Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2018

Hồi Ký


1.

Khi hoàn cảnh đến để có thể thực hiện một tờ báo, một ước mơ to lớn mà mình ôm ấp mãi, mình vui mừng và lo sợ. Hôm ấy trời nắng gắt, trên đường về mình cảm thấy rõ ràng sức nóng từ mặt nhựa bốc lên hừng hực. Nhưng rồi... quên hết khi nghĩ tới tờ báo trong tương lai. Lại thêm một vấn đề đặt ra: "Mới đây có vài tháng mình xin nghỉ báo T H. trong một thời gian vì lý do sức khỏe. Chỉ còn 39 kí, bác sĩ cấm không cho làm gì cả. Bây giờ nhào đầu vào làm một tờ báo mới cho chết à? Lại thêm độc giả T H. không biết sẽ nghĩ gì, hóa ra như vậy cái lý do nghỉ vì "lý do sức khỏe" cũng là một bình phong che đậy một toan tính gì như thông lệ? Ai mà không nghĩ thế, chuyện đó xảy ra quá nhiều trong hiện tại. Mình không muốn làm ai buồn, nhất là rất sợ bị ai giận. Thế nhưng không làm thì tiếc. Thôi, cái đam mê đã làm hại mình rồi!...

Mình nghĩ đến những buổi dạy học! Bao nhiêu lần bắt gặp mấy cô học trò đọc những tờ tạp chí, tuần báo phụ nữ, mà thật ra dành cho người lớn. Mình tịch thu nhưng hết giờ lại trả lại, không nỡ xé vì dù sao cũng tiền bạc cả mới mua được. Học trò có lẽ ít biết ông thầy lo nhiều cho mình.

Vừa về đến nhà thì quyết định của mình cũng dứt khoát: làm! Bởi vậy không vào nhà, mình quay xe xuống thẳng nhà Thái Bắc. Hắn đang ngồi ghế xích đu ngoài vườn, đọc sách. Ở nhà, hắn mặc áo may ô nên trông người dài ra và gầy thậm tệ. Nghe tiếng xe quen thuộc, không chờ mình phải bấm chuông, hắn đứng lên ra mở cổng.

Vừa dẫn xe vào sân, mình vừa nói:

- Có chuyện quan trọng, Thái Bắc ạ.

Thái Bắc không nói gì, chỉ yên lặng chờ mình dựng xe, rồi kéo mình ngồi chung cái ghế xích đu mảnh mai của hắn. Mình không lo cái ghế xích đu sụm chân, vì hai thằng đều gầy quá lắm. Chê Thái Bắc gầy, nhưng thừa biết ở trường đồng nghiệp và học trò gọi mình là ông thầy "qua cầu gió bay".

Nghe mình kể đầu đuôi gốc ngọn, Thái Bắc có vẻ trầm ngâm suy nghĩ. Mình hỏi:

- Thế nào, làm không?

Hắn trả lời thật gọn:

- Nếu cậu nhất quyết làm thì mình cũng làm.

Thật là tuyệt đẹp. Ngày xưa, kể từ hồi còn học đệ nhị trung học, đã có lần bọn mình nói với nhau:

- Lớn lên, thế nào mình cũng cùng nhau làm được một cái gì.

Và từ đấy, đứa nào cũng cố tâm học để mong chờ cái ngày "lớn lên" đó. Hôm nay, dù là chưa lớn và công việc này chưa hẳn là "một cái gì" (mơ hồ nhưng có vẻ to lớn lắm), hai đứa cũng cảm thấy sung sướng lắm. Thái Bắc gọi em lấy chai nước lọc và hai cái ly. Hắn rót đầy cả hai rồi bảo:

- Rượu mừng ngày xuất quân!

Hắn cười, không biết vì nghĩ gì. Mình cũng cười và nghĩ: "Thôi rồi, điệu này đúng là uống nước lã làm báo Thái Bắc ạ. Điệu này thì báo mình sau này tương lai huy hoàng sáng lạn lắm đây".

Nhưng mình không nói ý nghĩ ấy với Thái Bắc, chỉ bảo:

- Để ngày mai mình bảo cho Hoài Mỹ biết.

*

Nghĩ đến Hoài Mỹ lúc nào mình cũng cho là một sự kỳ lạ. Thái Bắc là bạn quen thân từ hồi mài đũng quần trên ghế trung học, còn Hoài Mỹ thì mới quen thôi, nhưng mình chưa thân ai nhanh bằng thân Hoài Mỹ. Năm trước, khi bắt đầu đến dạy ở P.A, thỉnh thoảng trong buổi họp hay picnic của giáo sư, mình thấy hắn nhưng không để ý gì cho lắm, hắn có vẻ một công tử hơn là một tên "trâu bò" mà mình vốn thích những tên làm việc... "trâu bò". Dạy cùng trường một năm trời mà không hề nói chuyện với nhau bao giờ. Cho đến lúc đã quen thân nhau có lần hắn nói "Năm ngoái nghe học trò bảo có Quyên Di dạy ở trường mình tớ lại gạt phắt đi, bảo là: Quyên Di chắc lớn tuổi với lại đâu có về đây dạy làm gì. Nhưng rồi cả hai biết nhau trong tổ chức sinh hoạt học đường. Hoài Mỹ làm Trưởng khối Sinh hoạt học đường, còn mình làm trưởng ban báo chí. Cho đến lúc đó mình mới biết cái sức làm việc kinh khủng của hắn. Có lần mình nói với Thái Bắc:

- Mình đi dạy ở P.A, đụng một tên làm việc kinh khủng quá. Nói về sức làm việc, trước giờ mình vẫn tự hào không thua ai, vậy mà gặp tên này cũng phải dội.

Dần dần trong công việc, hai đứa hiểu và thân nhau. Có lẽ không bao giờ mình quên những lần cùng dẫn học trò đi trại, bên đống lửa tàn, nói cho nhau nghe những ước vọng của mình. Những lần đưa học trò đi thăm kiều bào hồi hương, lúc về xe chết máy, thầy trò hè nhau đẩy xe lên dốc. Trong bất cứ hoạt động nào, Hoài Mỹ cũng tỏ ra rất hăng hái và hòa đồng với học trò. Bởi vậy, không lấy làm lạ khi người ta thấy Hoài Mỹ là giáo sư hiệu đoàn được học sinh mến nhất.

Mình thông báo cho Hoài Mỹ biết tin làm báo trong một buổi tranh giải bóng chuyền tại sân trường giữa hai đội tuyển: giáo sư và học sinh. Học sinh là đội tuyển thật sự, chúng tập dượt cả hai ba tuần và tuyển lựa cầu thủ cẩn thận, còn giáo sư thì... có ai đâu mà tuyển, ngoài mấy ông giáo sư hiệu đoàn hay đi chơi với học trò, đến nỗi mình cũng được xem là cầu thủ chính thức thì đủ biết cái lực lượng ấy thảm hại dường nào. Nói qua cho Hoài Mỹ biết vừa lúc còi ra quân, hắn trả lời:

- Được rồi, chịu gấp.

Với Hoài Mỹ, hình như hắn không biết từ chối là gì, nhất là trước một công việc.

Xong trận đấu, với kết quả thảm bại dĩ nhiên dành cho "đội tuyển giáo sư", mình kéo Hoài Mỹ ra góc sân và lần này trình bày cặn kẽ được. Hắn có vẻ sướng lắm, toe toét cười vì tuy không phải trưởng ban báo chí, nhưng hắn thích làm báo vô cùng. Tờ báo Gió Mới của học sinh P.A. bài vở do học sinh đóng góp, nhưng về kỹ thuật thì hầu như chỉ có hai đứa bao thầu. Mình nhớ những lần 11 giờ đêm hai đứa còn vác báo vừa quay ronéo xong, từ P.A. ở tận Thị Nghè, chở nhau xuống nhà in của T.H. đường Kỳ Đồng, ở đấy có cái máy đóng, đóng nhờ. Đóng xong lại chở nhau về P.A., trèo tường vào trong trường vì cổng đã đóng từ lâu. Cất báo vào phòng sinh hoạt xong xuôi hai đứa ngồi ở hành lang nhà trường gặm khúc bánh mì khô, nghe đâu đây chuông đồng hồ đánh 12 tiếng.

Lực lượng đầu tiên chỉ có ba mạng và thêm Thúy Vũ, cô bạn thân của mình nữa.

Nhưng mà rút cục phải cảm ơn thầy T H. rất nhiều, chính thầy gieo cho mình cái ý tưởng thực hiện riêng một tờ báo.


2.

Những ngày sửa soạn cho tờ báo ra mắt thật là vất vả nhưng vui kinh khủng. Thu thập anh em, tìm tòa soạn, kiếm nhà in và nhất là chạy giấy tờ để xin phép với bộ thông tin. Lại thêm việc đi tìm đại lý tại đô thành và các tỉnh nữa. Ngần ấy công việc phải tiến hành trong cùng một lúc. Mỗi lần xáp nhau lại họp là một lần ý kiến ào ào, cãi nhau ỏm tỏi. Hoài Mỹ được anh em bầu làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, cuống lên lo giấy tờ, hồ sơ. Một điều hy sinh rất lớn cho hắn là hắn về ở một chỗ, để ghi tên vào sổ gia đình đàng hoàng, có như thế mới lo giấy tờ được. Thật là một sự lạ, vì trước kia đố ai bắt Hoài Mỹ ở nhất định một chỗ nào, hắn là dân du mục. Ngày hoàn thành hồ sơ đem nộp được người ta cấp cho một "biên nhận tạm", cả bọn mừng húm, đem photocopy mỗi đứa giữ một bản cho nó vui. TRong khi Vi Vi hì hục vẽ bìa thì cả bọn cũng làm việc phờ râu ; những bản xin ý kiến được quay ronéo cho rẻ bắt đầu tung ra như bươm bướm, ronéo mà quay đến 10.000 tờ, rồi 15.000, tờ stencil rách bươm. Cuối cùng, cũng phải đem đi in, vì mệt quá, không còn tự quay nổi nữa. Những bản ý kiến bắt đầu quay trở về tòa soạn, gây phấn khởi rất nhiều, những ngày đầu còn lác đác, bọn mình chờ ông phát thư như chờ mẹ về chợ, nhưng càng về sau ý kiến gửi về càng nhiều, phải chia nhau ra mà đọc, mặt tên nào cũng sáng rực như trăng rằm. Thương làm sao những bản góp ý kiến, có thể không ăn cơm để cả ngày đọc, ghi chú, phân loại cũng vẫn thấy no đủ như thường. Hết bản góp ý kiến rồi đến bích chương. Những tờ bích chương của Ngàn Thông chỉ to bằng hai tờ giấy vở học trò bắt đầu được phân phát. Học trò của Đỳnh Bảng, của Thái Bắc, Hoài Mỹ và của mình nghe các thầy "làm báo" khoái chí tử, rủ nhau đến đầy cả tòa soạn, đem theo cả những bạn bè các trường khác, nhất định đòi đi dán bích chương. Ừ thì dán! Thế là sáng sớm hôm ấy người ta thấy một bọn đông đúc thư sinh mặt trắng, túa ra từ ngõ Công Lý, tản ra khắp đường phố lo tô điểm cho những tường nhà, gốc cây, cột đèn (kể cả cột đèn hiệu xanh đỏ) bằng những tấm bích chương giới thiệu Ngàn Thông. Buổi tối, sau khi đã ngất ngư với bảy tám giờ dạy ban ngày, cả bọn rủ nhau "thân chinh" đi dán. 11, 12 giờ đêm rồi mà bóng mấy đứa vẫn loáng thoáng ở ngoài đường ; mấy ông cảnh sát hay nghi ngờ cứ xáp tới hỏi hoài. Hình ảnh một Thái Bắc, một tay xách lon hồ, tay kia ôm xấp giấy lóm thóm chạy qua đường rồi lui cui dán dán quét quét có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí mình. Thái Bắc vốn tính thích tĩnh mịch, làm việc cẩn thận, không thích xuất hiện, bây giờ phải đi dán hồ là một sự hy sinh lớn của hắn. Tự nhiên mình thấy thương thương sao đâu. Trong Ngàn Thông số 2, Thạch Thủ ghi lại hoạt động dán bích chương, nghe có vẻ vui tươi lắm, thật ra hắn vốn tính khôi hài nên nhìn cái gì nó cũng hóa ra vui được, sự thật tuy vui thì có vui nhưng cũng nhiều bi đát lắm. Thái Bắc thì như vậy, còn Hoài Mỹ thì đúng là chịu đau mà dán giấy. Bụng hắn vốn có một vết mổ từ "ngày xưa" để lại, đã thế không biết thân, lại cứ thích dán cao cho dễ đọc, khó xé. Có những lần leo trèo, kiễng chân lên dán, xong xuôi mặt hắn cứ nhăn như cái bị, nhưng không nói gì. Mãi đến lúc về, hắn mới thủ thỉ:

- Nhiều lúc rướn người lên, cái vết mổ căng ra đau quá, nhưng mà cái chỗ ấy thật "ngon", không dán uổng quá.

Nghe xong, mình chẳng biết nói gì, chỉ nghĩ thầm: "Hoài Mỹ ơi, ta thương ngươi quá!"

Nhưng mấy cái bích chương nhỏ quá, lại dễ bị xé. Cả bọn lại họp nhau bàn... kế hoạch. Có đứa đề nghị làm mấy cái bảng tôn vẽ sơn như mấy ông giáo sư quảng cáo lớp toán lý hóa. Chắc là bền lắm. bền thì có bền thật, nhưng... chả có nhiều tiền mà làm như thế. Cuối cùng sáng kiến được tung ra: viết chữ màu tếch ni cô lo trên giấy, rồi mua ni lông dầy bọc lại, cũng bền chán. Hay thật, nhưng mà cũng phải đóng nẹp gỗ chung quanh chứ, cũng... tiền. Mình chợt nghĩ ra, bảo:

- Không cần phải mua gỗ nữa, đã có trời cho. Các cậu có nhớ là ngoài đường, trên các cột điện, cành cây có rất nhiều "băng đơ rôn" lâu ngày đã rách, hai đầu có hai thanh gỗ, mình đi thu dọn cho thành phố mấy đêm là có gỗ liền, coi bộ đi bán cũng không hết ấy chứ.

Ý kiến này được hoan nghênh nhiệt liệt. Thế là từ hôm ấy, ban ngày trong những lúc đi dạy hay đi đâu, tên nào cũng liếc mắt lên cành cây, cột điện xem chỗ nào có nhiều "tài nguyên" thì ghi nhớ lấy địa điểm, để tối đến... hành sự. Buổi tối, trút bỏ bộ quần áo dạy học ra, mặc bộ đồ lôi thôi lốc thốc vào, cả bọn chở nhau đến những địa điểm đã được ghi nhận ban ngày. Thế rồi thoăn thoắt trèo lên cây, lên cột điện, tháo gỡ liên miên, của trời cho mà, không lấy cũng uổng. Chỉ làm việc trong ba đêm, số gỗ thu về đã đủ dùng. Thái Bắc cười, bảo:

- Làm ăn kiểu này có vẻ khấm khá đấy. Theo nghề này có lẽ lời hơn làm báo.

Sau đó, tòa soạn biến thành... xưởng mộc, tiếng cưa, tiếng đóng chí chát suốt đêm ngày, và tuy làm việc cật lực, xưởng mộc cũng chỉ sản xuất được hơn 20 cái bảng. Cũng đủ chán rồi. Tối hôm sau, ban biên tập lo đi treo bảng. Công tác kỳ này khó khăn hơn đi dán bích chương nhiều, không thể chia nhóm nữa mà bốn, năm đứa phải đi chung nhau, để rồi, đứa cúi xuống làm ngựa, đứa leo lên lưng để trèo lên cây cho dễ, đứa giữ, đứa buộc, đóng. Đỳnh Bảng chuyên môn phải làm "ngựa", vì trong bọn hắn khỏe nhất, giáo sư văn chương mà lại ham thể thao, lo đánh bóng chuyền suốt ngày. Nhắc đến Đỳnh Bảng, mình cũng không nhịn cười được: trong những ngày sửa soạn bài vở cho tờ báo ra mắt, một hôm gặp nhau tại phòng giáo sư, hắn buồn rầu bảo:

- Chuồng cút nhà tớ chết hết, chẳng còn con nào cả.

- Sao thế?

- Thì suốt ngày lo viết bài, tớ quên khuấy mất, ba ngày không cho cút ăn uống. Cút chết đói chết khát, mình mẩy dẹp lép.

Hắn đang buồn mà mình thì không thể nhịn cười được, bèn phá lên làm hắn cũng phải cười theo,

Nhắc lại chuyện treo bảng, mình vì người nhẹ nhõm nhất nên luôn luôn được leo lưng Đỳnh Bảng trèo cây. Nhưng cũng chẳng sung sướng gì, vì nhiều cây kiến đen kiến đỏ ở đâu mà nhiều như ma, chúng xúm nhau lại tấn công làm "thằng bé" cứ kêu thét lên, Thái Bắc với đôi mắt cận 19 độ phải leo lên cứu viện. Một lần ngay trước dinh Thủ tướng, Hoài Mỹ đã can đảm... bỏ quần ngoài để leo lên cây cho nhanh. Lính canh cửa phủ thấy một đám cứ loay hoay bên gốc cây chạy lại hỏi. Hoài Mỹ mắc cỡ quá, cứ thu lu ngồi trên cây không dám xuống. Ông lính sau khi quan sát, hỏi han, thấy không có gì hại đến... an ninh quốc gia, bèn bỏ đi, Hoài Mỹ mới dám lóm thóm leo xuống làm cả bọn được một phen vỡ bụng. Ở một chỗ khác, lại Hoài Mỹ (tên này đúng là lắm chuyện) leo lên một cột điện treo bảng. Không may cái cột điện hôm đó bị chạm dây, điện truyền vào. Vậy mà hắn vẫn "bình tĩnh" treo cho xong mới leo xuống. Lúc đó mới mở miệng:

- Tớ vừa bị điện giật.

Cả bọn nghe nói cũng giật mình như chạm phải điện, vội nhìn lên cột đèn, thì thấy cái cầu chì trên ấy đang xòe lửa xanh đỏ tím vàng thật là huy hoàng rực rỡ. Tái mặt, cả bọn chuồn thật lẹ.


3.

Vui nhất, và mệt nhất có lẽ là những ngày đi tìm đại lý tại các tỉnh. Thái Bắc Dương Đức Nghiêm đi Phan Thiết Vũng Tàu (Thái Bắc tuy cận thị nhưng vốn thích đeo cả kính nhào xuống biển) Hoài Mỹ một thân một mình xuống tận Cần Thơ. Mình với chị quản lý đi xứ Mỹ tiện thể ghé Long An, và thêm một chuyến viễn du lên tận xứ anh đào. Chuyến đi khó quên nhất của mình là lần lên Đà lạt đó. Không dám tiêu nhiều, sợ phí tiền vốn, chị quản lý làm sẵn đồ ăn ở nhà mang theo, qua Bảo Lộc, trong lúc hành khách xuống quán cơm thì Ngàn Thông cố thủ trên xe... ăn cơm nắm. Đến Đà lạt hầu như không có giờ nào đi chơi cả, lo thuê phòng ở khách sạn rồi vất đồ đạc đó, tìm đại lý ngay. Nhờ trời, công việc cũng tốt đẹp và buổi tối hôm đó cũng đi dạo được một vòng và hôm sau trên đường về, xe ngừng lại Định Quán và thêm một màn cố thủ trên xe.

Hoài Mỹ đi Cần Thơ cũng phải ngủ lại một đêm. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ hắn lang thang đi tìm tiệm phở, vì cơn thèm đã đến. Anh em vẫn bảo nhau:

- Tên này chắc không đi ngoại quốc được, vì thèm phở thế kia, sang bên đó làm sao có đủ mỗi ngày hai tô, chắc là chết rũ ra thôi.

Riêng đôi Thái Bắc Dương Đức Nghiêm đi Vũng Tàu về, tuyên bố thành công 200%, hỏi tại sao có sự lạ như thế, cả hai thi nhau kể về những sự may mắn trên chuyến đi. Cuối cùng, Thái Bắc kết luận:

- Tên Nghiêm coi vậy mà lại sợ nước.

Nghiêm nhà ta đã toan cãi thì Thái Bắc tố cáo:

- Tớ với nó vừa xuống nước, nó đã hét tướng lên là "rét quá" rồi chạy vọt lên. Tớ giơ tay định giữ ống chân hắn lại, nhưng hắn nhanh chân chạy thoát, thành thử tớ đành phải tắm "solo" ở dưới biển.

Công việc tạm xong, báo in cũng gần xong, vậy mà giấy phép vẫn chưa về. Tên nào tên đó buồn rầu quá, chỉ lo trễ hẹn quá lâu với độc giả. Một ngày nọ Hoài Mỹ không bảo ai cả, lầm lì lên Nha Báo Chí, vào tận phòng ông Giám đốc. Hắn nói ngon nói ngọt thế nào không biết mà ông Giám đốc bằng lòng cho hắn lục tung chồng hồ sơ cao ngất để lôi hồ sơ Ngàn Thông ra cho ông ký tên vào giấy phép rồi trao cho hắn cầm tay đem về. Nhìn thấy cái giấy phép, cả bọn mừng hết lớn. Sao mà trông nó xinh đẹp, dễ thương, yêu kiều đến như thế nhỉ. Qua bao nhiêu chặng đường, ngày hôm nay tờ báo có thể yên thân ra mắt rồi đây.


4.

Theo lời hẹn của ông chủ nhà in thì tối hôm nay có báo. Hôm ấy, cả bọn có mặt đông đủ tại tòa soạn, mình được cử đến nhà in... ôm báo về. Trong lòng sao mà cứ rộn lên một... nỗi niềm gì không thể diễn tả được.

Đến nhà in lúc tám giờ rưỡi. Ông chủ đi vắng, khuôn cuối cùng đã lên xong, anh thợ đưa mình bản chạy thử để chữa một vài lỗi còn sót. Mình vui quá, không ngờ "tai họa" sắp xảy đến. Khi anh thợ sửa những lỗi còn sót. không biết loay hoay làm sao, anh làm đổ luôn cả hơn nửa trang chữ. Mình tái mặt, người lạnh toát, nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh tươi cười bảo anh thợ:

- Không sao, anh chịu khó xếp lại chữ đi rồi lên khuôn lại cũng... không muộn.

Anh thợ cũng sợ, vội lên nhà chữ lo công việc ngay. Đang khi ấy thì ông chủ về. Thấy sự thể như vậy, ông chẳng nói chẳng rằng, chỉ lắc đầu ra vẻ chán nản lắm, rồi đích thân ông xếp lại chữ, sau đó lên khuôn và chạy luôn. Lúc đó đồng hồ chỉ 11 giờ đêm.

Ở tòa soạn, anh em chờ lâu quá, không biết xảy ra chuyện gì, bèn cử thêm Đỳnh Bảng đến nhà in thăm dò. 11 rưỡi, mình và Đỳnh Bảng ôm 50 số báo đầu tiên về tòa soạn, tất cả ùa ra, mỗi người vồ lấy một tờ nâng niu, vuốt ve. Không còn lúc nào vui mừng và cảm động hơn nữa. Thế rồi cũng phải chia tay về nhà ngủ, để mai này còn đi phát hành báo. Nói vậy, chứ mình biết chắc chắn đêm nay không đứa nào ngủ được, có nhắm mắt lơ mơ thì cũng chỉ toàn nhìn thấy những chữ Ngàn Thông đan vào nhau rối rít.

Buổi sáng hôm sau, trong khi Thái Bắc, Hoài Mỹ, Đỳnh Bảng, Dương Đức Nghiêm trở thành những anh bỏ báo tại các sạp trong đô thành thì mình chở 500 số báo và thêm... chị quản lý trên chiếc xe Honda "chuyên chở hàng nhà" xuống Mỹ Tho. Riêng Vi Vi kẹt trong trại, được miễn cho nhiệm vụ thi hành "quân dịch". Lắm lúc nghĩ lại, mình cũng không hiểu tại sao hôm đó xe, báo và người lại đến Mỹ Tho an toàn như thế, lúc về qua cầu Bến Lức, gió thổi mạnh muốn bay cả người và xe xuống sông, chẳng biết có bao giờ mình còn dám gan cùng mình như vậy không. Ngàn Thông ơi, cũng vì mi hết. Tối hôm đó, tất cả lại gặp nhau tại tòa soạn, báo cáo về những phê bình, nhận xét của độc giả mình đã nghe được. Những nhận xét sau đây được coi là của đa số:

- Rõ ràng là tờ báo của một nhóm thiện chí nhưng không chuyên nghiệp.

- Bài vở chưa có gì đặc sắc cả nhưng vui vẻ, thân mật.

- Tham lam, nhiều mục quá.

- Báo in sạch sẽ, chữ đẹp nhưng trình bày còn vụng về.

- Cái hình bìa đẹp nhưng có vẻ "đạo đức" quá.

Thái Bắc ghi ghi chép chép, hắn là thư ký tòa soạn mà. Một ý kiến cuối cùng bây giờ mới được đưa ra, có lẽ người phát biểu sợ làm buồn lòng anh em, ngần ngừ mãi bây giờ mới nói:

- Có người bảo nhóm chủ trương tờ Ngàn Thông thiện chí đó, nhưng nghe đâu thiếu kinh nghiệm, lại ít vốn nữa, chắc rồi chỉ chừng ba số là chết.

Nghe vậy kể ra thì buồn thật, nhưng đó là một thực trạng đáng lưu ý. Chính Vi Vi cũng từng nghĩ như thế, hắn lo lắng nhưng không nói ra sợ anh em buồn. Sau nay khi báo ra đến số thứ 5 Vi Vi mới thở ra nhẹ nhõm, bảo cho mình biết điều lo lắng của hắn. Một lần gặp Đào Trường Phúc, trong khi tập cho mình uống cà phê, anh ta nghe mình trình bày hiện trạng của tờ báo, nghe xong Phúc bảo:

- Tôi nghĩ với tình trạng như vậy, báo anh sẽ chết sớm trừ trường hợp có phép lạ.

Anh Phúc nói đúng, anh ạ, phép lạ đã xảy đến với Ngàn Thông.

Buổi sáng sau, Hoài Mỹ và Thái Bắc lãnh phần chở báo xuống các đại lý ở Vũng Tàu. Cái tai nạn hôm đó làm mình nghĩ ngợi mãi: hai tên đi bằng Honda. Hoài Mỹ liều mình trao sinh mệnh cho tên cận thị 19 độ, ngồi đằng sau để hắn chở đi. Giữa đường xe bể bánh, phải gọi một chiếc xe lam, kéo Honda chở lên chỗ vá. Tài xế xe lam lại là một chú nhỏ 14, 15 gì đó, hắn xả ga chạy vun vút đến chỗ quẹo cũng không giảm tốc lực và không giơ tay ra hiệu. Một chàng phóng Suzuki đằng sau lướt tới, đâm rầm vào xe lam. Thái Bắc tối tăm mặt mũi, còn Hoài Mỹ bắn ra ngoài xe nằm bên bờ ruộng. Định thần, Thái Bắc nhảy xuống thì thấy Hoài Mỹ đang rướn người lên tay quơ qua quơ lại, miệng ngáp ngáp. Thái Bắc lại tưởng tên này giỡn, vì hắn tính ưa khôi hài lắm, nào ngờ về sau mới biết Hoài Mỹ tức ngực không thở được. Rất may cũng nhẹ nhẹ thôi, sau đó hai chàng vẫn còn lết ra Vũng Tàu được và trở về an toàn.

Vất vả cực khổ như vậy đấy, nhưng càng mệt, càng khổ nhiều, càng thấy thương Ngàn Thông ghê gớm.


5.

Từ đó đến nay, biết bao nhiêu là buồn vui lẫn lộn. Những lần tổ chức gặp độc giả, những buổi hội thảo, họp mặt, sinh hoạt cộng đồng, văn nghệ Giáng Sinh... làm cho tình thân giữa Ngàn Thông và độc giả càng thêm bền chặt. Những cánh thư khuyến khích gửi về trong tình thân ái là mật ngọt, suối nguồn nuôi dưỡng Ngàn Thông bé bỏng, để Ngàn Thông cứ mãi hoài tin tưởng mà vươn lên. Thế rồi cũng bao nhiêu là buồn rầu, mỗi lần đến nhà phát hành nhận tiền báo là thấy ngại ngùng. Quái lạ, cả bọn không nề hà việc gì mà chỉ ngại mỗi một chuyện đi lấy tiền báo. Có lần Thái Bắc bảo:

- Giá bọn mình cứ làm báo mà không phải thu tiền thì thích biết bao.

Nhưng nếu không thu tiền thì làm sao báo sống, rốt cuộc mình đành phải vác thân tăm tre đi vậy. Những lần đến kho nhận báo cũ, nhìn những tờ báo mình thân yêu, nâng niu, ve vuốt bây giờ nằm lộn xộn, bẩn thỉu trong góc kho sao mà đau lòng quá. Hôm di chuyển tòa soạn cũng thật là buồn. Tòa soạn trước kia vẫn đóng đô tại phòng khách nhà chị quản lý. Bây giờ vì lý do đặc biệt chị phải đi xa, bán căn nhà này cho người khác. Nghĩ thật tiếc cái không khí làm việc ấm cúng, căn nhà phía trước có cây mận rợp bóng, cây ngọc lan thơm ngát, và những trẻ em trong xóm tuy nghịch ngợm mà lại tốt tính, mỗi lần báo về là chúng rủ nhau ra khuân vác vào hộ, và độc giả mỗi lần tìm tòa soạn, nếu không có các em chắc khó mà "đi đến nơi, về đến chốn", vì tòa soạn ở trong ngõ hẻm thật sâu, lại không có số nhà, bảng hiệu gì cả. Hôm tòa soạn dọn đến chính các em khuân vác hộ, bây giờ tòa soạn dọn đi, cũng lại chính các em giúp sức. Thái Bắc khiêng cái tủ sách đựng bài vở ra xe, cái tủ mà trước kia chính hắn mua và chở lại. Mình ôm từng chồng bài vở của độc giả, lòng thấy ngùi ngùi.

Đôi khi ngồi lại với nhau, anh em vẫn ước mong đủ thứ. Ước rằng báo mình càng thêm hay thêm đẹp, ước nhiều học sinh đọc Ngàn Thông, ước con số độc giả dài hạn tăng lên chừng ngàn rưỡi người, như vậy yên chí mà làm báo ; ước mua được cái xe La Dalat để chở báo, bỏ báo cho tiện và lâu lâu rủ nhau đi chơi. Ước mơ nhiều cái, mà chả biết có thành sự thực được chút nào không. Thôi thì hãy cứ ước mơ, vì ước mơ nuôi sống tâm hồn mình, và bao lâu còn ước mơ thì bấy lâu biết rằng tim mình vẫn nồng nàn, lòng mình không chai cứng.

Ngày hôm nay ngồi ghi lại những dòng này, tự nhiên cả một năm với "Ngàn Thông" hiện rõ trước mắt mình, bao nhiêu là kỷ niệm "để đời", mai sau dù có thế nào, chắc chẳng bao giờ mình quên được những kỷ niệm vô giá này. Tuổi trẻ nhiệt tâm, thiện chí, hăng say, lý tưởng, mình chỉ sợ một ngày nào đó, khi đã lớn, đã "kinh nghiệm", bao nhiêu những điều tốt đẹp ấy cứ dần dần tàn phai. Mong rằng không đến nỗi như thế. Thái Bắc có một tập nhật ký, hắn ghi lại đầy đủ những chi tiết, những biến chuyển quan trọng từ ngày ý tưởng thành lập Ngàn Thông mới còn trong trứng nước. Mình thì bỏ mất thói quen ghi nhật ký rồi nhưng dù bằng cách nào, bọn mình vẫn coi những ngày làm báo là một gia sản chung, quí báu và dồi dào.

Trước mắt mình hiện ra hình ảnh những học sinh tay cầm tờ Ngàn Thông, mắt chăm chú đọc. Ôi, ước mơ của mình là vậy đó. Ngàn Thông ơi, mãi mãi em là người bạn bé bỏng thân yêu của tuổi học trò, nhé.


Kỷ niệm Sinh Nhật Ngàn Thông
QUYÊN DI                


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 25, ra ngày 5-5-1972)

Bìa của Vi Vi : Sinh nhật Ngàn Thông

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

Lối Cũ Đợi Người
















Lặng lẽ anh vào cõi hư vô
Để lại niềm thương nhớ vô bờ
Lời kinh đêm vọng buồn vời vợi
Lập đông trời trở lạnh hững hờ

Lá rụng thu về trên bến sông
Đôi ngả âm dương nát cõi lòng
Chỉ nghe tiếng gió thầm than vãn
Mẹ già sáng ngóng đến chiều trông

Anh đợi bao lâu mới trở về?
Cỏ may ken kín lối quen xưa
Hồn anh chấp chới quên lời hứa
Bạn với dế, giun, ngọn gió đùa

Hay là anh đợi lúc hè sang?
Ngã tư đèn đỏ bước không hồn
Phố phường bao dấu chân ngày cũ
Anh nỡ quên bao kỷ niệm hồng

Anh hãy về đi, hãy về đi, 
Thềm hoa tươi đón ánh xuân thì
Em gởi niềm thương theo cánh gió
Thấp thỏm chờ ai lạc lối về....

                           Trần Thị Phương Lan
                            (Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2018

Trở Về Quê Cũ
















Rồi một hôm trở về quê cũ

Ta bàng hoàng cảnh vật đổi thay

Những năm qua, đâu phải một ngày

Xa lạ quá làm ta choáng váng

Theo dòng đời trôi đi ngày tháng

Ta hỏi lòng  mình nhớ hay quên

Nhớ vẫn nhớ :  gương mặt cái tên

Quên vẫn quên :  những nơi những chốn

Trong quá khứ, buồn vui lẫn lộn

Nhớ chi nhiều... thêm nợ chất vai

Đành lãng quên... " định mệnh an bài"

Tự an ủi  để mình đừng khóc...

Lúc ra đi  ơn trời bảo bọc

Lúc trở về  thầm nhớ trong tim

Chẳng thấy đâu,  cái đã đi tìm

Tìm chi nữa,  thời gian đánh mất

Quê ta đó  muôn đời đẹp nhất

Bóng dừa xanh,  sông nước chảy êm

Hoa phượng đỏ  trong nắng êm đềm

Áo dài trắng  ngày xưa còn đó

Về quê cũ  ngắm diều trong gió

Rồi ngày qua,  mai lại bước đi

 Bao phân vân chẳng biết quên gì

Thôi  đành hẹn một ngày tái ngộ...

                                          Nhã Uyên   
                                     (Kỷ Niệm 1998)

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

Quả Cà Na

Bé Vũ, "nhân vật" chính ngoài đời thật

Thằng Vũ lơ đãng nhìn quanh. Sân trường hãy còn vắng. Thỉnh thoảng mới có một đứa học trò bước vào. Chả là hôm nay sáng thứ hai, ba nó bận phải đến sở sớm hơn thường lệ để chào cơ, ba nó bảo thế.

Bầu trời xanh ngăn ngắn, vài cụm mây trắng bay lơ lửng. A! Từ đàng xa, một chiếc máy bay hiện ra, rõ dần rồi từ từ khuất dạng, chỉ còn để lại hai vệt khói trắng mờ mờ loãng dần ra. Ánh nắng ban mai rực rỡ xuyên qua kẽ lá. Một làn gió lướt nhẹ, hoa nắng rung rinh, rơi nhẹ xuống đất, cùng với vài giọt sương còn sót lại mát lạnh. Thằng Vũ so vai, kéo cao cổ áo. Nó chả thấy lạnh nhiều, thế mà mẹ vẫn bắt nó mặc áo lạnh. Tính mẹ nó vẫn thế, "ngừa bệnh hơn trị bệnh".

Sân trường đông dần, thế mà bạn bè nó chưa đứa nào vào cả! Nó ôm cặp, tiến đến một băng đá còn trống. Hơi sương hãy còn lấm tấm ướt trên mặt ghế đá. Nó đặt cặp xuống nhẹ nhàng. Mẹ nó vẫn dặn cặp sách phải giữ gìn kẻo chóng hư, tốn thêm tiền cha mẹ cơ mà! Ngần ngại, nó ngồi xuống ghế. Ối chao ơi! Ghế đá lạnh cả người! Lẩn thẩn, nó mở cặp, tìm bao ni lông đựng quà sáng mẹ nó bỏ vào cho trước khi đi học. Sợ nó đói bụng, mẹ nó bữa nào cũng soạn sẵn quà cho nó mang theo, ăn trong giờ chơi. Mẹ nó vẫn bảo nó muốn ăn gì, mẹ sẽ cho ngay. Nhưng chẳng bao giờ mẹ cho nó tiền mang theo để ăn quà cả. Mẹ nó thường nói rằng thức ăn bán rong trước cửa trường ít khi được làm sạch sẽ ; lại thêm bụi đường mang theo nhiều vi trùng tung bay và bám vào. Ăn thức bán rong ngoài đường dễ bị bệnh lắm!

À! Hôm nay mẹ cho bánh mì kẹp chả! Kể ra cũng được! Thằng Vũ cất bánh vào cặp, cài lại cẩn thận. Mấy con chim chuyền nhau trên cành, hót líu lo. Bất giác nó chúm môi, huýt gió. Tiếng huýt gió vụng về nhưng nó cảm thấy thật hài lòng. Tập mãi mới được cơ đấy. Từ ngoài cổng, có tiếng léo nhéo:

- Vũ ơi, làm gì đó? Chơi đánh bi không?

- Sao bữa nay mày vô sớm thế?

Sĩ, Tuấn, Khang, mấy thằng bạn của nó đang lục tục kéo vào. Nó đứng lên vẫy:

- Vô đây ngồi! Để cặp lên băng nè.

Lũ bạn nó chạy nhanh vào, mở cặp lôi ra mấy viên bi. Bốn đứa ngồi chồm hổm trên nền xi măng, đánh bi đo gang tay. Thằng Vũ đánh cũng có hạng lắm! Chơi một lát nó đã được mấy viên. Nó thầm nhủ, trưa nay về nhà, nó sẽ cho em nó mấy viên bi mới này, chắc con bé sẽ thích mê đi. Con bé cũng dễ thương, chỉ phải tội nhõng nhẽo. Đôi khi chịu không được, nó phát ngay vào mông em. Con bé khóc òa. Thế là nó bị đòn nữa chứ. Mỗi lần thế, nó đều hứa với mẹ sẽ không tái phạm, nhưng rồi đâu vẫn vào đấy!

Cô giáo của chúng từ cổng lững thững đi vào. Cả bọn chạy ùa ra đón rồi ôm cặp theo cô vào lớp. Cô giáo dịu dàng:

- Các con ra chơi đi. Chưa tới giờ học.

Thằng Tuấn kéo tay nó:

- Ra đây, tao cho mày cái này. Mày ăn với tao.

Thằng Vũ ngó xuống tay bạn:

- Cái gì trong gói vậy mậy?

Tuấn cao giọng:

- Ra đây đã.

Hai đứa đứng dưới hiên lớp. Thằng Tuấn xòe tay, bên trong, gói giấy nho nhỏ, cộm cộm. Thằng Vũ tò mò:

- Gì đấy? Đưa tao coi đi!

- Đố mày? Gì đây?

Thằng Vũ ngẫm nghĩ:

- Kẹo, phải hôn?

Bạn nó lắc đầu. Vũ cả quyết:

- Siu-gum chứ gì?

Tuấn mỉm cười, đắc thắng:

- Sai hết! Cà na!

Vũ mỉm cười, thắc mắc:

- Cà na? Cà na gì? Đưa tao coi?

Bạn nó mở gói giấy, bên trong hiện ra mấy quả màu nâu sậm, ươn ướt. Ồ! Cái gì ngộ quá!? Mẹ nó chưa hề cho ăn bao giờ. Nó hỏi bạn:

- Má mày làm đấy hả?

- Đâu có, tao mới mua ngoài cổng kìa. Năm đồng một trái đấy mày. Đây, cho mày một trái. Ăn đi. Trái cà na này ngon lắm. Cầm lấy!

Thằng Vũ ngần ngại. Mới hôm nào nó thấy chị nó học bài đức dục lớp một. Bài học có cả hình vẽ. Hình hai thằng bạn đứng cạnh bên nhau. Một thằng cầm chùm mận đưa cho thằng kia mời:

- Mận này ngon lắm. Bạn ăn đi.

Thằng kia trả lời:

- Cám ơn bạn, tôi không ăn.

Tuy mới học mẫu giáo nhưng thằng Vũ cũng đọc được chút chút. Vả lại, mẹ nó cũng thường dặn dò, quà bánh của bạn, con chớ ăn, phải để cho bạn ăn, vì con đã có phần mang theo rồi.

Nó dứt khoát, xua tay:

- Cám ơn "bạn" "tôi" không ăn.

Thằng Tuấn trợn mắt:

- Mày hỏng biết ăn hả? Thôi, tao ăn.

Vừa nói, nó vừa nhón một quả cho vào mồm, mút mút, nhai ròn tan. Nó lần hột, nhón ra rồi lại mút mút. Thằng Vũ nhìn bạn, nuốt nước miếng. Trái gì lạ quá! Coi bộ ngon ghê!

Thằng Tuấn nhón thêm một quả khác, cắn phân nửa. Nhìn lên bắt gặp Vũ đang chăm chú theo dõi mình, Tuấn lại mời mọc:

- Này, ăn thử coi! Tao nói ngon lắm mà.

Ngần ngừ, thằng Vũ đón lấy nửa quả cà na, bỏ nhanh vào mồm. 

Vị chu chua chua, ngọt ngọt của quả cà na ứa ra, thấm dần vào lưỡi. Vũ nhấp nhấp rồi nuốt nước bọt. Ừa! Quả này ngon thiệt. Bỗng dưng, nó sực nhớ đến lời mẹ:

- Con biết không, nhìn người khác ăn xấu lắm. Xin ăn còn xấu hơn nữa. Nếu con thích cái gì, nói mẹ mua cho, nghe hôn. Chớ ăn của bạn...

Nó nhăn mặt, nhả ngay quả cà na trong miệng ra lòng bàn tay, chìa về phía bạn:

- Thôi, trả mày đó. Tao hỏng ăn đâu.

- Sao vậy? Ngon thấy mồ hỏng biết ăn. Thằng "quê" quá!

Thằng Vũ thẫn thờ quay đi, mồm lẩm bẩm: "Cà na, cà na". Nó cố nhớ hai chữ mới lạ đó và tự nhủ: "Trưa nay về, tao nói má tao mua cho tao bốn năm trái, ăn cho đã luôn".

Tiếng chuông reo vang. Vũ kéo tay bạn chạy về xếp hàng, trong trí đã in sâu hai tiếng mới mẻ "cà na".


Sàigòn ngày 17-7-1973
ÁI THƠ         

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 110, ra ngày 5-10-1973)    

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

Một Chuyến Công Tác Xã Hội


Tuy chưa từng được nghe và thấy tận tường những hình ảnh của cuộc chiến tranh vùng hỏa tuyến Đông Hà, Trị Thiên, An Lộc, Bình Long... nhưng qua các tin tức hình ảnh thời sự hàng ngày, với con số đồng bào tị nạn càng ngày càng gia tăng đến mức độ kinh khủng đã ảnh hưởng và có tác dụng mạnh mẽ đối với chúng tôi những người được sống yên ổn ở những miền bình yên. Người ta thường cho rằng tuổi trẻ là tuổi "ăn chưa no, lo chưa tới", nhưng trong chuyến công tác xã hội với phái đoàn sinh viên khoa học, tôi đã thấy tận mắt hình ảnh của những người trẻ tuổi đầy nhiệt tâm và hăng say.

Tôi được may mắn theo đoàn công tác xã hội của sinh viên Khoa học nhờ quen một anh học ở trường K.H. Địa điểm đoàn công tác xã hội sẽ đến là Bình Dương. Sáng chủ nhật đẹp trời tôi tới trường K.H. thật sớm. Tôi vẫn nơm nớp lo lắng bị "đuổi" về vì là thành phần trường ngoài. Sau khi điểm danh chúng tôi chia thành từng đội và được "chất đầy" trong 3 chiếc xe lớn bít bùng chỉ có một lỗ nhỏ hình vuông ở trên cao để... thở. Anh trưởng đoàn giải thích vì sinh viên nghèo không có tiền thuê xe có chỗ ngồi đàng hoàng, thoải mái. Các anh chị sinh viên nhìn nhau cười thông cảm và hăng hái lên xe. Tôi ngồi bó gối ở một góc xe với chị bạn mới quen được. Không một ngọn gió, không một hình ảnh hai bên đường Xe chạy, tôi có cảm tưởng như đang ngồi trên... máy bay. Lâu lâu mới được ra khỏi thành phố ồn ào, náo nhiệt tôi muốn được thở hít không khí trong lành và nhìn cảnh đẹp hai bên đường, thế mà... tiếc quá! Nếu không chừ tôi đã có một đoạn tả cảnh đường Saigon Bình Dương hẳn là... tuyệt lắm? Anh trưởng toán gây không khí hào hứng bằng cách yêu cầu các anh chị cùng vỗ tay và hát chung những bài ca hùng mạnh: "Rồi hòa bình sẽ đến, đến cho dân tộc Việt. Đôi chim bồ câu trắng hẹn nhau về làng xưa. Rồi hòa bình sẽ đến, đến cho dân tộc Việt. Đền bù ngày gian khổ hiểm nguy nơi rừng sâu. Anh em ơi cho nhau đôi tay và tim này..."

Khoảng 10 giờ xe tới Bình Dương. Tại đây chúng tôi thấy có nhiều đoàn công tác xã hội khác như Đại học Sư phạm, các trường trung học ở Sàigòn v.v... chúng tôi được biết ở Bình Dương có ba trại tạm cư chia thành nhiều khu trên một khu đất rộng lớn. Có trên 5 ngàn đồng bào chiến cuộc từ Bình Long, Chơn Thành, An Lộc về lánh cư tại đây. Những dãy nhà tôn dựng lên vội vàng làm nơi tạm cư của đồng bào. Mỗi gia đình ở trên một manh chiếu nhỏ, bên cạnh là đồ đạc gồm áo quần và các phẩm vật cứu trợ.

Anh trưởng đoàn chia công tác cho từng đội. Đội V chúng tôi đảm nhận công tác vệ sinh. Các anh tay xèng, tay cuốc bắt đầu đào những hố để chôn rác. Các chị người xách nước, người quét dọn rác rưởi xung quanh chỗ tạm cư của đồng bào. Đang làm việc bỗng một cụ già lại gần chúng tôi bảo:

- Các cậu đào cho tui một cái hầm để tui nấp. Lỡ có chuyện gì ở trong nhà chết hết mấy cậu ơi!

Tôi thấy tội nghiệp cho cụ quá! Tuổi già, sức yếu cụ vẫn chưa được yên tấm thân. Cho đến hôm nay về tạm cư ở đây cụ vẫn chưa yên lòng. Một chị hỏi:

- Thế, thưa cụ, cụ ở đâu về đây?

Cụ già có vẻ xúc động, mắt rớm lệ:

- Tôi ở Bình Long đó cô. Trên đó đánh dữ lắm. Thằng cháu tôi trúng đạn chết rồi cô ơi!

Chúng tôi chưa kịp có lời an ủi ông cụ đã quay lưng vào trong. Trong lúc chúng tôi đang làm việc thì đồng bào có "thẻ" vội vàng tới các xe của những đoàn công tác xã hội để lãnh phẩm vật cứu trợ gồm: gạo, bánh mì, sữa, xì dầu, đồ hộp... Ngoài ra còn có chiếu, ly, chén, áo quần v.v... Các nam nữ học sinh ở các trường trung học vào từng khu phát thuốc, săn sóc cho đồng bào. Đặc biệt một nhóm các anh sinh viên mở ngay một tiệm hớt tóc "bỏ túi" được các em nhỏ ở đây nhiệt liệt ủng hộ.

Trời nắng và nóng như thiêu đốt, các anh vẫn hăng hái làm việc tới 12 giờ trưa mới nghỉ tay dùng bữa trưa sau khi chôn và đốt được một số rác. Các đội chia nhau dưới mỗi gốc cây dùng cơm "tay cầm", sau đó được nghỉ ngơi tới gần 2 giờ mới tiếp tục công việc. Trong khi các đội khác nghỉ ngơi hoặc sinh hoạt với nhau, anh đội trưởng đội V dẫn chúng tôi vào một xóm cách đấy không xa lắm. Những vườn trái cây nào mít, sầu riêng, mận... với những người dân hiền lành, mộc mạc gợi trong tôi hình ảnh một quê hương thanh bình, miền quê với đồng lúa mênh mông, vườn cây sai quả tất cả đượm tình quê hương, dân tộc tôi yêu dấu. Ngôn từ nào diễn tả hết nổi ước mơ Hòa Bình của tôi?

Hết giờ nghỉ chúng tôi làm nốt công việc. Nhìn  các anh chị sinh viên hăng hái làm việc dưới trời nắng gắt tôi không khỏi khâm phục họ. Các anh, các chị không phải là những người chỉ biết sách vở. Với khối óc này, với con tim này, với đôi tay này của các anh chị đã cho tôi thấy ở các anh, các chị những tâm hồn đẹp. Hình ảnh những người trẻ tuổi hôm nay đầy nhiệt tâm, cởi mở, quảng đại, chân thành đã thắp sáng trong tôi một niềm tin rạng rỡ.

Được nghỉ một lát tôi lùi vào dãy nhà tôn gần đó để tránh bớt nắng. Hồi sáng đi vội vàng tôi quên cả chuyện đem nón. Tới đây thấy tôi làm việc "đầu trần" một bà cụ ở khu 11 đã cho tôi mượn chiếc nón thật là hên cho tôi. Nhìn những dãy nhà tôn dưới cơn nắng nóng bỏng, tôi không khỏi thương xót cho đồng bào. Nhưng với họ được một mái nhà che nắng, che mưa như ri là quý lắm rồi. Đang đứng nghĩ ngợi chợt một anh ở đội III lại gần tôi hỏi:

- Em ở đâu tới đây vậy?

Tôi đáp vội vàng:

- Tôi học ở TV...

Cho tới bây giờ đã có mặt ở Bình Dương nửa ngày tôi vẫn còn ngại mỗi khi ai hỏi tôi ở đâu mà tới đây đi? Anh nọ ngẩn người nhìn tôi rồi cười. Thì ra anh tưởng tôi là một "nạn nhân chiến cuộc" nên lại định hỏi thăm có lẽ lúc đó vì đã thấm mệt trông tôi "thiểu não" lắm nên anh mới lầm, hơn nữa vì mảnh giấy ghi tên và dấu hiệu của đoàn công tác xã hội K.H trên ngực áo tôi đã... bay mất tự lúc nào và tôi cũng hiểu lầm nốt. Tôi nghĩ giá lúc đó anh ta hỏi thêm "Ba em ở đâu? Má em còn sống hay đã mất? Em ở với ai hiện giờ?" chắc còn tức cười hơn nữa.

Lúc đó vừa nghe tin có 2 xe nước tới, các bà mẹ vội thức các con dậy và mỗi người mỗi thùng hoặc mỗi sô nhỏ chạy ra xin nước. Ở đây một giọt nước quý hơn vàng. Từ nước tắm rửa đến nước uống người ta tằn tiện từng chút một.

Xong công việc, còn sớm chúng tôi có dịp tiếp xúc và thăm hỏi các đồng bào. Ở đây phần dông là ông già, đàn bà và con nít. Ngoài ra còn một số đồng bào Thượng. Một bà đang cho con nhỏ bú niềm nở nói chuyện với chúng tôi ; bà ta kể:

- Mấy ngày chạy loạn thật khổ. Như tôi đây ba mấy đứa nhỏ chết, một bầy mười đứa con, vừa chết vừa lạc hết năm đứa lớn, còn năm đứa nhỏ đây. Thằng này là thằng út, cô coi mới mấy tháng đã bế chạy giặc rồi.

- Thế bác trai lúc trước làm gì, thưa bác?

- Hồi trước ổng đánh xe bò. Nghèo thật đó cô nhưng cũng không chật vật lắm.

Một bà cụ gần bên kể tiếp:

- Mấy cô biết không, chạy giặc gần chết mà mấy đứa con nó cứ hỏi chừng nào về nhà làm tôi thật đứt từng đoạn ruột.

Chỉ một đứa nhỏ ốm yếu nằm ngủ trên võng bà cụ kể tiếp:

- Cô coi, mới chừng này tuổi mà chạy bộ dữ lắm!

- Người Việt mình giỏi chịu đựng lắm cụ. Thiếu nhi Việt Nam mình cũng anh hùng nữa.

Khoảng 4 giờ có lệnh tập họp, chúng tôi bịn rịn từ giã đồng bào hẹn hôm khác lại thăm.

Sau khi kiểm điểm chúng tôi lại leo lên xe để trở về. Tôi lại sắp có cảm tưởng được ngồi trên... máy bay. Khi xe chạy tôi tưởng không ai còn đủ sức để hát như lúc đi. Nhưng không, các anh chị vẫn hát hùng và mạnh: "Rồi hòa bình sẽ đến, đến cho dân tộc Việt. Đôi chim bồ câu trắng hẹn nhau về làng xưa..."

Tôi ngồi dựa vào chị bạn thiu thiu ngủ. Khi các anh chị cùng hát bản "Người về thành phố" tôi biết xe đã về tới Saigon.

Một ngày công tác xã hội chấm dứt!

Hòa bình ơi! Ta mong đợi!


TRẦN THỊ HẬU     
  (Trưng Vương)      


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 179, ra ngày 15-6-1972)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>