Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2018

Chiếc Áo Ấm


Vân vui vẻ ôm xấp nỉ bước ra khỏi tiệm. Nàng nghĩ đến lúc ngồi bán hàng, nàng sẽ không còn co ro vì lạnh nữa.

Mải suy nghĩ, Vân không hay mình đã về đến nhà. Nhìn thấy cửa đóng một cánh, Vân biết Trang em nàng có ở nhà, nhưng Vân rất ngạc nhiên không thấy Trang ra đón mừng nàng như mọi bữa. Vân lo sợ, rón rén bước nhè nhẹ đến cửa. Vân mỉm cười và tự trách mình hay lo sợ hão huyền khi thấy Trang đang ngồi xây lưng ra ngoài phía cửa, trên tay em đang cầm chiếc áo. Vân xô cửa bước mạnh vào nhà. Nghe động, Trang giật mình ngước lên và kêu to:

- Chị Vân, chị làm Trang hết hồn, em giận chị, hổng thèm chơi với chị à.

- Chị xin lỗi Trang vậy. Đừng giận chị nghe cưng, chị sẽ cưng Trang nhiều.

Vừa nói, Vân ngồi xuống cạnh em, khẽ hỏi tiếp:

- Trang làm gì đấy?

- Em đang vá cái áo ấm nè, chị không thấy sao? Trang vùng vằng trả lời.

- Chết! Áo ấm của Trang rách rồi sao? Trang đưa chị xem nào! Tội nghiệp em chị!

Trang đưa áo cho chị, rơm rớm nước mắt nói với Vân:

- Em không mặc áo nầy nữa đâu! Áo em rách hết rồi, đi học tụi con Thanh, con Mai ghẹo em hoài, chúng nói áo em rách và màu xấu nữa.

Trang tiếp luôn:

- Chị hỏng biết chớ tụi con Thanh nè, Hạnh nè đứa nào cũng có áo đẹp lắm. Chị may em áo khác nghe chị.

Vân nhìn em, thở dài. Nàng biết em nàng còn nhỏ, Trang mới có chín tuổi đầu, nó đâu có biết suy nghĩ. Vân băn khoăn nghĩ ngợi, nàng không muốn cho Trang buồn, nàng định nói với Trang là nàng sẽ may cho Trang áo ấm khác.

- A! Xấp nỉ màu xanh nầy, chị mua đẹp quá Trang reo to lên, giọng vui vẻ Chị may cho Trang nghe chị, em thích màu xanh nầy ghê đi.

Vân gật đầu:

- Ừ, chị mua nỉ nầy để may áo cho Trang đấy! Chị định làm Trang ngạc nhiên mà.

- Sướng quá ta, chị Vân thương em quá!

Trang nói tiếp:

- Mà này chị Vân ơi! Chị phải may hai cái nghen, em một cái, chị một cái, em chắc chị mua nỉ đủ mà, phải không chị Vân?

- Ừ, chị mua nhiều lắm, chị sẽ may hai cái.

Vân nói cho em yên lòng.

Nàng hôn em và bảo:

- Thôi, em để chiếc áo đây, chị khâu lại em mặc đỡ, bây giờ em ra ngoài trước chơi cho mát một chút đi.

- Vâng ạ!

Ngồi khâu áo cho Trang, Vân miên man suy nghĩ. Với số tiền dành dụm bấy lâu, Vân vội mua nỉ để may áo cho nàng vì mấy hôm nay trời trở lạnh. Hơn nữa áo em nàng cũng còn tốt. Nhưng Vân không ngờ mua nỉ đem về nhà, nàng thấy áo của em rách. Sự thật áo Trang đâu có rách nhiều, tuy nhiên, tánh trẻ con, nhẹ dạ, Trang sợ mặc áo rách ấy, các bạn nó chê cười. Lần đầu, Vân định may cho mình, nhưng thấy em buồn, Vân không nỡ vì từ ngày cha mẹ mất đi, Vân nuôi Trang, săn sóc Trang từng li, từng tí nên bao nhiêu tình thương Vân đều dồn về Trang. Vân lo lắng cho em hơn chính mình, nên nàng mới không muốn em buồn.

Tiếng của Trang vang lên ngoài cửa, Vân thấy em tung tăng đi vào, nàng mỉm cười với em, nàng hỏi Trang:

- Sao Trang chơi lẹ thế? Hay là con Tâm với Trang không chơi với nhau nữa?

- Không phải chị ạ! tại em muốn ở bên chị, nói cho chị nghe chuyện này hay lắm cơ. 

 - Chuyện gì thế Trang? Chắc là hay lắm? Chị nóng nghe quá, Trang kể đi, không chị giận à!

Ngồi xuống cạnh chị, Trang nhỏ nhẹ kể:

- Chị Vân ơi, em nói với con Tâm là chị may áo ấm khác cho em. Nó nói em sướng quá, được chị thương, chị may cho em áo tốt hoài. Để em nhớ lại coi, nó nói câu gì nhỉ, hay lắm cơ.

Trang nhăn mặt suy nghĩ, chợt nó vỗ tay reo lên:

- À, à! Con Tâm nó nói như vầy nè chị Vân: "Mày có chị mày thương, còn tao, có chị cũng như không, tại chị tao ở xa lắm, lâu lâu mới về, nên tao hỏng có áo mới gì hết!". Tội nghiệp nó quá hén chị Vân!

Vân ôm Trang vào lòng, nói với em:

- Em ngoan lắm, chị sẽ cố gắng may cho em chiếc áo ấm nầy sớm sớm nhé, chịu không, em Trang dễ yêu của chị?

Trang ngả đầu vào mình chị, mỉm cười sung sướng.

*

Bầu trời u ám, gió thổi vi vu, trời đã trở lạnh. Mấy hôm nay lạnh dữ quá, ai nấy đều đem áo ấm ra mặc. Riêng Vân, Vân cũng vẫn mặc chiếc áo bạc màu, dường như Vân không biết lạnh vậy. Thật thế, Vân không thấy lạnh nữa khi nhìn Trang mặc chiếc áo ấm nàng mới may. Nàng nhìn em nở một nụ cười sung sướng.

Một cơn gió mạnh thổi vào nhà, Vân rùng mình sởn gáy khi gió mơn trớn vuốt ve tóc nàng. Vân cảm thấy mình biến thành gió, mình đang hò hét khắp nơi.

- Kìa, chị Trang, trời lạnh quá sao chị không mặc áo ấm vào hả chị?

Tiếng Trang vang lên trong nhà đưa nàng về thực tế, Vân vội nói:

- Không, chị chưa lạnh, em để mặc chị!

Trang hỏng chịu đâu! Trang vào lấy áo cho chị nhé?

Vân vội làm một cử chỉ cản ngăn:

- Trang, Trang không tìm được đâu! Chị giấu kín lắm, em để mặc chị.

Giọng Vân như van lơn:

- Trang nè, chừng nào lạnh chị sẽ mặc áo, bây giờ chị chưa lạnh mà! Em đừng tìm kiếm mất công lắm! Trang nên nghe chị.

Vân quay mặt đi chỗ khác để tránh cặp mắt soi mói của em,. Nàng nói:

- Trang học bài đi, chóng ngoan chị thương, chị đi nấu cơm, Trang coi nhà nhé.

- Vâng ạ!

Trang nhìn chị, nó ngạc nhiên thấy chị nó hơi run run và bước đi không được vững như mọi bữa. Trang chợt nghĩ: Hay là chị chưa may áo? Hay chị bị bịnh?

Bao nhiêu giả thuyết được Trang đưa ra làm Trang bối rối vô cùng. Nó suy nghĩ mãi. Nó chợt nhớ lại đến xấp nỉ mà chị Vân mua hôm trước, nó thấy xấp nỉ ấy ít lắm, chỉ đủ may một cái áo mà thôi, vậy mà chị Vân nói may đủ hai cái. Không lẽ chị Vân nói dối sao? Mọi ngày chị thường dạy Trang không được nói dối mà! À! Hỏng chừng chị bị bịnh, mình lấy áo cho chị mặc vậy.

Nghĩ thế, Trang vội thực hành ngay ý định. Nó nhìn xuống nhà dưới xem chị Vân đang làm gì. No yên lòng khi thấy chị đưa hai bàn tay nhỏ nhắn vo gạo.

Trang vội chạy lại bên tủ áo quần chị Vân, nhanh tay hất tung áo quần chị, miệng vờ đọc to như đang học:

"Hưng Đạo Vương tên thật là Trần Quốc Tuấn, con của..."

Tìm mãi đến dưới đáy tủ, Trang vẫn không thấy chiếc áo ấm màu xanh ở đâu. Nó đưa mắt nhìn quanh, vẫn không thấy gì hết. Trang chợt hiểu, chị Vân đã nhường xấp nỉ của chị để may áo cho Trang. Trang thấy hối hận vô cùng. Trang chạy vội vô nhà sau ôm chầm lấy chị Vân khóc nức nở:

- Chị Vân, chị tha lỗi cho em.

Vân vuốt đầu em, nói:

- Không! Trang không có lỗi gì hết! Chị lúc nào cũng thương em.

- Chị, em xin hứa với chị, em sẽ không vòi vĩnh chị nữa. Kìa, chị cười với Trang đi.

Vân cúi xuống hôn vào má em, nàng sung sướng nói:

- Trang ngoan quá, chị thương Trang lắm. Thế Trang có thương chị không nào?

- Trang hả? Trang thương chị thế nầy... nầy...

Vừa nói Trang vừa hôn khắp mặt chị mà nước mắt còn đọng trên mi.

Vân mỉm cười hài lòng. Nàng ngước mặt nhìn lên ảnh song thân treo trên vách, thấy cha mẹ nàng hình như cười với nàng. Nàng thì thầm "Xin cha mẹ có linh thiêng phù hộ cho chúng con".

Xa xa, có tiếng nhạc êm dịu vọng lại hình như muốn ca ngợi tình chị em Vân Trang.


VÂN LOAN  

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 35, ra ngày 1-12-1965)

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

Một Tâm Hồn


Trời bữa nay sao nắng gắt lạ, tuy đã hơn bốn giờ mà sao trời vẫn còn nóng rát.

Hương ngồi trước cửa, anh Hải vẫn còn ngủ. Hương ngồi đây chờ cà rem, hồi trưa ba mới cho một tờ. Sao lại yên lặng ghê nhỉ, bé Oanh và Hùng chắc lại dẫn nhau ra vườn sau chơi rồi. Hương thả lỏng cho ý nghĩ bay về miền Bắc, về Minh Nguyệt con bạn cùng lớp. Những ý tưởng của Hương bị cắt đứt vì tiếng rao lanh lảnh của một thằng bé con:

- Cà rem này... ai ăn cà rem?

Hương thở phào khoan khoái và đưa tay vẫy thằng nhỏ:

- Ê cà rem! Đem đây bán chị ít cây!

Thằng bé chạy lại, đưa phích cà rem ra:

- Chị lấy mấy cây?

- Ờ... ba cây.

Thằng bé lấy cà rem ra đưa Hương, xong nó lấy cái nón rách đang đội trên đầu xuống quạt mấy cái và chép miệng:

- Trời nóng quá chị há.

Hương nhoẻn miệng cười và chợt có cảm tình với nó. Hương gợi chuyện:

- Mỗi ngày em bán lời được bao nhiêu?

- Ối chào! Có được là bao chị. Mỗi ngày tui mà siêng năng thì lời được sáu bảy chục chị à, ngày nào ăn chơi thì chỉ hai ba chục đồng là cùng...

- Em bán thế này chắc cực lắm nhỉ?

- Cực cũng phải chịu chứ biết sao chị, tui còn có mẹ già nên phải làm nhiều, buổi sáng còn phải đi học.

Hương nhìn thằng bé, nó chỉ độ 13, 14 tuổi thôi. Cuộc sống cực khổ đã làm cho nó khôn ra, khôn hơn bọn Hương nhiều lắm. Hương hỏi:

- Quê em ở đâu?

- Quê tui à? Ở tận trong Đà Nẵng đó chị.

- Đà Nẵng chắc vui lắm nhỉ?

- Vui gì đâu chị.

Nó ngừng một chút rồi tiếp:

- Ở trỏng rộn ràng quá, mẹ tui hông thích, mí lại ở ngoài này tiện hơn, có chú tui làm ở đây.

Rồi nó nhìn Hương một lúc:

- Tui nói thiệt với chị nghen, thấy chị tui lại nhớ đến cái cô nhỏ nhỏ bằng chị ở trong Đà Nẵng, tui không quên được đâu chị.

Tự nhiên Hương tò mò:

- Cô nào thế?

Thằng bé ngồi xuống cạnh Hương, tự nhiên, nó kể:

- Tui cũng không biết tên gì nữa. Bữa đó tui bán được hai phích cà-rem, thấy còn sớm, tui lấy thêm một phích nữa, lên xe đò về miệt quê...

Nó nuốt nước bọt rồi tiếp:

- Ngang qua một cái nhà thật đẹp có một thằng bé kêu tui vô, nó mua một cây. Chị không biết chứ ở trỏng tui bán một cây hai đồng, ngon hơn đây nhiều lắm nghen. Tui đưa một cây, nó đưa tui hai đồng, thế mà nó đòi tui phải đưa cho nó thêm một cây nữa. Tui mới bảo rằng: "Anh đưa tui có hai đồng chớ mấy" Hắn trợn mắt nói: "phải đưa cho tao thêm một cây nữa nghe không", rồi nó cúi xuống bốc nắm cát và dọa tui "mày mà không đưa tao bỏ cát này vào trỏng nghe không". Tui sợ quá lật đất lấy thêm một cây nữa đưa cho nó. Chợt trong nhà có một chị đi ra đến bên thằng nhỏ tát cho nó hai cái rồi nói:

- "Trung! Sao em làm như vậy hả? Nãy giờ chị đứng trong này chị thấy hết nghe không, khốn nạn thật, chị không ngờ em lại như vậy".

Thằng nhỏ bật khóc nức nở. Tui đứng yên nhìn chị. Chị tiếp:

- "Em không biết rằng làm như thế là có tội hay sao, trong khi người ta khổ cực để kiếm mối bán từng cây cà rem, vậy mà em nỡ làm như vậy, mặc dù em sung sướng. Em phải nghĩ rằng ngày xưa gia đình ta chẳng giàu có gì. Em phải thương những người khốn khổ, nghèo đói chớ. Bây giờ em phải xin lỗi người này mau".

Thằng nhỏ riu ríu vòng tay xin lỗi tui, nước mắt đọng trên mi. Tui đứng yên, không ngờ lại có một người có lòng như vậy từ khi tui làm nghề này đó chị. Xong rồi chỉ mới mua cho tui hai chục cây, kêu mấy đứa trong xóm phát cho chúng rồi nói tiếp:

- "Đối với mình, bốn năm chục không nghĩa lý gì, nhưng đối với họ là cả một sự cực khổ, họ đổ từng giọt mồ hôi, nước mắt để đổi lấy đồng tiền của mình, em phải biết thương họ chứ. Chị mong rằng từ nay em sẽ bỏ hẳn cái tính vừa rồi".

Thằng nhỏ gật đầu. Chị nó lấy khăn lau nước mắt cho nó. 

Hương há miệng nghe nó kể chuyện và cảm thấy phục cô bé nào mà thằng bé vừa kể. Thằng bé tiếp:

- Từ đó tới giờ tui không quên được đâu chị.

Hương hỏi:

- À, em tên gì nhỉ?

- Tên tui à? Mẹ tui vẫn kêu tui là Ba, Ba lém đó chị.

Hương bật cười vì câu khôi hài của Ba. Vừa lúc đó Hùng và Oanh từ sau vườn chạy ra. Thằng Hùng reo:

- A, cà rem Oanh ơi! Chị Hương mới được ba cho "tì" đãi tụi Hùng mí.

Hương gật đầu:

- Ừ! Hùng chịu khó vào lấy bao ni lông mua nhiều nhiều bỏ vào Fi-ri-de đợi anh Hải dậy cho ăn.

Bé Oanh đến bên Hương thỏ thẻ:

- Chị cho Oanh một cây đi.

- Ờ! Ba, còn bao nhiêu chị mua hết cho.

Thằng Ba nhẩm đếm:

- Hai mươi cây chị.

Hùng kéo lê đôi dép chạy ra:

- Đây chị Hương. Hôm nay sao chị hách vậy?

Hương bỏ tất cả vào bao ni lông nhìn Oanh nói:

- Oanh ăn ít thôi nhé, ăn nhiều đau bụng đó. Vào lấy cặp táp dùm chị đi bé.

Oanh vừa mút cà rem vừa ôm cặp ra cho Hương. Trăm bạc ba cho còn nguyên, Hương đưa thằng Ba:

- Thối lại chị 50 đồng, còn bao nhiêu cho em uống nước.

Thằng bé trố mắt nhìn Hương thoáng ngạc nhiên nhưng nó cũng đếm tiền đưa Hương. Ánh mắt nó long lanh ướt. Hương chợt thấy nao nao. Hùng, Oanh không nói gì, chúng mải ăn cà rem.

Thằng Ba đứng lên, ngập ngừng nói:

- Tui... tui cám ơn chị, thiệt chị tốt quá. Trong đời tui, tui gặp hai người tốt, đó là chị và chị ở trong Đà Nẵng. Bây giờ tui phải về. Tui đi nghen chị.

Nghe lời nói thành thật của thằng Ba, Hương thương quá đi thôi. Bây giờ trời hơi mát, có phải Hương thấy mát vì Hương vừa làm một việc tốt đẹp? Hương chợt nghĩ đến quê hương của mình, nghĩ đến Hà Nội. Bao giờ cho Nam-Bắc nối lại nhịp cầu yêu thương, cho me thôi khóc mỗi khi nhớ đến ngoại, đến cậu Minh, cho ba thôi thở dài, cho Hương tìm lại con đường Cô Bắc, phố Hàng Đào, hồ Hoàn Kiếm? Cho Hương đừng nuối tiếc kỷ niệm? Cho bé Oanh biết được Hà Nội đừng qua lời kể? Và anh Hải thực hiện lời nói đùa với Hương là sẽ về thăm miền Bắc, thăm ngoại?

Trong bữa cơm tối, hương kể cho ba me, anh Hải nghe câu chuyện hồi chiều. ba bảo:

- Như thế là Hương đã làm một việc tốt, ba có lời khen đấy.

Hương cúi đầu cười. Anh Hải nhìn Hương trêu:

- Hương được ba khen, sướng ghê nhé!

Hương mím môi. Lại chọc người ta rồi, dễ ghét.

Đêm thật yên lặng. Hương thiếp đi mang theo hình ảnh thằng bé bán cà rem vào giấc ngủ êm đềm.


HOÀI HƯƠNG    

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 82, ra ngày 1-12-1967)

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2018

Bà và Cháu


Bác Minh Quân và cháu ngoại Thanh Như (Nguồn: Minh Vĩnh)

Khi biết mình sắp lên chức ngoại, tôi đâm bừng bực, kém vui. Chỉ vì quá chu đáo lúc làm mẹ nên giờ đây tôi không sốt sắng với chức vụ mới này. Nói rõ hơn: tôi sợ mệt.

Khác hẳn lúc sắp làm mẹ: tôi náo nức bao nhiêu, giờ tôi thờ ơ không kém. Tôi cho là nó mang họ cha, không dính dáng gì đến mình cả, tôi đinh ninh kẻ phải vất vả với nó là bà nội nó kia. Trong lúc suy hơn tính thiệt tôi quên bẵng điều hệ trọng nhất: rể tôi mồ côi cha mẹ! Dù vậy, tôi vẫn chống chế là thời buổi này bà ngoại không phải như lúc trước. Hơn nữa, tôi tự cho mình là người cương nghị, tân tiến đâu có cái lối thương dại thương dột lũ cháu ngoại như cung cách mấy bà già trầu ở quê mình. Mà nào tôi đã về hưu để con gái có thể vin vào đó, để trưng dụng tôi vô tội vạ.

Hừ, ở đó mà tính đem con về gửi ngoại, đừng hòng! Tôi lặng lẽ lên kế hoạch và từ từ thực hiện từng bước một: trước tiên, tôi lục tủ sách lôi ra một loạt những quyển mà tôi cho là đáng tin cậy nhất: "Phép nuôi con" của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, "Chuẩn bị làm mẹ" của Nhà xuất bản Phụ Nữ, rồi nào là các tạp chí chuyên đề về việc nuôi trẻ. Cuối cùng tôi đạp xe ra hiệu sách mua thêm quyển "Viết cho những bà mẹ sinh con đầu lòng" của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc để cho đủ bộ lệ, có già có trẻ, toàn những bác sĩ đáng tin cậy cả. Tuy có nhẹ nhõm trong lòng chút ít, tôi vẫn lo xúc tiến bước thứ hai, sau đây.

Một hôm nọ, sau bữa ăn chiều, tôi đặt những quyển sách đó lên bàn, dọn giọng cho thật nghiêm chỉnh và cũng rất lạnh lùng đến nỗi tôi cảm thấy tiếng nói mình khác lạ quá không chút tình cảm, để nói với con gái, ra lệnh đúng hơn:

- Đọc kỹ đi! Rồi theo đó mà làm!

Tôi lại ngừng lần nữa, chọn từng lời sao cho hợp với ý mình. Tôi tránh tiếng "con" vì nó êm dịu quá. Tôi nói tiếp:

- Tụi bay phải mừng là có mẹ hiểu biết nhiều, chọn sách cho để tham khảo. Chớ hồi xưa mẹ làm gì được như tụi bay.

Với tính bộp chộp cố hữu, con gái tôi ngớ ra, hỏi:

- Tại sao vậy, mẹ? Mà mẹ nói gì con không hiểu.

Tôi vin vào sự vô tâm đó, chì chiết nó:

- Có gì cao siêu mà không hiểu? Mẹ bay mất mẹ sớm nên đâu có ai để dạy dỗ bảo ban cho!

Thật y như con tôi có lỗi trong việc tôi mồ côi mẹ sớm vậy!

Con tôi cảm thấy mẹ đang bực bõ, dù nó không hiểu tại sao mẹ lại bực bõ và biết là tốt nhất nên làm theo lời mẹ: nó đến cạnh bàn, cầm từng cuốn, lật qua lật lại độ hơn năm phút gì đó đoạn đặt xuống chỗ cũ, nói:

- Ôi! Sách thì... ăn thua gì? Có mẹ, mẹ chỉ cho con kinh nghiệm của mẹ, tốt hơn. Đó, mẹ biết mà, ba cuốn sách dạy nấu ăn trật bét hết trơn...

Tôi trừng mắt, gạt phắt lời nó:

- Sách gì trật bét? Đã đọc đâu mà biết nó trật hay trúng! (giữ nguyên khí thế tôi vẫn tránh dùng chữ con êm dịu). Ai nói gì về sách nấu ăn? Ta nói về sách dạy nuôi con. Nghe rõ chưa?

Đúng lúc đó ba nó xuất hiện và vừa xuất hiện, ông bênh nó liền:

- Nó nói có gì sai đâu mà la nó! Mẹ chăm con, bà chăm cháu chớ gì nữa! Bà nên mừng mới phải chớ. Rồi đây nhà mình có thêm các cháu, đông vui!

Thấy cha bênh, con gái tôi càng nhơn nhơn cái mặt lên làm tôi tức điên mà chưa nói gì được thì anh ấy đã vớ tờ báo và kinh nghiệm cho tôi biết khi anh cầm đến tờ báo thì tốt nhất là không nên nói gì cả.

Khác với lúc mới thành hôn, tụi nó kéo nhau đi, có bữa mình chờ cơm phát đói run. Thời gian này hai đứa về rất đều. Khi hỏi cái này, khi hỏi cái khác. Hễ tôi bực mình la:

- Sao không đọc sách đó, mẹ đã đưa...

- Sách thì ăn thua gì! Sách sao bằng mẹ!

Gì thì gì, tôi cương quyết không để cho tình cảm vụn vặt chi phối mình. Thế mà khi nó vào Từ Dũ, tôi không đủ kiên nhẫn để ở nhà chờ tin. Lấp ló ở cửa phòng sinh, nghe tiếng con rên rỉ tôi toát mồ hôi, ruột gan như bị ai bào, ai nạo. Rồi tôi run khan và nôn ọe nữa chớ. Tôi mệt đuối như người vượt sa mạc giữa trưa hè. Sau cùng, tôi được dìu về nhà, nằm chờ. Ôi! Mỗi phút dài như một giờ mà tôi phải đợi tới một trăm linh tám lần một giờ như vậy mới có tin mừng: cháu gái.

Con gì mà chả được! Tôi đâu đòi hỏi gì hơn. Tôi thở phào như vừa trút một gánh nặng năm mươi cân và tự hỏi: quái lạ, sao tuổi tác càng cao thì độ kiên nhẫn của mình càng giảm!

*

Tôi phòng xa vô ích: con gái tôi chỉ có tài nựng nịu, hôn hít con thôi. Giản dị nhất là chuyện cho con bú, dặn hoài, chỉ hoài mà mười lần con nó bú chí ít cũng đến bảy tám lần bị sặc: sữa xuống nhiều quá nó cuống lên không chịu dùng hai ngón tay kẹp, chặn bớt đầu vú lại, con bé nút không kịp, sặc sụa liên hồi. Khi thì nó sơ ý để bầu vú đè lên mũi con, bị ngạt thở nên cháu nhả vú, ré lên. Khi thì quên rửa núm vú trước khi cho bú.

Khi nào tôi nhắc "coi cho em uống nước" là y như rằng nó nói: "Bú cũng như uống nước rồi, cần gì uống hả mẹ?"

Con đổ mồ hôi, không chịu thay áo mà cứ mở quạt với tốc độ lớn. Tôi không nhắc thì không bao giờ nó chịu "xi" cho con vệ sinh.

Tuy vậy nó cũng biết làm tôi nguôi giận bằng trò nịnh: nó bế con lại gần tôi, dí mũi con sát má tôi rồi nói: "Cháu hôn bà đó, ngon lành chưa!". Rồi: "Mẹ coi nó giống mẹ ghê, há!'. Hoặc: "Khi nào nó giận thì nó giống mẹ quá trời!". Đó, toàn giọng xà lơ không nói theo cách ở quê tôi vậy mà mình cũng thấy mát lòng, mát dạ mới là kỳ!

Nói cho thật công bình, con tôi không phải nhác nhờn, trái lại. Có điều là nó còn vụng dại với đứa con đầu lòng nên mỗi mỗi đều réo: "Mẹ ơi, mẹ ơi!", tôi đâm suy nghĩ và thấy rằng mình đã rất khờ mà vui vẻ gả con cho một cậu trai mồ côi cha mẹ bởi theo sự tính toán nông cạn (!) của tôi thì gả như thế, con gái mình khỏi cực khổ làm dâu người ta mà mức độ hên xui không sao lường được.

Nó thích may vá cho con nói may vá cho nó liền vần vậy thôi chớ đâu có chuyện vá nhíp gì ở đây Vâng! Nó ưa may áo quần cho con. Và cái cách nó may thì đặc biệt lắm: chưa bao giờ cháu tôi mặc những gì nó may quá một tháng mà không chật, không phải loại bỏ. Làm sao mình không can thiệp vào cho được.

Tôi nói:

- Con nít may ra, bà già may vô. Con may kiểu gì kỳ vậy? Trẻ con mau lớn, phải trừ hao, may rộng rộng một chút. Mẹ thấy cháu mặc chật mẹ chịu không nổi...

Nó chộp lấy cơ hội tốt, không bỏ lỡ một giây nào, đưa ra đề nghị ngay:

- Phải đó mẹ! Sao kỳ quá, lần nào trước khi cắt con cũng nhớ lời mẹ dặn, vậy mà rồi lần nào cũng chật lẹ quá. Kỳ này, mẹ cắt giùm con nghe mẹ!

Tôi biết mình vào tròng rồi nhưng không hơi sức đâu mà từ chối. Lâu ngày không hay cắt may nên độ chính xác, tinh nhạy quả kém trước kia, tuy nhiên cuối cùng tôi cũng cắt cho cháu được hai bộ khá rộng. Nó cầm lên ngắm nghía rồi làm như nói một mình: "Chà, rộng quá". Đoạn quay sang tôi đề nghị tiếp:

- Mẹ ơi, hay là... mẹ may giùm con luôn, mẹ há! "Ai cắt người ấy may", tốt hơn người này cắt, người khác may, không biết gia giảm... Mẹ nghĩ đúng không? Rủi hư đi thì uổng công mẹ cắt lắm! Con nghĩ...

Tôi không để tai câu sau chót của nó vì tôi chợt nhớ cái câu "ai cắt người ấy may" là câu tôi hay nói ở cửa miệng. Thế là tôi lại rước việc một lần nữa.

*

Kể cũng lạ: từ khi có con, con gái tôi trở nên có sáng kiến: nó hay đề nghị cái này, cái kia, còn ba nó thì ưa lặp đi lặp lại là: thiên chức của người mẹ người bà phải như thế, như thế, v.v...

Một lần tôi la nó mua xương nấu xúp cho con mà không biết lựa. Nó chống chế:

- Tại sao mẹ biết không? Con lật đật quá, sợ trễ giờ đến sở...

- Sao không nhờ mẹ con giúp cho. Mẹ mày thì khỏi chê ba cái vụ này.

Chỉ chờ có thế, nó tiếp lời cha ngay:

- Phải đó, mẹ! Mẹ mua giùm con, sẵn mẹ đi chợ.

Ba nó cũng góp lời:

- Đúng đó! Nhờ mẹ con cho đỡ tốn thì giờ.

- Ông nói ai đỡ tốn thì giờ? Giọng tôi đầy tức tối Sẵn gì sẵn?

Nhà tôi vẫn điềm nhiên:

- "Ai trồng khoai đất này". Tôi nói bà giúp con cho nó đỡ tốn thì giờ, chớ nói ai?

- À, thì giờ của cha con ông là ngọc là vàng mười chắc?

- Chớ sao! Thì giờ là vàng bạc mà, bà quên sao?

- Còn thì giờ của tôi? Ông bảo tôi giúp nó cho nó đỡ tốn thì giờ, còn thì giờ của tôi thì không đáng quý?

- Thôi, kể công chi với con mình! Mà này, sao bà ưa gây với tôi vậy chớ! Gia đình có con cháu đông, vui lắm chớ. Bà không biết hưởng...

Nghe cũng thấm thía, có lý lắm phải không thưa bạn? Hết đề nghị này họ lại bàn đến đề nghị kia, nay góp ý chuyện này, mai góp ý chuyện khác.

Một bữa thấy tôi mua xương về cất vào tủ lạnh, định chiều con tôi đi làm về ghé lấy, ba nó hỏi tôi:

- Sao bà không nấu giùm con luôn? Bà không "kinh tế" gì hết. Tôi thấy bà cũng hay hầm xương, nấu xúp ăn sao không mua thêm ít cà rốt, củ dền, thêm tí nước, tí xương... Dễ quá mà. Như vậy chiều con nó về có sẵn, đỡ cực nó, tội!

- Ông chỉ có tài sai phái, chỉ vẽ. Ông có bao giờ nhúng tay vào việc đâu.

Nói cho có lệ chớ tôi thấy là nên làm theo lời chồng. Tôi bèn nhờ nhà tôi canh chừng lửa kẻo soong thịt trào hết nước ngọt, phóng ra chợ mua cà rốt, củ dền...

Chiều về, con tôi đã được cha cho hay trước ngoài ngõ nên hí hửng vào lục tủ chén, vừa đi vừa hát và lấy ra cái gà mên múc xúp đem về cho con.

Dần dà, việc lo thức ăn cho con nó thuộc về bà ngoại mà tôi không kịp nhận ra và khi nhận ra thì đã thành thói quen, không thay đổi nữa.

Buồn cười một điều là trong khi con tôi và ba nó hay đề nghị can thiệp, nhờ vả, chỉ vẽ thì tôi hay kêu "mệt"!.

Nhà tôi cười hì hì, giễu:

- Nghe bà kêu mệt sao tôi bắt cười quá. Bà kêu mệt nhưng phong thái, cử chỉ thì luôn luôn trái lại...

Tôi định phản bác nhưng nhà tôi đưa tay ra hiệu ngăn lại, tiếp:

- Bà đạp xe như bay đến nỗi rể bà nó nói... (ông ngừng lại, hỏi tôi), bà biết nó nói sao không?

- Nói sao Tôi tò mò ngắt lời vì không nén được.

- Nó nói... nó nói "mẹ mạnh dễ sợ, mẹ đạp xe phía trước, con đi đằng sau bằng honda mà không bắt kịp, mà vô chung cư đường hẹp, trẻ con đông". Này, bà đừng đạp xe kiểu đó, nguy hiểm lắm, nghe chưa!

Tôi đâm bực, gắt:

- Cha con ông không phải dạy tôi.

- Coi! Lại nổi nóng lên rồi. Nó còn nói cái này, bà nghe chắc bà mát ruột lắm. Nhưng nếu bà giữ thái độ hung hăng bọ xít như vậy thì tôi không cho bà biết đâu.

Chờ mãi, không thấy tôi hỏi, nhà tôi có vẻ mất hứng, bỏ đi.

Mãi sau tôi được nghe con gái tiết lộ là chồng nó nói: "Cứ dáng bộ tôi thì chắc là tôi sẽ sống trên trăm tuổi, vì sức khỏe dồi dào, nhờ ưa hoạt động chớ không như mấy bà già vợ khác..."

"Bày đặt nịnh!". Tôi nói thầm nhưng quả tình cũng có phần hãnh diện ngầm. Thỉnh thoảng tôi lại dè chừng bằng câu:

- Thôi nghe! Ta không phải vú già đâu!

Hay:

- Thôi, đủ rồi đó! Mẹ còn nhiều công việc, chớ không phải rảnh rang đâu!

*

Tôi nó một đằng làm một nẻo, vì càng lớn cháu càng quấn quít tôi, cùng một lúc tôi khám phá ra nó có nhiều, rất nhiều cái dễ yêu, khiến khó lòng mà tỏ ra cứng cỏi với nó. Đôi lúc tôi xấu hổ ngầm vì nhớ lại thái độ lạnh nhạt của mình trước kia: chỉ vẽ thì vẫn chỉ vẽ đấy, nhưng tôi không hề tỏ ra sốt sắng bao giờ. Có lúc tôi để mặc mẹ con nó ở nhà, đạp xe ra tòa báo. Chả là tôi sợ mình mềm lòng, để tình cảm chi phối mà!

Khi tôi vừa về, vừa nhận ra tôi, nó cười rất tươi, hai mắt y như hai hạt nhãn nâu và trong suốt, tròn xoe, hết sức linh hoạt, nó nhoài tới nắm chặt tay tôi khiến mình khó lòng cưỡng lại, phải cúi xuống... Tức khắc, nó buông tay, đưa cao lên ghì chặt và túm tóc tôi, có khi làm mình đau điếng.

Hình như hồi trước các con tôi không được như vậy đâu!

Đôi khi tôi phàn nàn là dạo này tôi không viết được bao nhiêu thì cậu nó cười khà khà, nịnh một câu rất văn vẻ:

- Mẹ ơi, sự nghiệp cầm bút của mẹ con công nhận là cũng quan trọng nhưng tình bà cháu nào có nhỏ đâu! Nó thâm sâu lắm đó mẹ! Mẹ không viết đi nữa, cũng chẳng sao, có các đồng nghiệp khác viết thay, chớ còn cháu chỉ có một mình mẹ là bà ngoại, không ai thay thế được đâu. Xin mẹ nhớ cho điều này!

Trời ơi! Nụ cười của trẻ thơ! Thật y như... không, không phải là như mà chính là hơn, hơn cả một bông hoa ngạt ngào hương thơm, lộng lẫy màu sắc đang phô hết vẻ đẹp dưới nắng xuân! Biết bao lần tôi nín thở, không có cả một cử động nhỏ, tưởng như chỉ xê dịch một chút là cái khoảnh khắc kỳ diệu ấy tan biến tức thì. Cái cảm giác kỳ diệu, tuyệt vời ấy chỉ có được khi tôi bế con trong vòng tay và đã lâu lắm, tôi không còn được hưởng, nhận mà cũng ngỡ không bao giờ được hưởng nhận nữa. Nào có ngờ đâu.

Khoảng cách giữa hai bà cháu tôi mặc nhiên được thu hẹp lại. Một vài lần tôi chở cháu đi chơi bằng xe đạp. Có lúc ra tòa báo, các cô bạn đồng nghiệp trẻ xúm lại khen bà cháu tôi, làm tôi càng phổng mũi lên, quên hết mọi nhọc nhằn.

Với mớ kinh nghiệm khá dồi dào khi làm mẹ, tôi điềm tĩnh vững lòng theo dõi bệnh trạng cháu khi nó đau ốm. Nó sốt cao tôi cũng không rối mù, cuống quít như mẹ nó, tôi biết trấn an mẹ nó và không phải lúc nào cũng vội vàng đưa đi bác sĩ.

Cháu tỏ ra khá nhạy cảm, thông minh, cũng tập tành làm việc, ưa tỏ ra mình biết quan tâm đến người khác, mình cũng là một thành viên quan trọng trong gia đình. Nó được bà mua cho một cái xô nhỏ vừa tầm để xách nước tưới cây.

Mẹ nó không đủ kiên nhẫn để nhìn con làm việc, sợ con ướt áo, sợ con lấm đất, sợ con té ngã, lúc nào cũng muốn con nó thơm tho sạch sẽ thôi. Cháu có bà bênh vực, đôi khi trở nên cứng đầu, cứng cổ cho đến nỗi khi tôi nhận ra thì hơi muộn.

Một hôm tôi đưa cháu ra quầy tiết kiệm. Vì trời mưa lối đi ngập bùn nên tôi không cho cháu đi mà bế nó. Nó không bằng lòng, vùng vẫy trên tay tôi, cào vào mặt tôi. Hoạt cảnh không đẹp đó lọt vào mắt bà bán thuốc lá trước quầy tiết kiệm. Bà ta chừng như ngứa mắt lắm, hỏi tôi:

- Con hay cháu bà đấy? Sao mà nó hung tợn thế!

- Dạ, cháu, cháu ngoại đó bà! Sao hôm nay nó hư vậy chớ mọi ngày cháu ngoan lắm, bà ạ!

Bà ta cười khẩy, mỉa mai:

- Ngoan lắm! Cứ nhìn là biết nó có ngoan không. Cần gì phải chống chế!

Tôi xấu hổ quá nhưng chả lẽ mắng cháu dọc đường! Tôi buồn rầu, ngầm công nhận nó như thế phần lớn là lỗi ở mình.

Về đến nhà, mồ hôi nhễ nhại, tôi đặt cháu xuống, kể lại mọi điều. Nhà tôi bình phẩm:

- Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà, lời xưa nói cấm có sai!

Cậu nó thì đưa ra đề nghị phải nói là lập lại, đúng hơn:

- Cho nó đi nhà trẻ đi, ngoại ơi! Ngoại hơi quá trớn rồi đó.

*

Khi cháu gái lên ba và đã quen với nề nếp thì cũng có em. Em trai! Cả nhà đều mừng rỡ. Cả nhà chớ không phải riêng gì tôi. Và kỳ lạ một điều là dù đưa cháu trai này không mang họ mẹ mà ai cũng hào hứng đón nó y như là đón thằng cháu nội đầu lòng.

Đã có kinh nghiệm cũ: tuy chìm lỉm trong nhiệm vụ bà ngoại, tôi đủ tỉnh táo để không nuông chiều quá như với chị nó trước kia. Tôi không bao giờ còn phải nghe lũ con mè nheo, so bì là mẹ quá nuông cháu, còn hồi tụi nó thì luôn luôn phải chịu kỷ luật sắt của mẹ.

Cháu gái từ khi đi nhà trẻ trở nên ngoan hơn nhiều. Tôi thật sung sướng và không hề cảm thấy bực bõ dù không chỉ chăm sóc có một mà đến những hai đứa. Tôi cũng không nhớ rõ tại sao và từ bao giờ con cháu gái đã ngủ lại với bà suốt sáu đêm trong tuần, chỉ về với bố mẹ đêm chủ nhật.

Một lần tôi về Huế thăm quê, lúc trở lại Sài Gòn thì đã một giờ chiều. Nắng như đốt da, nhưng tôi không kiên nhẫn chờ đến giờ đón cháu, không cả tắm táp, thay quần áo, chỉ rửa mặt qua loa rồi đạp xe ra thăm cháu. Vào giờ ấy, nhà trẻ còn đang cho bé ngủ giấc trưa. Vốn quen thân nên tôi đi thẳng lên phòng ngủ các cháu. Cháu tôi nằm im nhưng hai mắt thao láo nhìn quanh, chợt nhận ra ngoại, nó kêu lên một tiếng "ngoại", tiếng kêu chứa đầy sự mừng rỡ khiến tôi xúc động, đứng chôn chân tại chỗ, không sao bước đến gần nó, dù mục đích của tôi là được ôm cháu vào lòng cho bõ những ngày xa cách. Cuối cùng, tôi cũng đến bên giường, không đợi tôi cúi xuống đỡ nó, nó đã ngồi bật lên giơ hai tay nhỏ nhắn vòng quanh cổ tôi, ghì chặt đến nỗi tôi phải bảo nó nới ra kẻo bà ngạt thở. Nó gục vào ngực tôi, nước mắt lã chã, ướt cả khoảng ngực áo tôi.

Cô bảo mẫu nghiêm giọng:

- Thôi đủ rồi! Cháu hãy để bà về nghỉ! Hai giờ nữa cô sẽ cho về với bà.

Tôi định xin phép cô bế cháu về sớm, nhưng cô đã nghiêm nghị phán như thế làm tôi lúng túng, chưa biết ứng phó cách nào. Đang lúc đó, cô hiệu phó trờ tới, hỏi:

- Sao đó? Bà mới đi có hơn một tuần mà nhớ quá hết chịu nổi rồi, phải không?

Tôi vớ ngay dịp tốt, xin phép cô cho tôi bế cháu về. Còn nó, hai chân cứ quắp cứng lấy hai bên hông tôi, hai tay ghì chặt cổ tôi, lặng lẽ khóc ; cô bảo mẫu có vẻ phật lòng, xông đến toan giằng cháu ra, nó càng cương quyết bám cứng lấy bà. Tôi thì hơi ngạc nhiên về thái độ hung hăng của cô bảo mẫu. Sao mà cô khó tính, kỷ luật dữ vậy chớ.

Cô gằn giọng:

- Không được về sớm!

May thay, cô hiệu phó gỡ rối cho bà cháu tôi, giọng cô hiền hòa:

- Thôi cũng hơn hai giờ rồi, cho cháu về với bà, tội nó!

Tôi lí nhí cảm ơn cô rồi vội vã bồng cháu đến cầu thang. Nó nhoẻn cười quay mặt ra nhìn tôi, khuôn mặt còn ướt đẫm, nhòe nước mắt.

Khi hai bà cháu xuống đến đường tôi mới nhận ra cháu không mặc quần (các cô sợ cháu tè ướt mất công thay giặt nên cho ngủ truồng!). Được cái bà cháu gặp nhau nên nỗi mừng át cả sự xấu hổ! Cũng bởi nó không có quần nên tôi không đặt cháu ngồi lên xe được, phải vừa bế, vừa dắt xe, cứ từ từ, chậm rãi về nhà.

Xa gần nào có quản ngại gì, bà cháu tôi đã có nhau bên cạnh!

*

Tôi không nói là không bao giờ tôi bị bực bõ vì mất thì giờ và vì những việc lặt vặt vô số kể khác. Nhưng hai cháu vây lấy tôi khiến tôi coi nhẹ những cái đó, và thấy thì giờ tốn cho cháu không đáng tiếc. Tôi có cảm tưởng mình trẻ lại, đằm tính hơn, tinh tế hơn, bao dung hơn.

Một đôi khi, vợ chồng còn tôi đưa các cháu đi chơi đâu đó, nghỉ hè chẳng hạn thì cỡ trên dưới ba ngày là tôi đã trông đứng trông ngồi. Có lúc, một tiếng "ngoại ơi" của đứa trẻ nào đó từ ngoài ngõ vọng vào, lý trí mình biết là không phải cháu mình, nhưng hai chân tôi cứ bước ra.

Những món đồ chơi thường ngày vung vãi khắp nhà đã được thu xếp gọn ghẽ vào một góc. Tôi ghé mắt đến, thấy sao chúng lòe loẹt, sặc sỡ, lạnh ngắt, vô duyên quá đỗi. Có lúc chúng lại như chì chiết, mỉa mai:

- Đó! Bà thấy giờ thì nhà cửa ngăn nắp rồi đó! Bà hài lòng chưa? Còn rầy rà nữa không?

Ngôi nhà đâm rộng thênh thang một cách quái đản, khó chịu. Vật nào chỗ ấy, không có những bàn tay nghịch ngợm của cháu làm mất trật tự. Ôi! Sao mà hiu quạnh mênh mông. "Ước gì ta làm thơ được". Tôi tự nhủ. Không có cháu nằm bên cạnh tôi đâm ra khó ngủ. Nó ưa nằm trên cánh tay tôi hơn là nằm trên gối. Nó nói tay ngoại êm. Kỳ thực là nó sợ nếu không nằm trên tay tôi, tôi sẽ lén dậy, xuống nhà trò chuyện với các cậu dì nó.

Là con gái, nó dịu dàng hơn, cả trong khi vòi vĩnh. Nếu muốn thử đánh máy, nó lảng vảng cạnh tôi, chờ lúc tôi ngẩng lên mới ôm hôn tôi và nhỏ nhẻ xin phép ngoại cho nó được gõ gõ vài cái. Thằng em thì táo tợn lắm. Nó khuỳnh hai tay lại, đứng nhìn tôi một lát rồi dõng dạc nói: "Dại em ắng máy, nha!" Không chờ tôi cho phép, nó sà vào đặt cả hai tay lên bốn hàng chữ, đập liên hồi và cười vang lên. Đúng là bà "dại" thật.

*

Lối phát âm của cháu cả nhà ít ai hiểu, ngay cả bố mẹ nó, trừ tôi. Một hôm mẹ đút cho con ăn, nó cứ nguẩy đi, hét toáng lên: "Em úng! Em úng!". Mẹ nó không hiểu con đòi uống, liền phát một cái vào mông, nó càng giãy giụa:

- Em hát, em hát!

"Hát này! Hát này!" Mẹ nó vừa quát vừa đánh thêm. Tôi đang ở trên gác mà phải đâm bổ xuống.

- Sao không cho em uống nước? Nó khát, nó nói đó, không thấy sao?

Con tôi cãi chày, cãi cối:

- Ai biết đâu, uống thì kêu úng, khát nước thì kêu hát! Ai chịu cho nổi. Liệu hồn, mày thấy ngoại cưng, tao sẽ không cho về ngoại nữa, cho coi!

*

Hè đến. Tôi lăng xăng, chộn rộn vì một vướng mắc không sao giải quyết cho thỏa đáng. Nói ra thì không tiện, không nói thì cứ canh cánh bên lòng.

Theo thói quen, chị bạn thân gọi tôi, gọi năm bảy lần giục tôi quyết định ngay đi, còn tôi thì muốn chờ con cháu đi rồi hẳn đi, vừa vui vừa đỡ nhớ vì quả thật không sao chịu nổi sự trống trải do chúng gây ra lúc đi vắng nhà.

Tôi còn đang suy nghĩ... thì chợt đâu, rể tôi ào vào như một ngon gió:

- Ngoại ơi! Con có một tin này, chắc là ngoại sẽ vui khi ngoại biết.

- Tin gì vậy? Tôi không sốt sắng mấy, nhưng cũng hỏi lại.

Nó đủng đỉnh:

- Chả là thế này: xí nghiệp con được thưởng. Con có một món tiền kha khá, con có ý định mời ngoại cùng đi nghỉ hè với tụi con. Ngoại thấy có gì trở ngại không?

Tôi cuống lên vì mừng, chưa tìm ra câu gì để biểu tỏ sự vui mừng thì con gái tôi lanh miệng:

- Đi nghe mẹ! Đi với tụi con, vui lắm!

- Ờ, ờ, để coi... tôi sực nhớ chị bạn cả chục năm nay đều chờ tôi cùng đi nghỉ, nay mình theo cháu bỏ bạn, nó cũng kỳ kỳ làm sao ấy. Phải nói cách nào đây? Nói cách nào để không phật lòng chị ấy?

Nhưng tôi đâu thể bỏ cơ hội ngàn vàng này? Tôi dứt khoát trả lời tụi nó là tôi sẵn sàng đi, có điều không biết ba chúng có...

- Mẹ yên tâm! Ba nói rồi, ba ưng mẹ đi lắm, vì ông nói năm ngoái mẹ ở nhà, mẹ buồn thiu, ba nói gì mẹ cũng gây... Ba đánh cờ mẹ cũng nhăn nhó. Ba nói thà để mẹ đi chơi lúc tụi con đi vắng, tốt hơn. Mà đi với tụi con, ba càng thích.

Cháu gái tôi chen vào:

- Cháu ưng đi với ngoại. Tối lại cháu ngủ với ngoại, nha! Mà chỗ đó có giường không mẹ?

- Coi chừng, coi chừng ngoại không đi đa! Nếu ngoại không đi thì Như tính sao?

- Hả? Ngoại không đi thì Như cũng không đi! Như ở nhà với ngoại cho ngoại vui, nha!

Cháu nói giọng chắc nịch rồi lao tới ôm chầm ngoại. Thế là bao nhiêu khó nhọc, bận rộn, chỉ một phút này đây cháu đã làm mát rượi cả lòng bà.


MINH QUÂN    

(Trích tập truyện "Món Quà Quý", nhà xuất bản Trẻ 1999)



Thứ Ba, 4 tháng 12, 2018

Gia Đình Tôi


Đặc điểm của gia đình tôi phải nói đến trước hết là con số những "tiên đồng ngọc nữ" mà thượng đế đã ban cho ba mẹ tôi. Ngoài ba mẹ tôi ra, chúng tôi có tất cả 12 đứa, một con số đáng kể đấy chứ nhỉ?

Tôi được hân hạnh làm bà chị cả, chúng tôi chỉ cách nhau 1, 2 tuổi nhưng điều đáng nói là đứa nào cũng rất có khiếu về môn "nghịch ngợm". Các bạn mà vào nhà tôi thì chỉ thấy đông đúc toàn là trẻ con, sàn sàn bằng nhau, phá phách nô nghịch như lũ giặc con. Chẳng nói giấu gì bạn, chính tôi cũng phá phách không kém, mà phải nói là hơn thế nữa. Mẹ tôi thì cứ luôn luôn nhăn nhó ôm đầu, kêu chóng mặt: "Thôi, thôi cho tôi xin đi các ông tướng bà tướng ơi, nghịch vừa vừa chứ, có để cho tôi làm ăn không, tôi phải cho mỗi đứa một trận mới được!!..." Nhìn cái roi mây lăm lăm trong tay mẹ, chúng tôi hơi yên yên được một tý, nhưng chỉ một lúc sau, khi bà đi xuống bếp là lại ồn lên lúc nào không biết. Con gái mà cũng không kém, hò hét ầm ỹ, và mẹ tôi lại phải khổ sở la mắng. Chả trách bà cụ cứ gầy gò ốm yếu đi mà lũ con thì cứ mập tròn ra.

Cũng may là đã có ba tôi, ông thật là nghiêm khắc, trái hẳn với mẹ tôi, hay là hét mà chẳng đánh bao giờ. Ba tôi rất ít nói, nhưng chỉ cần quắc mắt lên là đứa nào đứa nấy co rúm lại rồi... Có khi đang nô nghịch ầm ầm, mẹ tôi có mắng dọa nạt mấy cũng không làm gì được, nhưng thoáng thấy bóng ba tôi về đến cổng là không cần mẹ phải dục, đứa nào đứa nấy tự động dọn dẹp "chiến trường", lao xuống bếp rửa mặt mũi, chân tay cho sạch sẽ trước khi ra "trình diện" với ba tôi.

Một lần mấy đứa em tôi, thằng Long thằng Tiến đang đuổi nhau chẳng biết thế nào mà xô phải tủ làm rơi cái đồng hồ to của ba tôi xuống đất, cái đồng hồ vỡ tan mặt kính, văng vãi lung tung, ốc một nơi, bánh xe một nẻo. Mẹ tôi hốt hoảng vội vàng nhặt nhạnh giấu đi, rồi bà thở dài tiếc rẻ: "Đấy! Tao đã bảo mà, chúng mày phá quá lắm, để bữa nay ba mày cho một trận may ra mới chừa, mới sợ!!!..." Chúng tôi, không riêng gì thằng Long thằng Tiến, ngồi run lẩy bẩy, yên trí thế nào cũng có một trận đòn chí tử, và chắc chắn là sẽ kinh khủng lắm lắm. Quả nhiên vừa mới về đến nhà, ba tôi đã hỏi ngay: "Cái đồng hồ đây đâu rồi?" Tôi cúi gầm, lí nhí: "Dạ... vỡ rồi ạ." Ba tôi trợn mắt "Đứa nào làm vỡ, sao vậy, đứa nào?" Hai "tội nhân" run rẩy không dám ngửng đầu, ba tôi hầm hầm nổi giận, không khí thật là căng thẳng, cứ y như là xem phim Hitcook ý! Tôi lo lắng không biết ăn nói làm sao, đổ tội cho con chó? Vô lý! Tủ cao thế làm sao chó nào đụng tới. Hay là mèo? Mà nhà tôi đâu có nuôi mèo. Tôi định nói thật rồi đến đâu hay đến đấy thì chợt nghe thấy mẹ tôi từ dưới bếp tất tả chạy lên, tay vẫn còn cầm đôi đũa bếp, ngước nhìn ba tôi: "Cái gì thế? À, cái đồng hồ hả, tôi đấy mà, không phải đứa nào đâu... Gớm, vô ý một tý mà va phải vỡ tan cái đồng hồ, phí của!!..." Ba tôi hơi tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi khẽ nhăn mặt, hừ một tiếng, quay đi. Thế là trận đòn kinh khủng ấy đã không giáng xuống, cơn giận dữ của ba tôi đang bừng bừng nổi lên thì bị dập tắt bởi vẻ dịu dàng, đằm thắm của mẹ tôi. Qua mẻ hú vía, chúng tôi len lén ngước nhìn mẹ, bà cười thông cảm thì thầm "Này, lần này thì tôi bênh cho đấy nhé, lần sau thì ráng mà chịu đấy các ông các bà!" Bao giờ mẹ tôi cũng nói câu ấy, ngàn lần như một, bà đều tìm cách che chở cho chúng tôi.


Sự đông đúc này đem đến nhiều chuyện thật là bực mình và cũng buồn cười khiến cho tôi mỗi lần nhớ lại phải ôm bụng mà cười lăn. Mỗi lần ba tôi dắt cả nhà đi chơi, cứ đi được mấy bước lại quay ra đếm xem có đủ số không. Chả là vì một lần ba tôi cho đi xem ciné, phim thật là dài, mãi đến tối khuya mới về, tới nhà là đi ngủ liền, tự nhiên mẹ tôi thấy còn trống một giường, thì ra chỉ có 11 đứa, còn thiếu mất một thằng, thằng Thịnh. Mẹ tôi hốt hoảng nhẩy lên taxi đi tìm, cả buổi mà vẫn chưa thấy, bà lo sợ đến phát khóc, phải đến trình cảnh sát. Sau mẹ tôi mua lại vé vào rạp ciné lúc nãy, đến chỗ cũ, thấy thằng Thịnh còn đang ngồi đó, nhưng đã ngủ gục từ bao giờ. Mẹ tôi mừng rỡ nhảy bổ đến, lôi đầu nó dậy làm thằng bé ngơ ngác chẳng hiểu gì cả, rồi thản nhiên dụi mắt líu ríu theo mẹ tôi ra, báo hại làm chúng tôi từ hôm đó ít khi được ba dắt đi chơi chung với nhau nữa.

Ấy thế mà mỗi lần tết đến, những bà bạn của mẹ tôi vừa mới bước chân đến cổng là đã cười cười nói nói:

- "Năm mới năm me, chúng tôi xin chúc hai bác luôn luôn mạnh khỏe, đầu năm sinh con trai, cuối năm sinh con gái. Đông con nhiều cháu cho vui cửa vui nhà..." 

Không đợi bà ta nói hết lời, mẹ tôi vội vàng ngắt giọng: 

- "Ấy chết, bác chúc khỏe mạnh thì chúng tôi xin cám ơn bác, còn chuyện đông con nhiều cháu... thì thật tình là chúng tôi không dám nhận ạ..." 

Rồi hai bà cụ cười hỉ hả với nhau ra chiều tương đắc lắm. Sau một hồi chúc tụng tưng bừng, bà khách của mẹ tôi làm cái công việc mà các em tôi đã mong mỏi từ lúc bà mới vào. Bà tươi cười mở ví: "Nào! Các cháu bác đâu, ra bác mừng tuổi cho chóng lớn nào!!" Không đợi mẹ tôi cho phép, các em tôi lũ lượt ùn ùn kéo ra, xếp hàng dài như một đạo quân hùng hậu lắm. Mẹ tôi tái mặt, quắc mắt ra hiệu chúng nó vào, nhưng chúng làm ra vẻ không trông thấy, thản nhiên đứng chờ... Vậy là bà khách đành phải bóp bụng "lì xì" cho lũ cháu quý nghịch ngợm này, có lẽ không bao giờ bà dám chúc mẹ tôi đông con nhiều cháu nữa đâu nhỉ! Hôm đó về, mẹ tôi không ngần ngại mách ba tôi, đánh cho mỗi đứa một trận, làm từ hôm ấy, chẳng đứa nào dám bén mảng ra ngoài khi có khách đến nữa.

Vào trong nhà tôi thì chỉ thấy toàn giường với chiếu, kê san sát như là một ký túc xá nuôi trẻ con. Nguyên mấy cái bàn ghế cũng đã đủ chật nhà rồi, cứ y như là lớp học ấy thôi. Chả trách mỗi lần sắm sửa cho chúng tôi, mẹ tôi không khỏi ngại ngùng.

Nhưng không bao giờ tôi thấy bà than thở gì về chuyện đông con cái cả, mà hình như bà còn có vẻ sung sướng, hài lòng với lũ con nghịch ngợm này nữa. Một lần ba tôi bị ốm, nằm cả tháng, chưa dậy đi làm được, mẹ tôi rầu rĩ lo lắng: "Không biết bây giờ ba mày mà mất việc thì mẹ con làm ăn làm sao đây..." Không đợi mẹ tôi nói hết, chúng tôi nhao nhao lên, đứa thì đòi làm cái này, đứa đòi làm cái kia. Thằng Thịnh, đứa em mới 3 tuổi cũng bi bô: "Mẹ, mẹ để con đi bán cà-rem nha mẹ, nhà mình ai muốn ăn bao nhiêu thì ăn, khỏi phải trả tiền, con không lấy tiền đâu, mẹ chịu không?" Không hẹn, mọi người đều quay lại nhìn miệng nó, nguyên bộ răng sún đưa ra, và ai cũng biết rằng đó là hậu quả của cái tính tham ăn kem của nó.

Những câu nói ngây ngô, thốt ra từ miệng những đứa trẻ vô tư, thơ dại nhưng tràn ngập yêu thương khiến cho mẹ tôi cảm động, rưng rưng nước mắt, nguôi bớt cơn phiền muộn đã ám ảnh bà từ mấy hôm nay. Mẹ tôi nghẹn ngào: "Thôi thôi, mẹ xin cám ơn các con, mẹ chỉ mong chúng mày chịu khó học hành là được rồi..." Rồi bà âu yếm nhìn tôi: "Còn cái cô này nữa nhé, 15 tuổi đầu rồi đấy, cố gắng học hành nuôi ba mẹ, các em" Bà chép miệng: "Không biết ba mẹ nuôi nổi một bầy con mà nữa lớn bằng này đứa có nuôi nổi hai cái thân già này không..." Tôi chỉ biết nhe răng cười trừ. Tự nhiên tôi thấy thương ba mẹ quá, tôi chợt nhận thấy cái trách nhiệm của đứa con cả thật nặng nề, chứ không "lợi" như tôi vẫn tưởng. Thế thì từ giờ tôi phải tỏ ra người lớn một tý mới được. Nghĩ thế, tôi lấy giọng kẻ cả, dõng dạc: 

- "Thằng Long, thằng Sơn, con Vân đi ra học đi, còn mấy đứa kia ra ngoài sân chơi, nô gì mà nô lắm thế, không chịu học hành gì hết!

Lũ em tôi ngạc nhiên trước vẻ khác thường của tôi, chúng đứng sững giương mắt nhìn. Tức quá, tôi lại hét lên:

- "Ơ kìa! Tao bảo cái gì có nghe thấy không? Nhìn nhìn cái gì?

Chúng nó líu ríu dắt nhau ra ngoài, vừa đi vừa quay lại lấm lét nhìn bà chị. Tôi quay đi, khẽ mỉm cười thích thú. Rồi tự nhiên tôi bật cười với cái vẻ "bà cụ non" của mình, không hiểu sao tôi lại có thể ra lệnh một cách "oai phong lẫm liệt" thế nhỉ, quên mất là chính mình vừa mới lăn bò ra nô với tụi nó.


Bích Thảo       

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 57, ra ngày 15-11-1966)

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2018

Chuyện Của Bé


- Không có Hoa Hoa Hương Hương gì hết! Kể từ bây giờ chỗ ai nấy ngồi, không được lấn qua lằn ranh giới à nghe! Ai mà ngồi lấn qua là đồ hèn!

Thế là con Hoa đã giận bé rồi! Hôm qua nó bảo mai bé sang rủ nó đi học ; nhưng trưa nay vì mải chơi bán hàng với em Ái và búp bê Mimi mà bé quên cả giờ học. Đến chừng sực nhớ thì đã gần hai giờ hoảng hồn, bé năn nỉ chị Thu chở đến trường cho nhanh mà quên đi con Hoa đang chờ bé đến rủ. Chuông vào rồi mà con Hoa vẫn chưa vô mãi đến khi cô giáo vào lớp rồi nó mới đến ; thấy cái mặt hầm hầm và cử chỉ lạnh nhạt của con Hoa đối với mình, bé mới nhớ đến sự thất hứa của bé với nó. Mặc cho bé phân trần và xin lỗi mỏi miệng, con Hoa vẫn quay mặt không thèm nghe. Và nó còn lấy phấn vẽ trên mặt bàn, mặt ghế làm ranh giới ngăn cách giữa bé và nó nữa. Thế có tức không cơ chứ? Tự ái bé nổi dậy Bé thấy ghét con Hoa ghê đi người gì mà làm phách thế không biết nữa! Người ta lỡ quên một tí mà cũng giận. Đã giận cho giận luôn, bé khỏi thèm xin lỗi nữa đi. Giận càng tốt, bé càng chăm học chứ sao! Và suốt trong hai giờ học đầu, bé ngồi yên lặng, chăm chỉ nghe cô giáo giảng bài bé không dám nhúc nhích phải ngồi yên chứ lị! Nếu nhúc nhích mà lỡ ra... thì mang tiếng hèn sao? Và bé chăm chỉ đến nỗi cô giáo cũng ngạc nhiên vô cùng. Cô cứ nhìn bé với cái nhìn dò xét hoài. Chắc thế nào cô cũng tự hỏi: "Hôm nay con bé Hương nó có đau yếu gì hay không mà yên dữ vậy? Trái với mọi hôm nó vẫn thường nói chuyện và giỡn trong lớp luôn mà!"

Ra chơi, đợi cho con Hoa ra ngoài rồi, bé mới lấy giấy viết cho nó ít hàng. Đại ý bé bảo nó phách lối, tự tôn... và bé cũng không thèm chơi với nó nữa để nó đừng tưởng bé còn tiếc rẻ, còn muốn chơi với nó. Chuông vào học reo vang, bé vội vàng đút mảnh giấy vào hộc tủ của con Hoa. Bé hy vọng nhận được "hồi âm" của nó để xem phản ứng nó thế nào. Nhưng, kìa! Con Hoa lấy tập ra và thấy mảnh giấy của bé, nó không nói không rằng xé vụn mảnh giấy và vứt ra cửa sổ. Bé tức muốn bể bụng, định tát cho con Hoa mấy cái nhưng lại thôi. Thế là một cuộc cãi vã xảy ra giữa bé và nó. Con Hoa nói một bé cũng cãi lại hai không bên nào chịu thua bên nào. Nhưng bé và con Hoa đều quên mất một điều là cô ở trên bảng. Thấy hai đứa cứ "nói chuyện" hoài cô kêu lên định trừ điểm hạnh kiểm. Nhưng may sao! Một cuộc họp giáo sư bất ngờ xảy ra, cô phải đi họp và tha cho hai đứa. Bé thật không ngờ mình hên đến thế. Càng mừng bao nhiêu bé lại càng ghét con Hoa bấy nhiêu. Cũng tại nó mà xảy ra cớ sự nếu nó không làm cao, không xé mảnh giấy của bé gởi thì đâu có chuyện gì. Và nếu cô không đi họp thì có phải bé đã bị trừ điểm hạnh kiểm... oan rồi không? Một ý nghĩ trả thù len lén hiện ra trong trí bé. Ừ, bé phải trả thù con Hoa cho bỏ ghét! Nhưng bằng cách nào đây? Giấu tập nó ư? Ồ, cách này có chi là hay đâu. Phải tìm cách nào cho "cao siêu" một tí mới được. À, bé nghĩ ra rồi! Dạo này trong lớp bé tụi nó thích viết thư cho mấy chị buổi sáng ghê đi. Bé phải nhân dịp này mà giả làm một chị nào học lớp sáng viết thư cho con Hoa, để nó kêu bé bằng chị chơi. Thế là bé ung dung xách cặp ra về để còn sắp một chương trình hành động cho thật chu đáo.

Tối đến, bé chưa vội học bài, lấy giấy ra để viết. Này nhé, trước tiên bé phải đổi màu mực dễ quá! Bé lấy viết của chị Thu ra viết là xong sau đó, bé còn cẩn thận lấy tập của chị Thu ra để xem nét chữ người lớn nó ra làm sao để bé bắt chước, chứ không con Hoa biết thì sao? Bỏ hết mấy trang giấy để sửa chữ và sửa nội dung bức thư, bé mới tạm hài lòng với ít hàng như sau:

   Bé mến

Từ lâu chị vẫn muốn có một đứa em bé dễ thương để tâm sự cùng nhau. Nếu bé muốn làm em chị, bé cứ viết thư cho chị để ở kẹt bàn đấy nhá! Mến bé và trông tin bé.

chị Hạnh         

Bé phịa ra một cái tên thật dễ dàng, và bé tập làm chị cũng khá lắm đấy chứ! Bé xếp mảnh giấy lại, bỏ vào cặp và lại viết thêm một bức thư khác cho con Hoa, để hành động dễ dàng hơn.

   Hoa

Sao bồ làm phách dữ vậy? Người ta lỡ quên, người ta xin lỗi rồi thôi chứ làm gì giận dỗi? Thôi, nói cho bồ biết vậy chứ bồ muốn giận, tôi cho giận luôn, tôi cũng không thèm chơi với bồ nữa đâu. Tôi biết bồ bảo tụi con Hồng, Thanh, Thủy... giận tôi luôn tôi đâu có cần chơi mà bồ làm vậy? Kể từ ngày mai, vào lớp tôi sẽ im lặng, ngậm câm như hến, không thèm nói với ai nữa! Bạn bè gì thấy chán, hở chút là giận, mà đã giận thì phe đảng tùm lum. Tôi ghét bồ lắm rồi!

Hương          

Hôm sau, bé phải đi học thật sớm để dễ dàng thực hiện mưu kế của mình. Một giờ thiếu mười lăm, bé vội vàng cắp sách đến trường. Vì còn sớm quá nên trong trường chỉ có vài người lớp bé cũng chưa ai vô, bé mừng rỡ đến bàn của bé và con Hoa nhét mảnh giấy mà bé giả làm chị gởi cho nó vào kẹt bàn. Xong xuôi, bé xách cặp đi xuống và vào thư viện ngồi xem sách, đợi đến hai giờ kém năm mới vào lớp để con Hoa khỏi nghi ngờ. Ngồi đọc sách mà bé cứ nghĩ đến một chút nữa đây con Hoa vào học, nó sẽ được mảnh giấy ấy, chắc nó mừng dữ lắm ; chả là từ lâu nó vẫn muốn quen với một chị học buổi sáng nhưng vì nó nhát chưa dám làm quen. À, thế nào lúc đầu nó cũng nghi cho bé nhưng sau thấy bé chưa vào với lại nét chữ là chữ của người lớn... đứt đuôi con nòng nọc là nó hết nghi ngay chứ gì. Hơn nữa bé lại còn khôn khéo gởi cho nó một bức thư để nó đọ nét chữ nữa chứ! Bé sung sướng tin chắc rằng âm mưu của mình không bao giờ bị bại lộ Và, bé sẽ đóng vai chị của con Hoa mãi, suốt trong một niên học. Vì bé đã có một chương trình hành động thật chu đáo. Này nhé! Mỗi ngày bé đi học sớm đút mảnh giấy vào kẹt bàn rồi đi xuống, cố đừng cho con Hoa thấy mặt, chiều về, bé giả bộ đi xuống nhưng đợi cho con Hoa ra đến cổng trường là bé chạy lên lầu lấy mảnh giấy của nó viết. Nhưng bé đã lầm!

*

Bé chỉ đóng vai chị con Hoa được nửa tháng, thì bị phát giác. Một buổi sáng thứ sáu như thường lệ, lớp bé phải đi tập thể dục tại sân trường. Và không hiểu sao hôm ấy con Hoa lại dở chứng nó đi sớm và lên phòng học của lớp bé. Bé thầm nghĩ: Chắc nó lên để kiếm... chị. Bé vội vàng theo sau để rình xem việc gì sẽ xảy ra. Con Hoa không hề hay biết gì, nó vẫn thản nhiên đi lên. Khi nó vào lớp bé núp ngoài cửa sổ và ghé mắt vào xem. Con Hoa đã đến chỗ nó ngồi và hỏi một chị ngồi chỗ đó:

- Chị! Sao chị đến sớm vậy? Mới bảy rưỡi hà!

Bé nín cười trong khi chị kia ngạc nhiên vô cùng:

- Em hỏi gì lạ vậy? Em muốn kiếm ai?

- Chị quên em rồi sao, chị Hạnh? Em đi kiếm chị nè!

- Hạnh nào? Chị đâu phải là Hạnh mà lớp này đâu có ai tên Hạnh, chắc bé lầm lớp rồi đấy!

Đến lượt con Hoa ngạc nhiên - nó lắp bắp:

- Thế sao... thế sao có chị nào tên Hạnh ngồi chỗ này viết thư cho em. Thôi rồi, hay là... đúng rồi, con Hương.

Bé không còn đủ thì giờ để suy nghĩ nữa. Phải xuống mau! Bé vụt chạy xuống cầu thang. Vậy là con Hoa đã biết rằng bé trả thù. Thế nào rồi đây nó với bé cũng cãi nhau nữa cho coi. Đúng như bé dự đoán, ra về, con Hoa chận bé lại ở cổng trường và gây sự:

- Ê, Hương, mày chơi gì kỳ vậy? Bộ mày tưởng tao ngu mà không biết mày giả bộ sao? Còn tấm ảnh của tao, mày có trả đây không, bộ tính giữ để trù ếm tao hả?

Những gì con Hoa nói đều sai bét cả. Nó tưởng bé không nghe không biết gì cả sao? Nếu hôm nay mà nó không lên kiếm thì có lẽ suốt năm nay nó vẫn chưa hay biết. Vậy mà nó còn nói... còn tấm ảnh, bé nào biết trù ếm chi đâu, thật là buồn cười quá! Bé chọc tức con Hoa:

- Em gì hỗn láo vậy? Tấm ảnh cho chị...

Không để bé nói hết câu, con Hoa cướp lời:

- Chỗ này không phải chỗ để mày đóng kịch đâu nha! Sao mày khốn nạn, hèn hạ quá vậy Hương?

Thật bé không ngờ hậu quả của việc mình làm lại to lớn đến thế. Thật là nhục nhã! Biết vậy bé đâu thèm trả thù làm chi để nó chửi. Bây giờ bé mới hối hận, nhưng đã lỡ rồi! Biết làm sao? Xin lỗi nó ư? Không ngàn lần không! Dù sao bé vẫn còn chút tự ái của con người chứ! Bé vụt chạy sang đường để tránh tia nhìn khinh bỉ của con Hoa, bỗng một chiếc xe Honda trờ tới...

*

Suốt mấy ngày bé nằm nhà thương sáng nào con Hoa cũng vào thăm. Ban đầu bé còn mặc cảm và xấu hổ vì những việc mình làm nhưng sau, con Hoa năn nỉ quá. Nó bảo: Những việc gì về quá khứ hãy cho nó trôi theo quá khứ, chúng ta hãy tha thứ cho nhau mà nối lại tình bạn như xưa. Không riêng gì Hương mà Hoa cũng có lỗi. Vậy thì mình hòa nhé! Thấy nó có lý, bé cũng hết giận và hết xấu hổ mà làm hòa với nó.

Hôm nay, chân bé đã lành hẳn, bé đã đi học được. Một giờ mười lăm, bé vừa sửa soạn xong thi nghe tiếng con hoa ngoài cổng:

- Hương ơi! Xong chưa bồ?

Bé vội vàng thưa ba me rồi xách cặp chạy ra. Một tay cầm cặp, một tay nắm chặt tay con Hoa, bé cảm thấy lòng rộn lên một niềm vui khó tả. Suốt từ nhà đến trường bé với con hoa không ai nói với ai điều gì cả, cả hai đều im lặng, nhưng sự im lặng ấy đã nói với nhau thật nhiều.

Đến lớp, tụi bạn bu quanh bé và Hoa hỏi đủ thứ, bé trả lời hết nổi. Nhưng bé thấy thật vui. Bé đang chìm đắm trong niềm vui, bỗng con Hồng hỏi một câu làm bé ngượng vô cùng:

- Ồ! Con hến bữa nay mở miệng được rồi tụi bây ơi! Được thuốc tiên hả Hương?

Cả bọn cười vang làm bé đang mắc cỡ vô cùng cũng cười theo chúng nó và trả lời:

- Ừ, con Hoa và tụi mày đã cho con Hến uống thuốc tiên nên bây giờ nó mở miệng được rồi đó! Mừng hông?


HƯƠNG CỎ MAY     

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 119, ra ngày 1-12-1969)

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

Con Ngựa Kỳ Khôi


Phải gọi nó là con ngựa chứng mới đúng. Thằng Sự vẫn rủa nó là "con quỷ cái" và sửa tên nó là "Tà Tà". Mặc dù con ngựa ô có cái tên rất oai: "Vang Xa". Vòng đua này nó lại về áp chót, vòng đua chỉ có 1500m. Qua khỏi mức đến, mấy con ngựa đua kia được các nài bạn Sự ghìm cương. Trái lại khi thằng Sự cũng gò nó thắng lại, con Vang Xa lại hí một cái và phi nước đại một cách hãnh diện vì đã bỏ xa đồng bọn. Thằng Sự phải khó khăn lắm mới ghìm đầu nó quay theo vòng rào trở vô chuồng được. Các khán giả "tuyệt phích" xì xồ chế nhạo con Vang Xa. Họ dư biết "còn khuya" con ngựa này mới về ngược. Ông Hướng cha của Sự đang rầu rầu xé mớ vé cá ngựa. Có lẽ ông đã đặt hết hy vọng vào độ ngựa này, bây giờ sạch túi. Về áp chót như vậy, chủ ngựa không có một xu: tiền cỏ, lúa, tắm rửa, mướn chuồng... Con Vang Xa bực mình khi bị dẫn trở vô chuồng. Nó nhảy lồng lên hất văng thằng Sự còn đang kẹt tòn ten một bàn chân trong khớp sắt để chân. Thằng Sự té ê cả mông. Đó là nhờ nó kinh nghiệm lần trước đã bị trặc tay. Thằng Sự có học Tae Kwondo nhưng chẳng ăn nhằm gì. Hai tháng trước, đang đua gần đến mức ăn thua, con Vang Xa chợt chạy nước rút, qua mặt con ngựa Kim số 6. Không hiểu nó gắng sức cách nào mà thằng Sự sút tay rơi chồm qua vó ngựa phía sau. Thằng Sự chỏi tay lăn lẹ vào đám cỏ ven rào cây. Hú hồn! Nhưng Sự không tự chống tay đứng dậy một mình được vì đã sai khớp xương. Con Vang Xa vẫn hí hửng phi nhanh trong khi chú nài chờ xe cứu thương đến chở. Ông Hướng không làm sao thuê được chú nài gan dạ nào dám cưỡi con Vang Xa thế cho thằng Sự. Thằng Sự và con Vang Xa tự nhiên phải nghỉ xả hơi. Lần đua trở lại này vừa thất bại. Ôi! Buồn làm sao. Hai tháng nằm nhà thật uổng.

Thằng Sự cũng thích đi học thêm Judo lắm, vì học Judo có lợi khi bị té nhưng nó không có giờ. Hai buổi nó bận học lớp tám Nông Lâm Súc ở Bình Dương, tối nào rảnh nó mới học võ Tae Kwondo. Lại còn những lúc nào phải chăm sóc và dượt ngựa nữa chứ. Nếu nó chỉ học Phổ Thông nó sẽ dư được nhiều buổi chiều trong tuần lễ, khả dĩ giúp mẹ nó buôn bán phụ cho ngân quỹ gia đình. Mẹ nó không ưng chút nào khi cha con thằng Sự mải mê đua ngựa, dĩ nhiên đi kèm theo là đánh cá, cờ bạc... Nhưng biết làm sao khi cái máu phong lưu, tiêu xài, ăn chơi của nề nếp nhà giàu xưa từ hồi ông nội thằng Sự còn sống lan truyền cho cha con ông Hướng. Ông nội thằng sự xưa là một đại điền chủ có máu mặt, tiền chất đống đốt được cả một người. Đi du lịch tận Đế Thiên, Đế Thích... qua Lèo, qua Xiêm, nói gì đến các danh lam thắng cảnh trong nước, cả gia đình đều dư tiền dư của mà phung phí. Rồi nào lớp cờ bạc thâu đêm với các nhà tai mắt, quan lớn, nào sắm mấy con ngựa đua, nào thua tiền đánh cá..., ông nội thằng Sự sa sút lần lần. Và ông mất giữa lúc sản nghiệp tạm gọi là còn chút ít mót vét mà thôi. Thuở ấy ông Hướng còn hai con ngựa thật hay, đã từng chiếm giải nhất nhiều độ đua đường trường. Đó là con Long thoại Hoa. Con Long thoại Hoa già yếu quá, ông Hướng đã tặng lại bác Ba quản gia cũ của gia đình. Bác Ba dùng con Long thoại Hoa vào việc kéo xe thổ mộ sinh sống qua ngày. Và con "Vang Danh" thì chết vì bị rắn hổ hành cắn phải vào một đêm mưa. Con "Vang Danh" thuộc loại ngựa nòi, giống tốt và hiếm. Không chạy thì thôi, hễ đua là hạng nhứt và luôn bỏ xa các đối thủ một khoảng cách đáng kể. May thay ông Hướng đã gây giống được con ngựa con, là con "Vang Xa" bây giờ.

Lúc còn thuộc vào hạng ngựa non loại D, con "Vang Xa" chỉ thắng được một độ duy nhất là về nhì. Độ đó cha con ông Hướng lãnh không bao nhiêu, chỉ đủ hòa vốn vì cứ chắc mẻm con "Tà Tà" về nhứt. Rốt cuộc con Vang Xa tà tà về nhì thôi, làm bao vé cá nó hạng nhứt đi đoong. Dần dà nó cân nặng thêm, cao hơn... để được sắp hạng vào loại ngựa C rồi ngựa B. Vóc dáng con Vang Xa cũng xinh tươi ra. Nó trổ mã và trông thật oai phong lẫm liệt chẳng kém chàng ngựa nào. Bộ lông mượt mà nếu được tắm táp, kỳ cọ sạch sẽ. Trên trán nó một vệt trắng nổi bật trên màu lông đen tuyền. Bụng nó thon và săn cứng, bốn vó nở nang gọn gàng. Nhìn tướng nó không một ai có thể chê điểm nào, dù là cái bờm xõa dài trong gió, dù là túm đuôi dài thượt. Thế mà ai cũng lầm, nó chuyên tà tà cầm cờ đó, đến nỗi có tên trong độ đua nào là các tuyệt phích gạt ra, chừa mặt nó ngay.

Nó lại hay giở chứng bất tử, chỉ có nài Sự con chủ nhân mới quen tánh nết dám cưỡi nó. Thằng Sự ghi tên học khóa huấn luyện mầm non cưỡi ngựa làm nài chỉ để cho biết. Nào ngờ thông minh, nó lại đậu thủ khoa. Thế mà có lúc trị vẫn không nổi con ngựa nhà mỗi khi nó lồng lên. Nài Sự còn mang thêm số 2, gọi là Sự 2. Vì một đứa khác vào nghề trước cũng tên là Sự, gọi là Sự 1. Sự 2 cưỡi ngựa khéo hơn Sự 1 nhiều. Nó vẫn được các chủ ngựa khác thuê cưỡi ngựa giùm, cho nên Sự 1 rất ganh tị với Sự 2. Giá mà gặp đứa khác Sự 1 đã tìm cách khiêu khích rồi choảng nhau, bắt nạt người ta. Nhưng Sự 2 luôn có cha nó đi kèm, ông Hướng theo con ngựa "Vang Xa" thì đúng hơn.

Vả lại Sự 2 có nghề, nó học võ và đá cao, hay có thể đá giò lái như ngựa được. Chả là một kỳ đua kia nài Sự phát giác nài Cừ ăn gian. Nài Cừ thiếu ký lô để cưỡi con ngựa to khá sung sức, phải mang thêm giày đế đổ chì. Nhưng nài Cừ lén thay giày lúc lên ngựa. Độ đó con ngựa nài Cừ cưỡi về nhứt vì chở hơi nhẹ. Nài Sự 2 trình thưa với ban tổ chức. Kết quả ngựa đua đó bị sụt hạng nhì.

Nài Cừ thay đồ xong xuôi còn cầm cây roi kiếm đánh nài Sự 2. Nài Sự 2 bình tĩnh chịu mấy roi, nó búng cho nài Cừ mấy đá lên tới mặt, sặc máu mồm. Người lớn chừng đó mới hay đến can hai đứa ra. Nài Sự 2 tuy ốm và nhỏ con hơn mà oanh liệt hạ nài Cừ, vốn nổi danh đáo để, ngang tàng... Sự 2 học võ phòng thân, thế mà hữu sự khi đánh nhau khơi khơi tay đôi. Từ đó Sự 2 càng nổi danh hơn, cũng như con Vang Xa có tiếng tăm là ngựa dở ẹt.

*

Tối nay ông Hướng dẹp quán sớm. Vì mấy chú lính trẻ nhậu say, rồi "sứa" lên, xách ghế phang nhau, dùng cả vỏ chai la ve. May mà có xe Tuần Cảnh chợt ngang qua, họ bỏ chạy vào hẻm trốn hết. Mà có hao tốn gì, bảy tám con khô mực và gần một kết la-ve lớn thôi. Phải chi họ ngồi ăn kem nghe nhạc suông, lại bày đặt nhậu nhẹt, rồi gây gổ, tiếng to tiếng nhỏ mích lòng với nhau. Phải chi quán "Tuyệt" của ông Hướng chỉ bán toàn Cà Phê như lúc trước thì đâu nên chuyện. Bởi vì địa điểm vắng vẻ này quá ế ẩm, vả lại các quán cà phê đồng loạt mọc cạnh tranh như nấm. Ông Hướng xoay sở bằng cách bán đủ thứ, cả đồ nhậu lai rai... nhưng vẫn không khá. Lại còn lỗ lã khi gặp nạn như vậy, riết rồi khách hàng đàng hoàng cũng e dè khi muốn ghé vào giải khát. Tình trạng đìu hiu cứ kéo dài có ngày đành phải dẹp quán, đóng cửa luôn chứ sống sao nổi.

Thằng Sự đang nhẩm bài học. Mẹ nó còn lui cui sau bếp. Bà còn coi lại cổng chuồng con Vang Xa. Quên kể thêm một điều khiến quán Tuyệt của ông Hướng ít khách. Cũng tại cái chuồng con Vang Xa cất ké ở hông phải bên nhà. Vô phúc hôm nào thuận chiều gió, khách ghé quán sẽ khó chịu với mùi hôi của chuồng ngựa thoang thoảng. Một thứ mùi đặc biệt khó tả vì nó tạp nhạp bợn dơ... làm khách ngại và không muốn trở lại lần nữa. Đáng lẽ con Vang Xa được mướn nuôi tận Gò Vấp hay Nhà Bè, nhưng ông Hướng tiết kiệm tiền lẫn sức lực cho con Vang Xa. Để trưa thứ bẩy hay trưa chủ nhật nào có đua, con Vang Xa sẽ thong thả mà đi từ Xóm Giá (Gia Định) đến trường đua Phú Thọ. Có lẽ con Vang Xa quá sung sức chăng? Nên cho nó đua vào những độ đường trường từ 2000m trở lên, chứ nếu đua nước rút, nó còn bận "tà tà" chưa nóng máy.

Mấy bữa em thằng Sự đòi cha nó kể chuyện đời xưa. Ông Hướng chiều con, nhưng ông không nhớ một chuyện cổ tích nào. Ông kể chuyện thật vậy. Đặc biệt chuyện ma, xảy ra từ hồi ông nội thằng Sự còn sống. Mấy đứa nhỏ im thin thít nằm sát ông Hướng hơn. Thằng Sự cũng giả bộ cất tập, sách rồi chạy thót lên bộ ván. Trông tụi nhỏ vừa thích thú vừa sợ sệt đến buồn cười. Ông Hướng vẫn đổi tay quạt xành xạch, giọng vẫn đều:

- Hồi xửa, hồi xưa... hồi cha còn nhỏ vẫn thường theo ông Nội bà Nội đi chơi đó đây...


Rồi ông kể lại những chốn mà ông đã đến thăm tận nơi, thấy tận mắt những cảnh đẹp quê hương khắp ba miền non nước mến yêu. Nào là vịnh Hạ Long, mỏ than Đông Triều, ngược đường biên giới qua Tàu... Nào là Huế cổ kính, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Nha Trang, Qui Nhơn, Đà Lạt v.v... cho chí Cà Mau, Hà Tiên, đảo Phú Quốc... Các tỉnh miền Tây, lẫn miền Đông... còn qua tận Nam Vang, qua Vạn Tượng, Thái Lan. Thuở ấy thanh bình êm ấm, đi lại dễ dàng. Cái thuở mà nửa đêm tan cuộc đổ Song Hường (còn gọi là đổ Trạng), mấy ông cò mi, lục sự, ông Phán... cùng ông Nội thằng Sự... đều đói bụng. Họ rủ nhau dùng xe hơi nhà xuống Mỹ Tho ăn hủ tíu. Cái thuở mà tàu sắt Xuyên Việt chạy suốt đêm. Hoặc là đầu hôm xe đò còn ở bến xe đi Sóc Trăng (Ba Xuyên bây giờ) sáng dậy hành khách đã đến Bắc Mỹ Thuận, rồi xế trưa đến Bắc Cần Thơ. Cái thuở mà đi phi cơ từ Sàigòn ra Huế được coi là một phương tiện xa xỉ và mất đi hứng thú thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên. Ông Nội thằng Sự cũng đã từng vung tiền chỉ để bao xe khứ hồi qua Nam Vang. Tiền ấy dư sức cho một người trung lưu sống suốt đời. Nhưng thời ấy nay còn đâu!

Bây giờ nói lan sang chuyện ma đây. Ông Hướng nhỏ giọng hơn như sợ người khuất mặt nghe được:

- Đêm hôm đó bốn người đi trên cỗ xe ngựa, cỗ xe song mã thì đúng hơn...

Thằng Sự ngắt lời ông Hướng:

- Bốn người đó là ai vậy cha?

Ông Hướng cười và khoan thai đáp:

- Là ông Nội, bà Nội, bác Ba quản gia, hôm đó bác Ba kiêm chức phu xe và cha lúc đó còn nhỏ, nhỏ hơn thằng Sự vài tuổi. Vì là con út nên ông bà cưng, đi đâu cũng cho theo. Bà Nội đi thăm người em đau nặng lắm, tận Biên Hòa. Mà ông cậu (tụi con gọi là ông cậu, ông cậu Bảy đó) tưởng chết, nhưng qua cơn đau "thập tử nhất sinh" ấy lại mạnh khỏe luôn cho đến bây giờ.

Đêm hôm khuya khoắt, gần mười giờ rồi, đâu còn xe cộ gì di chuyển. Chuyện cấp bách, bà Nội đành phải thắng xe ngựa, phu xe cũng đã về nhà, nhờ bác Ba quản gia cầm cương vậy. Sẵn có ông Nội cùng đi, cha cũng đòi đi theo. Cha đi theo vì biết rằng đi ngang Thủ Đức chắc chắn sẽ ghé đó ăn khuya cả nhà. Hai bên đường lộ đi Thủ Đức bấy giờ vắng vẻ và ghê rợn lắm, chỉ có độc nhất đường rầy xe lửa và hàng cột điện đồng hành. Ngựa vẫn chạy lóc cóc, xe vẫn lăn bánh cọc cạch và trời mưa lâm râm. Giun, dế, ếch, nhái... kêu vang bên ruộng. Đom đóm lập lòe trong đám cỏ lau hay sa vào màng nhện chăng chằng chịt trên dây điện. Qua khỏi cầu Băng Ky, cầu Bình Lợi... vẫn chỉ có xe ngựa của nhà chạy một mình... Sắp đến cầu Gò Dưa, bỗng có hai bóng đen từ hai phía ruộng nhảy lom khom lên. Bà Nội ngồi quay lưng ra nên thấy trước tiên. Bà chăm chú theo dõi và hết hồn khi thấy hai cái bóng nhỏ mà chỉ có mỗi đứa một chân. Hai cái bóng nắm tay nhau, rượt đều theo xe ngựa. Bà Nội khều nhẹ ông Nội lúc ấy đang ngủ gà ngủ gật. Bác Ba chưa hay vẫn quất cây roi trong không khí nghe "trót", ngựa vẫn kiệu đều bước. Ông Nội tỉnh hẳn mò cây súng sáu nhỏ ông hay giấu trong một cái hộp chế trong mui xe, cất giấu một cách bí mật. Ông Nội rút súng định nhắm bắn hai con quỉ một giò. Bà Nội cản lại không cho. Bà nói rằng "chắc không sao, tụi này chỉ chạy theo được một quãng chứ gì, gần qua cầu và tới Thủ Đức rồi". Rồi bà Nội lâm râm niệm Phật, đọc lên bài kinh "cứu nạn, cứu khổ" gì đó..., tay thì lần tràng hạt. Tiếng đọc kinh làm cha giật mình thức giấc. Ông Nội đang bảo bác Ba dong xe nhanh hơn. Cha dụi mắt nhìn kỹ, lạ thay! Hai cái bóng chạy nhanh theo vun vút và vẫn giữ khoảng cách đều đặn. Hình như hai con ngựa biết sợ, chúng hơi hí trong cổ họng và cũng phi nước rút. Xe lăn mau qua khỏi cầu Gò Dưa. Hai con quỉ một giò còn tiếp tục đuổi theo. Bài kinh bà Nội niệm đã hơn chục lần, cùng lúc ấy có chuyến xe hỏa ngược chiều sầm sập đổ tới. Tiếng còi chợt thét lên lanh lảnh và ngân xa. Hai con quỉ qua theo khỏi cầu Gò Dưa độ 500m thì biến mất... Không rõ vì lý do gì.

Mấy đứa trẻ nghe tới đó thì thở phào như chính chúng thoát khỏi nạn tai. Mẹ của thằng Sự vừa lên đến. Bà giục các con đi ngủ vì ông Hướng còn nhiều chuyện ma lắm, kể tới 1001 đêm cũng không hết, để tối nào rảnh rỗi hẳn. Bọn trẻ vâng lời nhưng còn luyến tiếc khi chui vào mùng. Có tiếng chúng cãi nhau:

- Tao nói là ông bà Nội có cho cha ăn cháo, ăn nem ở Thủ Đức.

Có tiếng con gái phản đối:

- Khỏi đi, sợ thấy mồ, chắc hồi đó cỗ xe đi luôn cho đến Biên Hòa.

- Con gái là chúa nhát.

- Con trai là chúa tham ăn.

Ông Hướng nhìn bà Hướng, mỉm cười nói với vợ:

- Thiệt tụi nhỏ hay thắc mắc cái gì đâu.

- Ờ quên nữa, cả nhà có ghé Thủ Đức ăn khuya... Ăn để lấy sức chịu trận rủi gặp ma quỉ lần nữa. Thôi lo ngủ đi chớ.

Mấy đứa nhỏ lúc ấy mới chịu im, nhưng còn nói vớt một câu:

- Đó thấy tao đoán đúng chưa.

Thằng Sự rầy mấy đứa em:

- Cha tắt đèn kìa, đứa nào còn mở mắt sẽ thấy ma ngay.

*

Trưa Chủ Nhật này chỉ còn mấy độ ngựa chót. Trường đua sắp đóng cửa tạm thời theo lịnh mới, cùng với các quán ca nhạc sống, các bar... Giới sành điệu ăn chơi, cờ bạc đã hay tin trước và dĩ nhiên rất "đau lòng". Không khí trường đua hôm ấy tưng bừng náo nhiệt như một ngọn đèn bừng lên trước khi tắt. Chỉ còn lại khán đài danh dự nên đông nghẹt các tay máu mê cờ bạc. Khán đài phía bình dân bỏ trống vì chưa sửa sang xong và còn dân chiến nạn trú ngụ đuổi không đi.

Những độ đua cuối mùa cũng chợt vùng lên quan trọng và gay cấn, không khí hào hứng, tranh đua và rất cam go. Con Vang Xa lại có tên trong độ đua 2500m quan trọng thứ nhì. Trưa thứ bảy hôm qua, ông Hướng đi đánh cá một mình. Ông may mắn trúng lai rai. Lại gặp bạn bè chủ ngựa kéo đi nhậu nhẹt, đánh chén... Không làm sao từ chối được. Nhưng đã gần 12 giờ trưa rồi ông chưa về đến nhà. Thằng Sự lo âu hỏi ý kiến mẹ nó. Bà lắc đầu nói:

- Ai biết cha con mày tính toán ra sao. Thôi đi Nhà Bè hỏi thăm bác Ba giúp ý cho.

Thằng Sự lập tức đi Nhà Bè, bỏ cả cơm trưa. Bác Ba quản gia nhất định đua. Hai người trở về tức tốc dẫn con Vang Xa, lục tục kéo về Phú Thọ. Thằng Sự dắt ngựa, bác Ba đạp chiếc xe của thằng Sự "cà rịch cà tang" theo sau. Bác Ba cũng rành việc dìu dắt, như ngày xưa bác từng theo ông Nội thằng Sự làm các công việc ấy. Chưa trễ, còn đủ thì giờ để bác Ba cầm vội cái đồng hồ đeo tay. Thằng Sự mượn bác Tấn, một chủ ngựa bạn ông Hướng, được một số tiền. Hai bác cháu dốc hết túi đánh cá rời, hạng nhất là con Vang Xa. May ra ngựa về ngược thì no nê, vé mang số 10 của con Vang Xa hỗn danh Tà Tà hãy còn nhiều vì chẳng ai tin cậy "cô ngựa chứng" cả. Không thể trông vào sự may rủi, thằng Sự nhất quyết hôm nay phải cưỡi ngựa thật chì, để giựt giải. Con Vang Xa phải thắng cuộc đua chót này. Dường như con Vang Xa thầm hiểu, nó nhai nước bọt sùi cả hai bên mép chứng tỏ đang hăng sức. Lúc ngựa vòng ra sân để các tuyệt phích xem giò cẳng, nó bước những bước bứt rứt, tung tăng. Cát bụi bay lấm tấm, bám mờ giày ống thằng Sự. Thằng Sự 2 hôm nay mặc toàn màu trắng. Cái kết nó đội thì màu xanh hy vọng. Cái áo cũng viền xanh như quần. Phần lớn màu trắng nổi bật trên con ngựa ô đặc biệt, chưa gặp thời.

Thằng Sự sắp ra vòng đua nên không hay ông Hướng đã gặp bác Ba. Thì ra ông Hướng nhậu say, làm mất bóp đựng tiền bạc giấy tờ. Ông bận chạy tới lui chỗ này chỗ nọ, cố nhớ xem đánh rớt nơi nào, Nhưng hoài công cả buổi sáng. Rồi ông vay tiền người quen, mau chân đến đánh xả láng cho cuộc đua chót. Kỳ này con Vang Xa mà giở chứng nữa chắc đem nó về nấu phở, chứ từ đây tới ngày trường đua mở lại không biết đợi lúc nào.

Thong thả bầy ngựa kéo đến chuồng phất cờ bằng điệu. Con Vang Xa cứ bồn chồn. Giá mà cho ngựa vượt chướng ngại vật như các cuộc đua bên Anh nó cũng có thể băng lướt như chơi.

Rồi, bắt đầu khởi hành. Con Vang Xa lại quen thói tà tà. 1000m hơn mà nó vẫn chỉ hơn được hai con ngựa khác. Thằng Sự rủa thầm và thúc hai gót chân vào hông ngựa: "Con quỉ cái ơi mày đừng hại tao!" 1200m con Vang Xa chỉ qua mặt thêm hai con. Phía trước sáu con ngựa khác cũng bị nài cưỡi vụt roi vào mông đang ra sức. Con Vang Xa chợt chậm lại như chờ mấy con đàng sau. Thằng Sự la "trời" một tiếng bỏ lỏng cương. Nó chắc phen này thua đến đau bịnh vì tức tối mất thôi. Nhưng khi mấy con ngựa phía sau vượt qua con Vang Xa, con Vang Xa rướn mình lên, bờm dựng đứng và rượt theo. Sẵn Sự 2 thả lỏng cương, nó chạy rút nhanh 1500m... 1800m. Con Vang Xa hừng chí sải như bay. Có lẽ lúc nào cũng chỉ có hai chân ngựa chạm đất. Thằng Sự hồi hộp nín hơi cho nhẹ người. Bây giờ không cần dùng roi con Vang Xa cũng qua mặt một hơi bảy con ngừa đàng trước. Còn lại ba con khác, mấy nài ngựa kia vẫn cố ra roi. 2000m... Con Vang Xa trổ hết tài phi vun vút, nó cho ba con ngựa kia hửi bụi một cách dễ dàng không ngờ. Thằng Sự vui đến run, nó nắm chắc cương mọp người cho bớt chịu sức cản của gió, để mặc con Vang Xa mặc sức chạy. Mùi mồ hôi ngựa từ bờm lông tỏa ra, cái mùi mà bây giờ Sự 2 hít nghe thơm vì quá quen thuộc lâu ngày nó không nhận ra. Cái mùi lúc này như mùi chiến thắng thì phải. Mười con ngựa đằng sau đã trở thành hai toán. Dĩ nhiên toán ba con đàng trước đang cố giành chức với con Vang Xa. Trong toán đó có một con cũng hao hao giống con Vang Xa cũng bứt khỏi hai con kia. Nó đuổi sát đít con Vang Xa 2200m... Rồi 2400m... Con Vang Xa "dư sức qua cầu". Rồi 2500m. Con Vang Xa phóng vút qua và cứ phi hoài. Nom bộ dáng nó vẫn còn dẻo dai, trong khi con ngựa mang số 7 về nhì đã mệt thở hồng hộc, lúc nài Tâm ghìm cương, nó như muốn xỉu. Bởi vì hết 11 con ngựa đua này, chưa con nào dự cuộc đua với khoảng cách khá xa như vậy.

Các tuyệt phích thua cuộc tức tối. Chỉ có một số người đánh tréo phòng hờ 7 X 10 và 10 X 7 thì may mắn trúng một vài vé. Nhưng chỉ trúng vài vé dù có chỉ số tiền trúng cá lớn bao nhiêu cũng không bù lại số vé thua được. Nơi khán đài danh dự (một khoảng ghế dành cho các chủ ngựa), ông Hướng và bác Ba già đang mừng phát run. Cả hai người như nhớ lại cái thời oanh liệt xưa, giờ phút vinh quang cầm chắc của con ngựa Vang Danh. Thật đúng với câu "ngựa chứng là ngựa hay", con Vang Xa đã không làm hổ danh ngựa nòi vô địch của cha nó. "Đường dài mới biết ngựa hay": trường hợp của con Vang Xa, vì cứ ham đua nước rút nên không đúng môi trường thích hợp, nó cầm cờ đỏ hoài là lẽ đương nhiên. Sự 2 tươi tắn trên mình con Vang Xa bây giờ chỉ lấm tấm một ít mồ hôi. Có lẽ ngựa chưa vừa ý lắm khi chỉ chạy được 2500m, nó còn có thể chạy gấp đôi, gấp ba... lần như vậy. Con Vang Xa ấm ức, giựt giựt cái mõm dài như muốn phản kháng Sự 2. Xem mòi nó định hất văng cậu chủ nhỏ để tự do tung hoành thêm một đoạn nữa. Sự 2 không lấy đó làm khó chịu như mấy lần trước. Sự 2 âu yếm vuốt ve cái bờm, xoa xoa cái cổ con Vang Xa, đừng nên giở chứng nữa. Sự 2 còn mãi nghĩ chuyện tương lai. Rồi mai đây trường đua tuy đóng cửa, nhưng con Vang Xa sẽ được bác Ba nuôi dưỡng sức ở Nhà Bè chờ ngày... Tiền lãnh giải, tiền trúng cá... rất đáng kể. Ông Hướng sẽ dư sức mướn nuôi ngựa. Ông Hướng sẽ dẹp cái chuồng hắc ám bên cạnh quán. Quán nhà sẽ được sửa sang rộng lớn hơn, với bộ mặt mới là quán phở. Dĩ nhiên phở bò, không phải phở thịt ngựa. Quán sẽ đông khách bởi vì vùng đó phần lớn là tiệm mì, hủ tíu không thôi. Bà Hướng rồi sẽ sắm thêm một tủ đựng kem, yaourt... Mấy em nó sẽ được mua vài cái xe đạp. Và Sự 2 sẽ cố xin một chiếc Honda. Cỡi Honda đâu bằng cưỡi ngựa, nhưng nó đi học xa sẽ đỡ tốn tiền xe đò. Thì giờ lúc trước bận lo cho con ngựa đua nó sẽ dùng để giúp đỡ gia đình. Ông Hướng sẽ yên tâm làm việc nhà nước, khỏi lo lắng gì thắng hay bại mỗi tuần vào thứ bảy, chủ nhật ban chiều. Có lẽ chính phủ dẹp trường đua thật đúng lúc. Giúp cho nhiều người khỏi phải ôm hận vì cầm đồ thế đạc..., mất tiền lương, cháy túi, nợ nần... đưa đến nhiều tệ trạng nguy hiểm khác. Thật là mâu thuẫn cho những ý nghĩ của Sự 2. Đã nói lần đua cuối cùng này xứng danh là vòng đua lịch sử. Phút huy hoàng của con ngựa đã giúp một gia đình trở về đời sống thường nhật không còn bận tâm, âu lo cho mỗi độ đua.

Cách đó một độ, Sự 2 lần nữa cưỡi giùm con ngựa hồng của một ông Bác sĩ. Người ta đua nhau đánh cá Sự 2. Sự 2 lại may mắn giựt giải nhứt. Không hoàn toàn vì tài cưỡi của Sự 2 mà còn nhờ con ngựa của ông Bác sĩ nó cũng thuộc loại ngựa hay hiếm có. Sự 2 được chia thêm một mớ tiền. Giá mà gặp tay ông Hướng hồi bé, ông đã dùng tiền ấy hùn mua ngựa đua với các người quen rồi. Nhưng Sự 2 sẽ đưa tiền ấy cho cha hay mẹ nó tùy nghi sử dụng. Ba người lãnh tiền xong, hân hoan dắt nhau đi ăn uống các món ngon bày bán trong trường đua. Từ cháo lòng, bún bò... cho đến ly trà Huế với quả chuối già. Họ ăn cho no nê, cho đã... để rồi từ đây từ giã trường đua. Chưa bao giờ "cô hồn trường đua" cái trúng cá ngựa lớn như vậy. Ông Hướng hề hà cười với bác Ba và nói:

- Để thằng Sự dắt ngựa về nhà một mình. Tôi chở bác xuống Nhà Bè làm một bữa bún canh chua cá bông lau. Thiệt cũng nhờ có bác mới hên như vậy.

Bác Ba xua tay:

- Thôi để đem tiền về cho mẹ thằng Sự mừng. Chứ theo tao khề khà nhậu nhẹt, cầu tới mốt chưa mãn tiệc.

Thằng Sự nhắc cha nó:

- À cha đổi cái xe Vespa nào mới đi. Chớ cha đi chi cái xe cũ, nó cũng chứng y như con Tà Tà, ủa quên con Vang Xa.

Ông Hướng bỗng giật mình:

- Mày nhắc tao mới nhớ vụ xe cộ. Chắc giấy tờ cha bỏ quên trong cóp xe. Hôm qua cha sợ say rớt mất nên cẩn thận cất trong cóp, tỉnh rượu lại đi tìm tầm ruồng ở đâu không.

Bác Ba tiếp lời:

- Ừ, thôi ăn lẹ rồi về, tối quá. Cha thằng Sự coi lại ba cái giấy tờ cho kỹ. Nếu không có sáng thứ hai đi cớ, đi trình lôi thôi lắm nghe.

Thằng Sự mua một bọc đủ thứ bánh gởi ông Hướng đem về cho mấy em. Nó còn bận trở lại chuồng mướn người ta tắm rửa giùm con Vang Xa. Lâu ngày xài sang được tắm mướn nhưng con Vang Xa khó chịu khi người ta đụng đến. Nó không biết rằng nó chỉ được quý mến ngày chót này. Từ đây về sau nó khó mà trở lại sân cỏ thênh thang. Biết đâu ông Hướng sẽ bán lại nó cho một chủ ngựa khác để giải nghệ luôn. Nghề cờ bạc này không khá, dù theo đuổi một cách tài tử cũng hao tốn rất nhiều. Rồi có khi nào vui miệng ông Hướng sẽ ngồi ôn lại những kỷ niệm xưa, ôi biết bao nhiêu là giai thoại vui buồn, lúc được, lúc thua... kể cho con cháu đêm đêm.

Thằng Sự vỗ về con Vang Xa. Nó phải dắt ngựa về nhà cái đã, trước khi đem gởi ở Nhà Bè. Hổm nay cha con thằng Sự về trễ cũng không sao, quán ở nhà cứ việc chờ cha con Sự về đóng cửa. Có lẽ đóng cửa luôn để cải biến thành quán mới. Không khí trường đua với độ ngựa cuối cùng đang diễn tiến trong sân vẫn rộn rịp như chưa nhận lệnh đóng cửa bao giờ. Hình như Sự 2 nhận thấy vài bộ mặt thiểu não và mệt mỏi của mấy ông thua đậm, đang chờ các chuyến xe Lam. Chưa bao giờ Sự 2 ái ngại đến thế. Con Vang Xa và Sự 2 đang "kiệu" những bước "tà tà" trên đường về. Sự 2 hết còn coi con Vang Xa là con ngựa kỳ khôi.


THÁI LYNH LĂNG     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 67, ra ngày 3-12-1972) 

 
Bìa của Vi Vi : NGOAN
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>