Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019

Anh Tôi


Tặng anh Dũng nơi phương trời Úc 
và các bạn gái có anh trai.
NGUYỄN THỊ NHA TRANG

Chẳng hiểu quí vị bạn gái khác thì sao chứ riêng tôi thì tôi thích có anh trai nhất... chị gái thì tôi xin lạy chả dám mong... Mà cũng may, tôi sinh ra trong một gia đình có 7 người con: 5 trai 2 gái, anh tôi rồi đến tôi là gái, kế tiếp là tứ quỉ, sau cùng là 1 công chúa nhõng nhẽo thượng thặng. Quí vị nghĩ xem, tôi đâu có bé hơn anh tôi là mấy, có 730 ngày chứ bao nhiêu... e rằng hổng đến... ấy thế mà tôi luôn giở giọng... còn hơi sữa: "Ghét anh Dũng quá, ơi! Hổng chịu làm hộ em bài toán gì hết á! Bài toán gì mà khó quá hà! Nghĩ nhức cái đầu quá đi! Anh Dũng chả giống anh của Xuân Nga tí nào cả. Xuân Nga mà nhờ anh nó cái gì hả? Là được liền à, cần tiền là có tiền, cần sửa chữa giúp đỡ điều gì là được ngay... có thế mới là anh em chứ... mà Xuân Nga lại có chị mà vẫn được anh chiều chuộng... Còn em, em hổng có chị, chỉ có độc nhất mỗi ông anh quí hóa là anh Dũng mà anh..."

- "Thôi thôi cho anh xin!... Đâu? Bài toán đâu? Đưa đây! Người ta bận làm bài mà cũng không để yên... Suy nghĩ một tí là kêu nhức đầu! "Đồ bò rún"! Thế mà cũng đòi theo ban B!"


Đấy đấy! Dư âm lời nói của anh tôi ngày nào tôi còn theo học lớp Chín đấy! Luôn luôn kèm theo câu "Đồ bò rún! Thế mà cũng đòi theo ban B" và vài ba cái "cốc" thật đau mỗi khi ông giảng toán cho tôi. "Đồ bò rún" là gì tôi không biết chỉ mang máng hiểu rằng "giống ấy" ngu lắm, ngu đến nỗi mỗi lần giải toán cho tôi là mỗi lần anh tôi phải đau lòng ban phát mỹ từ ấy cho cô em gái quá ngu như tôi... Không thể còn danh từ gì thích hợp hơn với khối óc quá ư đần độn và chậm hiểu của tôi (tôi tự nhủ thế)... nên tôi rất lấy làm bằng lòng và thích thú mỗi khi nghe ông anh quí gắt ầm lên câu ấy! Mà còn "cốc" đầu tôi nữa chứ! Thế mà tôi cứ tỉnh bơ ra... Khoái ông anh "cốc" đầu nữa là khác... Vì rằng tiếp theo "màn u đầu" ấy là tôi được hấp thụ một "tinh hoa văn hóa... toán" rất ư là ích lợi cho khối óc thiển cận của tôi. Thật ra tôi không đến đỗi khổ sở về môn toán... Bởi rằng trong lớp chẳng mấy khi tôi nhức đầu vì chẳng giải ra toán. Thế mới kỳ quí vị ạ! Toán ở trường giáo sư cho, tôi đều giải được... nhưng về nhà làm thêm ở các sách toán của ông anh quí thì y như rằng mười bài hết năm bài tôi không có làm ra. Trách sao ông í chả mắng là "Đồ bò rún" chứ! Điều lạ nữa là ông anh tôi giỏi toán quá đi... giải nhanh như sao... xẹt, lại đúng phong phóc nữa... Giỏi thật là giỏi, hơn tôi xa, xa cứ y như mặt trời với mặt trăng, thiên đàng với địa ngục í!! (nhưng chỉ giỏi với tôi thôi nhá! Với người khác thì tôi xin chịu chả dám bảo đảm, dù rằng nhìn lên chả ai hơn ảnh (?) mà nhìn xuống thì cũng chẳng ai bằng) mà anh tôi lại theo ban A các bạn ạ! Hổng hiểu lúc chọn ban, anh ấy đã nghĩ sao... A! Phải rồi! Ông anh tôi đã bị thiên hạ hù: "Toán đệ nhất vừa nhiều, vừa khó, học nhức cái đầu" Hì! Hì! Gẫm cho kỹ con người chẳng ai toàn thiện, toàn mỹ cả. Anh tôi hơn hẳn tôi về toán thì tôi, tôi lại hơn hẳn anh ấy về lòng can đảm, tính nghị lực và cương quyết (tôi chả dám khoe mình thế đâu ạ! Chỉ xin thưa rằng "hơn hẳn anh tôi" thế thôi... Chứ với quí vị, hì hì! Hẳn tôi đây có phen phải xin thọ giáo mất) tôi dám thử thách... dù phải đón nhận thất bại. Một triết gia, một văn hào hay một danh nhân nào đó đã nói: "Điều xấu hổ không phải là thất bại mà là vì không dám thử thách"... và tôi, tôi đã áp dụng câu ấy... Sau nhiều lần suy nghĩ... tôi đã chọn ban B. Chẳng hiểu tương lai ở bậc 12B tôi phải đón nhận những gì về toán. Sự thật có khó như bao người vẫn thở than không? Tôi chỉ biết hiện tại ở lớp 10B tôi không ân hận... và thiết nghĩ tại sao người ta có thể đoạt được bằng Cử nhân, Tiến sĩ Toán Lý hóa trong ngành khoa học... mà mình lại đi sợ lớp 12B hay sao? Lòng tin tưởng là bước đầu và cũng là nguyên nhân của sự thành công... nó đã khiến tôi mạnh tiến bước vào ban B... Với nụ cười nửa đùa nửa thật của ông anh quí. Sự thật thì chẳng mấy khi anh tôi khó dễ khi giải toán cho tôi đâu, trái lại là đằng khác, tôi nhờ gì là được nấy! Nào là cả ngày ông í đi học (trường kiểu mẫu mấy năm về trước) tối về tôi làm nũng bắt anh phải chia thời khóa biểu kèm thêm cho cô em gái quí là tôi, về Anh văn và toán. Tội nghiệp, đi học cả ngày tối về mệt chưa được xem bài vở nhà trường là anh ấy đã bị tôi à L' assaut lại bắt kèm Anh văn và Toán... có hôm đến 10, 11 giờ mới buông tha... để anh đi xem bài đến gần 1 giờ sáng mới mơ màng giấc điệp. Thế là tôi đã hành hạ tấm thân ngoài 1th65 nặng gần 45 kí của anh tôi được trên 4 năm trung học... cho đến giữa tháng mười bảy hai anh tôi đã giã từ cả nhà... nhất là sung sướng thoát được cô em làm nũng như tôi để theo chiếc Boeing 7... bảy trăm mấy tôi cũng chả rõ đến miền Sydney học bảy năm trời về kỹ sư dầu hỏa (The Fuel Engineering). Giờ đây toán kia dẫu khó đến đâu... Có muốn lươi huyền nhờ ông anh suy nghĩ hộ tôi cũng chẳng còn có anh bên cạnh để hưởng dư âm "Đồ bò rún! Thế mà cũng đòi theo ban B" với những cái "cốc" thật đau nhưng cũng thật đậm đà tình thương em. Nhất là những lần tôi "kẹt địa" muốn mua sách... mà chẳng còn tiền thì cứ nheo nhéo: "Anh Dũng!! Quyển Văn Minh tây phương, quyển tự điển Hán Việt, mấy quyển danh nhân tự điển v.v... hay ghê... mà em hổng còn tiền anh Dũng ơi! Mua đi anh Dũng! Sách hay ngàn năm một thuở bỏ uổng ghê, mua kẻo hết anh Dũng ạ!... Anh Dũng bận... thì cứ đưa tiền cho em, hôm nào rảnh em, Nhàn và Thu Hương sẽ lên Saigon mua về nha, nha anh Dũng!!" hay là "... anh Dũng thích ăn bánh không... đưa tiền đây em ra chợ mua bột về làm cho ăn, ngon số dzách!... Em gái anh mà! Há! Anh Dũng bằng lòng há! Tiền anh Dũng để trong ví ở túi quần phải không? Để em lấy nha! Anh Dũng cứ ngồi yên đấy học đi, để em lấy cũng được... yên chí, bảo đảm nửa tiếng nữa sẽ có bánh ăn" và không đợi anh tôi chấp thuận hay không tôi ba chân bốn cẳng chạy... cho khuất mắt ông anh... để ông ấy chỉ còn nước nhìn theo lắc đầu và thở dài mà thôi. "Anh Dũng ơi! Sao bài vở em xem hoài mà nó hổng vô đầu vô óc gì hết vậy... cứ quên hoài hè! Thôi anh Dũng đặt câu hỏi hỏi bài vở em đi! Hỏi thật nhiều đó nha! Càng khó, càng chi tiết càng tốt... để em có nhớ, em thi ĐVĐH mới dễ dàng chứ!... và có thế anh Dũng mới luôn có sách em lãnh thưởng để học chứ phải không?" Lời ngọt chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng anh... là tâm nguyện của tôi... để dễ dàng "dụ khị" ông anh quá thương em nhưng cũng rất là nghiêm khắc! Chao ôi! Nói đến vấn đề nghiêm khắc, thì khỏi chê... Anh tôi đứng vào hạng "gộc". Thương em cũng lắm mà áp dụng kỷ luật "sắt" để lũ em đừng giỡn mặt cũng chẳng vừa! Chả thế mà kém anh chẳng quá 2 niên kỷ tôi đây vẫn một mực là cô em bé nhỏ, ngoan hiền, nể phục anh số một... và vì thế bao giờ bảo tôi điều gì một hai anh ấy cũng bắt đầu bằng hai chữ "nhỏ Trang". Nào... "Ê! Nhỏ Trang đi pha cho anh ly nước chanh coi" (hì hì! Phần này để xét lại hình như tôi là chuyên viên "nhờ" anh đi pha nước cho tôi hơn là anh "nhờ" tôi thì phải) nào là: "Ê! Nhỏ Trang đơm lại hộ anh cái nút coi!" hay "Ê! Nhỏ Trang rỗi không? Ủi hộ anh cái áo coi!" v.v...

Bao giờ cũng thế "nhỏ Trang" là "nhỏ Trang"... Nhưng hổng sao, tôi thích thế, muôn đời tôi vẫn thích là cô em bé bỏng, luôn được ấp ủ dưới tình thương và sự che chở của anh tôi. Chứ chị gái ư? Tôi ghét... ơ không, tôi sợ lắm mới đúng chứ? Chị gái đối với em trai theo tôi nghĩ chắc cũng hổng bằng phân nửa cách đối xử của người anh đối với một cô em gái.

Sở dĩ tôi dám tuyên bố càn như vậy là vì tôi trông vào gương chính tôi. Chính tôi đã là chị gái và các em của tôi đã chẳng sung sướng gì. Mỗi lần chúng đem bài đến hỏi:

- "Chị Trang, bài toán này sao kỳ quá chị Trang? Em làm hoài không ra, làm hộ em coi"

- À Thịnh (Cường hay Thảo, Hà gì đó) lại nhờ anh Dũng đi! Chị Trang đang bận làm giảng văn nhức cả đầu đây nè thấy không? Để khi khác nha!"

Khi tâm hồn tôi thật dịu, tinh thần tôi thật sảng khoái thì thế đó!! Bằng trái lại, đương khi nghĩ toán không ra, hay đang đọc đến đoạn khó hiểu thì một màn gắt gỏng xảy ra:

- "Dẹp! Không hiểu thì phải tìm cho hiểu ; làm biếng, không chịu suy nghĩ hở một tí là hỏi, hở một tí là làm giùm. Đi ra chỗ khác cho chị làm bài" hay:

- "Ơ cái thằng này mới hay! Chị Trang sinh ngữ chính là Pháp mà hỏi chị Trang tiếng Anh chữ đó đọc làm sao?... thì sao bảo đảm được? Lại hỏi anh Dũng đi! Nếu không mở tự điển mà học. Chị Trang anh Dũng vẫn học thế... Có hỏi ai bao giờ đâu.

Đã thế lúc đang học bài, tôi vẫn động viên tụi chúng thường xuyên:

- "Thịnh ơi! Pha chị Trang ly nước chanh đi! Chị Trang thương"

- "Thịnh ơi! Rót chị Trang ly nước đá lạnh. Lạnh thật lạnh nha! Khát quá! Khát quá!"

- "Thịnh, Thảo, Hà ơi! Đứa nào ở ngoài buồng khách đó? Lấy hộ chị Trang quyển Larousse (hay một cuốn gì đó)"

- Hà ơi! Nhà dơ quá cô bé à! Lấy chổi quét đi cưng, để nhà dơ, ai vào cười chết"

- "Thịnh, Thảo, Hà đâu xuống đây. Chị Trang rửa chén, mấy cậu mấy cô tráng chén nha! Cho mau xong chị Trang còn làm bánh cho ăn nữa chứ!"

Hay những khi tôi đang làm bánh, đang nhào bột, hoặc vắt nước dừa thì:

- "Thịnh đâu, lấy cho chị Trang 1 cái tô nữa coi!"

- "Hà! Lên nhà lấy cho chị Trang cái đĩa lớn thật lớn ấy nha! Cái đĩa mẫu có bông hồng đó!"

- "Thảo! Châm bếp hộ chị Trang đi!... Rồi Thịnh đặt lò nướng bánh lên... để chị Trang nắn xong mấy cái bánh thì nướng là vừa"


Tôi thế đấy, là chị mà cứ chuyên nhờ vả anh và em... mà trái lại chẳng mấy khi giúp ích cho họ... ngoài vấn đề làm bánh kẹo hay mứt. Mà cứ làm bánh kẹo là mỗi lần tôi được dịp "chỉ huy" và nhờ vả bọn con trai trong nhà loạn cả lên! Giờ phút ấy sao mà khoan khoái thế!

Hơn nữa là chị gái mà tôi chả bao giờ ngồi kể lể hay nghe lũ em ngồi tâm sự về những vấn đề tại học đường của tôi hay của chúng. Trái lại với anh tôi thì tôi nói mạnh lắm! Hễ đang ngồi học nghĩ gì đến lũ bạn ở trường hồi sáng, lúc chiều là tôi kể một mạch cho anh nghe. Thế là 2 anh em trao đổi "văn hóa.. học đường và xã hội"... Một lúc, ra chiều tương đắc, hai cái miệng: một của anh tôi, một của tôi thi nhau nổ ròn như bắp rang... Quên cả thời gian cứ vụt nhanh như bóng câu qua cửa sổ.

Những giờ phút đó sao thích thú thế, miệng tôi luôn cười, luôn nói, mắt tôi như sáng lên (chừng thế!!) mỗi khi nghe anh Dũng kể điều chi lạ hay mỗi khi tôi phải tranh luận cùng anh 1 vấn đề gì.

Nhưng đối với các em, thì tôi lại khác. Chúng khao khát:

- "Chị Trang kể em nghe chuyện ở trường chị Trang đi".

- "Có chuyện gì đâu mà kể! Thôi Hà đi học đi!"

- "Chị Trang dối em, bữa nào chị Trang cũng kể cho anh Dũng nghe hết hà! Hay ghê! Em nghe thích ghê! Mà chị Trang chẳng kể em nghe gì hết à!"

Đó là lời của Công chúa nhõng nhẽo Hải Hà. Mà thật vậy, việc gì ở trường hay bất cứ ở đâu về nhà tối đến hay trưa ăn cơm là tôi kể vanh vách cho anh Dũng nghe tất cả. Ngay cả thư từ bạn tôi, hay các cô em "kết nghĩa" của tôi gởi về tôi hàng chục lá cũng thế... bao giờ xem xong thấy thư nào giọng văn ngồ ngộ, vui vui tôi đều "mời" anh "ghé mắt" xem sao.

Nhưng ngày nay tất cả chỉ còn là kỷ niệm, anh tôi đã lên đường du học. Bảy năm nữa ngày anh trở về, kỷ niệm ấy biết có còn sống lại chăng? Hay bấy giờ chỉ là hồi tưởng? Bởi biết đâu, vài năm nữa tôi cũng sẽ như anh, sẽ bay bổng đến một chân trời nào xa lạ, như anh hiện thời.

Ngày anh trở về biết có tôi đứng đón ở phi trường như khi anh đi, tôi đứng lặng trên hành lang Tân Sơn Nhất mặc cho dòng lệ nghẹn ngào lăn dài trên đôi má thơ ngây... Hay khi trở về thiếu bóng tôi... và đợi một vài năm sau đó... Anh phải lê tấm thân bảy thước ra phi trường đón cô bé mười sáu hôm nào nay đã trưởng thành sau bao năm xa cách... để trả cho tôi những giọt nước mắt khóc ngày anh sung sướng lên đường du học, cách biệt gia đình và tổ quốc thân yêu. Anh Dũng ơi! Dù phải cách xa anh nhiều hơn bảy năm đi nữa... em vẫn mong sự thật là thế đó... để hoài bão em thành và anh Dũng sẽ đền em giọt nước mắt hôm nào em khóc tiễn anh đi, nha anh! Em biết rằng anh cũng thế, luôn muốn em đạt thành dù phải cách xa em thêm, phải không anh? Còn ai hiểu em hơn anh Dũng, và ai hiểu anh Dũng hơn em, vậy hãy cầu nguyện cho em đi, anh Dũng nhá! Cầu nguyện cho em sớm đạt được dự tính lúc bé thơ đi anh Dũng nhá! Người anh đáng kính của em.


Nguyễn thị Nha Trang    
23-3-1973              

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 85, ra ngày 15-4-1973)

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2019

Bươm Bướm


Từ một nàng tiên...

Và, Astar bỗng kinh hoàng thấy mình nhỏ dần, 
nhỏ dần mãi... Đôi tay của nàng đột nhiên biến mất. 
Thay vào đó là một cặp cánh mỏng manh vừa 
thành hình...

Astar là tên một nàng tiên trong đám hầu cận của nữ thần Tình Ái và Sắc Đẹp, Vénus. Nàng trội hẳn hơn các bạn về đủ mọi mặt, Nhan sắc, Đức hạnh và trong cách cư xử với mọi người, nhất nhất Astar đều tỏ ra là một tiên nữ gương mẫu.

Khổ nỗi vì nàng hơn họ nhiều quá, nên thường bị cả đám bạn xấu bụng ghen ghét tị nạnh. Họ luôn tìm cách ngấm ngầm hại nàng, dựng đứng những chuyện động trời để hòng bêu xấu và "hạ giá" nàng trước mặt nữ thần.

Thần Vénus có một cậu quí tử tên Cupidon mà Bà hết lòng thương yêu. Lại là Nữ thần của Tình Ái nên Bà cần được yêu hơn ai hết. Thế nên, không những Vénus giữ độc quyền quí yêu Cupidon thôi, Bà còn muốn Cupidon không được san sẻ tình yêu cho một ai khác không phải là Bà. Vì thế Bà không bao giờ để Cupidon được giáp mặt các tiên nữ của mình ; đàng khác Bà cũng cấm ngặt các cô không được đỏng đảnh lai vãng gần cung Cupidon ở.

Một buổi sáng đẹp trời mùa xuân, Nữ thần Vénus gọi các tiên nữ của mình đến và truyền lệnh: "Các ngươi hãy ra đồng tìm hái hoa tươi rồi kết chuỗi cho ta. Ai kết được một vòng hoa đẹp nhất, có nhiều thứ hoa quí lạ và đem dâng ta sớm, ta sẽ ban cho một phần thưởng xứng đáng."

Thế là các cô hớn hở túa ra đồng tìm hoa. Astar, lần nữa, lại chứng tỏ là một tiên nữ xuất sắc hơn các bạn bội phần: Nàng là người sớm nhất đem một vòng hoa tuyệt đẹp về dâng cho Nữ thần, khiến Bà vô cùng thỏa mãn.

Đám tiên nữ bạn về thấy vậy, lòng ghen tức lại nổi lên. Rồi cả bọn kéo đến tâu với thần Vénus:

- Thưa Nữ thần, Astar sở dĩ có được vòng hoa đẹp lại mau chóng thế vậy là nhờ có hoàng tử Cupidon phụ giúp. Ít lâu nay Astar đã lén lút gặp Hoàng tử thường ngày, và chúng con thấy hình như Hoàng tử đã quyến luyến Astar nhiều rồi đó, thưa Nữ thần...

Chỉ nghe đến đó là vị thần Tình Ái đã nổi lôi đình: "Con này to gan cả mật thực! Dám đi ăn cắp cả Tình yêu của ta!" Và không kịp suy nghĩ bà hét triệu Astar tới.

Astar bỡ ngỡ bước vào. Nàng đứng lặng không dám hé môi trước cặp mắt phừng phừng lửa giận của thần Vénus.

Và, Astar bỗng kinh hoàng thấy mình nhỏ dần, nhỏ dần mãi... Đôi tay của nàng đột nhiên biến mất. Thay vào đó là một cặp cánh mỏng manh vừa thành hình...

Nữ thần Vénus đã phạt Astar hóa thành con Bướm! Nhưng sau đó Vénus đã trang điểm cho đôi cánh bướm những màu sắc lộng lẫy, đẹp như vòng hoa Astar đã dâng mình, để thưởng công cho nàng. (*)

Nếu bạn muốn hiểu theo thần thoại La Mã thì loài Bướm ra đời từ buổi đó. Đến nay thì, nhờ trời, con cháu chút chít của Astar đã lan tràn khắp mặt địa cầu. Ở đâu có một bóng cây, có một ngọn cỏ thì bướm có mặt ở đấy. Từ non một phân chiều ngang đến những cặp cánh dang rộng 30 phân tây, thuộc nhiều loại Bướm ngày, Bướm đêm với đủ hình thể và màu sắc mà không một tay nào ở thế gian pha chế được. Giữa rừng hương sắc lộng lẫy đó, các nhà côn trùng học đã phải bù đầu nhiều năm mới chỉ liệt kê được chừng 125.000 gia phả nhà Bướm. Cũng may giòng giống Astar đều hiền hòa cả, nếu không muốn nói thêm là có ích vì Bướm luôn mang cái ĐẸP đến trang điểm cho thiên nhiên tươi mát quanh ta.

Từ đầu Xuân, Bướm rời các "tổ ấm mùa đông" về đón Xuân giữa trăm hoa. Rồi Bướm tản mát dần để tránh những trận mưa rào nặng hạt mùa hè...


Đời bướm vắn, nhưng nhiều thay đổi.

"Con chạy lại nong dòm kỹ thì thấy nó cựa quậy và lạ quá...

- ...

- Nó đã rụng hết lông đen, và bây giờ nó vàng mướt đẹp lắm.

- Tao đã bảo mà. Nó là tiên, nó lộn kiếp. Biết đâu nó lại sẽ không hóa ra một hoàng tử".

"NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐẺ"
Sách Hồng của Bình Nguyên Lộc

Trên là xen đối thoại giữa một cung nữ, Cẩm Nhung, và Hoàng hậu Ái Mỹ khi cung nữ này khám phá ra sự thay đổi kỳ diệu nơi con tằm sau giấc ngủ "ăn mốt". "Nó" không là hoàng tử hoàng tôn nào cả, sẽ là một giống Bướm nếu nàng Cẩm Nhung nào đó đừng tưởng bở: Nàng đã nhúng chiếc kén vào chảo nước sôi với một hy vọng sẽ "giải thoát cho một hoàng tử đẹp trai khỏi ách đọa đày", rồi nàng sẽ... phỗng tay trên thiên hạ...

Kết quả nàng "chỉ thấy một con bọ dị hợm, chết queo vì phỏng nước sôi! Quả nàng đã "giải thoát" cho một kiếp sống đau khổ, ấy là kiếp tơ tằm.

Để truyền sinh nòi giống, tất nhiên loài Bướm không thể cứ được "hóa phép" một cách đơn giản và ngon lành như trong thần thoại La-mã. Cũng như con cháu Evà, dòng dõi Astar từ khi có mặt ở đời đã phải đương đầu với mọi hiểm nguy để mà tranh sống. Trên đường từ miền nam trở về cố hương vào đầu xuân, Bướm mẹ rải rác "gửi" trứng vào các loại cây riêng, để khi con sâu non thoát ra từ chiếc trứng sẽ vừa có sẵn lộc non của cây để xực. Như những đứa bị bỏ đói lâu ngày, chúng ăn dữ thần, ăn "chẳng thà hư bụng mình hơn là phí của trời cho". Nhưng tuổi này cũng là giai đoạn nguy hiểm nhất cho sự sống còn của loài Bướm. Hiện tại chúng chỉ là những con sâu không hơn không kém. Thân xác không lấy chi làm mỹ miều cho lắm thế mà tên chúng lại đứng đầu trong bảng thực đơn của rất nhiều thứ bợm nhậu. Một bữa điểm tâm cho gia đình vành khuyên hoặc sáo sậu, hay bữa cơm chiều của một chú nhện, cũng là chúng cả!

Sống trong tình trạng nghẹt thở đó từ mười ngày đến hai tuần lễ, sâu lại đã qua một tuổi. Và cuộc sống ẩn dật khởi đầu. Những lộc non ăn vào từ mấy ngày qua, một phần giúp sâu lớn lên, phần khác biến thành một dung dịch nước dẻo có tên là Fibroin, sau này sẽ thành tơ chứa trong hai tuyến riêng biệt ở bụng. Lớn đầy tuổi thì sâu bắt đầu nhả tơ ra qua một tuyến rất nhỏ ở môi dưới, bền cứng lại khi gặp khí trời. Sâu sẽ tự quay mình, tiến, thối để dệt tơ thành một chiếc kén, xong tự nhốt mình trong đó. Màu sáp ong phớt xanh, điểm vàng óng ánh, kén là một tuyệt phẩm của bất kỳ một giống bướm nào. Riêng kén tằm được kéo sợi dệt thành lụa là một sản phẩm rất quí trong ngành dệt của nước ta.


Khi một nhà triết học nằm mơ...

Lòng cụ già rối bời như mớ tơ vò: "Ta vừa mộng hóa Bướm hay chính Bướm đã biến thành cái TA đang ngồi đây?"


Từ đây Sâu đã có thể chắc mẩm về tuổi thọ của mình được. Căn nhà mới có thể chịu đựng nắng mưa bão táp dễ dàng, và nhất là tránh thoát khỏi những cái miệng háu ăn của loài nhện, loài chim. Sâu lộn đầu xuống, và yên trí ngủ vùi...

Nhắc đến ngủ lại chợt nhớ tới câu chuyện Trang Sinh đời Xuân Thu bên Tàu. Trang Sinh cũng ngủ vùi vào một đêm nào đó, được thiếp vào một giấc mộng kể là khá đẹp vậy: Họ Trang mơ thấy mình hóa thành con bướm (trắng) bay bổng nhởn nhơ nhàn hạ giữa ngàn hoa. Bướm "Họ" Trang đi về cái thế giới nào trong mộng thì không biết, nhưng khi tỉnh giấc mơ hoa thì họ Trang thấy rõ ràng là mình đang ngồi trước án thư, đêm vẫn chưa tàn. Có lẽ tiếc vì giấc mộng đẹp, cộng với đức tính trời cho riêng những nhà triết (là hay lẩn thẩn thắc mắc cả những cái lẩm cẩm nhất đời) lòng cụ già họ Trang bèn rối như một mối tơ vò: "Ta vừa mộng hóa Bướm hay chính Bướm đã biến thành cái ta đang ngồi đây???"

Sâu thì không thế. Nếu phải thắc mắc rắc rối như cụ già họ Trang thì Sâu đến phải nổ tung cái đầu nhỏ bé này ra mất! Sâu quên hết sự đời để ngủ một giấc quan trọng. Sâu không ăn, không nhìn, không ngửi nữa. Hơi thở cũng chậm xuống nhiều, và cử động duy nhứt là những cái giựt mình thưa thớt.

Nhưng thân thể sâu vẫn âm thầm biến đổi, những biến đổi lớn lao sau cùng của một đời Bướm, vì sâu sắp thoát xác thành con Bướm, thành "người lớn". Những cặp chân giả sẽ rụng hết, lông mình cũng biến mất, cặp cánh non đang thành hình, Sâu sẽ đắc đạo sau một tuần, 12 ngày hoặc vài tuần khổ tu.

Một cánh Bướm non sẽ cắn kén vươn ra dưới ánh nắng hạ. Cánh Bướm chưa dang rộng được và thân mình có lẽ còn to quá khổ. Ít lâu sau cứng lại, nhựa sống từ mình chuyển qua các mạch máu ra tận đầu cánh... Bướm lớn mau trong khi cánh chớp lia lịa...

Bây giờ Bướm đã sẵn sàng để tung đôi cánh nhung muôn màu, đầu hướng về phương Bắc...


Bướm về miền Nam

Những cuộc di cư vĩ đại, có định kỳ lũ lượt kéo về miền Nam.

Chúng đi tìm tổ ấm.

Non một trăm cây số phía Nam, thành phố Cựu-kim-sơn (Hoa kỳ) tại một vùng tên Pacific Grove có những cây cổ thụ đã biến thành những "biệt thự mùa đông" của hàng ngàn vạn cánh bướm. Từ 60 năm qua những khách trú mùa đông này không hề để trống "nhà" một năm nào cả. Bướm về đó hầu như chỉ để ngủ, và ngủ suốt ba tháng trời (những ngày nắng đẹp, không nhở nhơ thì phí của...). Với những "cây bướm" đặc biệt đó, vùng Pacific Grove đã thu hút được rất đông du khách. Ban đầu họ thường lấy đá liệng vào cây để được nhìn một hoạt cảnh thật ngoạn mục: Cả ngàn cả vạn mảnh màu sắc bay lên tua tủa, lượn lờ quanh cây... Sau, nhà cầm quyền địa phương phải cấm ngặt, có sẵn luật hẳn hoi để giữ một nguồn lợi cho thị dân (thuế nhập thị của du khách phải đóng v.v...). Nếu Bướm cứ bị phá giấc ngủ mãi thì chúng sẽ kéo nhau bỏ đi, du khách còn đến đấy làm chi nữa...

Bướm kết đoàn kéo về Nam từ cuối hạ sang thu. Thế hệ này là con cháu của lớp đã di cư từ mùa thu năm ngoái, vì trên đường về Bắc, Cha mẹ Ông bà nội ngoại của chúng đã chết dần chết mòn sau khi đẻ trứng rải rác dọc đường. Chỉ một số rất ít về tới miền Bắc (Bắc Hoa kỳ, đến biên giới Gia Nã Đại...) để nhìn lại quê hương vào mấy tháng xuân rồi "an giấc" luôn ở quê nhà.

Bây giờ con cháu họ đang trên đường về Nam, từng đàn, từng lũ vào những ngày nắng ấm. Có lớp đã trải qua một đoạn đường dài hơn 3.500 cây số từ Gia Nã Đại xuống tới những "Cây Bướm" ở Pacific Grove thuộc tiểu bang California. Chúng lại ngủ ở đó suốt mùa đông ; và khi xuân đến, rời cây, đẻ trứng trên đường về. Ông bà bướm nào khỏe lắm về tới quê thì đôi cánh đã tơi tả, hương sắc đã phai tàn rồi.

Đến ngày nay có những thắc mắc chưa một nhà côn trùng học nào giải thích được: Làm sao bướm tìm thấy những "Căn nhà mùa đông" cũ của Ông Cha, vì "Các cụ" đã "xanh mồ" trước khi chúng trẩy về Nam? Nhiều tài liệu lại cho biết, trong năm, Bướm đã họp đàn kéo về một phương và đúng vào một mùa nhất định.

Ai, cái gì, đã bảo cho Bướm bay đúng hướng và đúng ngày giờ? Tất cả còn nằm trong bí mật của thiên nhiên rộng lớn quanh ta.

Vậy, bài này cũng hết lý do để mà kéo dài thêm nữa.

------------
(*) Kể theo tài liệu của anh Trọng Đức.


Hà Tĩnh    

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 27, ra ngày 25-4-1965)


Thứ Ba, 2 tháng 4, 2019

Thằng Tư


Trên chiếc xe bus đi từ nhà đến trường, tôi thường gặp nó. Nó luôn luôn đứng chờ xe ở trạm Bàn cờ với điệu bộ trông ngóng, dưới chân, xấp báo của nó luôn luôn được xếp ngay ngắn và để kề cận chân cột thanh sắt.

Nhác trông thấy chiếc xe từ xa, nó vội vã ôm xấp báo, tỏ vẻ nóng nảy. Tiếng còi của bác soát vé nổi lên, chiếc xe bus cồng kềnh to lớn từ từ chậm lại, gầm gừ như thúc dục. Nó thoăn thoắt leo lên, đảo mắt quanh một vòng và đến nép vào trong góc xe, láo liên nhìn hết người này sang người khác như một kẻ phạm tội sợ bị lộ tẩy. Hình ảnh nó trở nên quen thuộc đối với tôi và đã chiếm một chỗ đứng không phải nhỏ trong đời sống của tôi. Lần nào cũng vậy, xe gần đến trạm Bàn Cờ, tôi đều trông ngóng nó, xem nó như một người bạn đường thân thiết, tuy rằng nó đối với tôi không thân gì cho lắm, hẳn nó đối xử như những người khác mà thôi. Tôi có cảm tưởng dại dột, chẳng may nếu vắng nó một hôm, hẳn tôi sẽ buồn lắm, một nỗi buồn vô duyên cớ, và chắc là cả buổi chiều hôm đó, ngồi trong lớp, tôi sẽ chẳng học thêm được gì cả.

Tôi chẳng hiểu sao một thằng bé tầm thường như nó lại gợi sự chú ý của tôi ngay cả lúc đầu, có lẽ tôi căn cứ sự nghèo khổ của nó trên đầu tóc rối bời, trên quần áo rách nát của nó mà người ta có thể lầm tưởng là một miếng giẻ rách nếu nó đừng khoác lên thân người.

Nhưng nó là ai?

Nó là một đứa bé trạc độ chừng mười hai, mười ba tuổi, một lứa tuổi mà người ta cho rằng đầy sung sướng nhất trong cuộc đời. Thế nhưng, đối với nó thì chắc hẳn chẳng sung sướng gì mà trước mặt nó chỉ là một con đường tối đen sâu thăm thẳm. Mỗi lần gặp nó lòng tôi phải bùi ngùi xót thương dùm cho nó: Trước mặt tôi là một thằng bé đen đủi, thân hình bám đầy đất cát, được che đậy bởi một chiếc áo tơi cáu bẩn, được vá víu nhiều chỗ bằng những đường kim vụng về, và chiếc quần đùi cụt ngủn, đen đủi, nhăn nhúm ống cao ống thấp phủ trên đôi chân khẳng khiu với làn da co dúm và sạm nắng.

Tôi thương hại dùm cho nó, tôi muốn kết bạn với nó, nó sẽ là em tôi, tôi sẽ là chị nó. Tôi sẵn sàng che chở bao bọc cho nó, sẽ cố gắng kiếm cho nó một nghề nào thích hợp hơn đối với khả năng và tình trạng sức khỏe của nó. Phải, tôi thương nó ghê lắm, lắm lúc tôi cũng phải ngạc nhiên tự hỏi tại sao lại đi yêu thương một thằng bé nghèo nàn đen đủi như thế trong khi chung quanh tôi có những đứa bé em bạn gái luôn luôn tỏ ra quý mến tôi. Những đứa bé ấy lại sạch sẽ, trông khôi ngô hơn nó nhiều lắm. Chúng thường hay reo hò hớn hở khi thấy tôi đến chơi với chị chúng. Chúng khệ nệ ôm những tờ sách báo nhi đồng cho tôi xem, cho tôi từng viên kẹo một mà chúng có. Chúng chẳng làm tôi phật lòng bao giờ cả thế mà tôi không thương chúng mà lại đi thương một thằng bé vô học, bẩn thỉu, kém chúng xa về mọi mặt.

Tôi thường nuôi ý định có dịp nào sẽ làm quen với nó và sẽ thổ lộ tình cảm của tôi đối với nó. Nhưng khốn nỗi, nó lại không đưa ra... một dịp nào để tôi dễ dàng làm quen với nó cả, thôi thì tôi đành làm quen với nó trước vậy: Tôi nhìn nó với ánh mắt trìu mến, đôi mắt nó dừng lại nhìn tôi, bốn mắt nhìn nhau, nhưng không ai nói câu nào. Tôi hơi đỏ mặt thẹn thùng, cố tạo ra một nụ cười thiện cảm, nhưng nó vẫn im lặng, không nói gì cả.

Nói thật ra thì hẳn là nó phải có một thái độ gì đối với nụ cười thiện cảm mà tôi trao cho nó: nó trừng mắt nhìn tôi. Tôi ngạc nhiên, tủi hờn quay đi nơi khác tránh cặp mắt dữ tợn của nó. Và một lát sau, nó cũng quay đi, nhìn xuống mặt đường đang nhễ nhại dưới ánh nắng mặt trời.

Sau chuyến làm quen thất bại ấy tôi buồn lắm, luôn luôn cố tìm đủ mọi cách để "thuyết phục" nó. Và buổi trưa hôm ấy:

- Cho chị một tờ Dân-đen đi em...

Nó cau mày nhìn tôi, hơi khó chịu nhưng rồi cũng nhanh nhẹn cúi xuống lựa ra tờ báo. Tôi cầm lấy, đưa cho nó tờ 50 bạc. Nó nhìn đăm đăm vào tờ giấy bạc trong giây lát rồi bảo:

- Không có tiền thối.

Tôi mỉm cười:

- Thôi thì cầm lấy, mai thối lại cũng được...

Nó lắc đầu không nhận. Tôi khăng khăng bắt nó phải cầm tờ giấy bạc. Tôi dúi vào tay nó, nó trả ; nhét vào túi áo nó, nó rút ra, quăng trả lại, sừng sộ:

- Đã bảo không lấy mà lại.

Nó nói hơi lớn nên nhiều người tò mò quay lại nhìn. Tôi thẹn chín người:

- Thì cứ cầm lấy, mai trả cũng không sao cơ mà.

Nó ngập ngừng, sau cùng buông một câu để "giải quyết vấn đề":

- Thôi thì... trả báo đây.

Bây giờ thì giận lắm, tôi quăng mạnh tờ báo xuống sàn xe, hầm hầm trở về chỗ ngồi. Nó không phản ứng gì, chỉ lẳng lặng cúi xuống nhặt tờ báo, vuốt lại cho thẳng, rồi đứng đăm chiêu, như không có chuyện gì xảy ra cả. Tôi bắt đầu cảm thấy niềm hối hận đang len vào trong lòng...

Đến một hôm tôi vẫn gặp nó, nhưng khác hơn mọi hôm một điều là tôi cần muốn biết tên nó, thì lại được một thằng bạn nó vô tình tiết lộ cho tôi biết, đó là điềm may đầu tiên đến với tôi.

Hôm đó xe vừa ngừng, nó đã ôm xấp báo nhảy phóc lên. Xe từ từ chuyển bánh thì trong ngõ hẻm gần đấy, một thằng bé chạy ra, nhìn dáo dác, chợt bắt gặp nó qua cửa kính hậu, thằng bé reo lên:

- A Tư, chờ tao chút mậy...

Tư? A, tên nó là Tư, một cái tên bình dân, không cao xa, không kiêu kỳ nhưng đối với tôi sao mà nó hay, nó đẹp lạ.

Thằng bé phóng theo, đu lên thành xe một hồi rồi mới chịu chui vào bằng lối cửa sổ. Thằng bé trạc bằng tuổi nó, trên tay lủng lẳng một hộp đánh giày và "đặc biệt" là quần áo, đầu tóc đều trông "sạch sẽ" tợ như nó cả.

Thằng bé cười hềnh hệch:

- ... thấy tao đu chì không Tư?

Tôi cau mày, khó chịu vì tiếng xưng hô tục tĩu của thằng bé. Tôi cầu mong Thượng đế cho tôi đừng nghe thấy những câu chửi cộc cằn thô lỗ ấy thoát ra từ miệng nó. Và tôi được toại nguyện, suốt trong cuộc đối thoại với thằng bạn, nó không làm tôi thất vọng bao giờ cả...

Câu chuyện cứ thế tiếp diễn, trưa nào tôi cũng gặp nó. Nó thì vẫn thoăn thoắt leo lên nép vào một góc, láo liên... Tôi vẫn thương nó, mến nó, nhưng khổ nỗi với bản tính con gái tôi không thể nào mở miệng ra để thổ lộ tâm tình của tôi đối với nó được. Lắm lúc nghĩ lại tôi giận ghê lắm, tôi tự giận tôi tại sao tôi lại nhát đến thế, tôi tự giận tôi tại sao không biết mở miệng để tôi làm quen với nó, tôi cần nói nhiều với nó lắm kia mà?

Cho đến hôm thứ tư trung tuần tháng trước, tôi ngồi trên xe, chờ đợi nó. Nhưng tôi ngạc nhiên biết bao, nó không còn đứng chờ xe bên thanh cột sắt nữa. Ủa, nó đâu rồi? Trời ơi, Tư đâu rồi? Một nỗi lo sợ âp vào tâm tôi. Trong đầu tôi quay cuồng với bao nhiêu câu hỏi: Nó bệnh chăng? Bị tai nạn chăng? Hay "giải nghệ" rồi chăng? Tôi không thể nào giải đáp được...

Thứ năm... rồi thứ sáu... rồi thứ bảy tôi cũng không gặp nó. Lòng tôi tan nát, chẳng thiết ăn uống chi cả, ra vào cứ thờ thẫn như người mất hồn, khiến ba mẹ tôi, lẫn anh chị em tôi và cả thầy cô, bạn học đều ngạc nhiên vì sự đổi tính nết đột ngột của tôi. Có ai hiểu cho nỗi lòng tôi đâu.

Trưa thứ hai, tôi vẫn xách cặp đi học như thường lệ, nó vẫn bặt vô âm tín, nhưng thế vào là thằng bạn nó. Thằng bé đón xe, xe ngừng "chê" không thèm lên, đến khi xe chạy mới lò dò chạy theo, đu lên, nhảy qua cửa sổ vẫn "gớm" như độ nào. Thằng bé ngoảnh qua ngoảnh lại nhìn tất cả mọi người trong xe, rồi thọc tay vào túi, lôi ra điếu thuốc lá lẻ đã gãy vụn, chậm rãi châm lửa hút, rít một hơi dài rồi cong môi thổi từng gợn khói dật dờ bay. Thằng bé này là đầu mối sau cùng giúp tôi hiểu ra về sự vắng mặt của nó trong mấy ngày nay. Tôi không thể nào thẹn thùng nữa, phải can đảm hỏi cho ra lẽ mới được. Tôi gọi:

- Này em...

Đang mơ màng vì khói thuốc, nghe gọi, thằng bé giật mình:

- Gì?

- Thằng kia đâu rồi? Tôi hỏi.

- Thằng nào?

- Thằng bé bán báo đó.

- Thằng Tư ấy hả?

- Ừ.

- Nó bị "cớm" "tôm" rồi.

Tôi bàng hoàng, chân tay rụng rời, đầu óc hoa lên. Trời ơi, tin được chăng, tôi nghe lầm chăng. Sao? Sao? Nó bị bắt à? Hở? Tư bị bắt sao? Tôi không tin... "Nó bị cớm tôm rồi" câu trả lời của thằng bé như nghìn mũi dao xoáy vào tim tôi. Tôi há hốc miệng, lắp bắp:

- Tư... bị bắt sao?

- Ừa, nó bị "tôm" đầu hôm thứ ba thứ tư gì đó thằng bé thản nhiên trả lời.

- Sao nó bị bắt?

- Nó móc túi.

- Sao nó móc túi?

- Nghe đâu bà già nó mắc bịnh suyễn nặng lắm, nó hổng có tiền chạy thuốc nên tính nước liều đi móc túi, nhưng chưa... rành nghề nên bị "tôm" ngay.

- Bây giờ nó ở đâu?

- Ai mà biết được nà. Nghe thầy Hai làm trong ty cảnh sát ở đầu ngõ thì đâu hồi sáng nay nó "được" xe chở dô trại gì... hóa... hóa ở Thủ Đức á.

- Trại giáo hóa?

- Phải đa.

Tôi hỏi gặng:

- Em có biết nhà nó đâu không?

Không trả lời vội, thằng bé dò hỏi:

- Chị quen nó hả?

Tôi đáp lững lờ:

- Ừa.

- Thú thực chị nghe, tui thề trên đầu cha tui đàng hoàng à, tui hổng biết nhà nó ở đâu hết á. Nhà nó dí tôi ở cùng ngõ nhưng nhà nó xa hơn, vô tuốt miệt trỏng lận, khó đi lắm chị à, bởi vậy tui ngại quá, hổng kịp vô thăm nó thì nó bị bắt rồi.

- Vậy hả?

Rồi tôi im lặng, suốt quãng đường còn lại tôi với thằng bé không ai nói thêm một câu nào. Thằng bé thì mải vui bên ngoài, còn tôi, tôi nghĩ đến nó. Trời ơi, nó bị bắt rồi. Tư ơi, tội nghiệp "em" quá, phải chi "chị" biết "em" sớm hơn thì đâu có nông nỗi nầy ; "em" đâu có phải cùng quẫn mà hành động rồ dại như thế. Tư ơi, bây giờ biết "em" ở đâu, chắc "chị em" mình phải xa nhau vĩnh viễn quá Tư à...

Thương cho nó, tôi lại giận mọi người, tôi giận thằng bạn nó, sao "ngại" làm chi để bây giờ không biết nhà nó ở đâu cả, giận "lão" cảnh sát nào đã không hiểu cho hoàn cảnh đau khổ của nó mà tha cho nó lần đầu...

Từng giọt nước mắt chảy dài trên gò má... Tôi khóc... Khóc thương cho số phận đen bạc của nó...

- Kia cô, đến trạm Thảo-cầm-viên rồi, cô xuống chớ?

Tiếng người soát vé đánh thức tôi khỏi cơn mê sảng, vội vàng lau nhanh đôi hàng lệ, tôi riu ríu bước xuống như kẻ mất hồn... ánh nắng ban trưa làm chói lòa đôi mắt ướt lệ của tôi.

Tiếng guốc tôi vang đều trên vỉa hè... Tôi lầm lũi đi... Con đường Thống Nhất hôm nay sao nắng gắt lạ.


THÙY (Pétrus-Ký)     

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 66, ra ngày 1-4-1967)

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2019

Cái Cốc



Tôi rón rén bước ra khỏi phòng, thận trọng từ bước một tiến lên nhà trên. Buổi trưa thật êm đềm, vắng vẻ cho tôi biết mẹ ba ngủ yên cả rồi. Tôi gật đầu hài lòng với cái không khí này và đi nhẹ nhàng xuống bếp. Nếu là ngày thường thì có lẽ mục đích duy nhất của tôi là tìm món ngon vật lạ để lo lót cho cái bao tử hết xí quách vì đói. Nhưng hôm nay thì khác. Ừ, dĩ nhiên chúa nhật thì phải khác hơn ngày thường chứ, phải không các bạn? Chẳng hạn như với ngày thứ tám của tuần lễ, tôi có thể ngủ trễ hơn thứ hai một tí (các bạn đừng cười nhé, vì đây là một thí dụ cụ thể mà thôi), đi dạo phố được một vòng, và buổi tối không bận bài vở nhiều như sáu hôm kia. Cho nên luôn luôn tôi yêu và ưu đã cho cái ngày thứ tám hết mình. Yêu bằng cách cứ lãi nhãi suốt ngày cái bản "Chủ nhật Xám". Và để ưu đãi, tôi luôn luôn chọn cái ngày quý hóa này mà khởi hành đi chơi. Nhưng thôi, để có dịp nào rảnh rỗi và thuận tiện, tôi sẽ kể về "ngày yêu quý" của tôi nhiều hơn, còn bây giờ thì xin nói tiếp vấn đề chính. Phải! Vấn đề chính hiện tại là tôi đang lắng tai nghe tiếng hai bà chị đang họp nhau tán dóc. Tiếng hai chị quá tốt, vọng lên nhà trên nghe rõ mồn một như cái radio transitor rè rè ở nhà. Tôi mỉm cười liên tưởng đến hai cái phèng la hạng nặng của những dân tộc thiểu số. Chẳng hiểu chị Cúc với chị Mai đào đâu ra khối chuyện thế, ngày nào hai người cũng bàn bạc về giày dép, áo quần, mode nọ, mode kia. Luôn luôn là họ chỉ trích, phê bình các kiểu quần áo của thời đại. Nhưng lần nào cũng thế, hễ bao giờ có một cuộc tổng hợp đả kích xong, không chóng thì chầy, họ đều sắm về dùng thử! Nhiều lúc anh Huy chế nhạo những trường hợp lạ lùng đó, song tôi lại đứng lên biện hộ bằng một tràng, nghe qua thật là ngây thơ vô tội vạ:

- Tại hai chị ấy muốn xem rõ những kiểu đó nó kỳ dị chỗ nào đặng mai mốt bài bác cho dễ chứ bộ! Người ta ghét mà phải mặc thì đó là một hy sinh vô cùng lớn lao. Lẽ ra anh phải bái phục mới phải.

Vừa xong mới biết câu nói bênh vực của tôi đáng được hai chị tặng cho mấy đấm, vì nó có mang tính chất xỏ xiên quá nặng. Đấy đại khái thì gia đình tôi có những mẩu chuyện cỏn con như thế. Có nhiều chuyện còn đặc biệt hơn thế nữa. Chẳng hạn như anh Huy tự nhiên mọc lên một nốt ruồi đen thẫm (chứ chả phải son đâu nhé) ngay khóe miệng mấy tháng nay, khiến gương mặt đĩnh ngộ của anh nay còn tuấn tú hơn xưa nhiều v.v... Mỗi người đều có vẻ đặc biệt cả. Nhưng tôi không dám kể nhiều, sợ các bạn sẽ chê câu chuyện của tôi dài dòng, văn tự quá. Mà thú thật với các bạn, tôi vốn ít nói nên ghét ai bảo mình nhiều chuyện lắm. Ít nói đến nỗi đi đường gặp ai hỏi một câu, tôi cứ đứng ngẩn người ra, không biết trả lời sao cho xuôi. Mặt tôi cứ đỏ dần đến một độ tạm gọi là "gấc chín", thì miệng bắt đầu ấp úng về những chữ cái học từ lớp năm xa xưa "...a...ơ"... nghe mà bắt đơ cả lưỡi. Vì vậy từ họ hàng xa gần đến chòm xóm láng giềng chung quanh đều khen tôi có một cái mồm rất tốt, thế thôi! Và tôi thì cứ mãi đinh ninh mồm mình tốt thật!

Sau khi đi một vòng thám thính tôi bèn trở về hậu cứ. Hậu cứ của tôi là một căn phòng nhỏ kế phòng ba mẹ với anh Huy. Nơi đó anh ấy và thằng Vũ đang ngồi rung đùi chờ đợi. Lúc mới dọn nhà về, mẹ tôi định cho thằng Vũ phòng này để anh em hủ hỉ cho vui. (Hủ hỉ đâu chả thấy, chỉ biết suốt ngày hai ông cứ huỳnh huỵch vật lộn nhau như đô vật). Mà thằng em tôi nó vốn dĩ có dòng máu thỏ đế trong huyết quản. Nên khi vô tình nhìn qua khung cửa sổ thấy cảnh vật vô cùng thơ mộng với hai cái mồ nằm song song nó liền rút lui có trật tự. Để chứng tỏ mình oai hùng hơn nó, tôi vội nhảy ra xin lãnh cái phòng như sợ ai cướp mất. Kết quả bây giờ tôi đã biết đủ chuyện. Biết run rẩy khi nghe tiếng mèo gào ban đêm, biết xách gối chạy vòng vòng mỗi tối qua chị Cúc xin tá túc. Tai hại nhất là tôi đã biết liên tưởng trong trí tưởng tượng. Tôi thấy nghĩa địa với mồ mả lố nhố chứ chả phải hai cái sau nhà trong giấc mơ. Tỉnh dậy tôi chạy có cờ... Tôi lại còn biết nín thở và trùm chăn kín đầu để đếm tiếng ễnh ương kêu giữa đêm. Nhờ vậy, tôi chạy thật mau và phân biệt tiếng loài vật giỏi vô cùng. Cả nhà ai cũng thua tôi hết, kể cả anh Huy. Ấy, ban đêm thì thế đấy, chứ ban ngày đây là một chỗ vô cùng lý tưởng. Xin giới thiệu với các bạn nó rất lý tưởng khi mình làm việc ám muội. Tôi đẩy cửa bước vào đúng lúc anh Huy và thằng Vũ đang quá nóng ruột vì chờ đợi. Nghe tiếng động, anh giật mình quay lại (các bạn đừng ngạc nhiên, có tật giật mình là chuyện thường). Thấy tôi, thằng Vũ hỏi:

- Yên ổn đấy chứ chị?

- Dĩ nhiên!

Các bạn thấy không? Luôn luôn tôi trả lời ngắn và gọn vì ít nói mà lị!

Anh Huy lôi bộ bài giấu dưới nệm giường ra, xào đi, xào lại cẩn thận rồi hỏi:

- Mỗi bận bao nhiêu?

- 10 đồng nha, chị Lan?

Tôi trợn mắt, dẫy người:

- Lớn quá, tao hết tiền rồi.

Vũ trề môi, cất giọng ồm ồm:

- Vậy cũng đòi chơi!

Anh Huy mỉm cười:

- Chứ Lan cho bao nhiêu mới gọi là nhỏ?

- Bao nhiêu chả được. Thí dụ... như... cỡ... hai đồng, phải rồi, hai đồng là vừa.

Bây giờ đến phiên anh Huy dẫy người:

- Ối giời ơi!!!

Sau câu "thí dụ" đó, tôi nghe anh Huy hét lên kinh hoàng vì sợ hãi, khiến cái mụt ruồi trên mép anh cứ hoạt động, chạy tới, chạy lui như tìm đường đào tẩu. Tôi nhíu mày khó chịu vì cứ tức cười nên quay nhìn thằng Vũ cũng vừa lúc nó mở miệng:

- Hai đồng cũng còn nhiều! Tính rẻ ba xu nhé.

Cuối cùng tự cho mình rất có duyên nó bật cười hô hố, môi trên hở ra để lộ hai chiếc răng cửa xem như hai bộ ván, giời ơi! Nó mới trơ trẽn làm sao. Thấy mặt nó dễ thương, tôi la nó:

- Cười! Cười hoài. Tao lấy nùi giẻ nhét miệng mầy bây giờ. Nghe bắt điếc tai.

Rồi chưa kịp xem phản ứng thằng bé, tôi đề nghị:

- Thôi đừng chơi tiền...

Tôi làm ra vẻ lo lắng (kể ra thì cũng đáng lo lắng vì hết tiền rồi):

- Nhỡ lính bắt thì sao? Giờ...

- Ối giời ơi!

Thêm tiếng hét kinh hoàng của anh Huy. Anh này thích hét lạ! Ăn cũng hét! Ngủ nằm mơ cũng hét! Giận cũng hét! Chơi cũng hét! Hét! Hét! Gì cũng hét! Và luôn luôn anh hét: Ối giời ơi! Cứ làm như kính trời lắm vậy, chỉ biết có mỗi một mình Thượng Đế mà thôi. Thật ra, anh là một tay "chọc trời khuấy nước", "bán trời không mời thiên lôi" chứ chả vừa gì! Đúng là gặp đạo đức giả. Tôi còn đang ngẫm nghĩ thì anh tiếp:

- Lính...! Đánh cả trăm lần rồi bây giờ mới nghe Lan nhắc tới lính. Hân hạnh cho các ông ấy nhỉ? Giời ơi! Con Lan nó cũng biết sợ lính nữa, Vũ ạ! Thế mà tao cứ tưởng nó chỉ sợ... ma thôi chứ.

Thằng Vũ vội đem cái triết lý local ba đồng một ký ra giảng giải:

- Chứ sao! Lính có súng bắn ma chạy dài. Chạy như lúc chị Lan xách gối qua phòng chị Cúc ấy. Vậy lính hơn ma một bậc, do đó ta suy ra chị Lan sợ lính hơn ma...

Cái mặt nó nhơn nhơn, hách hách xem dễ ghét lạ lùng. Đã thế ông tướng còn đứng dậy diễn tả hình dáng tôi nữa chứ. Điệu bộ cứ lom khom như con vượn dài tay trong sở thú. Nó chạy quanh phòng, mắt nhớn nhác nhìn quanh. Anh Huy ôm bụng cười ngặt nghẽo. Tôi mà chạy như thế sao? Đít lắc qua lắc lại như con vịt ấy à? Nếu ở đây có đám bạn tinh nghịch của tôi thì chúng sẽ được một phen cười vỡ chợ. Rồi vô lớp sẽ có một màn loan tin tức của một số xướng ngôn viên già mồm, lão khẩu. Chừng ấy tai hại ghê lắm. Tôi vội lính quýnh chạy lại góc phòng nơi có diễn trò khỉ, dắt ông ta về chỗ cũ như sợ có chuyện đó xảy ra thật.

- Vũ ơi, mày làm giống con Lan quá cỡ. Nhất là lúc chạy. Anh có lời khen đó nghen.

- Xạo quá ông ạ! Ông thấy tôi chạy hồi nào mà hô láo vậy? Bữa đó ông ngủ khò, ngáy như sấm động còn biết giời trăng gì nữa.

- Thấy tướng Lan đi anh đã đoán lúc Lan chạy ra thế nào rồi. Chiêm tinh gia mà lị.

Thằng Vũ nghe anh Huy khen một phát, mũi nở to tợ quả cà tô mát, nó vuốt đuôi:

- Em cũng vậy. Mình là hai chiêm tinh gia tí hon phải không anh?

- Ừ! Mà thôi chơi nhanh kẻo hết giờ thì khốn. Trở lại vấn đề kìa, Lan tính sao?

- Mình cốc đầu nhau cho tiện.

Vũ thở dài, giọng áo não:

- Tưởng gì? Chơi cốc đầu thì chán chết.

Anh Huy cười cười:

- Thôi cũng được Vũ ạ! Phen này anh tha hồ cốc nhỏ Lan sưng đầu u một cục, như...

- Cục thuốc tễ!

Thằng Vũ nhanh nhẹn tiếp lời, khiến anh Huy khoái chí cười một trận. Chỉ có mình tôi bị cô lập không có đồng minh.

- Còn lâu à. Có hai người sưng thì có.

- Để coi! Đừng mừng Lan ơi. Mỗi bàn một cốc nha?

- Ờ! Rục tùng phải gấp đôi.

- Chứ gì nữa.

Thế là chúng tôi bắt đầu. Ván đầu anh Huy phát bài vì anh lớn nhất. Ba phe đều nuôi hy vọng được cốc lẫn nhau. Vì thế, không hẹn mà ai cũng hăng hái, đánh thật hăng, thật mạnh. Tôi thì bậm môi, quên tất cả mọi chuyện, chỉ biết mỗi việc "đại sự" mà thôi. Hai ông kia có lẽ chuyện quá khứ, hiện tại, tương lai đều theo khói, theo mây đi chu du khắp thế giới, chả lưu lại một tí ti gì trong đầu óc. Hẳn bây giờ trời có sập rầm rầm hay tận thế đến nơi hai ông (luôn cả tôi) cũng chẳng biết. Đầu óc tôi bị chi phối bởi cái cốc quá nặng, hai người kia chắc cũng ám ảnh chả vừa. Bởi thế khi anh Huy bị thua lá đầu vì tấm tám cơ thì tôi thừa thắng xông lên với một lô tấm nước đỏ. Thằng Vũ ngồi ngẩn tò te vì không có tùng, đành nhìn hai đối thủ kia sát phạt nhau. Gương mặt nó thoạt tím, thoạt xanh, thoạt đỏ như có học pháp thuật. Miệng anh Huy mím chặt, đầu rối bù, áo quần xốc xếch. Trông anh chả khác cốt cô bị lên đồng, chỉ thiếu tấm vải đỏ phủ kín đầu thì thật giống hoàn toàn, giống như đúc. Sau cùng tôi thắng. Trời ơi, lúc này không biết tả sao cho giống hai tướng bại trận. Một ông thì thiểu não lắc đầu, còn ông kia ngồi chết sững trên ghế. Tôi tỉnh bơ đứng dậy:

- Bây giờ xin nhân danh của kẻ được cuộc, xin mời anh Huy đưa đầu cho em "thanh toán".

Có lẽ trong bụng anh rủa tôi dữ lắm, nhưng ngoài mặt giả bộ hiền từ như ông bụt:

- Lan ơi, nỡ nào ký anh cho đành.

Thằng Vũ liền tiếp theo với mớ triết lý xưa rích của nó:

- Mình là anh chị em trong nhà, dĩ nhiên "anh em như thể tay chân" chả lẽ chị dùng tay đánh chân sao? Phải không anh Huy?

Ông kia phụ họa:

- Ờ... Ờ... phải đó.

Nhớ vẻ huênh hoang khoác lác của anh lúc nãy, tôi lạnh lùng:

- Không được. Xem thử coi ai sưng đầu.

- Em khỏi cốc, anh cũng biết mình sưng đầu rồi phải không Vũ?

- Đúng rồi. Vì mình thua mà.

Lúc đó tôi khó xử vô cùng. Trí tôi căng thẳng dữ dội. Một bên là tự ái phải được vuốt ve (mấy thuở được cốc ông anh nhờ lý do chính đáng, ai lại chả khoái tỉ hở các bạn). Một bên là lời năn nỉ ỉ ôi rất dễ thương của hai cụ. Tôi vốn có tánh nhân từ, đức hậu nên hay xiêu lòng lắm, bụng cũng muốn tha. Nhân từ đến độ cả nhà ai cũng tặng cho tôi biệt danh "chằng chúa" thì khỏi phải nói. Thấy tôi hiền lành bác ái quá, mẹ tôi còn định cho tôi đi học nhu đạo để hộ thân (mẹ phòng hờ sợ có ngày người ta đập tôi vì tánh từ bi hiếm có của chằng đó mà), và để hai anh em Huy khỏi "ăn hiếp" tôi. Trong khi tôi còn phân vân thì thằng Vũ bồi thêm một câu:

- Em biết chị từ bi lắm, chỉ phải tánh hơi nóng nên khi ai đụng đến, vì bất đắc dĩ chị phải sỉ vả một tí rồi thôi. Vả lại Phật có dạy "ở hiền gặp lành" nếu chị tha cho em biết đâu tí nữa chẳng gặp may.

Thằng khôn thật, nó chỉ làm bộ xin cho nó thôi. Dĩ nhiên nếu tôi không "ký" nó thì thế nào anh Huy cũng nhăn nhó phân bì. Tuy nhiên tánh dễ cảm động, nhất là nghe thằng em khen đúng tâm lý, tôi chỉ muốn tha ngay. Để thỏa mãn tự ái, tôi bảo:

- Mày với anh kia nói sao tao vui thì tao không cốc.

Thằng bé vội vòng tay lại, có lẽ đây là lần đầu tôi thấy nó cung kính trong đời:

- Dạ! Xin chị Lan chừa em ra. Từ nay em nguyện ăn năn sám hối, chả còn huênh hoang cái mồm nữa.

Phút chốc tôi thấy sung sướng cả người, lòng ngẫm nghĩ: kể ra ta cũng oai chớ bộ. Tôi gật gù, dễ dãi:

- Thôi được! Còn anh Huy?

Anh tôi gãi đầu:

- Chả lẽ Lan bắt anh nói như Vũ sao?

- Chứ gì?

- Tội nghiệp, anh lớn hơn thằng Vũ cơ mà.

Tôi được dịp, nhơn nhơn cái mặt:

- Vậy chứ anh muốn Vũ nó méc các bạn anh là: anh Huy bị chị Lan cốc đầu hay: anh Huy xin lỗi chị Lan.

- Dĩ nhiên chịu xin lỗi hơn.

Tôi càng làm khó dễ, bắt chẹt:

- Sao chưa chịu nói?

Anh mở mồm, thốt từ tiếng như bị ai bóp họng:

- Thôi... anh xin... lỗi Lan... Lúc nãy tại... lỡ lời...

Nếu sự tình xảy ra như thế là tôi lên tiên rồi. Đàng này không các bạn ạ! Trước khi sang ván hai, tôi giao thêm điều kiện mới:

- Lần này không cho xin nhé.

- Rồi! Không được xin.

Tôi còn sợ, phải thêm:

- Ai chạy gọi bằng chó.

- Ừ! Chó tôtô nha!

Tôi lại nhắc:

- Nhất là anh Huy.

Ông anh gân cổ lên:

- Không bao giờ anh hèn thế.

Tôi mỉm cười, được rồi, chuyến này cứ thẳng tay mà trừng trị. Tôi an tâm chia bài với một niềm tin tưởng vô biên. Tôi thầm nghĩ: chắc tại mình hiền nên Phật Như Lai giúp đỡ. Tự nhiên tôi cảm thấy sinh lòng kính mến cái vị bồ tát có từ mấy mươi đời vương nào đó, tôi chỉ biết mặt nhờ bức tượng qua những lần theo mẹ  vào cúng chùa. Tôi thấy Phật hiền quá, từ bi, bác ái quá, hơn hẳn tôi nhiều. Vì Phật thấy tôi đang mong ước được việc thì giúp liền, chứ còn tôi phải đắn đo, phân vân một hồi mới chấp thuận lời cầu xin của hai kẻ sám hối muộn. Và càng nghĩ, tôi càng trọng, càng thương đức Như Lai thêm lên. Trong thâm tâm, tôi tự cho đức Phật đáng được loài người tôn sùng, kính bái nhiều hơn mới phải. Nhưng thật ra, chẳng có Phật nào chiếu cố cho những kẻ đánh bạc hết các bạn ạ! Chỉ có tôi đang cơn cao hứng với việc nọ sọ việc kia thôi. Bởi vì liên tiếp hai lá đầu của ván nhì tôi đều bị hai ông kia đánh bại. Đức tin trong tim tôi giảm dần rồi cuối cùng chả còn gì để đáng nói cả. Cũng may tôi có tùng để chưng. Nỗi lo ngại của tôi càng tăng khi thấy già rô của mình đưa ra bị Vũ cúp. Cái điệu này thì có đường sưng đầu vô phương cứu chữa. Mà quả thật thế, tôi quay sang cầu nguyện Chúa một hồi thì anh Huy thắng. Thằng Vũ tức tối, đấm mông ành ành. Phật, Chúa của tôi đều đi vắng cả, không có trên trời. Tôi ngồi ngẩn ngơ, chả biết đọc kinh ai cho thoát khỏi cái cốc trả thù của anh Huy bây giờ. Anh ta đang khoái chí cười tít mắt lại, mụt ruồi lại được một phen chạy quanh. Trông mặt anh giống đười ươi chính cống. Mà quả chính cống thật, nhất là khi tôi nghe anh ba hoa chích chòe:

- Đó! Thấy anh hay chưa? Bàn trước tại xui. Già rô của Lan mà có gì. Anh chỉ ngại Vũ nó còn bích thôi. Chứ chuồn thì gặp ta rồi!

Rồi như sực tỉnh, anh nhắc nhở:

- Giờ hai bên đưa đầu đây. Lẹ lên còn ván khác. Ai chạy là chó nghen.

Tôi nhỏ nhẹ:

- Lúc nãy Lan tha cho anh đó, giờ cốc nhẹ thôi nha.

- Tha hả? Bắt người ta xin lỗi, yêu sách đủ điều, nhắc làm chi nữa.

Rồi anh thẳng tay giáng xuống đầu tôi một "ký" thật mạnh. Tôi định nghiêng người né mà chẳng kịp. Ngón đòn trả thù quá ư thần tốc và vũ bão.

Đầu tôi đau điếng bởi bàn tay hộ pháp của anh. Tôi nhớ đến lời thằng Vũ: "Ở hiền gặp lành"! Xời ơi! Gặp đạo đức giả chứ ở đó mà gặp lành. Đồ ba xạo. Tôi tức mình quay lại nhìn anh Huy đang cốc thằng Vũ, xẵng giọng:

- Chơi vậy đó hả? Đầu người ta bộ bằng sắt sao?

- Luật lệ giao vậy chứ bộ.

Đang bị dư âm cái cốc làm ê người, lại nghe ông anh quý hóa trả lời ngang ngược, tôi tức như điên. Tôi nhảy chồm tới, không kịp nghĩ suy, cốc vào đầu anh một lượt bốn năm cái:

- Không biết! Hu hu!... Ai biểu anh cốc tôi đau làm chi. Trả mấy cái cốc lúc nãy đây...

Nước mắt tuôn trào, trông tôi lúc này hiền như sư tử cái, tôi định ôm anh cắn mấy cái đỡ giận. Bị dương đông, kích tây đột ngột, anh Huy chống trả không lại, tru tréo lên như con gái:

- Ối giời ơi! Lan dữ quá... Á! A! Đau quá, Vũ ơi... cứu tao...

Nghe tiếng nạn nhân rên siết, thằng Vũ đang méo miệng nhìn sự tình bỗng giật mình tỉnh hồn vừa bị ai hớp (có lẽ tôi) xông vào gỡ tôi ra:

- Được rồi! Chị Lan, có cái cốc mà làm sứt mẻ tình anh em... Phật có dạy "ở hiền gặp..."

Nghe nhắc chuyện xưa, tôi điên tiết quay lại, hét:

- Gặp "đá" phải không?

Và thuận chân, giang thẳng đá vào đít thằng bé cái "bịch" như một cầu thủ rành nghề. Sẵn tay, tôi cầm bộ bài liệng xuống đất văng tung tóe. Anh Huy và thằng Vũ đứng lõ mắt, nghe tôi kể lể một hồi quá sợ bèn hùa nhau hát bài tẩu mã. Tôi liền rượt theo hai người ra khỏi phòng:

- Không biết đâu!... Anh Huy!

Nhưng khi tôi bước qua khỏi cửa thì bóng hai ông tướng biến mất một cách đột ngột, chỉ thấy ba tôi đang cầm roi hầm hầm đứng sẵn. Và tôi được lãnh thêm mấy cái cốc lên đầu về tội... đánh bài lận...


TRẦN THỊ ANH VŨ  

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 174, ra ngày 1-4-1972)

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

Nỗi Nhớ Xuôi Dòng













Khi những chiều hôm lắng bùi ngùi
Cây ôm lá xếp giấc đầy vơi
Hồn theo bầy én bay xa mãi
Nghe hết hồn nhiên mắt trong rồi

Thành cũ đường xanh lá bao ngày
Nửa chừng tóc xõa ở lưng vai
Cho bao nhiêu bướm vời ngơ ngẩn
Mây vẫn vô tình một đời bay

Có những con đường gánh bụi xe
Giam mãi đời nhau mỗi khi về
Hôm nao mưa gió vờ se sẽ
Một chút lời ho gửi nhau nghe

Trong những buổi chiều nắng ngút hơi
Nửa hồn tha thẩn lạc phương trời
Một đời cặp vở trên những ngón
Còn thắm lời ca buổi xanh thời

Con sáo đời ta bỗng ngất ngơ
Thương sợi tóc bung rối hững hờ
Tuần lễ bảy ngày thay nhau tới
Chúa nhật rồi qua giữa cuộc chờ

Dù ngẫu nhiên lá rớt thật thà
Theo kẻ về trong cát bụi xa
Thì vẫn chênh vênh trong mắt nhớ
Xe đạp dừng mau trước hiên nhà

Để mỗi sương về bọc hoàng hôn
Thấm sợi tóc non ướt cây hồn
Cao hơn những nóc nhà chim đậu
Thấy đỉnh cây chiều khói mênh mông

Là mỗi khi trăm chiếc lá xanh
Xếp lại dùm ta ngủ trên cành
Gió có về song chừng rất vội
Đưa loài dơi tối lượn chao lanh

Chút khoảng nhớ riêng mới lên mầu
Giữa trời mây trắng ngất trăng sao
Hồn chim nho nhỏ về lối cũ
Nghe rất mặn dầy ở môi khâu.

                                HẢI YẾN LINH THY

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 173, ra ngày 15-3-1972)

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2019

Một Thời Lưu Luyến


(Cho những chiều ở Hoàng Diệu)

Chiều nghiêng nắng nhạt khi tan học
Áo trắng tung bay ngập cổng trường
Lả lơi bên nón : xanh bờ tóc
Và trong biêng biếc : mắt tơ vương!

Nhởn nhơ, lũ lượt... như đàn bướm
Từng lớp người đi ôi thướt tha
Áo trắng trinh nguyên còn bay lượn
Tuổi học sinh còn đẹp gấm hoa

Bước chân khua nhẹ trên mặt sỏi
Cười nói huyên thuyên tựa hội hè
Đường không cây lá nên trơ trọi
Nhưng áo trắng hiền vẫn ấp e...

Đếm chuỗi thời gian bằng cung nhạc
Êm êm, khe khẽ... thổi qua hồn
Bài thơ mộng mị đem ru hát
Áo trắng hồn nhiên chưa cô đơn

Nghe như tuổi ngọc cao vời vợi
Nếu lỡ mai này gió cuốn đi
Kỷ niệm đôi lần xin nhớ tới
Ta cùng ca lại khúc sầu bi...

                                   TẠ LỆ VÂN

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 31, ra ngày 26-3-1972)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>