Thứ Tư, 14 tháng 4, 2021

Nỗi Buồn Của Thảo

 

Về đến nhà, Thảo chán nản cất cặp sách rồi thả mình xuống giường ngủ. Mái tóc huyền rủ trên nệm chĩu nặng u buồn... Một lúc lâu sau Thảo mới thay đổi thế nằm ; đôi mắt to đẹp với hàng mi cong vút ngước thẳng lên trần phòng, hai khóe lệ trào ra.

Thảo năm nay vừa đúng 16 tuổi, với mớ tuổi ấy mà cô bé đã có vẻ một thiếu nữ rồi: khuôn mặt trái soan ngây thơ, làn da trắng mịn làm nổi bật lên đôi môi đỏ hồng xinh xắn... Đẹp nhất là cặp mắt, cặp mắt đen lay láy, long lanh như luôn có ngấn lệ với cái nhìn mơ buồn tha thiết... Mái tóc thề trinh nguyên phủ xuống một thân hình cân đối... Phải công nhận Thảo là một cô gái đẹp. Chả thế mà ở trường, cậu trai nào cũng muốn làm quen. Nhưng Thảo phớt đều, tuổi Thảo còn là tuổi học sinh trong trắng. Đường đường là một nữ sinh đệ tam, Thảo cũng le lắm chứ! Luôn mấy tháng học đầu Thảo "xếp sòng" lớp, cô, thầy, bạn bè của Thảo đều phải nể nang, thương mến... Thế mà gần đây, ba má hay cãi cọ nhau luôn làm Thảo buồn quá, học hành muốn hết nổi... Rồi có một tháng Thảo trụt xuống thứ nhì. Thảo càng thêm buồn... Đôi khi Thảo vẫn tự trách mình: "Khỉ thật, cứ hay buồn vẩn vơ chả ích gì cả"... Nhưng nghĩ chỉ là một việc, Thảo là con người đa cảm ít nói ngồi đâu ngồi một chỗ, đôi mắt lúc nào cũng như mơ mộng đâu đâu. Ba má không hề hay biết gì về nỗi buồn của Thảo, những chuyện xích mích trong gia đình vẫn thường xảy ra, đầu mối chính chỉ là do sự cực nhọc vất vả trong công việc làm ăn mà nên... Ba đứa em trai Thảo cả ngày nghịch như quỷ sứ, chẳng khác gì lửa đổ thêm dầu vào sự bực dọc của ba. Từ đấy vô tư lần lần bỏ rơi Thảo, Thảo bắt đầu biết suy nghĩ... Thảo quay qua tìm lãng quên, yên tĩnh ở truyện sách, tiểu thuyết... Đôi lúc ba má cũng để ý đến việc học của Thảo, nhận thấy sự sút kém học lực ngày một tăng của Thảo, ba má đổ lỗi cho Thảo say mê tiểu thuyết. Thế là vài quyển truyện vô phúc làm mồi cho lửa đỏ, sự bực mình của ba trút vào người Thảo và Thảo đâm ra ghét ba, xa lần má...

Chiều nay lớp Thảo vừa hô xong vị thứ cuối tháng. Thảo lãnh thêm một sự chán nản nữa: đứng thứ 8, trụt mất ba bậc. Suốt trên quãng đường về nhà, Thảo không nói cười một tiếng...

Một thoáng lo ngại chợt gợn lên trong óc Thảo: "Ba sắp về! Kết quả sẽ ra sao đây?..." Thảo lại tự trấn an: "Mà kệ, ra sao thì ra. Chừ mình chả thiết chi thân xác này nữa..." Cơn buồn lại bùng lên mãnh liệt trong tâm hồn Thảo, những hàng lệ lại tiếp nối tuôn trào. Thảo cảm thấy tủi thân, uất ức và bất lực quá! Mới ngày nào đây Thảo còn là một cô bé ngây thơ, nói cười luôn miệng ; học giỏi ai cũng phải mến yêu. Thế mà... Cửa phòng xịch mở cắt đứt luồng tư tưởng của Thảo. Thằng Nguyên, em Thảo dõng dạc như ra lệnh:

- Chị Thảo ra ba biểu!

Thảo uể oải đứng lên theo chân Nguyên chậm chạp... Chưa đến gần ba, Thảo đã mất cả tinh thần. Đôi mắt ba giận dữ chiếu vào dáng đi e dè như tội phạm của Thảo:

- Con Thảo tháng này đứng thứ mấy?

- Dạ... thứ tám!

- Khốn kiếp! Học với hành gì mà tháng nào cũng trụt cả. Mày biết không! Tao cả ngày quần quật ở sở, nghe họ chửi lên chửi xuống để kiếm đồng tiền về nuôi tụi bây cho tụi bây sung sướng, có học hành như con người ta... Vậy mà... ăn cho no vào rồi chỉ lo tiểu thuyết với đại thuyết. Uổng cả tiền tao đóng học phí cho mày... Thằng Nguyên đâu, chạy vào phòng con Thảo lấy mấy quyển tiểu thuyết của nó ra đây!

Thảo lo sợ cuống cuồng... Chết! Thảo vừa mượn cuốn đó của con Hạnh. Rồi sẽ ăn nói làm sao với nó đây? Thảo quên cả sợ:

- Con lạy ba! Đừng ba ơi... con mượn của họ chứ không phải của con...

- Mày sợ họ hơn sợ ba mày thế à? Ba hằn học trong khi thằng Nguyên đã nhanh nhẩu mang quyển truyện ra...

- Con lạy ba! Ba tha cho con lần này!... Con hứa từ nay sẽ không bao giờ...

Mặc Thảo van xin: "Xoẹt! Xoẹt!"

- Bỏ bếp, thằng Nguyên!

Thảo lặng người đi. Tất cả căm giận uất ức dồn lên khóe mắt. Toàn thân cô bé run lên... Thảo chỉ còn nghe mơ hồ tiếng la hét của ba, tiếng rít của cây chổi lông gà. Cái đau chập chờn đùa vọc thể xác Thảo... Rồi tiếng má la to... lũ em Thảo khóc vang... Ngần ấy âm thanh xa dần, xa dần và im bặt...

Thảo mở mắt ra nhận thấy mình đang nằm trên nền nhà. Căn phòng đã lan tràn màu tím sẫm. Thảo cảm thấy sự mệt mỏi và đau đớn đang dày vò thân xác mình. Cô bé chán nản đứng lên, thẫn thờ đi về phòng riêng ; tiếng cãi vã của ba má sắc nhọn đuổi theo phía sau...

*

Thảo bừng tỉnh. Giọng thằng Nguyên nho nhỏ nhưng rõ rệt đập vào tai Thảo:

- Chị Thảo ra ăn cơm. Tối rồi...

Bao nhiêu uất ức hận sầu lại bùng lên trong lòng Thảo:

- Đi ra! Tao không ăn! Để tao yên! Mày cũng khốn nạn lắm Nguyên ạ!

Thằng Nguyên lầm lũi đi ra... Thảo nghe tiếng ba vẳng lên từ phòng ngoài:

- Cho nó nhịn!

Nước mắt lại trào ra nóng hổi, ướt đẫm cả gối. Thảo cảm thấy hận gia đình ghê gớm. Đôi tay yếu ớt vò nhầu mớ tóc huyền... Trong một phút, tất cả sôi nổi trong hồn Thảo trầm hẳn lại. Cô nằm im bất động trên giường, mắt mở trao tráo. Đời khốn nạn quá! Sao lại có thể có những sự phũ phàng như thế được nhỉ? Trước đây Thảo là một cô gái hoàn toàn ngây thơ, yêu đời, được ba má cưng chiều, gia đình hạnh phúc biết bao... Thằng Nguyên đáng ghét thật. Không, nó còn là con nít!... Làm sao bây giờ? Mai biết làm sao có truyện trả con Hạnh đây? Thảo không muốn thấy mặt ba nữa! Thảo muốn ba... ý tưởng chưa kịp thành hình Thảo đã ghê sợ xua đuổi đi. Còn má, má đã hết thương Thảo rồi sao? Lần nào ba đánh Thảo, má cũng can thiệp mà! Chán quá!... Tim Thảo nhói đau từng hồi, nước mắt lại tuôn rơi... Mệt quá Thảo thiếp đi...

Thảo bàng hoàng mở mắt. Bóng tối phủ kín mọi vật... Mặc, không cần bật đèn... Một điệu nhạc êm nhẹ và buồn từ máy phát thanh bên hàng xóm văng vẳng. Thảo chợt cảm thương thân phận mình. Bóng đêm giăng mắc khiến Thảo cô đơn ghê! Bỗng Thảo thấy hơi chói mắt vội nhắm nghiền lại. Thảo nghe rõ bước chân nhè nhẹ đến bên giường Thảo... Giọng quen thuộc của má trìu mến cất lên:

- Thảo, con ra ăn cơm với má nhé!

Thảo vờ ngủ say. Tiếng má khẽ thở dài: "Tội nghiệp con gái tôi!" Một luồng hơi ấm, mát dịu đặt lên trán Thảo... Thảo năm im và muốn tận hưởng giây phút này mãi... Má lục đục buông mùng cho Thảo, xong thở dài rồi đi ra... Thảo chợt thấy thương má chi lạ!

Cảm giác êm đềm chưa thoát đi khỏi hồn Thảo thì cô bé chợt nghe tiếng ba ôn tồn dịu giọng ở buồng ngoài: "Tôi có hơi nóng thật! Tại công việc ở sở bề bộn quá..." Một niềm thương yêu lâng lâng len nhẹ vào hồn Thảo. Hận sầu trong lòng Thảo vơi bớt đi... Môi Thảo hơi hé nụ cười vô tư, khuôn mặt xinh xắn chìm vào trong giấc ngủ...

*

Tiếng chuông đồng hồ quả lắc khô khan điểm mười hai giờ, vang đều đặn trầm trầm trong màn đêm tịch mịch. Thảo từ từ mở mắt ra... Tối quá!

Thảo hơi đói. Cơn buồn lại đến xâm chiếm cõi lòng. Sinh ra đời rồi lớn lên, vật lộn cam go với trường đời để giành sống, cuối cùng khi chết là trở về với đất, tan ra tro bụi... Thật vô nghĩa! Ba má Thảo sẽ già, chị em Thảo sẽ thành người lớn, rồi ba má sẽ... Chỉ nghĩ đến đó là đầu óc Thảo đủ nhức như bị búa bổ, cô bé cố xua đuổi mọi u ám ra khỏi trí não... "Khổ quá!" Thảo lăn lộn trên giường như vừa bị một viên đạn ghim vào đầu... Cuộc đời chả có gì vĩnh viễn! Đành vậy... nay Thảo còn nằm đây, biết đâu trong tương lai vì quá khổ, Thảo sẽ đau tim, lao phổi hay... điên? Rồi sẽ kéo dài chuỗi ngày buồn thảm đó và chết một cách thê lương? Tự thê thảm hóa cuộc đời mình rồi Thảo lại khóc... Một lúc sau mọi suy tư vuột đi khỏi Thảo đột ngột, trí não Thảo trở lại bình tĩnh lạ lùng, không còn một cảm giác gì nữa!...

Tíc tắc tíc tắc tíc tắc... Tiếng thời gian trôi nhịp đều đều... Căn buồng của Thảo sao im vắng ghê! Thảo mệt mỏi lắng nghe tiếng côn trùng rỉ rả tấu khúc nhạc muôn thuở trong đêm... Im lặng quá! Im lặng đến nghe rõ cả tiếng đập đều đặn của con tim. Trước mắt Thảo giờ đây chỉ là một màn đen kịt... Chợt Thảo cảm thấy hơi sợ hãi một cái gì mông lung... Ma?!... Hừ, làm gì có ma, nhất là lại ở trong nhà. Ma thì tìm những nơi thanh vắng, không người mà ở chứ!... Nhưng đây cũng thanh vắng lắm! Lúc nhỏ tuy không biết ma là gì nhưng Thảo sợ lắm. Còn bây giờ... Thảo sờ soạng rời khỏi giường... dáo dác nhìn quanh phía sau một vòng thật nhanh... Mắt quen dần với bóng tối, Thảo dón dén đến bên cửa... Ủa! Thảo ngạc nhiên nghe thấy tiếng thì thầm nói chuyện ở phòng bên. Ba má còn thức sao? Giọng má nói:

- Tội nghiệp! Chắc nó đói lắm...

Tiếng ba trầm trầm:

- Nó còn con nít lắm Nó đâu biết tôi thương yêu nó. Mình là cha mẹ ai lại ghét con bao giờ. Nhưng bổn phận của mình là phải dạy bảo nó... Nó lại tưởng mình ghét bỏ nó... Tôi cũng ân hận là quá nóng! Con bé chắc ngủ say rồi...

- Thôi, mình đi ngủ đi!

- Anh mệt lắm nhưng chả ngủ được... Công việc sở càng ngày càng bận rộn. Ăn đồng lương của người ta không phải dễ...

- Dạy con là bổn phận cha mẹ. Anh hơi đâu bận tâm...

Thảo hơi bất bình. Cô bé lại ghé sát tai vào cửa nghe tiếp:

- Biết rồi, nhưng có lẽ từ nay phải dạy nó bằng phương pháp mềm dẻo thì tốt hơn. Dù sao nó cũng chỉ là con gái, không như tụi thằng Nguyên...

- Em thấy mình mệt lắm rồi. Đi ngủ đi mình. Mai còn phải đi làm chứ!

- Mình cũng lo đi ngủ đi nhé! Một giờ hơn rồi.

Có lẽ ba má đã đứng dậy đi ngủ rồi. Sau một hồi lặng yên, Thảo trở về thực tại... "Rột! Rột! Rột!" Thảo thấy rờn rợn xương sống, đảo mắt nhìn quanh quất... "Chuột đấy!" Tự trấn tĩnh, nhưng Thảo vẫn không khỏi mọc gai ốc khắp người. Ngực Thảo hơi khó thở... Thảo như nhìn thấy mơ hồ một hình ảnh to lớn, vô hình, mong manh nào đó đang ẩn hiện vươn lên khắp nơi trong bóng tối... Cạch! Cạch! Cạch! Mồ hôi đẫm ướt trán, tứ chi Thảo tê dại đi... Chừ mà mình hét lên một tiếng nhỉ! Ơ mà vô duyên. Mà thảo hét lên thật! Tiếng hét ngắn, thất thanh có mãnh lực bật tung cánh cửa phòng, má chỉ kịp nhận ra một con chuột to tướng chạy vãi thoát ra ngoài. Thảo buông cả thân hình vào đôi tay má. Má dìu Thảo lên giường, ôm vào lòng:

- Chóng ngoan! Có má đây... Con mò mẫm đi đâu tối thế? Con chuột đấy!

Ba chạy vội vào:

- Gì thế mình?

Má chỉ cười, dịu dàng nói: "Thôi, anh đi ngủ đi!" Ba nhìn kỹ lần nữa Thảo đang nằm im trong lòng má như đứa trẻ thơ say ngủ. Ba thở phào, khuôn mặt chan chứa niềm thương hiền hòa.


Băng-Tâm         
(10-9-66)          

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 66, ra ngày 1-4-1967)

Thứ Ba, 13 tháng 4, 2021

Chợt Đến Tháng Tư...

 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tháng tư gió chướng qua thềm
Mái chiều lam khói êm đềm trăng lên
 
Tháng tư trễ hẹn ngoài hiên
Cành hoa soan tím lá nghiêng thì thào
 
Chim trời nhẹ hẫng vút cao
Chiều hôm nắng quái rót vào hồn tôi
 
Hoài thương theo cánh mây trôi
Về đâu hỡi tháng tư ơi miệt mài
 
Gió khuya dìu dịu canh dài
Xuân vừa quay gót, xuân phai sắc hồng
 
Tháng tư gió lạc ngoài song
Sao trời lấp lánh thinh không hững hờ
 
Tháng tư chợt đến bao giờ
Đong đưa cành lựu  đẹp ngơ ngẩn chiều
 
Hương thời gian thắm niềm yêu
Trăng thao thức mãi cô liêu trước mành
 
Khung trời biêng biếc thiên thanh
Luyến thương dĩ vãng ngày xanh qua rồi...

                                                         Thơ Thơ
                                               (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Hai, 12 tháng 4, 2021

Chiếc Trống Vô Giá


Trên con đường dẫn vào làng An Thái, một gã đàn ông lầm lũi bước. Đó là một người khoảng hai mươi đến ba mươi tuổi với mái tóc mọc hỗn độn, mốc thếch như lâu ngày không gội. Gương mặt gã xương xương, hai hàng lông mày rậm ẩn dưới là một cặp mắt tinh anh. Cứ nhìn bộ bà ba nâu bạc màu sương gió bị bám đầy bụi đường của gã người ta cũng biết gã từ xa lại. Nhưng gã là ai? Nào ai biết! Người ta chỉ thấy một chiều nhạt nắng như hôm nay, gã đến đây, bước vào chiếc quán lá xiêu vẹo ở đầu làng, gã kêu nước uống. Và khi bát nước chè xanh được mang lại, gã vừa thổi vừa húp xùm xụp. Có lẽ vì thấy người lạ, mọi người trong quán đều đưa cặp mắt ngạc nhiên ra quan sát gã. Nhưng gã vẫn thản nhiên ngồi uống nước như chẳng có việc gì xảy ra. Lát sau, gã rời khỏi chỗ ngồi, trả tiền nước và bước ra khỏi quán. Song chỉ được vài bước, gã bỗng quay lại:

- Nầy cô hàng! Trong làng nầy có ai tên là Tư Đờn không?

- Không, ở đây chẳng có ai mang tên ấy cả.

- Cô thử nhớ lại xem, ông phú hộ Tư Đờn ấy mà! Người là bác tôi đấy!

- Có lẽ ông nhầm rồi vì ở đây chỉ có ông Trần Sanh phú hộ ở cuối làng thôi.

Gã đưa tay vỗ vỗ vào trán ra vẻ ân hận:

- Cám ơn cô. Có lẽ tôi nhầm thật.

Rồi gã đi thẳng về cuối làng mất hút. Bẵng đi mấy hôm, nay người ta lại thấy gã tái hiện trong làng. Nhưng gã là ai?...

Xin thưa ngay, gã là một tên cướp cạn hay đúng hơn, một tên trộm. Không ai biết tên gã là gì, ngay chính gã cũng thế. Gã chỉ nhớ mang máng rằng cha gã cũng là một tên trộm khét tiếng, mẹ gã là một người đàn bà đáng thương bị cha gã bắt ép về làm vợ. Gã lớn lên trong cái không khí bất lương của gia đình, nên dù muốn dù không, gã cũng phải đi theo con đường mà định mệnh đã dành riêng cho gã. Qua mười năm lăn lóc trong "nghề", với những mánh khóe độc đáo của người cha trước ngày hấp hối đã truyền cho, gã đã trở thành một tên anh chị "lành nghề".

Thêm vào đó, gã còn có tài vẽ rất đẹp và sắc sảo. Nhưng điểm đặc biệt nhất đã tách hẳn gã ra khỏi những tên trộm tầm thường là gã chỉ lấy trộm ở những nhà giàu có về tiền của nhưng nghèo đức hạnh.

Hôm nay, gã về làng An Thái không phải để tìm người bác như gã đã bảo, mà để tìm những nhà giàu có để hành nghề. Còn cái tên Tư Đờn chỉ là một cái tên bịa đặt để dễ bề dò kiếm đấy thôi, chứ thật ra Tư Đờn có hay không gã cũng chẳng cần biết đến...

*

Đêm ba mươi trời tối đen như mực. Dạ thần đưa chiếc lưới đen ngòm nuốt trọn cả làng An Thái vào trong. Con đường làng rộng rãi, đầy cát trắng mà bây giờ cũng chỉ thấy mờ mờ. Hai hàng cây bên đường như đồng lõa với bóng đêm, đứng bất động trong những dáng hình kỳ dị. Bầu trời đen kịt không có lấy một vì sao. Đâu đây, tiếng dế giun rền rĩ một điệu nhạc buồn thảm của đêm trường, làm cho làng An Thái đã yên lặng, càng tĩnh mịch thêm. Vạn vật như say ngủ cả vì giờ đây đêm đã về khuya...

Thế mà ở cuối làng vẫn còn ánh đèn le lói sáng. Đó là căn nhà ông phú hộ giàu có nhất làng, chính ánh sáng từ nơi nầy tỏa ra.

Ông phú hộ có tất cả ba người con: hai trai, một gái. Cũng như mẹ, chúng rất thương người và thông minh vượt bực. Riêng ông phú hộ thì khác hẳn, tuy tiền của muôn vạn nhưng ông rất keo kiệt. Mặt khác ông đối xử tàn tệ với kẻ ăn, người ở trong nhà và thường cho những người nghèo trong làng vay với số tiền lời cắt cổ. Đối với mọi người thì thế, nhưng về phương diện đồ cổ thì ông dám xài cả vạn bạc. Ông rất sành về thứ nầy và chỉ có một thú duy nhất đó thôi. Bởi thế chẳng bao lâu, gia đình ông đã có khá nhiều đồ cổ quý giá.

Tối nay, trước khi đi ngủ ông còn tâm sự với vợ:

- Mình ạ! Đồ cổ nhà ta thì chẳng thiếu một thứ gì. Nhưng tôi ước mong có một thứ nào quý giá hơn, dù bạc vạn tôi cũng quyết mua cho bằng được.

Nhưng cả hai ông bà đâu có ngờ rằng, sau tấm vách còn có một tên trộm đang rình và nghe được. Đó là gã đàn ông ban chiều. Gã rón rén băng qua rào đi về, không thèm rình nữa. Vừa đi, gã vừa lẩm bẩm:

- Ta đã có cách rồi. Hỡi tên phú hộ bất lương ơi! Ta sẽ dành cho mi một bài học đích đáng đây!...

Sáng hôm sau tay dao, tay xách một bọc khá lớn không biết đựng gì bên trong, gã tiến vào rừng. Trong nắng sớm, khu rừng thưa linh động hẳn lên. Những thân cây còn ướt đẫm sương đêm, giờ đây lấp lánh dưới ánh mặt trời như có dát kim tuyến. Vài bông hoa dại ngát hương nghiêng mình trước làn gió ban mai. Chim chóc ríu rít hót ca như chào đón bình minh đã về...

Trước cảnh ấy gã vẫn cắm cúi bước. Đôi chân gã thoăn thoắt trên mặt cỏ xanh non, mắt như dán chặt vào những thân cây ở hai bên con đường mòn khúc khuỷu. Gã đi như thế đã lâu lắm, dáng điệu thật vội vã. Mãi cho đến lúc mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, mồ hôi thấm ướt cả chiếc áo nâu bạc phếch mà gã vẫn còn lầm lũi bước. Lạ quá! Gã vào rừng làm gì vậy? Đốn củi chăng? Vô lý quá!... Vì nếu thế thì tại sao từ sớm đến giờ gã chưa chịu ra tay? Hay là gã đi tìm thuốc trường sinh? Thậm vô lý! Đời nầy làm gì có thuốc trường sinh mà gã phải tìm. Nhưng gã đến đây để làm gì kia chứ? Chỉ có Trời mới mong hiểu nổi...

Dưới kia, gã vẫn tiếp tục đếm những bước chân mệt mỏi. Đường đi mỗi lúc một khó khăn, những bụi gai, nhánh mây che kín cả lối đi. Gã phải vừa đi vừa khoa lưỡi dao rừng để dọn đường. Bỗng gã mừng rỡ rú lên. Đây rồi!...

Theo tiếng kêu, khuôn mặt buồn não của gã rạng rỡ hẳn lên, cặp mắt sáng rực nhìn lên một thân cây: Ồ! Một tổ ong rừng.

Nguyên loại ong nầy rất dữ, chúng mà đuổi ai thì đốt bằng được mới thôi. Chúng đốt đau lắm, chỉ trong chốc lát là nơi đốt sưng vù lên ngay và nhức nhối rất khó chịu. Vì thế chẳng mấy ai dám động đến chúng cả. Thế mà gã tìm nó để làm gì? Người đàn ông nầy đến lạ lùng và kỳ dị...

Về phần gã thì đặt chiếc bọc vải xuống cỏ và mở ra. Gã trải ra một tờ giấy to lớn đã cũ, rồi lôi từ trong chiếc bọc ra một gói hồ bôi đều lên mặt giấy. Xong gã cầm giấy bằng tay trái, tay phải bám vào thân cây và thoăn thoắt leo lên. Đoạn gã nhẹ nhàng bao mảnh giấy lên chung quanh tổ ong, rồi lấy dao đẽo cả cành mang xuống đất.

Đến nơi, gã đặt tổ ong rừng lên thảm cỏ, dùng dao chặt bỏ những phần chung quanh.

Xong xuôi, gã bọc lại và xách đi. Trên đường về, gã chậm rãi bước như một khách nhàn du, miệng luôn luôn mỉm cười chừng như có điều gì thích thú lắm...

Mãi đến xế trưa gã mới về đến đầu làng. Sau khi ghé vào một quán cơm dùng bữa qua loa xong, gã lại hấp tấp ra chợ. Tại đây, gã hỏi mua hai tờ giấy trắng cỡ lớn và một hộp màu cùng một ít hồ dán. Đoạn gã thong thả theo con đê tiến về mạn tả của làng An Thái. Ở đây chỉ thấy toàn cây, trông chẳng khác gì một con rừng nhỏ. Gả bước dưới những tàn cây phủ dày bịt bên trên con đường mòn, che gần hết ánh nắng mặt trời. Đến một ngôi miếu cổ rêu phong ẩn mình dưới một thân cổ thụ khổng lồ, gã ngừng lại. Gã đưa cánh tay đen sạm ra để mở hé cánh cửa mọt, rồi sau khi lách mình chun vào, gã khép kín lại. Xong xuôi, gã đặt cái bọc lên trên chiếc bàn Thổ Thần rồi lần bước đến chiếc trống thủng treo trên một chiếc giá gỗ mục nát. Tiếng gã cất lên:

- May quá, chiếc trống tuy bể nhưng vẫn còn tốt chán. Mình bắt tay vào việc là vừa!

Nói xong gã tháo chiếc trống xuống, đưa lai áo lên chùi bụi. Đoạn gã ngồi bệt xuống sàn miếu chùi kỹ những mảnh gỗ của trống. Đến lúc nước gỗ đã bóng ngời, gã mới khoan khoái đứng dậy và tiến lại chiếc bàn Thổ Thần để soạn đồ nghề ra. Trước tiên, gã đặt tổ ong rừng vào trong thân trống (chiếc tổ mới vừa vặn làm sao!) gã vừa lẩm bẩm như thế vừa bôi hồ vào giấy trắng và dán bịt hai mặt trống lại. Xong gã mở hộp màu ra, và với chiếc cọ gã bắt đầu tô điểm cho chiếc trống. Trông gã lúc nấy giờ không khác gì một họa sĩ yêu nghề, chăm chú vào từng nét vẽ. Với tài vẽ sẵn có của gã, chiếc trống bấy giờ rực rỡ hẳn lên với hình vua Đường Minh Hoàng đang say sưa nhìn tiên nữ trong vũ khúc Nghê Thường...

Mãi cho đến lúc nắng xuyên qua mái ngói bể đã nhạt dần, gã mới làm xong. Gã thở phào nhẹ nhõm như vừa trút được một gánh nặng. Gã vứt co vươn vai đứng dậy và cẩn thận đặt chiếc trống lên trên chiếc bàn Thổ Thần. Rồi gã lùi lại tựa lưng vào cửa miếu, mắt ngắm nghía công trình vừa hoàn tất...

*

Gia đình ông phú hộ đang dùng bữa trong nhà. Bỗng nghe có tiếng léo nhéo như rao hàng, ông bỏ đũa và lắng nghe. Xong ông quay lại hỏi vợ:

- Nầy! Mình có nghe thấy gì không?

- Tôi nghe có tiếng "mua chuối anh ơi" gì đó!

- Chắc mình nghe lầm rồi! Tôi thì nghe "ai mua trống chao ôi không", cái tên trống gì mà lạ lùng vậy? Đâu mình để tôi ra thử xem sao!

Rời khỏi chiếc bàn ăn, phú hộ Trần Sanh bước ra sân. Ông thấy một người đàn ông đang bưng một chiếc trống xinh xắn, miệng rao hàng. Nghe tên trống là lạ ông kêu to:

- Nầy cậu! Cậu bán trống gì thế?

Mừng rỡ, tên trộm liếng thoắng:

- Thưa, chiếc trống "chao ôi" ạ!

- Chiếc trống "chao ôi"? - Ông phú hộ ngạc nhiên hỏi vặn - Nhưng tai sao nó có cái tên lạ lùng thế nầy ở cậu?

- Ai biết đâu! Tôi chỉ biết đây là vật gia bảo của dòng họ nhà tôi. Nhưng ngày nay lâm vào cảnh túng thiếu, bất đắc dĩ cha tôi mới sai tôi đi bán để lấy tiền về trang trải nợ nần.

- Thế cậu định bán với giá bao nhiêu đấy?

Gã ăn trộm chậm rãi đáp:

- Thưa năm vạn.

- Năm vạn? Chiếc trống tuy đẹp thật, nhưng có ai chịu bỏ ra năm vạn để mua lấy một vật vô tích sự như thế đâu cậu!

Gã trộm vẫn bình thản giải thích:

- Ông không biết đấy chứ, đây đâu có phải là một vật vô tích sự. Ông biết không, chính chiếc trống nầy là vật chí bảo trên thế gian...

Ông phú hộ có vẻ sốt ruột, ngắt lời:

- Thì cậu kể phứt ra cho rồi, cứ nói dông dài mãi.

- Thế thì tôi nói đây. Chiếc trống nầy khi đánh lên, hình ảnh các tiên nữ sẽ uốn éo theo vũ điệu Nghê Thường mà trước kia vua Đường bên Tàu đã mộng thấy. Vì cái công dụng ấy, tôi thiết tưởng rằng với cái giá năm vạn kia hãy còn rẻ mạt.

Ông phú hộ thích thú:

- Đâu cậu đánh cho tôi xem thử!

Tên trộm hơi giật mình nhưng cố giữ vẻ mặt bình tĩnh, gã bịa:

- Đâu có dễ dàng như vậy thưa ông. Ông phải biết rằng đây là một bảo vật linh thiêng. Chỉ vào ngày rằm Trung Thu dưới không khí trang nghiêm thì nó mới hiệu nghiệm chứ!

Ông phú hộ tâm sự:

- Thú thật với cậu, tôi rất mong mua được một bảo vật như thế. Nghe cậu nói tôi cũng thích mua lắm, nhưng ngặt một nỗi là sợ lầm phải thứ giả...

Đoạn ông tiếp với giọng tiếc rẻ:

- Phải chi có bằng chứng chắc chắn tôi sẽ mua chiếc trống nầy với giá năm vạn...

Tên trộm bối rối không biết tính sao. Nhưng bỗng gã sực nhớ ra những con ong. Sung sướng gã nhảy cỡn lên. Ông phú hộ ngạc nhiên:

- Cậu làm sao thế?

- Ồ, chẳng có gì cả, thưa ông: Tôi đã tìm ra bằng cớ để chứng tỏ đây là một vật có giá trị rồi.

Ông phú hộ Trần Sanh cũng mừng rỡ:

- Đâu, cậu cho tôi xem đi.

Tên trộm láu lỉnh bảo ông cúi xuống rồi kê sát mặt trống vào tai người phú hộ:

- Ông nghe thấy gì không?

- Tôi chỉ nghe tiếng rè rè!

- Đó... đó! Chính là máy móc trong chiếc trống đó ông ạ! Cứ gần đến ngày rằm Trung Thu là máy móc chuyển động dần và đến đúng rằm, sau khi đánh trống, những hình vẽ sẽ nhảy múa theo điệu nhạc đó ông ạ. À! Mà hôm nay mấy mình rồi, thưa ông?

- Mười hai mình rồi.

Tên trộm vờ vò đầu bứt tai:

- Thảo nào. Gớm!... Mãi lo bán trống có mấy hôm mà đã quên khuấy cả ngày tháng.

Riêng ông phú hộ thì tin quá, ông hí hửng vì sắp mua được của quí: "mua được một chiếc trống hiếm có như thế nầy, mình phải mở tiệc ăn mừng mới được". Rồi không mặc cả, ông trao tiền cho tên trộm và ôm chiếc trống vào nhà. Vừa bước đi, ông vừa định bụng sẽ viết giấy mời tất cả bà con lối xóm đến dự tiệc vui với ông vào đêm rằm sắp tới...

Chưa vào đến cửa, ông đã cất tiếng gọi:

- Nầy má nó ơi! Ra đây mà xem vật quý...

*

Đêm Trung Thu đã về, cái đêm mà ông phú hộ Trần Sanh hằng mong đợi đã đến. Trong chiếc phòng khách, bà con lối xóm của ông được mời, đã tề tựu đông đủ cả. Chờ mọi người nhắp xong chén trà, ông phú hộ trang trọng đứng lên:

- Thưa quý bạn: hôm nay tôi mời quý bạn đến đây trước là chung vui, sau là xin kể hầu quý bạn một truyện cổ Trung Hoa...

- Một truyện cổ tích?

- Truyện gì thế?...

Ông phú hộ tươi cười, ra hiệu cho mọi người yên lặng. Đoạn ông đằng hắng để lấy giọng:

- Xưa kia, lúc nhà Đường cai trị Trung Hoa, có một vị vua là Đường Minh Hoàng trị vì. Trong một đêm Trung Thu, ngài mộng thấy mình lạc vào cung Quảng, được mục kích một vũ điệu Nghê Thường do bầy tiên nữ nhảy múa...

Ông phú hộ ngừng lại để nhắp một ngụm trà. Thấy mọi người ngạc nhiên, ông thích chí:

- Hẳn quý bạn không hiểu tôi nhắc tích đó làm gì, phải không? Tôi xin trả lời ngay là để xin hỏi quý bạn một điều...

- Điều gì thế?

- Xin ông nói ngay cho...

Đợi mọi người im tiếng hẳn, bấy giờ ông phú hộ mới hỏi:

- Thưa các bạn, ngoài Đường Minh Hoàng ra, ai còn được diễm phúc chứng kiến tận mắt về vũ điệu Nghê Thường nữa?

Thấy mọi người phân vân, ông đáp hộ:

- Chính chúng ta đấy, các bạn ạ!

Nhiều tiếng ồ kinh ngạc vang lên:

- Chính chúng ta?

Không đáp, ông quát gia nhân đóng cửa phòng lại và thắp thêm đèn cho tăng thêm phần ấm cúng, trang nghiêm. Đoạn, ông sai hai tên gia nhân còn lại vào lấy trống. Lát sau, chúng cẩn thận đem chiếc trống ra. Ông phú hộ hân hoan:

- Thưa các bạn! Đây là chiếc trống quý nhất trên đời mà tôi vừa may mắn mua được. Nó có một công dụng là mỗi lúc đánh lên, các hình vẽ sẽ quay cuồng theo điệu nhạc Nghê Thường...

Rồi không ngần ngại, ông bịa thêm:

- Các bạn biết không, tôi đã phải nài nỉ hằng nửa ngày trời mới mua được với giá mười vạn đấy!... Và hôm nay, tôi không dám riêng hưởng một mình nên mới mời các bạn đến đây cùng vui. Nào! Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau thưởng thức những bất ngờ lý thú của nó trước tiên...

Nói xong, ông cầm chiếc dùi trống đưa lên. Một "bất ngờ lý thú" đã đến với mọi người thật! Số là khi chiếc dùi trống vừa giáng mạnh xuống mặt trống, thay vì tiếng "bồồng!..." quen thuộc người ta lại nghe thấy một tiếng "bụp" khô khan...

Liền theo đó, từ mặt trống thủng, một đàn ong đen kịt túa ra như nước vỡ bờ. Người nhận lãnh đầu tiên là ông phú hộ, bị hàng chục con ong bu chích lung tung. Thôi thì lúc bấy giờ mới hỗn độn làm sao! Mạnh ai nấy chạy. Người ta chen lấn nhau mà chạy, ghế bàn nghiêng ngửa, rượu thịt ngổn ngang, chén dĩa vỡ loảng xoảng. Thôi thì khỏi nói, đằng này "chao ôi" đằng nọ "châu ơi" ỏm tỏi, tiếng gào khóc vang rân... Người ta chỉ còn nước chạy quanh phòng mà chịu trận vì cửa đã bị đóng kín trong lúc đàn ong được mặc sức tung hoành. 


Mãi cho đến lúc phá được cửa, thì mặt mũi ai nấy cũng sưng vù, trông phát khiếp luôn!

Phú hộ Trần Sanh tức giận lồng lộn, mặt mũi sưng vù trông thật thảm hại. Chưa bao giờ ông cảm thấy nhục nhã như lúc nầy! Đã mất tiền lại còn bị một vố quá đau. Giá mà có mặt tên bán trống ở đây, khỏi nói ta cũng biết ông sẽ làm những gì rồi. Nhưng tức thật, gã đã cao bay tự lúc nào rồi!

Không biết làm gì hơn, phú hộ Trần Sanh đành hậm hực ra về. Đến nơi, ông nặng nề gieo mình lên trưởng kỷ, nét mặt cau có. Vợ ông thì ủ rũ bên cạnh, mai mỉa:

- Ông đã thấy chưa... chiếc trống quý thiệt mà!... Hừ! sao không đem tiền của mà giúp cho những gia đình nghèo khó có phải hơn không? Ác lai ác báo đấy ông ạ, đã bao lần tôi bảo thế mà ông có chịu nghe đâu. Bây giờ sáng mắt ông ra chưa, hở?...

Ông phú hộ ân hận:

- Bây giờ thì tôi sẽ tởn tới già. Bắt đầu từ hôm nay tôi sẽ cố theo những lời bà đã khuyên. Mãi đến lúc nầy tôi mới thấy câu "đi đêm hoài sẽ có lúc gặp ma, ở ác mãi cũng có ngày ác báo" của mình là đúng.

Nói đến đây phú hộ Trần Sanh chợt thấy vợ dùng tay xoa xoa chỗ đau, ông liền khôi hài:

- Mà cũng đáng lắm mình ạ! Quả không hổ danh là chiếc trống "chao ôi"...

Hai ông bà cùng bật cười, bao nhiêu buồn nản đều tiêu tan đâu mất. Bây giờ phú hộ Trần Sanh không còn oán ghét tên bán trống nữa mà trái lại. Ông thầm cám ơn hắn đã cảm hóa ông qua sự trung gian của chiếc trống báo đời kia. Với ý nghĩ ấy, ông buột miệng:

- Nè mình! Dưới mắt tôi thì chiếc trống ấy quả là một bảo vật vô giá, chính nó đã thức tỉnh tôi về với đường ngay...

Và ông mơ màng tiếp:

- ... Ngày mai, ngày mai chúng ta sẽ bắt đầu một quãng đời mới mình ạ!


HUYẾT PHƯỢNG TÂM     
(Viết theo một truyện cổ tích)   

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 43, ra ngày 15-4-1966)




Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

Đi Học A, B, C...

 

Thời gian qua mau. Tuổi thơ ấu lùi dần. Đã mười năm qua rồi, nhưng tôi còn nhớ rõ cái ngày đi học đầu tiên. Ngày ấy tôi còn nhỏ tí ti, bốn năm tuổi gì đó mà tôi đã biết vui mừng, lo âu trước cái ngày trọng đại ấy, ngày lần đầu bước đến cổng trường.

Hình ảnh thằng bé con ôm vở trên tay, lạ lùng, ngơ ngác trong sân trường hiện rõ trong trí tôi. Ngày ấy tôi ôm cuốn vở với một tâm hồn nô nức, vui mừng và hãnh diện chứ không sợ sệt, la khóc như bao đứa trẻ khác mà tôi vẫn thấy bây giờ. Có lẽ bởi vì đầu óc non nớt của tôi lúc ấy luôn luôn nghĩ đến trường học như mọi người ngoan đạo mơ đến thiên đường. Những người lớn như cha mẹ, chú tôi vẫn thường bảo: "Đi học sẽ được sung sướng, sẽ biết được nhiều điều, nhiều thứ ; những người không đi học sẽ cực khổ..." Những lời ca tụng về việc đi học của người lớn nhiều lắm in sâu vào đầu óc tôi lúc bấy giờ. Lại thêm mỗi lần đi học về, ông anh họ học lớp năm (lớp một mới) của tôi đem khoe nay biết đọc cái này, nay cộng cái kia làm tôi thích thú, ham muốn có lẽ hơn cả bánh kẹo. Tôi chèo chẹo đòi mẹ cho tôi đi học.

Ngày đi học đầu tiên, tôi vui mừng nô nức, tuy không được thơ mộng như của Thanh Tịnh. Tôi không nhỡ rõ tôi đi học mùa nào, có "đầy sương thu và gió lạnh" chăng? Tôi chỉ nhớ rằng chú tôi chở đi, tôi không được "mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng..." Ngồi trên chiếc xe đạp cọc cạch chú tôi chở đến trường vào buổi sáng, tôi không nhớ rõ cảnh vật hai bên đường lúc ấy ra sao? Nhưng chắc rằng tất cả đều tươi vui đón chào tôi và lòng tôi lúc ấy trong sáng, hãnh diện như vầng Thái Dương đỏ hồng vừa nhô lên ở phương Đông...

... Cái cổng trường đồ sộ, sân trường vắng lặng, ngôi trường to lớn ngói đỏ chóe đập vào mắt tôi, gây trong lòng tôi một ý tưởng nghiêm trang, một cái gì vĩ đại, thiêng liêng của học đường.

... Vào đến hành lang, đứng trước lớp mẫu giáo tôi mở mắt to trô trố nhìn ông thầy, nhìn lớp học lố nhố học sinh. Còn chú tôi  bước vào lớp, nói chuyện với thầy giáo, hai người nói chuyện gì tôi chẳng biết, có lẽ không ngoài việc tôi xin học. Chỉ biết một lát chú tôi bước ra dẫn tôi về, nói rằng tôi còn nhỏ quá ông thầy không nhận. Tôi tiu nghỉu buồn bã: mình không được đi học. Sự ham thích đi học trong lòng tôi, đã biến thành nỗi ấm ức, nghèn nghẹn.

Rơm rớm nước mắt, tôi trở về bệu bạo đòi mẹ tôi dẫn đi. Chiều lòng tôi, mẹ tôi cũng dẫn đi một lần nữa, nhưng chẳng được gì.

Thế rồi sau đó mẹ tôi phải dẫn tôi đến học tại nhà một ông giáo. Lớp học tại nhà riêng của ông, chỉ có khoảng mấy chục học trò nhỏ như tôi. Tôi còn nhớ rõ: ông thầy giáo dạy A, B, C... lần đầu ấy tên Tùng. Ông đã già rồi, người ốm, nhỏ nhắn. Thực ra ông cũng chẳng phải là một nhà giáo chuyên nghiệp ; ông chỉ dạy ở nhà thế thôi chứ không có dạy ở một trường nào. Ngoài những giờ dạy cho chúng tôi ông cũng làm mọi chuyện như mọi người dân quê bình thường. Trong lớp, lúc nào ông cũng cầm cái roi trên tay. Cái roi bằng tre, nhỏ và vót tròn, quất vào không khí nghe vun vút, rờn rợn. Nội chỉ nghe cái tiếng "vun vút, rờn rợn" ấy chúng tôi đủ khiếp vía.
 
Lũ chúng tôi ngồi trên những cái ghế thấp chung quanh một cái bàn dài. hay nói đúng hơn là một tấm phản hình chữ nhật gác ngang qua hai cái đà. Ông thầy của chúng tôi viết những chữ, những câu ngắn vào vở chúng tôi rồi đọc cho chúng tôi đọc theo. Vào lớp học chỉ có đọc và đọc, chúng tôi tha hồ gào thét cho sướng mồm. Nếu đứa nào không đọc theo thầy thì lãnh roi vào mông thấm thía. Tuy nhiên cái không khí ồn ào của lớp học vẫn làm cho bọn tôi thích thú lắm.
 
Ngoài cái roi "xinh xắn" trên tay ông thầy chúng tôi còn đặt ra một hình phạt rất ư là độc đáo mà có lẽ chỉ ở thôn quê mới có: đó là quì trên gai mít. Thường những khi không thuộc bài chúng tôi mới bị cái hình phạt nầy. Quì trước hiên, hai tay giang thẳng ngang, hai đầu gối "được" lót hai miếng vỏ mít đầy gai nhọn. Các bạn hãy thử tưởng tượng nó đau đớn và tức tối đến chừng nào chứ! Hể làm bạn với nó chừng nửa giờ thì lưu lại một "kỷ niệm" khó phai: hai đầu gối tím bầm, lồi lõm theo hình dấu gai mít suốt cả ngày chưa tan hết. Thế mà trong suốt thời gian học, tôi đã "anh dũng" chịu đựng như thế nầy mấy lần nên đến bây giờ vẫn nhớ hoài. Chắc hồi đó tôi oán thầy giáo lắm, nhưng bây giờ nhắc lại kỷ niệm xưa tôi không phải để oán mà để cảm thấy vui vui...

Đã mười năm rồi, và bây giờ tôi đã xa cách nghìn trùng nơi ấy. Hình ảnh của thằng bé con đi học lần đầu đầy ấm ức, hình ảnh của cái thời tập đọc A, B, C... với ông giáo già đã in sâu vào trí óc tôi, có lẽ chẳng bao giờ tôi quên được./.


LÊ LỄ    

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 82, ra ngày 25-3-1973)


oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>