Trương Minh Giảng, người làng Vân Trình huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên (Trung phần) làm quan triều Nguyễn với tước Bình thành bá dưới đời Minh Mạng (1820-1840). Ông có công lớn trong việc bảo hộ Chân Lạp (1) và đại thắng quân Xiêm (2) nhiều trận oanh liệt.
Năm 1811 thời Gia Long (1802-1819), nước Xiêm mất quyền bảo hộ Chân Lạp, vì thế người Xiêm vẫn nuôi mộng trở lại thống trị quốc gia này, tuy nhiên họ lại e sợ thế lực nước ta quá hùng mạnh nên chưa dám làm gì. Cuối năm Quý Tỵ (1833) nhân vụ Lê Văn Khôi chống triều đình thất bại đành phải bỏ đất Gia Định chạy trốn rồi cho người sang cầu cứu. Gặp dịp may, vua Xiêm bèn đưa năm đạo quân thủy bộ sang đánh Việt Nam. Đạo thứ nhất toàn thủy quân với một trăm chiếc thuyền nhắm Hà Tiên ; đạo thứ nhì đánh Nam Vang trước sau đó sẽ tràn xuống Châu Đốc, An Giang ; đạo thứ ba tấn công Cam Lộ ; đạo thứ tư tới Cam Cát, Cam Môn ; đạo thứ năm phá Trấn Ninh.
Được tin cấp báo, vua Minh Mạng xuống chiếu sai quân phòng ngự khắp nơi. Để chống các đạo quân địch, nhà vua sai Nguyễn văn Xuân lo mặt Trấn Ninh, Phạm văn Điển giữ Nghệ An, Lê văn Thụy đảm trách Cam Lộ, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân xuống vùng An Giang, Châu Đốc.
Tiếp được lệnh vua, Thảo nghịch hữu tướng quân Phạm văn Thụy đóng tại Gia Định cắt cử Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân tuần tiễu An Giang và Châu Đốc.
Chỉ trong vòng một tháng, sau ngày đại phá quân Xiêm trên sông Cổ Cẳng (An Giang), Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lấy lại Châu Đốc cùng Hà Tiên dễ dàng. Thừa thắng, quân ta đánh thốc lên tận Nam Vang, đồng thời đưa Nặc Ông Chân về nước. Trương Minh Giảng, tham tán Lê Đại Cương ở lại lập đồn lũy gần Nam Vang để bảo hộ. Cuối năm Giáp Ngọ (1834), Nặc Ông Chân mất nhưng không có con trai, Trương Minh Giảng xin lập con gái Nặc Ông Chân là Angmey (Ngọc Vân) lên làm quận chúa rồi đổi tên Chân Lạp là Trấn Tây Thành gồm ba mươi hai phủ và hai huyện dưới quyền một tướng quân, một tham tán đại thần, một đề đốc, một hiệp tán và bốn vị chánh phó lãnh binh người Việt trông coi. Riêng những yếu điểm thì đặt tuyên phủ hoặc an phủ để phòng ngự. Năm 1840 vua Minh Mạng sai Lê văn Đức, Doãn Uẩn là các vị chánh phó khâm sai đại thần sang tiếp xúc với Trương Minh Giảng rồi đi kinh lý mọi việc ở Trấn tây thành như khám xét việc buôn bán, đo ruộng đất, định thuế đinh, thuế thuyền bè.
Một thời gian sau, người em Nặc Ông Chân là Nặc Ông Đôn, được quân Xiêm giúp đỡ, nổi lên cướp phá khắp nơi, quan quân đánh dẹp mãi không xong. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) Tạ Quang Cự xin bỏ Chân Lạp để rút về giữ An Giang, vua Thiệu Trị chấp thuận. Trương Minh Giảng phải lui binh.
Buồn bực vì không giữ yên được Trấn Tây Thành, cuối năm 1841, Trương Minh Giảng về tới An Giang thì mắc bệnh rồi mất.
ĐẶNG HOÀNG (Sao lục)
______________
(1) Tức Cao Mên hay Khmer ngày nay.
(2)Tức Thái Lan.
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 82, ra ngày 25-3-1973)

Không có nhận xét nào:
Không cho phép có nhận xét mới.