Thứ Hai, 21 tháng 8, 2023

Sau Đêm Kinh Hoàng

 
Qua khỏi con lộ trải đá, chiếc xe ngựa bắt đầu lọc cọc vào xóm. Đường đi nhiều ổ gà nên chiếc xe dằn tức vô cùng. Buổi trưa nắng chói chang. Bác Tư đưa tay lau quẹt những giọt mồ hôi lăn tròn ở hai bên thái dương. Tay kia, bác nới lỏng dây cương. Chiếc xe chạy chậm. Âm thanh khô và buồn.

Nhà bác Tư còn xa. Bác lấy hết số tiền trong túi ra. Đó là tất cả những công lao buổi sáng nay. Gần hơn trăm bạc. Cũng là khá lắm. Bác nghĩ vậy và cho tiền vào túi. Mắt bác hướng về phía xa, không có bóng người. Những bụi tre ngoan ngoãn lặng yên.

- Ráng lên đi Hai, về nhà tao cho tha hồ ăn cỏ.

Con vật như nghe lời chủ cất vó chạy nhanh. Bụi mù bốc lên ở phía sau. Bác Tư thấy cảnh sống của mình đã đỡ bấp bênh hơn trước nhiều. Đó là nhờ con Hai, con vật mà bác đã cưng chiều không khác gì con ruột. Bác còn một đứa con trai, tên Thanh, đang đi học. Những ngày nghỉ hay rỗi rảnh, thằng Thanh thường đi theo xe để làm "lơ". Nhiều lúc, nó muốn tự mình điều khiển con vật, rước khách. Nhưng bác Tư không cho, bác nói: "Mầy còn nhỏ lắm, không điều khiển nổi đâu, con Hai đã quen hơi hướng tao rồi, vả lại trong những lúc nó trở chứng, mầy sẽ làm sao?" Từ đó thằng Thanh như bỏ hẳn ý muốn đó.

Hồi nhỏ, thằng Thanh không để ý nhiều về con Hai, nó chỉ biết đó là con ngựa tầm thường như những loài vật khác, cũng có lúc nó để ý bằng cách chọc phá con vật. Dĩ nhiên, con Hai phản ứng lại và làm thằng Thanh một lần hoảng vía. Nó thấy thù ghét con Hai vô độ. Dù vậy, mỗi bữa, nó vẫn phải cắt cỏ cho "kẻ thù" ăn. Vì nếu "kẻ thù" đói, nó và ba nó cũng đói.
 
Trước kia, con Hai là một tay đua xuất sắc nhất. Nó đã từng oai hùng chiếm giải nhất trong các cuộc đua, bỏ xa các địch thủ và đem về cho chủ những số tiền thưởng khá lớn. Nó là con cưng của bác Tư. Nhưng một hôm, con Hai bỗng trở bệnh. Nó mất đi phong độ rất nhiều. Nó thất bại luôn và sự nghiệp bác Tư cũng theo đó đi xuống trong các độ mỗi tuần.

Thét rồi, bác Tư thấy gia đình mình đang bị ám ảnh bởi những túng hụt đói kém ở tương lai, bác nghĩ lại và sắm một cỗ xe bắt con Hai kéo, đưa rước hành khách mỗi ngày. Tiền kiếm được có khi ít, cũng có khi nhiều. Tuy nhiên, đó là mồ hôi nước mắt tạo thành nên bác Tư không bao giờ phàn nàn chê chán. Tên Hai, là tên do bác đặt, vì bác xem con vật như chị cả trong nhà, sau đó mới đến thằng Thanh. Chị cả "đi làm" kiếm miếng cơm về nuôi gia đình. Bác hãnh diện với cái tên đặc biệt đó lắm...

Bác thấy lố nhố trước mặt một đám đông. Có lẽ là dân thành, bác Tư đán vậy, vì họ mặc quần áo sặc sỡ, nói năng khác biệt người dân quê. Họ đưa tay vẫy bác Tư.

Bác cho xe dừng lại:

- Các ông đi đâu?

- Ông cho quay xe trở lại đi.

- Các ông đi đâu?

- Thì quay xe trở lại đi rồi tôi nói.

Trước lời nói ngang tàng bất lịch sự của họ, bác Tư đỏ bừng mặt bất bình. Bác giả vờ hỏi để mà hỏi, chứ bác dư biết họ muốn ra chợ để đón xe về Sàigòn. Đi ra chợ thì nói là đi ra chợ còn bày đặt sai biểu này nọ. Bác vốn ghét sự sai khiến. Trông sự ấy có vẻ nô lệ tù hãm quá. Dù sao bác cũng là người kia mà.

Bác giật dây cương, chiếc xe ngựa từ từ tiến đi. Đám người nầy trố mắt:

- Ơ... Ông nầy làm gì thế?

Tiếng bác Tư:

- Các ông đón xe khác, tôi không đi vì trưa rồi.

Chiếc xe lại lọc cọc buông đều âm thanh. Bác Tư ngủ gật trong những phút ngắn ngủi. Có bàn tay vẫy phía trước. Chiếc xe ngựa dừng lại. Đó là ba người đàn bà và một người đàn ông, vốn là khách quen của bác.

Người đàn ông lấy hai điếu thuốc, mình một và đưa cho bác Tư một:

- Hôm nay anh Tư về trễ dữ!

Bác Tư chụm tay che gió để mồi thuốc:

- Thì cũng như mọi ngày.

Một người đàn bà có giọng hiền hòa hỏi:

- Hồi nãy tôi thấy đám người ở đàng kia ngoắc mà anh không thấy sao?

- Thấy chớ.

- Sao anh không rước họ?

- Ối, cái đồ phách lối đó mà, làm bộ hoài, bộ có tiền rồi sai khiến ai cũng được sao.

Bác kể lại cho những người khách quen nghe câu chuyện ban nãy.

Tiếng người đàn ông:

- Anh Tư làm vậy tôi chịu lắm đa. Với cái giọng ấy để cho chúng đón xe tới chiều coi có không.

- Thứ ở tỉnh mà làm phách.

Người đàn ba mang thúng bánh hỏi:

- Hổng biết họ từ đâu tới hén.

- Tôi nghi họ có quen thân với ông Hội đồng xã ở đây.

- Quen thì quen chớ, tôi đâu có sợ. Vả lại, ông Hội đồng xã là người ngay thẳng, nếu họ có tọc mạch nói lại, ổng gọi tôi, tôi sẽ phân bày cho ổng biết. Hổng có sao đâu.

Chiếc xe đi tới khoảng đường toàn là ổ gà. Bác Tư và người đàn ông phải xuống xe vì sợ xe lật. Qua khoảng đó độ mấy chục thước thì những người khách đã tới chỗ họ muốn xuống. Nhà bác Tư cũng gần đó.

*

- Tư ơi! Mấy giờ rồi mậy?

- Để tao lên coi.

Thằng Tư giơ chiếc đồng hồ chừng như muốn rời rã tất cả các bộ phận ra trước ánh nắng:

- Gần một giờ rồi.

Thằng Thanh nhảy nhổm lên:

- Thật hả mậy?

- Mầy làm gì vậy?

- Chết tao rồi. Tao phải về.

Nó phóng lên bờ:

- Quần áo tao đâu Tư?

- Ai mà biết.

- Mầy có giấu hôn?

- Tao giấu làm chi.

Thằng Thanh bực mình bức mẩy, nó lầm thầm văng tục. Nó đi dọc theo bờ sông để kiếm. Nó vạch từng đám cỏ. Ái! Thằng Thanh chợt la lên thất thanh.

- Gì đó Thanh?

- Con rắn.

- Cắn mầy chưa?

- Chưa. Mầy trù tao hả?

Thằng Tư cười ngất. Thằng Thanh lại đi kiếm nữa. Người nó ướt đẫm. Tóc nó ngã rạp về một bên. Đâu mất đi cà. Ai giấu. Thằng Thanh tức muốn khóc được.

Thằng Tư đã nhảy lên bờ để kiếm phụ bạn.

- Chứ cái gì đây Thanh?

Thằng Thanh mừng húm:

- Đưa tao, lẹ đi.

- Vậy mà đi kiếm lung tung. Mầy độ này hay lãng trí quá.

Có ba bóng người đi tới. Thằng Tư và thằng Thanh hoảng hồn nép sát xuống đất. Gió bốc từ dòng sông lạnh thấu xương.

- Có lẽ là thằng Mót.

Hai đứa đứng lên, thở phào.

- Thôi tao về.

Thằng Thanh phóng vọt đi. Nhưng kìa, sao lạ vậy, một đám trẻ nít trạc bằng nó đang vác gậy hèo ngăn đường. Nó hoảng sợ lui về phía bạn, và thằng Tư cũng đang run cầm cập.

Thằng Mót chống nạnh, cười kiêu hãnh:

- Chạy đi đâu cho thoát. Hôm nay tụi bây tới số rồi.

Thằng Mót nói có lẽ đúng. Thằng Thanh nghĩ vậy, vì từ lâu rồi, nó và thằng Tư với bọn kia có một mối thù rất đậm. Nguy hiểm thì nguy hiểm, hai đứa vẫn thường cả gan xâm nhập bất hợp pháp "lãnh thổ" của kẻ thù. Hai đứa thèm tắm sông lắm, rủ nhau đi tắm lén. Phải lén lút như kẻ trộm mới thoát khỏi cặp mắt dò xét của bọn thằng Mót. Thế mà, hôm nay, thiệt là nguy...

Nỗi lo âu vì về trễ giờ không có cỏ cho ngựa ăn, bây giờ không còn nữa, bây giờ tới nỗi lo khác cấp bách hơn nhiều, nguy hại hơn nhiều. Làm sao đây?

- Ê! Hai đứa kia, tại sao tụi bây lại sông nhà tao tắm hoài vậy?

- Sông này của mầy hả?

- Ừ.

- Ai nói?

- Hổng cần biết ai nói. Chỉ biết tụi bây hôm nay tới số.

Vòng vây siết chặt thêm. Thôi thế là hết đường thoát. Hôm nay, ít nhất hai đứa cũng bị một trận đòn hội chợ nhừ tử. Làm sao. Làm sao. Thằng Thanh suy nghĩ lung lắm. Trước, nó là một đứa nổi tiếng về các mưu kế quỉ khốc thần sầu. Ấy vậy mà bây giờ, trí óc nó như đáy ly rỗng tuếch.

Thằng Thanh nhìn quanh, đứa nào cũng có cầm cây lớn hoặc nhỏ. Mắt chúng sòng sọc. Thằng Thanh nhìn chúng với cặp mắt không còn âu lo khuất phục nữa. Đàng nào thì cũng bị chúng đánh, không ít thì nhiều, sợ làm gì cho chúng khinh. Nó đã có một quyết định thật liều.

- Tụi bây đánh tao đi.

Tụi trẻ cầm gậy hèo ngạc nhiên. Cả thằng Mót cũng vậy. Nó tưởng là thằng Thanh sẽ khóc lóc cầu xin nhưng thật không ngờ. Thằng Thanh toan tính gì đây. Nó nghĩ nát óc mà vẫn không sao hiểu được.

- Mầy hổng sợ sao?

- Sức mấy mà sợ!

Lời nói cứng rắn của thằng Thanh làm thằng Tư phấn chấn lên nhiều. Thằng Tư tự nguyện sẽ cùng thằng Thanh kiếm một lối thoát liều lĩnh. Và, bỗng dưng, thằng Thanh phóng chạy về phía những thằng nhỏ con cầm hèo quay lưng về phía bờ sông. Những tên nầy hốt hoảng vì quá bất ngờ, tránh dạt qua hai bên, chưa kịp quơ hèo lên. Những cú tát, cú đấm của thằng Thanh ném vào chúng như mưa. Chúng la ôi ối và lối thoát của hai đứa là đây. Hai đứa chạy thật nhanh, gần đến bờ sông, chúng phóng tuốt xuống. Bọn trẻ ngơ ngác trước thất bại không ngờ. Vài đứa biết bơi theo lệnh thằng Mót phóng theo, nhưng đối phương của chúng đã ra đến nửa sông.

Thằng Thanh nhảy lên bờ trước thở dốc. Mệt tưng bừng. Nhưng thà mệt còn hơn là bị ăn đòn hội chợ.

- Bây giờ tính sao mậy?

- Tính gì?

- Trả thù.

- Gấp gì mậy.

- Hồi nãy mầy mà hổng nhanh tay lẹ chân thì có nước chết. Nội cái thằng Tâm cao giò cho mình một hèo thì gãy xương sống.

Thằng Thanh trề môi:

- Tụi nó ỷ đông, ỷ cầm gậy hèo ăn hiếp mình, chớ thử tay không chơi thử coi, ai ăn ai.

Thằng Tư kéo mảnh áo bị nước dán sát vào người:

- Thôi về mầy, tao đã lạnh lại đói nữa.

- Chết cha, thôi tao cũng về nghe Tư.

Thằng Tư phóng theo:

- Ý, chờ tao về với mầy. Tụi nó đuổi theo kìa.

Quả thật như lời thằng Tư nói, tụi thằng Mót đã vượt qua sông, nhưng hai đối phương của chúng cũng vừa chạy thoát.

Thằng Mót thở hào hển:

- Tụi bây chạy dở ẹt.

Cả bọn chẳng dám nói năng. Thằng Mót là đầu đàn của bọn trẻ. Nó không mạnh khỏe gì cho lắm, chỉ có ít võ vovinam do anh nó dạy cho hồi năm ngoái. Nó học được vài miếng, tay chân như ngứa, tụ năm tụ bẩy để lập đảng đánh với trẻ con hàng xóm.

Người nó thù nhất là thằng Thanh. Bây giờ nó cũng không hiểu mối thù đó do nguyên nhân nào. Chỉ biết thằng Thanh hay đối lập với nó trong từng câu nói bất cứ câu chuyện gì. Thằng Thanh biết mình có kẻ thù, nên kéo theo thằng Tư về phe mình. Thằng Tư ốm yếu, lại hay chết nhát. không làm việc gì cho nên thân. Tuy nhiên thằng Tư được cái vui tính và tốt bụng.

Bọn trẻ đã thấy bao tử cồn cào tưng bừng, một đứa nói:

- Đói bụng quá.

Thằng Mót hình như không nghe ngồi trên bãi cỏ lặng im.

Bọn trẻ lại thầm thì.

- Tao với mấy lén về nghen.

- Mầy không sợ ảnh sao?

- Sức mấy.

Thằng Mót nắm đầu một thằng nhỏ con lúc nãy đã bị ăn đấm của thằng Thanh ra để hỏi. Nó ấm ư ấm ức như cà lăm. Thằng Mót đứng dậy:

- Tụi bây uýnh dở quá. Đông như vậy mà chẳng làm gì được nó.

- Bây giờ làm sao anh?

- Chiều nay nó có đi đâu không?

- Chắc không đâu. Vì nó mắc bận.

- Sao mầy biết?

- Em ở gần nhà nó.

- Vậy hả. Mầy tên gì?

- Lâm.

- Mầy mới đến đây ở phải hôn?

Thằng Lâm gật đầu. Thằng Mót vừa nghĩ được một kế hay. Nó nói thầm với Lâm và đắc ý cười to. Bọn trẻ không biết gì cũng cười theo.

Về tới nhà, bụng đầy kiến bò, thằng Thanh thêm nỗi lo bị đòn. Nó rón rén đi từng bước. Dù vậy, vẫn không sao thoát khỏi cặp mắt của bác Tư.

- Mầy mới đi đâu về đó Thanh?

- Dạ... đi học.

- Bây giờ mấy giờ rồi?

- Dạ, con hổng biết.

Bác Tư bỏ chén cơm xuống bàn:

- Lại đây biểu.

Thằng Thanh mếu máo muốn khóc:

- Ba tha lỗi cho con.

- Đi đâu từ sáng tới giờ? Nói!

- Dạ con đi...

- Đi đâu?

- Đi tắm sông.

Bác Tư coi mòi không giận dữ mấy với đứa con trai mến yêu duy nhất. Bác rầy mắng qua loa rồi đuổi nó xuống nhà bếp. Còn một mình bác bỏ dở chén cơm ra trước sân hóng gió. Bác chú ý tới những đóa hoa huệ vừa nở ở mấy chậu kiểng thời xưa. Bác đặt môi trên một nụ bông. Gió hoan ca trên những nhánh cây xào xạc. Buổi trưa không nắng. Không khí ẩm ướt khó chịu.

Bác Tư ra sau chuồng ngựa thăm con vật thân yêu. Nó đang ngoan ngoãn nhai cỏ. Bữa ăn quá giản dị. Bác Tư vuốt lưng nó nhè nhẹ. Cử chỉ nầy làm con vật ngước lên như tỏ vẻ cám ơn. Trông con vật, bác Tư đã thấy rõ sự già dặn của nó. Tuy chưa có triệu chứng gì báo hiệu sự mệt nhọc yếu nhược của con Hai nhưng bác Tư cảm thấy lo lo. Từ nỗi lo nầy, bác dọn sẵn một chương trình cho bác và con vật. Bác sẽ cố gắng săn sóc nhiều hơn cho con Hai, cho nó ăn những thứ cỏ tươi mướt. Chỉ có cách duy nhất đó để gìn giữ sức khỏe con Hai. Vì nếu mất con Hai, chắc chắn bác Tư sẽ không biết làm gì để sống. Cày cấy chăng? Tuổi tác bác đã khá cao, già yếu rồi, làm sao chống đỡ nổi gió mưa. Có đứa con trai, nó lạ còn nhỏ, còn đi học.

Thấp thoáng ở hàng rào cạnh cây điều đầy những trái, một đứa bé trông cũng ngộ nghĩnh. Đứa bé có lẽ chỉ nhỏ hơn thằng Thanh chừng vài tuổi. Đôi mắt nó cứ hướng về con ngựa, chắc nó ưa thích lắm.

Bác Tư đi về phía nó:

- Cháu ở đâu?

- Dạ, cháu ở gần đây lắm.

- Bộ cháu thích xem ngựa ăn cỏ lắm hả?

- Dạ, cháu thích lắm. Nếu được ngồi trên lưng nó thì vui sướng nào bằng.

- Tội chưa. Bây giờ cháu muốn cỡi lưng ngựa hôn?

- Dạ muốn.

- Lại đây bác đỡ qua sân. Mà cháu tên gì?

- Dạ, cháu tên Sâm.

Sâm, tên đẹp chứ. Bác Tư đưa tay nhấc bổng đứa bé và đặt nó ngồi lên lưng con Hai. Nó vui thích lắm, nụ cười luôn nở trên môi.

- Bác ơi, con ngựa nầy tên gì hở bác?

- Tên Hai.

- Tên Hai. Sao bác đặt tên nó là Hai?

- Vì nó như chị cả của nhà bác.

Đứa trẻ không hiểu rõ nghĩa, nhưng cũng không hỏi nữa.

- Cháu học lớp mấy?

- Dạ lớp Tư.

- Trường nào?

- Dạ, trường anh Thanh học.

Tiếng bác Tư:

- Cháu biết thằng Thanh nhà bác nữa à?

- Dạ. Cháu muốn làm quen với ảnh từ ngày mới dọn nhà lại đây lận.

Thì ra đứa trẻ nầy mới đến ở làng nầy. Vì không mấy chú ý nên bác Tư hơi ngạc nhiên một chút khi biết được có một gia đình mới đến ở làng mình.

Thằng Thanh đã ăn cơm xong, nó đến bên lu nước mưa và múc uống ừng ực. Bác Tư gọi thằng Sâm:

- Thằng Thanh kìa cháu. Cháu đến làm quen với nó đi.

Đứa bé nhoài người xuống đất theo sự dìu đỡ của bác Tư và tiến đến bên thằng Thanh.

- Anh Thanh.

Thằng Thanh ngạc nhiên:

- Mầy là ai?

- Anh kêu em bằng em đi.

Lạ chưa. Thằng bé nầy sao mà tinh ranh quá. Thằng Thanh cũng cố chiều nó:

- Ừ... tao kêu mầy bằng... em đó. Trả lời đi.

- Em tên Sâm, nhà gần đây nè.

- Mầy... ủa... em đến đây làm chi?

Đứa bé đến bên cạnh thằng Thanh:

- Cho em ngồi đây nghen.

Thằng Thanh đỡ nó lên ngồi trên đùi. Da thằng Sâm trắng như da con gái, mũm mĩm dễ thương. Thằng Thanh đưa tay vuốt tóc nó, nó sung sướng gọi bác Tư:

- Bác ơi! Cháu làm quen được với anh Thanh rồi nè.

Bác Tư tươi cười nhìn nó:

- Cháu làm quen hay lắm. Như lúc nãy với bác vậy.

Bây giờ thằng Thanh mới thấy đứa bé dễ mến. Nó hôn trên má đứa bé như gửi trọn niềm thương mến ban đầu. Từ lâu thằng Thanh muốn có một đứa em để ẵm bồng nâng niu, nhưng má nó đã qua đời, vì vậy ước vọng nó cũng chỉ là mây khói. Bởi không có em, nó phải đi tìm bạn bè quanh khu xóm chơi đùa để đỡ cô độc.

- Em tên gì?

- Em nhớ là em nói với anh rồi mà. Em tên Sâm.

Thằng Thanh cười:

- Tên đẹp ác. Em học ở trường nào?

- Chung trường anh đó.

- Ủa, vậy sao. Sao anh hổng biết.

Đến đây có tiếng gọi thằng bé về ăn cơm.

- Thôi em về nghen.

- Chiều nhớ lại chơi.

- Em ăn cơm xong lại liền.

Đứa bé thoăn thoắt chạy đi. Thằng thanh nghe vui theo từng bước chân dẫm lên cỏ non của thằng Sâm. Nó cảm thấy sảng khoái, vươn vai và đi vào nhà.

Theo lệ thường cứ mỗi chiều thứ bảy, bác Tư cho xe về sớm để dưỡng sức cho người lẫn vật. Đến sáng mai chủ nhật, xe sẽ đi sớm hơn thường ngày vì có rất nhiều khách. Bác Tư biểu thằng Thanh dẫn ngựa ra phía cánh đồng không mấy xa, nơi đó, cỏ mọc nhiều và mướt tươi. Con Hai thích ăn cỏ ở cánh đồng nầy, và nếu biết nói, nó sẽ không ngần ngại gì bày tỏ sự ước muốn mau đến ngày thứ bảy của mình cho bất cứ ai yêu mến nó nghe.

Thằng Thanh cắm một cây cọc trên một bờ đê cao, cột dây giữ ngựa lại. Với bề dài của sợi dây, con Hai tha hồ đi xa để ăn cỏ cũng như tha hồ vui đùa cùng đồng loại.

Thằng Sâm cũng có đi theo. Nó đã mến yêu thực sự người bạn lớn hơn hai ba tuổi đó. Tính thằng Thanh không cộc cằn, nhưng hơi nóng một chút. Những gì nó bất bình là nó nói toẹt ra ngay. Hôm vừa quen, lúc vào nhà, thằng Sâm chạm phải đôi mắt tức giận của anh nó, thằng Lâm. Thằng Lâm tính tự kiêu, dù không tài giỏi gì cả, thấy em mình chơi với thằng Thanh, kẻ thù mới của nó ở làng nầy thì tức lắm.

Mới hồi trưa, chính thằng Lâm đã lãnh trọng trách theo mưu kế của thằng Mót để hại thằng Thanh. Thế mà, em nó thiệt là ngu, lại đi chơi với kẻ thù. Nó đã cho thằng Sâm hai bạt tai nháng lửa và cấm không được chơi với Thanh. Thằng Sâm vừa khóc vừa phản đối, lại được thêm một bạt tai.

Việc nầy đến tai ba của hai đứa. Ông gọi và đánh cho thằng Lâm một trận. Thằng Lâm tức lắm, nhưng không dám đánh em nữa. Nó trở nên hiền hòa, nhỏ nhẹ, quyến rũ em thay nó thi hành mưu kế của thằng Mót. Thằng Sâm lắc đầu lia lịa, nói:

- Sao anh không làm đi mà bảo tui.

Thằng Lâm nói khẽ:

- Thì em làm cũng được.

- Tui không làm, không làm.

Nói đoạn, nó phóng chạy ra sân. Thằng Lâm lại đến nhà thằng Mót để nói lại điều ấy.

*

- Sâm ơi!

Thằng Sâm lót tót chạy nhanh đến bên thằng Thanh:

- Anh kêu em.

- Em muốn ăn điều hôn?

- Trái điều hả anh?

Thằng Thanh gật đầu và sau đó, nó trèo thoăn thoắt lên cây điều. Những trái điều vàng cam, càng nhìn thằng Sâm càng muốn chảy nước miếng.

- Anh Thanh ơi!

- Gì?

- Em trèo nghen.

- Không được. Sâm còn nhỏ.

Thằng Sâm lấy cái nón lá rách tả tơi hứng lấy những trái điều do thằng Thanh thảy xuống. Nó ăn ngon lành. Ăn trái điều đừng quên ăn hột điều. Thằng Sâm nhớ mãi lời má nó thường nói. Trái điều tuy ngon, nhưng có khi hơi chát lưỡi. Hột điều thì tuyệt, ngon và bùi hơn đậu phộng. Hột điều có thể ăn sống, nếu nướng thì lại càng ngon. Tuy nhiên, nếu háu ăn quá, mủ dính vào môi chùi mép có thể bị lở.

Những hột điều nằm gọn trong chiếc nón lá. Thằng Sâm định để dành những hột điều này tối nhúm lửa nướng. Những âm thanh nổ lên như pháo rất vui tai.

Hai đứa ngồi sát bên nhau ăn điều.

- Em no quá rồi, em không ăn nữa đâu.

- Sâm lấy hết hột điều đó đi, anh cho Sâm đó.

- Bộ anh không thích ăn hột điều sao?

- Thích, nhưng ăn nhiều quá cũng chán.

Thằng Thanh đứng lên:

- Bây giờ tụi mình đi bắt dế chơi ta.

- Đi gấp.

Hai đứa đi về phía ruộng lúa. Ở đó, một dãy đá, đất sét nằm ngổn ngang.

- Bắt chỗ nào anh?

- Ở đây nè.

Thằng Thanh đưa tay đẩy những cục đá to nặng ấy sang một bên.

- Bắt đi Sâm.

Quá nhiều dế. Toàn là những thứ dế đá, lâu lâu cũng có một vài cô dế mái.

- Đủ chưa?

- Nhiều quá rồi, lấy gì đựng đây anh?

- Để anh đi lấy gàu.

Những chú dế gáy rân trong gàu. Chúng đá nhau loạn xạ. Thằng Sâm thích quá vỗ tay lia lịa. Vì quá nhiều nên thằng Sâm gạn lọc bớt số dế yếu đuối nhỏ con. Duy chỉ có một chú dế thân vóc tuy nhỏ, nhưng đá chì lắm. Những chàng dế khổng lồ như dế than, dế lửa thảy đều khiếp sợ. Thằng Thanh thấy vẻ sung sướng trên mặt thằng Sâm thì lấy làm hài lòng lắm.

- Thôi, bây giờ về nghe, chú dế tên Sâm!

Thằng Sâm xách gàu đứng dậy, bỗng la lên:

- Ủa! Con Hai đâu rồi?

Nỗi lo sợ như cơn gió thốc đến trong lòng thằng Thanh. Trời ơi! Nó mới ở đây mà. Thằng Thanh bỏ chạy khắp cánh đồng, cố tìm kiếm nhưng vẫn không thấy con vật thân yêu. Cây cọc cắm lúc nãy hãy còn, có lẽ con Hai đã sút dây thoát chạy.

Tìm đâu bây giờ. Thằng Thanh không quản mệt mỏi băng qua từng con đê cao. Vẫn bặt tăm. Buổi chiều rớt vào bóng tối. Nó tự trách mình tại sao quá ham chơi. Nếu mất con Hai, gia đình nó sẽ sống ra sao. Trời ơi! Thằng Thanh chạy mãi, chạy mãi, gặp ai cũng hỏi, con Hai đâu, con Hai đâu, nhưng đều thất vọng một cách chán chường.

Mồ hôi tràn ra phía sau gáy như nước xối, nó đành trở về vì đêm tối đã vây chiếm trọn cánh đồng. Thằng Thanh thơ thẩn như người mất hồn. Nó sẽ ăn nói ra sao với ba nó?

Bác Tư lại ra cửa trông ngóng. Lạ thiệt, chưa bao giờ thằng Thanh dẫn ngựa về trễ như hôm nay. Có chuyện gì. Bác chợt thấy một bóng dáng quen thuộc.

- Ngựa đâu Thanh?

Thằng Thanh bật khóc:

- Nó chạy đi đâu mất rồi.

- Trời!

Bác Tư kêu lên rồi ngồi bệt xuống đất. Sự thật là vậy sao. Viễn ảnh đói kém hiện lên trước mắt bác. Nỗi lo những ngày hôm trước giờ gạch nối cho một sự thật. Thằng Thanh kể lại và khóc trước mặt bác Tư. Bác cũng muốn khóc theo.

Thằng Thanh vừa ngủ được một giấc thì tiếng súng từ phía đồn lính vang dậy như pháo tết. Hoảng hồn, nó lăn tròn xuống đất và đến bên hầm núp. Hầm quá chật nên không thể nằm được. Nó đành bỏ dở giấc ngủ. Bác Tư cũng đã hay trận đánh từ lúc mới bắt đầu, nhưng không hiểu sao bác lại muốn nằm mãi đây.

Đạn lửa bay vút ngoài kia. Đêm yên vắng. Căn nhà bác rung lên như muốn sụp đổ. Chim chóc hoảng kinh. Trâu bò nằm rạp xuống ở một góc chuồng. Thời chiến tranh là vậy. Biết bao giấc ngủ bị gián đoạn. Bác chỉ muốn nằm đây, để một viên đạn vô tình nào đó rơi trúng và bác sẽ chết.

Tương lai, gia đình chỉ hy vọng vào con vật. Bây giờ con vật lạc mất, sống làm sao, bằng cách gì? Bác không muốn đánh hay trách mắng gì thằng Thanh, vì cho đó là một rủi ro. Biết cho là một rủi ro, nhưng sao bác lại muốn chết. Tiếng thở đều của thằng Thanh vọng đến tai bác. Không, bác còn một đứa con trai, nó tên Thanh, nó đang ngủ. Bác không thể chết vì không thể bỏ con. Và nhanh nhẹn, bác phóng xuống đất ôm lấy thằng Thanh. Thằng Thanh mở choàng mắt nắm lấy tay ba và ngủ tiếp.

- Tội nghiệp.

Bác Tư chép miệng. Từ lúc má thằng Thanh chết đi, nó chịu khổ nhiều quá dù còn ở lứa tuổi hoa niên. Nó mất đi tình thương thiêng liêng. Nhưng nó có biết lo gì đâu?
 
Tiếng súng không ngớt gầm thét bên ngoài. Chợt trong âm thanh nhức óc ấy lại có tiếng ngựa hí vang rân. Bác Tư nghĩ ngay đến con Hai. Bác choàng dậy thật liều lĩnh. Lúc nầy lại có tiếng đập cửa nhà bác. Ai? Bác nghe tim đập mạnh. Thằng Thanh cũng đã tỉnh giấc.

- Bác ơi! Anh Thanh ơi!

Tiếng của thằng Sâm. Thằng Thanh nhảy phóc lên. Bác Tư đã mở cửa. Thằng Sâm và một bóng đen khác xuất hiện. Trời ơi! Con ngựa của bác. Thật đây sao. Bác Tư ôm chầm lấy lưng con vật và khóc. Nỗi mừng như lan truyền vào cơ thể con vật, nó hí lên từng hồi.

Thằng Thanh sững sờ trong giây phút. Nó ôm chầm lấy thằng Sâm:

- Sâm! Em thấy con Hai ở đâu vậy?

Hình như có dòng nước gì chảy ướt ở cánh tay thằng Sâm.

Bác Tư nhảy lại.

- Trời! Cháu Sâm, cháu bị thương rồi. Thanh, vô nhà lấy bông gòn và thuốc đỏ cho ba.

Thằng Sâm đã bị thương nhưng không phải do đạn gây ra. Đúng hơn là một vết trầy, có lẽ bị kéo lết đi xa, nên máu chảy khá nhiều.

Thằng Sâm vẫn như không. Bóng đen lúc nãy hiện ra bên cạnh thằng Sâm.

- Ai đó Sâm?

- Dạ, anh cháu, tên Lâm.

Thằng Lâm rụt rè. Nó không dám nhìn ai, chỉ ngó gầm xuống đất. Thật lâu, nó đến bên bác Tư nói run run:

- Bác Tư, xin bác tha lỗi cho con.

Và không chờ bác Tư nói gì, thằng Lâm đã kể hết mọi chuyện...

*

Buổi sáng đến với cây lá bằng một mặt trời màu hồng ở phía xa. Chim chóc đã reo hò trên lưng trời. Cảnh trí bắt đầu sống lại những giờ phút sôi động.

Chiếc xe ngựa bác Tư cất vó thật ngon trên đường trường. Chưa bao giờ bác Tư thấy vui bằng lúc nầy, nhất là niềm vui bắt đầu bởi một sự may mắn không ngờ.

Bác cho mình là kẻ có thật một bông hoa hạnh phúc. Từ đây bác sẽ cố gắng vun trồng bông hoa đó, cho ngày một tươi rốt lên bên bờ cỏ xanh um đồng ruộng.

Lúc nghe thằng Lâm thuật lại tự sự, thật bác không bao giờ ngờ lại có thể xảy ra chuyện đó được. Nguyên do từ sự thù nghịch của tuổi thơ. Chỉ trong một phút nóng giận và nông nổi ngu dại, thằng Lâm đã gây cho bác Tư một nỗi kinh hoàng có ảnh hưởng đến cuộc sống không ít.

Thằng Lâm nghe lời thằng Mót cùng bốn đứa trẻ lén đến chỗ ngựa của bác Tư ăn cỏ và mở gút dây ra. Chúng định thả đi nhưng lại không thả và một đứa trong bọn dẫn ngựa về giấu kín ở một khu rừng không xa lắm.

Nhưng thằng Lâm vốn nhút nhát, vả lại với sự cương quyết sẽ tố cáo của em nó, nó chợt hối hận. Rồi hai anh em giữa đêm đầy tiếng súng, mạo hiểm đến khu rừng đó. Quả là một việc liều, quá liều. May mà không sao, vì hai bên đang đánh nhau ác liệt. Hai đứa vừa đi vừa lết bò thật thảm hại.

Hai đứa đến vừa lúc con ngựa của bác Tư sắp sút dây. Nó dãy dụa dữ lắm vì những âm thanh điếc tai kinh khiếp. Hai đứa cố gắng đưa ngựa về, đó là một cố gắng chuộc tội của thằng Lâm.

Nghe xong câu chuyện, bác Tư không biết nói gì. Bác thấy mình cần phải tha thứ cho chúng, vì chúng còn trẻ thơ quá...

- Ngừng xe lại đi người bạn già.

Bác Tư vui vẻ cho xe ngừng thật chậm.

- Bộ mới mua ngựa mới hả?

- Đâu có, cũng con Hai đó chứ.

- Vậy sao, yên cương mới, bờm mới, tôi cứ tưởng mới cả chứ.

Bác Tư hãnh diện kể lại câu chuyện đó cho người khách quen nghe. Người khách cười, như muốn chia xẻ sự may mắn của bác Tư. Xe đến chỗ dốc, hai người phải xuống và hì hục đẩy.
 

Nhưng, xe bác Tư hôm nay chở quá nhiều hàng hóa nên lên không nổi con dốc. Có ba bóng người cỡi xe đạp đi tới.

- A! Bác Tư.

- Ba mới đi tới đây hả ba?

- Ủa! Tụi bây giờ nầy mới đi học sao?

- Dạ, xe lên dốc không nổi hở bác?

- Ừ. Đồ đạc hôm nay dữ quá.

- Để chúng cháu phụ đẩy cho.

- Nào, một, hai, ba...
 

Con Hai như được khuyến khích cố sức kéo mạnh cỗ xe nặng trĩu. Ráng thêm, ráng thêm. Và, chiếc xe đã qua khỏi dốc. Niềm vui như chảy từng giọt mồ hôi trên vầng trán mọi người...


Vũ Chinh      

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 74, ra ngày 1-8-1967)




Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2023

Thương Về Dĩ Vãng

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Về quê xưa bóng nắng ban trưa
Gió reo vui xao xác khóm dừa
Đường đất mát chân trần giẫm cỏ
Bông bìm bìm tím ngắt giậu thưa

Về lối xưa tiếng gà gáy vang
Mướp trổ xanh hoa thắm rực vàng
Dù nắng hạ trên đầu đổ lửa
Ve kêu trong khóm phượng rộn ràng 

Về sông xưa chuyến đò lênh đênh 
Lững lờ trôi tim tím lục bình
Nao nao nhìn giòng sông xuôi chảy
Tìm ấu thơ một thuở thanh bình

Về chốn xưa mái trường rêu phong 
Thời học sinh vui dưới nắng hồng
Ê a đọc bài trong lớp học
Giờ bồi hồi đứng lại bên song

Về đường xưa lả tả phượng rơi
Ghế đá xưa còn một mình thôi
Nhớ tiếng thước thày cô gõ bảng
Nhớ bạn hiền ánh mắt tươi môi

Về làng xưa ngày xanh quá mau
Thời gian như nước cuộn chân cầu
Ngồi trên thềm ôn bao kỷ niệm 
Dĩ vãng ơi xin chớ úa màu...

                                        THƠ THƠ 
                                (Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2023

Tâm Hồn

 
 

Cứ mỗi ngày, vào buổi chiều, là người thanh niên ấy lại ra bờ bể để thả lưới, đánh cá.

Có một lần, lúc nhấc lưới lên, anh ta thấy nặng nặng, anh kéo mãi, kéo mãi, mới nâng được cái lưới lên khỏi mặt nước.

Tưởng đâu như mẻ lưới ấy được đầy ắp cá, không dè, lúc anh nhìn vào lưới, thì cá không có lấy một con nào, mà ở dưới cùng đáy lưới, lại có một ngư nhân đang thiêm thiếp như ngủ.

Nàng ngư nhân đó, tuy mặt người, mình cá, nhưng có một sắc đẹp mê hồn. Thật là mặt ngọc, thân ngà, với mớ tóc vàng óng ánh. Nàng bị rêu xanh quấn chằng chịt, và trên hai hàng mi còn lóng lánh những chất muối đã khô.

Thấy động, nàng giật mình và mở mắt. Nàng kinh khủng, khi nhận ra rằng mình bị mắc vào lưới của người trần! Nàng bèn vùng vẫy, cố sức tìm đường để thoát thân. Nhưng thấy không được, nàng cất tiếng van xin:

- "Xin ông thả tôi ra. Tôi là con gái của Thủy Vương, không may bị mắc lưới. Cha tôi đã già, và cha chỉ có một con, con có một cha!

Chàng ngư phủ đáp:

- "Được rồi! Nếu cô muốn tôi thả cô ra, thì cô phải hứa với tôi rằng: mỗi chiều, tôi ra đây đánh cá, nếu tôi gọi cô, thì cô phải lên và hát, cho lưới tôi đầy cá. Vì cá nó thích nghe cô hát. Cô có chịu không?

Nàng ngư nhân đáp:

- Xin vâng.

Anh ngư phủ bèn thả cô xuống nước. Cô vùng vẫy, và lặn biến mất!

Từ đó, mỗi khi anh ngư phủ ra kéo lưới, là anh lại được nghe ngư nhân hát, và hôm nào về, cũng được nhiều cá.

Giọng hát của ngư nhân du dương, réo rắt, khi ngọt ngào, lúc to, nhỏ, không những cá lớn, cá nhỏ đâu đâu cũng đều bơi đến quanh đó mà nghe cô. Giọng hát còn lúc khoan, lúc nhặt, lúc bổng, lúc trầm, khiến người cũng phải say mê. Dần dần, anh ngư phủ không còn thiết gì đánh cá nữa, cứ ngồi trong thuyền ngây ngất nghe ngư nhân thần nữ ca hát mãi, cho đến khi sương đã sa xuống, và phủ quanh người anh, cho đến lúc trăng đã lên cao, và sáng vằng vặc cả bờ biển, mà anh cũng chưa về.

Rồi đến một buổi chiều kia, anh quyết tâm gọi ngư nhân lại gần và nói:

- Nếu Thần nữ không chê tôi là phàm nhân tục tử, mà cho tôi được cùng người tiên kết mối duyên lành, thì tôi xin thề cùng sinh tử có nhau.

Ngư nhân đáp:

- Không được đâu! Vì chàng là người, và có một linh hồn, mà thiếp lại là Thần nên không giống như chàng. Kết thân làm sao được, chỉ trừ khi nào chàng bỏ được cái linh hồn kia đi...

Nói xong, nàng dàu dàu nét mặt, nhìn chàng hồi lâu, rồi lặn xuống nước.

Sáng sớm hôm sau, trước khi mặt trời mọc, chàng ngư phủ ra đi, tìm đến nhà của một ông cố đạo. Anh ta vào, và quỳ xuống đất, nói:

- Thưa Cha, con có đem lòng thương yêu một ngư nhân, nhưng chỉ vì cái linh hồn của con, mà việc hôn nhân không thành. Xin cha chỉ cho con biết, phải làm thế nào, để con vứt bỏ được cái linh hồn của con đi, vì chính con, con cũng thấy không cần có nó.

Ông cố đạo cả giận, đáp:

- Con điên mất rồi! Cái linh hồn của con người là cái phần cao cả nhất, quý nhất, quý hơn của cải, vàng bạc. Con chớ có nghĩ bậy nữa, vì như thế là một tội lỗi, không thể tha thứ được. Con nên biết rằng, giống ngư nhân sẽ bị tiêu diệt, vì chúng không có linh hồn, nên không biết gì về thiện mỹ cả. Chính chúng nó là giống quỷ, giống quái mà sinh ra.

Chàng ngư phủ nghe xong, mắt đầy lệ, anh bèn đứng lên và kêu van:

- Thưa Cha, ngư nhân của con đây là một Thần nữ, và có một sắc đẹp kiều diễm, nàng đẹp hơn cả sao mai, sáng hơn cả trăng rằm. Nếu có thể được kết thân với nàng, con xin hy sinh cái linh hồn của con. Vậy xin Cha chỉ cho, con phải làm thế nào?

Ông cố hét lên và đáp:

- Bước! Bước ngay! Đồ khốn! Như thế là ngươi đã đành tâm bán rẻ linh hồn của ngươi cho quỷ sứ rồi!

Nói xong, ông cố đuổi anh ra khỏi cửa.

Chàng ngư phủ thất vọng đi ra và xuống bờ bể. Anh ngồi đó lâu lắm, và nghĩ cách phải làm thế nào, để được toại nguyện.

Sau, mãi anh mới nghĩ ra, là ở đằng kia, trong một cái hang, có một cô phù thủy. Anh đi tìm cô ngay, vì anh nóng lòng muốn trút bỏ linh hồn, để đi theo người yêu. Cô phù thủy biết trước rằng anh ta sẽ lại. Cô mỉm cười một mình, và mừng thầm. Cô bèn xõa mớ tóc hung hung đỏ, để lòa xòa xuống mặt, rồi đứng chờ ở cửa hang. Không bao lâu, cô trông thấy anh ngư phủ ta đang leo sườn núi để tiến đến chỗ cô. Lúc anh tới nơi, cô vừa cười, vừa hỏi:

- "Chàng tới đây có việc gì? Liệu ta có thể giúp chàng được không?"

Anh bèn đem câu chuyện tình duyên của anh ra thuật lại.

Cô phù thủy nghe xong cả kinh. Cô bảo anh rằng:

- "Chàng có hiểu rằng chàng đã muốn làm một việc phi nhân, phi nghĩa không?

Anh ngư phủ cười và đáp:

- "Linh hồn chẳng có ích gì cho tôi. Nào, tôi có trông thấy nó bao giờ đâu, và nó có giúp cho tôi được việc gì đâu? Tôi cần gì phải giữ nó?

Cô phù thủy biết rằng anh đã nhất quyết, cô mở to cặp mắt long lanh và hỏi anh:

- "Nếu ta chỉ cách cho chàng, thì chàng đền đáp ta bằng gì, nào?

Anh đáp:

- "Tôi có cái gì, tôi xin biếu cô hết.

Cô phù thủy, giọng khinh khỉnh đáp:

- "Vàng, bạc ta không cần, vì ta có thể làm ra được."

- "Trời ơi! Nếu vàng với bạc đối với cô không quý giá nữa, thì tôi còn biết trả ân cô bằng gì bây giờ?

Cô phù thủy bèn đưa bàn tay lên xoa tóc anh, mỉm cười và sẻ đáp:

- "Bằng cách, chàng sẽ lại đây khiêu vũ với ta...

- Có thế thôi, ư?

- "Chỉ có thế thôi. Vậy đến đêm hôm nay, lúc nào trăng vằng vặc sáng, thì ta đợi chàng trên đỉnh núi kia, và hai ta sẽ khiêu vũ với nhau trên bãi cỏ.

- Nếu chỉ có thế, mà cô giúp được tôi, thì quả cô có tài di sơn đảo hải...

Rồi anh vui vẻ trở về.

Đêm hôm đó, lúc trăng lên, chàng ngư phủ leo núi đi tìm chỗ hẹn. Đến nơi, thì cô phù thủy tóc đỏ đã đợi ở đấy rồi. Hai người bèn ra bãi cỏ và khiêu vũ với nhau cho tới khuya. Xong, anh hỏi:

- "Nào, thế bây giờ cô chỉ cách cho tôi, đi!"

Đôi mắt xanh đầy lệ, cô phù thủy buồn rầu đáp:

- "Chàng nhất quyết xa linh hồn của chàng thật ư? Chàng nên nhớ rằng, người mà không có linh hồn, sẽ phạm nhiều tội lỗi..."

Anh ta cười gằn và tức giận nắm chặt lấy tay cô phù thủy, đáp:

- "Ta chỉ cần ngư nhân Thần nữ của ta thôi, mi biết chưa?"

Cô phù thủy rút ở thắt lưng ra một con dao nhỏ, và nói:

- "Cáimà người đời thường gọi là bóng của mình, thì đó chính là bóng của hồn mình đấy. Bây giờ, chàng đi xuống bờ biển, đứng quay lưng lại mặt trăng, chàng sẽ trông thấy cái bóng đen của chàng nó ngả về phía trước mặt, chàng sẽ lấy con dao này rạch vào cái đường viền của cái bóng ở trên mặt đất, vừa rạch, vừa nói:

- "Hỡi linh hồn của ta! Ngươi hãy đi đi, ta không cần ngươi nữa!"

Thế là xong.

Anh ngư phủ hỏi cô:

- Có thật thế là xong không?

- Thật chứ! Nhưng đây là tự ý chàng muốn thế, chứ không phải ta xui chàng.

Nói xong, cô hối hận vì đã bày cách cho người làm tội ác.

Anh ngư phủ gài con dao vào thắt lưng, rồi từ giã cô phù thủy để xuống núi. Bỗng anh nghe thấy hồn của anh gọi anh và bảo:

- "Trong bấy lâu, tôi và anh ta cùng có nhau. Tôi có làm gì nên tội mà anh nỡ đuổi tôi?

Chàng ngư phủ cười và đáp:

- Nhà mi không làm gì nên tội thật. Nhưng ta không cần đến nhà mi. Vũ trụ mênh mông, nhà mi muốn đi đâu thì đi, đừng quấy rầy ta, để cho ta đi theo tiếng gọi của tình yêu.

Linh hồn của chàng bèn năn nỉ:

- "Nếu quả thật anh muốn đuổi tôi đi, thì xin anh cho tôi đem theo cả trái tim của anh đi nữa, để cho có bạn, và để cùng nhau chống lại sự cám dỗ của người đời, vì họ vô cùng độc ác!"

- "Tim ta đã thuộc về người yêu của ta rồi, còn đâu mà cho mi nữa! Thôi, đừng có rườm rà, nhiều chuyện. Phen này mỗi người đi mỗi ngả. Mi đi đằng mi, ta đi đằng ta..."

Nói đoạn, anh rút con dao ở thắt lưng ra vạch xuống đất, làm đúng theo lời chỉ dẫn của cô phù thủy.

Sau sự chia lìa ấy, linh hồn lại nói:

- "Tình nghĩa của anh và tôi không phải đến đây là hết. Rồi tôi sẽ còn gặp lại anh!"

- "Gặp bằng cách nào, cơ chứ?"

- "Cứ mỗi năm một lần, tôi sẽ đến chỗ này, và gọi anh. Vì có thể rằng anh còn cần đến tôi.

- "Ta cần nhà mi để làm cái nợ gì? Rõ vớ vẩn!"

Nói xong, anh cười và nhảy xuống nước. Ngư nhân Thần nữ hiện lên đón anh. Trong khi ấy thì linh hồn của anh đứng thui thủi trên bờ biển mà nhìn hai người. Lúc họ cùng lặn xuống bể rồi, thì gã buồn rầu, và cất bước lang thang ra đi!

Một năm qua, đúng ngày hẹn, gã linh hồn kia trở lại, xuống bờ biển gọi anh ngư phủ.

Anh bơi lên mặt nước, và hỏi:

- - "Sao mi còn đến, gọi ta để làm gì?"

- "Cái dạo tôi từ biệt anh, tôi đi về phương Đông. Trong nhiều ngày, rồi đến một thung lũng. Ở đấy, có tấm gương Đạo Đức chiếu ánh sáng lên rực rỡ. Nếu anh muốn, tôi sẽ về với anh, và dẫn anh đi lấy tấm gương đó. Anh sẽ trở thành một người đạo đức, thông minh nhất đời!"

Anh đáp:

- "Đối với ta, ái tình hơn Đạo Đức. Hiện giờ, ta là người yêu duy nhất của Nữ thần. Ta không còn mong ước gì hơn nữa.

Rồi anh cười và lặn xuống biển. Gã linh hồn lại buồn rầu và cất bước lang thang ra đi...

Hai năm sau, gã Linh hồn lại trở lại gọi anh ngư phủ và bảo anh:

- "Lần thứ hai, sau khi tôi từ biệt anh, tôi đi về phương Tây. Càng đi, tôi càng thấy ở đấy có không biết bao nhiêu là bảo vật. Thôi thì ngọc ngà, châu báu rải rác khắp nơi! Ròng rã sáu, bẩy ngày, tôi đi trên một dải đường mà hai bên ngổn ngang những vàng cùng ngọc. Một hôm, tôi đến một thung lũng, và chợt trông thấy một Vòng Ngọc, hào quang sáng chói! Ai chiếm được cái Vòng đó, sẽ trở thành một người giàu nhất thế giới!

Anh cho tôi về với anh, tôi sẽ dẫn anh, để chiếm lấy cái Vòng Ngọc kia...

Chàng ngư phủ đáp:

- "Ái tình còn hơn là ngọc ngà, vàng bạc! Hiện giờ, ta là người yêu duy nhất của Thần Nữ. Ta không mong ước gì hơn nữa!

Rồi anh cười và lặn xuống biển!

Gã Linh hồn buồn rầu, và lại cất bước lang thang ra đi trên những bãi lầy...

Ba năm lại qua. Gã Linh hồn kia lại quay về, xuống bãi bể, và gọi anh ngư phủ.

Anh nhô lên khỏi mặt nước và hỏi:

- "Sao mi còn đến gọi ta để làm gì?"

Gã đáp:

- "Trong một thành phố kia, tôi đã tìm đến một cái quán mà ở trong đó có một thiếu nữ đẹp tuyệt trần! Nàng tươi như hoa, xinh như mộng, với một đôi chân nhỏ bé, trắng hồng. Nàng nhẩy múa dịu dàng, uyển chuyển, như lướt bay trên một chiếc thảm...

Chàng ngư phủ nghe Linh hồn mình kể chuyện thì bỗng đâm ra mơ ước một đôi chân mà bấy lâu nay anh không từng thấy có ở ngư nhân Thần nữ. Anh nghĩ rằng "Ta có thể đi đến cái quán kia chơi một ngày, rồi lại trở về với người yêu của ta, chắc cũng không sao..."

Đoạn, anh cả cười, rồi từ dưới nước tiến thẳng lên bờ. Đến chỗ bãi cát khô, anh vui vẻ giơ hai tay ra đón gã Linh hồn. Gã mừng reo lên và chạy lại với anh. Thế là tự nhiên, chàng ngư phủ trông thấy trên bãi cát, trước mặt anh, cái bóng của anh chạy dài như trước.

Gã Linh hồn bèn bảo anh:

- "Ta đi đi thôi, đi mau, không nên đứng lâu ở đây làm gì, vì các Thủy thần thường hay có tính ghen tị".

Gã nói xong, hình và bóng cùng nhau dưới ánh trăng trong rong ruổi suốt đêm trên lộ đỏ.

Chiều hôm sau, anh tới một đô thị, anh hỏi hồn mình rằng:

- Có phải chỗ này là nơi có cô thiếu nữ nhảy múa đây không?

- Không phải, nhưng mặc dù, ta cứ vào.

Anh ngư phủ đặt chân vào cái đô thị thứ nhất. Đi ngang qua một hiệu kim hoàn, anh trông thấy có bày một cái cúp "giải thưởng" bằng bạc rất đẹp.

Gã linh hồn bảo anh:

- _ "Lấy cái cúp kia và giấu đi!"

Anh ngư phủ mắt trước, mắt sau, vớ lấy cái cúp và giấu vào vạt áo. Xong, anh vội vàng đi ra khỏi đô thị đó.

Đi được vài dặm đường, anh dừng lại, chau mày, lấy cái cúp ra, quăng đi và bảo Linh hồn rằng:

- "Sao mi bảo ta lấy cái cúp này và giấu đi để làm gì? Đi làm cái việc đó thật là hèn mạt!

Gã Linh hồn chỉ đáp:

- "Thôi, anh hãy im đi! Đừng có nhiều lời, vô ích!"

Tới ngày hôm sau, cũng vào buổi chiều, họ lại đến một đô thị khác, anh ngư phủ lại hỏi:

- "Có phải chỗ này là nơi mà cô thiếu nữ đã nhẩy múa, với đôi chân nhỏ bé, uyển chuyển đây không?

- Không phải, nhưng thôi kệ, ta cứ vào.

Đang đi, bỗng anh trông thấy một thằng nhỏ đứng chơi cạnh một vại chứa nước. Gã Linh hồn bảo anh ngư phủ:

- Đập cho thằng nhỏ một bạt tai!

Tức thì anh chạy ngay lại bên thằng nhỏ, giáng cho nó một cái tát tai nên thân. Thằng nhỏ vừa sợ vừa bị đau, khóc rầm lên.

Anh ngư phủ vội vã ra khỏi nơi đó. Đi được vài dặm đường, anh dừng lại, chau mày, bảo với Linh hồn rằng:

- Tại sao mi lại bảo ta đánh đứa nhỏ? Thật là một việc tàn ác!

Gã Linh hồn chỉ đáp lại:

- Thôi anh im đi! Đừng có nhiều lời vô ích!

Sang ngày thứ ba, anh đến một đô thị khác, anh ngư phủ lại hỏi:

- Có phải chỗ này là nơi mà cô thiếu nữ xinh đẹp đã nhẩy múa với đôi chân ngà ngọc đây không?

- Có lẽ phải đây rồi!

Anh ngư phủ rẽ vào. Nhưng đi mãi, anh không tìm thấy cái quán có khiêu vũ đâu cả. Sau, anh phải tới một chỗ ở gần chợ và ngồi nghỉ ở đấy. Một lúc, có người lái buôn đi qua, trông thấy anh ta bèn lại hỏi:

- Anh ở đâu? Và ngồi đây làm gì?

- Thưa, tôi đi tìm một cái quán ở đây mà không thấy. Tôi lại không có bạn bè hay người quen kẻ thuộc nào để xin trọ cả!

Người lái buôn đáp:

- "Tứ hải giai huynh đệ" mà. Đức Thượng đế đã chẳng cùng sinh ra ta cả hay sao? Anh đi với tôi, và nghỉ ở nhà tôi đêm nay.

Chàng ngư phủ bèn đứng dậy và đi theo người lái buôn về nhà. Tới nơi, người ta đem nước ra cho anh rửa tay, bổ dưa cho anh ta giải khát, và dọn thức ăn thịnh soạn cho anh ta ăn. Rồi người lái buôn đưa anh ta đến phòng riêng, để anh nằm nghỉ.

Vào độ ba giờ sáng, gã Linh hồn đánh thức chàng ngư phủ dậy và bảo:

- Dậy đi! Lại chỗ phòng người lái buôn ngủ, giết ổng đi và cướp lấy vàng!

Anh ngư phủ trở dậy, ra chỗ người chủ nhà nằm. Anh trông thấy một thanh kiếm để cạnh một cái khay trên có mấy túi vàng. Anh cầm lấy thanh kiếm. Bỗng người lái buôn thấy động, ngồi nhỏm dậy. Ông ta nói:

- Sao anh lại lấy oán trả ân tôi như thế? Tôi tử tế với anh bao nhiêu, mà bây giờ anh định giết tôi à?

Gã Linh hồn bèn dục:

- Đập chết ổng đi!

Thế là anh ngư phủ rút mạnh thanh kiếm ra và hạ sát luôn người lái buôn. Giết xong ông chủ nhà, chàng ngư phủ vớ lấy những túi vàng ở cạnh đó rồi vội vã đi thẳng.

Đi được mấy dặm đường, anh ngư phủ thấy buồn bực, bảo gã Linh hồn rằng:

- Sao mi lại xui ta giết người lái buôn để cướp vàng của ổng? Chính mi là quân gian ác!

Gã Linh hồn đáp:

- Cái hôm anh đuổi tôi đi, anh không cho tôi cái Tâm để mang theo, thành ra tôi thích cái gì thì làm cái đó, chứ không suy đi tính lại hay phân biệt phải trái gì hết!

Nghe thấy thế, chàng ngư phủ kinh sợ, nói:

- Thôi, mi là đồ khốn rồi! Mi hại ta! Mi tìm cách làm cho ta quên người yêu của ta, và còn dẫn ta vào con đường tội lỗi! Nhưng từ nay mi bảo gì, ta cũng không nghe nữa! Ta lại tống cổ mi đi như trước kia.

Gã Linh hồn bèn cười và nói:

- Phép mầu nhiệm của nàng phù thủy không giúp ích cho anh được nữa đâu. Một khi người ta vứt bỏ Linh hồn mình đi, để rồi lại gọi về, thì Linh hồn đó, sau khi đã đổi thái độ, sẽ không rời mình ra nữa.

Anh ngư phủ nghe xong, ngồi xuống đất khóc thảm thiết, vì anh nhận ra rằng, không bao giờ anh rời khỏi cái Linh hồn độc ác kia.

Sau, anh đứng dậy và bảo gã Linh hồn rằng:

- Ta sẽ trói tay ta lại, để không hành động theo ý của mi. Ta sẽ mím chặt môi ta lại, để không nói những lời mà mi thúc dục. Ta sẽ trở về thủy phủ với người yêu của ta.

Gã Linh hồn đáp:

- Ở trên đời, thiếu gì người đẹp? Còn đẹp bằng vạn người cá của anh kia, anh ạ. Anh cứ đi với tôi, tôi sẽ đưa anh đến chỗ người tiên.

Chàng ngư phủ không trả lời, và quay trở về lối cũ. Lúc đi đường, gã Linh hồn dỗ ngon dỗ ngọt thế nào, anh ta cũng không nghe theo.

Khi tới bờ biển, anh ta bèn cởi dây trói ở tay ra, và gọi nữ Thần. Nhưng suốt cả một ngày ròng, anh ta gọi thế nào cũng không thấy nàng ngư nhân lên!

Anh bèn đi lấy cành cây để làm chỗ trú, và cứ ở lì đấy ròng rã một năm trường. Cứ mỗi buổi sáng, anh ta lại ra bờ biển và gọi nữ Thần, nhưng không thấy nàng lên nữa! Sau, anh ta lang thang đi khắp đó đây để tìm kiếm. Hết ra bể lại vào ngòi, hết sông đến rạch... Đi tới đâu anh ta cũng kêu, cũng gọi tên ngư nhân thần nữ. Trong khi ấy thì gã Linh hồn tìm hết cách để dụ hoặc anh. Gã xúi dục anh làm những việc vô nhân đạo. Nhưng anh không xiêu lòng. Anh không thiết gì cả, chỉ quyết tâm đi tìm cho thấy người yêu.

Cuối năm ấy, gã Linh hồn bảo anh:

- Tôi không cám dỗ anh lâu nữa. Nhưng tôi xin anh cho tôi vào ở trong Tim anh, để lại được cùng sống với anh như trước.

Chàng ngư phủ chán nản, đáp:

- Được, ta chấp nhận lời yêu cầu của mi.

Gã Linh hồn bèn cố đột nhập vào tim của chàng nhưng không sao vào được. Gã kêu to lên:

- Trời ơi, không còn chỗ nào mà lọt vào cho nổi nữa! Tim anh đầy ắp những tình yêu!

Chàng nói:

- Nếu ta có thể giúp được mi, thì ta cũng giúp...

Anh ta vừa nói xong, thì bỗng nghe thấy một tiếng kêu não nuột ở đáy bể đưa lên. Đó là tiếng hấp hối của ngư nhân Thần nữ! Anh vội đứng lên và chạy ra bờ biển. Anh trông thấy những làn sóng đen táp vào bờ... Trong những làn sóng đen ấy, lại có từng đám trắng như bạc, cứ cuồn cuộn chạy đến bám vào hai chân của anh. Anh nhìn xuống thì nhận ra đó là những mảnh thân của nàng ngư nhân. Nữ Thần đã tan rã!

Chàng ngư phủ khóc thảm thiết, ngồi xuống vớ lấy những mảnh xác của người yêu mà ôm ấp.

Những làn sóng đen vẫn cuồn cuộn tiến vào gần. Rồi từ đáy biển, nơi thủy phủ, lại vang lên một tiếng dữ dội, sầu thảm, kinh thiên động địa! Có lẽ đó là Vua cha thương con mà cũng băng hà!

Gã Linh hồn bèn khuyên anh ngư phủ nên rời bỏ chỗ này mà đi xa tìm nơi yên tĩnh hơn, nhưng anh không nghe, anh liều sống chết ở đây!

Nước bể cứ dâng, sóng bể cứ rồn rập, và anh ngư phủ thấy mình dần dần bị chìm dưới nước. Biết mình cũng sắp từ giã cõi đời, anh bèn nâng những mảnh xác của Thần nữ mà anh vẫn ôm ấp trong tay lên hôn một lần chót, bỗng Tim anh vỡ tan tành.

Từ đấy Linh hồn của anh cũng không bao giờ xa anh nữa!

Nước bể vẫn dâng, sóng bể vẫn cuồn cuộn, và chàng ngư phủ kia vẫn ngồi chịu để cho sóng dập, nước vùi...


OSCAR WILDE         
(Bản dịch của Thục Đức)   

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 182, ra ngày 1-8-1972)


Thứ Năm, 17 tháng 8, 2023

Trầm Lặng

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Đường em đi mỗi sớm nắng mai hồng
Con chim nhỏ cất cao lời tình tự
Em đánh thức hạt sương còn say ngủ
Vạt áo đi quấn quít gót chân êm

Hồn tôi run mỗi lúc dáng ngoan hiền
Em thấp thoáng bên đường cây xanh lá
Sách vẫn mở nhưng hồn quanh theo gió
Ngó theo em từng chút một dại khờ

Em vẫn buồn như những phút tôi mơ
Đường bỗng ngắn khi em vừa rẽ lối
Em đi qua những sáng trời mở hội
Tôi bâng khuâng bên cửa sổ học bài

Dáng em hiền từng nhịp guốc khoan thai
Còn êm ái về đầy trang công thức
Em không qua những sáng trời chúa nhật
Mẹ khẽ buồn "con trai mẹ kém vui"
 
Quên rộn ràng chào buổi sáng thứ hai
Nghe chim hót reo vui ngoài khung cửa

Còn lại qua như vạn lần nhung nhớ
Tôi quên hoài cho sách vở buồn tênh
Đường em đi mỗi sáng nắng mai hồng
Tôi vẫn đợi như bao lần đã đợi
 
                                                 THỤY ĐỖ
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 8, ra ngày 20-8-1971)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>