ cởi chiếc lắc vàng có chạm tên mợ ra đeo vào cổ tay cho Bé... Tay Bé nhỏ xíu, Bé phải kéo chiếc lắc lên tận phía trong cánh tay. Anh Thu rưng rưng nước mắt trao Bé chiếc lồng nan nhỏ có con Hoàng Yến vàng xinh xắn... Nhận tặng vật của mợ, của anh Thu, Bé nghẹn ngào chẳng biết lấy chi đáp lại. Sau cùng, Bé gỡ cặp bướm trên tóc cho mợ và gỡ cái hoa nhận hột chiếu lấp lánh gài trên áo đưa cho anh Thu. Mợ và anh Thu hôn bé lần chót rồi ra đi... Bé nép vào khe cửa lặng nhìn theo mợ với anh Thu tay xách va-li đi xa dần... Chốc chốc, anh Thu lại ngoảnh lại nhìn Bé... Hai cái bóng thân yêu cứ nhòa dần, Bé nhắm nghiền mắt lại và lúc mở ra thì không còn thấy bóng mợ và anh Thu đâu nữa... Bé sà vào lòng mẹ khóc ngất...

- Mợ với anh Thu đi rồi mẹ ơi...

Bé đoán mợ đi xa lắm vì trước hôm ra đi mợ đã bảo:

- Chắc còn lâu anh em mới gặp nhau.

Và mợ vuốt tóc Bé hỏi:

- Vân, năm nay con lên mấy?

- Con loen6 tám.

- Con kém anh Thu những mười tuổi... năm nay anh Thu mười tám rồi.

Mợ nói thế và mắt mợ nhìn ra xa. Bé nhìn vào tận mắt mợ, Bé thấy bóng tối tràn đầy.

Có lần Bé hỏi anh Thu:

- Anh Thu ơi, thế cậu của em đâu?

La7ú lắm, Bé mới nghe anh trả lời:

- Cậu đi xa lắm chưa về, anh chỉ biết có mợ thôi. Vân ngoan đừng hỏi nữa nghe không.

Bé thấy mắt anh ươn ướt. Bé toan khoe Bé có Ba, Mẹ, Bé được Ba Mẹ cưng nhất nhà nhưng thấy anh buồn Bé lại thôi. Nói chuyện đến đấy thì mợ ra ôm lấy Bé. Mợ hôn Bé và bảo không được nói chuyện ấy nữa.

- Nói chuyện khác vui hơn, các co...

Lắm lúc mợ nhìn hai anh em trìu mến:

- Sao hai anh em không cãi nhau đi?

Những lần như vậy Bé chỉ rúc vào nách mợ cười rúc rích. Anh Thu cười, mợ cũng cười theo.

Ở nhà Mẹ chiều Bé, Ba chiều Bé. Ai cũng chiều Bé, lại nhiều đồ chơi nhưng Bé không chơi cứ thích sang nhà anh Thu. Hai anh em xem đi xem lại đến cả thuộc lòng mấy tập thơ bằng giấy mỏng của anh Thu mà Bé vẫn thích xem lại vì anh Thu chẳng có đồ chơi như Bé. Anh nói anh lớn rồi, không cần đồ chơi nữa...

Thấy hai anh em thân nhau, mẹ bảo Bé:

- Con rủ anh Thu sang đây chơi chứ đừng qua bên đó nhiều.

Bé bảo anh Thu, anh định đi nhưng mợ đã giữ lại:

- Thu ở đây với mợ... Các con ở đây chơi cũng được.

Lúc ấy Bé ghét mợ. Nhưng chỉ một tí thôi. Vì mợ biết, mợ gọi Bé lại, cho hai anh em một hộp bánh quy, thế là hết ngay. Những lần như vậy anh Thu thường nhịn phần, cho Bé cả hộp bánh nguyên. Nhưng Bé không ăn một mình đâu. Bé cẩn thận mở nắp hộp lôi ra từng chiếc cho mợ, cho anh Thu. Mợ không ăn, anh Thu cũng nhường cho Bé. Bé lại phụng phịu nước mắt chảy vòng quanh, Bé lắc đầu hờn dỗi:

- Không, con không ăn một mình đâu... Ăn thế chả ngon tí nào. Chịu thôi! Mợ ăn với con, anh Thu ăn với em cơ...

Mợ cười, anh Thu cười, tất cả đều ăn bánh...

Hôm nay, con chim chết rồi. Thế là kỷ niệm của anh Thu tặng Bé không còn nữa. Bé cúi xuống giấu đôi giòng nước mắt. Bé vuốt những chiếc lông vàng óng, mượt như tơ của nó. Bé ủ nó trong lòng bàn tay xinh xinh. Bé nghĩ đến những đám táng có nhiều người đưa tiễn than khóc và chợt nẩy ra ý định chôn nó.

Thế là, Bé vào nhà mang ra một cái hộp bé con con, Bé bỏ chim vào đấy mang ra vườn.

Sợ có con gì bới mất "kỷ niệm" của anh Thu, bé đào một cái lỗ con dưới cây hoa hồng nhiều gai. Đặt cái hộp xuống, Bé lấy tay vun từng nắm đất vùi lấp thân chim...

Một cái gai mắc vào tay Bé chảy máu. Bé nhìn thấy giọt máu rớt xuống đất, thấm vào mộ chim, loang trên ngón tay đầy đất... Bé không khóc nữa...

Buổi chiều nhiều gió, hơi lạnh...

Bé rửa tay, vào nhà leo lên chỗ cửa sổ nhìn ra cây hồng. Bầu trời xám ngắt... mưa lác đác rơi... phơi phới như bụi. Bé nhớ hai cái lưng, một cao gầy của anh Thu, một ốm yếu nhỏ nhắn của mợ... Màu áo trắng của anh Thu, tà áo đen của mợ bay lất phất lẫn vào mưa.

Có tiếng mẹ gọi bé vào ăn cơm. Bé dạ khẽ rồi tụt xuống đi vào phòng ăn... Ánh sáng ngọn đèn tràn đầy căn phòng, ùa vào mắt Bé, loang loáng ướt.

Mẹ hỏi:

- Sao con khóc, Vân?

- Không!

Bé không trả lời được... Bé nhìn ra khung cửa, chỗ treo chiếc lồng chim. Gió đu đưa mấy chiếc nan gầy nhỏ xíu.

Bé thấy nhớ hơn bao giờ giọng trầm ấm của anh Thu:

Ngày xưa ấy! Ôi những ngày vô tận
Khi thơ ngây và tình mẹ yêu thương
Khi thảnh thơi trong ngõ vắng đồi nương
Đời mộc mạc trong tình yêu thắm thiết...

Và giọng ngọt ngào, êm ả của mợ:

- Sao con không ngủ sớm...

Tự nhiên, mắt Bé cay cay... Bé bắt đầu biết buồn!...


HOÀI THU VÂN      

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 28, ra ngày 25-5-1965)

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2024

Tình Bạn Giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê

  

Các em thân mến, 
 
Trên những số báo vừa qua, chúng tôi có nói đến bạn tri âm, bạn tri kỷ, nhắc đến truyện tích Trung Hoa.

Trong văn học Việt Nam, cũng có một mối tình bạn rất thấm thía và đậm đà, đấy là tình bạn giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê.

Nguyễn Khuyến, người làng Yên Đổ tỉnh Hà Nam, Bắc Việt, sinh năm 1835 và mất năm 1909. Ông thi đỗ giải nguyên năm 1864 đời vua Tự Đức. Bảy năm sau, ông đỗ đầu khi thi Hội và thi Đình. Ông thi đỗ đầu cả ba kỳ, nên người đương thời thường hay gọi ông là Tam Nguyên Yên Đổ.

Ông làm quan đến chức Tổng đốc và thi văn ông rất phong phú.

Ông có người bạn thân là ông Dương Khuê người làng Vân Đình, tỉnh Hà Đông, sinh năm 1839 và mất năm 1898 thọ được 59 tuổi.

Dương Khuê nổi tiếng thông minh, văn hay. Đi thi, khoa đầu đỗ ngay Cử Nhân, khoa sau đỗ ngay Tiến Sĩ. Dương Khuê được vua Tự Đức bổ nhậm làm Tổng Đốc, Tham Tá Kinh lược và Binh bộ thượng thư.

Nguyễn Khuyến và Dương Khuê là đôi bạn gần như đồng tuổi, cùng thi đỗ một khoa, văn chương cùng nổi tiếng và cùng làm quan một thời mà nước nhà trải qua nhiều tai biến.

Nguyễn Khuyến đã yêu bạn rất tha thiết. Khi được biết Dương Khuê mất, ông có làm một bài thơ rất cảm động, để khóc bạn:

Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta!
Nhớ từ thuở đăng khoa (1) ngày trước, 
Lúc sớm khuya tôi bác cùng nhau,
Kính yêu từ trước đến sau.
Trong cơn gặp gỡ biết đâu duyên trời,
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo
Có khi từng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoan (2);
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương (3) ôm ấp bầu xuân;
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích (4) điển phần (5) trước sau.
Buổi ly loạn cùng nhau cơ số;
Phận đẩu thăng(6) đâu có tham trời...
Tôi già bác cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!
Lãng đi lại tuổi già thêm nhác,
Gặp nhau ba năm trước một lần,
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can.
Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày.
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe tôi những chân tay rụng rời
Ai chả biết chán đời là phải,
Vội vàng chi đã mải lên tiên?
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua!
Thơ muốn viết, đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa.
Giường kia treo đó hững hờ
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn,
Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở, 
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương,
Tuổi già giọt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

Đọc hai câu đầu chúng ta thấy tất cả sự bàng hoàng của tác giả khi hay tin bạn mất. Ông đã hoàn toàn thất vọng, trông trời đất như rộng thêm ra, vắng vẻ đi, lòng ông đầy ngậm ngùi, cảm thương.
 
Bốn câu thơ kế gợi lại buổi gặp gỡ đầu tiên giữa hai người, rồi tình bạn nẩy ra từ sự kính mến lẫn nhau về tài đức.
 
Họ kính trọng nhau, yêu nhau và gần gũi bên nhau.
 
Họ rất sung sướng với mối tình bạn đẹp đẽ và cho rằng biết đâu đấy là do duyên trời đưa đến.
 
Rồi hai người có lúc cùng nhau dạo chơi nơi núi rừng, đèo suối xa xôi, cùng nhau vui thú trong tiếng hát của ca nhi.
 
Rồi cũng có lúc hai người cùng ngồi bên nhau uống rượu, chuyện trò, xướng họa thơ văn.
 
Hai người đã cùng sống trong thời loạn lạc, cùng gặp hoạn nạn như nhau, cùng có một chí hướng không ham danh lợi.
 
Thời gian trôi qua, tuổi càng lớn, sức người càng yếu, đi lại càng khó khăn, họ gặp nhau ít đi, còn có gì buồn hơn. Lần gặp nhau cuối cùng cách đấy ba năm, họ cầm lấy tay nhau hỏi thăm mọi chuyện. Tác giả đã rụng rời khi hay tin bạn mất, vì lần trước thấy bạn vẫn khỏe mạnh, vả lại bạn cũng nhỏ tuổi hơn mình mà mình đã đau trước bạn.
 
Nguyễn Khuyến cho rằng bạn đã chán đời và trách bạn không chờ mình.
 
Đọc bốn câu thơ:
 
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua!
Thơ muốn viết, đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa.
 
Chúng ta thấy sự đau thương vô hạn của tác giả sau khi bạn mất, ông không còn uống rượu, làm thơ nữa vì đâu còn bạn hữu để cùng uống với mình, đọc và hiểu thơ của mình, hiểu được tâm sự mình, khác chi Bá Nha đập đàn khi Chung Tử Kỳ đã mất, vì sau đó còn ai nghe hiểu được tiếng đàn của mình, hiểu được lòng mình. Dương Khuê, người bạn thân đã mất, bây giờ Nguyễn Khuyến không còn ai tri kỷ nữa.

Các em thân mến,

Ông Cicéron có nói: Nếu rút tình bằng hữu khỏi đời sống, khác nào lấy mất mặt trời của trái đất, vì chúng ta không nhận được điều nào tốt hơn, hoan lạc hơn điều ấy.

Tình bạn thật đáng quí, phải không các em.


Thân mến                    
NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG     

________________
(1) thi đậu (2) đàn hát (3) chén rượu ngon (4) thi cử, văn chương (5) chỗ đất cao trên mộ (6) ý nói làm quan bổng lộc ít ỏi.

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 72, ra ngày 7-1-1973)

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2024

Một Trường Hợp Giáo Dục Phi Giáo Dục

 

Thư của một nhóm học sinh một trường ở Saigon.

Kính thưa chị
 
Chúng em một số học sinh các lớp 7 và 8 của trường... hôm nay chúng em viết thư này để kính trình chị một việc rất quan trọng đối với các học sinh chúng em.

... Khu chúng em được giữ kỷ luật bởi thầy giám thị... (chúng em không biết họ) từ tháng 9 năm 70 đến nay. Sau 2 năm chịu sự kiểm soát của thầy... chúng em nhận thấy nơi thầy có những điểm như sau:

Thầy... rất tàn ác với học sinh. Thầy rất bất lịch sự (chúng em không thể hiểu tại sao vị Hiệu trưởng lại dùng thầy). Em xin thí dụ: học sinh nào mang bánh kẹo lên lầu trong giờ chơi, nếu thầy bắt gặp, thầy sẽ tịch thu và mở ra ăn trước mặt tất cả các học sinh (thầy vừa ăn vừa cười rất khả ố). Đã thế lại thù vặt, thí dụ: nếu học sinh nào thấy chướng mắt trước hành động ấy, nếu xì xào với bạn, rủi thầy nghe thấy thì sau đó sẽ bị đòn bằng những tội hoàn toàn vô lý khác vào bất cứ lúc nào. Còn rất nhiều chuyện nhưng chúng em sẽ xin kể vào dịp hè, khi mà chúng em biết rằng sẽ hết bị trả thù vì chúng em đã đi trường khác.

Kính thưa chị, chúng em nghĩ rằng chị sẽ không tin, nhưng chúng em xin lấy danh dự và tư cách của một số học sinh mà nói rằng những điều trên đã xẩy ra thực. Chị có thể trắc nghiệm bằng cách đăng lên báo... và các học sinh khác sẽ trả lời chị.

... Chúng em kính xin chị nghĩ cách nào cho Thầy... biết mà thay đổi tính nết chứ chúng em sợ bị trả thù lắm...

Trả lời:

Các em ơi, đọc kỹ thư các em chị buồn quá. Chị đã đọc lại mấy lần, và phân tách kỹ lưỡng, thấy giọng văn lễ phép của các em, chị nghĩ rằng các em đã nói thật. Chị rất tiếc rằng đang lúc tuổi các em còn quá non nớt mà các em đã phải nhìn thấy khía cạnh xấu xa của cuộc đời, để cho tâm hồn bị thui chột đi, thật là đáng buồn.

Sự việc xẩy ra, các em cũng có một phần lỗi. Các em đi học không nên ăn quà vặt rồi có thể xả rác bừa bãi dơ dáy nhà trường. Nhất là vấn đề ăn uống nên cẩn thận, bệnh thường do sự ăn uống bậy bạ mà sinh ra. Cho nên, nếu thầy giám thị cấm các em ăn uống bậy bạ, chị hoàn toàn hoan nghênh.

Nhưng ở đây, nếu các em nói thật, trong khi thầy cấm các em, thầy lại ăn nhồm nhoàm ngay trước mặt, thật chị không tưởng tượng nổi. "Giáo dục là nêu gương" chị thấy câu đó rất có lý. Sở dĩ ngày xưa các cụ kính trọng thầy đến trên cả cha mẹ, chính là nhờ nơi bậc thầy xưa có đời sống gương mẫu vô cùng.

Nghĩ đến đây, chị rất đau lòng nhớ tới mấy hàng chữ các em thiết tha dặn dò chị giấu tên, để thầy khỏi biết mà trả thù các em. Không, các em, chị giấu tên thầy và các em chính là vì không muốn thầy trò sứt mẻ thêm chứ nếu nghĩ tới thầy có thể trả thù thì đau lòng vô cùng. Tội nghiệp các em bé bỏng, các em đã không được đứng dưới bóng mát của bậc thầy gương mẫu, để phải nghĩ cách đối phó như vậy thật đáng thương biết mấy.

Đến đây, chị xin thay các em của chị mà nói với thầy... mấy lời.

Kính thưa ông...

Tôi chỉ xin đại diện mấy em nhỏ mà thưa với ông mấy điều. Xin ông hãy vì lương tâm của một người đứng trong hàng ngũ giáo dục, và để xứng đáng với sự tin cậy của phụ huynh các em, mà dành cho chúng tôi một vài phút suy nghĩ.

Chắc đọc qua mấy hàng trên, ông cũng đã có một ý niệm nào đó, nếu ông khách quan nhận định. Tôi chỉ thiết tha xin ông hãy thận trọng và dùng đến tình người hơn trong nhiệm vụ giáo dục. Nếu làm nghề khác, mà tư cách ta kém thì chỉ có ta thiệt thòi, vì sẽ bị cô lập, không ai giao thiệp với, và ta sẽ thất bại trong cô đơn. Còn làm nhà giáo dục, nếu tư cách ta không xứng đáng, ta đã phụ lòng tin của cha mẹ các em, làm thui chột các mầm non và làm hại cho quốc gia sau này. Muốn các em nên người, trước nhất người hướng dẫn các em phải là NGƯỜI. Xin ông nghĩ tới tương lai tổ quốc mà thay đổi cách xử sự.

Đến đây, chúng tôi cũng kính gửi tới vị hiệu trưởng trường nói trên.

Kính thưa ngài,

Nếu chuyện này mà tới được tai ngài, tôi tin rằng ngài cũng đau lòng. Vì khi dự định thực hiện một cơ sở giáo dục, ngài đã ấp ủ nguyện vọng dẫn dắt các thiếu niên trở thành người có giáo dục, hữu ích cho quốc gia sau này. Cho nên chúng tôi chỉ còn thiết tha cầu xin Thượng đế ban cho ngài có thì giờ hơn để có thể thấy được phần nào sự kiện xẩy ra ngay trong tầm tay của ngài. Xin ngài hiểu cho rằng các em có thể đi trường khác khi hết niên khóa, điều đó không thiệt hại cho ngài gì cả vì với nạn trường thiếu hiện nay, học sinh sẽ ào ạt xin thế chỗ. Nhưng sự tai hại đã xẩy ra cho các em nhỏ đáng thương kia, đã in vào tâm hồn non nớt của chúng sự bất kính đối với người lớn, với bậc thầy không xứng đáng, và do đó, sự giáo dục sẽ không mang lại kết quả mà mọi người mong đợi. Xin ngài nghĩ tới sứ mạng thiêng liêng mà lưu ý cho.

Các em thương mến,

Chị ước ao sẽ nhận được những dòng chữ đầy tươi mát trong thư tới của các em. Và chị cũng xin các em đừng quá bi quan. Chị đã được biết rất nhiều bậc thầy đáng kính mặc dầu trong hoàn cảnh khó khăn chung cho đất nước hiện nay, vẫn nhiệt thành, bằng đủ mọi cách, tìm đủ mọi phương tiện để giáo dục các em và nhìn lại dĩ vãng, từng năm từng năm học, trong đời học sinh của chị, trên bục gỗ, có biết bao nhiêu bậc thầy mà tên xứng đáng ghi vào bảng vàng.


Chị Đ.P.K.      

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 36, ra ngày 30-4-1972)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>