Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Phát Giác Bất Ngờ


Lâu quá, không có dịp trò chuyện cùng các bạn, tôi cảm thấy nhơ nhớ thế nào ấy. Moi óc hoài vẫn không thấy nảy ra một câu chuyện gì làm quà sau chuyến đi xa. Tục ngữ ta có câu: "đi xa về nhà nói khoác" nhưng tôi không thích nói khoác. Mình là người trong gia đình Thiếu Nhi, nói khoác nó làm giảm uy tín đoàn thể chúng ta đi. Mà không có chuyện gì nói với nhau thì cũng buồn buồn trong bụng (nói văn chương thì là "bồi hồi tấc dạ" đó nghe quí bạn!)

Thế rồi, đêm qua nhân trăng sáng, chị em tôi bắt ghế ra vườn (cái vườn to hơn chiếc khăn tay một chút chứ không lớn lao chi, nhưng cũng là cái vườn) tán dóc chơi, trong lúc đó, mẹ tôi ngồi trên võng cạnh chúng tôi cứ chốc chốc lại nhắc:

- Nói chuyện hoài, đi đánh răng cho xong đi, kẻo lát nữa lại quên.

Chúng tôi đang vui chuyện nên cứ hẹn lần làm mẹ cáu, mẹ la. Mà mẹ la thì eo ôi, ngán lắm! Tôi cũng tức mình quá: dù gì mình cũng lơn lớn rồi mà tối nào cũng bị nhắc chuyện "đánh răng đi" y như lũ nhỏ lên 10 và chưa kịp thì bị la mắng nhức cả tai. Nào là ăn ở không đúng phép vệ sinh này nọ, nào là lười không đánh răng ngay mỗi tối trước khi đi ngủ thì sẽ bị hư răng, vi trùng làm tổ trong miệng v.v...

Bỗng, trong lúc tức tối đó, tôi sực nhớ ra một người... một người đã lớn mà mà còn ăn ở thua xa chúng tôi. Tôi vùng vằng vùng vằng thầm thôi, chứ vùng vằng ra mặt thì... nguy lắm nghĩ: "Sao mẹ không giỏi la người đó đi coi? Mẹ chỉ bắt ne, bắt nét tụi con thôi. Con nít có thể được đối xử rộng lượng đôi chút chớ..." Tai hại ở chỗ: tôi nghĩ thành tiếng chứ không nghĩ thầm. Mẹ tôi trừng mắt lên:

- Con bảo ai? Mẹ mà sợ đứa nào không dám la rầy khi nó ở dơ?

- Cậu Kh.! Cậu còn ở dơ hơn tụi con nhiều, mà sao mẹ không la coi?

Cậu ở dơ hồi nào? Sao con biết?

- Trời ơi, sao con không biết... Cậu không bao giờ đánh răng buổi tối trước khi đi ngủ, con cho mẹ hay.

(Xin phép bạn, cho tôi mở cái dấu ngoặc giải thích rõ ràng: cậu đây không phải là em ruột mẹ tôi, nhưng cậu là bạn thân của cậu tôi, vì vậy mẹ tôi cũng coi cậu như em bà). Tôi còn nhớ lần đầu cậu gọi điện thoại đến nhà tôi, xưng cậu, kêu chị tôi bằng con rất ngon lành. Chị tôi kể chuyện này cho cả bọn nghe, tụi tôi đều bất bình ra mặt: cái gì? Cái gã thanh niên mặt non choẹt, thấp thua anh Vũ có tới hơn một trăm mi li mét mà dám kêu tụi tôi bằng con, xưng cậu hả? Giỡn hoài! Tụi tôi cũng là hạng chì chớ đâu phải chơi?

Tụi tôi bèn ngầm hẹn nhau, hễ gã ta tới nhà, tụi tôi sẽ hạ nhục chơi, đừng có chòi mòi làm người lớn với tụi này. Chúng tôi còn đang xì xào bàn kế hoạch coi hạ nhục thế nào cho êm thấm thì mẹ tôi đi chợ vừa về.

Mẹ tôi có tính đa nghi, hễ thấy thần dân trong cái quốc gia nhỏ bé da bà cai trị mà tụ họp, trò chuyện là bà để ý liền ý chừng bà sợ tụi tôi âm mưu đảo chánh hay yêu sách chi đây vì vậy bà gạn hỏi hoài, tụi này thì không quen nói dối nên bà biết nguyên do cuộc tụ họp ngay sau khi cởi áo dài. Bà nghiêm mặt nói:

- Tụi con không nên có ý nghĩ đó. Cậu ấy là bạn thân của cậu con, thì các con có bổn phận phải coi như cậu chứ, sao lại...

Nhiều tiếng nhao nhao phản đối:

- Đâu được! Cậu tụi con phải đàng hoàng kia. Cậu gì...

Mẹ tôi gạt ra:

- Đừng có coi mặt mà bắt hình dung. Sao tụi con biết cậu không đàng hoàng? Cậu làm gì không đàng hoàng?

Tụi này bí. Ờ, suy cho cùng thì cậu ấy đã làm gì mà chúng tôi chê không đàng hoàng? chưa có gì hết. Anh Vũ cười đến khục một cái, gân cổ lên:

- Cậu gì trẻ măng, nhỏ xíu.

- Lầm rồi, coi vậy chớ nó hơn ba mươi rồi, con ơi!

- Cậu gì lùn tịt, thua anh Vũ cả tấc...

Minh chen vô bênh vực ý kiến đồng bọn. Mẹ tôi im lặng. À, có vậy chớ. Tụi tôi tuy nhỏ nhưng đến năm đứa, mẹ lớn nhưng một mình. Mãnh hổ nan địch quần hồ, huống chi mẹ tôi đâu phải là mãnh hổ! Đột nhiên, mẹ tôi cười khúc khích. Cái gì vậy? Xưa nay chưa có ai thua trận mà vui bao giờ. Mẹ tôi điềm đạm:

- Tụi con thấy trâu bò nó to lớn ghê, phải không?

- Dạ, con bò thiệt to, con thấy rồi.

Bé út khờ khạo vào tròng quá dễ dàng. Tụi to đầu thì hơi đắn đo chút đỉnh, không vội trả lời câu hỏi. Mẹ đủng đỉnh tiếp:

- Đó, con thấy rồi đó, trâu bò to lớn biết bao nhiêu, mà người ta cứ quất vào mông nó đều đều...

Anh Vũ há miệng ra, nghếch mắt lên chưa hiểu gì hết. Mẹ lại cười:

- Vậy thì, lớn xác chưa hẳn là điều kiện tiên quyết để làm người lớn, hiểu chưa? 

Xấu hổ ghê! Tụi tôi đánh trống lảng:

- Ổng làm nghề gì, hả mẹ?

- Đồng nghiệp của cậu mày đó, nói cho tụi con hay, đừng có khinh thường.


Trời đất ơi! NHÀ GIÁO? Cái ông lùn thua anh Vũ cả tấc, trẻ măng, non choẹt đó mà là nhà giáo? Mà nhà giáo Trung học nữa mới chết người ta chưa? Dám có ngày ông ấy dạy tôi đó nghe! Chết chửa! Thật là đứng trước mặt trời mà không biết chói mắt là gì. Bậy quá sức!

Bắt đầu từ phút đó, tụi tôi hơi gờm gờm con người mà chúng tôi sẽ phải gọi cậu rất là... lễ phép. Mà tụi tôi cứ thắc mắc không hiểu sao cậu tôi, người cao lớn như vậy mà lại kết bạn với một gã trẻ măng như vậy, để làm khổ tụi tôi. Tiếc rằng cậu tôi đổi ra tận ngoài Huế, không làm sao gạn hỏi cho rõ nguyên do.

Thế rồi một bữa kia, cậu Kh. đến. Trông dáng bộ đã thấy... làm sao ấy, chả đứa nào muốn gọi cậu hết, nhưng ngoài cái bộ dạng nhỏ bé, cậu còn mang theo hai quả bưởi to cực đại, một gói giấy kín mít cũng to không kém và nụ cười rất tươi. Cậu bảo chúng tôi:

- Mở cửa cho cậu, lẹ lên! Mẹ đâu?

Bảnh quá ta! Lên giọng quá ta! Tụi tôi cự thầm trong bụng. Cậu điềm nhiên tiếp, không đợi trả lời:

- Tụi con lớn dữ hả! Nè, cậu có đem chuối khô, bưởi vô cho tụi con đó, sướng không? Ưng không? Mẹ đâu?

Cứ sau mỗi câu lại kèm theo hai tiếng "Mẹ đâu?" làm sao ta có thể gây chiến với một kẻ hiếu hòa như thế chớ? Đó, buổi gặp mặt đầu tiên diễn ra như vậy đó và chúng tôi mặc nhiên chấp nhận ông cậu hờ một cách khá vui vẻ, ồn ào.

Hè rồi, trong chuyến đi Đà Lạt, chúng tôi lại gặp cậu. Một bữa, cậu đến nhà trọ chúng tôi vào sáng sớm nói sớm chớ cũng 8 giờ Mẹ tôi vừa đi mua xôi về cho tụi tôi ăn. Mẹ mời cậu nhưng trái với thói quen: hễ gặp mẹ mời gì là cậu ăn ngay, lần này cậu từ chối thẳng thừng:

- Em ăn rồi, thưa chị. Chị với các cháu cứ tự nhiên. Em đến sớm để chở con Hà lên quán cháo vịt đó, chớ sai hẹn, nó lại coi thường ông cậu nhỏ bé thì mệt lắm.

Thế là chúng tôi ăn, cậu ra ban công hút thuốc lá. Rồi cậu chở tôi đi. Tôi ngạc nhiên thấy cậu không chở đến chỗ bán cháo vịt ngay mà chở đến nhà cô T., em họ cậu. Cậu vào đó bảo cô T. bằng giọng kẻ cả y như lần đầu gọi điện thoại cho tụi tôi:

- Này, T., mày giặt ủi mấy bộ quần áo cho anh chưa? Lẹ lên chớ! Anh hết áo quần rồi đó nghe.

- Thôi đi! Cô T. nói Anh cứ đi chơi, diện vô cho cố rồi bắt em giặt ủi hoài. Trời thì mưa dầm.

- Hay! Cái con này, chớ mày là cái gì của tao? Nói coi! Em út gì mà sai... quên, mà nhờ một chút đã la lên như thể là... Con gái mà làm biếng quá đi!

Nói xong, cậu quay sang tôi, cười:

- Con đợi cậu chút nghe! Con!

Không cần tôi trả lời, có vui vẻ hay nhăn nhó đợi, cậu xăm xăm đi vào trong. Tôi đợi đến sốt ruột mới thấy cậu ra. Lần này cậu có vẻ tươi tỉnh hơn và giục tôi lên xe liền. Ngồi sau lưng cậu, tôi hỏi:

- Cậu làm gì nhà trong lâu vậy, cậu?

- À, cậu... đánh răng đó, con à! Phải đánh răng rồi mới ăn cháo vịt chớ.

- Ủa, chớ sáng nay cậu chưa ăn gì hết sao?

- Đâu đã ăn!

- Ủa, vậy sao hồi nãy mẹ mời cậu ăn xôi cậu lại nói dối là ăn rồi?

Lần này cậu "à" to hơn và giải thích:

- Thì còn tại sao nữa: tại cậu chưa đánh răng chớ sao. Chưa đánh răng làm sao ăn. Phải sạch sẽ chớ!

- Hồi hôm cậu quên đánh răng hả?

- Đâu có quên! Sáng mới đánh răng rửa mặt chớ, mà sáng nay lật đật tới...

Thật là cái vòng lẩn quẩn. Nhưng tôi chú ý ở điểm cậu không đánh răng mỗi tối. Như vậy cậu có sạch sẽ thật không? Tôi muốn tiểu di qua loa về sự giữ gìn vệ sinh bộ răng, nhưng lại sợ là vô lễ với cậu, nên thôi. Định bụng sẽ về cho mẹ hay chuyện này một khía cạnh không đàng hoàng của cậu Kh. nhưng sau đó, cháo vịt quá ngon, thịt vịt quá mềm, rồi thì khi về lại mải lo tính toán chuyện đi chơi thác, hôm sau lại bận nghĩ đến chụp hình... rốt cuộc về Sài gòn, tôi quên luôn.

Bây giờ đây, mẹ làm tôi nhớ lại, và tôi kể lại đầu đuôi cho hết cả mọi người nghe. Thành thật mà nói, tôi chỉ muốn nói riêng cho mẹ biết thôi, nhưng tại mẹ làm tôi nổi nóng lên bằng câu này:

- Sao con biết cậu Kh. không vệ sinh? Con cứ có cái tài nói ẩu là nhất...

Đó, tại mẹ phải không, các bạn! Lũ em tôi sau khi nghe hết đầu đuôi liền cười đắc ý:

- Đó, mẹ thấy không! Tụi con đàng hoàng không?

Chị Thu thách mẹ:

- Sao mẹ không la cậu Kh. đi coi! Mẹ dám la không?

- Tao sợ gì! Tao sẽ viết thư cho cậu ấy, bảo nên săn sóc bộ răng. Thật tao không ngờ đó nghe.

Rồi thình lình mẹ tôi quay sang tôi, hỏi:

- Mà con có chắc cậu Kh. không...

- Trời ơi! Con hỏi cậu, cậu trả lời rõ ràng mà!

Sau câu chuyện, chúng tôi bàn nhau coi có nên cất chức cậu đi chăng, bởi vì theo chúng tôi nghĩ cậu như vậy là không được đàng hoàng mấy, phải không các bạn? Nhưng khổ nỗi: số thăm chống đối quá ít, không phải vì lũ này có thể thông cảm dễ dàng chuyện ăn ở kém vệ sinh mà vì đã quen miệng kêu cậu mất rồi.

Và với kinh nghiệm trên, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng: đừng tưởng tất cả người lớn đều hoàn toàn mọi mặt. Đó là một khía cạnh để giới trẻ chúng ta hãnh diện, có phải không quí bạn!

Thôi, thế cũng là có một câu chuyện để làm quà cho các bạn rồi đó, nghe! Các bạn có vui không? Cũng xin các bạn đừng nghi oan là tôi có ý bêu xấu người vắng mặt. Đây là một sự thật mà vô tình tôi tiết lộ đấy thôi.


MINH QUÂN     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 110, ra ngày 5-10-1973)


Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Em Vẫn Là Con Chim Se Sẻ



















Hãy đến khẽ như ngày lên con nắng
Tóc xõa dài như con suối mùa xuân
Tay hờ trên nón lá thoáng ngại ngùng
(Ta thấy lạ cả một vùng mộng tưởng)

Tuổi mười lăm cuộc đời như hoa bướm
Vẽ trong tay một giấc mộng thiên đường
Có nghe gì trong tuổi của yêu thương
Hồn rất đẹp như màu xanh của lá

Hãy cười duyên em đừng làm mặt lạ
Để ta về xem lại kẽ đường tay
Rót vào tim từng giọt nhớ cho đầy
Tiễn sách vở vào quan tài đổ nát

Hãy cho ta qua nhà nghe em hát
Thấy ấm lòng cùng thấy dạng tin yêu
Thấy tơ vương đã kết tụ thật nhiều
Trong khóe mắt trong môi cười tuổi ngọc

Hãy cho ta sáng nào em đi học
Thật hồn nhiên như guốc khẽ gõ vang
Nghe lá cây rơi rụng dấu hoe vàng
Để mơ ước còn thật nhiều mộng ước

Áo trắng mới lụa còn nhung rất mượt
Đừng làm nhăn cho ta thấy rã rời
Hãy chạy ùa khi kiểng đánh ra chơi...
Bởi tất cả làm ta tin (dù vụng dại)

Em vẫn còn là se sẻ sớm mai
Hót rất sáng, lòng chưa dài cánh mỏi.

                                           BÙI HỮU MIÊN
                                               (Hoàng Thị)

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 35, ra ngày 7-10-1972)

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018

Chỉ Trăm Bước Nữa Là Thành Công


Hồi đó tôi hai mươi lăm tuổi, thất nghiệp và đói. Đã nhiều lần tôi ở trong tình cảnh như vậy, tại Constantinople, tại Paris, tại Rome. Nhưng tại New York mà ngay cái không khí người ta thở cũng có cái vị hạnh vận, thành công, mà thất nghiệp thì thật là tủi nhục quá.

Tôi hoàn toàn không biết xoay sở ra sao, điều đó chẳng có gì lạ. Tôi muốn kiếm ăn bằng ngòi bút nhưng không viết được tiếng Anh. Thành thử suốt ngày tôi lang thang ngoài phố, không phải vì thích thể tháo đâu mà để bà chủ nhà khỏi bận mắt.

Một hôm, trên con đường 42, tôi đụng đầu với một người to lớn tóc hung hung. Tôi nhận ra liền: Féodor Chaliapine, kép hát Nga nổi tiếng. Hồi thiếu niên, tôi đã nhiều lần đứng nối đuôi mua giấy hạng bét để nghe ông ta hát ở rạp Đế quốc Hí viện Moscou. Hồi làm báo ở Paris, tôi có lần lại phỏng vấn ông ta. Tôi tưởng ông ta không nhận ra được, không ngờ nhận ra được. Ông ta hỏi tôi:

- Bận lắm không?

Tôi đáp nhi nhí một câu mơ hồ. Có lẽ ông ta đoán được tình cảnh của tôi.

- Theo tôi về khách sạn tôi trọ ở đường Broadway và đường 103 nhé? Chúng mình cùng đi bộ.

Lúc đó đã giữa trưa và tôi đã đi lang thang năm giờ rồi.

- Nhưng, ông Chaliapine ạ, từ đây tới đó năm sáu cây số lận.

Ông ta ngắt lời tôi:

- Điên nào. Chưa đầy trăm thước.

Tôi ngạc nhiên nhìn hỏi:

- Trăm thước?

- Thì vậy chứ sao! Tôi không nói là tới khách sạn, dĩ nhiên. Là tới gian bắn ở đại lộ 6 ấy.

Tôi chẳng hiểu gì cả. Nhưng cũng đi theo. Một lát chúng tôi tới trước gian hàng đó, đứng ngó hai chú lính thủy bắn vào một cái bia, đều đều, không biết bao nhiêu lần. Rồi chúng tôi lại tiếp tục đi.

Lần này ông nhanh nhẩu bảo:

- Chỉ còn tám trăm thước là tới vườn thú của công viên trung ương. Ở đó có một con tinh tinh (gorille) giống một kép hát có giọng cao mà tôi quen.

Chúng tôi lại thăm con tinh tinh. Cách đó một ngàn hai trăm thước, về tới đường Broadway, chúng tôi ngừng trước một tiệm tạp hóa. Trước cửa tiệm có bày một thùng dưa leo, Chaliapine trố mắt ra ngó dưa leo một lúc: bác sĩ cấm ông ta ăn dưa leo.

- Chà, coi ngon quá. Trông thấy mà nhớ tuổi trẻ của tôi.

Còn tôi, tôi tự hỏi sao chưa ngất ngư chứ, mà lại thấy khỏe mạnh hơn bao giờ nữa. Chúng tôi ngừng một lần cuối cùng nữa ở đường 90 để ngắm những hàng trái cây tại một chợ, trước một trạm xe điện mới sơn lại, góc đường 96, và sau cùng nó tới khách sạn. Chaliapine cười, bảo tôi:

- Đường đâu có xa, phải không? Bây giờ tụi mình đi ăn.

Sau một bữa thịnh soạn, ông mới cho tôi hiểu tại sao bắt tôi đi bộ 6 cây số đó. Giọng ông nghiêm trang:

- Thầy sẽ không bao giờ quên lần đi bộ hôm nay đâu. Tôi đã cho thầy một bài học nhỏ đấy. Đừng bao giờ lo lắng, buồn rầu vì đích còn ở xa. Chỉ nghĩ tới cái gì đó ở cách ta một trăm thước thôi. Đừng lo ngại về một tương lai bấp bênh. Chỉ nghĩ tới những cái vui ngày hôm sau thôi, dù nó tầm thường tới mức nào đi nữa.

Nhiều năm đã trôi qua. Ông Chaliapine đã qui tiên mà hầu hết những điểm làm mục tiêu trong lần đi bộ không sao quên được đó, hiện nay cũng không còn, cảnh vật đã biến thiên. Nhưng trong bao nhiêu năm đó, triết lý thực tế của ông đã giúp tôi được nhiều.

Nó đã giúp tôi khi tôi quyết định học tiếng Anh.

Không khi nào tôi tự hỏi: "phải học bao năm nữa mới viết được thứ tiếng đó". Trái lại, tôi tự nhủ: "Hôm nay tờ Times có hai mươi tám tiếng mình chưa biết. Ngày mai sẽ còn không tới hai mươi tiếng."

Triết lý đó cũng giúp tôi giữ vững được tinh thần khi vì một sự lầm lỡ của các người hùn vốn, tôi buộc phải trả cho chủ nợ nửa số tiền mà tôi hi vọng kiếm được trong bốn năm sau. Nếu trong 208 tuần lễ đó, tôi cứ nghĩ bụng hoài rằng phải sống cực khổ thì chắc chắn tôi đã nản chí mà không kiếm được một đồng nào cả. Nhưng tôi chỉ tự nhủ: "Thứ hai, thứ tư và thứ sáu, mình sẽ làm cho mình". (1) Nghĩ vậy thì mọi sự thay đổi hết. Tôi trả được hết nợ mà kiếm được đủ sống, không đến nỗi thiếu thốn.

Qui tắc trăm bước của Chaliapine đó là một hoàng kim qui tắc. Ai cũng có thể theo mà thấy có lợi. Có thể rằng cái đích ta nhắm còn xa thăm thẳm đấy, nhưng không đầy trăm bước là "tới đại lộ 6". Như vậy cứ từng chặng từng chặng một, chúng ta chẳng những sẽ tới đích, mà trên đường còn được hưởng nhiều cái vui nữa.


Frederick Van Ryn            
(trong Ý Cao Tình Đẹp)        
NGUYỄN HIẾN LÊ (tuyển dịch) 
___________ 
(1) Nghĩa là còn ba ngày kia, làm để trả nợ.

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 110, ra ngày 7-10-1973)

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2018

Tiếng Hú Trên Đỉnh Non Chà Hóc_CHƯƠNG MƯỜI MỘT





CHƯƠNG MƯỜI MỘT


Ông Bu Then gượng ngồi dậy, chống tay vào khung cửa liếp, ngóng nhìn về phía cổng buôn. Từ chiều đến giờ ông vẫn ngóng trông như thế mà vẫn không thấy Xiu Bân trở về cùng với Kha Li.

Khi trời đã tối mịt rồi, ông chúa làng vẫn giương hai con mắt yếu đuối soi tìm trong bóng đêm dày hình ảnh hai người mà ông đặt nhiều hy vọng để đối phó với Sa Keo. Tuy đau yếu, sức khỏe mỏi mòn, ông không muốn nằm nghỉ ngơi. Đời sống của buôn ám ảnh hết tâm hồn ông và ông chúa làng xưa nay không thể tìm thấy niềm vui nào khác ngoài niềm vui của dân làng.

Đến khi trời tối đã lâu, vẫn không thấy Xiu Bân và Kha Li về, ông chúa làng rất thất vọng. Ông không ăn được cơm tối, ra ngồi ngoài hè, chong mắt đợi chờ.

Nhưng trong bóng đen dày đặc, hình thù của lão Sa Keo hiện ra. Một thoáng, ông chúa làng thấy nỗi buồn thắt nghẹn lấy cổ họng mình.

Sa Keo thất thểu đi vào, có vẻ mệt nhọc, hai cánh tay dài loeo ngoeo lắc lư theo nhịp chân đi chệnh choạng.

Đến giữa sân buôn, lão dừng bước lại, kêu lớn:

- Đốt lửa lên đi!

Nghe tiếng của lão khàn khàn vang lên, đây đó người ta đã vội lục tục kéo đến. Ông già Kiu, ông Ti Meo, anh Díp, chị Đát, mang củi lửa đến, rồi lần lượt dân làng kéo đến vây quanh đống lửa. Ông Bu Then ngồi vén ở trên sàn nhà tưởng như dân làng đã quên mình, rồi Sa Keo đã chiếm cái quyền hành áy bởi vì quyền hành của lão đã được ma quỉ giúp sức. Những người xưa nay tỏ vẻ sợ hãi Sa keo và được Sa Keo tin cẩn, ngồi lại gần lão như muốn tìm kiếm một sự chở che. Lão hỏi:

- Có gì để ăn đấy không? Để uống đấy không?

Ông Hơ Râm nói ân cần:

- Có đây, xôi nếp và thịt, được không?

Sa Keo gật gù:

- Đem đây, phải có rượu cần nữa đó.

Ông Hơ Râm lại khép nép:

- Có rượu đấy mà. Anh Y Nhông đâu, vào lấy đem ra giúp tôi chút nào.

Hai người lọ thọ đi về một phía nhà sàn. Sa Keo nhìn quanh mọi người rồi mới ngồi bên đống lửa. Lão nói:

- Cả ngày hôm nay thực là mệt nhọc. Đem được ba con trâu trắng đến cho quỉ dữ thật là hết sức khó khăn. Dân làng không biết, chẳng dễ gì mà làm được cái việc Sa Keo đã làm. Hãy bảo cái ông Bu Then làm thử xem nào!

Lão quay nhìn quanh, có ý kiếm tìm. Ông Bu Then ngồi ở nơi sàn nhà, nghe Sa Keo nói, không thèm cử động.

Lão phù thủy kêu to lên:

- Bớ ông Bu Then!

- Có ta.

Ông Bu Then đáp, rồi lần xuống cái thang gỗ, mệt nhọc đi ra sân buôn. Sa Keo nói như tiếng  gằn:

- Dân làng họp lại mà ông chúa làng không ra, là vì cớ gì? Cả ngày hôm nay Sa Keo phải đi mệt nhọc, vì ai? Còn ông Bu Then thì nằm nghỉ ngơi cho khỏe, chẳng biết gì đến công việc của buôn ta cả.

Ông Ti Meo nói:

- Đừng có nói thế, Sa Keo. Ông Bu Then là chúa làng. Ông đã gây dựng cho buôn ta sống đến ngày hôm nay.

Sa Keo quát lớn:

- Im đi! Bu Then có cứu dân làng khỏi con quỉ dữ hay không? Trả lời ta nghe xem nào?

Ông Ti Meo làm thinh, quay mặt nhìn đi nơi khác. Y Nhông và ông Hơ Râm mang rượu và thịt đến nơi.

Sa Keo vừa ăn, vừa uống trước mặt mọi người, rồi nói:

- Dân làng đêm nay và suốt mùa này có thể yên tâm. Tiếng hú đã tắt, con quỉ đã nghe lời ta mà chịu lặng yên. Không có những lời đe dọa ban đêm. Mọi người có thể ra rẫy, ra nương để mà sinh sống. Quỉ đã cam kết không dám quấy phá buôn ta nữa đâu. Chỉ có những kẻ xúc phạm đến quỉ, quỉ mới ăn thịt.

Rồi lão đứng lên, nói như quát nạt:

- Các người có biết ở đây ai đã bị quỉ ăn thịt hay không?

Mọi người yên lặng cúi đầu. lão cười sằng sặc rồi nói lớn lên:

- Chính thằng Xiu Bân và thằng con nít Kha Li đã bị quỉ nuốt sống rồi!

Tiếng lão vang lên như những mũi tên bắn vào đầu óc dân làng. Nhiều người run rẩy, nghe trống ngực mình thình thịch. Bà Bù Đốp và cha mẹ Xiu Bân dù đã được sự dặn dò của ông Bu Then, cũng không an lòng, cúi xuống cố nén tiếng khóc.

Sa Keo uống một ngụm rượu, rồi nói:

- Buôn ta từ nay cần phải đương đầu với quỉ, cho nên phải có một người nói cho ma quỉ biết nghe. Sa Keo thấy ông Bu then đã già yếu rồi, không thể lo cho dân làng được nữa, phải có người khác thay thế Bu Then.

Ông Ti Meo nói:

- Ông Bu Then còn sống đấy, không ai thay thế cho ông ta được.

Anh Y Nhông cũng nói tiếp:

- Ông Bu Then được dân làng tôn lên, dân làng trông cậy vào ông Bu Then.

Đát cũng phụ họa:

- Phải đấy. Không ai thay thế được ông chúa làng Bu Then.

Sa Keo quắc mắt, nói như thách thức:

- Vậy kể từ mai, giao cho Bu Then đi nói chuyện với ma quỉ. Ta không làm việc ấy nữa.

Có tiếng xì xào ở trong đám đông, rồi ông già Keo đứng dậy:

- Không thể được đâu. Ông Bu Then không nói chuyện được với ma quỉ. Làng ta chỉ mỗi mình Sa Keo làm được chuyện ấy mà thôi.

Sa Keo cười lớn, rồi hỏi:

- Vậy thì ai làm chúa làng? Nếu còn để ông Bu Then thì ta sẽ không đi vào rừng đâu. Ma quỉ phá hoại thì các người chịu. Ta đã khổ sở cho dân làng này không biết bao nhiêu. Ta không thể nào nghe lời một kẻ bệnh hoạn.

Dân làng im lặng. Ông Tà Kum đứng dậy, nói bằng một giọng run run:

- Dân làng tin ở Sa keo, Sa Keo phải cứu dân làng.

Sa keo ngạo nghễ nói lớn:

- Thế nào, Bu Then? Ông hãy ra trước dân làng từ chối không chịu làm chúa làng nữa đi nào!

Ông Bu Then nghe mình mệt mỏi muốn ngồi xuống đất nhưng vẫn cứ giữ bình tĩnh, từ từ ra trước dân làng. Ông nhìn từng người, đảo mắt quay vòng một cách âu yếm như một người cha già yếu chăm sóc cho con, rồi ông nói bằng một giọng ôn tồn, nhưng nhấn từng tiếng cho thật rõ ràng:

- Hỡi dân Nước Ràng! Các người đã muốn ta làm chúa làng từ khi các người còn bám ở trong thung lũng tối tăm của núi Ca Lang. ta đã nhận lời từ đấy cho đến bây giờ. Không ai bắt buộc ta làm việc ấy và ta cũng không để ai bắt buộc được ta. Ta chỉ nhận lời vì ta nể các người, vì ta yêu thương các người. Bây giờ ta không từ chối cái phần việc đó, nhưng để tùy cho dân làng lựa chọn. Dân làng không còn muốn ta coi sóc thì ta nghỉ thôi, chứ không một ai có quyền bắt buộc ta bỏ dân làng ta được. Bây giờ dân làng muốn gì, hãy cứ nói đi!

Dân làng im lặng. Chỉ có tiếng lửa rừng rực, củi nổ lách tách vang lên. Ngoài kia gió thổi xạc xào trên các lùm cây.

Sa Keo nheo mắt nhìn ông chúa làng rồi nói lớn giọng:

- Chúa làng phải có sức mạnh, phải biết trị loài ma quỉ. Ông già Bu Then có làm ma quỉ im tiếng hú không?

Dứt lời, lão tiến tới trước mặt ông Bu Then có vẻ thách thức.

Nhưng vừa lúc ấy, cùng với gió núi bốc lên xào xạc, từ xa tiếng hú bỗng nhiên vẳng lại. Rồi tiếng hú lại rõ hơn, vang lên, vang lên, khắp cả núi rừng. Sa Keo bỗng nhiên tái mặt, nhưng cố trấn tĩnh. Dân làng nhốn nháo, hoảng hốt.

Sa Keo nói to:

- Đó, dân làng muốn chọn Bu Then, thì Bu Then hãy nói cho ma quỉ im đi!

Ông Ti Meo nói:

- Sao Sa Keo nói đưa nộp trâu trắng thì quỉ từ nay không phá hoại nữa?

Sa Keo gật đầu:

- Đúng vậy, nhưng tại dân làng cứ để Bu Then làm chúa làng này. Bu Then không ưa con quỉ và con quỉ không ưa Bu Then. Có ai muốn cho Bu Then làm chúa làng không?

Mọi người yên lặng. Tiếng hú vẫn cứ vang rền, lông lốc dội xuống núi rừng bao la. Sa Keo lập lại:

- Ta hỏi: "Ai muốn Bu Then làm chúa làng này?"

Y đảo mắt nhìn chung quanh. vẫn là im lặng nặng nề.

Bỗng một tiếng hét vang lên từ trong bóng tối đen dày ngoài cổng:

- Ta đây! Ta chỉ biết có mỗi ông Bu Then là chúa làng này!

Sa Keo giật mình, quay ra. Mọi người nhìn thấy Xiu Bân chống gậy khập khiễng bước vào, bên cạnh là bé Kha Li. Sa Keo la lớn:

- Đó là ma quỉ hiện về! Xiu Bân, Kha Li đã chết rồi mà! Dân làng hãy diệt chúng đi!

Một số vội vàng hớt hải đứng dậy. Ông già Hơ Râm rút nhanh cây dáo và lão Sa keo quơ cây rựa trành.

Mọi người xáo động. Tiếng ông Bu Then hét lên:

- Mọi người ngồi lại! Không có ma quỉ nào hết. Ngồi lại tất cả!

Tiếng nói của ông chúa làng bỗng có âm vang mạnh mẽ như vọng lại sức oai hùng của một thời nào. Dân làng ngồi lại, nhốn nháo nhìn anh Xiu Bân tiến đến.

Xiu Bân la lên:

- Hỡi dân Nước Ràng! Nếu Sa keo bảo ta là ma quỉ thì nó hãy trừ ma quỉ đai nào! Sa Keo! Mày tự cho mày có được quyền phép trừ loài ma quỉ thì mày hãy trừ bọn chúng tao xem!

Anh quay về phía dân làng, nói tiếp:

- Ma quỉ ở trong buôn ta chính là thằng Sa Keo đó. Nó là con quỉ hại chúng ta đấy, lừa gạt chúng ta lấy trâu đem gửi ở buôn Nước Sụp. Nó đã tìm cách đốt rừng cho gió thổi vào trong hang Chà Hóc để đe dọa dân ta. Rồi nó lấp hang cho khỏi tiếng hú mỗi lần đã cướp được trâu. Nhưng sáng hôm nay Xiu Bân cùng với Kha Li đã mở miệng hang lại rồi. Mở rộng miệng hang cho lão Sa Keo hết đường dối gạt chúng ta. Nó đã bắn lén Xiu Bân đây này...

Xiu Bân ném mạnh mũi tên xuống trước mặt lão Sa Keo. Rồi anh nói tiếp:

- Nó đã xô em Kha Li xuống hố, rồi còn tìm cách lăn đá từ trên cao xuống đè giết Xiu Bân. Xiu Bân bị bắn ở tay, bị giập ở chân nhưng Xiu Bân đã thoát chết. Xiu Bân kéo được Kha Li ở dưới hố lên và về tới đây cùng với dân làng.

Rồi anh dõng dạc nói lớn:

- Sa Keo! Ta vâng lời ông chúa làng Bu Then đi theo sát mày để đòi lại trâu cho dân Nước Ràng. Mày khoe có tài nói chuyện được với ma quỉ, thì sao tiếng hú đang kêu bên tai mày đó đã nuốt hết bao nhiêu con trâu rồi mà vẫn không chịu im đi? Mày khoe có đủ sức khỏe để làm chúa làng ở đây, thì hãy đấu sức với ta xem nào. Ta kể như còn một tay, một chân cũng là do mày và đồng bọn mày ám hại, nhưng tao sẵn lòng giao đấu với mày!

Nói xong, Xiu Bân ném gậy xuống đất, xông đến Sa Keo. Lão phù thủy huơ rựa chém anh, nhưng anh đã chụp ngay lấy tay lão bẻ vẹo, làm cho rựa văng xuống đất, vật lão ngã xoài trên sân. Xiu Bân choàng lấy người gã toan ném vào trong đống lửa rừng rực nhưng ông Bu Then ngăn lại:

- Hãy tha cho nó!

Xiu Bân ngừng tay, cặp mắt vẫn còn đỏ lừ sắc máu. Anh thét như điên:

- Sa Keo! Quì xuống trước ông chúa làng!

Sa Keo đành phải cúi đầu, quì xuống.

Lúc ấy người ta nghe có tiếng động ở trước cổng buôn. Mọi người quay lại. Bóng một người thật cao lớn hiện ra với một bầy trâu lố nhố. Xiu Bân nói to:

- Xin mời A Đíp vào đây! Người Nước Ràng đang đợi chờ A Đíp.

Khi người râu rậm tiến vào, Xiu Bân nói với ông Bu Then và mọi người:

- Đây là A Đíp ở buôn Nước Sụp, nơi tên Sa Keo đã gởi số trâu của làng. A Đíp đem trâu trả lại cho dân làng ta. Mời A Đíp vào uống rượu, ăn thịt với chúng ta đây.

Ông Bu Then từ từ lại gần A Đíp, nắm tay anh ta và nói:

- Mừng ông chúa làng Sa Roát hãy còn mạnh giỏi. Mừng cho hai buôn làng ta coi nhau như là anh em. Kẻ ác ở đâu cũng bị ghét bỏ, nhưng chúng ta không giết hại Sa Keo dù nó đã có ý muốn làm hại dân làng. Y Nhông hãy vào lấy rượu thịt ra đãi khách.

Y Nhông chạy về các nhà gần đấy, một lát đem rượu thịt lại. Ông Bu Then cúi hút vòi rượu trước tiên, theo như tục lệ, rồi trao lại cho A Đíp. A Đíp cúi xuống hút một hơi dài, rồi nói:

- A Đíp nhận lỗi với người Nước Ràng. Bây giờ đem hết trâu trắng trâu đen giao lại, và xin được làm anh em.

Anh Xiu Bân nói:

- Cám ơn A Đíp. Cám ơn chúa làng Sa Roát. Con ngựa của ông chúa làng cho Xiu Bân mượn đã bị Sa Keo xô đá giết chết mất rồi. Sa Keo đáng phải làm ngựa để đền bù lại.

Ông chúa làng Bu Then nói:

- Thôi được, hãy đem con ngựa của ta thế lại cho ông Sa Roát. Dân làng của ta sẽ đến nơi đó mang xác con ngựa của ông chúa làng về chôn tại buôn Nước Sụp. Bây giờ dân Nước Ràng hãy nghe ta nói những lời này.

Ông tằng hắng, nghiêm chỉnh nhìn khắp mọi người, rồi nói:

- Hôm nay A Đíp mang trả lại trâu cho dân làng ta, từ đây A Đíp là người bạn tốt của buôn chúng ta. Chúng ta coi buôn Nước Sụp là chỗ anh em, phải hết lòng giúp đỡ họ. Nào, mời A Đíp uống rượu, ăn thịt, ngủ lại với dân làng ta, rồi qua ngày mai sẽ cưỡi con ngựa mà đi về làng.

Ông quay nhìn lão Sa Keo, nói tiếp:

- Sa Keo! Đứng dậy!

Sa Keo khúm núm đứng lên.

Ông chúa làng nói:

- Phủ thủy Sa Keo là kẻ biếng lười, không lo làm ăn, chỉ quen dựa vào ma quỉ là chuyện đặt bày để hại dân làng. Y đã đốt rừng Chà Hóc cho gió lồng vào hang đá tạo ra tiếng hú để dọa dân buôn. Từ nay việc làm của y đã bị lộ rõ, mọi người đều phải hiểu rằng không có ma quỉ nào hại ta cả. Ma quỉ, chính là ý xấu ở trong lòng dạ con người. Ma quỉ, chính là Sa Keo.

Ông dừng lại thở, rồi nói:

- Hỡi dân Nước Ràng! Ta đã nhắc nhở nhiều lần cho các người biết là ma quỉ không thể nào thắng được con người. Chỉ có con người mới trị được bọn ma quỉ. Đừng có sợ hãi sai lầm để cho kẻ ác lợi dụng làm hại chúng ta. Tội của Sa Keo đáng chết. Ta đây hay là Xiu Bân có quyền giết nó để trừ mối hại cho buôn. Nhưng giết nó chẳng ích gì. Giết nó thì nó chết đi, tuy có trừ được mối hại nhưng không thêm gì được cho buôn ta. Ta muốn thế này: từ nay Sa keo phải làm mà ăn, không được nói chuyện ma quỉ để gạt dân làng. Khi đau, ta uống lá rừng, chỉ có lá rừng mới trừ được bệnh của ta. Còn tội Sa Keo thì bắt nó chuộc. Nó phải làm việc để giúp đỡ cho những người già yếu, những người không có con cái ở buôn. Dân làng bằng lòng như vậy hay không?

Một tiếng "bằng lòng" đồng loạt cất lên hết sức sôi nổi từ miệng dân làng.

Ông Bu Then nói:

- Được rồi, ta sẽ phân chia cho nó đi giúp từng người mà buôn ta xét thấy cần. Còn ta, ta muốn nói với các người điều này: ta già yếu rồi, không còn đủ sức để lo việc buôn. Ta muốn có người thay thế cho ta. Xiu Bân là người gan dạ, khôn ngoan, hết lòng vì buôn, Xiu Bân có thể thay ta mà làm chúa làng.

Xiu Bân vội nói:

- Không đâu, ông Bu Then à. Xiu Bân không đủ khôn ngoan bằng ông chúa làng. Ông tuy đã già nhưng cái hiểu biết của ông có nhiều, nhiều hơn cả lá trên núi rừng này. Cái tay, cái chân mạnh mẽ bao nhiêu vẫn không thiếu được cái đầu. Ông làm chúa làng, Xiu Bân sẽ làm tay chân cho ông, cả buôn ta chắc bằng lòng như thế.

Dân làng đều nói:

- Xiu Bân nói phải, chúng ta đều cùng cái bụng nghĩ đó.

Ông Bu Then lặng yên, xúc động, rồi nói:

- Cám ơn dân làng. ta biết buôn ta còn mãi, sống mãi, vì buôn ta có nhiều người can trường, tốt bụng. Buôn ta có những người trai như Xiu Bân, những em bé như Kha Li, Min Pay. Buôn ta sẽ lớn như rừng cốc kia, lớp trẻ sẽ nẩy nở nhiều, sẽ tươi tốt mãi như những lá cành tươi tốt trên núi rừng này.

Tiếng ông chúa làng thấm sâu vào lòng người dân Nước Ràng. Họ im lặng nghe, tim cùng hòa nhịp với lời nói ấy.

Và ngọn lửa hồng, bập bùng rực cháy như niềm tin ở nơi lòng họ.


VŨ HẠNH   

Tiếng Hú Trên Đỉnh Non Chà Hóc_CHƯƠNG MƯỜI





CHƯƠNG MƯỜI


Sau khi thấy Xiu Bân đã mất hút sau lùm cây, phù thủy Sa Keo ngoẹo đầu sang một bên, rồi cất những tiếng rên rỉ mệt nhọc.

Kha Li ngồi trên tảng đá cạnh đấy chăm chú nhìn lão và thấy ngạc nhiên cho cảnh ngộ mình. Mới hôm kia đây Sa Keo còn là người đầy uy quyền, gây sự sợ hãi cho cả dân làng, vậy mà bây giờ lão bị trói chặt nơi đây, giao cho Kha Li canh giữ.

Cái ý nghĩ ấy làm nó thấy mình quan trọng hơn lên, nhưng cũng khiến nó cảm thấy tội nghiệp cho lão Sa Keo.

Nếu lão cứ sống lương thiện, giúp đỡ dân buôn thì ai lại chẳng quý trọng và yêu mến lão? Chỉ vì lòng tham, vì cái bụng xấu do sự lười biếng gây nên mà lão bây giờ mới đến nông nỗi thế này.

Một lát, lão giương cặp mắt lờ đờ ngước nhìn Kha Li rồi kêu bằng giọng rền rĩ:

- Kha... Li...

Thằng bé liền hỏi:

- Gì đấy, hở ông Sa Keo?

Gã lại rên rỉ, không nói một lời, mỗi lúc tiếng rên rỉ càng thảm thiết. Kha Li hỏi lại:

- Này ông Sa Keo, ông hỏi gì thế?

Lát sau, lão mới phều phào:

- Mệt quá đi Kha Li à. Có thể nới bớt dây cho Sa Keo được không?

Thằng bé chép miệng:

- Không được đâu ông Sa Keo. Xiu Bân không chịu vậy đâu.

Lão lại rên rỉ rồi nói:

- Khát nước quá đi.

Kha Li nhìn xuống dưới suối. Nó muốn đi múc cho Sa Keo một miếng nước nhưng còn e ngại. Sa Keo liếc nhìn thằng bé, thấy vẻ ngần ngừ của nó, lão bèn van nài:

- Khát lắm, tôi chết đây thôi.

Lão thở khò khè, trợn ngược mắt lên như người sắp sửa lìa đời. Kha Li hốt hoảng, nhìn thấy Sa Keo như thế nó không ngăn được cảm động, bèn nói:

- Này ông Sa Keo, ráng một chút đi. Để tôi kiếm nước cho mà.

Nói xong nó vội tất tả xuống dưới bờ suối. Đến nơi, nó loay hoay tìm một lá cây lớn để múc nước cho dễ dàng. Trong lúc thằng bé tìm lá và leo xuống dưới bờ cao thì Sa Keo cố xoay người rướn tới, đưa chân khều lấy cây rựa của lão ở một bụi cây gần đấy. Lão phải khó nhọc để kéo cây rựa tới gần. Khi lão kéo sát vào gần dưới chân thì nghe tiếng thằng Kha Li chạy lên. Lão bèn đá cây rựa lại phía sau cho thằng bé khỏi nhìn thấy, rồi lại cất giọng rên rỉ. Kha Li đưa nước tới gần miệng lão:

- Này, uống đi Sa Keo. Uống đi!

Lão há miệng uống ừng ực từng hơi, có vẻ khoái trá. Rồi nói:

- Cho thêm một ít nữa đi. Trời ơi! Nước ngon quá mà. Kha Li thật là tốt bụng, không một đứa trẻ nào bằng.

Thằng bé lại tất tả chạy về phía bờ suối. Sa keo chuyển hết gân sức xoay sợi dây trói cho nới lỏng thêm rồi trườn người xuống lấy chân quắp cây rựa lên, chuyền lần ra hai bàn tay bị trói quặt ở sau lưng. Lão nắm cây rựa, chĩa ngược trở lên cắt mạnh sợi dây, lão phải mím môi trợn mắt để chuyển hết gân sức mình và trong chốc lát sợi dây bị đứt. Khi Kha Li vừa lon ton cầm nước vừa đến thì lão phù thủy đã ngồi thụp xuống cầm lấy cây rựa lăm lăm trong tay.

Thằng bé thấy vậy, hốt hoảng đứng lại, để nước đổ tràn ra khỏi chiếc lá.

Lão Sa Keo nói:

- Kha Li, đáng lẽ tao cho mày một lưỡi rựa để mày đi đời. Song mày đã cho tao uống nước suối thì tao không nỡ hại mày. Để đền ơn mày, tao lại sẽ cho mày uống nước hố.

Thằng bé toan quay người lại thì lão đã nhảy xổ tới, ghì chặt lấy nó rồi kéo ra một bờ hố gần bên suối nước. Lão nói:

- Mày xuống dưới ấy mà uống cho no bụng mày.

Nói xong, gã xô thằng bé xuống dưới hố sâu. Kha Li bị ngã chúi xuống trong một vực thẳm đen ngòm.

Lão phù thủy vội quay về ngả buôn Nước Sụp. Tới hẻm núi hẹp, lão vội bám vào sườn núi leo lên. Hì hục một lát, lão dồn một đống đá lớn ở trên sườn cao, chờ đợi.

Xiu Bân cưỡi con ngựa trắng của chúa làng Sa Roát, phóng qua những con đường rậm, nôn nóng đến sớm kẻo Kha Li chờ đợi lâu.

Trời đã xế chiều, các tia nắng vàng chênh chếch soi sáng một số đỉnh cây cao ngất. Gió núi rạt rào thổi lạnh. Tiếng chim nhốn nháo về tổ, chung quanh vượn hú vang lừng vừa chuyền trên những cành cao. Vết thương ở nơi cánh tay càng nhức nhối hơn, nhiều khi làm cho Xiu Bân cảm thấy ớn lạnh.

Đến một hẻm núi, con đường trở nên chật chội. Xiu Bân phải kìm cương ngựa cho đi chậm lại. Được một quãng ngắn con ngựa bỗng hí vang lên và nhảy lồng về phía sau. Nghi rằng có con thú rừng nào đó lẩn quẩn đâu đây, Xiu Bân bèn rút cây nỏ xuống cầm nơi tay rồi thúc con ngựa chạy tới. Con ngựa vụt chạy rượt nhanh và khi gần qua khỏi hẻm, tới một triền đồi kề bên vực sâu thì Xiu Bân thấy những tảng đá lớn từ cao lông lốc lăn xuống triền dốc. Một tảng đá ấy rơi đúng con ngựa làm cho con vật ngã quị, giẫy giụa ném Xiu Bân xuống bờ vực. Nhờ thân con ngựa và các cây rừng làm một chướng ngại ngăn chận đà lăn của đá nên Xiu Bân kịp lách mình sau một thân cây khá lớn ngã đổ để tránh bị đá nghiền nát. Những tảng đá vẫn tiếp tục lăn xuống, có lúc dội vào thân cây Xiu Bân đang nấp, dừng lại một chút, rồi lại theo trớn, hùng hổ tuột xuống dưới xa.

Xiu Bân nằm yên không dám cử động. Một lát, anh mới trườn người, hé mắt nhìn qua kẽ lá và thoáng thấy cánh tay dài loeo ngoeo của lão Sa Keo hiện ở trên cao. Rồi cái đầu khá to lớn của lão nhô ra và lão cúi xuống nhìn xác con ngựa dập nát, máu me vung vãi với một vẻ mặt thỏa mãn. Xong, lão rọi cặp mắt cú vọ xuống dưới vực sâu như để soi tìm. Chừng như thấy yên lặng cả, lão mới biến mất sau một lùm cây.

Đợi một lát không thấy lão hiện ra, Xiu Bân mới bò ra khỏi chỗ núp. Anh nghe đau rát ở nơi đầu gối. Một mảng thịt đã rách toác do sự va chạm khi anh nhoài mình lăn xuống mà anh không hay. Máu chảy thấm đỏ cả chân và nghe nhức nhối. Xiu Bân phải bước khập khiễng và leo lên chỗ con ngựa. Anh nhìn con vật khôn ngoan, lấy làm thương tiếc vô hạn.

Nhưng sự xuất hiện của lão Sa Keo và âm mưu lão hại anh khiến Xiu Bân lo lắng đến số phận Kha Li.

Anh vội bẻ cành cây làm gậy chống để bước cho được mau hơn. Khập khiễng như thế một lát, Xiu Bân đến được chỗ cũ. Anh nhìn quanh quất không thấy Kha Li đâu cả. Trời đã chiều rồi. Ở những lùm cây chung quanh, bóng tối đã lảng vảng đến. Xiu Bân không dám kêu to, sợ lão Sa Keo còn núp ở gần đâu đó có thể thừa lúc anh không đề phòng ám hại anh chăng. Bây giờ Xiu Bân đã bị bại một cánh tay và một chân rồi.

Nhờ những ánh chiều sắp tắt, anh thấy có những dấu chân chằng chịt chạy về ngả suối. Đây là dấu của Kha Li. Anh chạy ra suối, chỗ thằng bé đã múc nước, vẫn không trông thấy nó đâu. Anh đi dọc theo bờ suối để tìm. Gần một miệng hố, những cành cây gãy làm anh chú ý. Anh thấy những mảnh đất lở cạnh đấy. Cúi nhìn xuống dưới anh chỉ thấy một màu đen thăm thẳm. Có lẽ Kha Li đã bị xô xuống đấy chăng? Nếu quả như thế, chắc gì nó còn sống sót. Xiu Bân chợt nhớ ở trong lòng hố thường có rễ cây đâm chồi chằng chịt phía dưới, biết đâu Kha Li chẳng bám víu được vào nơi nào đó. Trời đã sắp tối, nếu nó còn sống mà không cứu được thì làm sao nó có thể qua khỏi đêm nay.

Xiu Bân cúi xuống miệng hố kêu vọng rất lớn: "Kha Li! Kha Li!" Tiếng kêu của anh vang dội nhưng không một tiếng trả lời. Anh cố lắng tai nghe ngóng. Chỉ là im lặng nặng nề. Núi rừng xào xạc trong lúc chiều về. Xiu Bân cố bám vào đôi cành cây leo xuống một đoạn, rồi chõ miệng vào lòng hố anh lại kêu tên thằng bé rất lớn. Tiếng kêu không bị tản mác ra ngoài, dồn hẳn xuống sâu, tạo những âm thanh rất mạnh. Một lát, anh bỗng nghe có tiếng gọi ở dưới. Quá mừng, Xiu Bân kêu lên:

- Xiu Bân đây! Kha Li! Kha Li ơi!

Có tiếng ơi đáp dưới xa. Anh tiếp:

- Chờ đó nghe chưa, Kha Li. Hãy chờ một chút.

Rồi anh bò lên miệng hố, khập khiễng vào rừng. Anh tìm bứt mấy sợi dây mò tró thật lớn và dài, nối lại. Rồi Xiu Bân cột một tảng đá nhỏ cho thòng xuống hố. Một lát anh nghe ở nơi đầu dây có sự giẳng mạnh. Xiu Bân lấy thế đứng trên mô đất, chuyển hết gân lực trên mỗi cánh tay còn lại, cúi xuống kéo Kha Li lên. Mỗi lần kéo được một đoạn anh lại dùng chân chận giữ chiếc dây để cúi xuống kéo tiếp tục. Một lát Kha Li đã nhô lên gần miệng hố. Thằng bé thấy anh, mừng quá, chảy tràn nước mắt. Xiu Bân giúp nó bước lên khỏi hố. Nó bị sây sát sơ sài trên mình. Nó nói:

- Tại Kha Li không đề phòng, để thằng Sa Keo lừa gạt.

Xiu Bân hiểu rằng tuổi trẻ dẫu rất gan dạ, thông minh nhưng vẫn không thể lường hết được những gian hiểm ở đời. Anh bảo:

- Thôi được. Để về hãy hay, Kha Li.

Thấy Xiu Bân bị thương tích, nó vội kêu lên:

- Trời ơi, sao anh lại bị như thế?

- Rồi Xiu Bân sẽ nói lại cho nghe. Chúng ta cố gắng về buôn, kẻo trời sắp tối.

________________________________________________________________________ 

Tiếng Hú Trên Đỉnh Non Chà Hóc_CHƯƠNG CHÍN





CHƯƠNG CHÍN


Nói xong, Xiu Bân nhảy lên lưng ngựa, phóng đi. Anh đi quanh co qua những hẻm núi, băng qua một khu rừng rậm thì nhìn thấy buôn Nước Sụp nổi bật những khu nhà sàn xám xịt ở lưng chừng đồi phía trước. Chỉ còn một quãng rừng lau là đến nơi rồi.

Anh bỗng nhớ lại A Đíp và mũi tên độc của nó anh còn giắt ở lưng khố. Cánh tay trái anh còn đang nhức nhối khiến anh không cử động được. Có lẽ lúc đó nó đã gấp rút đánh trâu về rồi vì nó tưởng đã sát hại được anh. Bây giờ nếu nghe anh đến, chắc nó không để anh yên. Xiu Bân cho ngựa chạy chậm, cẩn thận đề phòng. Đến gần cổng buôn, anh chợt nghe vút bên tai, vội vàng cúi rạp trên ngựa. Một tiếng "tách" và mũi tên lao tới, cắm phập vào một thân cây trước mặt. Xiu Bân vội vàng nhảy xuống, rút cây nỏ ở trên mình nép vào gốc cây cạnh đấy. Chung quanh im lặng. Anh trườn tới, rút mũi tên cài vào mình vừa đảo cặp mắt theo dõi động tĩnh chung quanh vừa dắt ngựa đi vào buôn.

Mới tiến vào trong vạt sân anh gặp một người trai trẻ khỏe mạnh, lầm lì nhìn anh và nhìn con ngựa với vẻ mặt ngờ vực. Anh nói:

- Cho tôi gặp ông chúa làng.

Người kia làm thinh quay lưng đi vào trong một nhà sàn rộng lớn. Lát sau, một người lực lưỡng, tóc bạc, vẻ mặt hao hao A Đíp bước xuống thang gỗ, chậm rãi đi ra, tay cầm một ống điếu lớn. Đến gần Xiu Bân, ông ta dừng lại, vừa hỏi qua một cái nhìn dò xét:

- Ai đấy?

Xiu Bân trả lời:

- Thưa ông chúa làng, tôi là Xiu Bân ở buôn Nước Ràng.

Người kia gật đầu:

- Ta là chúa làng Sa Roát. Muốn hỏi gì đấy?

Xiu Bân nói tiếp:

- Chúa làng chúng tôi là ông Bu Then cho đem đến trả con ngựa của ông A Đíp đã bị phù thủy Sa Keo làm lạc trong rừng.

Ông già đảo mắt có vẻ ngờ vực, rồi hỏi:

- Sao không giao cho Sa Keo đem tới?

- Sa Keo đã bị bắt giữ ở làng. Sa Keo lừa gạt dân làng đem trâu gởi cho A Đíp. Chúa làng Bu Then cho tôi đến giao con ngựa này lại và đem số trâu trở về.

Sa Roát có vẻ ngẫm nghĩ rồi nói:

- Được rồi, để cho gọi A Đíp đến.

Ông quay vào trong kêu lớn:

- A Đíp! A Đíp!

Có tiếng kêu chuyền ra ngoài cổng buôn. Lát sau A Đíp, con người râu rậm mà Xiu Bân đã gặp ở rẫy hoang từ từ ra khỏi lùm cây đầu ngõ tiến vào.

Y đến trước ông chúa làng, hỏi bằng một giọng khó chịu:

- Gì đấy?

Ông chúa làng bảo:

- Nước Ràng cho trả con ngựa và đòi trâu lại.

A Đíp gằn giọng:

- Trâu nào?

Xiu Bân trả lời:

- Trâu mà Sa Keo đem gởi ở đây.

A Đíp cười lạt:

- Mấy con?

- Bốn con trâu đen, ba con trâu trắng. Ba con trâu trắng vừa đem giao cho A Đíp lúc ban trưa này.

A Đíp mỉm miệng rồi nói:

- Không có trâu đen.

Xiu Bân nhìn chăm chắm vào A Đíp, nói gằn từng tiếng:

- Người dân nước Ràng, trừ thằng Sa Keo, không ai biết nói dối cả.

A Đíp có vẻ khó chịu, hỏi lại:

- Trâu của Nước Ràng, vậy người Nước Ràng có nhớ nó ra sao không?

Xiu Bân bèn đáp:

- Sao lại không nhớ? Một con có một sừng này, chân trước có hai miếng vá, một con không sừng, bị gầy từ nhỏ, có xoáy ở hai bên hông. Hai con đủ cả hai sừng, màu lông đen tuyền, một con mắt lớn, một con mắt nhỏ. Con trâu mắt lớn thì lông đuôi cụt.

Chúa làng Sa Roát nhìn Xiu Bân chăm chú, tỏ vẻ bằng lòng.

A Đíp nói lớn:

- Bốn con trâu đó là của tao mua.

Xiu Bân đáp lại:

- Sa Keo bảo đem đến gởi ở đây, A Đíp bảo đã mua lại, vậy ai là người nói thật? Tối nay, dân làng xử tội Sa Keo, Nước Ràng mời A Đíp đến để cùng đối chất, dân làng sẽ dành rượu thịt thết đãi A Đíp.

A Đíp xẵng giọng:

- Ta sẽ không đi đâu hết. Ta không có việc gì phải đối chất.

Xiu Bân trợn mắt, cơn giận làm anh đỏ bầm cả mặt. Anh nhìn trừng trừng vào gã A Đíp, nói lớn:

- Dân buôn Nước Ràng bao giờ cũng quí trâu bò của dân Nước Sụp, người dân Nước Ràng muốn sống yên ổn với người Nước Sụp. Nếu A Đíp không đem trâu trả lại thì ngày mai đây dân buôn Nước ràng sẽ kéo xuống để đòi trâu.

Rồi anh gằn giọng:

- Chúng tao không thể để cho của cải dân làng chúng tao phải bị mất cắp. Đây, trả con ngựa cho A Đíp.

Xiu Bân toan chào ông chúa làng để quay về thì A Đíp đã nhổ toẹt một bãi nước miếng khá lớn, rồi nói:

- Người dân Nước Ràng không dám làm gì bọn chúng ta đâu!

Xiu Bân quát lên:

- Rồi mày sẽ biết!

A Đíp nói lớn:

- Có giỏi thì hãy thử sức với tao xem nào!

Xiu Bân trả lời:

- Vô cớ đánh mày, làm cho hai buôn chia rẽ, ta không đành lòng.

A Đíp cười nhạt:

- À, mày đã biết sợ thì tha cho mày.

Xiu Bân trả lời:

- Người dân Nước Ràng không biết sợ những kẻ nào ỷ mạnh, nhưng không muốn làm mất lòng bè bạn của mình.

A Đíp vênh mặt:

- Mày không dám đánh với tao nên muốn ngày mai gọi cả làng mày xuống cho đông đảo phải không?

Xiu Bân đáp lại:

- Cả làng kéo xuống chỉ để đòi lại những trâu của họ mà thôi. Không ai muốn đánh nhau để gây nên thù oán.

- Nếu mày mà đánh lại tao, thì tao trả trâu cho mày đem về.

Xiu Bân bèn đáp:

- Không, nếu tao thắng mày thì mày phải đem trâu trả tận buôn tao.

- Được rồi.

- Xin có ông chúa làng đây làm chứng.

Ông chúa làng nhìn A Đíp với vẻ mặt không bằng lòng, nhưng ông gật đầu:

- Xiu Bân bèn nói:

- Ta không cần đến khí giới vì sợ vô ý gây nên thương tích sẽ làm sứt mẻ tình giao hảo giữa hai buôn. Ta muốn đánh vật mà thôi.

A Đíp có vẻ ngần ngừ, rồi nói:

- Thôi được.

Xiu Bân biết rằng anh chỉ còn có một tay, tay trái gần như tê liệt. Song cái ý thức muốn hạ A Đíp để lấy lại trâu cho dân làng mình làm anh phấn khởi. Anh rút hai mũi tên ném xuống đất, tiến lên một bước. A Đíp vội vàng nhảy tới, ỷ vào sức lớn và mạnh, muốn hạ Xiu Bân lập tức. Hai bên quần nhau một lát, dồn đẩy huỳnh huỵch trên sàn. Cuối cùng A Đíp choàng được ngay mình Xiu Bân, chuyển hết gân lực quật mạnh anh xuống nền đất. Xiu Bân té nằm oằn xuống, nhưng cũng kịp thời đưa chân đạp mạnh khiến cho A Đíp phải nằm sóng soài, liền đó, nhanh như cắt, Xiu Bân vùng dậy, một tay chộp lấy lồng ngực A Đíp, một chân ấn vào bụng gã. A Đíp cố gắng hết sức nhoai người gượng dậy nhưng không thể nào dậy nổi.

Xiu Bân trợn mắt, cơn giận đã làm cho anh đỏ bầm cả mặt. Anh nhìn đăm đăm vào mặt A Đíp nói lớn:

- Dân buôn Nước Ràng bao giờ cũng quí trâu bò của buôn Nước Sụp. Thế nào? Nhớ lời mày đã hứa chưa?

Đầu gối Xiu Bân ấn xuống chặt hơn. A Đíp nói trong hơi thở:

- Được rồi... Nhớ rồi...

Xiu Bân đứng dậy, lấy tay vuốt lớp mồ hôi đọng trên mặt mình rồi cúi lượm hai mũi tên ném mạnh về phía A Đíp đang vừa lồm cồm bò dậy. Anh nói:

- A Đíp, ta trả cho ngươi hai mũi tên này. Ta không oán giận ngươi đã làm què một cánh tay ta và ta không thù ngươi đã làm hại ta còn muốn thử sức với ta. Song, người dân Nước Ràng cùng người dân Nước Sụp bao giờ cũng là anh em. Tối nay dân làng ta đợi A Đíp. Nhớ tới để gặp mọi người.

Ông chúa làng Sa Roát chậm rãi nói:

- Người Nước Sụp biết tôn trọng lời nói của mình. A Đíp hãy lo đưa trâu lại cho người ta. Ta không muốn rằng ngày mai hai bên gặp nhau trong sự hỗn loạn.

Ông quay về phía Xiu Bân:

- Cám ơn Xiu Bân! Ta gởi lời thăm ông già Bu Then, mừng sự tốt bụng của ông chúa làng Nước Ràng. Ta có con ngựa của ta, cho Xiu Bân mượn mà về, ngày mai sẽ gởi trả lại cho ta.

Ông gọi người đem ngựa ra. Xiu Bân chào ông chúa làng và chào A Đíp rồi lên ngựa về.

_________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG MƯỜI


Thứ Năm, 25 tháng 10, 2018

Tiếng Hú Trên Đỉnh Non Chà Hóc_CHƯƠNG TÁM





CHƯƠNG TÁM


Buổi sáng khi lão Sa Keo cưỡi ngựa của ông chúa làng đi được một lát thì anh Xiu Bân tỏ ý muốn đi theo lão. Ông Bu Then bảo:

- Hôm nay ta chắc lão sẽ đi lo thu xếp chuyện mất con ngựa hôm qua. Sau đó lão lên Chà Hóc lấp hang trở lại để cho yên lòng dân làng. Ngày mai lão mới dắt trâu đi đến chỗ hẹn. Đi theo hôm nay có ích gì đâu.

Anh Xiu Bân thấy ông chúa làng nói có lý. Ông lại hỏi anh:

- Ngày mai cần đưa vài người trai trẻ gan dạ theo Xiu Bân không?

Anh đáp:

- Ý xấu của lão Sa Keo đã rõ ràng rồi. Y không còn đáng sợ nữa. Đông người có thể sơ ý để bọn xấu biết và chúng đề phòng. Có thêm Kha Li là quá đủ rồi.

Ông Bu Then gật đầu nói:

- Ta cũng nghĩ như con vậy. Nhưng đừng coi thường tên phù thủy đó. Nó không phải là kẻ mạnh nhưng nó còn những đồng bọn. Nên nhớ, lúc cần, bọn xấu cũng biết bênh vực lấy nhau một cách quyết liệt.

- Con xin nhớ lời ông chúa làng dạy.

Đoạn anh ra ngôi nhà mồ dẫn con ngựa ô xuống suối tắm rửa rồi đưa vào rừng cho nó ăn cỏ. Anh cắt cỏ non để dành cho nó ăn suốt đêm nay và cho nó thêm ít thóc. Đoạn anh cột nó ở ngôi nhà mồ xa nhất, sau buôn. Từ hôm tiếng hú nổi lên ít ai dám đi quanh quẩn xa nhà nên không sợ lộ. Sa Keo buổi tối mới về, và lúc trở về lão thường say mèm.

Lúc trời sụp tối, dân làng nhìn thấy Sa Keo ngật ngà ngật ngưỡng ở trên lưng ngựa tiến vào trong buôn.

Lão ghé lại nhà ông Kiu, đòi ăn một miếng nai khô, rồi đứng ở trên sàn cao lão nói bô bô cho dân làng biết:

- Con quỉ đã chịu nghe lời ta rồi. Đem nay nó sẽ không còn hú nữa. Dân làng nghe đây: chuẩn bị ba con trâu trắng ngày mai ta đưa đi nộp. Quỉ sẽ để yên cho buôn ta được làm ăn.

Mờ sáng hôm sau, trâu của ông Cheo, của ông Y Roát và ông Ba Núp được đem ra suối tắm rửa.

Mặt trời lên được một sào, Sa Keo đã đeo bùa vào, khật khưỡng ra đánh trâu đi. Đợi lão đi khuất, Xiu Bân cùng với Kha Li ra sau nhà mồ lấy ngựa. Thằng bé ngồi ở sau lưng Xiu Bân và con ngựa ô lại phóng vào rừng, nhắm đỉnh Chà Hóc tiến tới. Con ngựa rất khỏe nên mang hai người đi không nhọc mệt. Xiu Bân lại là người đi núi nhiều kinh nghiệm nên anh biết lựa những triền dốc xuôi để cho được nhanh chóng mà không kéo dài đoạn đường.

Theo lời Kha Li kể lại, Xiu Bân cho ngựa vòng qua bên kia dãy núi mà ông Bu Then phỏng đoán là đã bị đốt cháy rồi. Quả nhiên trước mặt anh là một vùng rộng lớn mênh mông đã bị lửa rừng tàn phá. Những thân cây lớn khô đen lỏi chỏi nhô lên đây đó như những con người kỳ dị và ở một đôi kẽ lá chồi non vừa mới nhú lên nõn nà màu xanh. Con suối ở lưng chừng  sườn khô rốc, phơi hai ven bờ xám xịt và một màu đất cằn cỗi.

Không có cây cối vướng bận nên họ vượt lên đỉnh núi rất chóng. Tới nơi, Xiu Bân và Kha Li vội vàng xuống ngựa, tìm thấy miệng hang đã bị vùi lấp một cách kỹ lưỡng bằng những chà cây và những tảng đá rất to. Xiu Bân xem xét chung quanh rồi bảo Kha Li:

- Hôm qua, ở đây không phải một người mà có dấu chân hai người. Hẳn là Sa Keo cùng với tên chủ con ngựa này đã hiệp sức lại vần đá lấp hang. Lão sợ lấp bằng cây lá không đủ sức chịu những cơn gió lớn về khuya và một đôi ngày cây lá khô đi, gió lại lọt vào. Nhớ lại sau đêm đầu tiên, chúng ta nghe những tiếng hú rền rĩ mà không dữ dội như trước.

Cả hai đảo mắt về phía mặt trời lặn. Xa xa đôi buôn điểm những nét vàng lỗ chỗ trên vạt cây xanh. Nắng đã chan hòa trời đất và cái khung cảnh mênh mông dưới chân hai người có một vẻ gì lớn lao, đẹp đẽ lạ thường. Ngọn núi Chà Hóc từ xưa được coi như là thiêng liêng không ai dám đến thì giờ đây không còn gì là bí ẩn nữa. Cái hang kín mít ngàn đời đã bị bàn tay của bọn gian ác khai thông và đốt cháy hết cây cối mặt sườn phía trên cho những luồng gió đêm khuya từ các đỉnh núi xa hơn lồng lộng thổi về. Đồng thời ở dưới sườn dốc hướng về phía mặt trời mọc, cây cối vẫn còn xanh dày, án ngữ cơn gió, lùa hết vào cái miệng hang trống trải.

Xiu Bân để ý những bụi cây mọc gần đấy đã bị chặt gãy khá nhiều. Nơi đấy Sa Keo đã lấy bổi chà để trám lỗ hang những khi cần đến.

Anh bèn rút cây rựa trành chặt một thân cây vừa lớn để làm đòn xeo và bẫy các tảng đá trám miệng hang cho lăn ra ngoài. Cánh tay gân guốc của anh Xiu Bân làm việc không biết mệt mỏi. Kha Li cũng giúp sức anh kéo các đống chà ra khỏi miệng hang. Một lát hai người đã dọn miệng hang khá sạch và những cơn gió nhẹ nhàng lùa thổi vào trong làm thành tiếng nhạc vi vu. Cây rừng trước mặt lồng chứa tất cả hơi gió nên dù chưa phải gió lớn, sức lùa vào trong miệng hang cũng khá mạnh mẽ, vì vậy Kha Li đã bị xô ngã hôm nào như bị quyền lực của một bàn tay sơn thần hung bạo. Xiu Bân kéo Kha Li tới ngồi nghỉ trên một tảng đá, và nói:

- Cái hang sâu dài như thế, bị sức gió mạnh lùa vào tạo nên một tiếng kêu lớn lạ thường. Vì vậy trong hang không thể có loài thú dữ ẩn nấp. Sức gió cũng như tiếng kêu, làm cho chúng nó hoảng sợ. Điều đó cũng khiến cho cả đỉnh non Chà Hóc cũng như chung quanh không có con thú dữ nào bén mảng. Kha Li cùng với Min Pay đã đi trong sự yên lành vừa qua là nhờ nơi tiếng hú đó.

Đoạn, anh đứng dậy:

- Bây giờ gần nửa buổi rồi. Chúng ta lo về cái rẫy để xem Sa Keo làm gì ở đấy.

Cả hai lên ngựa theo con đường cũ Kha Li đã đi hôm trước. Đến khi mặt trời lên giữa đỉnh đầu thì họ đến gần vạt rẫy bỏ hoang. Xiu Bân chọn một lùm cây khá kín ở một nơi cao để Kha Li cột con ngựa và ngồi đó canh chừng. Còn anh sau khi chia miếng cơm nếp cho Kha Li ăn, anh luồn lõi theo bụi rậm đi vào bên trong. Đến gần ngôi nhà đổ nát, Xiu Bân thấy người râu rậm đang ngồi trước cửa hút một ống điếu khá lớn. Thỉnh thoảng gã lại nhìn ngóng ra ngoài có ý đợi chờ, hẳn là Sa Keo chưa đến.

Xiu Bân ngồi yên giữa đám lá dày ăn phần xôi trưa của mình. Đến lúc nắng hơi chếch về phía tây mới nghe tiếng chân trâu trên mặt đất cây rừng và tiếng của lão râu rậm ồ ề vang lên:

- Bắt người ta chờ mỏi mệt đó nghe!

Tiếng Sa Keo đáp:

- Ba con trâu này khó lùa hết sức. Mấy hôm nay lũ trẻ nhỏ không dám thả trâu vào rừng nên chúng đói quá, cứ dừng lại ăn mãi thôi. Đánh gãy ba bốn cây roi rồi đấy.

- Thả cho ăn đỡ ít miếng cỏ lùm quanh đây rồi lên ăn trưa để ta có thể về sớm.

- Hai con trâu trắng một sừng này đủ bù lại con ngựa bị mất rồi đấy. Còn con trâu trắng hai sừng, giữ lấy phần đó cho tôi.

- Này, mất con ngựa ô tôi tiếc quá đi. Nhưng tại sao nó lại mất? Nếu nó bứt dây thì nó phải về lại nhà. Không lẽ có một đứa nào lấy trộm?

- Biết đâu có một đôi thằng ở buôn Nước Cọp hay buôn Nước Duỗi qua đó tìm cam rồi đánh cắp về.

- Đúng ra ba con trâu trắng chưa bù được con ngựa đen ấy đâu.

- Thôi mà, hôm nào ta làm chúa làng rồi ta cho thêm.

- Bao giờ làm đấy?

- Lúc nào chẳng được. Thằng già Bu Then sắp chết, nhưng chẳng cần phải đợi lão xuống mồ. Nay mai, ta sẽ bắt lão nghỉ thôi. Dân làng chỉ còn biết sợ có Sa Keo này.

Sau đó, hai người im lặng. Xiu Bân nghe tiếng xoàn xoạt trong nhà và tiếng nói cười. Rồi lại yên lặng. Có lẽ họ đang ăn uống. Một lát sau người râu rậm xuống thang gỗ, ra lùa mấy con trâu ăn tản mác sau nhà. Sa Keo lững thững đi theo sau gã ra ngoài đầu rẫy.

Xiu Bân vội vàng nép sau bờ cây đi theo.

Đến một lối mòn, lão râu rậm dừng lại nói:

- Chuyến này là nghỉ giao trâu đấy nhé. Phải để cho họ yên một thời gian.

Sa Keo cười nói:

- Cho bọn họ nghỉ hết vụ mùa này.

Không nén được giận, Xiu Bân ở trong lùm cây nhảy ra, thét lớn:

- Sa Keo!

Lão phù thủy và người râu rậm giật nảy mình, hoảng hốt nhìn anh, cả hai cùng lăm lăm cây rựa trành trên tay. Xiu Bân không nén được giận, nói như gầm lên:

- Sa Keo! Ta bắt quả tang mày đem trâu làng giao cho người khác đó nghe.

Người rậm râu giữ nét mặt bình tĩnh trả lời:

- Trâu này là tôi mua của Sa Keo. Tôi mua thì tôi có quyền giữ lấy.

Nói xong, lão cười ha hả rồi quay lưng lại lấy roi đập mạnh lưng trâu, bước đi.

Xiu Bân sấn tới trước mặt Sa Keo, khiến lão lùi lại, anh quát:

- Mày không trả lời câu ta hỏi sao?

Sa Keo vẫn nhìn chăm chú Xiu Bân với vẻ dò xét, rồi gã làm bộ thân mật trả lời:

- Anh lầm rồi đó, anh Xiu Bân à. Anh lầm thật đó. hãy vào trong nhà sàn này, rồi ta sẽ nói rõ chuyện cho nghe. Chuyện dài dòng lắm và rắc rối lắm.

Xiu Bân cười lạt, đáp lại:

- Ta không vào trong nhà ấy làm gì. Có phải ngươi muốn trì hoãn để cho tên kia đem mất trâu đi phải không?

Lão phù thủy mỉm cười:

- Đừng có nói thế, Xiu Bân. Ta biết Xiu Bân nghèo khổ, không có con trâu nào cả. Những con trâu này là của dân làng. Ta khổ sở nhiều về họ nên ta có quyền được hưởng. Nhưng ta sẽ chia lại cho Xiu Bân hai con, ba con. Xiu Bân muốn nhiều hơn nữa cũng được. Ta không phải là người tham lam đâu. Sa Keo không biết tham lam của ai bao giờ.

Xiu Bân trợn mắt gằn từng tiếng một:

- Im đi! Tên cướp của buôn Nước Ràng! Tao không có trâu, tao không có ngựa, tao nghèo khổ đấy, nhưng tao không tham của người. Tao không muốn mày nói chuyện chia trâu với tao. Trâu đó là của dân làng, hãy trả lại cho dân làng!

Sa Keo nhìn anh cười lạt, rồi bảo:

- Đừng nóng giận thế, Xiu Bân. Ta nói thật cho anh biết: dân làng không ai chịu nghe anh nói cả đâu. Dân làng chỉ nghe Sa Keo mà thôi. Tối nay hay là mai đây, ta là chúa làng, Xiu Bân muốn sống yên lành thì hãy im đi, theo ta về buôn. Ta sẽ giúp đỡ cho Xiu Bân nhiều. Nếu trái ý ta, đừng trách.

Xiu Bân hét lên:

- Ma quỉ! Mày đừng có hòng lừa gạt dân làng! Ta phải lôi mày về buôn để cho mọi người hỏi tội.

Xiu Bân xông đến nắm lấy tay lão nhưng lão trì lại. Anh kéo mạnh lão rồi đẩy mạnh về phía trước. Lão chúi nhào xuống và khi Xiu Bân vừa tiến tới gần thì cánh tay dài loeo ngoeo của lão vung cây rựa lên, chém sả vào bả vai anh.

Xiu Bân lách người tránh thoát, chới với ngã ngửa vào cây lọ nồi gần đấy. Vừa ngay lúc ấy, mũi tên từ đâu vút đến, xuyên thẳng vào cánh tay anh. Xiu Bân loạng choạng ngã xuống. Sa Keo thấy vậy, vụt chạy biến vào trong rừng. Xiu Bân nằm yên nghe ngóng. Anh muốn kẻ thù tưởng rằng anh đã chết rồi và bỏ chạy đi. Anh nghe những bước chân chạy xa dần.

Xiu Bân gắng gượng ngồi dậy, rút vội mũi tên, không phải tên của Sa Keo. Đấy chính là của thằng cha lùa trâu ban nãy. Anh lấy chiếc rựa xẻ vào da thịt chỗ mũi tên cắm, để nặn máu độc. Anh đảo mắt nhìn chung quanh tìm ít lá cây nhai vội đắp vào vết thương rồi xé mảnh dồ quấn chặt vào cánh tay mình. Đoạn anh dắt mũi tên vào lưng khố, cầm rựa chạy về chỗ giấu con ngựa. Cánh tay nhức nhối gần như tê liệt.

Kha Li ngồi lâu sốt ruột, vừa thấy Xiu Bân từ xa rất mừng nhưng khi nhìn thấy máu me đầm đìa trên cánh tay anh, nó hốt hoảng hỏi:

- Sao thế? Sao thế hở anh Xiu Bân?

- Mau lên! Mở gấp con ngựa, chúng ta đuổi theo phù thủy Sa Keo.

Anh phóng gấp lên mình ngựa. Kha Li lên theo. Cố nén đau đớn, Xiu Bân thúc ngựa chạy hướng về lão Sa Keo vừa đi. Có thể lão đi theo tên râu rậm, có thể lão còn lần quẩn đâu đây để xem Xiu Bân động dạng thế nào.

Vừa qua khỏi một bụi cây, một mũi tên nữa vút đến trước mặt Xiu Bân, cắm vào một cây hê răng. Anh vội ghìm ngựa nhảy xuống, kéo Kha Li về bên kia lưng ngựa, núp vào một gốc cây to. Đoạn anh trườn tới rút vội mũi tên, đưa lên ngắm xem. Đúng là tên của Sa Keo. Anh bảo Kha Li:

- Nép sát vào gốc cây này, Kha Li. Sa Keo vẫn còn lẩn quẩn đâu đây.

Anh hạ cây nỏ nhắm hướng mũi tên lao tới ban nãy bắn mạnh một mũi tên không tẩm độc. Anh không muốn giết Sa Keo khi nó chưa được gặp mặt dân làng. Thốt nhiên ở trong bụi có tiếng động rồi những cành cây lay chuyển. Xiu Bân vụt chạy theo về hướng đó nhưng luôn cẩn thận dựa vào các thân cây lớn để phòng tên độc. Anh cố đuổi theo một quãng thì thấy Sa Keo lủi chạy trước mặt. Đến gần bờ suối, lão đang lúng túng chưa kịp lội qua, thì nghe Xiu Bân quát lớn:

- Đứng lại! Không tao giết chết!

Lão bỗng trợn trừng đôi mắt như con cú vọ, rồi cầm cây rựa trong tay lăm lăm, lão nói:

- Mày đến gần được tao đây thì mày mất mạng!

Xiu Bân vẫn vung cây rựa nhảy đến. Hai người chặt nhau loạn đả một hồi. Lão phù thủy có cánh tay dài như vượn và dẻo như một dây mây, vung cây rựa trành tới tấp. Nhưng anh Xiu Bân, dù một tay bị tê liệt, nhờ có sức mạnh lạ thường, mỗi lần lão vung lưỡi rựa chém xuống, anh đều lanh lẹ gạt ra và hai tiếng sắt chạm nhau leng keng tóe lửa. Xiu Bân không muốn giết hại Sa Keo, cuối cùng anh dồn lão ra gần suối và vung cây rựa thật mạnh hét một tiếng lớn, chém tới. Lão phù thủy vội né mình, té xuống vũng suối. Xiu Bân ném rựa, nhảy theo, giật được cây rựa ở trong tay lão và một tay ghì lấy cổ họng lão, kéo lão lên bờ. Anh lấy cây nỏ của lão đeo lên vai mình, và nhặt cây rựa bảo lão đi trước. Anh nói:

- Yên lặng mà đi thì tao tha chết cho mày.

Xiu Bân đưa lão đến tìm Kha Li. Thằng bé thấy anh vội cỡi con ngựa phóng đến. Lão phù thủy nhìn con ngựa một cách hằn học.

Đến một hẻm núi kín đáo, Xiu Bân cột lão vào một gốc cây, rồi anh cầm rựa chỉ vào ngực lão, anh hỏi:

- Sa Keo, mày giao trâu cho đứa nào, ở đâu? Nói thật, tao sẽ tha chết cho mày.

Sa Keo tái xanh giương đôi mắt lờ đờ vì sợ hãi, lắp bắp trả lời:

- Sa Keo giao cho A Đíp, em ông chúa làng ở buôn Nước Sụp.

Xiu Bân bèn nói:

- Đáng lẽ ta phải đưa mày đến đấy để đem trâu về, nhưng không có ngựa để cho mày đi, trời lại chiều rồi. Kha Li ở lại coi chừng Sa Keo, ta sẽ đến buôn Nước Sụp.

______________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG CHÍN

Tiếng Hú Trên Đỉnh Non Chà Hóc_CHƯƠNG BẢY


   


CHƯƠNG BẢY


Buổi chiều hôm đó, bà Bù Đốp không thấy con mình đâu, bèn sang nhà ông Tha Na hỏi thăm. Ông Tha Na đang ngồi rầu rĩ bên khung cửa cũng ngơ ngác nhớ rằng thằng con của ông đi đâu vắng mặt từ trưa đến giờ. Họ đều biết rằng con họ là những đứa trẻ rất ngoan, biết thương cha mẹ và chăm làm việc, nhưng trong đời sống vùng cao trẻ nhỏ vẫn quen lùng lội vào các núi rừng tìm kiếm trái cây những khi chúng không có việc phải giúp người lớn ở trên nương rẫy. Từ hôm tiếng hú nổi lên, có đứa trẻ nào dám rời xa khỏi buôn đâu? 

Khi trời sụp tối, nỗi lo sợ của họ càng tăng. Đến lúc mọi người đi ngủ, bà Bù Đốp và ông Tha Na tuyệt vọng hẳn rồi. Cả hai cùng úp mặt khóc ở bên bếp lửa.

Ông chúa làng Bu Then cũng rối cả ruột. Tai họa bắt đầu giáng xuống buôn ta rồi đó. Từ khi tiếng hú nổi lên, trâu làng đã hao mất đi, rồi hôm nay đến Kha Li, Min Pay là những trẻ ngoan trong buôn. Chúng nó bị cọp vồ rồi chăng? Nhưng đã từ lâu quanh buôn ít khi có loài thú dữ đến gần. Bẫy kẹp và các nương rẫy mở rộng đã đẩy lùi xa loài thú hại người. Buôn Nước Ràng ta khá cao và thú dữ vẫn thích ở những miền thấp hơn có lắm con mồi. Hay là nó bị quỉ dữ ăn thịt? Nhưng làng đã cúng trâu rồi và quỉ theo lời của lão Sa Keo vẫn còn mắc kẹt dưới chân của ngọn Chà Hóc hoang vu. Bọn chúng không dám đi xa, có lẽ lặn hụp ở vùng suối nào rồi chết đuối chăng? Ngày mai sẽ bảo nhiều người lùng theo ngọn suối xem sao.

Ông già Bu Then tìm đến an ủi từng người, bảo họ đừng buồn. Tai nạn của buôn là tai nạn chung, ai cũng lo đầy cả ruột, có ai vui sướng gì đâu. Đừng có khóc than lớn tiếng làm cho buôn ta rối loạn cả lên, khổ sở thêm nhiều kẻ khác.

Qua sáng hôm sau, ông Bu Then, ông Tha Na, bà Bù Đốp, anh Xiu Bân cùng nhiều người nữa trong buôn tìm kiếm suốt các vùng suối gần đấy vẫn không thấy dấu vết gì đáng nghi về hai đứa trẻ. Nỗi lo của buôn càng tăng, và trưa hôm ấy nhiều người không ăn được miếng cơm nào. Hai đứa trẻ bỗng biến mất càng làm cho nỗi sợ hãi quỉ dữ trở nên khủng khiếp lạ thường. Ông Bu Then đến tìm Sa Keo cũng không thấy lão ở nhà. Suốt đêm hôm qua lão cũng vắng mặt. Hay là lão cũng làm mồi luôn cho quỉ dữ?

Hoàng hôn buông màu đen xuống cảnh vật đồng thời cũng gieo rắc nỗi kinh hoàng cho dân làng. Mọi người đều đóng kín cửa lúc trời vừa tối và không dám thắp một ngọn lửa nào. Riêng ông Bu Then cùng với Xiu Bân và một đôi người thanh niên tụ hội ở tại nhà làng lắng nghe động tĩnh chung quanh.

Đêm tối xuống sâu trên vùng đồi núi âm thầm càng làm cho vẻ bí mật của chốn hoang vu nhuộm đầy đe dọa. Nắm chặt cây dáo mài nhọn, họ cùng chong tai nghe ngóng trong đêm tưởng có thể dò đoán được qua muôn ngàn tiếng động nhỏ mơ hồ quanh mình bao nhiêu dự định quái ác đang rình rập họ. Đầu óc của họ căng thẳng, đôi mắt mệt mỏi của họ vẫn cố mở rộng và họ không sao ngủ được đã mấy đêm rồi.

Lúc ấy, Kha Li và Min Pay về đến cổng làng. Chúng đem con ngựa cột vào trong bụi giang rậm dưới suối rồi cả hai đứa vào buôn. Kha Li bảo với Min Pay:

- Ta đừng nói gì với ai, lỡ lão Sa Keo nghe được thì nguy khốn lắm. Để chúng ta tìm đến ông chúa làng.

Hai đứa tiến sâu vào buôn. Đôi người nghe tiếng chân đi hé cửa ra nhìn, thoáng thấy bóng hai đứa trẻ vội kêu rú lên tưởng là hồn chúng hiện về, hốt hoảng đóng sập cửa lại.

Ghé nhà của ông Bu Then không thấy ông đâu, chúng bèn đi đến nhà làng. Thấy hai đứa trẻ, ông chúa làng và mọi người ngạc nhiên kêu không thành tiếng, chạy đến, rồi ông chúa làng nói như hụt hơi:

- Cái trời đất ơi! Chúng mày đi đâu từ mãi hôm qua đến giờ?

Min Pay để cho Kha Li nói hết sự việc. Nó vừa dứt lời, ông chúa làng ôm chặt nó, nghẹn ngào. Ông bảo mọi người:

- Thôi được, như thế là ta hiểu rồi. Buôn ta không bị con quỉ dữ nào làm hại cả đâu. Con quỉ dữ của buôn này là Sa Keo đó. Thế nào đêm nay hay là sáng mai nó cũng trở về. Tất cả ở đây đừng ai nói gì về chuyện hai đứa trẻ nhỏ. Chúng ta phải biết im lặng. Có những câu nói mở miệng không được đúng chỗ sẽ gây nguy hại rất nhiều. Xiu Bân hãy ra dắt con ngựa ô giấu kín sau rừng, không có loài thú dữ đâu mà sợ. Ngày mai, Xiu Bân sẽ có nhiều việc để lo cho buôn.

Ông già đưa hai bàn tay gầy gò xoa lên mình hai đứa trẻ:

- Kha Li, Min Pay là những đứa trẻ khôn ngoan, gan dạ trong buôn ta đó. Để ta đưa các con về tận nhà, các con ăn no rồi ngủ một giấc cho khỏe. Cha mẹ các con trông chờ rầu cả ruột gan đi mà.

Rồi ông lại dặn dò thêm:

- Bảo với mọi người các con đi lạc trong núi. Chỉ được nói thế mà thôi, nhớ đấy.

Ông già dắt tay hai đứa trẻ đi đến nhà bà Bù Đốp và ông Tha Na. Bà Bù Đốp gặp được con, rú lên, ôm chặt lấy nó mà khóc. Nó vuốt đôi má gầy hóp của mẹ, nghẹn ngào:

- Mẹ ơi, đừng khóc. Con mạnh khỏe lắm đấy mà.

Còn ông Tha Na cứ ngồi nhìn đứa con mình chăm chắm, nước mắt trào ra. Đoạn ông cầm lấy tay con, nói bằng một giọng run rẩy:

- Mất hết trâu heo, nương rẫy cũng được, miễn còn có mày là tao yên cái bụng rồi.

Ông Bu Then bảo:

- Thôi, thế là vui rồi, đừng hỏi han gì nữa hết. Cho nó ăn đi, ngủ đi, ngày mai rồi sẽ nói chuyện.

Gần khuya hôm ấy, Lão Sa keo mới chập choạng về buôn. Lão đi thất thểu, mệt nhọc qua cái sân buôn, hai tay loeo ngoeo vẫn đưa quều quào trong một nhịp bước lắc lư.

Xiu Bân ngồi ở nhà làng chăm chú nhìn theo bóng lão phù thủ, vẻ mặt của anh cau lại một cách dữ tợn. Anh nói như trong tiếng rít:

- Chúng ta để yên cho con quỉ dữ này phá buôn sao?

Ông Bu Then nói:

- Loài quỉ không sao hơn được con người. Nhưng phải chờ xem nó định làm gì. Đêm nay thế nào tiếng hú cũng vang dội núi rừng. Kha Li đã phá vỡ hết chà cây che kín miệng hang rồi đó. Sa Keo phải trả lời cho dân làng về câu chuyện này.

Đúng như lời ông Bu Then, vào khuya hôm ấy khi ngọn gió lớn thổi về khua động rạt rào cây lá quanh buôn, tiếng hú cũng được vùng dậy mãnh liệt lạ thường. Nó rống y hệt như đêm đầu tiên, lồng lộn, quằn quại, khiến cho dân làng choàng dậy, ngơ ngác nhìn nhau. Nhiều người quá sức sợ hãi đến nỗi bất chấp hiểm nghèo, kéo nhau chạy đến tìm ông chúa làng:

- Này ông Bu Then, sao quỉ đã ăn hết trâu của ta mà vẫn không chịu im đi?

Ông chúa làng đáp:

- Chúng ta cùng đến hỏi lão Sa Keo. Lão phải biết rõ điều đó.

Rồi ông cùng với dân làng kéo đến nhà tên phù thủy.

Lão Sa keo đã ngồi bên khung cửa, thân hình của lão nổi bật lên vùng ánh sáng đỏ loét của một bếp lửa cháy rực bên trong. Anh Y Nhông nói:

- Này Sa keo, tại sao tiếng hú không chịu im đi?

Ông già Kha Đíp nhả cái ống vố, hỏi tiếp:

- Bấy nhiêu con trâu chưa làm no bụng nó sao?

Anh Kiu hằn học:

- Hay là Sa Keo không gặp con quỉ?

Chị Đát và ông Ti Meo cùng tranh nhau nói một lần:

- Sa Keo hãy trả lời đi! Trả lời cho dân làng đi!

Lúc ấy Sa Keo mới chống tay vào khung cửa đứng lên, đảo cặp mắt xuống đám người lố nhố ở dưới, lão nói:

- Ma quỉ đã trả lời rồi.

Rồi lão dừng lại, ho lên sù sụ. Ông Ti Meo nói:

- Trả lời làm sao?

Sa Keo tằng hắng, nói bằng cái giọng khàn khàn quen thuộc:

- Ma quỉ thèm ăn trâu trắng cho mau lành bệnh. Cúng thêm ba con trâu trắng thì nó sẽ để ta yên.

Xiu Bân gằn giọng hỏi lớn:

- Có thật vậy không?

Sa Keo cười to:

- Ma quỉ đâu thèm nói dối với người.

Xiu Bân lại nói:

- Nhưng ăn trâu rồi nó còn nói dối thì chúng ta biết làm sao?

Sa Keo lớn tiếng:

- Có ta ở đây, ta đoan chắc là ma quỉ giữ lời. Nếu không, ta phải bồi thường các con mồi lại cho các ngươi đấy. Ngày mai, ta sẽ gặp nó để cho nó biết ý của các người.

Xiu Bân la lớn:

- Được rồi, Sa Keo đã hứa với dân làng ta như vậy, dân làng tin ở Sa Keo. Nếu quỉ không giữ lời hứa thì Sa keo phải bồi thường.

Ông Bu Then bảo mọi người:

- Thế là được rồi, Sa Keo đã nói trước mặt chúng ta vậy đó, dân làng hãy yên cái bụng mà về ngủ đi.

Mọi người nghe theo, riu ríu trở về nhà sàn của mình. Tiếng hú vẫn cứ vang lên lồng lộn như con thú dữ khổng lồ muốn nuốt chửng hết cây rừng đá núi.

_____________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG TÁM


oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>