Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

CHƯƠNG V_TRÊN ĐƯỜNG TÌM NGỌC


CHƯƠNG V


Gió hây hẩy thổi và bầu trời dịu lại khi hai đứa lên đường. Con đường rộn rịp hẳn lên khi trời mát: xe hơi, xe đạp qua mặt chúng vun vút. Lạc đà, lừa, bò thì đi chậm hơn. Vài chú ngựa gầy chạy lóc cóc lóc cóc kéo theo những cỗ xe chĩu nặng hàng hoá. Hai anh em Lai lóc thóc bên lề đường đầy bụi. Mặt trời chiều chiếu sáng khắp cánh đồng lúa và hàng rào mía, những lạch nước lấp lánh như những giải bạc.

Thỉnh thoảng là một ngôi làng với những nhà đất xám, chứa đầy con nít mắt đen. Chợt giật mình, hai đứa tách rời nhau và lầm lũi bước mau vì nỗi sợ hãi do cái loa chưa thôi ám ảnh. Phải, ai mà không thèm 100 rúpi với công việc dễ dàng, chỉ cho nhà chức trách hai đứa trẻ nghèo hèn ? Thật tối mịt, chúng mới dám đi gần nhau, chân Mai vẫn khập khiễng khó nhọc, nhưng Lai lờ đi làm như không thấy, nghĩ rằng không phải bận tâm làm chi vì nó sẽ khỏi. Song càng lúc, Mai càng khập khiễng hơn, đầu nó nghiêng về một bên, tuy vậy, con bé vẫn bước tới, không ta thán. Lai tự hỏi làm sao em nó có thể đến A-rát nếu cứ như thế này ?

Một đôi lần, Lai ra dấu xin đi nhờ xe song vô ích, chả ai thèm đoái hoài đến chúng. Người ta đã quá quen với lũ trẻ nghèo hèn chực đi nhờ xe. Lai thu hết can đảm để xin một bác dắt lừa kia cho em nó ngồi lên con vật một lúc và lại bị từ chối. Tại xứ này có nhiều giai cấp, kẻ ở giai cấp cao được kính nể còn bọn ở giai cấp dưới bị khinh khi, mà chúng thuộc về giai cấp thấp hèn nên không ai thèm chú ý. Bác dắt lừa khinh khỉnh quay đi không thèm trả lời Lai. Thế là thôi, chúng biết rằng không ai hoài hơi bận lòng về chúng, chúng phải tự liệu lấy thân.

Chúng lần dò bước tới, con em khập khiễng, khập khiễng…

Đến một làng kia, Lai thấy có con lạc đà đứng riêng trong lúc các gia đình quây quần bên ngọn lửa. Bóng con vật in rõ lên nền trời tối đen, đầu quay về hướng A-rát, có vẻ sắp lên đường. Lưng con vật chất một bọc hành lý nặng và người chủ đang sửa soạn chất lên thêm. Lai hiểu rằng nếu không tìm được cách chở con bé thì đành phải ngừng cuộc hành trình trong đêm nay, chưa biết chừng nào còn phải dừng cho đến lúc chân nó thật lành, và không biết đến ngày nào… Thế là Lai lại tận dụng can đảm để van xin lần nữa.

Chủ con vật là một gã đàn ông gầy gò, không có gì đặc biệt. Ông ta liếc nhìn hai đứa, đôi lông mày rậm và dài đến nỗi chúng có thể lầm là hai hàm râu khi thoạt thấy. Giọng khàn khàn, ông hỏi :

- Tụi bây đi xin ăn phải không ?

- Thưa ông không, chúng cháu là người đi đường.

Ông ta cúi nhìn Mai và kêu lên :

- Chà, cháu có hai mắt xanh…

Mai hoảng hốt lùi lại, tay sờ soạng tìm tay anh. Nó đã vô ý không nhìn xuống đất ! Cái mầu mắt quái ác này dám hại anh em nó lắm à!

- Trước ta cũng có đứa cháu mắt xanh – người chủ con lạc đà nói – nhưng nó quá khôn ngoan nên đất ăn đi rồi. Sao đó cháu, cháu bị thương ở chân ư ?

Hỏi mà không đợi câu trả lời ông ta nhấc bổng con bé đặt lên các bao vải, rồi bảo thêm :

- Ngồi trên đó tốt đấy ! Cháu có thể ngủ một giấc.

Câu chuyện xảy ra nhanh chóng bất ngờ khiến Lai lúng túng không tìm ra lời nói cảm ơn ông. Tức khắc họ lên đường. Mai ngồi trên lưng một con vật cao ngất nghểu, cao hơn tất cả xe đạp, xe hơi và bộ hành đang tiến cùng chiều. Chân nó được đỡ đau, nó mừng lắm.

Tuy thế cỡ vài giờ sau, con bé bị chóng mặt vì nhịp lắc lư của bước chân lạc đà, nó khóc nho nhỏ. Ông chủ lạc đà khuyên nó nên nằm sấp lên mấy bao vải và nó tuân lời rồi chốc lát ngủ thiếp đi.

Lai nắm chặt lấy mẩu dây đong đưa bên con vật. Chao ! Mọi sự đều tốt đẹp ngoài sự mong muốn của thằng bé. Không phải thấy em khập khiễng cạnh mình Lai cho là nó có thể đi đến tận cùng trái đất.

Trời tối sập và mỗi lúc tiếng ếch nhái kêu oàng oạc to thêm ở hai vệ đường. Không có ánh sáng gì khác trừ ánh sáng của các đèn xe. Rồi càng về khuya xe cộ càng thưa. Sau rốt chỉ còn gặp vài con lừa hay vài xe bò với những hàng hóa nặng trĩu. Đôi lúc, một bóng đen băng qua đường, dừng lại đột ngột nhìn họ bằng hai mắt sáng quắc rồi biến vào bụi rậm; lúc ấy Cam gầm gừ trong cổ họng như sẵn sàng ứng phó rồi cọ cái mõm ướt vào chân Lai. Lai và ông chủ vẫn im lặng rảo bước bên con vật to lớn. Có khi, ông ta lầu bầu gì đó chắc để tỉnh ngủ. Hay là có cái gì làm ông ta phật ý, Lai không đoán nổi. Nó nào biết gì về ông ta cũng như con vật. Con lạc đà thừa dịp Lai đi sau, nó đá hậu vài cái song Lai không phiền hà vì em mình được yên ổn trên lưng nó. Ông chủ tuy giọng nói khàn đục nhưng tỏ ra tốt bụng trăm lần hơn so với những ông chủ xe sang cả khác.

Đây là đêm đầu tiên Lai đi bộ trên đường, vậy mà ông ta chả hề có ý muốn dừng lại nghỉ chân; nó cố gắng giữ chặt sợi dây trong tay, bước tới. Lai ít khi bị vấp song trong đời nó, nó quả chưa hề mệt đến mức này. Lai như một kẻ mộng du, trong trạng thái nửa mê, nửa tỉnh.

Cuối cùng, bình minh ló dạng trên cánh đồng đầy sương mù. Lai phờ phạc ngẩng lên nhìn các vì sao mờ mờ rồi tắt hẳn trong lúc bầu trời sáng dần.

Họ dừng cạnh giếng, con vật quì xuống, còn Lai thì khuân giúp mấy kiện hàng. Ba người lo rửa mặt cầu kinh sáng. Ông chủ quì xuống, hướng mặt về hướng đông, nhắm mắt, hai tay chắp lại, đoạn họ quây quần trên bờ ruộng ăn uống, sưởi nắng. Mai lạnh và đói meo, Lai phải xoa lưng và hai cánh tay cho em. Ông chủ đưa cho Lai cái chăn len để đắp cho con bé còn ông thì nhóm lửa và dọn cho chúng trà nóng pha ít mật ong kèm lát bánh mì khô, lại có cả vải rừng. Ông quá rộng rãi : ngay đến con Cam cũng được ăn. Giọng dịu dàng ông bảo :

- Ăn đi con ! Hai tay rụt rè làm sao thân hình nở nang cho được ? Có đủ cho tất cả, đủ hết, cứ ăn đi !

Bữa ăn linh đình này như tiếp sức cho mọi người. Lai chậm rãi uống trà, nhìn qua miệng tách, nó thấy đôi má hóp và bộ ngực lép của ông ta, thằng bé đoán rằng ông cũng chẳng dư dật chi.

- Ông ơi ! Ông thích đi đi về về với con lạc đà ư ?

- Ta rất ghét, con ạ ! Nhưng vì nạn đói ta đã cầm cố hết đất đai. Bây giờ ta phải cố gắng làm lụng ngày đêm để có tiền chuộc lại, hiểu không ?

Ăn xong, ông xức thuốc lên chân cho Mai, dùng vải băng lại để mau lành, ông nói thế rồi hỏi chúng đi đến đâu với cái chân đau này.

- Thưa, đến A-rát.

- Tận A-rát hở ? Xa quá ! (ông nhíu mày tiếp ) Mà chỉ có hai đứa bằng hai con muỗi tép !

- Thưa, đúng vậy. Chúng cháu sẽ cố xoay sở…

- Vậy chớ các con đi đến đó làm gì ?

- Dạ, để xin vô nhà thương chữa mắt cho em cháu.

- Hừ, đừng mong mỏi vô ích, không có chỗ đâu. Không bao giờ ! Cháu ta đã chết vì không có chỗ đấy, con ơi !

- Thưa ông, sẽ có ! Thế nào cũng có.

Và bằng vài câu vắn tắt, Lai kể cho ông ta nghe lý do nào đã khiến nó mạo hiểm như vậy. Lai ngỡ là ông sẽ khen nó hiếu học, nào ngờ ông trách :

- Hóa ra con lôi con bé đáng thương đi qua nửa xứ Ấn Độ cốt để con được lợi ? Rõ ràng là lợi cho con chứ nó có được gì ?

Lai cải chính :

- Có chứ, thưa ông, nó sẽ sáng mắt mà !

- Nếu vì lợi cho nó thì chuyến đi này đáng tiếp tục. Trời sẽ giúp con ! Còn như chỉ vì con thì quả là chuyện điên rồ, Trời sẽ không thương đâu . Con ơi ! Lợi lộc và danh dự thường không đi đôi, không nằm chung chiếu, con nên nhớ thế.

- Lợi lộc là cái gì, hở ông ? – Mai tò mò hỏi.

- Người thủ lợi là người… là người chỉ ưng làm gì tốt cho mình, cho riêng mình thôi, không nghĩ đến xung quanh.

Lai không thích nghe diễn thuyết dài dòng. Cuộc hành trình tiếp tục.

*

Họ đi trọn đêm và ban ngày lúc trời mát, nghỉ ngơi và ngủ lúc nóng, nắng cao. Lạc đà chậm chạp hơn mọi con vật khác, tuy vậy nhờ nó, mà hai đứa trẻ đã vượt được một chặng đường dài.

Ông chủ – tên là Sâm Du – biết nhiều cổ tích, đã kể cho chúng nghe nên chúng rất thích, quên cả nhọc mệt. Một hôm, ngồi nghỉ chân dưới bóng mát, ông ta kể thêm một chuyện:

- Có một nông dân nghèo kiết, siêng năng cần mẫn song nhiều năm qua mà vẫn vắt mũi đút miệng, mang nợ nần hoài. Một bữa nọ, anh thành khẩn cầu xin Nữ thần Nhân ái hãy ban phúc cho anh bằng cách cho anh ít tiền để trên lò sưởi đặng anh trang trải nợ nần. Cầu xin xong anh dắt bò ra đồng. Một cành xương rồng móc rách áo anh, khi anh hì hục trên thửa đất. Anh ta tức giận, đào cả gốc cây lên và chao ơi, kỳ diệu làm sao : anh thấy bên dưới thòi ra một cái nắp nồi đất. Anh tò mò đào thêm cho đến khi mở được nắp nồi, anh thấy trong nồi đầy nhóc đồng vàng. Thoạt tiên, anh rất vui mừng song sau nghĩ lại, anh tự nhủ : “Nếu Nữ thần Nhân ái thương mình mà ban cho số vàng này thì hẳn Ngài đã để nó trên lò sưởi nhà mình chứ không để đây. Tiền vàng này không phải của mình, có người chôn giấu và người ta sẽ khổ sở lắm nếu ta lấy mất đi”. Thế là anh đậy nắp lại, lấp đất lên như cũ, dắt bò về. Tối đó anh kể lại câu chuyện cho vợ nghe, rồi còn thêm : “Mình nghèo mang nợ đầy đầu, nhưng tôi không muốn làm điều bất lương, mình ạ !”. Mụ vợ tưởng điên lên vì cái tính khí khái ngu ngốc của chồng. Tuy vậy, mụ cố gắng chờ cho anh ta ngủ yên rồi chạy ù sang nói với người láng giềng đầu đuôi câu chuyện và đề nghị anh ta đào lên giúp mụ, mụ hứa sẽ chia đôi kho vàng. Anh ta thuận liền. Công việc tiến hành trong đêm tối, một mình anh ta vì vợ người nông dân không dám trái ý chồng mà dự kiến việc đào lên.

Nắp nồi được giở ra, bên trong lổm ngổm đầy những rắn, gã láng giềng giận lắm, cho là mình bị gạt hay mụ muốn ám hại mình, gã đậy sập nắp lại, đem về ngang nhà kẻ gạt gã, gã leo lên nóc nhà và trút hết rắn trong nồi vào ống khói – miền bắc nước Ấn nhà nào cũng có ống khói . – “Đáng đời tụi bay, vô cớ mà muốn hại ta”  Gã lầm bầm.

Rạng đông đến, gã nông dân chất phác kia thức giấc, cầu kinh như thông lệ. Gã bỗng nhận ra có gì khác lạ trên lò sưởi và chỉ giây lát mặt trời rọi vào, vàng sáng lóe lên. Nước mắt chảy dài trên má gã, gã kính cẩn tạ ơn Nữ thần, vì gã biết Ngài đã dành tiền đó cho gã…

- Người nông dân thật là… tốt, nhưng thưa ông, nếu là cháu, thì cháu đã lấy ngay từ lúc đào thấy ngoài đồng, thế mới thực tế…

Lai góp lời. Ông Sâm Du nghiêm giọng :

- Không chỉ có tiền là đủ. Cháu phải nhớ điều này : tiền mà mình giữ phải mang đến cùng lúc với sự bình an trong tâm hồn. Nó phải là một ân phúc...

Lai không hiểu nổi một ân phúc phải kèm cùng tiền bạc. Vả lại, trong đời nó, nó đã nghe đến chán các lời giảng về luân lý, đạo đức rồi. Hai ngày qua, chúng được yên ổn với ông Sâm Du tốt bụng và con lạc đà, chả ai để ý đến Mai ngồi khuất người giữa mấy kiện hàng trên lưng con vật. Mỗi khi nắng rát bỏng lưng, Lai còn dám lấy sơ mi ra mặc.

Hành trình tốt đẹp cho đến sang ngày thứ ba, điều khủng khiếp xảy ra : đúng lúc Sâm Du tìm chỗ cho lũ nhỏ nghỉ trưa thì một xe mô-tô trờ tới, đỗ xịch lại ngay sau lưng họ. Lai nhận ra viên cảnh sát ở A-la-ba-ha, còn gã thì nhìn cái sơ mi của Lai và dáo dác tìm con bé, song không thấy. Gã nắm vai Lai lắc mạnh.

- Mày mấy tuổi ? Nói mau !

- Dạ, mười… ba ! Lai quá kinh ngạc không kịp nghĩ đến nói trớ nữa.

Viên cảnh binh đưa mắt nhìn con Cam – chắc gã thất vọng vì thay vì con bé mắt xanh, áo đỏ lại là con chó gầy nhom ! Cùng lúc đó, Sâm Du đến gần, gã hỏi :

- Thằng này có đứa em gái phải không ?

- Đứa em gái ? Tại sao nó có đứa em gái, hả ông ?

- Cảnh sát truy nã hai đứa trẻ 13 và 7 tuổi. Tôi tìm ba ngày nay, lục xét con đường này cả trăm lần rồi. Tôi chắc chúng chưa trốn xa. Chúng bị truy nã về tội ăn trộm.

- Ăn trộm ? – Lai gặng lại vì nó không tin ở tai mình.

Sâm Du cũng ngạc nhiên không kém:

- Chúng ăn trộm gì thế, hở ông ?

- Ôi chao ! Cái thứ trộm ấy mà…

Có tiếng kêu khẽ từ trên lưng con lạc đà và tim Lai nhảy đùng đùng trong lồng ngực nhưng may quá, viên cảnh binh chẳng hay biết gì cả :

- Ai chỉ điểm chúng sẽ được thưởng 100 rúpi lận à ! Một đứa 13, một đứa lên 7, bác thấy chúng không ?

Sâm Du không trả lời câu hỏi mà lại nói :

- 100 rúpi ! Số tiền lớn quá !

- Chứ sao ! Bác thấy chúng không ? Số tiền thật lớn...

- Vâng ! Nhưng tôi đâu có rảnh mà chạy theo lũ trộm ranh. Chà! Mới lên 7 và 13 mà dám ăn trộm… Lạ nhỉ ? Hai đứa nhỏ…

- Bác tưởng chuyện chơi sao ? Lũ trộm ranh rình mò khắp nơi đấy nhé ? Bác giúp tôi tìm chúng, tôi sẽ tặng bác 50 rúpi.

- 50 rúpi ? Lạy trời ! Cộng với tiền bán lạc đà này tôi có thừa để chuộc lại đất ruộng. Nhiều quá !

Viên cảnh binh lặp lại như cái máy :

- Con em mắt xanh, áo đỏ, quần lam. Thằng anh ăn mặc giông giống thằng này…

- Giống thằng bé này ? – Sâm Du chỉ tay vào mình Lai, hỏi – Ông nói thật chứ ?

Lai tưởng mình sắp khụy xuống nếu không cố gắng. “Trời ơi ! ông ta sắp giao mình cho cảnh binh đây mà, số tiền lớn quá, mà ổng thì cần để chuộc đất đai, ổng cũng như cha mình : rất quí đất đai”. Nó đứng chết lặng, chờ Sâm Du lôi tuột em mình từ lưng lạc đà xuống. Tiếng viên cảnh binh:

- Phải ! Mà… mà thằng này thì không thấy có em gái lại có con chó. Hay là chó của bác? Trong tờ thông tư truy nã, không thấy nói có con chó…

Sâm Du điềm nhiên :

- Tôi như ông, tôi lùng trong các làng mạc, ông có cái mô-tô tốt quá, cần gì chạy tìm xa? Con nhỏ 7 tuổi làm sao đi nổi tới tận đây.

- Phải, phải ! Nếu nó không được chở bằng xe hay…

Gã nhướng mắt lên như sắp tìm trên lưng con vật, song trời ơi, rõ là ai che mắt gã – hay con bé sợ quá đã nằm mọp xuống lưng con lạc đà – nên gã chả thấy gì sốt cả. Sâm Du đủng đỉnh nói:

- Ai mà thèm chở không công bọn ăn mày với bọn ăn trộm, thưa ông !

Lại có tiếng rên khẽ xuất phát từ lưng con lạc đà, song viên cảnh binh chả để ý gì, gã gật gù :

- Bác nói có lý. Chắc tụi nhóc trốn đâu gần đây thôi. Chào bác.

Gã nói và tận lúc ấy mới nới tay, buông thằng bé đáng thương ra, nắm lấy mô-tô. Chỉ chốc lát, gã biến mất trong đám bụi mù. Sâm Du buông sõng :

- Tiền đó to thật, song con ơi… nó không nằm đúng trong lò sưởi của ta !

- Vâng !

Thằng bé nói không ra tiếng, nó phải ngồi xuống giữa đường vì hai gối nó run rẩy. Mai nhanh nhẹn rời lưng con vật. Mặt nó không tái như anh mà đỏ bừng vì tức tối, nó hét to:

- Tụi cháu không phải kẻ gian ! Chưa bao giờ tụi cháu đụng đến một đồng xu nhỏ của người khác. Tụi cháu con nhà lương thiện, tuy nghèo…

- Ta cũng sắp hỏi các cháu. Nhưng ta tin các cháu. Xem ra các cháu…

- Cháu tự hỏi người ta phao vu như thế để làm gì ?

Lai lên tiếng nói. Sâm Du cười buồn:

- Trẻ con và người cô thế, người nghèo thường bị vu cáo. Các cháu vừa là trẻ con lại vừa nghèo…

*

Sau giấc ngủ trưa, hai đứa phải chia tay con người tốt bụng, vì ông không đi xa hơn nữa. Mai khóc nức lên, Sâm Du an ủi :

- Chân cháu bây giờ cũng mạnh như chân thằng Lai, mà hễ phàm mình không có ngựa thì phải dùng hai chân mình. Từ đây, các cháu sẽ không đến nỗi khó nhọc lắm đâu. Ta rất tiếc không thể giúp gì cho các cháu. Lai giỏi lắm : nó giúp ta khuân hàng lên và cất hàng xuống…

Lai định lấy tiền để trả công chở và phần ăn mấy ngày nay, song ông khoát tay, ngăn lại :

- Ta không lấy tiền cháu đâu. Nhưng mà này, Lai ơi, cháu ngu lắm : giữa đường mà dám móc tiền ra như vậy là gợi lòng tham của kẻ gian. Giấu ngay đi ! Trời phò hộ cho các cháu ! Thôi, ta đi !

Ông vắt cái khăn quàng bằng len cũ lên vai, dắt lạc đà rẽ sang hướng khác trong lúc hai đứa trẻ bùi ngùi đứng nhìn theo một lúc lâu.

Bên con lạc đà to lớn ông ta mới gầy còm, nhỏ nhắn, đáng thương làm sao !

Hai đứa đứng lặng cho đến khi ông ta khuất dạng, tưởng như vừa chia tay một người thân.

*

Thấy chân em lành, Lai nghĩ là hành trình sẽ tốt đẹp song rồi nó biết mình lầm : sức của đứa con nít 7 tuổi thua xa đứa 13. Ban ngày ngủ thì dễ dàng còn thức để đi ban đêm lại khó khăn làm sao. Lai phải thuận để cho em tháo chiếu ra ngủ vài giờ, đêm cũng như ngày.

Chúng không còn phải hỏi từng chặng để biết còn bao nhiêu cây số mới đến A-rát nữa. Hai anh em học được ở Sâm Du khá nhiều điều : tìm một góc kín đáo để nghỉ, tắm rửa trong mấy lạch nước, dùng phân lạc đà khô nhặt ở dọc đường để thổi nấu thức ăn trong cái nồi nhỏ xíu chúng mang theo. Trộn với chút bơ cứng, cơm ăn khá ngon. Song Mai thường mau mệt, muốn cho nó quên khó nhọc, Lai phải moi óc kể đủ thứ chuyện : cổ tích, phiêu lưu, mạo hiểm, có chuyện kể xong rồi kể lại.

Ba ngày sau khi chia tay Sâm Du, hai đứa khám phá ra một cái bao li – một thứ hầm trú ẩn dưới đất và trong đó có giếng. Những loại hầm này đào đã khá lâu để người ta làm chỗ trú khi có giặc. Chúng tìm thấy khi men theo một hàng rào tre trong cánh đồng. Lối vào được che lấp do những cây xương rồng. Đang đi, Mai vấp một cái mạnh vào bậc đá dẫn xuống đường hầm, nó kín đáo đến nỗi Lai đứng ngay trên miện hầm mà không nhận ra gì khác lạ. Chúng hiểu ngay công dụng của nó. Hầm có nhiều hành lang rất thoáng và có những lỗ thông hơi để nhìn, thật mát.

Đứng dưới hầm chúng nhìn quanh nhận ra những bức vách dày tô thạch cao, dưới chân chúng là cát và trong góc có giếng. Mai láu táu:

- Dám có kho tàng ở đây lắm, anh ơi ! Chưa biết chừng mình sẽ giàu…

- Đừng có mơ, nếu có thì họ đã vét sạch từ lâu rồi…

Lai tỏ ra chín chắn, tuy nhiên, nó cũng từng nghe có con nít khám phá ra những hầm trú ẩn cũ chứa kho báu. Mai bới tung cát, miệng nói :

- Có thể mình tìm ra vài đồng bạc, biết chừng lại có một hạt ngọc trai to bằng trứng chim câu… Chà ! Nếu được hai hạt, ta cho bà một, cho mẹ một…

Lai khiêm tốn hơn :

- Anh chỉ mong được vài đồng để mua cái xe đạp cũ. Anh sẽ chở em đến A-rát.

Chúng chăm chú quan sát từng viên đá trên thành giếng và sờ hết các khe hở ở các bức tường.

- Dám có viên kim cương à ! Anh em ta sẽ giàu to, anh ơi !

Nói xong, Mai vốc cát lên tận mắt nhìn, cười thật tươi:

- Chưa chừng được viên hồng ngọc. Em thích hồng ngọc lắm !

Mấy ngón tay nó sờ soạng cùng khắp nơi từ cao đến thấp. Lai cũng làm theo em, chúng mải mê cho đến nỗi quên phắt con Cam rên rỉ ở trên, vì chủ quên dắt xuống. Chả thấy gì cả, Mai bắt đầu nao núng, nó bớt hy vọng đi vì hiểu rằng mình đòi hỏi quá đáng :

- Thôi, em mong được một viên ngọc nhỏ, đủ trả nợ cho cha thôi.

Cuối cùng, chúng trở lên trước khi vứt vào miệng giếng viên sỏi, từ đáy vọng lên một tiếng khô, giòn, ngắn chứng tỏ giếng cạn từ lâu rồi. Con Cam vui mừng nhảy cẫng lên, còn hai đứa thì cảm thấy nóng quá. Bầy dê nấp dưới bóng bụi tre quay lại nhìn chúng trừng trừng. Mai đề nghị :

- Anh Lai, xuống hầm ngủ chút đi… rồi tìm lại lần nữa coi.

- Còn sớm lắm, ngủ chi ? Mày cứ ưa nghỉ hoài. Còn phải tìm phân trâu nữa…

- Ngọc quí hơn phân trâu, vàng còn quí hơn nữa, mình sẽ dùng ngọc vàng mua…

- Thôi, làm gì có ngọc vàng trong đó – Lai gắt em – Nếu có họ cũng đã vét sạch từ lâu rồi.

- Nghỉ chút mà, anh Lai !

Mai nài nỉ, nom nó nhỏ nhắn xanh xao giữa bầu không khí nóng bức làm Lai động lòng. “Mình ác quá, nó dám ngã quị dọc đường lắm. Và như vậy thì làm sao đi đến nơi về đến chốn được ?” Lai tự nhủ và nhìn em, trở xuống trải chiếu cạnh giếng cho Mai nằm. Cam không chịu đi theo làm Lai phải chạy lên kéo cổ nó, nó vùng vẫy dữ.

Cả ba ăn chút ít cá khô, uống nước rồi nằm xuống. Cam thôi hục hặc, phục xuống cạnh Mai và chỉ giây lát cả ba ngủ say vì quá mệt.

Bên trên trời không một gợn mây, con đường dày đặc bụi do xe đạp và xe hơi tung lên song dưới hầm êm ả, mát rợi. Mai hồng hào trở lại, hơi thở đều đặn.

Từ miệng giếng, một con rắn hổ lớn vặn mình trồi lên và bò lại gần chúng, song hai đứa vẫn ngủ say sưa. Chính những tiếng gầm gừ báo động của con Cam làm Lai thức giấc, mắt nhắm mắt mở, nó thấy bộ lông con vật dựng đứng lên rồi cái đầu rắn… Lần thứ nhất, Lai thấy một con hổ mang ngay bên cạnh. Như bị thôi miên, Lai không rời mắt khỏi cái đầu đang lắc lư, con Cam run lên như cái lá, rên khe khẽ. Lai gần như nín cả thở vì biết nó làm một cử động khẽ là con ác vật phóng tới liền. Hai tay vùi trong cát – vì trong cơn ngủ mê, nó đã lăn ra khỏi chiếu. Cứng ngắc như khúc cây, Lai đối mặt với cái đầu đang lắc lư không biết là bao lâu, không nhớ rõ. Thời khắc trôi qua, con vật cuộn tròn mình lại trong khi Lai vẫn chết sững nhìn khúc thân dài trườn tới như gợn sóng.

Bỗng, Mai tỉnh dậy vì tiếng rên rỉ của Cam, ngồi bật lên. Sợ đến cùng cực Lai hét to một tiếng còn Cam thì sủa lên dữ dội như tiếng một con chó sói. Không kịp nghĩ ngợi gì, Lai chộp chiếc chiếu phủ ập lên đầu rắn như mấy người thợ săn trong mùa mưa thường kể lại và nhanh nhẹn nắm tay em phóng như bay lên mấy bậc cấp trong lúc dưới hang âm vang tiếng hét thất thanh của nó vẫn còn vọng lại tai. Tiếng hét bất ngờ đó làm con rắn sợ ? Hay vì đã già và mệt mỏi rắn không thể phóng nhanh ? Hoặc nhờ chiếc chiếu ngăn nó lại Lai không có thì giờ nghĩ đến. Thoát hiểm, anh em nó đứng run rẩy trên miệng hầm, hơi thở ngắt quãng dưới ánh nắng chói chang nom tựa hai tấm giẻ lau trước gió.

Hoàn hồn rồi chúng vẫn không biết nên làm gì, không thể bỏ chiếu và lương thực lại trong hầm, mà xuống ư ? Ai thoát được nọc rắn hai lần tiếp ? Mặc cho em đứng khóc thút thít, Lai chạy ra đường cầu cứu. Phải làm cái gì chứ ? Khóc thì ích lợi chi ?

Từ xa một cái xe sang trọng trờ tới, Lai thu hết can đảm trên đầu lưỡi, lắp bắp trong khi người Ấn sang trọng thắng xe lại :

- Một con rắn hổ mang ! Dạ, thưa… một con hổ mang…

Người Ấn thuộc hàng quí phái này chẫm rãi hỏi :

- Con hổ mang đâu ? Ngay trên đường cái, hở ?

- Thưa ông, không ! Nó ở dưới hầm, trong kia…

- Con rắn dưới hầm, trong kia ? Mày tưởng tao có thì giờ để xuống hầm bắt rắn cho mày ư ? Lui ra ! Tao gấp lắm . Tao phải tới A-rát nội nhật ngày hôm nay.

Đi A-rát ? Mà lại bằng xe hơi ? Ơ ! Còn gì bằng ? Lai vội vàng nói :

- Nếu vậy, xin ông chở cháu theo… cháu cũng đi…

Giọng tức giận lẫn ngạc nhiên, gã sang trọng ngắt lời :

- Tụi bay đến A-rát làm gì ?

Lai cố gắng kể lại vắn tắt mục đích chuyến đi song người quí phái không đủ kiên nhẫn để nghe, ông ta nổ máy trước khi Lai dứt tiếng, những lời giải thích và nài nỉ lẫn trong tiếng động cơ và tiếng gạt đi :

- Tránh ra mau ! Đừng mất thì giờ !

Và ông ta rú mạnh ga, cái xe phóng tới… Ôi chao, thì giờ của người quí phái mới quí báu làm sao ! Hai đứa lại đến cầu cứu một ông già dắt lừa đang ngồi nghỉ ở vệ đường. Cái vẻ tốt bụng của ông giúp chúng đủ can đảm để kể lại đầu đuôi câu chuyện, mà kể rất dài dòng: từ chuyện đôi mắt, trường học, cho đến Sâm Du và… cuối cùng là con rắn.

Ông già chờ chúng dứt lời, diễn thuyết cho chúng nghe một bài đại luận dài ngoằng về sự nguy hiểm của hang sâu, hốc tối, chính nơi mát mẻ là chốn cho ác vật ẩn núp v.v…

Giọng trịnh trọng, ông kết luận :

- Ta có thể mạo hiểm và hầm khi có đông người, và khua động ồn ào vì sẽ không đáng ngại. Còn vào đó mà ngủ thì quả là điên, vì khi yên tĩnh chính là khi rắn thò đầu ra. Các con ơi ! Ta rất muốn giúp các con, song ta có đến tám đứa con cho nên ta không dám đương đầu với ác vật được !

Thất vọng vì không được ai giúp, hai đứa quay lại ngồi trên miệng hầm, thêm một lát và sau cùng Lai dò dẫm bước từng bước một xuống hầm, thận trọng quan sát xung quanh trong lúc con chó Cam từ trên kêu ăng ẳng như thể nhắc chừng tiểu chủ đừng khinh địch. Chiếc chiếu nằm trơ ra đó, còn rắn đã mất tăm. Lai đánh bạo, la lối om sòm như thể muốn bảo con rắn : “Đông người lắm đây, đừng tưởng bở !!”. Vừa bước đến bậc cuối của bậc cấp dẫn xuống hầm thì nhanh như tia chớp nó vơ vội tất cả những gì ngang tầm tay và nắm một góc chiếu… Đột nhiên, Lai kêu rú lên vì chợt thấy con tắc kè trên vách . Bên trên Mai khóc ròng :

- Rắn cắn anh không ? Anh bị nó cắn phải không ? Anh thấy gì không ?…

Lai há hốc miệng ra thở, trả lời đứt quãng :

- Không… ơ ! Thôi, anh thề từ nay không bao giờ xuống hầm nữa, Mai ơi !

Tội nghiệp chúng: đã không tìm thấy kho báu mà còn mất hết một chiếc chiếu và phần lớn lương thực. Chúng lặng lẽ cuộn tất cả những gì nhặt được vào cái chiếu độc nhất còn lại, lên đường.

________________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VI

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

CHƯƠNG IV_TRÊN ĐƯỜNG TÌM NGỌC


CHƯƠNG IV


Anh em Lai vào chuồng gia súc để từ giã chúng, lên đường. Bầy trâu cúi đầu mặc cho hai trẻ vuốt ve khoảng trũng giữa hai sừng và đáp lại bằng những tiếng rống nho nhỏ, nồng nhiệt.

- Thấy chưa ? Chúng biết mình đi, tội ghê, hở ?

Mai nói với anh, còn Lai thì ôm cổ con trâu to nhất bầy, con trâu Cát. Nó nói với giọng xúc động :

- Cát ơi ! Tao sắp đi, xa lắm, rồi đây ai sẽ ngồi lưng mày để đưa mày đi uống nước ? Ai đem rơm tới cho mày ăn ? Chỉ còn tụi nhỏ xíu xiu. Tội mày lắm, tao thương mày… tao đâu có ưng bỏ mày, mà thôi, tao sẽ về…

Con em gái thì vỗ vỗ vào từng con trâu một, hỏi anh :

- Mình đi lâu mau hả anh Lai ?

- Làm sao anh biết trước ? – Lai nhún vai – chắc chắn là lâu, rất lâu…

Nó bỗng nghe em gái thở dài buồn bã, vội trấn an :

- Chúng ta sẽ cố đi nhanh nhanh.

Hai anh em chúng được đàn gia súc này tiễn bằng những tiếng rống. Còn hai thằng em trai kế chúng thì không rời chúng một bước. Chứ sao: anh chị chúng sắp đi xa lắm và chỉ điều này cũng đủ tỏ cho chúng biết là họ rất… đặc biệt, rất… người lớn. Chúng nhìn hai đứa bằng những đôi mắt khâm phục, trang nghiêm. Hai đứa em cũng từ giã đàn trâu như thể chúng được đi.

Nhưng chưa xong, còn phải từ giã con Xích-mi. Nói cho ngay, đáng lẽ con lừa được đi với hai tiểu chủ kia đấy, song lừa đã già rồi cho nên dù rất thận trọng – ấy, kẻ tuổi tác vẫn hay thận trọng – lừa đã bị khập khiễng ở chân. Thế là ý định trên bị bãi bỏ, vì nghĩ coi: làm sao có thể làm cuộc du hành dài với một kẻ thận trọng mà… khập khiễng cho được ? Vuốt ve con vật, Lai tiên cảm rằng minh không còn hy vọng gặp nó lúc trở về, Lai xót xa lắm và con vật như cũng chia xẻ ý nghĩa ấy.

Lai tâm sự :

- Mày cứng đầu lắm, Xích-mi ơi ! Mày với tao cứ giận nhau luôn, xong có ai thân với nhau bằng mình, hở ? Rồi đây mày xem, chắc mày không còn cơ hội để hất tao vào bụi gai nữa đâu, nghe !

Giờ là đến phiên con Cam, hoạt náo viên của gia đình. Khó nhất đó ! Lai tự nhủ. Kể cũng đáng tiếc. Lai đã nài nỉ mỏi miệng mà cha chúng vẫn chẳng bằng lòng cho chúng đem Cam đi. Vị gia trưởng cứng lòng quá ! Cam bị buộc vào thân cái cột giữa sân, đó là điều Cam ghét nhất : bị cột như thể là con trâu !

Trông dáng bộ nó mà thương: đứng bằng hai chân sau, hai chân trước của nó gác lên mình tiểu chủ, đôi mắt mở to nhìn Lai như cầu khẩn, van nài.

- Mày không đi được, Cam ơi ! Cha không cho, ông nói là đường xa, nguyên hai anh em tao cũng khó được no lòng thay là còn đèo bòng thêm mày. Cha nói : “Đừng có điên” mày hiểu giùm tao… Đừng làm tao buồn…

Cam rên rỉ thêm. Nó không có vẻ muốn hiểu gì cả, nó buồn và giận vì chủ nó thì tự do còn nó lại bị cột chặt thế này này… Lai lại an ủi :

- Mày phải biết cha cũng thương mày, sợ mày chết đói dọc đường đó.

Miệng nói thế mà trong bụng thì Lai không tin rằng Cam lại có thể chết đói dọc đường : nó đánh hơi rất tài tình , dễ gì đói ? Lại cố thuyết phục cha lần nữa :

- Cha ơi, xin cha cho con đem nó theo, có nó chó rừng sẽ sợ mà rắn rết cũng lảng xa, nó canh chừng chúng con.

- Không đâu. Đừng cãi lời cha : phải đi theo con đường lớn, theo các bộ hành khác, đừng rời họ. Làm gì có rắn rết, chó rừng ? Đem nó theo, phải chia thức ăn, như vậy các con sẽ đói, cha không xấu bụng nhưng nhà mình nghèo, đi vay khổ nhục… con biết mà.

Lai cúi đầu im lặng không dám nài nỉ nữa. Mai thì thào vào tai anh :

- Cam sẽ tìm ra anh em mình khi được thả ra. Nó đánh hơi tài nhất.

- Đoạn đường đầu ta đi xe bò, em quên à ? Làm sao nó đuổi kịp… Thôi, đừng bàn tới nó nữa, em!

*

Mẹ Lai cuốn quanh bao thức ăn cái chiếu, thức ăn gồm có một gói gạo khá to, cá khô, bánh mì và bơ. Thêm hai chén gỗ, một soong nhỏ cùng hai cái chăn len mỏng để phòng lạnh ban đêm. Bà nội cho thêm một ổ bánh ngon gói trong lá vải.

- Nếu các con biết giữ gìn, thức ăn này dành được khá lâu – Người mẹ dịu dàng nói.

- Thưa mẹ, con biết.

- Mắt luôn luôn mở to, miệng luôn luôn ngậm lại thì mọi điều sẽ tốt đẹp – bà nội dặn dò thêm – Nếu các cháu đau, hãy nhai vài lá trầu, trầu trừ được chứng sốt đó.

- Thưa bà, con nhớ…

Đến lượt người cha lặp lại lời dặn lần thứ 10 hay 11 chi đó :

- Đến A-rát tìm ngay ông chú con, ông tên là A-li-Sinh, càng sớm càng tốt, ông giúp việc ở tại nhà A-li-Rớt. Nhớ chưa ?

- Thưa cha, con nhớ : chú A-li Sinh ở nhà A-li Rớt.

Chiếc xe bò của người láng giềng tốt bụng nặng chĩu một núi rơm được giữ đứng vững bằng ngọn sào tre đã đến, bác ta ngồi phía trước nhịp ngọn roi chờ. Hai đứa trẻ leo lên trong khi tiếng con Cam đuổi theo ăng ẳng một cách tuyệt vọng, nó đã cố gắng hết sức mà không sao bứt nổi sợi dây trói.

Chao ! Chúng lên đường một cách đột ngột, mở đầu cuộc hành trình cầu may. Người mẹ đứng lặng với đứa em út trên tay rồi như chợt nhớ con mình sắp đi xa vội vẫy tay từ biệt. Bà nội phất cái khăn choàng đỏ. Còn cha chúng : ông đứng sững, trang nghiêm giữa hai đứa nhỏ, mỗi đứa được ông nắm một tay.

Tội nghiệp chúng, nếu từ biệt bầy gia súc đã lâu, khó khăn và làm chúng khổ tâm thì bây giờ từ biệt cha mẹ và ba em, chúng càng đau khổ vô vàn. Họ đứng đó, lặng lẽ trong khi chúng xa dần, xa dần trên một cái xe bò ! Nào khác chi chúng là một nhánh cây bị đốn bất ngờ khỏi thân, nhánh cây đó sẽ phải chết không ? Bụng Lai thắt lại một cách khác thường. Sao mà cha mình đứng sững như thế ? Sao ông không vẫy tay chi hết ? Sao ông buồn dữ vậy ?

Con em gái trái lại vui vẻ ngồi trên đống rơm. Nó không cảm thấy mình là nhánh cây bị đẵn, vì cạnh nó có anh. Mặc cái áo mới tinh đỏ chói trông nó tựa trái dâu chín rộ. Với nó thì Lai quan trọng nhất và có Lai mọi sự đều tốt đẹp, an lành.

*
Như lệ thường ở xứ này : đêm xuống thật mau như một tấm màn đen khổng lồ úp chụp xuống mọi vật. Họ phải tiến tới trong đêm dày để đến kịp A-la-ba-ba sáng hôm sau. Lai ngồi nhìn tứ phía và cởi phanh áo cho gió mát lùa vào khuôn ngực lép. Xa xa, cánh đồng còn sáng song xe chạy dưới các tàng cây thì tối om rồi.

Ngọn đèn bão treo phía trước dưới đống rơm rọi một lằn sáng dưới chân bò. Ít xe qua lại, không có xe hơi bóp còi inh ỏi, chỉ lơ thơ vài chiếc xe bò đi chợ tỉnh thôi. Trong các bụi xương rồng rậm rạp dọc đường, dế gáy vang rân. Thay vì chợp ngủ như em gái vô tư, Lai thao thức ngắm trăng lưỡi liềm.

Sáng hôm sau, mặt trời khuất sau hàng cây vải um tùm biến một vòm trời trở thành đỏ hồng. A-la-ba-ba ló dạng, nhà cửa san sát và nóc đền đài dinh thự chói lòa dưới nắng ban mai.

Từ băng trước, bác đánh xe ngủ gà ngủ gật cả đêm cũng bừng tỉnh, bác để bò chậm bước theo các xe khác. Một lúc sau, bác cho xe dừng cạnh một kinh nước lấp lánh giữa cánh đồng xanh ngắt, thả đôi bò ra cho chúng uống nước.

Trước mặt họ, dọc theo con kinh, người người rửa mặt và thì thầm đọc kinh. Buổi sáng mát rợi. Mai co ro khi rửa mặt dù nước trong kinh ấm hơn không khí. Hai đứa trẻ không nhẩn nha lâu được vì người láng giềng lại giục lên đường. Chúng nuốt vội nắm cơm đoạn lên xe.

Nhiều xe khác chất ngập hàng hóa xuất hiện từ các ngả đường về hướng chợ. Con trai ồn ào như giặc chòm dắt bầy dê kêu be be và bầy trâu gầm gừ, bụi tung lên mờ mịt trong khi đám bộ hành, xe đạp và ô tô càng lúc càng đông.

Hai đứa trẻ chưa thấy cảnh náo động như thế. Đến cổng thành phố, hai đứa phải xuống. Xe bò sắp thành hàng dài tại đây đóng thuế trước khi nhập thị. Hai đứa lễ phép cảm ơn người làng giềng rồi xách hành lý lẫn vào đám đông. Kể từ đây, chúng biết rằng không bao giờ được ngủ trên xe rơm thơm ngát nữa.

Thằng anh vừa chợt thấy em xách theo một túi vải và nó biết có gì trong đó : những viên sỏi trắng và những mảnh thủy tinh đủ mầu mà em nó thích sắp thành hình chơi. Mai không nỡ xa cái túi này. Lai nghiêm giọng bảo :

- Mai, không được đem theo, bỏ lại đi cho gọn.

Nhưng con em đâu chịu thế ? Nó dậm chân thình thịch xuống làm vòng cổ nó kêu lên leng keng :

- Kệ em, em xách chớ có bắt anh xách đâu ? Can chi đến anh ?

- Thì giờ đâu mà chơi ? Mình phải đi, đi, đi mãi, đi hoài, mà em thấy chớ, mình mang nhiều thứ quá rồi.

Lời qua tiếng lại sau cùng Mai bằng lòng chỉ giữ lại những viên nhỏ nhất và nhiều mầu, còn viên to thì bỏ lại. Nó chôn tất cả xuống một bụi rậm và quay lại để nhìn cho rõ nơi chôn.

Chao ! Vào một ngày hội chợ, đi lại trong thành phố rất khó khăn. Hai đứa thấy ngay sự khác biệt giữa đi bộ và đi xe, bị xô lấn kinh đi. Chúng cố bước tới, Lai nắm khư khư bàn tay nhỏ bé mềm mại của em, vậy mà đám người vẫn như xô vào chúng, làm chúng ngạt thở. Tiếng ồn chói cả tai. Lai hỏi thăm đường đi A-rát và được trả lời bằng cái lắc đầu hay cái cười khó hiểu, người thì chỉ một phương hướng mơ hồ, bên kia đám đông. Lai kêu lên :

- Mai ơi ! Người ta sẽ dẫm nát anh em mình mất, phải tìm cách trở lui, phải ra khỏi đây ngay !

Nhưng trở lui cũng lại là chuyện không dễ dàng gì : người ta tiến tới theo một chiều nhất định, chỉ còn cách để đám đông lôi cuốn theo. May thay, một con bò thần có đôi sừng vàng óng chợt xuất hiện, đủng đỉnh đi ngược chiều. Mọi người dạt cả ra nhường lối. Rồi thình lình một người mặc đồng phục lớ quớ dẫm lên chân Mai. Cô bé kêu rú lên và khóc nức, đau quá !

- Anh Lai ơi ! Dắt em đi chỗ khác… hu…

Lai quả quyết nhìn quanh và nhận ra con bò thần được kính trọng, nể tránh. Tức thì nó lấy cùi chỏ thúc mạnh bên trái, bên phải và kéo tuột em đến gần bò. Hành lý đặt lên đầu nên rảnh tay, nó nắm lấy đuôi bò và giữ chặt lấy cho đến lúc rời đám đông. Bất ngờ, con vật nằm phục giữa đường, đám đông kính cẩn tránh nó. Mai vẫn ti ti khóc :

- Giày sắt, anh ơi ! Ổng mang giày đế sắt, nhìn coi, chân em chảy máu này !

Phía bóng mát trên đường có một dãy hàng quán ăn, Lai dắt em đến mua hai annas đậu phụng luộc, đậu gói trong tấm lá bàng. Rồi hai đứa leo lên bậc cấp một đền thờ vàng chóe ngồi trên bậc cao nhất, Lai bảo em :

- Thôi, giờ ăn đi ! Từ đây phải nhớ tránh xa đám đông, nghe ?

Không phải nhờ anh dỗ mà chính nhờ đậu phụng dỗ Mai nín khóc. Vừa ăn con bé vừa săm soi mấy đầu ngón chân chảy máu, xuýt xoa và kết luận là chúng cũng không đến nỗi phải nát bét. Lai khuyến khích em :

- Mai ơi ! chắc chắn là chúng còn tốt, chúng sẽ mang em đến tận A-rát mà !

Nụ cười mếu máo nở trên khuôn mặt lấm lem nước mắt. Đột nhiên, chúng nhận ra trước mặt chúng bên kia công trường có một nhà giam và một gã mặc đồng phục ka-ki đang đọc to tờ giấy quá cái ống loa. Lần đầu tiên mà chúng được thấy dụng cụ làm lớn tiếng nói người ta thành tiếng rống của con voi ! Chúng nhìn không chớp mắt…

- Cảnh sát đang lùng kiếm hai anh em thằng Lai và con Mai, con của… thằng Lai 13, con em nó thì lên 7. Thằng anh da nâu, bận áo sơ mi mầu hạt dẻ, con Mai áo đỏ, quần xanh lá cây. Con nhỏ này mắt xanh… A lô…

Hai đứa há hốc miệng, kinh ngạc, quên cả đậu ngon.

- Anh nghe không ? Họ kêu tên mình kìa ? Có nói cả áo quần…

Hai đứa nhìn nhau trong lúc tiếng kêu vẫn ong óng :

- Sẽ thưởng 100 rúpi cho ai bắt được chúng. Tôi nhắc lại : thằng anh 13 tuổi, con em 7 tuổi…

- Hay là cha muốn kêu mình về ?

- Đừng nói tầm phơ, cha làm gì có 100 rúpi để thưởng ?

- Mình lại hỏi ổng đi, anh !

Mai nói và tuột xuống khỏi bật thềm. Lai nắm bím tóc em kéo lại :

- Ngu ! Như vậy làm sao đến A-rát chữa lành mắt được ? Mày phải biết rằng nếu muốn mình về, cha chỉ nói hãy trở về là được rồi – Giọng quả quyết, Lai tiếp trong lúc Mai dừng lại – Đây là cảnh sát mà, họ muốn bắt mình. Trời ơi…

Viên cảnh binh đầu kia đọc to lại lời thông báo và cao giọng hơn :

- 100 rúpi tiền thưởng !

Hình như có người đang theo dõi chúng ? Lai nhanh nhẹn gom đậu phụng lại gói trong tấm lá bàng, nắm gọn trong tay và giấu dưới chéo áo, vơ hai bọc đồ:

- Mai ! Đi ! Đi thôi !

Nói xong, nó nắm tay em lôi đi. Hai đứa co giò chạy biến. Mai đụng vào nhiều người khiến họ chửi ầm lên.

Chúng vấp ngã, đứng lên chạy và lại vấp ngã. Tiếng kêu ơi ới sau lưng. Đám đông tản dần ra nhưng hai trẻ không dám quay đầu lại, chỉ chăm chú chạy ra khỏi cổng thành. Đến quốc lộ, chúng nhận ra phương hướng: thì ra chúng đang trên đường về và chúng cũng kiệt sức rồi, chúng ngã nhoài dưới tàng cây.

- Lai ơi ! Về nhà đi anh, em sợ cảnh sát bắt quá đi !

- Mình có tội gì mà sợ họ ? Anh nhất định đưa em tới A-rát dù có phải cởi bỏ hết áo quần…

Vừa nói, nó vừa giận dữ nhét cái áo bọc hành lý, đoạn quay sang em :

- Đừng nhìn người ta, đừng để họ thấy mắt em xanh…

- Em muốn về ! Em muốn về thôi ! Em không thể nhìn xuống đất suốt chuyến đi, anh biết chớ ?

Và lần thứ ba trong một ngày, Mai khóc nức lên. Thình lình, một con vật từ đâu lao sầm vào mình Lai, mình nó bụi bặm, hơi thở hào hển… Anh em Lai đờ ra một giây và nhận được con vật thân yêu, chúng mừng quá đỗi. Con vật tuyệt vời ! Lai ôm con nhỏ, đặt nó lên đầu gối, vuốt ve:

- Cam ! Tao biết mày cừ lắm, nhưng làm sao có thể… chúng tao đi xe bò mà…

Mai thôi khóc, nhảy nhót quanh anh và con Cam, cười to:

- Em thả cái khăn quàng cổ xuống đất, kéo lê đi… Anh không thấy khăn dơ quá hay sao ?

- Sao mày không nói cho tao biết với ?

- Em không dám chắc con Cam chạy kịp, anh sẽ buồn. Thà cứ…

Lai cười theo em, vui vẻ. Chào ! Con bé 7 tuổi này thật khôn ngoan, tuy nó đang dò dẫm trong thế giới tranh tối tranh sáng nhưng nó có trí thông minh chứ, chưa chắc người lớn đã có sáng kiến như nó ! Mai vỗ về lên bộ lông lem luốc đầy bụi của Cam, nói :

- Nó đã tìm ra anh em ta là điềm tốt, phải không anh ?

Điềm tốt hay không, Lai không rõ được, có điều việc này giúp hai đứa vững lòng hơn và quên phăng giọng nói đáng sợ của viên cảnh binh.

Bấy giờ chúng đã rời khỏi thành phố chật chội, hỏi thăm đường đến A-rát. Mai bước khập khiễng song chúng vẫn bước tới cho đến khi nắng lên cao, buộc chúng phải dừng chân.

A-la-ba-ba với nhà tù và cái loa gióng giả đã bị lùi lại đằng sau lưng, xa lơ xa lắc. Chúng ăn uống rồi ngủ liền bốn tiếng đồng hồ dưới bóng cây thốt nốt.

________________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG V

CHƯƠNG III_TRÊN ĐƯỜNG TÌM NGỌC


CHƯƠNG III


Ấn Độ, thần thánh rất đa dạng và lắm tên, mỗi gia trưởng chọn một vị nào theo ý thích để thờ. Cha mẹ Lai thờ Chaya, đó là Nữ thần của Bóng tối và Từ ái. Họ tin rằng nhờ Nữ thần này nên mặt trời mới chịu lặn vào buổi chiều và không thiêu đốt quả đất mỗi sáng. Toàn gia vây quanh bàn thờ, bà nội cầm chuông rung, giọng kính cẩn, đầu cúi mọp dâng lời thành kính đến Nữ thần: “Xin Ngợi khen Ngài” đoạn cả nhà cầu nữ thần phò trợ cho.

Sáng hôm đó, người cha thay cái xà-rông mới giặt, chải tóc rồi dắt hai con đến nhà Gourou. Cam đòi theo nhưng bị cột ngoài hành lang vì đi thăm Gourou mà dắt nó đi thì vô lễ quá ! Nhưng con vật vốn quen theo Lai nên phản đối bằng cách sủa lên ăng ẳng.

Gourou, ông lão mặc toàn một mầu vàng đã chấm tử vi cho hai đứa trẻ khi chúng vừa khóc oe oe. Nghe lý do cuộc thăm viếng bất ngờ này, ông lui vào trong để tra cứu hồi lâu. Khi ông trở ra, ông đến thẳng bàn thờ cắm đầy hoa ở góc phòng lấy một cái hộp nhỏ, trên nắp hộp có gắn một miếng kính – vật này là của một vị Thánh khác – và theo lời ông thì người ta có thể nhìn thấy tương lai hiện trên mặt kính. Ông cầm đưa cho Lai:

- Lai ơi, con nhìn xem có thấy gì không ?

Lai mở to mắt nhìn vào tấm gương lấp lánh nhiều mầu, trả lời:

- Thưa, có thấy… con thấy một cánh đồng vàng cháy và một con rắn đang bò.

- Bây giờ, con lắc cái hộp thật mạnh, nhìn nữa và cho ta biết con thấy gì khác không ?

Lai làm theo :

- Thưa, con thấy con đường dài.

- Tốt ! Còn gì chăng ?

- … Có một cái gì to to, xam xám, chà, chắc con voi…

Người cha nóng nảy :

- Xin ngài cho biết có chữa được mục tật của cháu không ?

- Hãy lắc hộp đi và coi lại lần nữa, Lai ! Có gì nữa ?

Ông lão làm như không nghe lời người cha nói . Lai lại tuân lời :

- Thưa, con voi xám, vậy thôi !

- Hãy mừng đi : con voi xám xuất hiện sẽ mang đến điềm lành cho con. Tốt lắm !

Và ông thong thả quay sang cha Lai :

- Tôi không thể đoán chắc cháu Mai sẽ sáng mắt nhưng cuộc hành trình ở vào mùa trăng cho nên tôi tin là rất thuận lợi và tốt đẹp. Tuy Lai không thấy đường về và chính tôi cũng không biết rõ hơn nhưng chắc chắn là chúng không về bộ. Hãy cho chúng đi ngay đi ! Tôi không còn gì để bảo nữa song tôi chúc lành cho !

Vậy là đủ lắm rồi, cha con Lai cảm ơn ông lão rồi đến thẳng nhà một người giàu có nhất làng, chuyên cho vay. Ông không thể để con đi với bốn bàn tay không và cũng cần có tiền để chúng đi xe về – không thể về bộ, Thánh đã dạy thế.

Nhà hào phú này ở một cái nhà thật sự chứ không phải trong chòi đất như cha Lai, nhà có nhiều gian, có cửa ăn thông phòng này sang phòng kia, có ống khói. Trước cửa chính có hai chữ “VĂN PHÒNG”. Lai tuy không biết đọc song hiểu nghĩa hai chữ hoa đó: V-Ă-N P-H-Ò-N-G ! Nó đã từng đến đây với cha để vay tiền mua thóc giống mà !

Chủ nhân, một gã đàn ông đẫy đà, có vẻ nặng nề khi di chuyển. Hôm nay, gã không ngồi ở Văn Phòng mà ngồi ngoài sân, dưới bóng cây keo (lạ nhỉ ?!).

Tay phe phẩy cái quạt, gã vui vẻ đón khách. Gã luôn luôn vui vẻ với khách cho đến khi bắt đầu bàn chuyện tìền nong – đặc tính của hạng cho vay chăng ? Ba cha con Lai cúi gập người chào chủ nhà theo tục lệ và trời ơi ! Đúng lúc đó Cam bất ngờ xuất hiện giữa sân, nó nhẩy chồm lên mừng Lai một cách khá ồn ào, tiếng sủa làm điếc cả tai, cổ vẫn tòn teng đoạn dây. Cam ta thích thú vì được tự do nhào vào đống phân bón cho nên thân mình tiết ra toàn phân là phân. Lai xấu hổ quá, quát lên chứ chẳng biết làm gì hơn :

- Cam ! Cam !

Thằng bé biết rằng khó mà vay tiền được với một con chó đeo bên lưng mà là một con chó đầy phân bón, hôi rình. Cha Lai cũng thế, ông rối rít xin lỗi, song tiếng ông bị tiếng con vật át đi. Tuy nhiên, sau cùng, Lai cũng tóm Cam được, bắt nó im và Mai nắm dây, lôi tuột nó ra sau.

May mắn thay : sáng hôm đó, chủ nhân rất vui vẻ, giọng ân cần, gã chỉ tay về phía con bé :

- Chào ! Ông bạn ơi ! Anh có đứa con gái xinh quá đi ! Đôi mắt nó xanh biếc. Hiếm lắm đó nghe ! Miền Bắc Ấn này đốt đuốc mà tìm cũng không có đứa có đôi mắt thứ hai. Nào cháu bé ! Lại đây ! Múa cho ông xem nhé ! Đưa con chó đây ông giữ hộ !

Mai miễn cưỡng đến gần và trao dây cho chủ nhà nhưng ông ta hét toáng lên như dẵm nhằm tổ kiến :

- Hừm ! Thôi ! Thôi ! dắt nó đi, hôi quá thể, dắt đi !

Song ông ta vẫn cười khằng khặc một cách vui vẻ trong lúc hai tay khoa khoa lên xua chó. Cam sợ hãi chạy thật xa lại một góc sân. Lai thở phào nhẹ nhõm : nhân vật quan trọng không nổi cáu !

- Nào ! Múa đi cháu ! Mẹ cháu có dạy cho cháu múa hát những bài Thánh ca chứ ?

- Thưa ông có !

Mai ngập ngừng đáp không hứng khởi chút nào trong việc giúp vui cho ông ta song cha nó trừng mắt ra hiệu nên nó phải tuân lời, hất hai bím tóc ra sau; chắp hai tay lên đầu và ngoan ngoãn múa, hát. Mai hát những bài ca ngợi Nữ thần của Bóng tối và Từ ái, vị thần đã ban mưa cho mặt đất khô cằn và giấc ngủ êm ả cho loài người sau một ngày mệt mỏi.

- Dễ yêu ghê đi ! – Chủ nhân khen – Tôi tin là anh bạn sẽ khỏi phải tốn nhiều tiền làm của hồi môn cho nó khi nó xuất giá

Người cha khốn khổ chộp lấy lời này :

- Thưa ông, ông chưa biết rõ : tôi không hy vọng gì gả được nó lấy chồng. Mắt nó kém lắm, thưa ông, và vì vậy tôi đến đây để nhờ ông… giúp đỡ…

- Con trai anh bạn cũng khá đấy, vạm vỡ, nhanh nhẹn đó chứ !

Gã khen tiếp song chợt nhớ ra, hỏi :

- Ủa, anh bạn nói nhờ tôi chuyện gì vậy ?

Ôi chao ! Đến để vay tiền mua giống, giải thích lý do còn khó khăn thay là chuyện vay tiền đi chữa mắt tận A-rát, song biết làm sao ? Người cha thương con quá ! Nhưng rồi sau cùng, ông cũng nói lý do. Chủ nhân gãi gãi ở cằm :

- Đi A-rát ? Đi bộ ? Hai đứa nhỏ đi bộ ? Điên hả ?

- Thưa ông, tôi thì quả thật quê mùa dốt nát, song nghe nói ở A-rát có bệnh viện chữa mắt rất hay, thầy thuốc giỏi nhất nước Ấn. Dạ, thưa… tôi cũng đã hỏi ý Gourou, Ngài bảo được. Thưa ông, quả là tốn kém, nhưng con là núm ruột… thưa ông… tôi đâu ưng làm chuyện điên cuồng ? Chẳng qua là…

Suốt trong lúc nói, người cha cúi đầu không dám nhìn mặt gã nhà giàu. Gã cố kiên nhẫn nghe đến đó rồi ngắt lời :

- Anh bạn ơi, chớ có phí tiền cho một chuyện dị đoan như vậy. Từ đây đến A-rát xa lắm, tốn tiền lắm… anh không biết gì hết, đừng…

- Thưa ông, tôi thật dốt nát không biết gì, dạ, đúng vậy, nhưng lũ nhỏ đi bộ được vì chúng khỏe mạnh lắm. Chừng về thì đi tàu hỏa. Dạ, thưa, tốn chừng 15 rúpi.

- 15 rúpi ? – gã nhà giàu kêu lên như bị bỏng nước sôi – nghèo như anh bạn! Anh sẽ không có để trả cho tôi trước mùa gặt, anh biết mà ? Đó là chưa kể tiền lời tất cả không dưới 19 rúpi à !

Lai kinh hãi vì thấy trước cuộc hành trình bằng tàu hỏa tốn kém quá, nó kéo tay cha :

- Cha ơi, thôi để anh em con về bộ, cha à ! Đi bộ thì cũng về bộ được mà !

Người cha cương quyết lắc đầu :

- Không ! Không về bộ, Thánh đã dạy rồi. Con phải nhớ : sau mùa mưa rắn bò lổm ngổm đầy đường… và còn thú dữ nữa.

Trong khi cha và chủ nhà đi sâu vào chi tiết tiền nong, Lai làm một vòng thám hiểm quanh sân và lén vào nhà trong, lần dò theo một mùi thơm là lạ. Chợt, Lai nhận ra cái đuôi con Cam ló ra ở một góc. Lai lo ngại, gọi to:

- Cam ! Lại đây ! Lại đây mau !

Con chó như trở thành câm và điếc (vì mùi thơm làm nó chỉ còn nghĩ đến cách làm bất cứ gì để có ăn) không nhận ra ý chủ muốn gì. Lai theo vào trong, một phòng rộng, bàn ghế sơ sài nhưng dưới đất có nhiều thảm và gối bông. Hẳn là chỗ gia đình ông nhà giàu ngủ trưa. Trong góc có tiếng quạt máy sè sè và trên cái ghế thâm thấp có một sa-ri bằng lụa đỏ, vài món nữ trang lấp lánh.

- Cam ! Mày đâu rồi, hả ?

Lai đảo mắt tìm, gọi nhưng chả thấy tăm dạng chó đâu, mà trong góc phòng, một cái hộp nhỏ lại biết nói y như người thật. Tuy lạ, song Lai có nghe mang máng về vật kỳ diệu này và nó biết là trong làng chỉ duy một mình gã nhà giàu sắm nổi. Đây là lần đầu Lai được thấy tận mắt và nghe nó nói tiếng người. Lai kinh ngạc đứng yên, quên cả chó Cam, cả mình đang đứng ở đâu. Không một bóng người, từ trong hộp, tiếng nói cất lên lảnh lót :

- … Đây ! Tổ chức Y Tế Quốc Tế ! Tổ chức này hiện đã nhận bảo trợ thêm một triệu cho công tác chữa bệnh phung. Hiện nay, tổ chức này cũng đang nới rộng tầm hoạt động tận các làng mạc trong vùng…

Bệnh phung ? Lai biết qua loa : người phung họp nhau thành từng nhóm riêng biệt trên các thềm nhà ga và bị cấm nhập chung với các hành khất khác. Còn Y tế Quốc Tế thì khó hiểu thật. À ! Như thế thì người phung có hy vọng lành bệnh ư ? Cái hộp này biết được ư ? Nó có tài phép bằng vị Gourou không ? Lai tò mò thò tay sờ nhẹ lên cái hộp. Mặt trước hộp miếng vải chắn mịn màng rung rung dưới các ngón tay Lai như thể… như thể là có ai trốn trong đó thở ra vậy. Tiếng nói vẫn lảnh lót, rõ ràng :

- Bác sĩ Herman tiết lộ rằng…

Nhưng than ơi ! Lai không được nghe trọn câu vì có tiếng kêu giận dữ từ gian bên đột ngột kéo nó trở về thực tại. Con chó Cam ! Cái gì xảy ra ? Nó đã làm gì đây ? Con chó hiện ra, đuôi quặp, mõm dính đầy những bột. Phía sau nó, bà Ất Vi, vợ ông chủ hầm hầm đuổi theo. Thân hình to béo của bà ta chiếm gần trọn bề ngang khung cửa, hai má phúng phính, đỏ au. Chà ! Thân mình và khuôn mặt bà ta xem ra mềm nhão, Lai tự nhủ. Phải, tất cả đều mềm nhão như bột nặn, trừ giọng nói. Bà hét lên the thé :

- Đồ chó chết ! Chó ăn mày ! Dám ăn bột của bà ! Chó chế… ết !

Lai hãi quá. Song lạ thay giọng nói dịu dàng trong cái hộp thì vẫn coi bà ta như không, chả hề nể sợ chút nào :

- … Có đoàn bác sĩ và y tá đi thăm viếng các làng mỗi ngày, nhiều quốc gia tham dự vào cố gắng đáng kể này…

Bà chủ tuồng như không để ý mảy may đến cái hộp, tiếp tục chửi con chó đói :

- Đồ chó khốn nạn ! Đồ… (chợt thấy thằng bé, bà ta như quên phắt con chó liền) Thằng kia ! Mày làm gì đây ? Lén vào đây từ bao giờ, hử ? Hử ?

- Kính chào bà !

Lai đưa tay lên trán nghiêng mình, lễ phép và lịch sự hơn bà chủ nhà thô lỗ nhiều. Trong khi đó, cái hộp vẫn dịu dàng, rành mạch :

- Chương trình năm năm của Ấn Độ sẽ thay đổi nếp sống khốn khổ của người dân… tương lai rộng mở…

- Tao sẽ cho mày biết… những người dân khốn khổ…

Bà Ất Vi hét toáng lên, tay chộp lấy thằng bé lắc mạnh đến nỗi nó ngỡ là tay chân nó rời rã ra. Cái sa-ri đỏ và cái ghế nhỏ như nhảy múa trước mắt nó ! Trời ơi ! Hai tay bà ta đâu có mềm nhão như Lai tưởng ! Bà ta mạnh làm sao !

- Mày là ai ? Hử ? Mày đến đây để làm chi ? Trả lời mau !

Miệng nói, đôi tay hộ pháp tiếp tục lắc mạnh thằng bé. Hình như những tiếng Lai định nói ra dính chặt vào nhau, mắc nghẹn ở cuống họng. Giây lâu nó mới có thể trả lời :

- Tôi… tôi là Lai, con trai lớn của ba tôi, ông Cước.

- Của nợ của mẹ mày !

Nói xong bà ta buông nó ra. Lai vỗ nhè nhẹ thăm thú khắp mình để biết chắc mình vẫn còn nguyên vẹn. Và nó trả đũa người đàn bà kia bằng giọng thách thức – nói rõ ra Lai vốn bướng bỉnh và chưa biết sợ hạng người cho vay – như thế này :

- Tôi không phải là của nợ của mẹ tôi đâu, bà ơi !

- A ! Thằng khốn kia ! Mày dám trả lời với tao cách đó hở ? Tao hãy hỏi mày : làm gì ở đây ? Đồ ăn cắp !

- Tôi không phải đồ ăn cắp đâu ! Tôi vào đây để tìm con chó của tôi.

Lai rắn giọng nói song bụng bắt đầu gờm vì rõ ràng là con Cam của nó đã chớp cái gì của bà ta chớ chẳng không.

- Cút xéo ! Dắt chó mày đi ngay ! Con chó ranh hôi toàn phân.

Lai nắm dây cổ Cam lôi thụt lùi vì nó thận trọng không muốn quay lưng lại đối thủ, song Cam xem chừng đang còn thòm thèm ngoái đầu lại gian bên, chỗ bốc mùi thơm. Xem cung cách đó, người ta đoán ngay là nó chưa được kề cận với những gia đình khá giả bao giờ. Bà chủ vớ cái gậy dựng bên vách đập xuống đất để xua con vật, không may bà trượt chân trên tấm thảm; vội vàng níu chân ghế gượng lại thì xui xẻo thêm : chỉ nắm được cái chéo sa-ri. Thế là lôi tuột luôn cả mấy món nữ trang. Bà ta tức đến cực điểm, hét lên :

- Lũ chó má ! – vừa hét vừa lồm cồm bò dậy – Tại lũ bay hết ! Cút mau !

Lai lủi nhanh ra ngoài trong lúc người đàn bà vẫn chưa bớt giận, trở lại với mớ bột hư.

Lai ra đến chỗ cũ thì vừa vặn cha nó đã nài nỉ gã hào phú bớt được chút đỉnh tiền lời và cho vay 14 rúpi. Ông nghiêng mình cảm ơn đoạn ba cha con trở về với Cam, ai nấy cùng nhẹ nhõm trong lòng. Trên đường về, họ gặp cậu thằng Kiên: Ông này đang đến nhà gã hào phú để vay tiền mua hạt giống. Tức thì họ đón ông hỏi cách thức vào bệnh viện chữa mắt, song họ không thu thập được một lời chỉ dẫn quí báu nào, vì câu trả lời giống như những câu trong cái hộp phát ra : nào là chương trình 5 năm ở Ấn Độ, nào là bác sĩ ở A-rát, nào là v.v… Tuy vậy, ba cha con không thất vọng vì có một điểm rõ ràng nhất: việc đi đến A-rát là việc cần vì tại đó người ta thực hiện được phép lạ đấy !

________________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG IV

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

CHƯƠNG II_TRÊN ĐƯỜNG TÌM NGỌC


CHƯƠNG II


Lai thở hào hển như một con trâu sau bữa cày ngoài đồng. Trên đầu nó cái chum vẫn đứng vững. Khói nấu ăn bay la đà trên các mái nhà thấp trong làng. Sau lưng Lai, con Cam cũng thè lưỡi thở. Thật ra chả có gì phải vội song Lai đã chạy một hơi như thế vì sự xúc động do câu chuyện xảy ra ngoài giếng. Lai đã nóng nảy tuyên bố một câu mà không kịp suy nghĩ gì cả.

- Được rồi ! Họ sẽ thấy ! Toàn là mấy người ngu ! Họ sẽ không ngăn được bé Mai đến trường cũng như mọi đứa con gái khác. Để coi !

Lai lầu bầu trong khi chạy. Vuông sân nắng hừng hực, một ngọn lửa cháy giữa sân. Bà nội nó thì lui cui nướng bột trên một viên đá phẳng. Tay bà phe phẩy cái quạt lông công dáng chừng để xua bớt khói đi.

Lai đặt chum nước xuống đất, cạnh bóng mát của bức vách và tận lúc này nó mới nhận ra là nó quên múc nước vào chum, vì cơn giận bốc lên. Bà cụ ngẩng lên nhìn cháu, vừa đưa cho cháu miếng bột đã nướng chín vừa âu yếm hỏi (vì bà nhận ra mặt nó lầm lì khó chịu) bằng giọng dịu dàng:

- Có gì đó, Lai ? Sao cháu không mang nước về?

- Bà ơi ! Cháu sẽ đi A-rát với con Mai. Cháu sẽ đem nó đi chữa mắt cho coi !

Bà cụ đổ bột lên phiến đá nóng, dáng bộ thản nhiên không hề tỏ ra lo lắng như Lai tưởng. Điều này làm nó phật ý quá : đi A-rát đâu phải chuyện chơi ? – Kìa, bà không ngừng tay nữa, kỳ không? Lai chia cho chó Cam một mẩu bột nướng, ăn chỗ còn lại rồi nói thêm để dò phản ứng của bà:

- Con sẽ dẫn con lừa theo và chó Cam nữa, bà ơi! Có tụi nó, chó rừng sẽ…

Bà nội phe phẩy cái quạt trước mặt, ngắt lời :

- Hãy kể bà nghe đầu đuôi câu chuyện đã, nào !

Lời bà làm Lai phấn khởi đôi chút. Người lớn hình như lúc nào cũng coi thường trẻ con, chả bao giờ nói chuyện đàng hoàng : họ chỉ thích ra lệnh thôi, trời ạ ! Nhưng bà nội Lai thì khá lắm… Lai liền kể lại đầu đuôi câu chuyện ngoài giếng, cả câu chuyện cậu Kiên lành mắt. Lai cho bà biết là dân làng xấu bụng, muốn ngăn em nó đến trường, nhưng họ sẽ không làm được điều đó vì…

- Nghĩa là con muốn em con lành mắt như cậu thằng Kiên hở ? Con rất đáng khen dù con có làm được điều này hay không…

- Con tức quá nên nói vậy… nhưng… nhưng với lại tại con…

- Bà biết rồi ! Con muốn học lại với em con phải không ?

Lai không việc gì phải giấu bà ý muốn chính đáng này, nó gật đầu liền. Nó thường lân la theo lũ bé học trò làng bên nài nỉ chúng kể lại những gì học được: những chữ và những con số. Song bọn học trò thường tỏ ra kênh kiệu, xa cách. Dĩ nhiên, con bé Mai nó là em Lai, nó sẽ không thế đâu.

Lai sẽ tha hồ học ở em tất cả những gì nó học ở tại trường. Lai hỏi bà :

- Bà ơi, ba mẹ con có cho con dắt nó đi không ?

Vẫn không ngừng làm việc, bà nói :

- Hơi khó đấy, con ạ !

- Con đã nói to ngoài giếng, mọi người đều nghe hết, làm sao ? Nhất định là phải đi thôi, bà ơi !

Bà nội trầm tĩnh, không kêu là nguy hiểm, cũng không cho cháu mình xuẩn ngốc dự tính một chuyện lấp biển vá trời không tưởng – chắc cha mẹ Lai không được như bà đâu, Lai biết – Bà dặng hắng một cái, điềm đạm nói :

- Lai ơi ! Những kẻ hành hương vượt qua nửa xứ Ấn này để đến giòng sông Găng, con sông Thánh. Vậy đâu có lý do gì người ta ngăn con dắt em đến A-rát chữa mục tật, hả con ?

- Nhưng mà, thưa bà… – Lai ấp úng – con mười ba tuổi đã đủ lớn chưa ?

- Con ơi ! Không phải là chuyện sức vóc bề ngoài. Cành nhỏ cong và dai tốt hơn thứ cây lớn mà giòn.

Lai thấy phấn khởi thêm song không mấy tin vào lời bà. Bất ngờ quá đi : bà không bài bác gì hết về dự định táo bạo của cháu, còn chính Lai, Lai lại đặt ra nhiều câu trả lời dọc đường, cốt để ứng phó những câu phản đối… Thôi thì đành tìm lấy lý do vậy chứ biết làm sao đây ? Lai nhìn bà :

- Nhưng bà ơi, con Mai mới bảy tuổi thôi…

- Nhiều kẻ hành hương bằng tuổi nó, Lai ạ ! Cần nhất là cẩn thận…

- Mắt nó kém lắm, nó dám đạp lên mình rắn lắm à, con chỉ có hai mắt để cẩn thận về phần con…

- Dù vậy đi nữa, bà thấy còn hơn là kéo lê một đời mù lòa khốn khổ. Hơn nữa, con thừa biết rằng rắn chỉ thò đầu ra vào mùa mưa mà !

Mẹ Lai vừa về với Mai và hai con nhỏ, tay bế đứa bé nhất, phía trước là lừa Xích-mi với giỏ áo quần. Nom bà ủ rũ – chắc vì phải chịu đựng sự độc ác của dân làng. Giọng bà cay đắng:

- Lai ơi ! Đáng lẽ con không nên nói vậy, họ được dịp cười vào mặt mẹ mày.

Hừ ! Cười hở ? Đừng giỡn chớ ! Để coi ai cười ai. Lai không trả lời mẹ nhưng tự nhủ. Bà mẹ nhăn nhó thêm khi nhận ra cái vò rỗng :

- Nói dóc thôi, chuyện mình không lo: đội cái chum không về. Thôi, làm ơn ra giếng ngay đi !

- Để con ăn xong đã, mẹ ơi !

- Dễ nghe chưa ? Đòi đi bộ đến tận A-rát để chữa mắt cho em mà ra giếng lấy nước gần xịch thì lại hẹn.

Lai chẳng nói chẳng rằng đội chum lên đầu liền. Thật chưa khi nào nó tức giận nhiều lần trong một ngày như ngày nay. Nhất định là phải đi cho kỳ được, phải xin cha… trong lúc sự tức giận và hăng hái còn nguyên mới xong.

Khi cha Lai về, – ông về trưa quá – ông đói và mệt lắm rồi, đôi bò lẽo đẽo phía sau, ông không thể kiên nhẫn để chịu đựng một quyết định nhảm nhí kiểu đó. Hai đứa trẻ đi đến A-rát ư ? Có họa là hóa rồ ! Ông nói to, giọng tin tưởng song bực dọc:

- Thôi ! Dẹp ! Dẹp lại ! Ông trời cao không bắt con gái tao mù đâu. Ngài công minh, ngài có con mắt tỏ tường mà ! Ngài sẽ thương nó…

- Con nói đúng đó. Ngài sẽ giúp hai đứa nhỏ đáng thương đi đến nơi về đến chốn, Ngài sẽ xếp đặt mọi điều…

Bà nội Lai ngắt lời con trai và trong lúc ông còn ngơ ngác, bà thêm :

- Có chú con ở A-rát, có thể nhờ chú ấy lo liệu cho cháu vào bệnh viện…

Thật bất ngờ : bà nội đứng về phía hai đứa bé ! Và chỉ có bà mới dám trả lời cha chúng cách đó trong khi ông đói và mệt lử thế kia !

Ông la lên:

- Thôi, con xin mẹ ! Mẹ biết đường sá thế nào không ? Bao nhiêu năm trời nay con có gặp chú đâu, nhà chú thì xa lắc… Còn cái thằng Lai nhà này thì ngu ngốc chết đi, biết gì đâu mà… Nó không kiên nhẫn được đâu, mẹ ơi !

- Kẻ nào có kiên nhẫn rất có thể đánh mất trên đường dài, còn kẻ không có lại vẫn có thể tập lấy trong cuộc hành trình dài con ạ ! Cuộc hành trình này sẽ giúp nó nên người, con nên tin mẹ !

Bà nội vừa nói vừa lấy ghế cho con trai ngồi thoải mái cạnh bếp và thư thả xới cơm cho ông. Thái độ bà làm cho người con trai phải suy nghĩ. Lai và hai thằng em lo mang thức ăn cho gia súc trong chuồng trong khi cha chúng ăn trưa.

Suốt ngày đó không ai đả động đến chuyện đi A-rát nữa, trong nhà vẫn lặng lẽ, song kỳ thật ai cũng băn khoăn. Mặt trời lặn khi người cha trở về.

Lúc nhá nhem, một bác láng giềng sang chơi. Bên ngọn lửa reo vui, cha Lai thuật lại câu chuyện ban trưa, không quên kết luận rằng con trai mình dại dột và nông nổi, những ngỡ bác láng giềng sẽ tán đồng mình, nào ngờ đâu bác ta hăng hái bênh vực ý kiến của Lai, rằng nào là chính bác vừa gặp cậu thằng Kiên, rằng đó quả là phép lạ và sau cùng thêm rằng mình nghe bệnh viện đó rất tốt, rằng tuần tới mình đưa bò lên chợ bán: vậy nếu anh em thằng Lai muốn đi theo cho đỡ chân một đoạn, bác rất vui lòng.

Người cha cho đó là điềm lành, ông bắt đầu ngưng chống đối và một ý nghĩ đến với ông: đến xin hỏi ý kiến của “Gourou” người mà dân làng coi như vị thánh sống – xem ông dạy thế nào. Đó là một thông lệ của một người dân quê Ấn Độ. Ông nhất định ngày mai đến gặp vị thánh đó liền.

Tối lại, cả nhà ngủ ngoài trời. Lai lấy một chiếc chiếu ở chân tường đem lên nóc nhà, Cam lót tót theo sau. Đêm nào chúng cũng lên ngủ trên đó. Một cây bồ đề to mọc cạnh vách che mát mái nhà suốt ngày cho nên mái nhà không nóng chút nào. Đến chỗ cũ, Lai trải chiếu, cởi áo ra, không khí mát rợi làm cậu bé cảm thấy khỏe khoắn trong người  Chưa chắc có ông Hoàng nào được một chỗ ngủ tốt như Lai : tàng cây làm thành một vòm che bên trên. Trên cao hơn, lũ két xanh kháo chuyện không ngớt. Lai nằm ngửa, Cam bên cạnh như một tên cận vệ trung thành !

Lai quan sát những vì sao quen thuộc: một người đàn ông xách rìu, Vê-ga Sao Chó, khuôn mặt của vị thần như lộ rõ trong vầng trăng. Vòm trời nom thấp đến nỗi Lai tưởng có thể với tới được. Chào ! Mọi sự đều có ghi rõ lên các vì tinh tú : ngày sinh, ngày chết của nó, kết quả tốt xấu của cuộc hành trình dự tính, cuộc hành trình mà Lai vừa muốn thực hiện lại vừa lo sợ – Thật ra, tự đáy lòng, Lai không thấy buồn nếu chuyến đi bị ngăn lại. Ước gì Lai đọc được những gì khắc ghi trên trời nhỉ ? Làm sao Lai đọc được, trên đời này chỉ có một người có đôi mắt thánh là vị Gourou!

Lai chợt giật mình vì tiếng răng rắc của thang tre dẫn lên mái nhà và rồi Mai thò đầu lên :

- Anh Lai ơi ! Em đây, cho em lên với nhé ?

Lai đẩy chó Cam ra lấy chỗ cho em gái. Con bé leo lên nằm cạnh anh. Lai âu yếm hỏi :

- Sao em không ngủ, hả Mai ?

- Mắt em xốn, nóng như có lửa trong đó vậy, anh Lai ơi !

Lai đưa tay xoa lưng em, làm như thể là con bé đau ở lưng, giọng ngọt ngào, thằng anh dỗ dành :

- Nhắm mắt lại và cố ngủ đi em ! Như vậy sẽ hết đau.

Mai dạ, gác đầu lên tay anh, nhắm mắt nhưng mở miệng:

- Anh ơi ! Nếu anh dắt em đi, chó rừng nó có ăn thịt mình không ?

- Không đâu – Lai đáp, tay vẫn xoa xoa lên lưng Mai – Chó rừng hay lẻn về làng vồ trẻ con, nhưng anh lớn rồi, anh 13 tuổi lận mà ! Bọn chó hèn hạ đó chỉ giỏi tấn công người ốm yếu, bệnh hoạn, những kẻ không tự vệ được, chớ còn anh thì dễ gì ?

- Anh kể chuyện cho em nghe đi ! Em nóng ruột quá !

Lai chiều ý em. Nó ngừng tay, kể chuyện chàng thanh niên trong giếng :

- Một lần kia có trận đói ở xứ Ấn Độ. Không phải là trận đói to, giết hết mọi người mà là một trận đói nho nhỏ, làm chết một số trẻ em và người già. Trong làng nọ có một thanh niên tên Nam, to lớn, rất mạnh khỏe, anh đập lúa lâu hơn tất cả mọi người, nhưng trong làng đâu còn lúa để đập ? Mùa hè cũng như mùa đông, cơn hạn hán kéo dài, trời không chịu đổ một hột mưa. Ậy, mà anh kể chuyện này rồi…

- Em biết, em biết – Mai ngắt lời anh – mà xin anh kể nữa cho em nghe đi !

- Nam vào rừng tìm rễ cây và mật đỡ lòng. Anh đi, đi mãi, qua rừng thấp, cỏ cao trong khi lũ khỉ ngồi vắt vẻo trên cây kêu chí chóe và liệng các cành to có, nhỏ có vào đầu anh, khắp mình anh. Chả thấy rễ và mật đâu hết. Sau cùng, anh đến một lâu đài bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, xung quanh có rất nhiều giếng sâu đã cạn khô. Chắc khi xưa đây là chỗ ở của một vị Hoàng tử nào đó mà rồi nước bị ô uế nên đã bỏ đi. Nam lục xét cùng khắp, ngắm tòa lâu đài nguy nga giờ đang là dinh cơ của rắn mà chán ngán. Anh kêu to lên một tiếng và nghe tiếng anh gặp vách cao dội lại. Rồi đột nhiên, có tiếng kêu đáp lại anh: đó là tiếng một con voi từ khoảng rừng thưa đang lừ lừ xông đến. Nam hiểu rằng gặp voi giữa khoảng đất trống này rất nguy hiểm. Tức thì, anh trốn vào một cái giếng trong lâu đài. Rễ cây vải mọc đâm vào giếng và Nam bám vô nó mà tuột xuống rất dễ dàng. Từ đáy giếng, rắn bò lổm ngổm, trên miệng giếng thì con voi hung dữ đang chờ, lưng chừng giếng, con chuột xám khá to thì đang gặm cái rễ cây mà anh bám. Nguy quá : chỉ chốc lát anh sẽ rơi tõm vào giữa đống rắn nhung nhúc kia. Trong cơn thập tử nhất sinh đó, Nam chợt thấy trên cây vải một tổ ong xinh xắn và trong khi con voi giận dữ rung cây, nó vô tình làm mật ong chảy xuống. Nam thè lưỡi hứng. Chưa bao giờ anh thấy mật ong ngọt đến mức đó ! Chắc đây là mật hoa sen, thứ mật ong đã tạo ra nhờ thứ hoa tinh tế dùng để dâng lên bàn Phật ? Trong thoáng chốc, Nam như được tiếp sức, cùng lúc ấy, voi cũng buồn tình bỏ đi vì không đủ kiên nhẫn đợi. Trèo lên thành giếng, Nam đuổi con chuột quái quỉ đi và không sợ ong đốt, anh đút cả tổ mật vào trong cái bị vác lên vai, trở về. Đến làng thì trời đã mưa, tuy chưa cày cấy gì được, tổ ong kia đã giúp cho mọi người, tuy mỗi người chỉ được vài giọt. Nam không bao giờ quên những giọt mật chảy vào miệng anh, những giọt mật quí giá bất ngờ… đã xua tan mọi xui xẻo trong nhiều ngày tháng… Ủa, Mai ! Em ngủ rồi, hở ?

- Chưa, anh ơi ! Chuyện hay ghê !

Hai anh em yên lặng thật lâu. Có tiếng châu chấu đập cánh trong rào xương rồng và cóc nhái ngoài ao kêu oạc oạc. Trăng sáng rỡ. Chắc Mai ngủ rồi, thằng anh nghĩ. Nhưng con em lại cất tiếng lên :

- Mẹ nói nếu mình đi A-rát mình sẽ chết đói đó, anh ơi ! Nếu không đi cũng bị gai xương rồng đâm hay người lớn ghét, tìm cách xua đuổi mình… Phải vậy không anh ?

- Cũng có thể, nhưng đâu có đáng sợ bằng mù mắt ?

Lai đáp lửng lơ. Con em gái tán đồng ngay :

- Phải đó, anh Lai – nó do dự một giây rồi lại tiếp – em sợ gai xương rồng với mấy người hung dữ lắm, anh Lai !

- Thôi đi Mai ! Ngủ đi em ! Bây giờ làm gì có gai xương rồng với mấy người hung dữ mà sợ. Để chừng gặp đã chớ !

Mai vẫn thắc thỏm :

- Anh Lai ơi ! Em sợ ba không cho mình đi… em… em cũng không muốn mù…

Lai bực mình kêu to:

- Hay chửa : không muốn mù, sợ đủ thứ mà cũng ưng đi… Nghe đây này, đợi mai cha hỏi cụ Gourou rồi sẽ tính, tao buồn ngủ quá rồi.

Lần này Mai tỏ ra vâng lời anh và chỉ giây lát nó thiếp ngủ. Lai trở mình lại nhìn lên bầu trời đầy tinh tú. Ước gì Lai đọc được tương lai trên đó như vị thánh sống trong làng ! Tiếng quạc quạc của loài chim đêm, của bọn ếch nhái từ đầu hôm đã im hẳn song xa xa từ phía cánh đồng có tiếng tru kéo dài của đàn chó đói vọng lại. Cam chợt ngẩng đầu lên gầm gừ trong cổ họng. Với Lai, những tiếng kêu này là những thông điệp của tương lai mà nó không sao hiểu nổi.

________________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG III

CHƯƠNG I_TRÊN ĐƯỜNG TÌM NGỌC


CHƯƠNG I


Anh em Lai và Mai sinh tại làng Cát Hoa, một làng nhỏ tại xứ Ấn Độ như mọi làng nhỏ khác, nghèo khổ và còn nhiều mê tín.

Theo thường lệ, Lai đi xách nước ngoài giếng về cho cả nhà dùng. Con chó Cam nhảy cẫng trước mặt thằng bé 13 tuổi, đó là một con chó gầy trơ xương với bộ lông xám xịt dơ bẩn. Đặc biệt, nó biết làm trò và nhảy múa khi nghe tiếng nhạc . Điều này không phải là ngẫu nhiên: nó vốn được huấn luyện kỹ từ khi còn bé (nó ra đời trong một gánh xiếc); không may, một gã bất lương đã cuỗm nó đi với dụng ý bắt nó làm trò cho mình thu tiền kiếm sống, nào ngờ đâu con chó bướng bỉnh và khôn ngoan này đã chẳng nhảy múa làm trò theo tiếng sáo của hắn mà còn thừa cơ hội thuận tiện, đớp vào chân tên bất lương một cái nên thân rồi bỏ chạy trốn ngay trong lúc hắn còn đang nhăn nhó vì đau, không kịp trở tay.

Lang thang trong nhiều ngày cho đến một hôm quá đói nó lọt vào nhà Lai. Cậu bé thương hại con vật, lén nhịn phần ăn, chia cho nó. Từ đó, con vật ở luôn nhà Lai và được mang tên Cam do Lai đặt cho. Cũng kể từ đó, Cam theo Lai đi cùng khắp. Cam rất cứng cổ : nếu nó đã không thích thì không ai có thể bắt nó làm trò. Nó chỉ nhảy múa khi nào nó thích, vào lúc bất ngờ nhất . Điểm này quả nó giống tiểu chủ là Lai. Chúng rất hợp nhau… vì vậy, hiển nhiên, chúng rất yêu nhau !

Đặt chum không lên đầu, Lai rảo chân, tung từng loạt bụi nhẹ, đỏ xung quanh. Cam tung tăng phía trước. Sắp băng ngang đường Lai gặp Kiên, bạn nó và hai đứa cùng dừng lại, đặt chum xuống, trò chuyện liền. Kiên đang nhai mía, thằng bé này ngứa cổ quá vì cái tin nó mới được biết mà nó cho là rất quan trọng đối với Lai. Nó tiết lộ liền :

- Ở A-rát có một nhà thương chữa bệnh mắt hay lắm, Lai à !

- Thiệt không ? Sao mày biết được ?

Giọng quả quyết, Kiên đáp:

- Sao không : có một ông thầy chữa bệnh mắt hay ghê lắm, hay hơn hết mấy ông thầy của xứ này.

Lai có vẻ nghi ngờ :

- Sao mày chắc vậy ?

- Cậu tao vừa đi chữa về hôm qua, bây giờ ổng thấy rõ mọi thứ như mình vậy à !

Lai thừ người sau câu nói quả quyết của bạn vì nó biết rõ cậu Kiên gần như một người mù từ lâu rồi. Cả năm nay, ông ra ngồi ở các bậc thềm nhà ga tay bưng mâm gỗ y như các tay ăn xin khác. Lai hấp tấp :

- Thiệt sao ? Ông không ăn xin nữa hở, Kiên ?

- Chắc như đinh đóng. Cậu tao sáng rồi.

Tia hy vọng chợt loé sáng trong đầu thằng bé 13. Gần năm nay, nó như bị vây hãm trong bóng tối, tuy sự thật nó không bị tổn thương gì ở mắt, người sắp mù là em gái nó: con bé Mai lên 7. Nó nghĩ thành tiếng :

- Em Mai tao…

Kiên nói giọng tin tưởng :

- Mày còn đợi gì nữa ? Nói cha mày dẫn nó đi A-rát người ta chữa cho…

Lai miên man suy tính. Mỗi tuần trăng qua mắt em nó càng kém thêm. Thật tội nghiệp, gia đình nó không ai bảo ai mà cùng mặc nhiên ngầm đồng ý cố sức để giấu kín láng giềng điều bất hạnh này : vì Mai đã được hứa cho một chỗ trong trường làng bên. Trường chỉ nhận một số học trò vỡ lòng hạn chế. Nếu thầy giáo biết mắt Mai thế, chắc chắn chỗ dành cho con bé sẽ bị mất để cho một đứa khác. Trong làng có nhiều trẻ lên bảy cần học lắm, mà thiếu trường.

Không chỉ giấu người ngoài, ngay trong nhà cũng không ai nhắc đến điều tệ hại ấy, làm như thể là không nhắc đến, chứng bệnh quái ác có thể biến mất đi vậy.

Riêng Lai, nó còn một nguyên cớ để lo lắng vì mục tật của em : nó tự hứa sẽ học lại những gì Mai học ở trường. Chứ sao: có cái gì chui vào đầu em nó mà lại không thể chui vào đầu nó ? Nó vì gia cảnh đã quá tuổi mà không được cắp sách đến trường, nhưng nó không chịu thua đâu. Nó nghĩ rằng một đứa con trai phải biết tự tìm lấy cho mình những hiểu biết do thế giới học đường đem lại.

- Mày nghĩ tao nói đúng không ? Ba mày sẽ…

Tiếng Kiên làm Lai chợt tỉnh, nó ngăn lại bằng giọng buồn rầu :

- Đừng nói tầm phơ. Đời nào cha tao để anh em tao ở nhà cấy lúa khi ông đi được ? Chắc gì có thầy chữa mắt thiệt ? Mà cho có, cả nhà tao không thể no nhờ đôi mắt em tao trong khi mùa thu tới không còn một hột…

- Khó khiết gì ? Thì biểu mẹ mày đi, ổng ở nhà làm ruộng…

Thằng Kiên biết gì đến nỗi khó khăn của gia đình Lai mà nói ? Lai thở dài :

- Mẹ tao hở ? Bà đi rồi bỏ em bé mới sinh với hai thằng kia cho ai ?

Kiên vừa nhá mía vừa cười, nhe răng trắng bóng :

- Bà không đi được? Thì mày đó chi ? Mày dẫn nó đi, đi!

- Cuốc bộ tới A-rát hả ? Thôi, đừng có nói điên !

Lai dấm dẳng bảo bạn rồi đặt chum lên đầu, nó bực quá rồi. Còn sớm lắm. Vài cụm mây trắng phiêu du theo cơn gió nhẹ, tụ lại tận chân trời, trên cao bầu trời trong xanh như mầu nước. Phải quá trưa sức nóng mới làm phai mầu xanh này, người và súc vật đều phải tìm vào bóng mát. Trên quốc lộ, trước mặt Lai tiếng còi xe hơi inh ỏi để mở lối đi giữa đám xe bò và xe đạp.

Đó là con đường dẫn đến A-rát. Chà ! Nếu có một cái xe đạp… hay cha nó cho nó mượn con bò cày. Như thế, việc dắt Mai đến A-rát chữa mắt sẽ có thể dễ dàng thực hiện.

Trước kia, cha Lai có đôi bò, có cả một con ngựa cột sẵn ở cọc, nhưng… đó chỉ là chuyện ngày xưa, chuyện trước ngày xảy ra nạn đói kém kinh hồn. Bây giờ thì… Lai bước nhanh để vượt qua đoạn đường trống trước khi nắng lên cao. Đột nhiên, nó dừng lại đưa mắt nhìn về hướng tây: con đường trải dài trước mặt nó như vô tận, khuất trong sương mù ở chân trời. Xe chạy làm mù mịt rồi bụi tản mác dần, bám vào tài xế và bộ hành. Dọc hai bên bờ đường, cây xoài mọc từng hàng dài, lũ khỉ thì ngồi chồm hổm trên các cành, ngắm người qua lại. Lông chúng cùng màu với lông con chó Cam, cây cũng xám mà con đường vắt qua cánh đồng rực nắng như thiêu cũng xám luôn.

Lai biết rằng trên con đường này, người ta có thể hoàn tất cuộc hành trình hoặc kiệt lực, hoặc bị thú dữ vồ trong đêm tối hay vô phúc dẫm nhằm một con rắn… Ý trời ! Có họa mà điên mới nghe lời xúi của Kiên, cái thằng nói mà không suy nghĩ, làm như mình có thể đến A-rát với con bé gần mù mắt vừa lên 7 là một chuyện hết sức tự nhiên không bằng. Song rồi, Lai cảm thấy hơi bối rối : tại sao lại trách Kiên ? Nó chỉ muốn em mình sáng mắt chứ có làm gì đâu ? Hay là… hay là mình dẫn cả con lừa Xích-mi theo ! Ồ ! Sao không ? Mai có thể cỡi trên lưng nó. Con lừa Xích-mi cùng tuổi với Lai, nhưng là một con lừa ốm đói, tuổi tác đã cao rồi đó, nó còn giúp được gì ? Nó có đủ sức đi đến A-rát không ? Và còn trở về nữa chớ. Hừ hừ…

Ờ ! Biết đâu đấy, biết đâu chính Lai có thể cứu vãn đôi mắt em mình, đôi mắt cần thiết không chỉ mình Mai mà cả anh nó nữa ! Rồi đây, nếu qua mắt thầy giáo được ít lâu bằng cách nói dối mình thấy rõ, nhưng liệu kéo dài được bao lâu ? Được rồi ! – Lai mím môi lại, cương quyết – hai anh em ngủ dưới một gốc cây, gối đầu lên mình con lừa, đem theo cả con Cam… Lai quên đi chuyện nguy hiểm khác: ban đêm không ai héo lánh ra đường nữa, lũ chó đói kéo ra. Chó đói ! Chúng không hiền đâu, trời ạ ! Bà Lai thường bảo là không chỉ miệng chúng tru mà bụng lép chúng cũng tru theo. Nói cho ngay: ban ngày chúng hơi nhan nhát một tị, nhưng đêm đến chúng trở thành bạo dạn, dữ tợn lắm kia.

Lai chẫm rãi đi trên đường nhỏ dẫn xuống giếng. Ra khỏi bóng mát, nắng như muốn đốt da song nó vẫn tiếp tục bước, đầu ngẩng cao thẳng dưới chum, ý nghĩ lộn xộn trong đầu nó tựa như một lũ ong vo ve trong tổ vừa bị viên đá ném trúng bay túa ra.

“Mẹ không đi được, em nhỏ quá, cha cũng không đi được vì cha phải lo việc đồng áng, bà thì già rồi. Ngoài mình ra không ai dẫn em Mai đi được, mà… mà mình lại sợ. Mình 13 tuổi, mình chỉ can đảm lúc còn mặt trời thôi !”.

Quanh giếng đã khá đông người. Phụ nữ quì gối cạnh bờ ao, giặt gịa áo quần. Hai con bò, mắt bịt kín, đi vòng tròn làm quay một bánh xe gỗ thật lớn, trên đó gắn nhiều thùng đầy nước kéo từ giếng lên. Xứ này từ xa xưa, bò đã đảm nhận việc ấy. Từ các thùng, nước trong vắt lạnh rợi chảy vào ao, nơi các bà giặt giũ, súc vật uống. Tiếng trò chuyện, cười đùa ầm ỹ, hỗn độn.

Mẹ Lai đang trải áo quần lên cỏ phơi trước khi đem về. Em út nó, còn đỏ hỏn thì được đặt nằm dưới bóng mát cách đó vài thước. Lừa Xích-mi đang thư thả uống nước, Mai đứng nắm dây cương. Chưa nhận ra anh, con bé đứng yên, dáng bộ buồn rầu giữa đám đông. Còn nhỏ nên Mai chưa mặc sari như mẹ được, nó mặc một cái quần thô sợi, dài và rộng thùng thình, áo đỏ dài tận gối, hai lọn tóc thắt bím mầu nâu dài và đôi mắt xanh. Đôi mắt Mai là một hãnh diện lớn của gia đình nó vì xứ Ấn Độ rất hiếm người có mắt xanh.

Mai là con gái duy nhất giữa bốn anh em trai, lại rất xinh xắn.

Lai huýt sáo làm hiệu và Mai ngẩng đầu lên, tuy không thấy rõ anh, nó vẫn bước nhanh lại phía đó. Dây cương lừa được vứt lên lưng con vật. Mai mừng rỡ vì được gặp anh.

Tội nghiệp con bé ! Vì mắt kém, nó đã bước nhầu lên cái giỏ to chất quần áo sạch của một người đàn bà, chị ta vừa mới nhặt lên sau khi phơi. Cái giỏ lăn nghiêng xuống, áo quần rơi ngổn ngang, có cái rơi tận ao đục ngầu vì súc vật vừa đến uống, lấm lem. Rõ phiền !

Chị đàn bà chủ giỏ áo quần đưa cả hai tay lên trời, la lối om sòm, ỏm tỏi, vài người cười ồ và một kẻ nào đó thốt lên một câu chua chát. Giữa cảnh náo loạn đó, chó Cam lại đứng thẳng bằng hai chân trổ tài nhảy múa. Chắc hẳn nó trông thấy khung cảnh ồn ào này mà ngỡ là trong đám xiệc. Phần Mai, nó sợ cuống lên vì nó biết mình đã gây ra cảnh xáo trộn này. Con bé chạy đến nép vào bên anh, mẹ chúng cũng nhận thấy điều phiền phức này. Chị đàn bà hét ngược lên:

- Đó ! Cho chị thấy nghe ! Ra giếng mà còn dắt đứa mù theo cho sinh chuyện.

Người mẹ chống chế :

- Đừng nói ác vậy, con tôi đâu có mù. Nó thấy chớ, ở nhà nó giúp tôi đủ việc.

- Nó thấy rõ hả ? Thiệt không ? Vậy sao nó dẫm lên giỏ đồ của người ta ? Cái giỏ to chớ phải nhỏ sao?

- Tại cháu nó lật đật quá. Thôi, đừng la lối, tôi sẽ vò lại cho chị mà. Ai mà không gặp rủi ro. Cháu nó…

Rồi bà quay sang la con chó Cam cho khỏa lấp đi :

- Cam ! Mày là con quái… Đứng yên chút coi.

Cam nghe chủ la, ngừng nhảy nhót để sủa lên góp tiếng vào bầu không khí nào nhiệt chung. Một gã đàn ông giận dữ la to lên :

- Thôi, dẫn con chó với con bé đó đi đi ! Cả hai đều ngốc như nhau !

Một bà mẹ khác, có đứa con bằng tuổi Mai, xỉa xói:

- Hừ ! Nó thấy rõ ! Nó thấy rõ kiểu gì vậy hả ? Vậy mà chiếm chỗ học trong lúc con nít khác sáng mắt phải chịu thiệt thòi.

- Bày đặt, con nít thì học làm gì ? – Gà đàn ông càng gắt gỏng hơn – Học chi ? Chữ nghĩa đầy đặc trong đầu rồi lại sinh ra làm bơ làm biếng, không chịu làm công chuyện giúp cha mẹ, gia đình. Người khôn ngoan không thèm đọc sách đâu !

- Có lý lắm – nhiều người hăm hở tán đồng – bày đặt học hành vô ích…

Nhưng tất cả những lời qua tiếng lại đều không làm chị đàn bà đanh đá ngớt đay nghiến đứa bé đáng thương. Người mẹ không biết làm gì hơn là cất giọng nài nỉ :

- Thôi ! Xin chị ! Để tôi xổ áo quần lại mà. Tội, con tôi nó lật đật quá mà…

Thật nguy : rồi đây cả làng sẽ biết mục tật con bé. Một người dọa :

- Tôi sẽ cho thầy giáo hay chuyện này. Đâu có để yên chuyện này được ! Mù mà học chó gì ?

Đó là một đàn bà khác, có đứa con muốn chiếm chỗ của bé Mai.

- Tội em tôi ! Xin bà đừng cho thầy giáo hay. Em tôi sẽ đi chữa mắt ở A-rát…

- Đi A-rát ? Hay lắm, nhưng này, ai dẫn nó đi đây ?

Nhiều tiếng cười khúc khích chế giễu nổi lên. Lai nóng mặt, đáp bừa :

- Cháu. Chính cháu dẫn nó đi ! Cháu sẽ dẫn !

_______________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG II

Trên Đường Tìm Ngọc


Phóng tác : MINH QUÂN - MỸ LAN
Bìa của Vi Vi
Minh Đăng xuất bản - 1974

CHƯƠNG I 
CHƯƠNG II 
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG VIII
CHƯƠNG IX 
CHƯƠNG X 
CHƯƠNG XI 
CHƯƠNG XII 



Sưu tầm và đánh máy : Thu Hồ, BC, Tịnh Liên

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Món Rô-ti cuối tuần


Em đau khổ nhìn tấm lịch trên tường, con số to tướng với những đường chỉ viền quanh, như ngạo nghễ cười vào mặt em “Hà hà, thế là mi hết trốn quanh nhé, mai thứ bảy rồi đấy, hà hà…” ; thật đúng là “được dịp lên chân”… điều đó cũng chẳng có chi là lạ, bởi vì chung quanh em, bàn ghế, tủ giường, sách vở… thậm chí cho đến cái lọ bánh ở trên kệ gỗ kia, cũng như đồng một lòng vào hùa với nhau để “theo dõi” em, “sỉa sói” em ; chị Trúc thì cứ thỉnh thoảng vào ra, lại cười hề hề bảo em:

- Ê, đọc kinh sám hối chưa? Sắp thứ bảy rồi!

Chao ơi, cái giọng cười sao mà tàn nhẫn, vô nhân đạo lạ, tức mình quá mà chả lẽ lại gây với chị ấy, em đành bỏ ra sau vườn, nói chuyện với cỏ cây có lẽ đỡ hận hơn, đỡ buồn hơn.
 
Gọi là vườn cho nó có vẻ “vĩ đại” một tí, chứ thực ra, ngoài hai cây ổi, mận, vài bụi hoa nhài, bụi mía, khoảng đất phía sau nhà còn dung dưỡng cho một “bọn vịt báo hại” và một toán quân “gà khốn kiếp”, chúng chính là nỗi lo âu em mang nặng mỗi cuối tuần.

Nhìn bọn gà sởn sơ bươi đất, em lại thấy lòng dậy lên nỗi căm tức, giận hờn, em nghĩ đến ngày mai, với bổn phận đầu bếp cho một món ăn mà cả nhà ưa thích, em lại phải đánh vật với lũ gà, rượt nhau với lũ vịt để rồi sau đó, biến thành tên đồ tể, phanh thây bọn chúng và tự tay đưa bọn chúng đến nơi “an nghỉ cuối cùng”!

Công việc đó em chẳng thích chút nào. Thứ nhất vì dị đoan, em tin rằng người có nhân, có quả, có luân hồi… em lo sợ có một ngày, chẳng may em giã từ cuộc sống, về thế giới bên kia, với tội sát sinh quá nặng, em lại phải mang kiếp gà vịt, cho người khác cắt cổ, chặt đầu, hình ảnh đó thật là dễ sợ… Thứ hai, mẹ em sinh em ra lại nhằm cái năm cầm tinh con… Gà nữa, ăn thịt đồng loại (em nghĩ thế) thì em không đành lòng. Thứ ba là vì em sợ… tại sao em sợ thì chỉ một mình em biết. Thế nên trước sự phản đối tột độ của em, mẹ em và chị Trúc lại thêm được một câu phê bình : cái con này dở hơi tệ!

Tai sao em không nói ra, em cũng không biết rõ, có lẽ em sợ mẹ và chị Trúc sẽ ghê lây cái hình ảnh em mang trong lòng mà ghê luôn lũ gà vịt nữa chăng, thế là em đành chịu lấy một mình. Thử hỏi mấy ai mà dửng dưng được trước đĩa gà luộc nghi ngút khói, vài cái lá chanh thái mỏng và một đĩa muối tiêu trắng trẻo ngon lành; mấy ai ngoảnh mặt, quay lưng trước đĩa gà rô-ti nâu hồng óng ả, mùi thơm của đường của tiêu, của nước mắm quyện lấy miếng thịt mềm mại, sớ thịt săn chắc, béo ngậy, thơm dòn. Trong những đêm gây gây lạnh mấy ai chê được bát cháo vịt ngọt ngào với những cọng hành rắc lên xanh mướt, thơm ngào ngạt mùi ngũ vị hương… nhất là cái miệng “đang sức lớn” như em? Ấy vậy mà em chê đó, mặc dù trước kia, mỗi lần cúng giỗ, em chỉ mong được một cái đùi gà là sung sướng ghê lắm rồi… Ai có ngờ đâu?... Em lấy làm oán trách chị Trúc vô cùng, phải chi chị ấy đừng tỉ tê với mẹ em rằng “Con Thanh nó lớn rồi, phải bắt nó nấu nướng đi là vừa, mẹ nhỉ”, để mẹ cũng gật gù “Phải đấy” thì em vẫn còn “ăn ngon ngủ yên” chứ đâu có “va chạm với đời” như thế này?

Mà nào em đã lớn đâu: muốn cao bằng chị Trúc, em phải đi một đôi guốc cao kều, nhọn hoắt, muốn yểu điệu thục nữ như chị Trúc, em phải phải tập Yoga hai năm nữa, muốn theo học Sư phạm như chị Trúc, em cũng phải thi hai keo nữa mới được… Chị Trúc thỉnh thoảng còn mè nheo với mẹ “con còn bé tí mà, con còn muốn ở với mẹ cơ…” thế thì em lớn với ai đây. Rõ thật, phận bé bỏng, ai bắt nạt cũng được…

Tiếng gà cục tác trong vườn, ngắt ngang mọi ý nghĩ của em. Ngoảnh nhìn về một góc vườn, em thấy con gà cao nhất đàn, đang dằng co với con vịt bầu một con giun đất. Gớm, khiếp, con giun, sao lại có một con vật hình thù dễ sợ quá, bóng nhẫy, ngoằn ngoèo, như một con rắn con, nó làm em chết khiếp mỗi lần trông thấy, em thù buổi rô-ti cuối tuần cũng vì nó đấy. Vâng, kể từ hôm nhận trách nhiệm đầu bếp cuối tuần, em kiếm con gà mập nhất, cả nhà vẫn gọi là “Gà Mã Viện”, không phải nó có ghẻ đâu, mà là vì nó tròn như những cái bụng của con cháu nhà ông Đổng Trác, chả biết nó sổ… cái gì mà mập thế. Em hí hửng cắt tiết, làm lông, mổ bụng, xong xuôi tất cả em mới cầm bộ lòng lên. Chao ơi, bộ lòng gà đầy tăm tắp, phiến gan hồng hào, quả tim đỏ mượt kề bên một chiếc mề hồng tía làm em tưởng tượng đến một tô phở đặc biệt… Nuốt nước bọt, dồn nén “sự tiết tâm linh”, em nhích mũi dao, bổ xuôi chiếc mề… hét lên một tiếng, em quăng dao, bỏ chạy, eo ơi trong chiếc mề hồng tía xinh đẹp kia, “một lũ giun” chưa kịp tiêu hóa, nằm cuộn tròn, im lìm trong đó!

Té ra, con “gà Mã Viện” đã “sổ giun”, món ăn thích khẩu của nó lại tối kỵ với em, kẻ thù của em nữa là…

Từ đó, sự ám ảnh ăn sâu trong trí, em “từ” luôn món gà thích ý, nhiều lúc muốn quên mà quên không được. Mẹ em và chị Trúc chỉ biết em ghê việc làm gà (mà không cần biết lý do tại sao?) nên cứ mắng mỏ :đồ dở hơi ở đâu ấy, đồ lười… v.v. và v.v… Buồn cho em biết mấy… Nhưng riêng em, có khi em cũng nghĩ “hay là mình dở hơi thiệt, thịt gà với lòng gà khác nhau chứ!” Lập tức, em lại tự phản đối ngay “không được, con gà mập nhờ giun, vậy giun ngấm vào thịt gà chứ gì”. Nghĩ thế em không ăn, nghe mắng và vẫn cứ phải gồng lên làm món ăn cuối tuần.

Chiều nay đã thứ sáu rồi, em cáu kỉnh, bực tức, cố tìm cách để từ chối việc làm gà. Em đã ghê cái cảnh mổ mề gà quá rồi, em đã thù hận món gà rô-ti lắm rồi, làm sao bây giờ, biết làm sao được khi mẹ và chị Trúc luôn luôn gọi em là con bé dở hơi, mọi ý kiến của em đều bị ra rìa.

Buồn quá, em thở dài. Phải chi có một ông Tiên hiện ra trong lúc này!


GÀ CỒ     


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 190, ra ngày 1-12-1972)


Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Ăn Gạo Lứt


Đâu đâu cũng nghe nói đến thuật dưỡng sinh, trên báo chí, sách vở và ngay trong nhà nữa.

Bà chị tôi bèn đi mua ngay 1 cuốn “Phương pháp tân dưỡng sinh” về. Cả nhà xúm vào đọc. Mấy em tôi gầy nhom gầy nhách thấy nói ăn gạo lứt muối mè thì mập nên cũng muốn ăn, mấy bà chị tôi muốn chữa bệnh nào là đau bụng, ốm yếu, mệt mỏi nên cũng muốn ăn thử, tôi thì muốn chữa “bách bệnh” nên cũng muốn sơi luôn.

Phần mẹ tôi thì khỏi nói, trong thời buổi kiệm ước song hành này mà bỗng dưng tiết kiệm được biết bao nhiêu tiền : nào là đỡ được tiền thịt cá mắm muối (ý quên muối cần chứ, để làm muối mè ấy mà) và đỡ được cái khoản quà trưa, quà chiều quà tối nữa, nên chịu liền. Trưa hôm sau, đi học về, chúng tôi bỗng thấy bàn ăn quá vắng vẻ có độc nhất một đĩa muối mè! Tụi tôi nhìn nhau… cùng thông cảm vậy!

Lát sau, ngồi trước bát cơm gạo lứt Nàng Hương thơm dịu, chị tôi nói:

- Muốn cho có kết quả nhanh chóng và hiệu nghiệm, chúng ta phải nhai trung bình 70 lần 1 muỗng cà phê cơm.

Lũ em tôi hăm hở:

- Dễ ợt, để em nhai cho mà xem. Này (nó nhóp nhép) vừa mau chóng, vừa kỹ càng.

Bọn tôi cũng làm theo, nhưng đến hơn nửa bát cơm thì thằng bé la lên:

- Ối giời ơi! Mỏi mồm quá đi mất.

Không riêng gì nó mà cả bọn tôi đều bị vậy, nhưng còn giữ thế sợ hồi đầu thì hăng hái mà chưa chi đã la, nên sau câu than van ấy, cả bọn nhao nhao:

- Mỏi mồm thật đấy mẹ ạ!

Mẹ tôi nhìn thấy tương lai là 1 bao gạo lứt Nàng Hương đắt giá đang nằm chễm chệ cho đến khi mốc, lại mấy chục ký mè sẽ mọt đi, nên trấn an:

- Lúc đầu chưa quen nó phải mỏi chứ, này, xem mẹ này, mẹ chả than gì hết nên gần hết bát cơm rồi này. Có mỏi đâu nào!

- Mẹ khác ời ơi!

- Ai bảo chúng mày nhai nhanh làm gì, nhai chậm thôi sẽ bớt mỏi ngay.

Lũ con nghe lời mẹ lại tiếp tục ăn, có đứa cảm thấy nhai lâu quá phí thì giờ nên đem sách ra vừa nhai vừa đọc. Rổi bỗng chốc, cả bàn ăn nhốn nháo mất trật tự vì đứa thì đọc sách, đứa dích hình, đứa búng thung, đứa may áo cho búp bê… cứ loạn cả lên khiến mẹ la:

- Này này, cất đi hết : ăn xong hãy làm!

- Nhưng lâu quá mẹ ơi!

Nếu không làm thì cơn mỏi mồm lại đến mẹ ơi!

- Nhưng mẹ bảo là phải nghe, cất ngay!

Lũ em chán nản:

- Vâng ạ!

Rồi bữa ăn chấm dứt. Theo thói quen, tôi mở tủ lạnh định lấy chuối, thì:

- Ủa, mẹ không mua chuối hả mẹ?

Mẹ cười:

- Chúng mày mau quên thật, muốn thực trị thì phải kiêng tất cả kia mà.

- Ừ nhỉ! Con quên mất.

Nhưng em tôi phản đối, nó nói:

- Nhưng con còn nhỏ nè mẹ, con khỏi kiêng nhe mẹ?

- Ừ thì khỏi kiêng nhưng mẹ đâu có mua chuối!

Thằng em lớn của tôi đứng lên:

- Người quân tử ăn chẳng cầu no

Ngày ba bữa vỗ bụng ơ, bụng gạo lứt bình bịch!

Mẹ cười xòa:

- Thôi, các con đi nghỉ đi rồi còn đi học.

Bọn tôi kéo nhau đi, chị tôi nói:

- Đỡ cho tao ghê đi, rửa bát sướng ghê chả có mỡ màng gì hết trọi lại đỡ được một lô tô, đĩa nữa chứ.

Chị kế tôi:

- Còn em thì đỡ lau bàn ăn nè.

Thằng út phụng phịu:

- Em thì lỗ mất 1 quả chuối!

Xế trưa chả còn bánh cam, khoai lang, chè ; tối chả còn chè sen, sâm bảo lượng ; sáng thì bánh mì không! Cứ như thế, cho đến bữa thứ ba:

- Ba bữa nay, mẹ dư được 3 ngàn đồng đây, chúng mày có muốn sắm gì không?

- 3.000 đồng! Không đủ may cái quần xì gà mí cái áo thung mẹ ơi!

- Không đủ may 1 cái áo dài với cái quần đen xì gà.

- Vừa đủ tiền 1 đôi giầy mẹ ạ.

- Dư để mua 1 khẩu súng bắn pháo mẹ ơi.

- Nhưng, con ngán cơm gạo lứt muối mè rồi.

- Con cũng rứa!

- Con cũng vậy!

- Ngày mai ăn cơm trắng như thường đi mẹ.

- Đúng rồi, ăn như thường đi mẹ!

- Con sót ruột quá rồi.

- Con thì uống nước nhiều quá đó mẹ.

- Con hả? Ngay bây giờ mà con còn cảm thấy cái mùi thơm khó chịu của gạo lứt đây, nó cứ đưa lên cổ đấy mẹ ạ.

Mẹ kêu lên:

- Thôi đủ rồi, để rồi ta sẽ liệu bồi!

Chị tôi lên giọng đạo đức:

- Chúng mày làm mẹ ế cả cơm lẫn muối mè!

- Thì chị ăn cho mẹ đi.

- Ờ, chị ăn đi, chị vưỡn tỏ ra dẻo dai lắm kia mà!

Có lẽ cảm thấy tương lai nặng chịch, vàng vọt như bao gạo lứt còn đầy nên bà ta nói:

- Quân tử lúc cùng thêm sợ gạo

Anh hùng khi gấp cũng xin thôi!


Lân Tinh      


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 228, ra ngày 1-11-1974)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>