Chủ Nhật, 18 tháng 2, 2018

Năm Tuất Nói Chuyện Chó


Thấm thoát mà đã đến mùa Xuân mới. Trong 12 con giáp có lẽ năm nay, năm con chó ít được người ta ưa chuộng nhất. Năm con chó! Nghe chả văn vẻ lấy một ly nào hết, lại còn làm mình như ngưa ngứa lỗ tai găn gắt trong cổ, buồn buồn làm sao ấy! Nhưng biết sao được? Đâu phải loài chó chúng tự dưng mà muốn nổi tiếng, muốn xuất đầu lộ diện cho công chúng chiêm ngưỡng, ca ngợi như... ai? Chẳng qua là cổ nhân đã đặt để ra như vậy và người đời họ theo truyền thống cũ truyền thống của đa số các dân tộc đông phương mà theo như vậy đó thôi.

Song gần đây, hình như có sự thay đổi: vẫn giữ theo lề lối cũ, chưa tàn năm cũ, nhà buôn đã chưng lịch mới tràn ra khắp các vỉa hè ; nhưng khác mọi năm, phần đông trên đầu tờ lịch, họ làm như quên rằng năm nay do loài chó đứng tên ; họ không thèm để cả hai chữ: canh tuất chứ đừng nói chi chuyện vẽ hình, tranh loài chó! Thật là một bất công! Nếu tôi nhớ không lầm thì năm rồi Tranh Gà được thiên hạ tranh nhau khai thác, trên bìa lịch, trên bìa báo xuân vô số Gà được ăn trên, ngồi trước một cách rất ngạo nghễ, kiêu hãnh: gà cồ, gà mái, gà giò, gà ấp, gà nòi, gà con, gà mẹ... thậm chí gà đá cũng được đề cao! Trang nhã đơn sơ có, rực rỡ rườm rà có, lòe loẹt diêm dúa có, thực là muôn mầu nghìn vẻ. Ấy thế mà đến năm nay, thiên hạ lờ đi, bỏ rơi loài Chó, không do một nguyên nhân chính đáng nào ngoài có mỗi cái định kiến sai lầm là loài Chó không có gì đáng đề cao, không có gì thanh lịch!

Phải! Đối với loài người thì Gà đáng quí hơn, vì Gà cung cấp cho họ thịt béo, trứng ngon, còn loài Chó chỉ được có tài mọn là giữ nhà! Khốn nỗi, ở trên giải đất chữ S ngày hôm nay, nhất là tại đô thị Sài Gòn này, người ta vất vả quanh năm, vắt mũi đút miệng còn e rằng chưa đủ ăn đây, có đâu hòng nuôi chó? Có gì quí giá đáng kể đâu mà hòng dám toan tính đến chuyện nuôi chó giữ nhà? Nuôi chó giữ nhà? Đó là chuyện thời xưa, đời thái bình thịnh trị kia, bạn ạ!

Tôi thấy có người ghét chó kinh khủng, nhất là loại chó nhập cảng từ ngoại bang, ở trong mấy cái biệt thự rộng thênh thang, xung quanh có vô số bồn hoa bãi cỏ, lối đi thì lát sỏi trắng ngà ; mỗi khi có kẻ ra người vào tiếng giày guốc chạm lên sỏi kêu nghe sào sạo thật khó chịu cái lỗ tai! Mấy người này hình như có tinh thần bài ngoại triệt để, cho rằng chủ mấy ngôi biệt thự kia có lỗi với chó nội hóa: chúng làm sao mà chê chúng? Lại đi mời chó xứ lạ về nuôi cho tốn kém, hao hụt ngân quĩ quốc gia vì chó xứ ngoài kén ăn, bữa nào thiếu thịt thì chê ỷ, chê ôi, chứ không dễ tính như chó xứ mình đó là chưa kể trong lúc này, biết bao nhiêu đồng bào nghèo, mắm rau qua quít, quí hồ đầy bụng, làm gì có thịt? Họ có lý riêng của họ, tôi không muốn phê bình cả hai bên vì tôi muốn giữ đúng vai trò trung lập, không thiên vị bên nào cả.

Thật thà mà nói, tôi không ghét bỏ chi mấy chú chó nhà sang, dù rằng mấy chú cũng lây cái khí thế của chủ nhân, vênh váo ra trò mỗi khi thấy bóng ai thấp thoáng ngoài cổng chính. Không những muốn giữ đúng vai trò trung lập mà tôi còn muốn cho ai nấy cũng biết rằng tôi cũng rất công bình nữa kia, thưa bạn! Và một người công bình, không bao giờ lại đi trút cái giận vu vơ một cách xằng bậy bằng sự lên án chung cả một loài vật đáng yêu, loài chó bao giờ.

Nay, nhân dịp Gà đi, Chó đến, mà Chó lại không được đón tiếp lịch sự, nồng hậu, làm tôi thấy bất bình, nên có vài lời thô thiển biện hộ cho Chó xem sao!

Truy nguyên ra thì từ ngàn xưa, chó đã là bạn của loài người, bạn thân kia đấy. Thôn quê ta không mấy nhà là không có chó. Ban đêm, chó là kẻ gác cửa, giữ nhà đáng tin cẩn ơn bất cứ một người tỉnh ngủ nào.

Thuở nhỏ, tại quê tôi, tôi từng thấy nhiều nhà nghèo quá, cùng quẫn cho đến nỗi họ phải bấm bụng bán chó đi hay đổi gạo ; có người không đến mức khổ thế, song vì nể quí họ hàng em út, cháu chắt chi đó, cho không. Cảnh tượng thật đáng cười... ra nước mắt: con vật được xích kỹ, chủ mới ỳ ạch lôi đi nếu chủ mới là đứa trẻ thì càng khó khăn, vất vả con chó trì lại, kêu ăng ẳng, một mực phản đối cách đối xử bất công hoặc rền rĩ van nài nghe thật não lòng.

Trong lúc đó, trẻ con nhà chủ cũ đứa thì ngồi phệch xuống đất khóc ti tỉ, đứa nằm vạ ngay giữa nhà đòi chó, đứa lại ôm cứng cột nhà, dậm chân thình thình xuống nền đất thó tưởng như có thể làm lủng đất đi, và vừa dậm như thế vừa gào khan cả cổ. Đừng có ai dại dột mà nghĩ rằng mình đủ oai quyền để đàn áp cơn phẫn nộ chính đáng của chúng, dỗ dành cũng vô hiệu, cứ mặc chúng, rồi chúng gào khản, khóc mỏi chúng sẽ nguôi dần.

Không khí trong nhà lặng lẽ, buồn thảm như thế cỡ vài ngày, có khi ba, bốn hay hơn nữa. Rồi thình lình, lũ trẻ reo vui lên vì chó đột nhiên xuất hiện ra nó đã bứt xích trở về người lớn thì thào bàn tán... và không bao lâu cảnh cũ tái diễn, có khi tái diễn đến vài lần!

Có kẻ vô tâm thốt lên một câu đáng ghét:

- Thứ chó ngu! Ở nhà sang không ở...

Bên Trung Hoa không biết trẻ con có thân với chó đến mức đó không mà trong sách vở thơ phú không thấy đả động đến "bạn bốn chân của loài người"? Chắc cái nước rộng lớn và tự hào là có một nền văn minh kỳ cựu đó cũng chê chó bẩn, không đáng kể? Đặc biệt các thi hào Trung Quốc ưa ca tụng chim, bướmnai.

Làm sao họ có thể vô tâm cho đến nỗi không biết rằng ba loài này không được cái hân hạnh đứng chung danh sách trong 12 con Giáp?

Tôi lại có cảm tưởng xấu về các họa sĩ, có lý nào từ thuở bé cho đến trưởng thành họ không từng nhìn đến chó đôi lần? Vậy mà trong các phòng triển lãm tại đô thành đã nhiều năm qua, tôi không được thấy tranh chó trưng bày lấy một bận xem sao. Buồn cười nhất là có nhà danh họa Trung Quốc lại Trung Quốc, thật là ngộ nghĩnh đã triển lãm cả một phòng tranh không, phải nói là một rừng tranh mới đúng phải, nhà danh họa này đã triển lãm cả một rừng tranh chật ních toàn Cọp với cọp, không có đề tài nào xen vô cả. Cọp ngồi, đứng, nằm, ngủ, vươn mình xốc tới, nhe nanh dữ tợn tựa sắp vồ mồi, lim dim mắt trong bóng râm của rừng già, dáng bộ đang suy tư như nhà hiền triết, sóng đôi với tri kỷ xuống thung lũng v.v... thật là đủ tư thế... đủ cả! Chúa sơn lâm không chỉ ngự trị trong rừng xanh mà còn ngự ngay giữa nơi văn minh đô hội! (Tôi cam đoan điều này: tình cờ mà nha danh họa tài hoa kia gặp chúa sơn lâm, chắc chắn trăm phần trăm chúa sơn lâm không vị tình kẻ đã đề cao mình mà buông tha đâu trời xanh ạ! Đừng hòng mua chuộc cảm tình kẻ mạnh làm chi)

Ngoài Cọp ra, Ngựa cũng là con vật quí, các họa sĩ cũng ưa vẽ ngựa, ngựa còn được tạc tượng, được đứng trong đền thờ. Ngựa của Quan Vân Trường, con Xích Thố trong truyện Tam Quốc, được liệt vào hàng ngựa thần kia đấy!

Song được trọng vọng nhất, ta phải kể đến Rồng. Chắc không ai cho là tôi nói ngoa: mỗi năm đến phiên Rồng ra mắt thì, ôi thôi! Rồng được in tràn trên bìa lịch, trên các báo xuân, to có, nhỏ có, đủ mầu ; hình này Rồng đang bay giữa không trung, hình kia Rồng lẫn vào trong mây hết một nửa, Rồng đang uốn lượn nhởn nhơ, Rồng giận dữ gây giông tố, gió mưa, sấm sét...

Ngay những khi không đúng vào lúc Rồng xuất đầu lộ diện, chường mặt với đời, thiên hạ vẫn mượn uy danh Rồng để chỉ đến, nhắc nhở đến cái gì vĩ đại, phi thường, tốt đẹp nhất: mạnh như Rồng, nét chữ tợ Rồng bay, Rồng mây gặp hội v.v... Đặc biệt hơn nữa, Rồng còn được lôi tuột ra để kề cận bên đức vua hơi hướm của vua lẫn lộn với Rồng khó mà phân biệt sân chầu thì gọi là sân Rồng, thuyền vua dùng thì gọi là thuyền Rồng, mặt vua thì kêu là mặt Rồng (long nhan). Vua váng đầu sổ mũi, cần vời đến quan ngự y ư? Ấy là mình Rồng không yên (long thể bất an).

Đền đài, lăng tẩm, miếu mạo, chùa chiền không nơi nào thiếu hình ảnh Rồng ngự trị: Rồng quấn quanh cột trụ, uốn khúc ngoài cửa tam quan, ngự ngay trên bệ thờ, chầu bốn góc sân, nằm dọc theo mái ngói. Bảo tàng viện mà thiếu bóng Rồng ư? Coi còn ra cái thể thống gì? Trên mão, trên áo, trên hia các nhà quí tộc, đại thần và đức vua cũng có thêu hình Rồng. Có Rồng, sự tôn nghiêm chừng như được tăng kích thước? Thậm chí chén bát mà có vẽ Rồng cũng quí hơn vẽ hoa, bướm, cỏ, cây!

Tôi có bà chị họ, mỗi bận khách đến nhà là một lần chị dài lời gọi gia nhân bằng giọng trang trọng:

- Pha nước, bay! Lấy bộ tách con Rồng ấy...

Và khi có khách dùng bữa, giọng chị trang trọng hơn chút nữa:

- Soạn sẵn mấy cái tô con Rồng để múc xúp nghe?

Tô con Rồng (là một thứ vật dụng có tính cách quí phái Á Đông) dùng đựng "xúp" là món thực phẩm thuộc về loài canh (của tây phương) thật là Á Âu hỗn hợp, bạn thấy không? Một người như vậy, không trách chi đã thâm niên công vụ trong một cơ sở mang cái tên bằng ba thứ tiếng Anh Việt Pháp là phải!

Nhưng chị này vẫn thua cô em gái tôi, cô lúc nào cũng nhắc nhở cho tôi biết rằng cô có tinh thần khoa học, vậy mà lại méo mó cho đến nỗi mỗi khi tôi nói:

- Rồng chỉ là con vật do tưởng tượng mà thôi.

Tức thì cô hùng hổ phản đối ngay. Lúc nào cô em tôi cũng có cái mặc cảm tự tôn kỳ quặc, cho là mình cao hơn một số người khác. nguyên do chỉ vì cô... mang tuổi con Rồng! Thỉnh thoảng, cô bảo tôi:

- Kỳ ghê chị ạ! Tuổi Rồng như em mà lại vất vả hoài, không nhàn nhã lấy đôi chút xem sao! Trong lúc đó, con bạn cùng sở với em lúc nào cũng ung dung...

- Cô ấy tuổi Rồng hẳn?

Tôi ngắt lời em tôi. Em tôi trừng mắt:

- Phải tuổi Rồng thì em còn nói làm gì? Nó tuổi con... heo chớ!

Giọng em tôi đã hết văn vẻ, nó lộ nguyên hình là một người bình dân miền Nam mỗi khi cáu kỉnh. Nếu thường thì nó đã uốn lưỡi mà rằng: con lợn chứ cho ra người chữ nghĩa. Tôi cười sặc sụa vì cái nhận xét trên. Tiếng cười của tôi làm em tôi phật ý, cô gặng:

- Chị cười cái gì? Có gì vui đâu? Cười gì em?

Tôi phỉnh nó một câu:

- Không, chị không cười em, chị cười cô bạn con heo kia! Nhưng em cũng không nên suy bì làm chi. Con heo nó sung sướng nhàn nhã là phải, vậy chớ người ta có dùng heo trong việc coi nhà được đâu? Mục đích chỉ là chờ cho lớn mập rồi ăn thịt mà! Em ưng cuộc đời kết thúc cách đó sao?

Ủa, chết chửa! Tôi lan man ngoài đề chi vậy kìa, tôi chỉ muốn biện hộ cho chó mà sao dài dòng chuyện khác? Tôi xin trở lại: người mình mỗi lần muốn tỏ ý khinh miệt ai, mắng nhiếc ai vẫn dùng cái câu cửa miệng:

- Ngu như chó!

Hay:

- Đồ thứ chó!

Song sự thật chó có ngu đâu? Nó là con vật trung thành và thông minh bậc nhất so với các gia súc khác. Hay là ta chịu ảnh hưởng người Tàu? Chứ tây phương họ công bình với chó hơn: Chúng được đi xe hơi, nằm trên nệm, ăn bằng dĩa, thực đơn không khác chi người dĩ nhiên đó là chó nhà sang Chó nhà sang bên ấy làm người nghèo bên ấy tủi thân hơn xứ ta nhiều. Các tiểu thư chó được chủ đưa đến mỹ viện cắt xén, sửa sang bộ lông mỗi tuần cho thêm mỹ miều, xinh đẹp không khác chi các tiều thư người săn sóc đầu tóc và sắc đẹp!

Trên màn ảnh, có khi chó là vai chính trong một phim mầu được rất đông khán giả yêu chuộng, say mê. Khỏi nhắc đến loại chó săn, tài ba không kém chi người!

Trở về xứ ta, Cao Bá Quát, trong khi ngồi dạy học ở phủ Quốc Oai đã mang chó vào bồ chữ của ông "Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái" Phải chăng ông là vị nho sĩ thứ nhất làm cách mạng văn thơ trước khi hành động?

Thời tiền chiến cũng có đôi nhà văn đưa chó vào tác phẩm, đưa vào và nói đến bằng giọng thương yêu, trong niềm thông cảm chứ không phải bằng giọng mai mỉa làm chó tủi thân như kiểu ông Nguyễn Vỹ: "Nhà văn An nam khổ như chó" đâu, bạn ạ!

Nhưng mà thôi, nói chi chuyện xa xôi hay xưa cũ, ngay trong Tủ Sách Tuổi Hoa của chúng ta đây, ấn hành trên dưới hai chục cuốn, thì trong số đó Chó có hân hạnh chiếm ngự trên ba cuốn rồi. Có khi, chó là vai chính, ra, vào, lên, xuống, trò chuyện, tâm tình cùng độc giả như "Đường Vào Hang Cọp" của Hà Châu, có khi là vai phụ song có những hành động can đảm đáng khen như con Vện trong "Con Tàu Bí Mật" của Nguyễn Trường Sơn ; lại có lúc không được nhắc nhở nhiều, song cũng gây sự chú ý cho độc giả: mấy con chó có lông mướt như được tẩm dầu, hách xì xằng với người nghèo... giống chủ, hay ốm đói còm nhom đến nỗi thấy người lạ không đủ sức vồ lên làm dữ khi nhân vật chính của truyện "Máu Đào Nước Lã" đi ngang!

Tôi sợ mang tiếng là bép xép, nhưng có bất công không, nếu không kể đến con Bốp phi thường sắp ra mắt quí bạn trên Tuổi Hoa kể từ số Xuân năm nay trong thiên truyện phiêu lưu "Ngục Thất Giữa Rừng Già"? Mà thôi, kể ra e quá sớm, hãy để các bạn từ từ thưởng thức, thú vị hơn.

Tuy nhiên, bài thơ "Bán Chó, Dặn Chó" dưới đây mới thật là một bài thơ đặc sắc và nếu loài chó có văn tự, có lịch sử thì bài này rất đáng được mang tàng trữ vào Viện Bảo Tàng (bên ngoài không quên có Rồng canh gác), sau khi phổ biến khắp nơi để giòng họ nhà Chó ghi tâm khắc cốt. Ui chao! Bài thơ của ai? Dài ngắn thế nào? Hình thức ra sao? Có gì bên trong mà ca ngợi ghê gớm vậy? (các bạn vội vàng hỏi).

Xin thưa rõ, tôi không bao giờ dám nói ngoa, và cách tốt nhất làm vừa lòng các bạn độc giả là ghi trọn lên dây để các bạn cùng thưởng thức với cái hy vọng các bạn cũng cảm nghĩ như tôi. Tôi không e ngại chút nào vì bài thơ ấy không phải của tôi, cái gì không phải của mình, mình có quyền khen nếu thấy hay, nhất là mình chưa hề được quen biết, chưa thấy mặt mũi tác giả ra sao, nên càng... yên chí.

BÁN CHÓ, DẶN CHÓ

Nhà tao trộm chẳng thèm vào
Nuôi mày, cắn trộm, tao nào có vui?
Để mày đói, tội với giời,
Cơm tao, tao phải để nuôi người nhà

Trông mày xương bọc lần da
"Chó gầy hổ mặt" người ta rông quàng.
Dù bông, dù đốm, dù khoang,
Đã thân chó ghẻ cũng xoàng, chó ơi!

Nhà tao không vú, không bồi,
Tắm thời đã ít, dắt chơi không rồi,
Gần người, người đuổi vì hôi,
Còn ai dám để đứng ngồi ở bên?

Có mày tao chịu thêm hèn,
Nhà sang, chó mực lông đen mực tầu.
Mày thì xám bụng, xoăn râu
Thay lông, sao bấy nhiêu lâu không dài?

Bán mày tao cũng ngậm ngùi
Vì mày xấu xí còn ai nuôi mày?
Thân mày hổ tiếng con cầy
Đến khi gần chết còn đầy đọa sao?

Nhưng mày xét chút tình tao
Mày hiểu các món thu vào, tiêu ra.
Đồng bạc giấy, gió thổi qua
Mỏng manh nó chẳng ở nhà ta lâu!

Chắc mày thấu nỗi nông sâu
Hay mày là chó biết đâu nỗi này!
Người còn đang thiếu ăn đây,
Nhiều hôm vì thiếu để mày liếm quanh.

Tao đành ngoảnh mặt làm thinh...
Thôi! Mày đành để người khênh ngược mày.
Chó ơi, hóa kiếp là hay
Làm con chim phượng mà bay tung trời!

Cũng đừng cầu cạnh làm người
Thương, lo, sầu, tủi một đời ích chi!
Lại còn học thói sân si
Tranh nhau từng miếng khác gì chó đâu?

*

Chó nghe chủ bấy nhiêu câu
Lọt tai, chó cũng gượng sầu làm tươi,
Vẫy đuôi nhìn chủ ngùi ngùi...

Đằng Liễn

Ngày tết ngày nhất mà bài thơ đọc nghe thảm quá, khốn nỗi, tôi đâu dám múa rìu qua mắt thợ, sửa lại cho thơ có vẻ vui hơn? Và nghĩ rằng để chuộc lỗi với các bạn độc giả Tuổi Hoa, tôi cố gắng làm mấy câu thơ tạ tội:

Rằng hay thì quả có hay,
Đọc lên nghe não lòng người quá thôi!
Ước mong các bạn của tôi
Đừng ai lâm cảnh của người trong thơ!

Bênh vực cho chó như thế kể cũng tận tình. Song nếu có ai đặt câu hỏi:

- Như thế chắc nhà chị ít nhất cũng có nuôi vài con chó? Chị cảm tình với chó quá mà?

Thì câu trả lời thật thà, dứt khoát của tôi đây:

- Không! Không một mống! Thì giờ đâu săn sóc chúng? Không có thì giờ săn sóc lũ con đây...


MINH QUÂN    


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 122, Xuân Canh Tuất, ra ngày 15-1 và 1-2-1970)

Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2018

Rộn Ràng Xuân


















1.
Mùa xuân, mùa xuân
Bỗng đến thật gần
Mai vàng chúm chím
Lòng sao bâng khuâng

Đồi xuân mướt xanh
Trời xuân trong lành
Sóng xô nước biếc
Hồ xuân long lanh

2.
Nắng xuân nắng xuân
Chiếu khắp nẻo đường
Xuân hồng trên má
Quên hết sầu thương


Hương xuân ngây ngất
Khách xuân đa tình
Vườn xuân đua sắc
Hoa cười lung linh

3.
Gió xuân gió xuân
Chiều lành lạnh thổi
Sáo diều vi vu
Bay liệng từng không

Dáng xuân dịu dàng
Đường xuân thênh thang
Lộc xuân e ấp 
Chào xuân  huy hoàng

4.
Đêm xuân đêm xuân
Rượu xuân nồng nàn
Hồn xuân phơi phới
Pháo xuân rộn ràng

Đàn xuân tưng bừng
Trống  lân vang rần
Men xuân  thắm đượm
Tình xuân ấm nồng.

           Trần Thị Phương Lan
            (Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2018

Ngày Xuân Con Én


Lưng trời mở hội ngàn mây
Ngút ngàn non thẳm én bay trở về.

Nắng vàng lóng lánh sơn mê
Nụ mơ kết trái lối về cuối đông

Điệu đàn mây dệt trên không
Uyên ương gom nắng thành dòng thơ Xuân.

Vắt trong tiếng hát ngại ngùng
Nghe hương vụn vỡ trong lòng cỏ cây

Mùa Xuân đỏ chín đong đầy,
Bờ mi nhòa nhạt, môi cay hương nồng

Thiên đường hồn nhiên ngóng trông
Nâng ly rượu đón nàng Xuân má đào.

                                      PHẠM CHÍ THÀNH

(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Giáp Dần, 1974)

Xuân Vui






















Sáng mồng một  dậy chải đầu

Mặc áo dài, trang điểm vội

Em đi lễ  trong nguyện cầu

Trên đường đi  trời  còn tối


Đón mừng xuân theo gió  bay 

Lộc đầu cành  mừng tuổi mới

Chẳng uống gì sao thấy say

Em thấy lòng vui phơi phới


Ai cũng đẹp, thật là tươi

Em nhận được nhiều lời chúc

Một năm tròn luôn vui cười

May mắn hoài  cùng hạnh phúc


Nghe ấm áp lời chào thăm

Mừng tuổi nhau trong tiếng pháo

Nắng lấp lánh ngày đầu năm

Hoa mai vàng  như màu áo

                         NHÃ UYÊN
                     

Thứ Năm, 15 tháng 2, 2018

Giao Thừa... Em Có Biết?



Con Sáu ngồi bệt xuống vỉa hè, giương đôi mắt ngơ ngác trông ra đường. Đêm đã xuống từ lâu. Những cột đèn chạy dài đem ánh sáng yếu ớt cho khu phố. Nó ngồi đấy không biết tự bao giờ, khi tôi ra cửa sổ ngó xuống thì bắt gặp cái thân thể gầy còm ấy co ro như lạnh giá. Bây giờ gần Tết rồi, ai nấy đều phải vui mừng mới đúng. Từ hăm bốn, hăm lăm, nhiều nhà đã sửa soạn đón xuân. Trải qua mấy ngày, bộ mặt khu phố hoàn toàn đổi mới. Nhà cửa được sơn quét lại đẹp đẽ, đôi khi còn được điểm tô bằng những chậu lan, cây mai hay các loại hoa sặc sỡ. Trẻ con cũng bớt đánh lộn, nghịch bẩn như mọi ngày. Nhiều đứa lấy quần áo mới ra mặc, thay cho chiếc quần thủng đít hay chiếc áo rách tay thường ngày.

Trong khi mọi người rộn ràng như thế, thì lẻ loi, cô độc, con Sáu âm thầm chịu khổ cực. Tôi có cảm tình với con bé chính vì cái bộ mặt dễ thương kia. Sự nghèo khổ không làm gương mặt nó mất đi vẻ thơ ngây.

Một buổi sáng khi đi qua ngôi miếu gần đấy, tôi trông thấy con Sáu. Đôi mắt ướt át đen láy làm tôi chú ý đến nó ngay. Nó ngồi phệt trên hè, bên cạnh, một cái rổ thủng nhiều chỗ, những lá hoa sặc sỡ. Nó đang chơi bán hàng thì phải. Con bé thầm thì nói chuyện một mình. Thỉnh thoảng, nó lại gom lá bỏ vào rổ, rồi lát sau, trút hết lá để cho hoa vào. Nó lẩn quẩn chơi một mình cho đến khi chợt bắt gặp đôi mắt ngạc nhiên của tôi đang nhìn nó chăm chú. Con Sáu ngượng nghịu cười đáng yêu. Nó thu hết lá hoa vào rổ, toan đứng dậy, nhưng một chiếc xe chạy vụt qua làm nước bẩn gần hè bắn tung tóe. Rổ hoa của con Sáu dính đất bùn. Nó mếu máo muốn khóc. Thấy tội nghiệp, tôi lại gần con bé an ủi:

- Thôi em. Mấy thứ này dơ rồi mà.

Nó không nói gì. Tôi tìm cách gợi chuyện:

- Nhà em ở đâu?

Con Sáu lí nhí:

- Dạ, ở kia.

Nó chỉ tay về phía một căn nhà lụp xụp. Căn nhà thật tồi tàn, ước chừng chứa được hai người là cùng. Cửa gỗ độc nhất đóng kín như muốn xua đuổi ánh sáng. Tôi vuốt vai nó:

- Hình như em thích hoa lắm hả?

- Dạ.

- Bao giờ lại nhà chị chơi, tha hồ mà hái. Nhà chị kia kìa.

Con bé nhìn theo hướng tay tôi chỉ. Nó tấm tắc:

- Nhà chị nhiều hoa quá.

- Em mới tới ở đây?

- Dạ.

- Em ở với ai?

- Em ở với bà cô. Nhưng vẫn quen miệng gọi là má.

Tôi thấy ở con Sáu một vẻ gì hồn nhiên, tươi tắn khác thường. Đôi mắt như gợi cảm tình với người ngoài...

Tôi quen với nó từ đấy. Dần dà, còn biết được nhiều điều về con Sáu hơn. Nó sống với bà cô, người trong xóm gọi là bà Tư. Bà đã già, da mặt nhăn nheo, tóc điểm hai mầu. Bán hàng rong là nghề độc nhất của bà. Nghề này kiếm ăn khó khăn nên chả nuôi đủ hai miệng người. Sống chật vật, lại hay đánh cờ bạc, bà đâm ra khó tính hơn người. Thật ít khi thấy con Sáu hớn hở, vui mừng. Nỗi buồn là bạn nó. Chỉ những lúc bà Tư say ngủ hay mải bán hàng, nó mới được thảnh thơi đôi chút. Lúc ấy con Sáu chả biết chơi gì. Có lúc tôi thấy nó lê la nghịch cỏ hàng giờ, miệng líu lo ca những bài hát không tên.

Gánh nước, giặt là hai công việc thường xuyên của con Sáu. Một đứa bé lên sáu tuổi, dại dột như nó làm sao lãnh được nhiệm vụ ấy. Nhiều lúc mệt quá, ngưng làm việc để nghỉ ngơi lại bị bà Tư mắng mỏ, có khi còn đánh đập...

Con Sáu vẫn ngồi đó. Vẻ mặt buồn rười rượi. Ánh đèn lộ làm tôi đoán không sai. Thật xui cho nó! Chắc lại bị đánh đòn. Tôi thấy cần phải xuống với con bé. Lưỡng lự một chút, tôi đi ra cửa. Cửa mở nhẹ nhàng, tôi bước thật nhanh ra ngoài. Bầu trời mát mẻ, không gian dường như nhuốm đen. Con Sáu không hay biết, nó ngồi quay lưng lại.

Gió lạnh thổi thật nhiều. Một đêm ít sao mà trời không đổ mưa. Những đêm như thế này, ngày còn bé, tôi thường nép mình bên bà tôi nghe người kể chuyện cổ tích truyền đời. Sao con Sáu phải chịu lẻ loi, cô độc? Tôi tiến lại gần nó. Con bé giật mình quay ngoắt lại. Nhìn thấy tôi, nó đứng bật dậy:

- A, chị!

Tôi hỏi chiếu lệ:

- Sao em ra đây ngồi làm chi?

Con bé lí nhí:

- Dạ, em bị đánh.

- Sao mà bị đánh?

- Em không đi gánh nước được.

Con bé nấc lên. Lại chuyện gánh nước! Tôi vuốt nhẹ mớ tóc của con Sáu. Một sự nao nao lạ kỳ làm cổ họng tôi tắc nghẹn. Nhỏ như thế này làm sao gánh được nước. Gió khuya đua nhau thổi về. Trước mặt là con đường chạy dài thăm thẳm. Xe cộ nối đuôi nhau, quét ánh đèn chói lóa mắt. Mọi người đi lại đông đảo. Quán nước huyên náo, tiệm ăn chật người. Ở đây, chỉ có tôi với con Sáu. Tôi cảm thấy đơn lạnh quá. 

- Sao em không về đi?

- Em sợ má la.

- À này!

Con Sáu ngạc nhiên:

- Gì chị?

- Tết này chắc em buồn lắm?

- Dạ!

- Em có áo mới, có được lì xì không?

- Dạ đâu có. Đây là bộ quần áo độc nhất của em đó. Còn mừng tuổi thì mấy khi em được. Lại nữa họ hàng em ít lắm. Má em còn bảo... hư như mày thì đừng hòng được gì.

Con Sáu khổ thế mà vẫn âm thầm chịu đựng. Nó không kêu ca, giận dỗi mà chỉ khóc. Một ý nghĩ chợt nảy trong đầu óc tôi: món quà xuân. Phải rồi, tôi sẽ đem cho con Sáu một món quà vào ba mươi, một ngày rất gần với năm mới. Như thế càng làm nó thêm bất ngờ, sung sướng. Những món quà tôi dành cho nó hàng ngày có lẽ không làm con bé thích thú bằng một món quà xuân.

Tôi khẽ hỏi:

- Bây giờ em thích gì nhất?

- Em thích có quần áo mới.

Tôi sẽ cho nó một bộ quần áo. Ý nghĩ ấy làm lòng tôi vui vui. Tôi nắm khẽ tay nó:

- Thôi em về đi. Tối rồi, coi chừng ma bắt à.

Con Sáu vâng lời cất bước. Bóng tối bao trùm ngõ hẻm. Lá cây trên cao reo vang âm thầm. Tôi cũng trở vào nhà.

*

Con Sáu đứng nhìn lũ trẻ chơi "rượt bắt dính chùm". Đôi mắt nó thoáng vẻ thèm muốn, ước ao, một sự ước ao được nhập bọn. Nhưng bọn trẻ vẫn lờ đi, coi như không có nó ở đây. Bọn trẻ không thích chơi với con bé, có đứa lại tỏ vẻ xa lánh nữa. Mỗi lần lỡ va chạm phải con Sáu, miệng lại "sùy", "sùy" như ghê tởm. 

Chính nhiều khi nghĩ đến sự lẻ loi, cô độc của con Sáu, tôi lại càng thương nó. Có hôm tôi rủ nó vào nhà, lấy nồi niêu, bếp đất ra nấu nướng. Trò chơi này con Sáu thích lắm. Nó lăng xăng phụ giúp, miệng liến láu ba hoa. Khi cơm chín, thức ăn được nấu xong và dọn ra bát đĩa đồ chơi, con Sáu ăn uống thật trịnh trọng. Gắp một miếng, nó lại kèm theo một câu khen: nào cơm này dẻo quá, canh này ngon quá. Thấy nó vui mừng, tôi cũng lây cái vui ấy. Con bé sướng lắm thì phải.

Có lần vào vườn hoa, con Sáu xin tôi mấy thứ hoa màu sắc rực rỡ. Lúc được tôi chấp thuận, nó mừng lắm. Nó hứa chăm sóc thật kỹ, cắm vào ống lon đựng nước để gần chỗ ngủ. Nhưng hôm sau, tới nhà tôi chơi, nó buồn thiu bảo rằng bà Tư đã vứt hết mấy cành hoa ấy rồi. Bà bảo giữ bừa nhà, mất công chăm nom. Tôi an ủi con bé vài lời dịu ngọt, nó nhoẻn miệng cười quên đi buồn tủi.

Người trong nhà, từ ba má đến anh chị tôi, ai nấy đều có cảm tình với nó. Con Sáu dễ thương quá. Cảm tình của tôi dành cho nó có lẽ sâu đậm nhất. Tôi không có em, chơi với nó, tôi có cảm tưởng như đang chơi với em mình...

Con Sáu cứ đứng dòm như thế. Mãi một lúc sau, nó mới cả gan lên tiếng:

- Các bồ cho tôi chơi với.

Một con bé cắt tóc Nhật, mặt béo tròn nguýt dài:

- Ai mà chơi với mày.

Dường như ái ngại cho con Sáu, tiếng một đứa:

- Cho nó chơi đi tụi mày.

Con Sáu cũng nói thêm:

- Các bồ cho tôi chơi nhá. Tôi bị cho.

- Ừa! Cho mày chơi đó.

Con Sáu được nhập bọn và phải bị bắt. Nó hấp tấp rượt theo mấy đứa kia. Tiếng reo hò của tụi trẻ, những tấm áo mầu lấp loáng, thoăn thoắt, những đôi chân nhỏ díu vào nhau. Ánh ban mai lồng xuống chiếm trọn ngõ hẻm. Tiếng reo cười của tụi nhỏ vang vang.

Ngay lúc ấy, bà Tư xuất hiện. Mắt bà đỏ ngầu, mớ tóc bà lòa xòa xuống trán. Bà tiến lại gần chỗ bọn trẻ đang nô đùa, cất giọng khàn khàn:

- Con Sáu đâu ra tao biểu.

Bọn trẻ trông thấy bà Tư vừa reo hò vừa bỏ chạy tứ tán. Con Sáu sợ hãi lại gần. Bà Tư nắm chặt tay nó, kéo sền sệt về nhà, miệng quát tháo ầm ĩ:

- Ai cho mày đi chơi hồi nào. Tao đánh mày chết. Gọi mày rát cả cổ mà mày không về hả?

Con Sáu ngơ ngác. Nó không nghe thấy tiếng gọi của bà Tư, cả tôi cũng vậy. Người đàn bà say kéo tay con bé vùn vụt như máy.

*

Hôm nay ba mươi rồi. Một tiếng pháo bâng quơ nổ ngoài ngõ nhiều khi làm tôi thót giật mình. Cỏ hoa ngật ngưỡng theo cơn gió nhẹ như sẵn sàng đón xuân. Trước thềm, chậu mai nở hoa sớm lác đác vàng. Ánh nắng nhạt đổ dài trên hiên, in hình những cột chống, hình bóng linh hoạt của cây lá. Buổi chiều ba mươi thật êm đềm.

- Đi chơi con.

Tiếng ba tôi gọi, tôi chợt nhớ mình sắp đi chơi. Một nỗi vui mừng rộn ràng. Dạ một tiếng nhỏ, tôi đứng dậy theo ba ra cổng. Anh chị tôi đang đợi trước nhà. 

Tôi sực nghĩ đến con Sáu. Giờ này không biết nó đang chơi ở đâu. Càng nghĩ đến con Sáu, tôi càng thương nó. Đứa bé ấy, không ít thì nhiều cũng là niềm vui cho tôi. Những lúc nhà vắng người, bài làm dở, gặp nó tôi như trút được nỗi buồn.

- Gì mà ngây người ra thế kia em?

Tiếng chị tôi hỏi.Tôi ngượng nghịu đỏ mặt:

- Chị chọc em hoài.

Tôi đánh nhẹ vào tay chị rồi theo mọi người ra đường. Tôi vẫn nghĩ đến con Sáu, đến bộ quần áo tôi sắp đem cho nó. Chắc bộ quần áo ấy làm con Sáu vui mừng lắm. Đối với nó, có lẽ là cả một món quà xuân to tát. Tôi muốn làm cho nó vui lên, không coi mùa xuân như những ngày thường, những ngày tăm tối.

Bộ quần áo của tôi vừa mua mầu sắc sặc sỡ gợi cho trẻ con một nỗi thích thú. Khi mua tôi cũng lưỡng lự không biết bộ quần áo có đúng với khổ người con Sáu. Đắn đo mãi, tôi mới chọn được một bộ. Chắc khổ cũng không sai lệch nhiều lắm.

Tôi muốn dành cho nó một sự bất ngờ đến phút chót. Vì thế, đến ba mươi tôi mới tính tặng nó. Dự định của tôi, cả nhà đều không hay trừ một mình chị Kim. Chị vẫn nổi tiếng giữ kín được mọi câu chuyện. Khi hay tôi có ý định ấy, chị còn khen tôi lia lịa. Trước sau gì cả nhà cũng biết, nhưng tôi muốn nhà biết khi đã cho xong con Sáu món quà.

Mải nghĩ ngợi miên man, tôi qua nhà con bé lúc nào. Tôi không thấy nó đâu cả. Có lẽ con bé đã chạy đi chơi rồi. Trong căn nhà tối om đó, một sự đè nén như không cho dạng vui mừng, rộn rã của mùa xuân len lén đến. Khi đi chơi về, tôi sẽ lại nhà nó...

*

Khi tôi choàng tỉnh dậy, màn đêm đã lên rồi. Trong nhà rộn rịp tiếng cười nói. Tôi nhớ mang máng mình đi chơi với nhà, trở về ăn cơm rồi mệt quá ngủ luôn một giấc dài. Mùi hương thoảng đưa đến mũi thơm ngát. Giao thừa chưa tới nhưng tôi cảm thấy hồi hộp đến rộn ràng. Qua cửa sổ, màu trời đen không điểm một vì sao. Thỉnh thoảng, vài gợn gió. Ngoài đường người đi lác đác. Chắc đã có người ở miếu xin quẻ hoặc hái lộc rồi. Nhìn màu trời, bao nhiêu ý tưởng về ma quỷ thuở còn bé lại hiện ra trong trí tôi.Kể ra, ngày còn nhỏ, tôi cũng dễ tin thật. Đã nhát lại ưa nghe chuyện ma. Cơn gió nhẹ kéo dạt mấy khóm cây cao lêu nghêu trong vườn. Một sự im lặng ngoài đường khó diễn tả, chỉ có tiếng guốc nhỏ nhẹ, tiếng cười nói lao xao mơ hồ. Không biết ở nhà tôi, ai đi hái lộc xông đất đây?

Tôi chợt nghĩ đến bộ quần áo... Ức quá! Chỉ vì lúc đi chơi về, tôi quân mang cho con Sáu. Loay hoay nghĩ ngợi, tôi thấy cho nó lúc này chắc còn kịp. Lanh lẹn, tôi quơ vội gói quà, choàng chiếc ruy băng lam vào đầu rồi ra khỏi nhà.

Ra đến cổng, tôi mới thấy mình quả thực táo bạo. Ban đêm, chưa bao giờ tôi lại đơn độc đi trên quãng đường dài như quãng từ nhà mình tới nhà con Sáu. Tôi rảo bước thật nhanh. Gió đêm thổi nhiều, ngửa mặt lên trời, tôi chỉ nhận diện được một mầu đen duy nhất. Có tiếng chim kêu bi ai đâu đây nghe rởn tóc gáy. Ngôi nhà con Sáu đã hiện ra, cô độc bên cạnh miếu. Về mùa mưa, nhất là những đêm mưa to gió lớn, căn nhà run lên bần bật. Đến nơi, tôi dừng lại gõ cửa. Cánh cửa mở, một người đàn bà đầu bù tóc rối hiện ra. Ánh đèn lộ qua cửa soi tỏ, tôi nhận ra bà Tư. Bà ta nhìn tôi lạnh lùng:

- Cô hỏi ai?

- Cháu hỏi em Sáu ạ.

Bà vuốt lại đầu tóc, chậm rãi:

- Nó đi rồi! Đi luôn...

Tôi ngạc nhiên:

- Thưa, nó bỏ nhà đi?

- Không! Tôi tống cổ con nhỏ ấy về ngoại nó rồi. Ở đây nó quấy hoài, khó chịu quá.

Tôi sững sờ đến bần người. Một luồng gió mát tạt vào má làm mớ tóc cắt ngắn dật dờ. Tôi phải nắm chặt tay để đè nén cơn xúc động. Bất ngờ quá!

- Cô hỏi nó làm gì?

- À, cháu muốn hỏi em Sáu cái này nhưng bây giờ thì thôi. Cháu về bác ạ.

Tôi nói luôn một tràng rồi cúi đầu chào bà Tư. Bà nói vài câu xã giao qua quýt rồi trở vào nhà. Ngôi miếu nượp người. Người ta đi hái lộc xin quẻ tấp nập. Có người lững thững trở về, tay cầm những  cành lộc xanh tốt tươi. Chỗ ngôi miếu sáng ngời, lửa từ chiếc lư lên cao ngút nổi bật một màu vàng đỏ.

Tôi bước đi thật nhanh như đuổi theo thời gian càng nhanh càng tốt. Sắp đến giao thừa rồi. Vài tiếng pháo nổ như thúc dục tôi đi mau hơn. Thấm thoát, nhà tôi đã hiện ra qua những lùm cây đen sậm. Tôi đẩy cửa, bước vội vào phòng khách.

Vừa đặt chân, tôi đã giật mình: ba má, anh chị tôi đều tụ tập ở đây. Thấy tôi vào, ba tôi đứng ngay dậy:

- Con đi đâu thế?

Tôi thú thật:

- Con tới nhà con Sáu.

- Tới nhà con Sáu? Mà tới để làm gì?

Ba tôi trố mắt ngạc nhiên. Tôi chưa kịp trả lời, chị Kim đã lên tiếng:

- À! Có phải em tới cho nó quà?

Tôi dạ một tiếng sẽ. Thấy mọi người đều nhìn vào gói quần áo cầm ở tay, tôi đành nói rõ tất cả.

Nghe xong, ai nấy đều ái ngại cho con Sáu, nhất là mẹ tôi. Nhả một làn khói thuốc, ba tôi gật gù:

- Nhưng lỡ về bên ngoại nó còn sướng hơn thì sao? Riêng ba, ba thấy con khá lắm. Đáng khen!

Tiếng má tôi:

- Thì lì xì cho nó nhiều vào!

Mọi người vỗ tay đôm đốp tán đồng ý kiến ấy. Như thoát được ngõ bí, tôi thảnh thơi ra cửa sổ đứng, không để ý đến lời cười nói của mọi người.

Xa xa, lác đác vài người hái lộc muộn trở về thật nhanh. Nhưng không kịp rồi, pháo giao thừa nổ vang. Những đốm xanh đỏ thi nhau vụt ngang lưng trời như tô điểm cho giao thừa thêm phần khởi sắc. Giữa sự rộn ràng, hồi hộp của giờ phút thiêng liêng ấy, tôi bỗng chạnh nghĩ đến một đứa trẻ. Không biết nó có hay giao thừa đã đến, hoặc với nó, vẫn chỉ là những ngày dài trong tủi hờn và nước mắt?


HOÀNG ĐẠI      


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 100, Xuân Kỷ Dậu, ra ngày 1-2-1969)


Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

Tiếng Dương Cầm Đêm Xuân


"... Tiếng gọi với theo bóng người thiếu nữ vụt chạy về phía ngọn đồi, chiếc bóng khuất sau những hàng thông dài và xa dần, cuối cùng chỉ nhìn thấy một chấm nhỏ mơ hồ lẫn trong làn mưa bụi mênh mông..."

Tôi gấp cuốn sách trong tay bỏ dở đoạn truyện đang đọc, tiếng mưa rơi đều vang dội sau lớp kính trắng tạo thành một thứ âm thanh nhẹ nhàng êm dịu... Cơn mưa cuối mùa bất chợt kéo dài cả buổi sáng chưa dứt. Những giọt mưa nhỏ đều đặn cùng lúc lẫn trong hơi gió mang đến cái lạnh gây gây dễ chịu. Tôi để yên cuốn sách trên tay, co ro trong chiếc ghế như một chú mèo con, mắt lơ đãng nhìn mấy cánh hoa màu trắng ở một góc vườn, vài chiếc lá xanh nổi bật trên lối đi lấm tấm những viên sỏi trắng. Mưa không lớn nhưng những giọt mưa nhỏ rơi hoài cũng đủ làm cho những cánh hoa rơi xuống... Chừng như mùa đông năm nay kéo dài thêm ra, chẳng bao giờ tôi còn thấy mưa vào mùa này, những cơn mưa bất thường như thời tiết đổi thay không định trước. Cái lạnh mùa đông dịu bớt đi phần nào, nghe như trong gió mơ hồ một chút nắng ấm của những ngày lập xuân.

Buổi sáng cao nguyên yên lặng vô cùng. Một mình trong căn phòng vắng, tôi có thể nghe rõ tiếng mưa rơi ngoài vườn, tiếng gió trên đồi thông sau con dốc nhỏ. Mẹ tôi rời khỏi nhà từ sáng sớm, bà đến phi trường Liên Khương đón chị Yên Hà, người mà tôi nghe mẹ tôi nhắc đến luôn nhưng chưa gặp bao giờ. Theo lời mẹ tôi, chị Yên Hà sẽ lên đây ăn tết với chúng tôi. Chị Hà là con một người bạn thân của mẹ tôi, ba mẹ chị không còn, chị cùng một người bạn ở trọ một căn gác nhỏ ở trung tâm thành phố Sàigòn. Chị Hà đi dạy học ở một số trường, ngoài giờ dạy chị còn đi học và viết báo. Tôi thích những mẩu truyện ngắn chị viết trên một số tạp chí thiếu nhi và những bài thơ nhẹ nhàng như khói sương của núi đồi Đàlạt. Chúng tôi vẫn thường liên lạc thư từ với nhau, những lần viết thư cho tôi, chị thường kể về những kỷ niệm ấu thơ, những kỷ niệm tuyệt vời ngày ba mẹ chị còn sống, tôi tưởng như được nghe thấy giọng nói của chị qua những giòng chữ ấy... Nhớ một đoạn trong lá thư mới nhất gửi cho tôi, chị Hà viết: "... Mỗi lần nghe Quyên nhắc đến chiếc đàn dương cầm cùng những tấu khúc của Beethoven, chị như được sống lại cả một thời gian tuyệt vời ấu thơ, bên chiếc đàn kỷ niệm và những tháng ngày rong chơi bên những âm thanh kỳ diệu thứ âm thanh tuyệt vời làm mật ngọt cho một khoảng trời hồng dấu yêu..."

Theo lời chị Hà, chị rất say mê tiếng đàn dương cầm, chị học đàn từ năm 6 tuổi. Những khoảng thời gian còn lại trong ngày sau giờ học tập, chị dành hết cho việc tập đàn.

Tôi cố gắng bỏ quên hình ảnh mơ hồ của chị Yên Hà, chăm chú đọc tiếp cuốn sách trong tay...

Có tiếng chuông ngoài cửa, tôi hướng mắt về phía cổng vườn, cánh cửa hé mở, tôi thấy thấp thoáng bóng mẹ, theo sau là một thiếu nữ mà tôi đoán là chị Yên Hà. Cả hai đều bước nhanh trong dáng vội vã. Tôi chú ý đến người đi sau, một chiếc áo khoác màu trắng nhanh nhẹn trong dáng dấp mảnh mai. Tôi tưởng tượng mấy phút nữa đây sẽ được đối diện với chị Hà, người tôi vẫn ước mong được gặp Và cũng là tác giả cuốn sách tôi đang đọc bây giờ. Tiếng vĩ cầm vẫn réo rắt một nhạc khúc cổ điển Tây phương... Tôi đứng dậy vặn nhỏ âm thanh tiếng nhạc, nghe tim mình rộn ràng một niềm bâng khuâng khó diễn tả. Trở lại trong dáng điệu lúc trước, tôi ngồi gọn trong ghế một cách thoải mái, mắt nhìn vào những giòng chữ trong cuốn sách nhưng thật ra chẳng hiểu được gì, chỉ nghe mơ hồ tiếng chân bước mỗi lúc một gần...

*

Buổi chiểu còn in những dấu nắng nhạt sau hàng thông dài cao vút, tôi cùng chị Yên Hà đi dạo quanh vườn. Tôi chỉ cho chị xem từng loại hoa và tên gọi của chúng. Chị Hà như còn xa lạ với khung cảnh này, đôi mắt chị sáng ngời bên những cánh hồng màu trắng. Tôi đưa tay ngắt một cánh Quỳnh dao, những cánh trắng muốt cuốn tròn như muốn rũ xuống. Chị Hà hỏi tôi:

- Hoa này tên gì? Sao trông lạ quá Quyên nhỉ.

- Chị Hà thử đoán xem.

- Chịu thôi, làm sao chị biết được.

- Đó là một loại hoa Quỳnh, người ta thường gọi là hoa quỳnh cành dao".

- Tên gì dài vậy Quyên?

- Chắc chị ngạc nhiên lắm nhỉ? Nhưng Quyên vẫn gọi là "Quỳnh dao".

- Quỳnh dao, tên nghe dễ thương ghê Quyên nhỉ.

Vừa nói chị Hà vừa nâng niu cánh Quỳnh dao trên tay. Trong một thoáng, đôi mắt chị buồn buồn.

- Hình như cánh này bị héo?

Tôi chỉ vào cây hoa Quỳnh:

- Chị xem, tất cả mọi cánh đều rũ xuống giống nhau.

- Nhưng chưa có cánh nào rụng xuống.

Tôi bật cười. Chị Hà ngạc nhiên nhìn tôi.

- Không phải hoa héo đâu, đây là những nụ Quỳnh mới nẩy chồi, hoa chỉ nở vào ban đêm, ban ngày úp lại trông như bị héo.

Tôi vừa giải thích vừa nhìn chị Hà cười.

- Vậy hoa chỉ nở vào ban đêm thôi sao?

Tôi gật đầu:

- Khoảng gần mười hai giờ khuya, hoa Quỳnh nở những cánh trắng muốt trông đẹp lắm.

Chị Hà mỉm cười nhìn một cánh Quỳnh dao. Tôi tiếp lời:

- Nếu chị muốn xem Quỳnh dao nở, đêm giao thừa mình sẽ nhìn tận mắt lúc hoa nở, khi đó chị sẽ thấy những cánh màu trắng tuyệt đẹp long lanh lẫn trong những giọt sương đêm.

- Nghe Quyên nói chị thích quá, Quyên có hay xem Quỳnh dao nở không?

Tôi nghiêng nghiêng mái tóc:

- Dạo trước cơ, bây giờ trời đêm lạnh lắm, lại hay có mưa vào ban đêm nên Quyên ít ra xem hoa Quỳnh nở. Mình đợi đêm giao thừa xem mới thú.

Chị Yên Hà gật đầu cười, mắt nhìn những chiếc lá xanh phủ quanh một cánh Quỳnh dao.

Bên kia ngọn đồi, lớp sương mỏng như những sợi khói trắng giăng đầy một khoảng trời, gió chiều đưa đến lạnh buốt. Tôi rủ chị Hà vào nhà trong vì bên ngoài trời bắt đầu lạnh và bóng đêm sắp sửa phủ kín các lối đi trong vườn.

*

Chúng tôi đón Xuân thật đơn giản trong không khí yên lặng nơi miền cao nguyên. Buổi tối sau bữa cơm, tôi và chị Yên Hà ngồi nghe mẹ tôi dạo đàn. Căn phòng vô cùng yên lặng. Mẹ tôi bắt đầu bằng một tấu khúc của Schubert, đôi mắt bà lướt nhanh trên những phím ngà trắng muốt. Tiếng nhạc vang lên dìu dặt, lan rộng trong không khí yên lặng cố hữu. Chị Yên Hà hướng mắt về phía vườn cây, bóng tối phủ kín các lối đi trong vườn. Tôi thấy trong ánh mắt chị thoáng vẻ gì huyền bí mơ hồ. Dưới ánh đèn nhạt màu trong phòng, mái tóc chị Hà phủ kín che khuất nửa gương mặt trắng xanh. Bất chợt tôi rùng mình, một cảm giác kỳ lạ thoáng đến. Tôi nhớ đến những câu chuyện thần thoại ma quái trong cổ tích và khuôn mặt chị Hà trong một thoáng trở nên lạ lùng... Tiếng dương cầm vẫn ru êm đoạn cuối của một tấu khúc... Tự nhiên tôi sợ không khí yên lặng này. Tiếng đàn như những âm thanh ghê rợn quyến rũ cùng lúc với dáng dấp liêu trai của chị Hà. Tôi vụt chạy nhanh ra khỏi căn phòng, những bước chân vội vã như chạy trốn một điều gì. Mẹ tôi ngưng đàn, đôi mắt bà dõi theo bóng tôi khuất sau cửa phòng. Mẹ tôi cất tiếng gọi:

- Quyên!

Nhưng tôi không dừng lại sau tiếng gọi của mẹ tôi. Rời khỏi phòng, tôi cắm đầu chạy một mạch ra ngoài vườn. Bóng đêm cùng hơi sương lạnh cho tôi những cảm giác bỡ ngỡ thích thú và lo sợ. Dừng lại bên một gốc cây, tôi nghe thoảng hương ngọc lan thơm ngát lẫn trong sương đêm lạnh buốt. Có tiếng chân chạy ra vườn, tiếng mẹ tôi và chị Hà gọi tôi vang lên trong đêm. Tôi đứng yên bất động bên cây Ngọc lan. Một đốm sáng từ chiếc đèn pin chiếu lại bên gốc cây. Mẹ tôi bước lại gần, bà nắm tay tôi hỏi:

- Quyên, con làm sao thế?

Tôi nhìn mẹ ngơ ngác, vừa kịp lúc chị Hà bước lại gần bên tôi:

- Sao vậy Quyên? Tự nhiên sao em bỏ chạy?

Tôi lặng yên, không biết trả lời thế nào câu hỏi của mẹ và chị Yên Hà. Mẹ tôi nhìn khuôn mặt đầy vẻ sợ hãi của tôi:

- Sao không nói cho mẹ nghe, có việc gì vậy?

Tôi gục vào lòng mẹ khóc nức nở:

- Con sợ...

Mẹ tôi nắm chặt tay tôi:

- Chuyện gì vào nhà trong nói cho mẹ nghe. Con quên rằng sắp giao thừa rồi sao? Năm mới không được khóc, Quyên nhé!

Nói xong mẹ dìu tôi bước đi, nhưng tôi vụt chạy thật nhanh ra khỏi vườn tiến về phía con dốc nhỏ. Qua khỏi con dốc, tôi bước xuống bờ hồ. Trời đêm tối đen vô cùng. Thấp thoáng bên kia bờ hồ, vài ánh đèn nhỏ chiếu sáng. Tiếng gió thổi mạnh trên đồi thông gần hồ nghe như tiếng đàn réo rắt trong phòng. Mơ màng, tôi nhìn thấy bóng mẹ và nét mặt liêu trai của chị Yên Hà thấp thoáng trên mặt nước hồ...


Căn phòng trở nên sáng ngời lấp lánh vì được kết bằng những đốm sáng kỳ lạ, tỏa ra thứ ánh sáng tuyệt vời. Những áo màu đủ kiểu chen lẫn tiếng cười nói vui vẻ. Tôi ngồi bên mẹ, khép nép như một con mèo nhỏ. Mọi người đang sửa soạn cho buổi trình diễn sắp tới. Tiếng mẹ tôi nói bên tai:

- Con khỏe chưa Quyên? Đêm qua con làm mẹ sợ quá, tự nhiên lại chạy xuống bờ hồ giữa đêm khuya. Ai làm cho con sợ vậy Quyên?

Mẹ tôi nói một hơi dài không kịp để tôi trả lời. Bất chợt, tôi nhớ tới những hình ảnh đêm qua, tưởng như một giấc mơ vừa thoáng. Tôi nắm tay mẹ thật chặt, xua đuổi những hình ảnh kinh hoàng mơ hồ trong tâm trí. Tôi dõi mắt trong đám đông tìm kiếm một bóng dáng quen thuộc. Những tiếng cười xen lẫn những lời chúc đầu năm rộn rã. Bỗng tiếng cười nói im bặt, buổi hòa tấu trình diễn nhạc sắp bắt đầu. Có tiếng cử tọa vang lên những lời chúc mừng năm mới, sau đó là lời giới thiệu mở đầu chương trình nhạc mừng xuân.

Tiếng vỗ tay nổi lên một loạt. Tôi thấy chị Yên Hà xuất hiện giữa đám đông rực rỡ ánh đèn. Chị Hà nổi bật bên cạnh những chiếc áo màu, chị mặc một chiếc Robe dài màu trắng, mái tóc chảy dài trên vai với một cánh hồng trắng thật xinh.

Căn phòng hoàn toàn im lặng, tiếng cười nói im bặt nhường chỗ cho những âm thanh tiếng đàn dương cầm. Nốt nhạc đầu tiên trổi lên, chị Hà bắt đầu những âm thanh của tấu khúc Serenade (Dạ khúc) một tấu khúc nổi danh của Schubert. Những âm thanh tuyệt vời bao quanh không khí trong phòng. Gương mặt chị Hà sáng ngời trông thật thánh thiện. Tôi không ngờ chị Hà đàn hay đến thế. Mọi người hầu như bị lôi cuốn bởi âm thanh tiếng đàn. Mẹ tôi quay về phía chị Yên Hà:

- Yên Hà đàn hay quá Quyên nhỉ.

Tôi nhìn mẹ mỉm cười, vừa lúc âm thanh cuối cùng của "Dạ khúc" chấm dứt. Những tiếng ồn ào nổi lên. Sau lời giới thiệu, tôi được biết chị Yên Hà sẽ trình bày tiếp theo một đoạn trong "tấu khúc thứ 9" (*) của Beethoven, tấu khúc mang tên "TIẾNG HÁT YÊU MA". Những âm thanh réo rắt dập dồn quyến rũ một cách kỳ lạ. Chuỗi nhạc reo vang như tiếng suối chảy róc rách mơ hồ thoát ra từ tiếng hát của một loài yêu tinh. Trong một thoáng, tôi thấy mọi vật đều quay cuồng mờ dần dưới ánh đèn. Mọi người trong phòng yên lặng đến bất động... Tất cả như bị âm thanh tiếng đàn mê hoặc. Bỗng dưng tiếng nhạc ngừng lại, đứt quãng ở một khúc ngân vang dội. Chị Yên Hà vụt đứng dậy, chị quay lại nhìn tôi mỉm cười. Tôi khép mắt lại tránh nụ cười ghê rợn. Khuôn mặt chị Hà bỗng chốc trở nên ma quái liêu trai, ánh mắt sắc bén trên nét mặt trắng xanh kỳ dị. Bên ngoài, tiếng gió rú trên những nhánh cây ngoài vườn. Bóng tối ngập tràn các lối đi trong vườn, trong phòng. Trước mắt tôi, hình ảnh chị Hà rõ rệt hơn bao giờ, chiếc bóng áo trắng vụt thoáng biến mất sau con dốc nhỏ.

Tôi chợt nhớ đến cuốn truyện chị Hà viết. Nhân vật chính trong truyện là một thiếu nữ trẻ đẹp. Nàng rất say mê âm nhạc và từ trần vào một đêm mùa xuân đêm mùng một tết Từ đó, mỗi lần đêm khuya, nhất là những ngày mùa xuân, nàng trở về bên chiếc dương cầm dạo lại một tấu khúc quen thuộc.

Yên lặng đến rợn người. Cảm giác sợ hãi lẫn với lo lắng khiến tôi bất động khi chợt nghĩ đến một sự trùng hợp hi hữu xảy ra.

Bỗng nhiên tiếng đàn dương cầm nổi lên, âm thanh dìu dặt tấu khúc Chanson de Solveij (khúc hát ly biệt trên đồi thông) tên tựa cuốn sách chị Yên Hà viết.

Căn phòng phút chốc bừng sáng, mọi người như vừa qua một cơn mơ. Tôi ngẩn ngơ nhìn mọi người và vụt bỏ chạy theo dấu chân chị Hà. Mẹ tôi cố níu tay tôi lại. Mọi người đổ dồn về phía tôi. Những bước chân tôi chỉ muốn vụt chạy theo chị Yên hà. Trên ngọn đồi xa xa, bóng chị Hà in rõ trắng xóa trong màn đêm. Tôi gọi theo dấu chân chị nhưng âm thanh chừng như rời rạc, loãng ra trong đêm. Ngoài trời lấm tấm một cơn mưa nhỏ... Tôi gọi hoài nhưng chị Yên Hà không quay lại, chị đã đi xa thật xa, chiếc bóng chỉ còn thoáng mơ hồ dưới tầm mắt. "Yên Hà", tôi gọi tên chị, tên khói mây vùng núi đồi cao nguyên Đàlạt, mây khói mơ hồ một đêm xuân với khoảng không gian huyền hoặc, ngập tràn tiếng dương cầm réo rắt...

Tôi chợt nhớ một đoạn trong truyện "Khúc hát biệt ly trên đồi thông":

"... Tiếng gọi với theo bóng người thiếu nữ vụt chạy về phía ngọn đồi, chiếc bóng khuất sau những hàng thông dài và xa dần, cuối cùng chỉ nhìn thấy một chấm nhỏ mơ hồ lẫn trong làn mưa bụi mênh mông..."


Mùa xuân một chín bảy mươi ba.
LYNH THANH THẢO       

------------------- 
* "Tấu khúc thứ 9" là một trong 32 tấu khúc đặc biệt mà BEETHOVEN soạn riêng cho dương cầm. Đây là một tấu khúc nổi tiếng mang tên "TIẾNG HÁT YÊU MA"


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Quý Sửu, 1973)


oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>