Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2015

CHƯƠNG VIII_BÀI THƠ KINH DỊ


CHƯƠNG VIII


Trọng Viễn lần mò mãi tới ba giờ chiều, bụng cồn cào đói meo. Suốt từ sáng sớm tới giờ này chàng chưa ăn một miếng gì vào bụng. Vội vàng đi theo đường lối điều tra mới, Trọng Viễn ăn tạm khúc bánh mì, uống ly cà phê sữa, đoạn hối hả lên đường ngay. Lần này không cần phải có Bão Tố, mà nói cho đúng, có cần cũng không thể được nữa. Con nghĩa khuyển đã bỏ mình vì công vụ. Tội nghiệp quá chừng!

Trực chỉ hướng phi trường, Trọng Viễn rảo chân bước. Khi đi ngang nhà viên đội kiểm lâm Phạm văn Danh chàng dừng lại, giơ tay gõ cửa. Danh đích thân ra mở.
Viên đội kiểm lâm trông hãy còn trẻ lắm, chỉ khoảng chừng hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi. Vóc người thấp nhỏ, gọn ghẽ trong bộ đồ sắc phục dạ màu xanh dương, nổi bật hàng khuy bằng đồng sáng loáng. Đối diện khách lạ, Danh đưa tay nhấc chiếc mũ “liège” bọc vải ka ki sậm, để lộ mái tóc đen mướt mịn, đôi mắt đen, tia nhìn nhanh loang loáng. Lúc mới đối diện nhau, chàng thanh tra cảnh sát chưa kịp nhận ra cái ánh mắt lanh lẹ đặc biệt ấy. Vành mũ đội sụp về phía trước đã che khuất mất.
Sắc diện viên chức ngành Thủy lâm này lộ rõ nét ưu tư vì biến cố mới xảy ra tại xã Phú Hộ, nơi gia đình anh cư ngụ, một khu vực diện tích chưa đầy hai chục cây số vuông, tin lành đồn nhanh, tin dữ lại được loan nhanh hơn nữa. Vì thế, khi Trọng Viễn mới tự giới thiệu họ tên, chức vụ, chưa kịp nói gì thêm, thầy đội Phạm văn Danh đã biết ngay lý do sự hiện diện của chàng thanh tra cảnh sát. Đi tới đâu thầy cũng nghe dân xã kháo nhau về cái chết của thằng nhỏ Ngây.

Trọng Viễn lịch sự ngã đầu chào:

- Ông làm ơn cho biết: kể từ buổi chiều thứ ba trở đi ông có thấy điều gì khác lạ hoặc có thấy người lạ mặt nào lảng vảng nội vùng xã ta đây không?

- Dạ không! Tôi không thấy một người lạ mặt nào lảng vảng quanh đây hết!

- Thế vào lúc đêm tối, ông có nhận thấy điều gì bất thường?

- Cũng không! À, à… để coi! À, phải rồi, khoảng ba giờ sáng, tôi nghe có tiếng máy bay cất cánh.

- Tiếng máy bay cất cánh khiến ông thức giấc? Tôi tưởng là ở gần phi trường lâu ngày ông nghe quen, nên không bị thức giấc giữa lúc đang ngủ ngon như thế chứ?

- Những chuyến bay đêm thường là hiếm lắm. Vả lại, dù có thì chúng tôi cũng không đến nỗi bị đánh thức giữa giấc ngon đâu. Thật ra thì ít bữa nay, chúng tôi không ngủ mấy. Nhà tôi có mang sắp tới ngày sanh… à không, mới được sáu tháng thôi, nhưng tính nết thay đổi, hay gắt bẳn nên chẳng đêm nào được ngủ yên giấc cả.

- Nếu vậy, chắc hẳn bà nhà đã nhận ra được một sự khác thường nào đó trong mấy ngày đêm gần đây?

Thầy đội Phạm văn Danh chớp mắt liền mấy cái. Trong một thoáng, thầy có vẻ như không muốn nhìn thẳng vào mặt khách.

Chợt nhận thấy ửng đỏ làn da vốn trắng xanh của thầy kiểm lâm, chàng thanh tra cảnh sát thoáng có ý nghĩ: “Dè dặt, e lệ chăng? Thanh niên gì mà nhút nhát”. Nhưng tư tưởng chưa kịp thành hình, Trọng Viễn đã khẽ nhíu cặp chân mày thật nhanh, rất nhanh, lấy lại ngay được vẻ mặt bình thản. Thầy đội kiểm lâm vô tình đã ghé sát mặt khách, trả lời:

- Ông cứ việc hỏi thẳng nhà tôi. Xin mời ông vào trong nhà!

Chàng trai nghe rõ câu trả lời, đồng thời “ ngửi ” được cả tiếng nói của Danh nữa, nó sặc sụa hơi rượu ngang (rượu đế).

Thầy đội né người nhường bước cho Trọng Viễn. Chàng thanh tra cảnh sát, ngay khi đặt chân lên ngưỡng cửa, đã nhận thức được ngay sự sạch bóng, sạch trơn của sàn gạch bông, tính chất giản dị mà không kém mỹ thuật của những bức tranh treo trên tường, sự hòa hợp êm dịu giữa các màu sắc của những bông hoa cắm trong bình. Dưới chân pho tượng Thần Vệ Nữ bằng đá trắng cao chừng bốn mươi phân, ai đã để một cuộn len hồng có bốn cây que đan sáng trắng xuyên qua.

Thầy đội Danh cất tiếng gọi vợ:

- Gấm à ! Gấm ơi !

Một thiếu phụ còn trẻ, rất đẹp, cử chỉ rụt rè, e thẹn bước ra. Khuôn mặt đẹp não nùng in rõ nét mệt nhọc, đôi mắt đỏ hoe. Khách chưa kịp nói gì đã nghe thiếu phụ khóc nấc lên:

- Ông tha lỗi cho… Quả tình tôi không sao gượng được… Từ lúc nghe tin thằng nhỏ Ngây…

Lời nói tắc nghẹn trong tiếng khóc nức nở.

Trọng Viễn ái ngại:

- Bà bình tâm lại đi! À, thế ra cháu Ngây thường hay đến đây chơi lắm?

Đôi mắt thiếu phụ sáng lên dưới đôi chân mày đen nhánh, mịn đẹp như mày ngài. Bàn tay trắng muốt với những ngón búp măng nuột nà giơ lên chỉ cuộn len hồng dưới chân pho tượng Thần Vệ Nữ:

- Dạ đúng thế đó, thưa ông ! Chúng tôi cũng quý nó lắm. Đây, trước ngày bị nạn, cháu còn đến đây, ngồi gỡ cho tôi cuộn len này. Nó cứ quanh quẩn bên tôi suốt ngày. Nhất là những buổi chiều sâm sẩm tối khi anh Danh phải đi khám rừng, thằng nhỏ không rời tôi một bước. Tội nghiệp, nghe tin cháu bị chết một cách thảm khốc như vậy, tôi…

Lời nói lại chìm trong tiếng khóc nấc lên, Trọng Viễn có cái cảm giác người đàn bà trẻ đẹp, đang thời kỳ mang thai, lại gặp những cơn xúc động như thế, rất có thể bị nguy hiểm, liền cố khuyên giải:

- Trong trường hợp đau thương quá đỗi như thế, ai mà không buồn. Chắc hẳn có nhiều đêm bà không thể nào nhắm mắt ngủ được?

Câu nói sau của chàng thanh tra cảnh sát chỉ là một câu an ủi rất thường. Không ngờ đối với nàng Gấm, vợ chàng đội kiểm lâm, câu nói ấy lại gây xúc động một cách lạ kỳ. Sắc diện thiếu phụ trẻ đẹp ửng hồng lên đoạn tái xanh ngay sau đó. Khóe miệng, hai làn môi đẹp như vẽ, lắp bắp:

- Không ngủ được! Đâu có, thưa ông ! Tôi đâu có nhát bóng tối! Tôi đâu có sợ ma!

Trọng Viễn thầm nghĩ: “Chưa chắc! Sự thực có lẽ trái hẳn thế!”. Nhưng chàng chỉ nói:

- Ồ, thế lại càng hay! Vì bà sắp sửa con bận con mọn đến nơi, có nhiều việc phải làm đấy.

Nàng Gấm đưa mắt ngó theo tia nhìn của chàng thanh tra cảnh sát đang chiếu lên mớ quần áo, tã lót nhỏ xinh. Câu trả lời của nàng có vẻ hơi vội vã:

- Ông nói đúng lắm! Nhưng đã có cô Tường Vân. Đó, mớ quần áo em bé toàn một tay cô cắt may hết đó, thưa ông. Thật đúng là một nàng tiên hiền dịu.

Nàng tiên hiền dịu! Trọng Viễn thầm cảm động. Chàng càng thấy quý mến người đàn bà trẻ đẹp đang đứng trước mặt mình: cái hình dung đầy tính chất mến phục từ miệng vợ thầy Danh nói ra quả rất xứng đáng với đức tính dịu hiền của cô con gái út bà Án cũng như thích hợp với tấm nhan sắc thùy mị đáng yêu của nàng.

Trọng Viễn mơ màng với hình ảnh Tường Vân hiện ra trong ký ức. Chàng bất giác mỉm cười bâng quơ. Tuy nhiên, thái độ ngủ mơ ấy không khiến chàng mờ mắt mà không nhìn thấy nàng Gấm đã lại rưng rưng nước mắt và rất nhanh, một bàn tay của thầy đội Danh mơn nhẹ lên bàn tay vợ âu yếm thiết tha.

Chàng “thanh tra tài tử” không muốn chứng kiến cảnh buồn thảm ấy thêm nữa liền đứng dậy xin phép rút lui.

Trước khi bỏ đi, Trọng Viễn còn dừng lại trên bậc thềm. Cánh cửa nhà thầy đội Phạm Văn Danh đã đóng sập ngay khi khách vừa bước ra. Chàng rút bút chì hí hoáy ghi vào sổ tay cuộc viếng thăm thầy đội Danh và những cảm nghĩ liên hệ. Chợt, chàng trai ngưng viết, lắng tai. Có tiếng léo xéo đối thoại gay cấn giữa đôi vợ chồng trẻ.

Rõ ràng tiếng người vợ:

- Anh lại uống nữa đó hả?

Giọng nói của người chồng hơi sẵng:

- Mình im đi! Tôi làm gì mặc tôi! Nói hoài!

- Anh Danh! Đừng uống nữa, khổ quá, sinh bệnh thì lại khổ nữa, bỏ xuống đi!

- Một lần nữa, anh yêu cầu mình! Im đi!

Tiếp đó là tiếng nức nở của người thiếu phụ xinh đẹp

Quay phắt lại, Trọng Viễn, tay trái gõ cửa, đồng thời tay phải xoay quả đấm sứ, đẩy mạnh. Lịch sự hay bất lịch sự, hậu xét: Gõ cửa là một hành động lễ phép tế nhị. Nhưng gõ mà đồng thời lại mở tung cánh cửa nhà người ta ra ngay thì cái gõ ấy cũng mất hết ý nghĩa hay ho của nó. Chàng trai đã biết rõ như thế, nhưng…

Chàng bắt gặp viên đội kiểm lâm đang nốc một ly cối “rượu ngang”. Nàng Gấm đứng sát bên buông vật tay xuống. Cái bàn tay ấy đã giơ lên giật ly rượu của chồng nhưng anh ta nắm chắc quá, giật không được.

Mỉm một nụ cười thân thiện, sắc diện thản nhiên vờ đi như người không bắt gặp quang cảnh vừa xảy ra, Trọng Viễn hỏi thầy đội:

- Quên không hỏi thầy: lối nào gần nhất ra phi trường hả thầy?

Viên đội kiểm lâm làm một cử chỉ hoảng hốt như cố ý muốn che giấu chai rượu. Đồng thời, tia mắt hướng về chàng thanh tra cảnh sát lộ vẻ băn khoăn, chứa đựng một câu hỏi câm nín.

- "Chẳng hiểu ông cảnh sát này đã nhìn thấy chưa đây?"

Mãi sau, ông chủ nhà mới đặt chiếc ly không xuống mặt bàn, theo khách bước ra cửa. Nàng Gấm cũng theo tiễn Trọng Viễn. Đôi mắt thiếu phụ đỏ hoe, làn môi đẹp cố nở một nụ cười gượng gạo.

Sau khi được thầy độichỉ đường cặn kẽ, Trọng Viễn bước đi. Một mình rảnh rang, vừa đi, chàng vừa ngẫm nghĩ:

- Phần nhiều cái vỏ bề ngoài nào cũng đều giả dối cả. Mới trông thì cái tiểu gia đình này coi bộ trong ấm ngoài êm lắm. Vậy mà thầy đội trẻ trung này lại nghiện rượu hơi nặng. Kể ra cũng có nhiều thanh niên không nghiện ngập gì đâu nhưng lại cứ làm ra vẻ ta đây “chì” lắm. Thích được người đời gọi là “tửu lượng một cây”. Hừ! Bà vợ có vẻ khổ tâm dữ ạ! Vết rạn nứt đã bắt đầu đe dọa hạnh phúc lứa đôi rồi đó. Loài người... tội nghiệp quá! Đời đúng là... bể khổ!

Cuộc viếng thăm các giới chức chỉ huy tại phi trường Phủ Đoan diễn tiến một cách dễ dàng giản dị. Trọng Viễn vui vẻ hỏi chuyện Thiếu tá chỉ huy phó. Vị sĩ quan này tuy đã đứng tuổi, nhưng rất niềm nở, nói chuyện vui như Tết:

- May mắn cho ông quá! Trung úy Dưỡng tuy kém tuổi tôi rất xa nhưng chúng tôi vẫn coi nhau như bạn. Tưởng ông cần hỏi tin tức về ai kia thì còn khó. Các sĩ quan phi công dưới quyền tôi ở đây thường là đi đi về về thất thường lắm. Riêng trung úy Dưỡng thì lại khác… Tôi có thể nói chắc cho ông biết rằng: từ khi đổi về Hà Nội, anh ta chỉ quay về đây có mỗi một lần vào đêm 12 rạng ngày 13 dương lịch.

Trọng Viễn khẽ giật mình nhưng không để lộ ra. Đêm 12 rạng 13! Đúng thời gian Sinh và thằng bé Ngây mất tích. Trí óc thì nghĩ như vậy, sắc mặt chàng thanh tra cảnh sát vẫn thản nhiên, không cả một cái chớp mắt. “có thế chứ!”. Chàng khấp khởi mừng thầm và nói to:

- Trung úy Dưỡng về chơi đây rồi ở lại có lâu không, thưa thiếu tá?

- Không, lâu gì đâu! Sau bữa cơm tối, hắn và tôi cùng hai người nữa ngồi đánh tam cúc. Hồi mười một giờ rưỡi, Dưỡng xin phép đi chơi. Tôi nói đùa: “Đi đâu vào giờ này, Dưỡng? Coi chừng, đừng đi quá mười hai giờ khuya nghe! Quá nửa đêm là qua ngày 13 rồi đấy! Con số 13 là con số rủi. Cẩn thận nghe bạn!” Hắn chỉ cười xòa rồi bỏ đi.

- Thế rồi, trung úy Dưỡng không quay trở lại nữa?

- Có chứ! Khi Dưỡng quay trở lại, đồng hồ chỉ 2 giờ sáng. Bàn tam cúc của chúng tôi cũng vừa tan. Trong khi Dưỡng vắng mặt, thiếu một chân, tôi đã phải cho đi tìm người khác thay thế và tiếp tục chơi bài. Tôi liền dặn Dưỡng hãy về nhà tôi trước, chờ giờ cất cánh: 3 giờ sáng. Dưỡng nghe theo ngay. Đó, thời dụng biểu của hắn chỉ có thế thôi. Giản dị lắm.

Trọng Viễn gật đầu:

- Cám ơn thiếu tá nhiều lắm. Thiếu tá có biết chỗ Trung úy Dưỡng đi chơi khoảng thời gian từ nửa đêm tới 2 giờ sáng là nơi nào không?

- Cái đó thì tôi xin chịu, không biết. Mấy anh em chúng tôi ai nấy cũng lấy làm lạ về cái giờ đi chơi khuya khoắt của Dưỡng. Mọi người ở đây đều biết hắn muốn hỏi cưới cô con gái lớn của cụ Án Bùi. Nhà đó gia pháp nghiêm lắm. Vậy, nhất định không phải là Dưỡng mò đi tìm người yêu vào giờ ấy đâu.

Kèm theo câu nói là một nụ cười hóm hỉnh của vị sĩ quan đứng tuổi nhưng hãy còn nhiều thanh niên tính. Nhưng liền sau đó, ông lại nghiêm ngay sắc mặt:

- À, thưa ông thanh tra! Ông tha thứ cho cái lỗi của tôi là hơi tò mò một chút. Vì lẽ gì mà ông lại chú trọng đến giờ giấc, cần biết thời dụng biểu của Trung úy Dưỡng bạn tôi dữ vậy? Có điều rắc rối nghiêm trọng gì chăng?

- Thưa thiếu tá! Chắc thiếu tá cũng đã nghe tin vụ mất tích rất bí mật của cậu con trai cụ Án Bùi. Đó là lý do khiến tôi cần phải tìm hỏi hết thẩy những ai là thân nhân của gia đình ấy.

- Nhưng Dưỡng đâu có phải là thân nhân. Hắn cũng chưa được chấp nhận là rể cụ Án, ngay cả với tính cách tạm thời nữa kia mà.

- Thiếu tá nói đúng. Xin thêm vào câu tôi nói vừa rồi. Ngoài các thân nhân ra, tôi còn phải điều tra cả, nhất là cả… những kẻ thù nghịch và những kẻ có thể sắp trở thành thù nghịch với gia đình cụ Án nữa.

- Dưỡng không phải kẻ thù mà cũng chẳng phải là kẻ sắp trở thành thù nghịch với gia đình ấy. Hắn chỉ tự coi mình là nạn nhân của một thành kiến giai cấp, một thành kiến tai hại mà hắn sẽ cố gắng chiến thắng cho bằng được mới nghe. Hắn kiên tâm lắm, và một khi đã nói là làm.

Vị chỉ huy nhè nhẹ gật đầu, ánh mắt đượm buồn xa vắng. Ông nói tiếp:

- Dưỡng đã nhiều phen nổi giận lôi đình. Thế thôi! Chứ còn chuyện thù hận, theo tôi, không thể có đâu.

- Theo thiếu tá nhận xét thì Trung úy Dưỡng khi nổi cơn phẫn nộ, liệu có thể trở nên nguy hiểm hay không?

Vị thiếu tá khẽ cau cặp lông mày lại nhìn Trọng Viễn:

- Trở nên nguy hiểm? Nguy hiểm thế nào? Ông nói nguy hiểm là có ý tứ gì chứ? Hay là ông muốn cho tôi nói rằng: Dưỡng trong lúc tức giận cực điểm có thể đã thủ tiêu chàng công tử con một của cụ Án. Lầm! Ông lầm rồi! Trung úy Dưỡng đời sống nội tâm rất quân bình, không khi nào hắn lại xuống tay làm một hành động gì mà không thể cứu vãn được bao giờ. Bạo hành để trừng phạt kẻ nào làm nhục, khiêu khích hắn, điều đó thì Dưỡng sẵn sàng…

Chàng thanh tra cảnh sát gật gật đầu, đồng thời âm thầm ngẫm nghĩ: “Bạo hành!... rồi lỡ tay làm quá trớn là một điều xẩy ra chẳng mấy khó!”

- Thưa thiếu tá! Tôi mong được gặp trung úy Dưỡng! Thiếu tá làm ơn cho biết có cách nào…

- Rất tiếc! Ngay bây giờ thì không có cách gì. Dưỡng có công tác phải bay vào phía Saigon. Mười ngày nữa mới về.

- Công tác tại phía Saigon? Thiếu tá làm ơn cho biết: chuyến đi này là do thượng cấp chỉ định hay Trung úy Dưỡng tình nguyện xin đi?

- Trên tôi còn có một vị Trung tá. Để tôi hỏi lại cẩn thận rồi báo cho ông biết vào sáng mai nhé!

Tiếp theo câu nói của vị sĩ quan không quân là im lặng. Chàng thanh tra cảnh sát thầm so sánh những câu trả lời của vị Thiếu tá với lời nói của thầy đội kiểm lâm Phạm văn Danh. Thì ra, hai vợ chồng ông này đã nghe tiếng máy bay cất cánh, đúng là chuyến bay của Trung úy Dưỡng. Vậy, không một dấu vết gì của Sinh hết. Mà theo câu vè của mụ Phé thì: “Không chừng cậu ngự trên cao”. Thế là thế nào? Rồi lại không một chứng tích gì để biết được chàng Trung úy phi công kia đã đi tới đâu làm những gì khoảng thời gian từ nửa đêm đến 2 giờ sáng trong cái đêm kinh hoàng 12 rạng sáng ngày 13 dương lịch ấy?

Trọng Viễn đứng lên:

- Xin Thiếu tá cho được hỏi một câu chót. Thiếu tá đã có dịp nào để ý Trung úy Dưỡng hút thuốc lá? Ông ta hay hút loại thuốc nào?

- Thường ngày hắn hút loại nào tôi không biết. Nhưng tôi còn nhớ cái đêm chơi tam cúc đó, Dưỡng có đưa mấy người đánh bài và tôi hút thuốc con Mèo.

Sau khi nồng nhiệt cám ơn ông Thiếu tá tại phi trường Phủ Đoan, Trọng Viễn quyết định quay trở về biệt thự cụ Án.

Đêm đã xuống. Sương mù tăng thêm cái lạnh cắt da. Khi đi ngang nhà thờ, chàng thanh niên đi chậm lại, ngẫm nghĩ:

- Hay ta ghé vào làm quen với linh mục cha xứ tại đây?

Khi vừa tới gần hàng rào bằng gỗ quét vôi trắng bao quanh khu vườn nhà thờ, Trọng Viễn bất chợt thụt lui nép mình vào trong bóng tối. Cánh cửa nhỏ bên hông thánh đường mở bật ra. Giữa ô ánh sáng, in rõ hình hai bóng đen. Chàng trai nhận rõ bóng áo thụng đen của cha xứ và một người đàn ông vóc dáng quen lắm hình như đã gặp tại một chỗ nào đó rồi thì phải. Nhưng Trọng Viễn không thể nhận ra vì chiếc áo “trench coat” và cái mũ nồi lớn của người khách bí mật. Cha xứ rủ rỉ nói gì với gã, hình như khuyên nhủ, trấn an gì đó. Bàn tay vị tu sĩ luôn luôn đập khẽ lên vai người đàn ông một cách dịu dàng thân mật.

Khách lạ đứng quay lưng về phía ánh sáng nên Trọng Viễn không thể nhìn được mặt. Chàng chờ cho gã đi ra khỏi khu vườn, mới rời chỗ nấp, móc một điếu thuốc lá định tiến nhanh lên cho kịp người lạ mặt, xin chút lửa. Chưa được bốn bước chân, khách lạ đột nhiên nhẩy vút một cái sang bên trái, lao người vào bóng đêm, chạy nhanh như tên bắn.

Trọng Viễn cũng lao người chạy theo hút, nhưng chưa đầy mươi giây sau chàng đã nhận thức được ngay: đuổi vô ích. Kẻ đào tẩu chắc hẳn biết rất rõ địa hình địa vật chốn này. Và nhất là trời đêm tối đen như mực khó mà biết được hắn chạy theo lối nào.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IX

CHƯƠNG VII_BÀI THƠ KINH DỊ


CHƯƠNG VII


Nỗi kinh hoàng do câu nói của chàng trai gây ra lên tới mức khiến bà Án, Tường Vân, cô giáo Bạch Xuyến ngây người như kẻ mất hồn. Ngay đến bà Cầm cũng bàng hoàng sửng sốt, quên bẵng đi được trong giây phút niềm đau khổ đang ray rứt trong lòng.

Bà đứng phắt dậy, hét lớn:

- Sai! Ông nói sai!

Trọng Viễn chiếu tia mắt ngó bà đăm đăm:

- Cái gì sai? Bà bảo tôi nói sai? Cái gì sai mới được chứ?

- Ông nói sai! Đời nào cậu Sinh lại nỡ giết chết cháu tôi!

Chàng thanh niên vẫn điềm đạm buông từng tiếng một:

- Tôi có nói thế đâu. Tôi chỉ nói rằng chiếc khuy này ở trong tay của thằng Ngây. Và chiếc khuy bị dứt đứt khỏi áo vét trong một cuộc giằng co vật lộn. Tôi dám nói chắc như vậy. Lỗ khuy còn dính còn dính cả mấy sợi chỉ rõ ràng mà.

Bàn tay lại được mở ra cho mọi người xem xét chiếc khuy tang vật.

Ánh mắt bà Án mờ đi. Nhưng chỉ một thoáng nhãn quang bà lại quắc lên. Cằm hất cao, bà cất tiếng đanh thép:

- Không! Nhất định không nghi cho thằng Sinh làm bậy như thế được. Bây giờ lại cần hơn hết cả bao giờ, phải tìm cho bằng thấy con tôi dù nó còn sống hay là đã chết. Nếu thằng Sinh còn sống, nó phải tự chứng minh được là mình vô tội. Trường hợp trái lại – Giọng bà Án chợt đổi khác, khàn hẳn đi, nghẹn ngào, ướt sũng, – thì… thì… thi thể của nó sẽ cho chúng ta biết được sự thật. Tôi tin chắc như thế.

Bà Án nói là bà tin chắc như thế. Nhưng Trọng Viễn, chàng lại không tin chắc gì cả. Tuy nhiên, nể lòng bà Án, chiều ý Tường Vân, chàng đành phải hứa cho xuôi:

- Thôi được! Chúng tôi sẽ tìm cho ra, sẽ tìm cho bằng được. Con Bão Tố của tôi đây sẽ giúp tôi một cách đắc lực. Bà làm ơn cho tôi mượn một món đồ gì của cậu Sinh vẫn dùng thường ngày. Một cái quần hay một cái áo gì đó.

Bà Án vẻ mặt phờ phạc, uể oải đứng lên.

Tường Vân lanh lẹ hơn, đã từ phòng Sinh chạy xuống, tay cầm chiếc mũ nồi anh nàng vẫn đội những khi đi săn.

Trọng Viễn đỡ cái mũ từ tay cô gái.

- Cám ơn cô.

- Ông có thể cho tôi đi theo phụ giúp ông một tay?

Chàng thanh tra thoáng rùng mình khi chợt nhớ lại hình ảnh ghê rợn: cái cũi chó, thi thể thằng Ngây. Rồi ngày hôm nay sẽ còn những gì ghê gớm nữa đây?

Chàng từ chối phắt:

- Không được đâu, cô Tường Vân. Tôi biết là cô đang nóng lòng sốt ruột lắm. Có điều, con Bão Tố này chỉ chịu làm việc khi có mình tôi với nó mà thôi. Vả lại, – Trọng Viễn vội vã nói thêm khi nhận thấy cô gái có vẻ ủ rủ, buồn phiền ra mặt – vả lại sự hiện diện của cô ở nhà cần thiết hơn.

Chàng ra dấu cho Tường Vân bằng cách đưa mắt nhìn quanh một vòng trong phòng. Bà Án, bà Cầm thẫn thờ ngồi tại ghế bành, sắc diện nặng trĩu ưu tư nom thật tội nghiệp.

Trọng Viễn không nói ra miệng nhưng Tường Vân cũng đã ý thức được rõ rệt là sự trẻ trung hồn nhiên sống động của nàng tại nơi này là một điều cần thiết để gây lại sinh khí cho mọi người.

Khi không còn ai để ý, Trọng Viễn đưa chiếc mũ nồi tới gần mõm Bão Tố. Con chó to lớn hỉnh mũi ngửi, hít hít đánh hơi, chạy quanh một vòng, đoạn kéo chủ băng xuống đồi, chạy qua một đám ruộng mạ, lao vun vút tới cánh rừng già. Năm phút sau, hai thầy trò đã tới bìa rừng. Trọng Viễn dừng chân, ngập ngừng mấy giây, trước khi bước vào bóng râm mát của những cây vàng tâm vĩ đại, thân to lớn có tới năm sáu người ôm không xuể.

Chàng thanh tra cảnh sát ngẫm nghĩ:

- "Cánh rừng này coi bộ âm u bí hiểm dữ. Biết đâu trong đó lại chẳng có một vài cái bẫy sập đang đợi mình tới nạp mạng đây".

Bão Tố đã mất hút. Động tác nhanh nhẹn của con nghĩa khuyển khiến chàng trai hết cả do dự. Trọng Viễn lớn bước tiến vào. Đi hết một quãng, tới đầu một lối đi lượn vòng, đã thấy con chó đứng sững dưới gốc một cây thông lớn, quay đầu lại nhìn chủ mà sủa "gầu, gầu". Trọng Viễn dấn bước. Đúng lúc đó, một phát súng nổ xé bầu không khí tĩnh mịch, đạn kêu "chíu" một tiếng lướt ngay cạnh tay chàng trai. Con Bão Tố gục xuống chết ngay tại chỗ.

Trọng Viễn nằm sấp, dán người xuống mặt đất, chân tay không động cựa. Bốn bề lại vắng lặng như tờ. Thời gian như ngưng đọng lại. Có tới ba phút sau, Trọng Viễn mới hết sức thận trọng nhúc nhích từng chút một. Chàng nghiêng người từ từ ngóc đầu ngó lại phía sau. Hàng chục giả thuyết hiện lên trong đầu óc sôi sục.

- Hừ! Kẻ địch vô hình đang ẩn nấp tại chỗ nào? Chắc đúng là Sinh rồi! Thì ra câu thơ của mụ Phé nói đúng : "Chăn chiên hóa sói đổi nghề". Sinh đã chẳng là người vẫn bao dung che chở cho thằng Ngây đó sao? Rồi bây giờ Sinh lại giết chết thằng bé! Mà giết để làm gì chứ? Bí mật! Người vừa bắn phát súng không là Sinh thì còn ai vào đấy. Chắc hẳn cậu sợ bị người ta phát giác.

Nghĩ đến đó, Trọng Viễn cảm thấy hơi yên tâm. Bức hình chàng con trai cụ Án Bùi, khuôn mặt chân thật dễ thương hiện rõ trong ký ức chàng thanh tra cảnh sát.

- Quả không phải là một kẻ sát nhân đã hoàn toàn mất hết lương tri. Thì ra "hắn" chỉ nhằm hạ sát con chó mà thôi. Nếu chủ ý giết mình thì hắn đã bắn trúng rồi chứ. À, nhưng tại sao phát súng lại từ phía sau lưng mình bắn tới nhỉ? Trong khi đó, con Bão Tố đang lao đầu chạy về phía trước. "Hắn" sợ con chó sắp phát giác ra cái gì chăng?

Càng nghĩ, Trọng Viễn lại càng thấy đầu óc nóng ran. Con Bão Tố gục chết khiến chàng đau buồn không để đâu hết, không còn đủ sáng suốt để suy nghĩ về công việc nữa. Trọng Viễn chép miệng, lắc mạnh đầu, bò trườn tới gần chỗ con chó yêu quý, áp má xuống mặt cỏ, ghé trán sát vào cái mõm bất động hãy còn hơi ấm của con nghĩa khuyển. Kẻ địch ẩn nấp đâu đó chắc hẳn trông thấy rõ hết”. Nhưng bốn phía vẫn im lìm…

Trọng Viễn liền ngồi phắt dậy, bồng Bão Tố đặt lên vai, quay bước trở ra bìa rừng. Chàng thanh tra cảnh sát lại chép miệng một lần nữa, nghiến răng nghiền ngẫm ý nghĩ gai góc: “Gã sát nhân vẫn nhìn chàng theo dõi. Thân hình chàng và Bão Tố vẫn hiện rõ trước mắt hắn… qua lỗ chiếu môn”.

Trí óc chàng trai lại bắt đầu làm việc:

- Tên sát nhân muốn cản Bão Tố lại, không cho tiến bước. "Hắn sợ con chó tiến bước tới chỗ nào, tới cái gì mới được chứ? Phát súng từ phía sau lưng mình bắn tới. Như vậy có nghĩa là “hắn” đứng nấp ở bìa rừng, lối đi vào. Và ở phía đối diện hắn chắc phải có một tên đồng lõa? Cần lục soát trong rừng một phen nữa mới được.

Trọng Viễn dấn bước tiến về phía biệt dinh cụ Án. Kịp nghĩ lại, chàng rẽ vào nhà bà Cầm đặt xác Bão Tố kế bên thi thể thằng Ngây. Rồi đứng lặng, Trọng Viễn đưa mắt nhìn xác người, xác con vật, trong lòng rưng rưng… Đã chứng kiến rất nhiều cảnh thương tâm não ruột quen lắm rồi. Nhưng trước cảnh tượng giây phút này đây, người và vật nằm sóng sượt bất động, một được che đậy, một lộ liễu, hai nạn nhân ngây thơ vô tội, một thằng bé chưa đủ sức tự vệ và còn một con chó khôn ngoan, chàng thanh tra cảnh sát cảm thấy đau thương tràn ngập trong lòng.

Trọng Viễn băn khoăn tự hỏi:

- Không lẽ tên Sinh này đột nhiên lại biến thành quỹ dữ?

Và chàng quyết định sẽ giữ toàn bí mật. Quấy rộn làm chi mấy người đàn bà yếu đuối chỉ mong sao cho được yên thân. Rồi lỡ ra tai vách mạch rừng…! Biết đâu? Phải dè dặt đề phòng hết sức mới được.

Về tới gần hàng rào sắt mắt cáo, Trọng Viễn thấy ngay bác tài xế tên Giang đứng đó như có ý đợi chờ, miệng phì phèo điếu thuốc lá. Anh Giang, khi trông thấy Trọng Viễn, mỉm một nụ cười thân thiện. Nhưng chàng trai, cơn xúc động chưa hết, lại cảm thấy khó chịu trong lòng, thắc mắc không hiểu bên trong cái thái độ niềm nở này liệu có những ẩn ý gì không? Bác tài giơ ra khoe mẩu thuốc lá lạ Trọng Viễn nhờ kiếm giùm và bác đã khổ công bới tìm đống rác ở cuối vườn.

Chàng thanh tra cảnh sát mân mê nhìn chăm chú mẩu thuốc lá lạ đoạn nói ngay:

- Craven A, thuốc con Mèo!

Sau mấy phút suy nghĩ, Trọng Viễn hạ thấp giọng, hỏi bác Giang:

- Cái cô Duyên má lúm đồng tiền đó có người yêu chưa thế, bác Giang?

Tài xế Giang nheo nheo đôi mắt, mỉm cười hóm hỉnh:

- Cậu cứ hỏi thế! Tôi có theo chân cô ấy đâu mà biết được! Chẳng thấy gì lạ cả, nhưng… các cô gái xuân xanh hơ hớ ấy, có trời mới biết được!

Chàng trai ngầm nghĩ: “Biết đâu người yêu của nàng Duyên lại chẳng là anh chàng phì lủ đang đứng trước mặt mình đây? Phải hỏi cho ra mới được!”

Rảo bước lên phòng riêng, Trọng Viễn gặp ngay chị Duyên trong hàng ba liền dừng chân giữ lại và nói luôn một câu chuyện dựng đứng:

- Tôi vừa nói chuyện với anh chàng Giang của chị đồng thời hay rằng chị biết nhiều chuyện lắm mà chẳng chịu nói gì cả.

Nàng Duyên ngây người ra mấy giây nhưng lấy lại được bình tĩnh rất nhanh:

- Thưa cậu, trước hết xin cậu biết cho rằng Giang không phải “chàng” của tôi. Và nếu một ngày nào đó cần phải tuyển lựa một chàng cho tôi thì người ấy ắt không thể là một người “bồ sứt cạp” như chàng Giang đâu.

Mấy tiếng “bồ sứt cạp”, “chàng Giang”, khóe miệng xinh xinh của chị Duyên nói ra kèm theo ánh mắt nhung quắc lên như có ý bực mình với chàng thanh tra cảnh sát.

Trọng Viễn mỉm cười vui vẻ, lợi dụng ngay nhược điểm tâm lý của người đang đối thoại với mình:

- Tôi chắc rằng chị Duyên thông minh tháo vát sẽ có thể giúp được tôi nhiều lắm. Thế cái đêm thứ ba 12, rạng sáng thứ tư 13 dương lịch ấy, chị thấy ở đây có cái gì khác lạ không, chị Duyên?

Lời khen ngợi đã khiến chị Duyên thích thú. Sau gần một phút ngập ngừng, chị đảo mắt nhìn quanh e ngại. Nhận ra đứng trong hàng ba nói chuyện là điều bất lợi, Trọng Viễn liền đưa chị vào phòng khách đoạn lẹ tay khép cánh cửa lại.

- Sao? Tôi hỏi chị …

- À có điều này cậu! Trong đêm trước buổi cậu Sinh mất tích, khoảng 12 giờ, 12 giờ rưỡi gì đó, tôi thấy cô Tường Lan lên phòng cậu Sinh. Rồi hai chị em cãi cọ chuyện gì to tiếng lắm. Hét cứ rầm lên ấy.

- Chị có nghe rõ vì sao họ cãi nhau không?

- Không cậu ạ! Chỉ nghe cậu Sinh quát lên: “Đồ con gái hư thân! Con gái hư thân!”. Thật là một sự rất lạ. Ngày thường, đối với chị và em gái, cậu ấy vẫn hiền từ lễ phép lắm

- Nhưng chị nghe được những tiếng ấy bằng cách nào?

Sắc mặt chị gia nhân ửng hồng:

- Tôi đứng sau cánh cửa. Nghe rõ ràng cả tiếng bước chân cô Tường Lan lúc đi ra mà.

- Thế chị không ngủ sao?

- Tôi mải xem tiểu thuyết. Nghe tiếng cãi cọ ầm ầm liền đứng dậy, mò ra coi, rồi tôi đi theo hút cô Tường Lan.

- Để làm gì vậy?

Chị Duyên hạ thấp giọng:

- Để xem cô Lan có hẹn hò lén lút với ai không? Té ra có thật cậu ạ. Bà mà biết thì chết. Sao cô ấy lại liều thế không biết. Bà thường hay đe nẹt tôi: “Này Duyên! Không được đi xem hát tuồng chèo đêm hôm tăm tối nghe chưa!... Bà thấy thằng con trai ông cai San cứ nhấp nháy với mày đó! Coi chừng, nghe!”… và… và… ui chao. Ghê lắm cậu ơi! Bà cứ hay mắng tôi là “vô duyên chưa nói đã cười”. Lắm lúc xấu hổ đến chết đi được. Thành thử tôi phải cố làm sao bắt gặp được cô Tường Lan hò hẹn với người yêu để có thể nói thẳng cho bà biết rằng con gái quý của bà cũng chưa chắc hay ho gì hơn tôi đâu, đừng có làm phách.

Trọng Viễn ngó chị gia nhân bằng một cái liếc xéo:

- Vừa rồi, chị nói là nấp sau cánh cửa nghe lỏm chuyện. Vậy chắc chị đã biết vì lý do gì cậu Sinh nổi trận lôi đình cãi nhau với chị cậu ấy chứ?

Chị Duyên nghe chàng thanh niên nói như vậy thì lộ vẻ không bằng lòng , trả lời cấm ca cấm cảu:

- Nghe lỏm chuyện! Việc gì mà tôi phải nghe lỏm chuyện. Trong nhà này mỗi khi có điều to tiếng thì chẳng ai cần phải nấp núp nghe lỏm gì cũng biết được ngay rằng chỉ là chuyện người yêu của cô Tường Lan mà thôi.

- Cô Tường Lan năm nay bao nhiêu tuổi, chị Duyên?

- Hai mươi hai. Cô ấy chỉ thích được kết hôn với một Trung Úy phi công tại trường bay Phủ Đoan gần đây này. Cách chừng hai ba trăm thước thôi cậu ạ.

- Ai ngăn cấm không cho cô Tường Lan kết hôn với ông Trung úy phi công ấy?

- Bà, rồi đến cậu Sinh. Cậu Sinh, không phải là khắc nghiệt, rắc rối gì. Có điều, cậu ấy rất không ưa cái lối tán tỉnh chị hoặc em gái cậu một cách không đứng đắn, nhất là người tán tỉnh ấy lại không phải là con ông cháu cha hoặc con nhà giàu có gì. Trời! Nếu cậu ấy được chứng kiến bữa ông Trung úy phi công tên Dưỡng đích thân đến đây nói chuyện với bà về chuyện xin hỏi cưới cô Tường Lan.

Chị Duyên say sưa nói chuyện. Trọng Viễn lợi dụng ngay ngay giây phút xuất thần của chị gia nhân trong gia đình cụ Án. Chàng giả bộ ngạc nhiên:

- Một ông Trung úy phi công! Kể cũng đã oai lắm rồi đấy chứ!

- Phải, oai lắm! Nhưng xét về gia thế kìa! Hình như anh chàng Trung úy ấy không cha không mẹ, trước kia ở viện mồ côi ra thì phải.

Trọng Viễn cố bình tĩnh đứng nghe, âm thầm suy nghĩ: “Tình hình mỗi lúc lại càng thêm phức tạp. Vậy thì có thể, thay vì là hung thủ phạm tội ác, Sinh lại chính là nạn nhân?... Nhưng, thi thể của thằng Ngây còn nằm chình ình ở trại Con kia chẳng là chứng cớ rành rành buộc tội chàng con trai cưng của cụ Án một cách… hết sức hùng hồn đó sao?”

- Thế cô Tường Lan có bực mình với cậu Sinh lắm không?

- Bực mình chứ sao lại không hả cậu? Có cái là cũng sơ sơ thôi... Vì lẽ, mặc dầu cậu Sinh có ý cản trở, nhưng dạo ấy, hai người, cô Tường Lan, cậu Trung úy Dưỡng vẫn tiếp tục gặp nhau mà.

- Vẫn tiếp tục gặp nhau? Ở đâu hả chị Duyên?

- Lúc thì ở ngoài phố chợ Phú Hộ. Thường thì nhằm các buổi lễ chầu sáng Chúa nhật. Thoáng gặp nhau trong giây lát chừng hai ba phút thôi. Nhưng chừng đó cũng đã đủ để thông báo cho nhau một cuộc hẹn hò vào một ngày giờ, địa điểm nào đó, lâu dài và chắc chắn hơn.

Đột nhiên, chị người làm lắm chuyện chợt im bặt, vẻ mặt lo lắng:

- À, nhưng này cậu! Những điều tôi nói với cậu xin chớ kể lại cho bà nghe, nghe! Tôi cứ thích giữ kín, để dành đó khi nào thuận tiện tôi mới nói cho bà hay kìa.

- Dĩ nhiên là tôi không kể lại cho bà Án nghe đâu. À, hồi nãy chị có nói : "nhưng dạo ấy, hai người, cô Tường Lan và cậu Trung úy Dưỡng vẫn tiếp tục gặp nhau được". Thế bây giờ thì sao? Bây giờ đôi uyên ương không thể gặp mặt nhau được nữa hay sao?

- Đúng thế đó cậu! Cậu Dưỡng đã phải đổi về Hà Nội được một tháng nay rồi kia mà.

- Một tháng nay? Và từ ngày ấy, cậu ta chưa về đây chơi một lần nào hết?

- Có lẽ thế! Từ dạo đó, tôi chưa gặp lại cậu ta một lần nào.

Trọng Viễn ngỏ lời cám ơn cô gia nhân xinh đẹp nhà cụ Án. Nàng Duyên quày quả bước đi, nét mặt "kên, kên" ra cái điều ta đây cũng là một nhân vật quan trọng trong tòa biệt thự giàu có sang trọng này.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VIII

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

CHƯƠNG VI_BÀI THƠ KINH DỊ


CHƯƠNG VI


Trong câu trả lời, chàng “thanh tra tài tử” đã cố gắng hết sức dè dặt. Vậy mà khi thấy bà Cầm run bắn lên, Trọng Viễn lại hối tiếc là đã lỡ lời. Bà già la khóc ầm ĩ:

- Không đem được về đây! Không đem được về đây. Mà tại sao chớ, hả trời?

Chàng trai phải xốc nách bà cụ, hầu như bồng hẳn bà lên, trên đường đi tới biệt thự bà Án Bùi.

Chợt thấy cung cách hai người, bà Cầm lả người trong tay chàng thanh tra cảnh sát, nữ chủ nhân giật thót mình linh cảm ngay rằng chắc đã xẩy ra điều gì ghê gớm lắm.

Trọng Viễn nhanh mắt vội vã giơ tay cho bà Án ra dấu xin đừng hỏi han gì vội, đồng thời nhẹ nhàng dìu bà Cầm cho ngồi vào một chiếc ghế bành. Bà già gục xuống, úp mặt vào hai bàn tay, nức nở. Chàng thanh niên khẽ đưa mắt ra ý mời bà Án theo mình ra ngoài.

Sắc diện nữ chủ nhân nhợt ra như màu sáp ong. Bà nói không ra hơi:

- Có tin gì ghê gớm lắm phải không anh thanh tra?

- Tin ghê gớm cho bà Cầm, vâng, có! Còn cho bà thì chưa! Bà cứ yên trí!

- Tin ghê gớm cho bà Cầm? Gì thế? Trời ơi, tại sao ông không nói rõ ra cho tôi nghe đi?

- Rùng rợn quá! Thưa bà! Tôi đã phát giác ra thi thể của thằng Ngây!

- Ở đâu?

Trọng Viễn ghé sát tai bà Án, hạ thấp giọng:

- Trong một cái cũi chó cũ bỏ tại góc sân bên trại Con.

Đôi mắt bà chủ trợn to tưởng chừng muốn rách khóe. Miệng bà lắp bắp nhắc lại như đọc thuộc lòng.

- Trong một cái cũi chó...

Vậy thì ra, câu vè của mụ Phé…

Hai hàm răng va vào nhau lộp cộp, bà Án lẩm bẩm nói như người ngủ mơ:

- “Thằng ngớ ngẩn chui vào cũi chó…”

Chàng trai trầm giọng:

- Thưa bà, bà hãy bình tĩnh lại một chút. Và vào trong nhà trấn an bà Cầm. Sau đó, sẽ làm cách nào khéo léo nói cho bà ấy biết. Xin bà giúp cho việc ấy. Tôi phải quay lại khám xét thi thể bé Ngây ngay lập tức. Rồi sẽ trở lại đây liền.

Dứt lời, Trọng Viễn bỏ đi, nện mạnh gót giày về hướng đã phát giác ra cái tang vật khủng khiếp. Chàng ì ạch, hết đẩy, lại lôi kéo cái cũi chó nặng. Mãi mới đem được ra tới gian nhà để nông cụ, sàn nhà khá rộng rãi, chung quanh vắng vẻ yên tĩnh, thuận tiện cho công việc điều tra. Trọng Viễn nhẹ tay nâng từng chút cái xác thằng Ngây co quắp như con tôm khô.

Chàng trai cố kéo cho thân hình thằng bé thẳng ra, nhưng không được. Đành phải cúi nhìn xem xét kỹ từng bộ phận trên thân thể. Nạn nhân bị hai phát đạn bắn thủng bụng, một viên nữa trúng ngay tim.

Áo quần nó bê bết máu đã đông đặc thành từng mảng dính cứng vào vải. Sàn cũi chó cũng vấy máu đỏ lòe.

Chàng thanh niên bất giác buột miệng: “Lúc chui ra máu đỏ bết bê” và chợt giật mình thức tỉnh.

- “Hừ! Mình cũng đã bị mê hoặc rồi chắc? Chưa… chưa đâu. À, nhưng xét cho cùng thì chắc hẳn mụ Phé phù thủy này ắt phải biết một vài điều gì đó chớ không, không được. Hừ!”

Trọng Viễn nhìn kỹ: khuôn mặt thằng nhỏ hằn lên những nét kinh hoàng đến cực điểm. Hai tay thu vào giữa bụng về phía bao tử. Bàn tay trái thằng Ngây nắm chặt. Có lẽ trong lòng bàn tay nó có một cái gì đó. Trọng Viễn lẩm bẩm:

- Thằng nhỏ cầm cái gì đây?

Vừa nói vừa khẽ nạy ngón tay cái.

- Hừ! Một cái khuy áo vét!

Trọng Viễn lấy cái khuy áo từ bàn tay cứng lạnh. Đưa mắt ngắm nhìn, bỗng chàng khẽ la:

- Trời! Có thể thế chăng? Kẻ sát nhân để lại dấu vết!

Dưới tia mắt sáng như sao, mặt trái chiếc khuy lộ rõ giòng chữ in nổi: “Made in England”

Chàng thanh tra ngẫm nghĩ:

- Tại một nơi hẻo lánh đường rừng như xã Phú Hộ làm gì có tới hai người mặc bộ đồ “kẻng” đến cỡ này. Tên Phủ Đoan, dưới Phú Thọ cũng vị tất. Nét mặt chàng vui hẳn lên:

- Có thể… có thể… Hà!

Hai cánh mũi Trọng Viễn phập phồng như con Bão Tố từ lúc nào vẫn ngoan ngoãn ngồi bên cạnh chủ.

Trọng Viễn bước vào gian nhà bếp. Bà Cầm trong cơn hoảng hốt, hoang mang không kịp đóng cửa. Từ đó, chàng lên nhà trên quơ vội một chiếc mền dạ xám. Rồi nhẹ nhàng nâng xác thằng Ngây đặt vào, đậy kín lại. Xong đâu đó, chàng trai đặt bước tiến ra phía cổng. Ra tới bên ngoài, Trọng Viễn quài tay khép hai cánh cổng và đóng sập luôn cả ổ khóa.

Tới biệt dinh cụ Án Bùi, chàng gọi điện thoại ngay cho Biện lý cuộc Phú Thọ trình bày sơ khởi nội vụ, đoạn đi sang phòng khách. Mọi người có mặt đông đủ đang xúm xít ngồi quanh bà Cầm nói chuyện, an ủi người đàn bà khốn khổ. Chàng thanh tra cảnh sát biết ngay là bà Cầm đã được báo cho hay tin tức ghê rợn về thằng Ngây, đứa cháu nội yêu quý của bà.

Tiếng bà Án dịu dàng:

- Thôi, thế là yên phận nó ! Kiếp sau nó sẽ không ngớ ngẩn, không nói ngọng líu, ngọng lô nữa đâu nghe chị Cầm ! Bây giờ là nó sung sướng lắm rồi và đang chờ đợi bà nội yêu quý của nó đấy.

- Vâng, cháu đang đợi tôi. Chắc cháu chẳng phải đợi lâu đâu bà ạ ! Lạy trời cho tôi sớm được đi theo cháu nội của tôi ! Lạy trời !

Trọng Viễn bước vào. Bà già đau khổ im bặt ngay đồng thời quắc mắt lên nhìn hầu như căm hận con người đã phát giác ra điều bất hạnh gớm ghê của cháu bà.

Tường Vân buột miệng hỏi ngay:

- Thế còn anh Sinh?

Chàng trai khẽ lắc đầu:

- Chưa có tin tức gì mới lạ, ngoài cái này!

Và Trọng Viễn mở bàn tay đưa lại trước mắt mọi người. Trong lòng bàn tay, lồ lộ chiếc khuy áo vét. Ba người, bà Án, Tường Vân và cô giáo đồng thanh rú lên:

- Khuy áo của Sinh, đúng rồi !

Người mẹ run lẩy bẩy:

- Ông kiếm được cái này ở đâu?

Trọng Viễn đưa mắt nhìn ba người đàn bà có tới gần nửa phút trước khi từ từ thốt:

- Trong lòng bàn tay giá lạnh của thằng Ngây!

________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VII

CHƯƠNG V_BÀI THƠ KINH DỊ


CHƯƠNG V


Trong khi đó, Trọng Viễn hỏi chuyện bà Cầm:

- Thằng nhỏ cháu bà có hay đi chơi một mình không?

- Nó đi luôn ấy, thưa ông thanh tra. Có điều, không ai nỡ mắng mỏ hay đánh đập nó bao giờ. Trái hẳn thế, có cái gì ăn uống là các ông các bà trong thôn xóm lại gọi nó đến cho. Nó hiền và ngoan lắm ông ạ! Đối với ai thằng bé cũng dịu dàng như một con cừu non. Nó tốt với người, lại tốt với cả loài vật nữa.

- Nó có hay đi chơi về ban đêm không?

- Dạ có! Ngay từ còn nhỏ tí, cháu Ngây cũng đã hay đi chơi ban đêm rồi. Tôi già nên hay ngủ sớm. Thấy tôi ngủ yên rồi là cháu bỏ đi chơi. Có nhiều lần tôi trở dậy rình xem coi nó đi đâu, làm những gì. Thì ra, nó lần mò vào trong rừng “nói chuyện” với mấy con chim cú, hoặc “hót thi” với mấy con họa mi. Nhất là khướu. Úi chà! Cháu nó bắt chước giọng khướu hót giống y hệt. Đôi khi chạy nhẩy chán, mệt nhoài, nó nằm lăn ra trên đám cỏ êm ngủ thẳng một giấc. Nhưng sáng nào cũng mò về sớm để uống tô sữa tôi để phần cho.

- Cháu Ngây có nói được sõi không bà?

- Dạ không! Nó chỉ ú a ú ớ, ngọng líu, ngọng lô. Nhưng tôi vẫn hiểu được cháu nó nói cái gì. Cả cậu Sinh cũng nghe hiểu và quý cháu lắm.

Bà Án xuống tới nơi. Bà đưa cho Trọng Viễn lá thư nặc danh. Chàng thanh tra liếc mắt đọc thật lẹ.

- Cám ơn bà. Để sau tôi coi lại. Giờ đây xin được đi xem qua khu nhà ở và sở trại.

Bà Án Bùi cho gọi Tường Vân và cô giáo Bạch Xuyến để làm hướng đạo cho chàng thanh tra. Trọng Viễn nói với hai cô gái:

- Hai cô làm ơn dẫn tôi ra sân và chỉ dùm cho biết phòng ngủ của từng người.

Đứng giữa sân, Tường Vân giải thích minh bạch cho Trọng Viễn:

- Biệt thự của cha mẹ tôi kiến trúc theo hình móng ngựa gồm hai cánh như ông thấy đó. Cánh trái, tầng dưới gồm nhà bếp, phòng ăn và phòng khách mà chúng ta vừa từ đó đi ra; trên từng lầu một là phòng ngủ của mẹ tôi, kế bên là phòng của Tường Lan, tiếp đến là phòng tôi rồi là ba phòng dành cho khách.

- Tường Lan? Tường Lan là ai thế, cô?

- Chị lớn của chúng tôi, Tường Lan đi vắng từ sáng sớm hôm thứ tư, vào Thanh Hóa chơi với mấy người bạn thân trong ấy.

- Sáng sớm hôm thứ tư? Đúng hôm xảy ra vụ cậu Sinh mất tích!

Tường Vân khẽ gật đầu:

- Vâng, Đúng thế! Và chúng tôi cũng không kịp báo cho chị ấy biết nữa. Chị Tường Lan của tôi cứ hay di chuyển luôn luôn. Vào tới Thanh Hóa lại rủ các bạn ra Sầm sơn ngắm biển về mùa đông. Chúng tôi đành chờ đợi đến khi chị trở về, có lẽ khoảng cuối tuần này đó ông.

- Thôi được! Bây giờ nhờ cô cho biết ai ở tầng lầu hai?

- Lầu hai? À, vâng! Có cô giáo Bạch Xuyến, chị Duyên, chị bếp và có hai phòng treo quần áo, chứa các đồ lặt vặt không dùng tới đó, thưa ông thanh tra. Từ khi ba tôi mất đi, toàn thể cánh bên trái là dành cho phái nữ vì khu ấy còn chắc chắn, đầy đủ tiện nghi. Cánh giữa, tầng dưới là gian phòng rộng bên trong kê một bàn “ping-pong”, một bàn “bida”. Tầng lầu một có phòng của anh Sinh và hai phòng cho khách ngủ lại. Tầng lầu hai có phòng bác tài xế. Bên cánh phải kia, vì lâu đời đổ nát, chỉ còn tầng dưới dùng được làm nhà để xe, một gian nữa anh Sinh làm xưởng mộc. Anh tôi thích cưa bào đẽo đục chế tạo các đồ mộc và rất ưa điêu khắc, đục chạm các món đồ mỹ thuật bằng gỗ. Tầng trên, tường nứt nhiều, mái có chỗ đã sụt nên bỏ trống không ai ở cả.

- Cám ơn cô nhiều lắm. Nhờ cô, giờ đây tôi đã có thể đi một mình được rồi.

Bạch Xuyến, từ lúc nào vẫn yên lặng, bây giờ mới lên tiếng:

- Theo ý ông thanh tra, liệu có gì đáng lo không hả ông ?

Trọng Viễn khẽ gật đầu:

- Trường hợp mất tích thì cái gì cũng đáng lo cả.

Chợt bắt gặp khuôn mặt xinh đẹp của Tường Vân thoáng tái đi, chàng trai nói tiếp luôn, thật nhanh:

- … nhưng cái gì cũng có thể cho phép chúng ta hy vọng được.

Câu trả lời có vẻ hơi sáo khiến Trọng Viễn cảm thấy hổ thẹn trong lòng. Chàng nghĩ lại giận cô giáo. Mới chân ướt chân ráo đến Phú Hộ chưa đầy một tiếng đồng hồ, làm sao mà đã có thể nói gì cho chắc chắn được. Người còn chưa tìm hiểu được cặn kẽ, đường đi nước bước trong tòa biệt thự rộng lớn, rồi đồn điền sở trại rộng mênh mông, cũng chưa đi được đến đâu.

Trọng Viễn cười lịch sự, nhìn Tường Vân:

- Cô làm ơn dẫn tôi đến phòng ngủ của cậu Sinh!

Hai cô gái đặt bước tiến về phía cổng lớn ở giữa chính diện tòa biệt thự.

Hai thầy trò chợt có cảm giác nhột nhạt: hình như chàng thanh tra cảnh sát không đi theo mình thì phải. Lấy làm lạ, quay nhanh mặt nhìn lại. quả nhiên hai người bắt gặp chàng thanh niên đang ngắm nghía một vật gì trong lòng bàn tay. Tường Vân và Bạch Xuyến xáp tới vừa đúng lúc Trọng Viễn đóng ập bàn tay lại. Trước hai khuôn mặt ngây ra vì ngạc nhiên, chàng ta nói ngay:

- Có gì đâu! Tôi lại cứ tưởng… nhưng không phải! Nào ta đi, đi!

Hai người không tiện hỏi gì nữa và cuộc đi dạo để xem xét bắt đầu. Cô giáo Bạch Xuyến đưa tay đẩy cửa. Hai cánh cửa lớn rít lên kèn kẹt. Trọng Viễn nghĩ thầm: “Khó lòng đột nhập theo lối này một cách êm ả được”.

Theo hai cô hướng đạo, chàng bước lên cầu thang, lan can có những chấn song con tiện bằng gỗ mun lâu ngày lên nước đen bóng. Một lần nữa, cô gái con nữ chủ nhân quay mặt nhìn về phía sau. Lý do: thanh tra Trọng Viễn đã dừng chân từ lúc nào, đang đứng ngắm bức tranh "hoàng hôn trên biển cả". Có lẽ chàng ta giả bộ mải mê ngắm tranh thì đúng hơn. Tường Vân thấy rõ, mặt thì ngước lên bức hình vẽ, hai bàn tay Trọng Viễn lại đang hí hoáy gói rất nhanh một vật gì nho nhỏ bằng một mảnh giấy con vẫn dùng để vấn thuốc lá. Chắc hẳn là cái mà chàng ta lượm được hồi nẫy ở ngoài sân, ngay dưới chân cửa sổ phòng Tường Lan. Đúng thế rồi!

Trong khi cô giáo Bạch Xuyến vô tình, vẫn đều đều đặt bước leo nốt mấy bậc thang chót, Tường Vân đưa nhanh mắt nhìn Trọng Viễn mỉm một nụ cười e lệ rất xinh, rất "đồng lõa" như có ý "trấn an" chàng bằng những lời lẽ câm nín:

- Hãy yên tâm! Tôi sẽ giữ kín, không nói với ai hết đâu.

Ba người tiến vào một gian phòng rộng, màn gió bằng vải dầy quý hiếm. Cửa lớn, cửa sổ nào cũng có treo. Đồ đạc bên trong toàn một loại đồ cổ kính : sập gụ, tủ chè, bình phong khảm xà cừ, đôn, chóe, độc bình, cái nào cái ấy to lớn đẹp mắt.

Trọng Viễn vừa bước vào vừa ngẫm nghĩ:

- Ý chà! Như một việc bác cổ. Trách gì chàng Sinh chẳng hay bỏ đi chơi để được hưởng phần nào đời sống vui tươi của tuổi trẻ.

Đôi mắt đẹp êm như nhung của Tường Vân hình như đoán ra, thông cảm được từng ý nghĩ thầm kín của Trọng Viễn. Cất giọng nhẹ nhàng, hơi run, nàng nói:

- Anh Sinh tôi, trước kia... à, à hiện giờ, vẫn sống ở đây vui vẻ lắm. Săn bắn, đi câu suốt ngày, suốt tháng. Và anh ấy vẫn thích thú nơi ăn chốn ở của gia đình, mặc dầu tòa biệt thự của ba mẹ chúng tôi có phần nào... rộng lớn âm u quá. Nhưng là đối với người không ở quen kìa.

Trọng Viễn im lặng mơ màng suy nghĩ:

- "Cô bé khôn ngoan và sành tâm lý lắm. Tin cậy được, không như "bà" giáo kia! Con người gì mà nét mặt lúc nào cũng khó đăm đăm!"

Đôi lúc, chàng thanh tra tinh quái lại liếc nhanh mắt nhìn cái khuôn mặt khó đăm đăm ấy. Sắc diện lạnh lùng của cô giáo tố cáo rõ rệt số tuổi 34, 35. mặc dù lớp phấn được thoa rất khéo vẫn không che lấp nổi.

Căn phòng không phát lộ cho Trọng Viễn biết được một chút gì.

Tiến đến sát bàn làm việc, chàng đưa mắt quan sát kỹ. Một bao da đựng súng lục khiến Trọng Viễn chú ý. Mở nút cài, bên trong trống rỗng.

Tường Vân giải thích ngay:

- Anh Sinh tôi thường mang nhiều số tiền lớn trong người. Những số tiền thu hoạch về trà, cà phê. Vì thế, đi đâu anh ấy cũng giắt súng trong lưng.

Trọng Viện nhẹ nhàng gật đầu:

- Thế ạ!

Rồi đưa tay, chàng lật chiếc nệm giường mà chị gia nhân tên Duyên đã nói là vẫn phẳng phiu, đồng thời đưa mắt nhìn lên, trông thấy ngay chiếc áo "ba-đơ-suy" và đôi giày ống của chàng trai con cụ Án.

- Anh cô có cái áo nào khác ngoài cái này?

- Thưa không!

Cô giáo mau miệng:

- Còn cái áo mưa. Nhưng hiện vẫn treo ở kia.

Đúng như vậy. Chiếc áo mưa của Sinh vẫn treo nơi mắc áo. Trọng Viễn gật gù tự nhủ:

- Chắc hẳn "đương sự" không có ý định đi xa.

Trước khi bước ra khỏi phòng Sinh, chàng thanh tra quan sát rất kỹ bó hoa tư tưởng (pensée) cắm trong bình trên bàn giấy. Hoa "tư tưởng" có cuống dài như cọng cỏ. Một bông bị ngắt đi còn trơ lại cái cuống dài.

- Bó hoa này cắm tại đây từ bữa nào thế, cô Tường Vân?

- Chiều thứ ba! Chính tay tôi hái từ ngoài vườn đem vào cắm đó, thưa ông!

Vừa bước ra ngoài, Trọng Viễn vừa chúm môi, nhẹ nhàng huýt gió. Ít nhất cũng phải thế chứ. Chàng đã ghi được một điểm : Sinh đã ngắt một bông Pensée gài lên ve áo trước khi bỏ đi chơi. Vậy thì phải là một cuộc hò hẹn yêu đương. À, nhưng giải thích thế nào sự việc đi đến chỗ hẹn với người yêu mà lại dắt theo thằng bé Ngây?... Giả thiết Sinh không dắt thằng Ngây theo ắt hẳn mọi người đã tìm được thằng bé một cách dễ dàng rồi chứ. "Nó không hay đi chơi xa!". Bà Cầm đã cho biết như thế mà.

Trọng Viễn băng băng chạy xuống cầu thang. Hai cô gái chạy theo muốn hụt hơi mới kịp. Dừng ngay giữa cửa đi vào phòng ăn, chàng hỏi một câu đột ngột:

- Hai cô làm ơn cho biết : thường ngày ai lo việc quét dọn ngoài sân này?

Tường Vân nhanh nhẩu:

- Anh tài xế tên Giang! A, kìa! Anh ấy đang từ nhà xe đi ra kìa!

Trọng Viễn nói nhanh hai tiếng "cám ơn" đoạn giơ tay ngoắc anh tài xế. Chàng nói thêm với hai cô gái:

- Nhờ hai cô báo cho bà Cầm biết là chừng năm phút nữa tôi sẽ cùng đi với bà ấy qua bên Trại Con.

Hai thầy trò đi khuất, Trọng Viễn tiến lại gần anh tài xế. Anh Giang khoảng bốn mươi tuổi, tầm vóc trung bình nhưng đẫy đà lực lưỡng. Đôi mắt hấp him, anh quan sát chàng trai, nét mặt vừa lễ phép rất kiểu cách lại vừa có vẻ ranh mãnh tinh quái.

- Mấy ngày gần đây, khi quét sân, anh có thấy một viên ngói nào từ trên mái nhà rớt xuống không?

Câu hỏi thật đột ngột, thật bất ngờ. Đột ngột, bất ngờ một cách cố ý.

Tài xế Giang trả lời rất tự nhiên:

- À, có! Có đấy cậu à! Ngay buổi sáng cậu Sinh đi rồi không về đó.

- Thế viên ngói ấy, khi rớt xuống, có khiến ai bị thương không?

- Không cậu à! Nó rớt lúc nào tôi cũng chẳng hay. Chắc hẳn về ban đêm. Nhà ở trên đồi, mỗi khi có gió to, mái cứ chuyển kêu răng rắc. Vả lại, đã lâu không dọi lại, ngói sút ra rớt xuống là thường lắm. Có điều, từ trước đến nay không hề có ai bị nó rớt trúng cả.

- Viên ngói rớt vừa nói chuyện ấy anh để đâu?

- Viên ngói ấy…! À, phải nói là những mảnh ngói mới đúng. Rớt xuống là vỡ tan ngay. Tôi liệng bỏ vào hố rác đằng kia. Cậu có cần, tôi chỉ chỗ nhé! Nơi cuối vườn đó.

Hai người cùng bước tới. Lẫn lộn với đủ thứ rác rưởi, chàng thanh tra cảnh sát kiên nhẫn lượm lên ba bốn mảnh ngói to hơn mảnh ngói chàng đã lượm được trong sân, dưới chân cửa sổ phòng Tường Lan. Cả bốn mảnh ngói đều có những vết nâu sậm nổi bật trên màu ngói đỏ. Trọng Viễn nhận ra được ngay: đúng là những vết máu khô.

Anh tài xế Giang ngạc nhiên:

- Cậu lượm làm gì mấy cái đó?

- Có việc cần đến một chút thôi mà anh Giang.

Chàng trai thản nhiên đút mấy mảnh ngói vào túi áo.

_ Anh còn thấy có gì khác lạ ở ngoài sân ngay buổi sáng thứ tư ấy hoặc mấy ngày kế tiếp không?

Anh tài xế đưa tay lên gãi trán. Mở miệng nói nhưng anh lại do dự ngập ngừng:

- Không biết… à… à… có đấy, nhưng tôi cho là nhỏ mọn quá chẳng có gì đáng kể cả!

- Nhưng cái gì mới được chứ?

- Nếu cậu cần biết thì tôi cũng xin nói cho cậu hay. Một mẩu thuốc lá hơi lạ.

- Mẩu thuốc lá lạ? Tại sao lại lạ? Anh nói rõ tôi nghe.

- Mẩu thuốc lá hạng đắt tiền. Đầu điếu thuốc màu nâu, sợi thuốc vàng tươi, loại thuốc thơm.

- Anh làm ơn cho tôi biết tại sao anh lại cho mẩu thuốc ấy là lạ.

- Lạ ở điểm này: người nào hút rồi liệng ra đó? Thuốc lại là loại thuốc đàn bà thường hút. Mà ở đây, các bà các cô không ai hút thuốc cả.

- Các bà các cô ở đây không hút thuốc. Nhưng chị Duyên, chị bếp, biết đâu…

- Không, không có đâu cậu ạ. Nhà này nghiêm lắm. Không có lối đàn bà mà lại phì phèo hút thuốc đâu. Chỉ có cậu Sinh, từ một năm nay theo mốt mới, hút ống vố. Đã lâu lắm, không thấy cậu ấy có điếu thuốc trên môi. Phần tôi, tôi hút toàn thuốc lá Bastos, loại Bastos xanh. Khách tới chơi ở đây không có ai hết ngoài vị cha Xứ nhà thờ họ. Nhưng ông ấy lại không hút thuốc bao giờ.

- Anh cố gắng tìm cho ra mẩu thuốc ấy dùm tôi nghe, anh Giang. Tôi biết là khó lắm đấy nhưng anh ráng giúp tôi nhé.

Dứt lời, Trọng Viễn quay gót bước về phía phòng ăn. Bà Án, bà Cầm ngồi chờ đợi chàng trong đó. Chàng thanh niên nói với bà Cầm:

- Bà làm ơn dẫn tôi về bên nhà!

Và huýt gió gọi Bão Tố.

Khu nhà ở của bà Cầm rất dễ xem xét. Chỉ có hai gian, thêm gian kho, bên trong quây một cót thóc kế bên một đống rơm lớn. Một chiếc áo vải dầy nằm lăn lóc trên đống rơm khô. Trọng Viễn vẫy Bão Tố lại gần. Chàng đưa cái áo tới trước mõm con chó. Bão Tố khịt mũi đánh hơi xong quay ra chạy lòng vòng. Vừa chạy, nó vừa rít lên khe khẽ. Chạy quanh sân hết một vòng, con chó khôn lại quay về đúng chỗ khởi hành. Rồi đột nhiên, nhanh như chớp, khiến một người đã nhiều phen dự kiến đủ thứ thảm kịch như Trọng Viễn cũng phải giật mình thảng thốt, Bão Tố băng qua sân, lao như tên bắn về phía ụ phân bò trên có đậy rơm. Nhẩy hai cái, nó đã vượt qua đống phân lớn ủ rơm to lù lù như một cái gò đất, chạy vút đến chỗ để mấy cái thùng gỗ cũ kỹ, có cái đã tuột cả đinh, sút đai, nằm ngổn ngang bừa bãi. Lẫn vào mớ thùng bỏ đi ấy có một cái cũi chó, đóng bằng ván cây ghép kín, cửa cũi kê áp sát tường. Trọng Viễn chạy theo Bão Tố. Con chó khịt mũi, đánh hơi dữ dội, hai chân trước cào sồn sột vào thành cũi. Trọng Viễn đưa tay xoay mạnh. Chiếc cũi khá nặng. Chàng phải ngồi chồm hổm vận sức lên hai cánh tay nhích mãi mới chuyển được chừng hơn gang tay. Chàng thanh tra cúi xuống nhìn qua. Tuy là một người vốn rất can đảm, bình tĩnh, Trọng Viễn vẫn phải buột miệng rú lên một tiếng kinh hoàng.

- Úi chà! Tên dã man nào mà…

Hất mạnh tay, chàng thanh tra cảnh sát đẩy cái cũi chó về chỗ cũ, cho cửa lại quay áp sát vào tường. Thật may! Vừa lui bước đi ra. Trọng Viễn chạm ngay bà Cầm đang run rẩy bước tới. Bà già lắp bắp:

- Cái gì thế ông thanh tra?

Da mặt xanh mét, chàng trai trả lời thật nhanh:

- Không, chẳng có quái gì đâu, bà Cầm ạ!

Rồi giọng chàng trai dịu hẳn đi:

- Theo tôi nhận xét, thằng cháu Ngây của bà e rằng đã bị một tai nạn gì ghê gớm lắm không chừng. Bà theo tôi lại đằng này một lát đi.

Bà già khổ sở òa lên khóc:

- Đi với ông thanh tra, không có ai ở nhà, lỡ người ta đem cháu nó về đây thì biết làm sao?

Trọng Viễn làm việc đã lâu. Chàng cũng đã quen dự kiến nhiều hoàn cảnh rất thương tâm. Nhưng trường hợp này, anh cảm thấy trong lòng buồn bã vô cùng. Buồn bã vì không biết quyết định thế nào. Một đằng chàng không muốn che giấu mãi bà cụ khốn khổ này, đằng khác, biết nói sao, biết báo tin cho bà bằng cách nào việc thằng cháu nội yêu quý của bà đã…

Mãi sau, Trọng Viễn mới gắng gượng nói xuôi một câu:

- Tôi cho rằng họ sẽ không đem được thằng nhỏ về đây đâu.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VI

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

CHƯƠNG IV_BÀI THƠ KINH DỊ


CHƯƠNG IV


Phạm Trọng Viễn đáp chuyến xe sớm nhất ngược Tuyên Quang, đặt chân xuống đồn điền Phú Hộ hồi tám giờ sáng. Chàng dắt theo một con chó lài lớn, loại chó Đức, rất khôn, con nghĩa khuyển có cái tên gọi khá đặc biệt: Bão Tố!... Bão Tố, nếu cất tiếng gọi hơi nhanh một chút, nghe lại hóa ra Ba Tô, Ba Tô!

Trọng Viễn năm nay đúng ba mươi hai tuổi. Thân hình cao lớn, mảnh mai, nhưng là một thứ mảnh mai dẻo dai khỏe mạnh. Cử chỉ nhanh nhẹn nên trông chàng, người tinh mắt lắm cũng phải đoán lầm tuổi chàng chỉ trạc hai mươi chín, ba chục là cùng. Trên khuôn mặt thông minh, sáng sủa, linh động nhất là đôi mắt tròng nâu trong vắt như mắt thỏ. Khi thẩm vấn kẻ gian, đôi mắt ấy quắc lên nom thật dữ dội. Nhưng cũng đôi mắt ấy, khi chứng kiến một cảnh thương tâm xúc động lòng người, màu nâu tròng mắt lại hình như sẫm xuống nhiều hơn. Hai thứ nhãn quang rất khác biệt nhau ấy biểu lộ rõ rệt những đức tính nổi bật nơi cùng một con người: tâm lý sâu sắc, trí cương quyết, nghị lực sắt thép cùng với lòng nhân ái vô biên. Đặc tính thương người nơi Trọng Viễn lạ lùng đến nỗi các bạn thường nửa đùa nửa thật tặng cho chàng cái biệt danh là “thanh tra tài tử”.

Bão Tố, đối với trọng Viễn không còn là con vật bốn chân nữa mà là người bạn, một người bạn tuyệt đối trung thành. Hơn sáu năm rồi, hai kẻ tớ thầy chiến đấu bên nhau, cùng vui hưởng nhiều chiến thắng vinh quang cũng như cùng nhau trải qua những phút giây vô cùng nghẹt thở. Một số đồng nghiệp, ganh tị với Trọng Viễn, thường gán cho Bão Tố cái danh xưng đầy mỉa mai châm biếm: “em trai của thằng Viễn”.

Bão Tố và Trọng Viễn dừng chân trước hai cánh cổng lớn nơi tường thành bao quanh biệt dinh cụ Án Bùi.

Chàng thanh tra nhấn nút chuông điện, đồng thời đưa mắt quan sát toàn khu biệt thự rộng lớn, dáng dấp cổ kính trông như tòa thành quách hay một đồn binh trấn giữ ải địa đầu. Mùi hương ngan ngát của hồng nhung, hoa mộc, sói, thiên lý, tản mạn trong không trung khiến tâm hồn chàng trai thành thị sảng khoái lâng lâng. Trọng Viễn có cảm giác đang sống trong một cõi mộng xa xưa thời trung cổ.

Chị gia nhân tên Duyên chạy ra mở cổng kéo chàng quay trở về thực tại.

Sau khi băng qua một cái sân rộng, bước lên mấy bực thềm cao xây bằng đá xám, Trọng Viễn, có Bão Tố theo sát gót, bước vào một gian phòng khách rộng mênh mông. Tia mắt chàng đụng ngay một bộ bát bửu to như thật, bằng đồng sáng bóng, cán gỗ mun lên nước đen bóng như sơn, gồm đủ tám món binh khí cổ xưa: Thanh long đao, Thiết tinh trùy, Phật thủ ấn, Trường thương, Thiên phương kích, Bát xà mâu, Phán quan bút và Lang nha bổng. Bên cái tủ đựng bát dĩa khảm xà cừ vĩ đại như mặt cửa tam quan, treo trên tường nước vôi màu hồng lạt, hai cái đầu hươu chầu hai bên một chiếc thủ cấp lợn lòi, miệng há hốc đỏ lòm nổi bật đôi nanh dài nhọn hoắt…

Nơi cuối phòng khách, cầu thang xây cuốn rộng thênh thang, đẹp mắt với những chấn song con tiện, êm chân khi đặt bước chân trên tấm thảm nhung màu huyết dụ điểm hoa đen.

Bộ ghế salon, chỗ ngồi, chỗ dựa lưng bằng cẩm thạch. Màu đá trắng nổi bật giữa vành ghế gỗ mun đen chạm trổ công phu. Ngồi vào ghế, khách được hưởng cái cảm giác vô cùng thoải mái cho thân xác đồng thời nhãn quan được thong thả nghỉ ngơi khi chiêm ngưỡng mấy tấm thổ cẩm treo trên tường thêu hình “anh hùng tương ngộ”. “Tô Vũ mục dương”…

Không có dịp đứng mãi một mình để mặc sức nhìn ngắm, nhưng nội mấy phút ngắn ngủi, Trọng Viễn cũng đã nhận thức được rõ rệt tính chất thanh tao hòa hợp với một tình thần hiểu biết mỹ thuật thể hiện nơi phòng khách của chủ nhân biệt thự.

Khi bà Án Bùi bước vào, thoáng trông, chàng thanh niên công bộc của an ninh trật tự công cộng đồng thời cũng là một tài tử say mê nghệ thuật phải thầm công nhận vị phu nhân này quả thật xứng đáng là sở hữu chủ tòa kiến trúc đồ sộ. Không như các nơi khác chàng đã có dịp viếng thăm, nhất nhất cái gì ở đây cũng dịu mắt vô cùng.

Thêm nữa, lề lối tiếp khách của thiếu phụ dẽ dàng mà vẫn đài các, chu đáo mà vẫn giản dị thân mật khiến Trọng Viễn cảm thấy ấm áp trong lòng. Khác hẳn mọi lần tại những chốn phạm trường khác, mới đặt chân đến nơi là nội tâm chàng thám tử đã phải sục sôi giao động vì những tiếng khóc than kể lể vô cùng thảm thiết. Ở đây, sóng gió thảm kịch cũng đã xẩy ra, gieo đau thương sầu thảm. Nhưng mọi sự biểu lộ tình cảm ồn ào náo động đều bị gạt bỏ hết thẩy.

Trọng Viễn, kể từ lúc đầu cho đến giây phút này, hân hoan trong lòng khi cảm thấy không khí tại đây rất thuận tiện cho công việc điều tra dò xét của chàng. Đồng thời, về phía chủ nhân biệt thự, chàng trực cảm thấy rằng sự hiện diện của mình quả cũng đã đem lại một niềm tin tưởng ấm áp vô cùng.

Sau một vài câu hỏi theo thủ tục thường lệ, Trọng Viễn nhận thấy, qua những lời khai dè dặt khôn ngoan của mọi người trong biệt thự, chưa có một điểm gì có thể gọi là bổ ích cho công việc. Tuy nhiên, chàng thầm nhận một điều : sự biệt tích của Sinh, việc thằng Ngây thất tung, nhất định phải liên hệ mật thiết với nhau. Do đó, sự việc tuy bí mật, nhưng cũng không có gì đáng ngại như mới thoạt nghĩ. Chàng điềm đạm nói với bà Án Bùi:

- Chắc hẳn cậu Sinh và thằng Ngây dắt nhau đi chơi xa và rồi có thể thằng nhỏ đã bị một tai nạn gì đó, cậu ấy phải ở lại săn sóc, trông nom cho nó.

Sắc diện nữ chủ nhân âu sầu ảo não khiến Trọng Viễn thoáng giật mình, mất hẳn tin tưởng vào câu chính chàng vừa nói.

- Xin bà cho phép chúng tôi được xem xét qua phòng ốc của biệt thự và các nơi trong trang trại. May ra có thể nhận ra một vài dấu tích gì chăng.

- Dạ được! Cháu Tường Vân và cô giáo Bạch Xuyến đây sẽ dẫn ông đi. Tôi ngồi lại đây chơi với bà Cầm. Mệt mỏi trong người quá, mong ông tha lỗi cho nhé!

Sự thật có thế! Bà Án Bùi, từ tối hôm qua đến giờ, thay đổi thấy rõ. Trên khuôn mặt đẹp kiêu kỳ in rõ nét buồn thương, mất hẳn vẻ thư thái tươi mát thường lệ. Niên kỷ của bà còn kém bà lão bộc có tới mười năm mà giờ đây hai sắc diện lại có vẻ ngang ngang xấp xỉ.


Trọng Viễn thoáng cảm thấy thương hại.

Trước khi đứng dậy, chàng hỏi thêm một câu:

- Trước hết, bà có thể cho biết sơ qua về tính tình của cậu Sinh… và… để nói chuyện được tự nhiên hơn, có cần phải để bà Cầm cảm phiền ra ngoài một lúc không?

Nữ chủ nhân mỉm cười thật buồn:

- Chị Cầm đây đã chứng kiến lúc cháu Sinh ra đời. Chị hiểu biết cháu chẳng thua gì tôi đâu ông ạ. Không ngại gì hết. Xin ông cứ hỏi!

Rồi bà đứng lên, giơ tay về phía lò sưởi chỉ bức hình một thanh niên đẹp trai, một vẻ đẹp hơi ủy mị như con gái, nhưng nét mặt chân thật dễ thương.

Sắc diện người mẹ thoáng vui. Một niềm vui kiêu hãnh:

- Đây, thưa ông! Cháu Sinh, con trai duy nhất của tôi!

Trọng Viễn lịch sự khẽ ngả đầu. Chàng tiến lại cầm bức hình trên tay, bức hình, ngay từ khi mới bước vào, chàng đã thoáng nhìn thấy, để đúng tầm mắt, im lặng quan sát:

- Cậu Sinh sống ở đây vẫn vui vẻ bình thường chứ, thưa bà?

Sau mấy giây ngập ngừng, nữ chủ nhân nhìn chàng thanh tra cảnh sát:

- … Thưa vâng!... Cho đến năm nay, cháu Sinh vẫn ngoan ngoãn dễ bảo lắm. Nhưng mới chỉ từ năm, sáu tháng nay… nó hay phí thì giờ đi chơi lang bang chỗ nọ chỗ kia. Gặp ai cũng bắt chuyện. Trong xóm ngoài làng, thấy cô gái nào là cũng cười cười nói nói gợi chuyện làm quen.

- Và rồi vì những cuộc tình ái lăng nhăng ấy, cậu Sinh đã mua thù chuốc oán?

Cậu trả lời của người mẹ thật rành rọt:

- Không đâu thưa ông! Chỉ có tôi là rầy la dữ dội mà thôi. Ông tính nuôi nấng mất bao công lao khó nhọc, dạy bảo từng tí từng li, tôi không thể chịu nổi khi thấy nó lông bông hư hội như thế. Tôi muốn con trai tôi, nhất lại là con một, phải nêu được gương tốt cho người khác, trong làng ngoài xã. Nhưng cứ như nước đổ lá môn! Nghe mắng chán, nó chỉ cười xòa, bỏ đi. Ông cho là cháu có kẻ thù oán? Không đâu! Tính tình nó lãng mạn, hay no người chán nết. Nay cô này, mai cô khác. Nếu có gây thù chuốc oán thì cũng chỉ là do từ nơi mấy cô nàng bị nó bỏ rơi mà thôi…

- Biết đâu cậu ấy lại chẳng đã chọc giận mấy ông chồng đa nghi, hay ghen, mà lại có vợ đẹp?

Bà Án lắc đầu cương quyết:

- Dạ không! Cháu nó tiếng thế cũng không quá tệ như vậy đâu. Con nhà gia giáo, vui chơi vô hại thì có, nhưng vượt quá phạm vi bổn phận đạo đức, bờm xơm lơi lả với cả những gái có chồng thì tuyệt nhiên không có đâu, thưa ông thanh tra! Lang bang rắc rối với các cô gái thanh xuân cũng đã là quá quắt lắm rồi.

_ Có thể vô tình, một vị hôn phu nào đó đã uất ức vì sự thành công của cậu Sinh đối với nàng vị hôn thê của anh ta?

- Theo tôi biết, chuyện đó không bao giờ có đâu, thưa ông thanh tra!

- Vậy thì, bà tha lỗi cho việc tôi nhấn mạnh điểm này… Theo ý bà, cậu Sinh tuyệt nhiên không hề có ai để tâm thù oán?

Bà Án ngập ngừng do dự. Bà lắc cái đầu như có ý xua đuổi một ý nghĩ khó chịu nào đó. Trọng Viễn lại tiếp luôn:

- Điểm này quan trọng vô cùng! Bà cố nhớ kỹ lại thử xem!

Sau mấy phút yên lặng, nữ chủ nhân lẩm bẩm nói chỉ đủ cho một mình nghe:

- Cứ để bị các câu hỏi dồn dập làm mất bình tĩnh, lỡ buột miệng là phiền lắm! – rồi bà cất cao giọng: – Duy nhất có một người đã nổi cơn phẫn nộ với cháu Sinh. Nhưng xét cho cùng, lỗi cũng tại nó. Ông già Xê trông coi đàn cừu của tôi có đứa cháu nội học ở Phú Thọ về nghỉ hè sau mấy ngày bãi trường. Con cháu Liên, mười sáu tuổi, xinh lắm. Một buổi tối kia, bắt gặp thằng con tôi đang chuyện trò tán tỉnh gì đó với con bé, già Xê đã nổi giận lôi đình.

- Chắc ông già đã hăm dọa cậu Sinh?

- Không! Hăm dọa thì không! Ông lão chỉ nói rằng: “Không được, cậu Sinh ơi! Cậu nỡ nào lại đi làm nhục chúng tôi như vậy hả cậu Sinh? Tội nghiệp. Chúng tôi là con nhà nghèo hai sương một nắng mà!”

Mấy ngày sau lại bắt quả tang hai đứa thủ thỉ chuyện trò, già Xê đã giơ hai nắm tay, hét rầm lên: “Hừ! thật quá lắm rồi! Nhục nhã quá! Chỉ rước khổ vào thân mà thôi! Liên ơi!”

Trọng Viễn khẽ cau cặp chân mày, buột miệng:

- A, nếu vậy thì…

Bà Án không kịp để chàng nói hết câu:

- Ngay hôm sau, ông già Xê bắt cháu nội về với cha mẹ tại Phú Thọ ngay.

- Thế là xong phải không ạ?

- Vâng, xong hết. Có điều tôi muốn nói thêm rằng: theo tôi nghĩ thì già Xê không thể mà cũng không muốn làm hại ai bao giờ cả. Nhất là việc rắc rối ấy lại chỉ tới đó là chấm dứt.

- À ra thế! Nhưng có hai điểm mong bà giải thích cho!

- Vâng, xin ông cho biết!

- Hồi nẫy bà có nói: "Cứ để bị các câu hỏi dồn dập làm mất bình tĩnh, lỡ buột miệng là phiền lắm…” Bà làm ơn cho biết: khi nói thế, bà có ý đề cập đến việc gì vậy?

Mặt nữ chủ nhân chợt ửng đỏ.

- Ông để ý làm gì những câu nói vô tình buột miệng ấy cho mất thì giờ.

Sắc diện chàng thanh tra nghiêm hẳn lại:

- Mục đích tôi đến đây là để truy tầm tung tích cậu Sinh con bà, và chú nhỏ tên Ngây cháu nội bà Cầm. Bà đừng ngại gì về việc tôi mất hay không mất thì giờ.

- Vậy thì được! Nếu ông muốn hiểu rõ, tôi xin thưa: không khi nào tôi lại có ý nghi ngờ già Xê hết. Chỉ vì bà Cầm…

Bà Cầm từ hồi nào vẫn ngồi im lặng, chợt giật thót mình, ngẩng lên:

- Tôi? Vì tôi… mà tại sao?...

Bà Án giơ tay nhẹ nhàng trấn an:

- Không, không có gì đâu, chị Cầm. Cứ yên chí! Không có gì đâu mà ngại! – quay nhìn Trọng Viễn – Chị Cầm đây có đem về một tờ giấy trong đó mụ Phé có ghi một bài vè hay thơ gì đó. Toàn là những câu thơ của phù thủy bói toán lảm nhảm quàng xiên. Dĩ nhiên, tôi không một chút nào tin là thật hết. Nhưng trong ấy có một câu: “Chăn chiên hóa sói đổi nghề”. “Chăn chiên”. Hai chữ ấy khiến tôi sực nhớ đến vụ gay go giữa cháu Sinh nhà tôi và già Xê về chuyện con nhỏ Liên. Đó, tất cả chỉ có thế! Có gì quan hệ đâu!

- Những câu thơ bói toán của phù thủy! À, thưa bà, những người phù thủy mà chúng ta thường hay chế riễu, thực ra không phải là bao giờ họ cũng nói sai cả đâu. Lắm khi họ biết nhiều chuyện mà chính chúng ta cũng không biết được đó, thưa bà. Bà làm ơn kể lại cho rõ câu chuyện này, tôi nghe thử!

Bà Án liền bảo bà Cầm kể lại việc tìm đến căn lều của mụ Phé. Nghe dứt lời, thanh tra Trọng Viễn yêu cầu được xem tờ giấy có ghi bài thơ kinh dị. Chàng muốn đích mắt thấy những danh từ, những câu quái dị mụ phù thủy viết trong đó. Mọi người tìm mãi không thấy tờ giấy ấy đâu. Tường Vân được gọi xuống, cho biết là đã được đọc bài thơ ấy cùng với cô giáo Bạch Xuyến. Bà Án cho mời cô giáo của Tường Vân. Bạch Xuyến vội vàng cho biết sau khi cùng Tường Vân đọc xong đã tiện tay đem lên để trên phòng, nếu cần nàng sẽ chạy đi lấy.

Trọng Viễn nhìn thẳng mắt cô giáo cất tiếng. Lòi nói của chàng rất lịch sự nhưng âm thanh giọng nói đanh lại:

- Hay lắm! Cô làm ơn lấy xuống dùm cho!

Sau khi một cử chỉ tỏ ý: “có gì mà phải quan trọng hóa dữ vậy!” Bạch Xuyến quay lên gác. Hai phút sau, nàng đã xuống tới nơi mang theo tờ giấy ghi bài thơ kỳ dị.

Trọng Viễn chăm chú đọc, chưa đầy phút sau chàng khẽ nhún vai, lẩm bẩm:

- Dông dài, chẳng nghĩa lý gì cả!

Nhưng theo thói quen, chàng vẫn cất tờ giấy nhàu nát vào ví da, đồng thời ngấm ngầm quyết định:

- Phải hỏi han mụ Phé ít câu mới được!

Đoạn, Trọng Viễn ngẩng lên nhìn bà Án:

- Bà cho phép hỏi một câu nữa. Chính cậu Sinh đã nói lại cho bà biết việc ông già Xê nổi trận lôi đình?

- Dạ không! Cháu Sinh không bao giờ nói với tôi những chuyện tâm tình riêng tư của nó cả. Sở dĩ tôi biết được là do một lá thư nặc danh.

- Một lá thư nặc danh? Vậy mà bà không cho biết từ hồi nẫy!

- Cũng chẳng có gì đáng gọi là quan trọng. Vả lại, tuy có đọc nhưng tôi chẳng một chút nào tin là thật những điều viết ở trong. Tôi đã lấy lá thư nặc danh làm ấy bằng cớ chủ ý khiến cho cháu Sinh phải hổ thẹn mà chừa đi. “Này, tính nết lông bông của con khiến thiên hạ đàm tiếu đến mức này đây. Đọc đi! Đọc thử coi!” Tôi đã la rầy cháu như vậy, thưa ông thanh tra. Và chính nó cũng đã công nhận những điều viết trong lá thư ấy là có thật.

 Bà xem ý là cậu Sinh có vẻ lo lắng gì về cái thơ đó không?

- Nó chẳng lo lắng gì hết. Lại còn cười xòa mà nói với tôi rằng: “Trời ơi! Ông già Xê nổi giận, rồi lại lá thư nặc danh! Có gì mà mẹ phải cuống quít lên kia chứ. Con và Liên yêu nhau thì có gì là không phải? Tuổi trẻ ai chẳng thế. Tội lỗi gì đâu hả mẹ?”. Thế là thôi. Tôi chẳng biết nói thế nào nữa. Nó cứ thế thôi. Lông bông như cánh bướm nhởn nhơ chẳng lo lắng gì hết. Tôi gầm thét, rầy la đến rát cổ bỏng họng, nhưng chỉ vài tuần sau đó nó lại gặp đâu đóng đấy, quên ngay con Liên để cặp kè với đứa con gái khác.

- Bà còn giữ bức thư nặc danh đó chứ ạ?

- Vâng! Tôi còn giữ. Để tôi đi lấy đưa ông coi.

Và nữ chủ nhân, sau khi khẽ gật đầu mỉm cười xin lỗi Trọng Viễn, quay mình bước lên cầu thang.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG V

CHƯƠNG III_BÀI THƠ KINH DỊ


CHƯƠNG III


Ông xã trưởng Văn Điền giơ tay chộp vội chiếc phong bì. Ông trịnh trọng bóc, trịnh trọng giở tờ giấy trắng tinh, trịnh trọng đọc từng chữ. Chốc chốc đôi chân mày rậm đem của ông cau lại. Chừng ba phút sau, mấy người bạn, tia mắt hiếu kỳ vẫn chiếu thẳng trên nét mặt ông, chợt thấy ông mỉm một nụ cười khoái trá. Tuy không nói ra, nhưng họ cùng chung ý nghĩ: “Chẳng hiểu trên cụ Án viết cho ông xã trưởng Văn Điền chuyện gì mà y có vẻ thú vị thế!”.

Nhưng đột nhiên, sắc mặt người đọc thơ tối sầm lại. Thì ra: nếu sự biệt tung của cậu Sinh khiến ông xã trưởng vui vẻ nghĩ ngay đến một cuộc hẹn hò du dương nào đó thì chuyện thằng Ngây mất tích lại là một vấn đề khác hẳn. Văn Điền đứng phắt lên :

- À, chuyện này không phải chuyện đùa đâu nhé! Phải bắt tay vào việc ngay mới được!

Ông ngẩng nhìn chị Duyên, gia nhân trên cụ Án, người đã trao cho ông lá thơ:

- Thôi được ! Chị cứ về trên ấy đi ! Một tiếng đồng hồ nữa, chúng tôi sẽ tới. Nhớ trình cụ Án như thế nhé !

Chín giờ đúng, ông xã trưởng Văn Điền cùng hai nhân viên cảnh sát lên tới biệt dinh cụ Án Bùi.

Bước vào phòng khách, đã thấy mẹ con nữ chủ nhân cùng cô giáo, lại cả bà Cầm nữa. Đêm qua cụ Án giữ bà già ngủ lại. Khi ba nhân viên công lực bước vào, chị Duyên và chị bếp đang lúi húi thu dọn bữa ăn sáng bên phòng ăn cũng chạy sang. Hai người đứng ngây ra nhìn ba ông đại diện chính quyền, trong lòng hồi hộp. Từ sáng sớm tới giờ, tấn thảm kịch như một bức màn đen u tối, cứ chập chờn quanh quẩn đâu đó gần tòa biệt thự, chưa biết sẽ buông chụp xuống lúc nào.

Ông Xã trưởng, hai nhân viên cảnh sát kính cẩn chào bà Án và bà Cầm.

Sau khi nghe nữ chủ nhân và bà Cầm kể lại đầu đuôi tự sự, ba người trịnh trọng hứa sẽ bắt đầu cuộc tìm kiếm ngay lập tức. Các ông sẽ cho lục soát cánh rừng già, hướng Bắc tiến sát đến Phủ Đoan, về phía Nam, xuống tới giáp ranh tỉnh Phú Thọ. Vũng lầy bao quanh ao Xanh và ngay cả ao Xanh nữa cũng sẽ được sục sạo không sót một thước một tấc nào.

Tường Vân, ánh mắt nhìn mệt mỏi, thỉnh thoảng lại buông tiếng thở dài, thất vọng. Mẹ nàng, rất bình tĩnh, vẫn giữ thái độ của một người “ còn nước còn tát ”.

Sau khi ông Xã trưởng và hai nhân viên cảnh sát về rồi, bà Án Bùi lên tiếng:

- Chắc chắn thằng Sinh sẽ về. Cả thằng cháu Ngây nữa. Chị Cầm ! Tối nay nữa, hãy ngủ lại đây đi. Về nhà thui thủi một mình, ngày giờ vắng lặng sẽ cứ kéo dài ra, buồn lắm.

Đúng như lời nữ chủ nhân: giờ giấc cứ kéo dài, thật là dài, nhất là đối với những người nóng lòng mong đợi.

Cả đêm hôm đó, trên biệt dinh cụ Án Bùi, không một người nào nhắm mắt ngủ được, dù chỉ trong một phút.

...................

Sáng hôm sau, được biết cuộc truy lùng không đem lại một kết quả nào khả quan, bà Án không còn sức chịu đựng nổi nữa, liền quyết định xúc tiến công việc cho hoàn tất mau hơn. Suốt đêm trằn trọc, bà chợt nhớ đến ông em họ xa, ông Mạch, có người con trai là Phó Biện Lý Tòa Sơ Thẩm dưới tỉnh.

Đành rằng ông Xã trưởng Phú Hộ cũng như các nhân viên cảnh sát đều là những người rất tốt. Hơn một lần, họ đã trịnh trọng hứa với bà sẽ hết sức tận tâm hoạt động cho xứng đáng với tinh thần chức nghiệp. Nhưng lòng mẹ thương con nơi bà Án Bùi, trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng này cảm thấy ngay rằng cứ mỗi phút qua đi là hy vọng lại lui dần, lui dần, nhường bước cho tuyệt vọng. Bà nghĩ ngay đến việc nhờ pháp đình can thiệp, cứu giúp cho một phen.

Chuông điện thoại chợt reo vang trong tòa nhà vắng lặng. Đúng tiếng ông Mạch từ Phú Thọ gọi lên hỏi thăm xem Sinh đã về chưa. Bà Án cho biết là tình hình vẫn không thay đổi, chưa thấy sáng sủa được chút nào. Và bà nói thêm:

- Tôi cũng định gọi cho cậu đây. Để nhờ cháu Lâm phúc trình sự việc cho Tòa biết để Tòa xét xem có thể phái một người nào đó lên giúp tôi một tay không?

- À, nếu vậy càng hay! Chị cứ việc viết một lá đơn đệ trình ông Biện Lý. tỉnh Phú Thọ. Theo nguyên tắc thì các vị thẩm phán chỉ di chuyển khi tội phạm đã xảy ra thực sự kìa. Nhưng cháu Lâm cho biết là trường hợp khẩn cấp, cháu sẽ trình bày giùm chị với các vị ngoài Tòa, may ra có thể gởi lên trên ấy cho chị một nhân viên đặc biệt. Tôi cũng nghe nói có một viên thám tử giỏi lắm, xuất sắc trong nghề nghiệp chuyên môn, trình độ văn hóa cũng như đạo đức đáng tin cẩn lắm. Cháu Lâm biết rõ. Tên là Phạm Trọng Viễn thì phải. Việc của chị ít nhất cũng phải có một người vào cỡ ấy mới có thể đảm đương nổi. Vậy chị viết đơn ngay đi nhé. Phần tôi, tôi cũng sẽ nhắc nhở cháu Lâm xúc tiến công việc gấp rút.

- Được như vậy, tôi cám ơn cậu lắm. Trời ơi! Không có cậu chắc tôi và các cháu gái không còn biết xoay sở làm sao nữa đây.

- Chị cứ an tâm. Chị em chỉ nhờ nhau trong những lúc này mà thôi. Điều cần là nếu có tin tức gì mới lạ, chị gọi cho tôi và cháu Lâm biết ngay để nói lại cho viên thám tử kia biết trước. Như vậy cuộc điều tra của ông ta mới hy vọng tiến hành mau chóng được. Chị nhớ nhé!

Yên trí, bà Án quay ra lấy giấy bút viết lá đơn trình Tòa Án. Xong, bà gọi anh Giang tài xế, bảo lái xe xuống ngay Phú Thọ để trình Biện Lý Cuộc.

Thời gian nặng nề trôi …

Buổi chiều ngày kế tiếp, khi mọi người trong gia đình vừa ngồi vào bàn sửa soạn dùng cơm tối, điện thoại chợt reo vang. Ông Mạch từ Phú Thọ gọi lên cho biết là mọi việc tiến hành nhanh chóng, hơn cả ý ông dự đoán, và báo tin: sáng hôm sau Phạm Trọng Viễn sẽ tới Phú Hộ.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IV

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

CHƯƠNG II_BÀI THƠ KINH DỊ


CHƯƠNG II


Ngoảnh đi ngoảnh lại, đồng hồ đã điểm bẩy giờ tối từ lúc nào. Khi bà Cầm bước vào biệt dinh cụ Án Bùi, hai mẹ con nữ chủ nhân, cô giáo Bạch Xuyến đã ngồi chờ sẵn tại phòng khách. Giáp mặt bà Cầm, ba người không ai bảo ai, mà cùng rú lên thảng thốt. Quả thực, bà già khốn khổ trông lạ hẳn đi. Da mặt xanh nhợt như tàu lá chuối, đôi mắt sưng húp híp vì đã khóc nhiều. Bà Án nói không ra hơi:

- Thế nào, nói mau! Chị Cầm, gì thế? Hả?

- Trời cao đất dầy ơi! Bà ơi! Tôi không còn hy vọng gì được thấy được mặt cháu tôi nữa đâu, trời ơi!

Tường Vân đứng phắt dậy. Mặc dầu cô giáo Bạch Xuyến hồi hộp đã nắm chắc tay học trò, bóp thật mạnh, cô gái vẫn cất được tiếng hỏi rõ ràng:

- Mà cái gì chứ, bà Cầm?

Bà Cầm run giọng hỏi khẽ:

- Tôi vừa ở nhà mụ Phé về thẳng ngay đây.

Có tiếng thở mạnh và dài như tiếng thở của người trút được gánh nặng. Bà Ấn Bùi mỉm cười tươi tắn nhìn người lão bộc:

- Thì hãy ngồi xuống ghế đá nào, chị Cầm ! Ngỡ gì ! Thế mà làm mọi người hết hồn. Tưởng có tin tức gì ghê gớm lắm chứ !

Bà Cầm nhíu đôi lông mày nhìn thẳng mặt nữ chủ nhân như có ý nhẹ nhàng trách móc:

- Trời ơi ! Ghê gớm lắm, bà ơi !

Ghê gớm lắm bà ơi ! Nhưng bà Án Bùi cảm thấy chẳng còn có gì đáng lo sợ nữa một khi chỉ là chuyện… Mụ Phé.

Mụ Phé, theo lời truyền tụng, là một mụ phù thủy, sống lủi thủi một mình trong túp lều tranh xiêu vẹo ở ngay cửa rừng già. Không rõ mụ bao nhiêu tuổi rồi mà chỉ thấy da mặt đã nhăn nheo như quả thị héo. Mái tóc chưa trắng nhưng xám ngoét, chẳng bao giờ gỡ chải, cứ xù lên như tổ quạ. Mụ không vấn khăn mà chỉ quấn quanh đầu một mảnh vải dài, có lẽ trước kia là màu đỏ. Tới nay, lâu ngày dầy tháng, mảnh khăn quý, ý chừng chẳng được biết mùi xà phòng một lần nào, cáu đầy ghét bẩn nên đã ngả thành một màu sắc không tên. Đôi chân mày mụ Phé mới thật là kỳ quái. Không đồng màu với mớ tóc bù xù mà lại đen kịt, rậm rì, có những sợi dài buông che kín mắt. Bởi thế, mỗi khi muốn nhìn cho rõ một vật gì, mụ cứ đưa tay lên vén vén đôi chân mày chổi xể cho khỏi che kín hai con mắt, một to một bé, tròng mắt sáng long lanh. Gò mũi mụ Phé lúc thường thì nhỏ, đầu mũi nhọn hoắt như mỏ chim. Nhưng khi mụ cần ngửi một cái gì đó thật kỹ càng, lập tức hai cánh mũi nở lớn, bè ra như mũi… sư tử. Không lạ gì khi nghe các trẻ em tinh nghịch trong vùng, hễ gặp mụ là y như thế nào cũng gào to lên trêu chọc:

“ Ê hê! Mụ Phé!

Mắt bé mắt to!

Mũi có lò xo!

Mắt to mắt bé!

Ê hê! Mụ Phé!

Ê hê! Mụ Phé! Mắt bé…”


Đại khái, hình dung ghê rợn của mụ Phé là thế đó. Ấy là chưa kể cái miệng không răng hiếm khi không nhai trầu phóm phém, nước cốt trầu nhểu dài hai bên mép đỏ bẻm. Quần áo vá trăm mảnh đủ màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng. Đôi chân cáu bẩn của mụ không mấy khi rời khỏi đôi guốc tự tay mụ đẽo lấy, mũi guốc cong tớn như mui thuyền.

Nguồn sống hằng ngày của mụ Phé là sữa dê. Mụ nuôi con dê mập lắm, mầm sữa rất căng. Nhưng thật ra, thức ăn chính cốt của mụ, cũng như của hàng triệu người Việt Nam chúng ta, vẫn là cơm gạo. Canh dư cơm thừa mụ vẫn trông nhờ vào đồng bào trong vùng, một phần lớn từ “ trên dinh cụ Án ”. Và đáng kể hơn nữa là gia đình thầy đội kiểm lâm tên Phạm văn Danh, vợ, tên tục vẫn gọi là cô Gấm. Dân trong xã Phú Hộ đối với mụ Phé, đều tỏ vẻ thương hại, sẵn sàng cưu mang, vì lẽ mụ chỉ có một thân trơ trọi, không bà con thân thích họ hàng. Mặc dầu mụ bẩn thỉu, mặc cho mụ đôi khi đánh mắng những đứa trẻ nghịch ngợm gọi trêu mụ là “Mũi có lò xo, mắt to mắt bé”, ngoài ra mụ Phé không hề làm gì hại ai bao giờ.

Trái hẳn thế, mụ lại có tài biết dược tính của vài loại lá rừng, chữa được bệnh phỏng nặng, cạo gió, biết điều chế một vài thứ thuốc cao dán mụt nhọt. Mụ lại biết cả bói bài. Mụ Phé, nói cho đúng, không hề hại ai. Nhưng hãy coi chừng, kẻ nào cố ý trêu chọc mụ. Mụ ghét nhất là bị chế riễu. Khi bị người chọc giận, mụ Phé có một cách làm cho hành động không tốt ấy phải chấm dứt ngay lập tức. Mụ đứng lại, lưng cúi khom khom, dựa thân hình còm cõi lên bàn tay chống trên khúc gậy tre đen bóng. Rồi đôi mắt , một to một bé, nhắm lại, chỉ mở hấp him, cái đầu nghiêng nghiêng ngả ngả, nhìn ngay mặt “kẻ địch” cho tới khi y quay mặt đi mới thôi. Nhưng, nếu tay rắn mắt kia, sau khi buông lời chế riễu, không chịu dừng chân mà lại bỏ đi ngay, thì mụ Phé vẫn đứng nguyên tại chỗ, dáng hình quái dị dựa trên khúc gậy, nghiêng đầu ngó theo, miệng lẩm bẩm một câu nguyền rủa hay đọc một lời thần chú gì đó.

Người ta kể lại nhiều câu chuyện khá rùng rợn về mụ.

Một buổi chiều kia, anh chàng Man, con ông cai Sĩ trông coi cà phê trong đồn điền Phú Hộ, khi gặp mụ, đã hét toáng lên: “Ê hê, mụ Phé, mắt bé mắt to…” rồi hộc lên cười ha hả. Mụ Phé dừng bước, nhìn ngay mặt tên Man, miệng lẩm bẩm:

- Này thằng kia! Đừng vội cười hộc lên như chó ngộ chó dại thế! Mụ cho lại sẽ chẳng khóc chán ra đấy! Hừ!

Hai tiếng đồng hồ sau, gia đình ông Cai Sĩ nhận được điện tín từ Lạng Sơn gởi về báo tin người con trai lớn của ông, ốm nặng từ lâu, đã từ trần.

Một lần khác, cô Huyền con ông Ngọc, giám thị sở trà, đã đanh đá gọi mụ là “con mẹ phù thủy”. Mụ mắng lại ngay:

- Coi chừng nhé! Coi chừng cái bộ mặt nõn nường đó! Có ngày lại không thua xa “con mẹ phù thủy” này ấy chứ!

Chiều hôm ấy, khi bắc nồi cám heo từ trên bếp xuống, cô Huyền lỡ tay để cám nóng sôi bắn vào mặt bị bỏng một miếng lớn trên má.

Có thể đấy chỉ là những sự ngẫu nhiên đầy tính chất rùng rợn mà chưa ai giải thích nổi. Ngẫu nhiên mụ Phé nguyền rủa những kẻ trêu chọc mụ, rồi cũng ngẫu nhiên mà những kẻ ấy gặp rủi ro. Nhưng, có nhiều điều mụ Phé, khi bói bài rồi “đọc” ra thành bài thơ hoặc những câu vè nói về sự việc đã qua, chuyện gì sắp xẩy đến thì là vấn đề khác. “Vấn đề khác” ấy, không những khiến những người hồn nhiên chất phác vội vã tin liền mà ngay cả đến toàn dân vùng Phú Hộ cũng phải băn khoăn suy nghĩ, bán tín bán nghi.

Vậy, việc bà Cầm, trong lúc tinh thần hoang mang rối loạn, chạy đến tìm mụ Phé kể cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Và, các điều mụ “phù thủy” đọc theo những lá bài mụ Phé lật ngửa đã khiến cho bà già chất phác lo buồn đến cực điểm.

Bà Án Bùi ân cần khuyến khích:

- Ờ, ờ! Có gì cứ nói đi, chị Cầm! Nói ra được là đỡ buồn lắm đấy. Nói đi!

- Vâng, vâng! Trong lúc cuống quít chẳng biết tính sao, tôi chỉ còn một cách là tìm đến mụ Phé.

Có tiếng cô giáo:

- Thế rồi chắc hẳn mụ Phé đã hỏi bà tại sao mà đến kiếm mụ chứ gì?

Bà Cầm liếc mắt ngó Bạch Xuyến. Tia nhìn của bà không một chút thiện cảm:

- Thưa, không phải thế! Chính tôi đã hỏi thẳng mụ: “Này mụ Phé! Tôi có một chuyện buồn lo quá. Mụ giúp đỡ một phen nghe! – “Ờ, ờ, ngồi xuống đi đã”. Mụ Phé bảo tôi như vậy. Tôi liền ngồi xuống ghế kê sát bàn của mụ. Mụ Phé lôi cỗ bài ra, xóc xóc, rồi lật ngửa hơn một chục cây bài lên, chăm chú nhìn một lúc lâu. Đoạn, cứ chép chép luôn miệng, lẩm bẩm nói những cái gì mà tôi chỉ nghe được những tiếng ô…ô… rất nhỏ, Chợt , mụ nói to: “Ô, trời ơi! Ô trời… trời! Tội nghiệp! Tội nghiệp! Tội nghiệp quá chừng! Trời ôi!”

Kể đến đây, không kềm chế nổi cơn xúc động trong lòng, bà Cầm nước mắt ràn rụa. Tường Vân vội vàng nắm hai tay người lão bộc, dịu dàng an ủi:

- Có gì đâu hở bà Cầm! Tất cả cái trò đó chắc mụ Phé chỉ bày đặt ra cốt ý làm cho bà hoảng sợ đó thôi! Mụ Phé làm sao mà biết được lý do gì người nhà chúng ta lại biệt tăm một cách kỳ quái như thế chứ. Có khi lý do ấy lại rất thường, mà chỉ vì lo âu hoảng hốt quá nên chưa ai nghĩ ra đó thôi.

Nước mắt bà Cầm lại ứa nhiều hơn, lăn dài xuống má. Bà nói trong tiếng khóc nức nở:

- Khi đã xem kỹ lại mấy lần nữa, mụ Phé liền bảo tôi: “ Thôi, thôi! Tôi có thể nói cho chị biết thế mà thôi! À, à, nhưng viết ra giấy thì được. Đây, giấy bút đây rồi! Để tôi viết ra cho chị nghe!”. Đoạn, mụ Phé vừa lẩm bẩm đọc trong miệng vừa viết những cái gì vào tờ giấy này đây.

Vừa nói, bà Cầm vừa lôi từ trong túi ra một mảnh giấy nhàu nát, mảnh giấy vàng khè rung tít lên trong mấy ngón tay lẩy bẩy của bà già khốn khổ.

Vừa khóc sướt mướt bà Cầm vừa đưa cho bà Án tờ giấy có chữ viết của mụ Phé. Nữ chủ nhân tiếp lấy, bình tĩnh đưa mắt đọc. Chưa đầy phút sau, bà Án đã la lớn, giọng đầy phẫn nộ, nhưng nghe kỹ có vẻ kém sút hẳn tinh thần đanh thép thường lệ.

- Mụ Phé này viết lảm nhảm những gì thế này? Đúng là đồ điên khùng.

Bà Cầm nói như van:

- Trời ơi! Xin bà đừng nói thế! Lỡ một cái…

Bà già run sợ là phải. Nữ chủ nhân của bà dám cả gan nguyền rủa bà thầy phù thủy. Nguy lắm! Nguy thật! Nhưng đồng thời bà Cầm lại cảm thấy hơi hy vọng khi nữ chủ nhân của bà không một chút nào tin tưởng vào tờ giấy của mụ Phé. Tờ giấy ghê gớm đã khiến bà kinh sợ hãi hùng.

Bà Án không tin tưởng những gì ghi trong tờ giấy của mụ Phé, nhưng sự hiện diện của tờ giấy nhàu nát không lớn hơn bàn tay ấy đã khiến bà đi đến quyết định mau lẹ: báo cho ông xã trưởng biết được sự thất tung của cậu Sinh, con trai duy nhất cưng yêu của bà và thằng Đông, Lê văn Đông, tức thằng Ngây, cháu nội bà Cầm.

Trong lúc bà Án hối hả bước ra ngoài ban lệnh cho gia nhân, Tường Vân lượm tờ giấy. Cô giáo và học trò cùng liếc mắt nhìn chăm chú. Tường Vân cất tiếng run run đọc. Càng đọc, càng nghe, hai thầy trò lại càng run sợ vì những câu rất tối nghĩa nhưng nghe rất rùng rợn trong bài thơ kinh dị như sau:

Thằng ngớ ngẩn chui vào củi chó

Lúc chui ra máu đỏ bết bê

Chăn chiên hóa sói đổi nghề

Cậu chàng quý tử đam mê chốn nào

Không chừng cậu ngự trên cao.


Chẳng hiểu bài thơ có ý gì. Nhưng tính chất ghê rợn của những từ ngữ, những chữ kỳ quái được sử dụng như “máu đỏ bết bê”, rồi “hóa sói”, nhất là bốn chữ “cậu chàng quý tử”, đối với Tường Vân quả thực đã rõ lắm rồi. Không kiềm chế nổi niềm xúc cảm tràn ngập trong lòng, cô gái gục đầu vào vai cô giáo khóc nấc lên. Bạch Xuyến hai mắt mở trừng trừng nhìn chăm chú một điểm nào đó trong không trung, miệng lẩm bẩm từng câu từng chữ trong bài thơ quái đản.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG III

CHƯƠNG I_BÀI THƠ KINH DỊ


CHƯƠNG I

Bắc Việt, năm 1943.

Hồi đó vào tháng Mười âm lịch. Tiết trời khô ráo. Gió thổi rét căm căm.

Cách Phú Thọ, một tỉnh nhỏ địa đầu miền thượng du hơn sáu cây số là đồn điền Phú Hộ, trồng toàn cà phê, trà. Cà phê và trà Phú Hộ thơm ngon đã nổi tiếng khắp miền Trung Du, Trung Châu Bắc Việt.

Trên một trái đồi rộng, dốc thoai thoải, giữa vườn cây ăn trái xanh um, là dinh cơ đồ sộ của cụ Án Bùi Đình Quang. Khu gia cư, gồm một tòa kiến trúc lớn xây theo hình móng ngựa, hai tầng lầu, có hơn một chục buồng, không kể phòng khách, phòng ăn, các nhà phụ thuộc dùng làm kho, nhà để xe…toàn thể trông như một tòa cổ thành. Nhất là cái chòi canh xây phía trên hai cánh cửa chính diện vượt cao khỏi dẫy tường bao quanh, nổi lên sừng sững, với những lỗ châu mai, mái ngói phủ rêu, bốn góc uốn cong cong, trông phảng phất giống hình phú ông đứng ngạo nghễ, tay chống nạnh, giương mắt ngắm nhìn mặt nước sông Lô xuôi chẩy lững lờ.

Quanh sườn đồi, toàn một giống trà xanh tốt thấp lè tè, mọc xòe tròn như những cái nấm khổng lồ.

Dưới chân đồi, ruộng chỉ còn trơ gốc rạ, phẳng lì, nằm nối tiếp nhau trông như những ô vuông trên mặt bàn cờ tướng.

Phong cảnh, nói chung, đẹp, nên thơ, nhưng yên tĩnh quá nên đượm vẻ buồn bã quạnh hiu.

Từ ngoài đi vào, phía bên tay trái là một cánh rừng già. Bóng rợp âm u của nó chứa chất nhiều kỷ niệm ghê rợn. Người địa phương kể lại rằng: ngày xưa, một tay cường đạo lẩn trốn trong đó. Y đã một mình chống cự với Cảnh Sát ròng rã hai ngày, hai đêm liền. Rốt cuộc, gã sơn lâm đại đạo phải ra quy hàng. Đôi mắt gã bị trúng đạn nát ngướu. Hỏi, thì hắn cười khanh khách, chỉ tay vào bụng: “Đói quá mới chịu thua đó!”. Trong nhiều tiếng đồng hồ liên tiếp, gã đã bình tĩnh chống trả toán nhân viên công lực, mặc dầu đã bị mù tịt. Thì ra, tay tướng cướp đã thuộc lòng địa hình, địa vật trong cánh rừng.

Phía tay mặt là một vũng ao lớn: ao Xanh. Ao Xanh? Chắc vì nước lúc nào cũng xanh ngắt như màu lá cây nên người ta gọi nó là ao Xanh? Không hẳn thế! Thực ra, cái ao này có chủ và ông chủ của nó tên là Xanh, ông ba Xanh. Cách đây hơn ba năm, một em bé mười hai tuổi đã chết đuối trong ao Xanh, gần bờ, ngay bên cạnh cái cầu con. Mặt chiếc cầu con lúc nào cũng ẩm ướt, rợp mát dưới bóng râm một cây si cổ thụ, rễ trùm rễ phụ xõa buông rũ rượi. Người trong vùng đồn rằng từ đó ao Xanh có “huông”.

Cách ao Xanh khoảng hai trăm thước là một nông trại nhỏ, có cái tên gọi thật chất phác: trại Con. Trại Con cũng nằm trong địa ranh, thuộc quyền sở hữu của cụ Án Bùi. Chung quanh trại Con, cây lớn, bụi nhỏ mọc um tùm xanh tốt, che khuất gần hết nông trại. Từ con đường cái lớn trải nhựa ngược thẳng Tuyên Quang, cách đó chỉ chừng năm chục thước, nhìn vào cũng không thấy được trại Con.

Nói chung, khu vực phía Đông Nam xã Phú Hộ, nơi tọa lạc đồn điền cụ Án Bùi, quang cảnh êm dịu, nên thơ thật đấy, nhưng bàng bạc một vẻ buồn man mác.

Buổi sáng hôm ấy, tại phòng ăn trong tòa nhà lớn, ba người yên lặng ngồi ăn điểm tâm. Bà Án Bùi, niên kỷ khoảng ngoài năm mươi tuổi. Sắc diện, thái độ và cử chỉ cao sang đài các, nhất là mái tóc tuy đã điểm sương nhưng vấn bới vẫn còn gọn đẹp. Bà đưa mắt hết nhìn cô con gái tên Tường Vân lại đến Bạch Xuyến, cô giáo của Tường Vân.

Tường Vân tuổi mới gần mười bẩy mà đã phát triển như một thiếu nữ 18, 19. Da trắng mịn, hồng hào khỏe mạnh, đôi mắt to đen lay láy, khuôn mặt nàng đẹp tự nhiên không điểm phấn tô son.

Cô giáo thì lại là cả một thái cực trái ngược hẳn với học trò: nước da trắng xanh trát bự phấn, đôi môi ít khi không thoa son vẫn không che giấu được số tuổi đã ngoài ba chục.

Điểm khác biệt nhất giữa hai người sư, đệ, là hai làn nhãn quang. Đôi mắt tròng nâu của cô giáo, tia nhìn lúc nào cũng sâu thẳm xa vời vợi khác hẳn ánh mắt hồn nhiên, dịu dàng của học trò. Phải công nhận nhãn quan xa xăm của Bạch Xuyến khiến sắc diện cô gái hơi luống tuổi có một vẻ đẹp khá kiêu kỳ, mặc dầu đôi môi mỏng dính, đôi khi nhếch lên tạo thành một nét nhăn trông rất đáng ngại trên khuôn mặt hầu như lúc nào cũng khắc khổ đăm chiêu.

Không khí trong phòng, bao quanh bàn ăn, im lặng ngột ngạt. Mãi sau, nữ chủ nhân mới buông sõng mấy câu. Giọng nói của bà tràn đầy phẫn nộ:

- Hơn nửa tiếng đồng hồ rồi đấy! Cái thằng Sinh này thật là quá lắm. Nó muốn người ta phải bưng hầu lên tận phòng ngủ chắc! Con trai con đứa gì mà…! Sáng bạch nhật ra, hơn chín giờ rồi, còn chưa muốn dậy nữa.

Tường Vân rụt rè nhìn mẹ:

- Thưa mẹ, đây là lần đầu tiên anh Sinh dậy trễ!

Bà Án Bùi quắc mắt nhìn con gái:

- Đúng đó Tường Vân! Đúng đây là lần đầu tiên anh con bắt đầu mất đi đức tính tôn trọng giờ giấc, đồng thời, tất cả các thói quen tốt nữa. Nhiều… rồi sẽ còn nhiều nữa… hừ!

Tiếp theo câu nói là một tiếng thở dài.

Cậu Sinh, người con trai duy nhất của bà, năm nay đã hai mươi tuổi. Cao lớn, khỏe mạnh, chàng đúng là hình ảnh của cụ Án ông, người chồng yêu quý của bà đã bị ngộ nạn tử thương trong một cuộc đi săn hồi mười năm về trước.

Ngoài hai cô con gái, một cô chị, một cô em, cậu Sinh, con trai duy nhất thừa hưởng máu huyết của cha, vóc người khôi ngô, hùng vĩ. Sắc diện thanh tú, chàng có một vẻ đẹp hào hoa. Nhưng Sinh giống cha nhất ở điểm tính tình bay bướm. Do đó, dân trong vùng Phú Hộ, nhất là các cô gái sinh đẹp con nhà, hầu hết không nhiều thì ít, đều thầm mong được lọt vào nhãn giới của cậu công tử con quan, nhà giàu, đẹp trai, học giỏi.

Lại tiếng nói của bà Án:

- Tường Vân! Chị con đi vắng, bữa nay con giúp mẹ sửa soạn mấy khóm hồng nhung ngoài vườn cho xong đi, nghe!... Ồ, quái thật! Thằng Sinh làm cái gì mà giờ này vẫn chưa thấy xuống?

Bấy giờ mới nghe cô giáo Bạch Xuyến lên tiếng:

- Thưa cụ, hay cậu Sinh bị đau chăng?

Một ánh nhìn hoài nghi loáng nhanh trong đôi mắt nữ chủ nhân. Nhưng sau vài giây ngập ngừng, do dự, bà Án Bùi cũng bấm chuông gọi gia nhân. Chị người làm tên Duyên xuất hiện. Đúng là: thầy nào tớ ấy! Quân của một dũng tướng ắt không phải nhược binh. Chị Duyên cũng có một nhan sắc rất khả ái. Nước da bánh mật, vóc người đẫy đà nhưng chắc lẳn như mình cá chắm. Khuôn mặt trái soan càng duyên dáng với đôi mắt đen sáng long lanh.

Bà chủ ra lệnh:

- Lên mời cậu Sinh xuống ăn điểm tâm. Nói với cậu lẹ lên một chút kẻo thức ăn nguội hết.

- Thưa vâng!

Chưa đầy ba phút sau, chị người làm đã quay xuống. Sắc diện lộ vẻ ngạc nhiên cùng cực, đôi mắt mở lớn, chị Duyên nhìn bà chủ:

- Dạ… thưa… cậu Sinh không có ở trên lầu!

- Ồ lạ! Thế nó đi đâu? Sáng nay nó dậy sớm lắm mà? nhận thấy chị gia nhân chưa có ý định rút lui, bà hơi cau cặp chân mày hỏi tiếp:

- Gì nữa thế, Duyên?

- Dạ… dạ… thưa bà… cậu Sinh không… a… a… Con vào phòng thì thấy gối nệm vẫn phẳng nếp y nguyên.

Bà Án thoáng giật mình. Niềm lo ngại đột ngột nhen nhúm trong long khiến nét mặt bà hơi cau lại. Hai bàn tay ngón nuột nà của bà xoay xoay chiếc bát sứ Giang Tây đựng thức ăn. Đồng thời, khuôn mặt xinh đẹp của Tường Vân, cô gái cưng, từ sắc trắng mịn cũng trở thành hồng ửng.

Tuổi mười sáu, mười bảy là cái tuổi dễ nổi cơn bất bình. Tính nết lả lơi, bay bướm của người anh trai yêu quý là nguyên nhân bốc nóng nơi nội tâm thiếu nữ. Tường Vân dư biết: về khía cạnh này, bà Án Bùi, mẹ nàng, vẫn tỏ ra rất nghiêm khắc khi các con có hành vi muốn vượt khỏi vòng lễ giáo. Vậy, giờ đây, sự vắng mặt của anh Sinh biết giải thích ra sao nếu không phải vì lý do một cuộc hẹn hò vụng trộm, rồi mải vui, đã kéo dài hơn thường lệ?

Cô giáo Bạch Xuyến ngồi cắn môi im lặng. Thần thái nhà nữ mô phạm lộ ra vẻ mệt mỏi, cằn cỗi già nua hơn số tuổi thực ngoài ba mươi nhiều lắm.

Mãi sau, bà Án Bùi mới thốt:

- Thôi được! Duyên! Con xuống nhà đi!

Chợt bắt gặp khuôn mặt nhợt nhạt của cô giáo, nữ chủ nhân hỏi ngay:

- A, cô Bạch Xuyến sao thế? Cô thấy khó chịu trong người hả?

- Dạ, tôi hơi choáng váng hoa cả mắt. Xin phép cụ lớn cho được về phòng riêng nằm nghỉ.

Tường Vân sốt sắng:

- Cô để em đưa cô lên nhé!

- Cám ơn em! Cô lên một mình cũng được.

Bạch Xuyến khuất dạng, bà Án không cần giữ gìn ý tứ nữa, hỏi con gái:

- Tường Vân! Tối qua con có thấy anh con đi đâu không?

- Thưa mẹ, không! Rõ ràng anh Sinh ăn cơm tối xong, lên lầu ngay mà, mẹ.

Tiếp theo câu nói là một nụ cười tươi như để trấn an người mẹ yêu quý.

Bà Án Bùi khẽ gật đầu, ánh mắt vẫn lộ vẻ băn khoăn:

- Để coi, chờ một chút xem!

Nói thì thế, nhưng nữ chủ nhân chẳng chờ đợi chút nào. Bà đứng phắt lên, đi tới bàn, quay điện thoại gọi bà chị họ. Ông chồng bà chị họ, chủ nhân biệt thự Dưỡng Tâm Trang ở cách đấy chừng hai cây số, có người con trai vốn là bạn thân của Sinh.

Không một ai trông thấy con trai yêu quý của bà ở đâu hết.

*

Cho tới bốn giờ chiều, niềm bồn chồn khắc khoải mỗi phút lại gia tăng trong dinh cơ cụ Án. Nhất là từ lúc “chị” Cầm vào tới. “Chị” Cầm là tá điền , được cụ Án tin yêu giao cho trông coi trại Con.

“Chị” Cầm vóc người nhỏ nhắn, tóc đã bạc trắng, vấn bới rất khéo, quấn chặt trong vành khăn nhiễu Tam Giang. Mặc dầu đã trên sáu chục tuổi, đôi mắt “chị” vẫn tinh tường, long lanh sáng trên khuôn mặt phúc hậu da dẻ hồng hào, đôi má đầy đặn, nếp nhăn rất ít. Chiếc áo cánh trắng, chiếc quần nái đen, không là ủi nhưng lúc nào cũng thẳng nếp, sạch sẽ trong trắng như tâm hồn trong trắng thật thà của “chị”. Danh từ thân mật “chị” do bà Án dùng để gọi bà Cầm bắt nguồn ở chỗ: từ đời cụ, đời ông, cho tới đời cha mẹ, gia đình bà Cầm nối tiếp nhau làm việc cho “trên cụ Án”, trông giữ trại Con. Đến đời bà, ngay từ thuở ấu thơ, bà cũng được cha mẹ cụ Án ông cho phép vào “trên nhà” bất cứ lúc nào. Và giờ đây bóng dáng bà Cầm đứng giữa khoảng sân gạch rộng trông cũng quen thuộc, thân yêu như bóng dáng của chị Duyên, của anh Giang tài xế. Bà Cầm đã được coi như người nhà.

Nhưng hôm nay, vẻ mặt bà có nhiều nét lạ khiến chị bếp hoảng hốt níu lại hỏi han. Đứng bên ô cửa sổ trên lầu, bà Án Bùi bắt gặp, nghe “chị” Cầm nhắc đến tên Sinh, liền vội vàng chạy xuống.

- Sao? Cái gì thế, chị Cầm?

- Dạ! Thưa bà Án! Tôi lên xem cậu Sinh có đưa thằng cháu Ngây đi đâu không. Suốt từ sáng sớm không thấy cháu đâu, mà cho tới giờ này cũng vẫn chưa về. Thường đêm nào nó cũng ngủ trong nhà kho, nên tối qua tôi đâu có đợi chờ, cứ yên trí vào giường đi ngủ. Sáng nay không thấy cháu đâu, tôi ngỡ cháu lên ngủ trên này.

Bà Án Bùi giật mình:

- Sao? Chị Cầm nói sao?

Không kịp đợi trả lời, người mẹ đã bị sự xúc động khiến cho ngây người đứng lặng.

Thằng Ngây, cháu ruột của bà Cầm, mồ côi cả cha lẫn mẹ. Mười bốn tuổi nhưng nó cọc người, trông chỉ bằng thằng bé lên mười. Trí thông minh không phát triển được cho nên nó chỉ hoạt động theo bản năng. Tên thật của nó chính là Đông, Lê văn Đông. Nhưng vì cứ ngây ngây ngốc ngốc nên ai cũng đùa giỡn gọi nó là thằng Ngây, lâu ngày quen miệng thành danh, một biệt danh khá ngộ nghĩnh. Nó sống với bà nội, được bà nội cưng yêu lắm. Đối lại, nó cũng mến yêu bà vô cùng, quấn quít bên bà như một con chó con. Thằng Ngây cũng yêu quý cả cậu Sinh con trai cụ Án nữa. Cậu Sinh đối với nó bao giờ cũng tử tế, kiên nhẫn dạy bảo nó đủ thứ, từng li từng tí. Không như bao nhiêu người khác cứ thấy mặt nó là trêu chọc hoặc trẻ con thì đấm đá làm khổ nó, cậu Sinh thường hay dắt nó vào rừng chơi, đến nhà các bạn điền thăm viếng. Lần nào đi săn hoặc đi câu, cậu cũng cho thằng Ngây đi theo. Anh em tá điền cấy ruộng, làm trà cho cụ Án, ai ai cũng đều vui vẻ, yêu quí cậu Sinh. Lý do: con quan mà không làm bộ làm tịch, biết thương yêu thằng bé mồ côi khờ dại. Như thế, theo trí óc chất phác của đồng bào xã Phú Hộ, là những điềm tốt lành, đem lợi ích chung cho toàn thể làng xã.

Thế rồi, ngày hôm nay, mối dây mật thiết giữa chàng thanh niên và thằng nhỏ ấy lại khiến bà Án thêm kinh hãi vô cùng: sự vắng mặt, bà nghi rằng có thể là mất tích của Sinh, con trai bà với việc thằng Ngây biệt tăm cùng một ngày giờ. Bấu víu, căn cứ vào đâu mà có thể cho rằng đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên?

Bà Án ngẩng đầu, lên tiếng gọi con gái ở tầng lầu hai. Đúng lúc đó, bà chợt thấy khuôn mặt cô giáo Bạch Xuyến ở tầng lầu một thụt nhanh vào. Ý chừng cô không muốn để bà chủ biết là cô có tính xấu hay nghe lỏm chuyện của người khác.

Bà Án nghĩ thầm:

- Hừ! Nghe lỏm thì nghe! Đâu có ăn thua gì cái nhà cô giáo Xuyến này! Nhưng quả thật cái việc thằng Sinh khiến mình lo lắng quá đi. Lo phát điên lên được chứ không ít đâu!... Bà cất tiếng gọi to: Tường Vân à, Tường Vân! Xuống mẹ bảo đây!

Rồi quay lại bà Cầm lúc đó đang đờ người ngó bà với tia mắt sầu thảm như có ý chờ đợi một lời khuyên nhủ trấn an:

- Ráng bình tĩnh nghe chị Cầm! Cuống quít lên là hỏng hết cả đấy! Cậu cháu nó chắc lại vui chân đi chơi xa đâu đấy, ra ngoài Phú Thọ không chừng! Sớm muộn gì rồi cũng phải về chứ! Có gì mà ngại!

Miệng bà nói “có gì mà ngại”. Nhưng trong lòng bà cảm thấy lo ngại không để đâu cho hết.

Tường Vân từ trên lầu hai chạy xuống. Sắc mặt cô gái lộ rõ nét băn khoăn:

- Mẹ ơi! Con đã vào phòng anh Sinh xem anh có viết giấy để lại dặn dò gì không thì không thấy gì cả! Có điều này hơi lạ: áo “ba đờ suy” và mũ dạ của anh vẫn còn ở trên đó mẹ à.

Bà Cầm đã bước đi lại quay trở lại. Giọng nói của bà run rẩy nhiều hơn:

- Ồ, lạ! Thế là sao nhỉ? Thằng cháu Ngây thì lại đi cả giầy tây đội mũ vải. Không biết cậu cháu nó có cùng đi với nhau không chứ?

Bà Án cảm thấy hai thái dương nhức buốt như búa bổ. Trong từng thớ thịt, từng lóng xương, tựa hồ có muôn vạn con gì bò trườn gặm nhấm như mọt gặm gỗ. Hai đầu gối bà như lỏng ra, hai cẳng chân không còn sức đỡ nổi thân mình. Bà chỉ muốn được nằm lăn, chết lịm ngay ra đấy chắc là dễ chịu lắm. Ai đời tiết tháng mười giá lạnh như thế này, con trai quý của bà bỏ đi chơi xa mà chỉ lại phong phanh có bộ đồ “vét”. Không mặt áo ba đờ suy, đầu không đội mũ… Hừ!

À, nếu vậy thì có thể là Sinh chỉ quanh quẩn gần đây, không đi đâu xa khỏi vùng Phú Hộ. Người mẹ lại thấy lóe lên một chấm sáng hy vọng:

- Này, chị Cầm! Thử chờ hết chiều nay xem sao. Để coi! À, đến bữa cơm tối! Nếu bấy giờ cậu cháu nó vẫn chưa về, mình sẽ đi trình Lý trưởng.

- Vâng, phải đấy ạ! Nếu bẩy giờ tối mà cháu Ngây vẫn chưa về, tôi sẽ lại chạy lên cụ.

Hai mẹ con bà Án ân cần nắm tay bà Cầm đưa ra tận cổng cái.

Quay vào, gặp cô giáo Bách Xuyến đi ra, Tường Vân nhanh nhẩu:

- Thưa cô, cô thấy trong mình khá chưa?

- Cám ơn em, đỡ lắm rồi! Cô ra nhà thờ một lát. Tường Vân đi chơi luôn thể đi?

Bà Án gật đầu, bảo con gái:

- Phải đấy, con đi với cô giáo cho vui! Nhớ cầu xin Chúa che chở để cho mọi điều má con mình lo sợ không thể trở thành sự thật được nghe!

________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG II

Bài Thơ Kinh Dị




Truyện : NAM QUÂN
Loại Hoa Tím
Tủ sách Tuổi Hoa - 1973



Sưu tầm và đánh máy : BD
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>