Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Chỉ Là Tưởng Tượng


- Cho Bông Búp (Tới) 
- Tặng Thủy, Châu, hai em tôi

Ngọn đèn măng-xông treo cao giữa phòng khách, rọi sáng khắp mọi vật trong phòng.

Ông nội vận quốc phục đen, ngồi xếp bằng trên bộ ván gỗ mun, kê bên hông phải. Trước mặt ông, hai tờ giấy hồng đơn khổ hẹp, song song trải dài như đôi liễn. Nghiên mực tàu mài sẵn, ngọn bút lông gác ngang bình trà, tách trà bốc khói, với bấy nhiêu thứ, ông nội sửa soạn viết câu đối Tết.

Phương ngồi gần bên để mài mực và thỉnh thoảng châm trà cho ông nội. Tôn trọng sự trầm tư tìm hứng của ông, anh lẳng lặng theo dõi.

Gian phòng rộng chỉ có hai ông cháu, hơi trống trải. Nhưng sự bày biện đầy vẻ Tết nhất tạo phần vui mắt nhiều. Nhất là ở cái tủ thờ kê sát giữa bức vách trong. Tủ xưa, nước gỗ đen bóng, xà cừ chạm trổ ánh lên đủ màu. Trên tủ, một bộ lư hương đặt ngay chính giữa, hai chân đèn đối xứng hai bên, đồng đỏ được chùi bóng lộn. Phía trong, cạnh hai bức ảnh bán thân của ông cố bà cố, một cặp dưa hấu trái nào cũng to bằng cái vỏ bình. Một cái dĩa bàn chất vung những cam quit, điểm thêm những quả sung xanh, loại trái chưng lấy tên cầu may cho năm mới. Tấm bài vị treo ở trong cùng, đã được ông nội thay mới từ hôm qua, nền vải đỏ, các chữ Hán đen đậm nét nổi bật, đượm vẻ thần bí trang trọng. Sự trang trọng như được tăng thêm qua làn khói nhang bay tỏa từ mấy cây nhang trầm cắm ở bát nhang để gần bộ lư hương, mùi nhang thơm thoang thoảng khắp phòng.

Phía trước tủ thờ, giữa mặt bàn tròn trong bộ bàn ghế tiếp khách, một cái lục bình to, cắm một nhánh mai già. Những cành mai khẳng khiu đơm đầy những hoa vàng cánh mỏng. Dưới chân lục bình, sắp sẵn mấy bộ đồ trà, mấy quả bánh mứt, sửa soạn đón khách viếng nhà trong mấy ngày Xuân.

Sau một lúc nghiền ngẫm, ông nội sửa lại gọng kính, hớp một ngụm trà, đưa tay cầm lấy bút lông chấm mực…

Bỗng có tiếng gõ cửa. Ông nội ngẩng lên:

- Có khách nào kìa Phương, ra mở cửa coi con!

Phương vâng theo. Cửa mở, một cụ già khăn đóng áo dài đen, xách gậy tre bước vào, nhận ra ông Sáu Hòa ở xóm trên anh cúi đầu kính cẩn:

- Thưa ông Sáu!

Ông cười ha hả:

- Đêm Xuân, sao không để hương Xuân tràn vào nội thất, lại then cài cửa đóng như vậy?

Ông nội buông bút bước xuống bộ ván:

- Ủa anh Sáu! Anh đi đâu khuya khoắt vậy?

Ông khách lại cười, giọng cười khàn khàn, nhưng bộc lộ đầy sự vui vẻ cởi mở:

- Thì lại thăm anh, rủ anh du Xuân.

- Du Xuân giữa đêm giao thừa?

- Chớ sao! Anh coi, nhà tôi ở cách đây trên hai cây số. Tôi bắt đầu rời nhà mình vào lúc xế chiều, để đi tới nhà nầy nhà kia thăm bà con quen biết. Đi một lúc trời đã tối mịt, tôi cứ tiếp tục đi.

- Sao anh không đợi sáng hãy đi? Ai lại xuất hành giữa đêm hôm như vầy?

- Ồ, lúc nầy phải đi giữa đêm hôm mới tận hưởng được cái vui cái thú của một mùa Xuân thanh bình thật sự. Trời lạnh thì choàng thêm áo ấm, trời tối thì đốt đuốc soi đường. Nhưng dù có bỏ áo khoác ngoài, dụi tắt đuốc đi, tôi cũng thấy trong lòng ấm áp, trước mặt sáng như ban ngày… Chống cây gậy tre dò bước một mình, nhưng tôi đâu có thấy lẻ loi anh! Tôi lắng tai nghe tiếng pháo nổ đì đẹt đây đó, tiếng trẻ reo cười giòn tan. Tôi để ý nhìn từng ánh đèn ánh lửa thắp sáng trong từng mái nhà thấp thoáng xa gần. Tôi hình dung được những gương mặt hoan hỉ, những cảnh vui vầy sum họp…

Phương mỉm cười, ông cụ nói nhiều chắc đã có hơi men.

Kéo một chiếc ghế, ông nội mời:

- Ngồi nghỉ đi anh Sáu! Tôi hiểu ý ông bạn già của tôi rồi!... Anh có lý lắm! Mấy năm loạn lạc mình có bao giờ dám đi đâu giữa đêm hôm. Đêm tối hồi đó là thế giới của hung hiểm, chết chóc. Nó xua mọi người vào hốc nhà, hốc hầm trú chật hẹp. Nó không cho mình có được một giấc ngủ thẳng thớm yên tâm. Nhất là những miệt như ở đây…

Bây giờ bình yên rồi, đêm cũng như ngày, ở trong nhà cũng như ở ngoài đường, ở khắp cả mọi nơi, không có gì cấm cản bước chân của mình hết! Mình phải đi, đi giữa đêm hôm để vui sướng nhận rõ điều đó phải hôn anh Sáu?

Ông Sáu Hòa:

- Đúng rồi, ý tôi là vậy!

Ngồi đối diện bạn, ông nội hỏi:

- Từ chiều tới giờ anh đã ghé qua nhà những ai?

Ông Sáu Hòa gõ tay xuống bàn:

- Anh Tư Thi nè, chú Bảy Thái nè, anh Chín Quốc nè, và bây giờ, anh!... Ôi, thật là cảm động đến chảy nước mắt! Tôi không dè còn có ngày được gặp lại đám bạn bạn già mình, tay bắt mặt mừng, ở giữa chốn làng mạc thân yêu cũ! Bao nhiêu năm chạy tản cư, mỗi người một nẻo, tôi cứ tưởng đến giờ nhắm mắt cũng không sao được nhìn thấy lại quê xưa, nói gì bạn bè. Ngờ đâu!... Ôi, tôi mãn nguyện lắm rồi!

Ông nội:

- Tôi chưa kịp viếng hết bà con quen biết. Nhưng tôi đã bỏ trọn mấy ngày qua để đi thăm lại mồ mả ông bà, thăm lại từng ngôi miếu, kiểng chùa, đình làng, bờ tre, bến nước… Bắt gặp còn sót được chừng bao cảnh vật xưa cũ quen thân, là tôi mừng vui chừng bấy nhiêu phần!

Phương rót trà mời hai ông cụ. Ông Sáu Hòa xua tay:

- Thôi, trà nước gì! Ông tính lại rủ ông nội cháu qua nhà ông Năm An chơi liền bây giờ đây… À, anh Ba, anh với cháu nhỏ đang làm gì đó?

Ông nội:

- Tôi đang sửa soạn viết câu đối Tết, mới nghĩ được một vế chưa kịp viết thì anh tới. À, hay sẵn có anh, anh cho vế đối thứ hai đi?

- Vế của anh thế nào?

- Tàm tạm thôi, tôi đọc anh nghe thử, chỗ nào không ổn anh sửa giùm cho nghe!

Nói đoạn, hớp một ngụm trà, ông nội nhìn cành mai trước mặt, ngâm nga:

- An lạc xuân lai hồi cố thổ.

Ông Sáu Hòa:

- Hay lắm, hợp lắm! Bây giờ anh cứ viết vế đó ra đi, trong khi ấy tôi rán nặn óc nghĩ vế đối lại.

Ông nội vui vẻ trở lại chỗ bày giấy bút, cầm bút lông chấm mực, hươi tay viết một hơi bảy chữ nho sắp dài trên một tờ giấy hồng đơn. Nét chữ có chỗ mạnh và thẳng như một tia pháo vạch, có chỗ mềm mại lả lướt như ngọn cỏ đầu Xuân.


Ông sáu Hòa đến bên đứng xem. Ông vừa đọc từng chữ trong vế đối của bạn vừa ngẫm nghĩ. Khi ông nội vừa viết xong chữ cuối, ông cũng vừa đập tay reo:

- À, được rồi, nhưng không hay lắm. Đâu nà…

An lạc Xuân lai hồi cố thổ…
Thái bình Đông mãn hội tân trang… Được hôn anh Ba?

Ông nội tươi cười:

- Hay! Đối chan chát như vậy còn đòi gì nữa? Rồi, vế đối của anh anh viết giùm đi!

Ông Sáu Hòa làm theo lời. Hai câu đối mới viết xong, hai cụ già giơ trước đèn ngắm nghía, ngâm nga, cười nói rất vui vẻ.

Đoạn, ông nội bảo Phương:

- Đến giờ giao thừa, con lấy dán hai câu đối nầy lên hai cây cột trước cửa nhà nghe! Bây giờ ông nội theo ông Sáu lại đằng ông Năm chơi, không chừng ở suốt tới sáng mới về.

Phương:

- Hay ông nội mời ông Sáu ở lại nhà mình chơi mai hãy đi. Đi suốt đêm mệt lắm ông nội.

Ông Sáu Hòa:

- Cháu đừng lo, hai ông không mệt đâu! Suốt bao nhiêu năm dài các ông của cháu đêm đêm cứ cố dỗ giấc ngủ, và nhiều khi muốn ngủ luôn không bao giờ dậy, để quên đi, lánh đi cái cõi nhân gian khổ đau vì chém giết. bây giờ thì các ông của cháu phải thức, thức để hưởng trọn từng khoảng ngày giờ yên vui thật sự trong số tuổi về chiều, hiểu hôn!... Thôi, đi anh Ba!

- Ừ đi! Cây đuốc của anh dựng đó hả, đốt lên!

Trước khi theo chân bạn, ông nội còn quay bảo Phương:

- Nói bà nội mầy, tao đi thưởng xuân nghe!

Phương đứng nơi ngạch cửa nhìn theo dáng hai cụ già, người cầm đuốc, người chống gậy dắt tay nhau lần ra ngõ. Ánh lửa bập bùng reo vui trên đầu ngọn đuốc. Tiếng cười nói của ahi ông cụ cũng thật vui. Tự nhiên Phương muốn chạy theo, hoặc hét lớn lên, bộc lộ niềm vui cũng đang rào rạt trong lòng mình.

Đây đúng là một mùa xuân yên bình thật sự. Chiến tranh, hận thù giết chóc là những gì đã xa rồi không ai buồn nhắc tới. Tình người như đã lên ngôi. Người ta đến với nhau bằng nụ cười vui tươi cởi mở, bằng ánh mắt thân ái rạng ngời. Không có biên giới phân chia. Không có đây là bạn, đây là thù. Tất cả đều là anh em, sống với nhau bằng sự nhân nhường, chia sớt. Chưa bao giờ cái nghĩa đồng bào thắm thiết như vậy. Chuyện tích xưa “trăm trứng trăm con” người ta đọc lên với cả ý tự hào…

Có tiếng reo cười vang từ nhà dưới. Phương khép cửa bước xuống. Dưới nầy đông người và vui vầy hơn. Một nồi bánh thật to đặt trên cái bếp nhóm tạm ngay dưới nền giữa nhà bếp. Lửa cháy đỏ ngọn, liếm quanh nồi trông thật ấm áp. Lửa bếp, thêm ánh đèn dầu đặt ở chiếc bàn vuông, rọi lên mặt mọi người chập chờn, không rõ. Nhưng những nét nhìn thấy là những nét vui vẻ chan hòa.

Bà nội ngồi trên vạt tre ngoáy trầu cồm cộp. Mái tóc bạc phơ, coi nội già nhiều. Nhưng nụ cười mãn nguyện nở trên môi làm nội như khỏe hẳn lại. Lúc trước nội  hay khóc, chiều chiều thắp hương khấn nguyện đất trời cho đất nước sớm thái bình, khấn nguyện Ông Bà phù hộ cho đứa con trai vì chiến cuộc mải miết phương xa. Trời Đất, Ông Bà đã chiều lòng nội!

Ba ngồi đong đưa trên võng gần đó, bé Châu, bé Hải chen nhau nép vào lòng. Bao nhiêu năm ra đi làm kẻ chinh nhân, gió sương lửa đạn làm ba có vẻ dạn dày. Chợt bình yên, buông súng thép trở về chốn cũ nhà xưa, người thân đủ mặt quây quần, hẳn ba vui sướng lắm!

Má và Thủy đang lăng xăng vừa chụm lửa nồi bánh, vừa sắp xếp lại mấy quả mứt. Đố ai tìm thấy nét ủ dột ngày nào trên gương mặt má! Má hoàn toàn tươi tỉnh, trông trẻ hẳn lên.

Nhỏ Thủy thì thêm liến thoắng. Vừa cười nói, cô bé vừa bốc kẹo mứt nhai luôn miệng.

Lúc Phương xuống, mọi người đang bàn chuyện đi xông đất nhà bà con ngày mai. Vừa thấy mặt anh, Thủy hỏi:

- À, phần anh Phương, mai tính lại nhà ai trước hết? Chắc nhà chị Dung chứ gì? Hi hi!...

Phương chưa kịp đáp, bé Châu vọt miệng bảo:

- Chị khỏi nói, ảnh đâu có đợi tới ngày mai. Hồi chiều nầy ảnh đã rủ em qua chị Dung chơi rồi!

- Vậy hả?

- Qua bển có chuyện tức cười lắm chị ơi!

- Chuyện gì?

- Cho em một miếng mứt cà đi em kể cho nghe!

- Con nhỏ nầy thiệt!... Đây nè, kể đi!

Tiếp lấy miếng mứt đỏ hồng mướt đường, Châu bỏ vào miệng nhai ngon lành. Thủy giục:

- Kể mau đi!

Châu:

- Để em ăn xong đã chứ! Cha chả, mứt chị Thủy làm ngon ghê ta!

Ăn xong, cô bé lại quay sang Phương:

- Anh Phương muốn em giấu chuyện nầy thì kiếm cho em một cái bánh gì đi!

Thủy la:

- Con khỉ! Láu lỉnh vừa vừa thôi chớ!

Phương nhún vai:

- Đứa nào muốn kể gì thì cứ kể cho mỏi miệng đi, anh có sợ đâu mà phải lo lót!

Châu cười:

- Vậy em kể ra rồi đừng có cú đầu nghen!... Chị Thủy biết hôn, trong khi tiếp chuyện với anh Phương, chị Dung mới cầm một miếng bánh phồng đang đãi ảnh ăn, đố ảnh vậy chứ bánh làm bằng gì? Chỉ bảo, nếu ảnh đáp trúng sẽ đem đãi thêm ngay một món đặc biệt khác chưa từng thấy. Câu đố dễ ợt, vì thứ bánh phồng nầy ở nhà má có làm. Anh Phương thân mến của tụi mình bèn cười toe toét, bảo ngay:

- Bánh phồng làm bằng nếp có trộn mãng cầu xiêm chứ gì!

Chị Dung khen:

- Hay quá ta!

Khen xong, chỉ bắt qua chuyện khác, như quên khuấy lời hứa sẽ có quà thưởng. Anh Phương đâu chịu bỏ qua. Ảnh giục:

- Người ta nói trúng, hứa đem đãi một món đặc biệt, sao làm thinh luôn vậy?

Chị Dung cười:

- Làm gì gấp vậy? Được rồi, để người ta đem ra, đợi một chút nghe!

Nói rồi chỉ bước vô trong, lục đục một lúc bưng ra một cái dĩa kiểu, trên đậy kín một cái chén kiểu. Chỉ làm ra vẻ trịnh trọng:

- Mời thí sinh trúng giải nhận quà, và dùng ngay kẻo mất ngon!

Anh Phương mừng húm đỡ lấy, và từ từ giở chén ra: Ảnh bật ngửa, em ngồi gần đó thấy món quà trong dĩa cũng bật ngửa và cười muốn bể bụng! Ha ha!...

Thủy:

- Món gì vậy?

- Một cục thịt kho to tướng!

Thủy cười ngất. Bà nội, ba má và bé Hải nghe chuyện cũng cười. Phương đành… cười theo, xong, anh bảo:

- Còn lâu bánh mới chin, mới tới giao thừa, Châu, Hải, kéo ra sân chơi trốn tìm nè!

Thủy:

- Mẹc ơi! Anh thử rờ cằm coi có mấy sợi râu rồi?

Phương rờ cằm rồi hóm hỉnh:

- 35 sợi! Than ôi, ta đã già, tuổi thơ đã bỏ ta đi mất! Ồ, nhưng già thì già, ai cấm cản anh Phương của mấy nhỏ chơi trò con nít! Thủy nè, tuổi nhỏ của mình hoàn toàn nằm trong thời loạn lạc. Giặc giã đã làm thời thơ ấu của mình mất mát nhiều. Hồi bằng tuổi con Châu, thằng Hải, mình có được hồn nhiên, bình yên đùa giỡn đâu? Nhất là đùa giỡn ngoài vườn giữa đêm tối, dù là vườn mình đất mình. Bây giờ mình thử sống bù lại cái thời con nít, cứ chơi trò con nít, hoặc bày cho đám em hưởng trọn cái thú con nít, được chớ!... Thôi đi, Châu, Hải! Nhỏ Thủy muốn dự thì tháp tùng.

- Thôi, em sợ ma lắm!

Phương:

- Bậy nữa! Sao lại sợ ma? Nhỏ Thủy thử nghĩ coi, những hồn ma hôm nay có phải phần đông là những người gục ngã hôm qua vì chiến cuộc. Mình là những người may mắn sống sót, để bây giờ trọn hưởng cảnh thái bình. Tại sao mình không nghĩ đến họ, lại sợ họ. Nhỏ Thủy không nhớ đến nhỏ Hoa sao?

Hoa là em kế của Phương, chị của Thủy. Hoa đã chết cách nay một năm vì đạn lạc. Nghe Phương nhắc đến Hoa, mọi người đều ngậm ngùi. Ba chép miệng:

- Tội nghiệp, lúc chôn cất con Hoa, ba cũng không về được!

Hải kéo Châu rời võng:

- Chị Thủy không đi thì thôi, hơi đâu rủ chỉ! Anh Phương, hai đứa em theo anh liền!

Cậu bé vừa dứt lời chợt có tiếng gõ cửa trên nhà trên. Phương bảo:

- Khoan, để coi khách nào tới nữa!

Anh trở lên mở cửa nhà trước. Một cô con gái mặc áo bà ba trắng, tóc buông xõa ngang vai, dáng dấp rất quen, đứng đợi trước cửa. Trong phòng đèn sáng, bên ngoài tối mờ mờ, nên Phương phải cố nhìn một lúc mới thấy rõ mặt cô khách nọ. Vụt anh rùng mình, rợn tóc gáy:

- Cô… cô…

Thấy anh lắp bắp hỏi không ra câu, cô gái nhoẻn miệng cười. Nụ cười làm Phương kinh hãi hơn:

- Không thể lầm được!

Với ý nghĩ thoáng qua óc đó, anh vụt bỏ chạy xuống nhà dưới.

- Ai vậy Phương?

- Cái gì vậy Phương?

Đáp lời bà nội và ba, Phương bật thốt với giọng sợ hãi:

- Ma!

Thủy cười:

- Cha, nghe người ta nói người ta sợ ma rồi hù chơi hả?

Phương:

- Anh không nói giỡn đâu!

Châu:

- Không nói giỡn mà điều nói chơi hả anh hai? Đâu để em ra coi mặt ma thử coi, hồi nào tới giờ chưa thấy!

Dứt lời, Châu bước ra phía trước. Không lâu, cô bé cũng chạy ngược trở xuống, sợ thất thần:

- Ma! Ma thiệt ba ơi, má ơi!

Thình lình, Phương trỏ tay về phía cửa thông với nhà trên:

- Nó đuổi theo xuống kìa!

Chợt:

- Xoảng!

Cả gian nhà dưới vụt tối sụp. Bà nội vừa hươi tay che mắt nhìn theo tay Phương, lỡ chạm phải cây đèn dầu. Ống khói văng đi, ngọn lửa tắt phụp. Bếp lửa nấu bánh bấy giờ như cũng đồng tình, lụn đi vì cháy hết củi.

Trong bóng tối mờ mờ, cái bóng trắng từ nhà trên đang chậm chạp bước xuống. Hải lại thét lên:

- Ghê qua! Ma!

Cậu bé nhảy lại ôm lấy cổ ba. Châu nhào theo. Thủy thì đeo chặt má… Phương mất cả gan lì, quên hết mấy lời nói phải lẽ, gan góc của mình lúc nãy.

Ba lớn tiếng bảo:

- Ma cái gì?

Hướng về phía bóng trắng, ba nạt:

- Đứa nào đó, đứng lại!

Bóng trắng vâng theo, dừng lại cạnh một gốc cột, cất giọng run run ngập ngừng:

- Ba!... Má!... Bà nội!...

Bà nội hỏi lại:

- Đứa nào đó, đừng có giả ma cỏ nhát mấy đứa em, tao đập chết nghe!

Bóng trắng:

- Bà nội… Con là con Hoa mà bà nội!

Câu trả lời làm bọn Phương thêm rợn người. Hoa? Hồn ma của Hoa hiện về?

Má đã kịp châm lại đèn, đốt lại bếp lửa. Gian nhà lại sáng lên, và mọi người nhìn thấy nơi gốc cột kia rõ ràng một cô con gái. Nhưng càng thấy rõ, mọi người càng lạ lùng. Bà nội:

- Sao tao thấy con nhỏ nầy giống hệt con Hoa bây! Hổng lẽ ma Thiệt?

Cô gái rưng rưng nước mắt:

- Không phải ma cỏ chi hết nội! Con còn sống, con là con Hoa, cháu nội của nội đây mà!

Không khí đã bớt phần kinh dị, nhờ ánh sáng, nhờ sự đối đáp, và nhờ dáng điệu cô gái có vẻ người thật. Nhưng sự kinh dị bớt đi, thì sự kỳ lạ đổi lại, khiến mọi người không kém phần thắc mắc, hoang mang…

Ba rứt tay ra khỏi Châu và Hải, tiến lại gần:

- Hoa, cháu là… con là Hoa?

Bất chợt:

- Phải rồi, nó là con Hoa, anh không nhận ra sao anh Tư?

Một giọng đàn bà vang lên, một người từ nhà trên bước xuống. Phương và các em buột miệng kêu:

- Dì Năm!

Dì Năm là dì ruột của bọn Phương. Dì bước lại vỗ vai cô gái lạ lùng nọ:

- Đã bảo để dì dắt vào, nóng nẩy tới trước làm chi, cho bà nội ba má và mấy em cháu tưởng lầm!

Má lên tiếng:

- Dì Năm, dì nói rõ giùm tôi coi! Con Hoa sao còn sống? Còn con Hoa nào tôi đã chôn cất ngoài kia?

Dì Năm cười:

- Chị riết rồi con mình cũng không nhớ! Anh chị đâu phải chỉ có một con Hoa. Hồi trước chị sanh đôi hai đứa con gái, một đứa đặt tên Tuyết Hoa, một đứa đặt tên Hồng Hoa. Con nầy là Hồng Hoa chứ đâu phải con Tuyết Hoa đã chết?

Cả bà nội, ba và má đồng reo lên:

- A!

- Ủa!

- Trời, Hồng Hoa!

Phương xen hỏi:

- Nhưng em Hồng Hoa bị thất lạc mất tích hồi nó còn mới biết đi, trong một cơn chạy loạn mà!

Dì Năm:

- Ừ, thì dì có bảo khác đâu? Cháu không rõ, nguyên hồi đó có người bắt gặp em cháu, đem về nuôi nấng đến ngày nay. Trong lúc giặc giã, gia đình cháu cũng như hầu hết mọi người trong làng bỏ nhà bỏ cửa lánh đi phương khác làm ăn. Người ta khó tìm biết gốc gác em của cháu để giao hoàn. Bây giờ yên ổn rồi, người ta mới truy ra…

Bà nội ngắt lời:

- Đội ơn Trời Phật! Người nào mà phúc đức quá vậy cháu Năm?

- Dạ, ông nầy không phải ở làng mình. Theo lời ổng kể thì ổng phải dò hỏi nhiều ngày mới tìm ra được nhà ngoại con Hoa. Ổng mới dẫn nó tới bên nhà cháu hồi chiều nầy. Con nhỏ nóng lòng muốn gặp cha mẹ ruột, nó xin cháu dắt đi về đây ngay. Cháu đưa nó đi, dọc đường nhè gặp người quen, cháu đứng lại trò chuyện. Đã được cháu chỉ sơ nhà cửa, con bé dông đi trước…

Hiểu ra, ba má bước lại bên đứa con gái thất lạc, mừng mừng tủi tủi, xúc động nghẹn lời. Bọn Phương cũng tiến lại, đứa nhìn em đứa nhận chị, thật lăng xăng.

Bà nội cười bảo:

- Cha chả, tui bây giành hết không cho tao mừng cháu nội hả? Hồi nãy sao bảo là ma, chạy trốn?

Cả nhà cười vui vẻ. Bỗng, một tràng pháo nổ thật giòn, liên tục. Rồi thêm một tràng thứ hai… Phút chốc từ xa đến gần, tiếng pháo tiểu pháo đại thi nhau nổ không dứt.

Thủy la lên:

- Giao thừa rồi đó!

Hải hét lớn:

- Ba ơi, dây pháo của mình đâu, đưa con đem ra sân đốt!

Phương cũng bảo:

- Hồ đâu, đưa tôi đi dán câu đối đón mừng năm mới nè!

Ai cũng muốn cười, muốn la hét. Niềm vui tỏa rộng như hoa ngát hương Xuân!

*

Phương nằm ngả trên giường ngủ. Sau mấy giờ góp mặt với bạn bè trong các cuộc vui tất niên, trở về gác trọ anh nghe mệt mỏi và thêm một chút chán chường. Mấy tờ bản thảo truyện ngắn viết về một đêm giao thừa, một cái Tết thật bình yên, anh chợt hứng ghi một mạch vào lúc hừng sáng, còn vất vương vãi nơi đầu giường. Với lấy, anh đọc lại từ đầu đến cuối:

- Thật đẹp! Thật vui! Nhưng…

Sẵn cây viết đỏ còn dắt trên túi, Phương rút lấy, vạch mấy chữ to nguệch ngoạc, đè lên mấy dòng chữ xanh chi chít của tờ bản thảo câu : CHỈ LÀ TƯỞNG TƯỢNG!

Phải, chỉ là tưởng tượng! Đến một giấc chiêm bao, Phương cũng khó tìm thấy những cảnh vui vầy như thế đó. Than ôi, cái đẹp cái vui phải chăng chỉ có trong tưởng tượng, thực tế bao giờ cũng trái ngược, nát lòng? Đọc truyện của chính mình viết, đọc những ước mong của chính mình kết thành chữ nghĩa, rồi nhìn về thực tại, anh nghe đau xót âm thầm.

Cũng là một giao thừa, cũng là một cái Tết, nhưng bình yên đâu? Ở đây không là quê nhà Phương. Không có ông nội bà nội, không ba má, vắng cả các em thân yêu!... Cái trơ trọi, vắng lạnh hiện đến với anh thật rõ.

Nhìn lại mấy tờ bản thảo trong tay, Phương chợt muốn xé nát đi, để viết một bài khác, một bài than khóc chuyện chiến tranh chết chóc, cho hợp cảnh hợp tình.

Nhưng rồi anh thấy mình vô lý. Làm thế để làm gì? Chuyện đó đã có lắm người nói đến, và người dân Việt kkhổ đau nào không một đôi lần hứng chịu, chứng kiến, hay nghe thấy? Mình nhắc lại có thừa và vô ích lắm chăng?

Không than thở kêu gào suông nữa, tốt hơn hết mình nên tự chọn lấy một thái độ sống thế nào cho thích hợp với hoàn cảnh chiến tranh xâu xé kéo dài. Nhưng sống thế nào gọi là thích hợp? Mặc nhiên, và tìm cách chạy theo những thú vui thác loạn, để tạo thêm ung nhọt cho xã hội, và cuối cùng chuốc lấy sự thiệt thân? Không! Chiến tranh không phải là cái cớ cho mình hư hỏng. Hư hỏng rồi vin vào chiến tranh để bào chữa lỗi lầm, tự cho mình có lý? Có lý, nhưng không phải là cái lý của lẽ phải, chỉ là cái lý để được tha thứ phần nào. Mà đã nói tới hai tiếng tha thứ, là mặc nhiên xác nhận sự lầm lỗi vậy.

Phương không muốn mình phạm sự lầm lỗi. Phải tốt đẹp trong cái xấu xa, phải đứng vững khi bao người sa lấy, mới đáng ngẩng mặt, mới không thẹn với chính mình.

Vậy, trong bất cứ địa vị nào, hoàn cảnh nào, mình nên giữ lấy những hành động hợp đạo nghĩa, nhân tâm. Ta bảo ta chán ghét chiến tranh, thì đừng làm những gì trái ngược, đừng tạo cho bộ mặt chiến tranh thêm gớm ghiếc. Ta hãy tỏ ra biết nghĩ đến người, cảm thông nỗi khổ của người, xem người như mình. Lúc nào ta cũng yêu mến tha nhân. Tình thương ta giữ trong tim thắm tươi ý nghĩa.

Với chủ tâm nầy, Phương chắc mình không đơn độc. Anh biết nghĩ đến hai chữ tình thương, thì hẳn cũng có nhiều người biết nghĩ. Trong cuộc chiến, cuộc sống xâu xé hôm nay, dù sao tình đồng loại vẫn còn. Anh hay thấy những tên hung bạo xấc láo lên mặt húng hiếp người, thì thỉnh thoảng anh cũng gặp những người hiền hòa vui vẻ, sẵn sàng nhân nhường giúp đỡ kẻ yếu kém hơn. Ở trường hợp trước anh bất bình, buồn bao nhiêu, thì vào trường hợp sau, anh vui sướng bấy nhiêu, vui như chính mình nhận được sự nhân nhường giúp đỡ kia vậy. Ôi, tình người, đẹp đẽ biết bao. Xin giữ lấy và khơi dậy trong ta trong ai tình người cao quí đó!

Đồng hồ nhà bên thong thả gõ 12 tiếng ngân nga thật đều.

- Giao thừa!

Phương chỗi dậy, tiến lại mở toang cửa sổ căn gác, nhìn bao quát khu xóm trong đêm. Những mái nhà cái cao cái thấp, xếp san sát như không còn kẽ hở. Có chỗ có ánh sáng đèn, có chỗ chìm trong bóng tối. Giao thừa không tiếng pháo đón mừng, chỉ nghe một loạt súng xa xa bất chợt vọng về phố thị. Và, cuối một góc trời, chập chờn ánh trái hỏa châu…

- Dù sao, bước sang năm mới mình cũng cầu mong đất nước sớm thật sự hòa bình!

Phương nghĩ thầm, và hướng mắt về một vì sao tỏ nhất, chênh chếch giữa nến trời đêm.


Mỹ Tho chiều 18-12-73
NGUYỄN VĂN NGHỆ 


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 219, ra ngày 15-2-1974)


Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Hương Xuân


Trời hôm nay thật lạnh, cái lạnh của một chiều cuối mùa đông… Mặt trời đã lặn từ bao giờ nhưng còn để sót lại một vài tia nắng yếu ớt trên ngọn cây gió đưa phe phẩy. Tôi ngồi ở bàn học nhìn qua cửa sổ, mấy chậu hoa để trước sân vội vàng hé nụ dầu đông chưa đi và xuân cũng chưa về… Tôi đưa mắt nhìn lên tấm lịch treo trên tường, nay nó chỉ còn một tấm bìa… theo thời gian nó đã thành vô dụng. Tôi lặng yên đứng lên ghế với tay mở tấm bìa lịch xuống. Rồi tôi lại mỉm cười trong ý nghĩ vu vơ : đời người cũng theo thời gian vơi dần như tấm lịch. Tôi lại cười khi nghĩ rằng có lẽ mình sẽ thành một triết gia. Tiếng máy xe nổ ở đầu ngõ báo cho tôi biết ba tôi đi dạy đã về.Ba tôi là giáo sư Việt-văn ở một trường trung học thành phố. Ông vẫn thường nói với tôi : “Có lẽ sau này con cũng đi bán cháo phổi như ba…” Tôi tự nhiên thấy thích nghề dạy học, lý do không phải tôi muốn mô phỏng theo cuộc sống hiện tại của người cha thân yêu, nhưng có một cái gì vô hình đóng khung lấy ý muốn của tôi. Tôi ghét cay ghét đắng những ông luật sư, bác sĩ. Tôi nghĩ rằng bác sĩ chữa bịnh tài tử bóp cổ người khác lấy tiền ; luật sư đi cãi mướn vì tiền, phi chính nghĩa… Ngay đến những nhân vật chính trị nổi danh tôi cũng thấy ác cảm với họ. Tôi cho rằng làm chính trị là lừa gạt, là giết người…

Tôi xô cửa chạy ra hiên khi nghe tiếng ba tôi gọi:

- Vũ ơi, dắt xe vô nhà cho ba.

Tôi đến dắt xe đi vào nhà. Ba tôi nhìn tôi vừa cười vừa hỏi:

- Trường con bao giờ nghỉ Tết?

Tôi không ngờ thời gian trôi quá nhanh như thế. Sắp đến Tết rồi sao? Một năm nữa đã đi lùi vào quá khứ? Làm sao tôi lấy lại được ; tôi sợ những ngọc ngà của tuổi trẻ vô tư chắp cánh bay xa, để rồi tôi sẽ không còn là tôi trong quá khứ và hiện tại. Tôi muốn ghì kéo thời gian để nó ngừng đứng lại. Nhưng thời gian vẫn đi, đi thật nhanh, tôi bất lực… Tôi suy nghĩ mê man quên hết những gì hiện diện xung quanh. Ba tôi nhắc lại câu hỏi : “Sao, hồi mô con nghỉ tết?” Tôi giật mình, như người vừa mới ngủ dậy ú ớ trả lời:

- Thưa ba tuần sau, thứ năm tuần sau.

Ba tôi lại nhìn tôi mỉm cười. Tôi cảm thấy lúng túng dưới ánh mắt của ba. Bằng một giọng thật ngọt thật êm ba hỏi:

- Sương, Tuyết đi học về chưa hả con?

- Thưa ba, hai chị đi học về lâu rồi, đang giúp má làm cơm dưới bếp.

Tôi chợt nhớ đến anh Phong, đứa con trai đầu của ba má tôi. Hiện giờ anh đang học văn khoa năm thứ hai trên Đà Lạt. Bên tai tôi còn nghe văng vẳng giọng cười tiếng nói của anh Phong. Không biết tết này ảnh có về hay không. Nhiều lần ảnh viết thư cho tôi, ảnh nói rằng “Đà Lạt sương mù là thiên đàng của những người có tâm hồn thi sĩ.” Tôi chưa được diễm phúc đặt chân đến thiên đàng của ông anh yêu quí, tôi không biết Đà Lạt có đẹp hay không. Nhưng một điều tôi chắc chắn cảnh Đà Lạt buồn mơ như những bài thơ anh tôi viết trên những trang giấy xanh hồng… Tôi tự hỏi sao mọi người trong gia đình đều có máu văn chương. Ba tôi là giáo sư Việt Văn. Anh Phong theo văn khoa mặc dầu tú tài một và hai lại đi ban toán. Thật là kỳ. Chị Sương, chị Tuyết cũng đi ban C. Tôi, lẽ tất nhiên muốn trở thành một giáo sư Việt Văn như ba. Còn má tôi thì sao? Lạ thay, xưa kia má cũng đi ban C nốt.

Những lúc vui miệng ba tôi vẫn thường kể cho chúng tôi nghe chuyện ngày xưa. Ba bắt đầu bằng hai tiếng “Ngày xưa” rồi cười nhìn má tôi. Má tôi cũng mỉm cười yên lặng. Ba tôi đưa chúng tôi trở về quá khứ, vùng xa mờ chưa có sự hiện diện của chúng tôi, và lúc đó ba má tôi theo học đệ nhất. Học cùng trường lại học cùng lớp, cùng bàn. Ba tôi thầm yêu cô bạn gái cùng lớp dễ thương, tên là Thanh Thủy. Thanh Thủy là tên má tôi. Ba tôi yêu má tôi, nhưng còn ngập ngừng chưa dám tỏ, chỉ liếc mắt nhìn trộm. Rồi thời gian trôi, tình yêu lớn dần trong tim ba tôi. Má tôi như vô tình làm cho ba tôi một thời “ra ngẩn vào ngơ”. Đầu xuân năm ấy, buổi học cuối cùng, ba tôi đánh bạo trao cho má tôi một mảnh giấy nhỏ ghi mấy dòng như sau:

- Ngày 1 tháng 1 năm 1

Cho vơi sầu khi nàng xuân ngự trị
Tôi lang thang bước trên thảm cỏ dưới giàn hoa
Làm kiếp lãng nhân tôi say trong tơ nắng nhạt nhòa
Quen đơn lạnh xuân về tim chưa ấm.

Mới đầu mẹ tôi lấy làm ngạc nhiên không hiểu lời thơ cha tôi gởi muốn nói gì. Nhưng cách đề ngày kỳ quái của cha tôi làm cho mẹ tôi chú ý, và đã tìm ra bí ẩn của bài thơ. Chữ thứ nhất trong bài thơ ghép thành bốn chữ : “Cho tôi làm quen”. Tim mẹ tôi bắt đầu đổi nhịp. Hai người yêu nhau…

Mẹ tôi cũng biết làm thơ. Hai người cho nhau những bài thơ chơi chữ thật hay, thật bí ẩn.

Tôi đứng mơ mộng bên khung cửa. Óc tưởng tượng đang vẽ lên hình ảnh Bạch Sơn – Thanh Thủy, ba má tôi, thời xa xưa. Chưa bao giờ tôi thấy quí báu và nuối tiếc quá khứ bằng lúc nầy. Tôi hy vọng nơi tương lai một cái gì tốt đẹp hơn hôm qua, hôm nay, nhưng tôi sợ tương lai vì trong tương lai tôi sẽ và phải vĩnh biệt hiện tại. Tôi thấy mình thật vô lý. Nhưng tôi lại nghĩ mình cũng có lý. Tôi điên. Tôi sợ thời gian cuốn đi những gì đẹp nhất của tuổi trẻ. Tôi sợ… tôi sợ… Thật ra tôi không biết mình sợ cái gì. Có lẽ tôi sợ rằng một ngày nào đó tôi sẽ già như ba tôi. Thật bông lông, tôi không hiểu được chính tôi.

Ba tôi đến đứng phía sau tự lúc nào. Ba đặt hai tay trên vai tôi và hỏi:

- Con đang nghĩ gì vậy?

- Thưa ba, không…

- Sao không?

Tôi đánh trống lảng:

- Tết nầy anh Phong có về không ba?

- Đến 27 nó mới về con ạ!

- Sao ảnh về trễ thế ba?

- Tại vì nó yêu Đà Lạt, hơn nữa đại học nghỉ trễ.

Tôi đã hiểu được ý ba tôi muốn nói gì về anh Phong qua ba chữ “yêu Đà-Lạt”. Biết đâu anh Phong lại chẳng có… Tôi mỉm cười tự khen mình phán đoán đúng.

Tôi không chờ xuân đến mà nàng cứ đến. Tôi thấy tiêng tiếc cái lạnh của con gió mùa đông. Tôi yêu giọt mưa những chiều đông tí tách trên mái nhà. Tôi ngược đời quá. Có lẽ mùa đông thích hợp với tính hay buồn vô cớ của tôi và gây nguồn thi hứng trong tim tôi:

- Chiều đông lạnh mưa rơi tí tách
Nghe lòng mình len nhẹ nỗi cô đơn.

Ba tôi đã tập cho tôi làm thơ từ năm đệ lục. Tôi bắt đầu say mê vẻ đẹp của trăng của gió của mây và biết mơ mộng biết buồn từ đó. Tôi nghĩ rằng thơ đến ngự trị hồn tôi quá sớm.

Ngoài tôi ra, mọi người náo nức mừng nàng xuân trở về sau ba mùa hè nắng thu buồn đông lạnh. Anh Phong đã đáp máy bay từ Đà Lạt về nhà hôm 25 thay vì 27 như ba tôi nói. Anh cười nói luôn. Nhưng tôi thấy anh không được vui như mấy lần trước. Tôi hiểu lý do tại sao có chuyện đó và nhủ thầm:

- Có ngày rồi mình cũng như vậy…

Buổi chiều cuối năm xuống thật nhanh. Má tôi gọi tôi vào ăn cơm. Ngồi vào bàn, tôi cảm thấy vui lây cái vui của những người xung quanh. Nhiều lần tôi phải bật cười trước những câu nói khôi hài của anh Phong. Chị Sương chọc anh Phong:

- Tốt nghiệp văn khoa, anh Phong phải gánh văn chương lên trời bán.

Anh Phong đáp lại:

- Cho tôi xin, tôi hỏi cô đi ban C để làm gì?

Tôi đưa mắt nhìn quanh nhà. Thật khác hẳn, thế mà bây giờ tôi mới nhận ra. Anh Phong, hai chị và má tôi lo dọn dẹp đón tết, đón xuân còn tôi coi như không có gì đặc biệt! Tôi nhận ra sự vô lý của mình. Ngày tết phải là ngày trọng đại nhất của dân tộc. Phải chăng tôi muốn dứt bỏ truyền thống của cha ông? Không, không… và tôi thấy hương xuân thoang thoảng đâu đây. Tôi muốn hét to lên khi niềm vui căng đầy buồng phổi con tim. Tôi mỉm cười khi nghĩ rằng có lẽ mình đã điên giờ mới được bình phục… Tôi thấy căn phòng ấm lại. Mọi vật tôi nhìn đều đẹp. “Xuân” đã đi vào tim tôi, dầu cách đây không đầy nửa tiếng đồng hồ tôi gạt bỏ “xuân” ra ngoài. Tôi biết rõ nguyên nhân vì đâu tôi không được vui trọn vẹn trong những ngày cuối năm. Phải chăng tôi nhớ ánh mắt nụ cười của một người? Thế tôi giống anh Phong mất rồi. Nhưng thật may, nay tôi đã tìm ra được một niềm vui trong bầu không khí đón Xuân tràn ngập hương hoa… Nàng xuân đã đột nhập vào tim tôi. Ánh mắt nụ cười của ai đó dần phai mờ để cho tôi vui hưởng khung cảnh gia đình đầm ấm hiện tại. Tôi bỏ đũa xuống, rót nước uống. Thức ăn thật ngon thật nhiều món nhưng tôi đã no niềm vui. Chị Sương cầm ly nước lên uống cạn rồi nhìn tôi, chị nói:

- Thằng Vũ, sao mày ăn quá ít?

Tôi vừa cười vừa trả lời bằng một câu hỏi tương tự:

- Chị Sương, răng chị uống hơi nhiều?

Anh Phong vỗ tay và hét lên:

- Hoan hô nữ sĩ Huyền Sương và nhà đại thi hào Tuấn Vũ.

Mọi người đều ngạc nhiên không biết anh Phong muốn gì. Anh Phong cắt nghĩa:

- Thưa ba má, con xin đề nghị ba má thưởng cho Sương và Vũ. Con không ngờ chúng nó “xuất khẩu thành thi” mà lại đối nhau “chan chát”. Đây ba má nghe con ngâm hai câu thơ của hai nhà đại thi hào (Anh cất giọng ngâm thật buồn cười):

- Thằng Vũ, sao mày ăn quá ít
Chị Sương, răng chị uống hơi nhiều.

Mọi người à lên một tiếng. Tôi và chị Sương bây giờ mới biết mình đã “xuất khẩu thành thi”.

Tôi mỉm cười khi chị Tuyết chọc chúng tôi (chị Sương và tôi):

- Là thi sĩ nghĩa là tru với chó.

Chị Sương đỏ cả mặt. Anh Phong cười ha hả. Má tôi lên tiếng:

- Bây giờ tôi ra câu đối, bố con ông đối được tôi sẽ chịu giữ nhà cả ba ngày Tết, để bố con ông đi chơi. Bèn không tôi sẽ niêm kho các thức ăn và để bố con ông nhịn đói nhé.

- Được, bà ra câu đối đi – Ba tôi trả lời.

- Vũ Phong che kín dòng Thanh Thủy. Đối đi.

Ba tôi ngập ngừng một chút rồi cất tiếng:

- Vũ Phong che kín dòng Thanh Thủy
Sương Tuyết phủ đầy đỉnh Bạch Sơn.

Đó bà thấy tôi đối như thế có “chỉnh” không?

- Hay quá ba ơi – Chúng tôi reo lên.

Hai câu đối thơ trên không những đối nhau đúng luật về thanh cũng như về ý mà lại còn chứa đựng tên của tất cả mọi người trong gia đình. Tôi nhẩm học thuộc lòng. Niềm vui dâng lên tận mắt. Tôi muốn khóc. Tôi thầm cám ơn Thượng đế đã cho tôi sinh ra trong gia đình nầy. Hạnh phúc vây bọc lấy tôi.

Màn đêm đã phủ xuống tự bao giờ. Đêm thật đen. Như mọi năm gia đình tôi thức chờ giao thừa. theo lời đề nghị của ba tôi, chúng tôi sẽ làm mỗi người một bài thơ khai bút. Ba tôi sẽ là giám khảo cho điểm định thứ vị… phát phần thưởng… Đó là cách “lì xì” ba tôi vẫn thường áp dụng. Ba cho chúng tôi những cuốn sách thật đẹp thay cho những đồng bạc mới. Ba vẫn thường nói với má tôi : “Đừng cho tiền các con, chúng nó chưa biết dùng đúng chỗ”.

Đồng hồ treo tường điểm 12 tiếng. Những ánh hỏa châu rực sáng phá tan đêm đen. Không một tiếng pháo. Tiếng súng xa xa vọng vào tai làm cho tôi thêm nuối tiếc những mùa xuân khi đất nước còn yên bình.

Chúng tôi tụ họp ở phòng khách. Tôi đưa mắt quan sát như vào nhà lạ. Chậu hoa lan thật đẹp, cành mai vừa hé nở… Mọi sự đều mới đều đẹp dưới mắt tôi. Tiếng Radio ở nhà bên vang lên một khúc ca mùa xuân : “Ngày xuân nâng chén, ta chúc…” Ba tôi tuyên bố cuộc thi thơ bắt đầu…

Má tôi làm một bài song thất lục bát. Chị Tuyết viết trên tờ giấy màu hồng một bài thơ mới bảy chữ. Chị Sương yêu cung điệu ca dao làm mười mấy câu lục bát. Anh Phong : một bài thơ mới tám chữ. Ba tôi, tất nhiên một bài thất ngôn bát cú đường luật. Còn tôi thì sao? Tôi làm tổng hợp tất cả mọi loại. Chính vì cái “ngông” của tôi mà bài thơ có nhiều nhạc điệu, tôi nói thế ; tôi không biết đúng hay sai. Ba trịnh trọng tuyên bố : bài thơ của tôi chiếm giải nhất. Tôi nghĩ rằng đã có sự sắp đặt trước trong óc ba tôi. Tôi không thể tin được bài thơ của tôi hay hơn của anh Phong, của chị Sương, chị Tuyết.

Với giọng thật êm thật trầm ba tôi nói:

- Vũ khá nhất. Phong, Tuyết, Sương đồng hạng. Ba có lời khen tất cả các con. Chúc các con sang năm mới tiến hơn. Thơ khá lắm.

Chị Tuyết ngắt lời ba:

- Còn thơ của má và ba thì sao, hả ba?

- À bây giờ để anh em chúng mày chấm. Đây đọc đi…

Anh Phong nhận tờ giấy từ tay ba rồi cất giọng ngâm:

Xuân lại đến hoa cười hé nụ
Niềm vui còn say ngủ trong tim
Bao năm trở gót im lìm
Thời gian chấp nối cánh chim về rừng
Tuổi ngọc ngà xa tầm tay với
Níu thời gian xin đợi cùng đi
Mùa xuân xưa cũ còn ghi
Sống bằng kỷ niệm nhớ gì đêm nay…

Hay thật hay.

Má tôi mỉm cười yên lặng nhìn ba tôi. Má tôi không nói một lời nào từ nãy đến giờ ; có lẽ niềm vui đang ngập lụt trong tim má hay má đang trở về quá khứ… Qua ánh mắt long lanh, qua nụ cười yên lặng, tôi đoán má tôi đang sống lại thời vàng ngọc xa xưa bằng kỷ niệm bằng ký ức bằng tưởng tượng.

Đây là thơ của ba – Anh Phong cắt ngang ý nghĩ của tôi.

Hương hoa ngào ngạt mến thương nhiều
Điệu nhạc vang xa nhạt nắng chiều
Vương nhẹ giải mây hồn ngất lịm
Cỏ hoa thêu dệt lụa thương yêu
Sương gieo thoảng gió cây cành lá
Nhẹ cất chân son bước diễm kiều
Đường nẻo rộn vang reo nhịp bước
Sương đầy cây lá gió hiu hiu.

Ba tôi cắt nghĩa:

- Bài thơ trên ba không chú ý đến ý nghĩa mấy. Chúng con thử đọc ngược từ dưới lên trên đi.

Anh Phong reo lên:

- A tuyệt quá, được một bài thơ nữa:

“Hiu hiu gió lá cây đầy sương
Bước nhịp reo vang rộn nẻo đường
Kiều diễm bước son chân cất nhẹ
Lá cành cây gió thoảng gieo sương
Yêu thương lụa dệt thêu hoa cỏ
Lịm ngất hồn mây giải nhẹ vương
Chiều nắng nhạt xa vang nhạc điệu
Nhiều thương mến ngạt ngào hoa hương”.

Giọng cười hòa lẫn điệu nhạc mừng xuân vang lên trong căn phòng ấm cúng. Hạnh phúc ngang tầm tay với. Tôi muốn dìu thời gian bước thật chậm, để phút giây êm đềm này dừng chân đứng lại, để cho lòng tôi ngập lụt mến thương trong cảnh êm ấm gia đình.


THIỆN MỸ GIANG    


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông Xuân Nhâm Tý, 1972)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>