Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

CHƯƠNG XV, XVI_NGỌC BÁU NGAI VÀNG


CHƯƠNG XV

DÃ TRÀNG XE CÁT


Cậu Hải Minh và Trí tuy không nói ra nhưng tôi đoán biết là hai người cũng sửng sốt chẳng kém gì tôi. Cả ba cậu cháu chắc đều đang điên đầu vì câu hỏi thầm:

- Tại sao chiếc Rolls Royce lại từ phía phi trường Tân Sơn Nhất chạy về, và tụi kia lái nó lên đó làm gì vậy?

Câu trả lời thầm lại có tính chất nghẹt thở hơn:

- Có lẽ hai tên Ả Rập này đã tìm ra chiếc ly báu bạch kim và vừa mới phóng lên phi trường giao cho Pha-ra-ma-lả.

Một lúc sau cậu Hải Minh mới khe khẽ lắc đầu, chép miệng :

- Thế này thì gớm thật! Cậu cứ đinh ninh là ông Ma Lả này vẫn trung thành với đức vua Hà Kim như xưa chứ, hừ!

Tiếng Trí:

- Thế còn tên kia? Tên Ả Rập cũng cùng ở trong phi cơ với Ma Lả đó cậu? Cậu biết hắn không?

- Biết, nhưng không quen! Tên hắn là Ba-i-rả hay Ba-i-rỉ gì đó. Bạo chúa Rả Bây phái y qua đây có lẽ để theo dõi Ma Lả đấy. Tên gian hùng Rả Bây vẫn có cái lối sai người nọ do thám người kia như vậy. Và cậu cho rằng Ma Lả dò xét cậu, mà y thì bị Ba-i-Rả theo dõi, đồng thời cả hai lại cùng kiểm soát Kha Bỉ và Du Đả.

Trí quyết định:

- Mình phải lục soát cái xe Rolls ngay sáng mai nghe cậu. Phải ngoại giao làm sao để mượn được chìa khóa xe của Kha Bỉ, bác Phối sẽ cho cậu cháu mình biết là bộ phận trong xe thiếu đủ thế nào.

Còn ngay buổi chiều hôm đó, chúng tôi không thể làm được cái gì hơn. Vì, đến khu Ba Chuông thì đã 11 giờ, gần nửa đêm rồi. Ba má tôi và chị An đang nóng lòng chờ đợi cậu Hải Minh. Vừa thấy bóng tôi, ba đã ra lệnh phải lên giường đi ngủ.

Sáng hôm sau mãi tới 10 giờ 30, cậu mới mò xuống ăn điểm tâm. Tôi biết cậu Hải Minh chỉ thích ngủ trưa dậy trễ vào những ngày được nghỉ. Ngồi vào bàn ăn, má tôi cứ săn đón chiều chuộng cậu em trai quý mãi, hỏi han đủ thứ chuyện, thành thử thật lâu sau cậu mới có thì giờ để ý đến tôi.

- Thế nào Chiêm? Chương trình hôm nay có những mục gì đây hả cháu?

- Chiếc xe Rolls, cậu quên rồi sao? Hôm nay là phải lục xét bằng được đó cậu.

Cậu tôi vươn vai cười ngoác miệng, đứng lên:

- Rồi, cậu sẵn sàng! Gọi điện thoại cho Giám Đốc CT2 đi, bảo "ông ấy" là mười phút nữa cậu cháu mình qua đó rước đó.

Vừa quay số đã nghe tiếng Trí vang vang ở đầu dây. Tôi bật phì cười khi nghĩ rằng chắc anh đã ngồi rình chuông điện thoại từ lâu lắm... trong khi cậu Hải Minh và tôi vẫn còn ườn cây thịt trên nệm êm mà đánh một giấc thẳng cánh.

- Rồi, rồi! CT3! Tôi đã xếp đặt một chương trình đâu ra đấy rồi để nẫng chiếc xe Rolls chạy vào núi Voi.

Bất giác tôi rùng mình khi nghe thấy Trí thông báo là chương trình, kế hoạch, hành động đã thảo xong. Lý do: trong bất cứ hoạt động nào của hãng để đối phó với tụi gian phi, bao giờ tôi cũng bị "sếp" giao cho công tác khó khăn nguy hiểm nhất. Y như rằng: lần này tôi phải đóng vai trò chim mồi. Nghĩa là tôi có nhiệm vụ nhử tụi "cướp" theo đúng kế hoạch điệu hổ ly sơn.

Trí mượn của bà Bích Tâm, má anh, một chiếc bình bông bằng đồng xinh xinh, bên ngoài bọc một lần giấy bạc lấy ở bịch thuốc lá thơm ra. Nếu gặp tên Kha-Bỉ quanh quẩn gần nhà xe, tôi phải để lộ, nửa kín nửa hở, chiếc bình gói giấy bạc ra cho y nhìn thấy. Rồi tôi sẽ rỉ tai, hay giả vờ rỉ vào tai cậu Hải Minh cái gì đó, đoạn vùng chạy thật nhanh vào bãi rừng cây phía sau biệt thự Lan Anh.

Trí tin chắc là tên Ả Rập Kha Bỉ, khi chợt thấy tôi thủ cái bình giả bọc giấy bạc, mắt lấm lét như thằng ăn trộm, thế nào cũng đuổi theo lập tức. Trong khi đó, cậu Hải Mình, bác Phối và CT1 cứ nẫng chiếc xe Rolls Royce, chạy thẳng tới Núi Voi.

Trong một thoáng, ba cậu cháu đã tới gần khu biệt thự bà Lan Anh. Trí nói khẽ vào tai tôi:

- Chiêm nhử tên Kha Bỉ vào thật sâu trong rừng cây cho nó lạc lối một phen, rồi liệu tìm đường tắt mà tới địa điểm tập trung nghe.

- Địa điểm tập trung? Mà ở đâu chứ?

- Thì Núi Voi, trong hầm đá bữa trước chứ còn gì nữa! Mình phải đánh cái đòn bạo như vậy mới được. Tụi "a rả rả" không bao giò ngờ rằng chúng mình lại dám mò tới cái địa điểm bí mật mà tụi nó rất quen thuộc ấy đâu.

Mọi việc diễn tiến gần như đúng với sự tiên liệu của CT1.

Khi xáp gần tới nhà để xe trong biệt thự Huỳnh Lan Anh, tôi thò tay vào trong áo sơ-mi lôi chiếc bình hoa giả ra rồi lại nhét lẹ vào; miệng ghé vào tai cậu Hải Minh nói khẽ một câu vớ vẩn gì đó. Cậu Hải Minh cũng giả vờ chăm chú lắng nghe, đầu gật gật liên hồi. Liếc nhanh mắt, tôi thấy rõ ràng tên Kha Bỉ đang chăm chú ngó theo. Tia nhìn sắc nhọn của y chắc hẳn cũng đã nhìn thấy chiếc bình quý báu tôi đang thủ trong người. Nhung y lại quay đi, cúi xuống sờ nắn một chiếc bánh xe hơi.

Cậu Hải Minh và Trí đặt những bước chân đĩnh đạc tiến vào bên trong toà nhà vĩ đại, tìm bác Phối. Tôi đứng lại ngay giữa sân trước cửa nhà xe trong khi Kha Bỉ tiếp tục kiểm soát mấy chiếc bánh xe, không thèm để ý hay làm ra bộ không thèm để ý gì đến tôi hết...

Có gần tới ba phút rồi, bực mình quá, liền cúi lượm mấy viên đá cuội và giang thẳng cánh, tôi liệng vun vút vào trong nhà để xe. Kha Bỉ vẫn chẳng để ý gì hết. Lượm một hòn cuội kha khá, lần này tôi nhắm đúng cái bóng cúi lom khom đang lay lay nắn nắn chiếc bánh cao su căng phồng kia, nghiến răng thẩy thật mạnh. Viên "đạn" bay vút đi đập trúng cái lưng “tôm hùm" của tay Ả Rập kêu bộp một tiếng. Y giật nẩy người đứng phắt lên. Chỉ chờ có thế, để rơi tuột chiếc bình giả, nhưng chưa chạm mặt sỏi tôi đã với tay chộp thật nhanh, đoạn co cẳng chạy nước rút nhằm cánh rừng cây trước mặt.

Vừa chạy vừa thở hồng hộc, thoáng cái đã được hơn 100 thước, tôi giảm bớt tốc độ rồi dừng lại nghe ngóng...

Một tiếng lắc rắc do cành cây khô bị xéo gẫy trên mặt đất khiến tôi biết được ngay là "Tạc Dăng" đã theo sát con mồi.

Tôi gan lì chờ đợi cho kỳ tới khi thấy được bóng tên Ả Rập rồi mới tiếp tục đào tẩu, vừa chạy vừa khua động lá cành cho Kha Bỉ biết đường mà đuổi.

Tôi khoái trí thấy Kha Bỉ bị trúng kế điệu hổ ly sơn nhưng khi nhận ra y băng rừng tiến nhanh quá tôi lại cuống lên, gia tăng tốc độ, kẻo bị y bắt dính thì nguy lắm. Phút chốc đã bỏ tay Ả Rập một quãng kha khá, tôi bình tĩnh đưa mắt tìm chỗ núp. Kia rồi ! Một tàng cây cao lá rậm ở gần đó, bên tay phải, hiện ra. Tôi bíu vào một cành vừa tầm với, đánh đu bám vào thân cây, leo lên thoăn thoắt. Gần hai phút sau, tên Kha Bỉ mới mò tới nơi... ngay dưới gốc.

Y dừng chân, đưa mắt nhìn bốn bên, vểnh tai nghe ngóng. Ngồi nín thở trên chạc ba, tôi run lên với ý nghĩ: "Y mà ngẩng đầu lên là... rồi!". May sao, dòm ngó nghe ngóng động tĩnh một hồi chẳng thấy gì, Kha Bỉ lắc đầu chán nản bỏ đi, trở lại đường về biệt thự. Tôi cẩn thận nán lại tới gần năm phút sau mới trèo xuống, lần đường đi tắt, trực chỉ hướng hầm đá Núi Voi.

Tới nơi, cuộc lục soát đang ở giây phút sôi động nhất. Cậu Hải Minh đứng chỉ huy toàn diện, Trí sờ nắn mọi nơi chổ ngồi, bác Phối thì mở nắp phía trên khối động cơ xe.

Chiếc Rolls Royce đậu sát bức thành đá phía đáy hầm và bác Phối giờ đây đang tháo bánh phía trước bên phải, sau khi đã "kích" bổng đầu xe lên.

Bắt gặp tia mắt dò hỏi của tôi, cậu Hải Minh lên tiếng:

- Gay lắm Chiêm à! Không biết liệu có kết quả gì không đây! Chiếc ly báu này hình giống một cái bình bông xinh xinh, nhỏ bé lắm, nhét vào đâu cũng lọt hết. Phải tìm thật kỹ, không được bỏ sót chỗ nào cả!

Một lúc sau, cả bốn chiếc bánh xe đã được tháo tung ra. Bác Phối chăm chú săm soi từng li từng tí. Không thấy gì khác lạ. Đến lượt chỗ ngồi bọc nệm đẹp, Trí và tôi luân phiên nhau sờ nắn từ phần một.

Rồi tới bộ máy, các ống kim khí, các bầu xăng, ống nhớt. Không thiếu một chỗ nào. Kết quả vẫn là con số không to tướng.

Cậu Hải Minh nhìn Trí:

- Thế nào? Bỏ cuộc chứ, Giám đốc hãng CT2?

"Sếp" tôi vẫn cứng đầu:

- Bỏ cuộc sao được, cậu? Chiếc ly báu chỉ giấu nội trong chiếc xe này. Phải tìm cho bằng ra, cậu ạ!

- Biết thế rồi! giọng cậu Hải Minh đầy thiện ý khuyến khích các "kẻ săn vàng", bọn mình tìm kỹ thế này mà còn không thấy thì hai tên "gà mờ" Kha Bỉ, Du Đả kìa làm sao mà moi ra được?

Rồi cậu quay lại phía bác Phối đang trừng trừng dán tia mắt vào bộ máy xe hơi.

- Sao? Có thấy cái gì lạ không, bác Phối?

Có lẽ tại nhìn đăm đăm lâu quá vào ổ máy, đầu óc suy nghĩ rất nhiều mà chẳng khám phá ra được cái gì khác lạ, bác tài lẩm bẩm như người loạn trí:

- Phải có cái gì chứ! Chắc thế nào cũng phải có cái gì lạ trong này... Hừ!

Rồi đột nhiên, bác khoát hai bàn tay, dáng điệu của một người tìm mãi một cái gì mà không thấy, thất vọng vì sự bất lực của mình và bác gầm lên, đưa tay sập mạnh nắp thùng xe nghe "sầm" một tiếng:

- Thôi vứt đi! Vứt hết đi! Bực mình quá! Rắc rối quá sức là rắc rối! Bằng lái thì bị treo giò! Thôi lắp tất cả vào đi! Đem xe về mau! Bà chủ cần tới rồi đó!

Thế là mọi người lại líu ríu lên xe. Tôi bước vào sau chót. Bất giác đưa tia mắt ngước nhìn cái mái đá thiên nhiên nhô ra như hàm răng khổng lồ của một con quái vật, đúng chỗ tôi "giồng cây chuối" ngược bữa trước. Chưa kịp rùng mình nhớ lại trò chơi nguy hiểm, tôi đã cứng lưỡi há hốc miệng suýt bật thét lên: đằng sau lùm cỏ cao xanh rậm, xuất hiện một... bộ mặt, hai con mắt ốc bươu, bộ râu vểnh đen nhánh. Bộ mặt của Pha-ra-ma-Lả! Chắc chắc là ông "cà mèn" này đã theo dõi công việc của bọn tôi từ đầu tới cuối, không sót một chi tiết.

Chờ cho xe ra khỏi hầm đá, tôi mới báo cho cậu Hải Minh biết là tay Ma Lả cũng lén lút lần mò tới tận địa điểm bí mật này. Hai mắt chăm chú ngó mặt đường, tay lái xe thoăn thoắt, cậu tôi rít qua kẻ răng:

- Hừ! Nó theo dõi tụi mình đấy ! Và nó đã biết được chúng ta đang lùng kiếm chiếc ly báu... Ừ, quái nhỉ! Chẳng hiểu Ma Lả nhúng tay vào vụ này của bọn mình là có ý gì chứ? Ông ta ở chức vụ cao cấp thật, cánh tay phải của nhà vua chứ ít sao, nhưng xét ra cũng khó lòng mà giúp tụi mình truy lùng ra cái món đồ quốc bảo đó được. Ôi chà! Nếu có một phép nhiệm mầu nào sai khiến giúp chúng mình kiếm ra được thì thật là hay quá! Cả một triều đình, cả một ngai vàng chí bảo, cả một giòng họ vua chúa cai trị muôn dân phú cường Ca-sa quốc chứ đâu phải chuyện tầm thường... Thành bại là do bọn mình cả. Hừ!

Khi cậu Hải Minh lái chiếc Rolls Royce về tới biệt thự thì Kha Bỉ đã chực sẵn ở trước cửa nhà xe từ bao giờ. Y ném về phía bọn tôi một cái nhìn nháng lửa, nhưng chẳng người nào thèm để ý. Ai nấy đều còn đang buồn nản về cái việc "dã tràng xe cát" vừa qua cộng thêm niềm thắc mắc lo âu vì bị Pha-ra-ma-Lả theo dò trinh sát nữa.

Khi leo lên xe của cậu để về khu Ba Chuông, tôi nhận ra là trong tay vẫn giữ khư khư cái bình hoa bằng đồng của bà Bích Tâm, má Trí.

Chương trình hành động của "sếp" hay thật. Nhưng chẳng đi tới kết quả gì thắng lợi. Sau một tiếng thở dài, tôi liệng bình gói giấy bạc lên nệm ghế sau xe.

Cậu Hải Minh, ý chừng muốn phá tan bầu không khí im lặng nặng nề rất khó thở đang bao quanh ba cậu cháu, liền cất tiếng hỏi Trí:

- Thế nào! Bây giờ cậu cháu ta biết xoay sở ra sao đây, Trí?

- Tiếp tục tìm kiếm cho kỳ được, cậu ạ! Hãng CT2 của chúng cháu không chịu bỏ cuộc giữa chừng bao giờ cả!

Nói thì dễ lắm. Nếu có quyền quyết định thì tôi cũng cho... rút lui. Nhưng Trí, tôi biết cái nết cứng đầu của anh lắm. Anh chỉ chịu xóa ván cờ khi bị một cái gì đó bắt buộc mà thôi. Và tôi biết rằng khi anh đã tuyên bố "tiếp tục" là tôi cũng lại theo anh mà tiếp tục, dù muốn dù không.

Nhưng có thế nào đi nữa thì sự việc cũng phải đi tới chỗ kết cục, một ngày nào đó. Và cái "ngày nào" ấy nhất định phải là ngày thứ Năm, gần quá rồi, và chỉ hôm sau, thứ sáu...đã là ngày lễ đăng quang của Tân vương Ca-sa-bỉ-ba.

Cậu Hải Minh dừng xe cho tụi tôi xuống trước cửa "Phòng thí Nghiệm" Cậu cần phải đi có một vài việc riêng khá cần kíp. Cậu hứa với hai anh em xong việc sẽ về ngay để giúp một tay, nếu cần.

Trí quay nhìn tôi:

- CT3! Chịu khó đạp xe lại nhắn anh Trung, một tiếng đồng hồ nữa đến gặp anh em mình tại...Ty Cảnh Sát nghe!

- Được, nếu anh ấy có mặt tại tòa báo chắc chắn là anh ấy sẽ "ô kê" gấp.

- Vậy Chiêm về lấy xe đạp, đạp lẹ đi! Nếu gặp anh Trung gọi dây nói cho mình biết ngay! Rồi ba anh em sẽ gặp lại nhau tại Ty Cảnh Sát.

- Rồi, yên trí đi, sếp! À, nhưng sao vậy? Có việc gì mà lại phải tới Cảnh Sát thế?

Trí thở ra một hơi dài:

- Trong khi chờ đợi để tiếp tục truy lùng ra báu vật của Ca-sa quốc, chúng mình hãy đi gỡ cho bác Phối tội "đụng xe bỏ chạy" mà bác không phải là thủ phạm cái đã.



CHƯƠNG XVI

CHỨNG MINH


Thiệt may! Vừa bước vào phòng biên tập của nhật báo Chuông Vàng tôi đã gặp được ngay anh Trung đang lúi húi ở bàn giấy.

Gặp tôi, anh ngẩng lên cười vui:

- Chờ anh một chút, chú Chiêm, sửa qua cái này chút xíu thôi!

Tôi ngồi xuống chiếc ghế dựa bên bàn, đưa mắt ngó anh đánh tanh tách lên cái máy chữ cũ mèm. Chưa đầy một phút sau, anh đã quay trục máy chữ, tháo xấp giấy trắng chi chít chữ ra. Rồi, cầm một mẩu bút chì, anh vừa đọc vừa sửa lại một vài chữ gì trong đó. Đọan, anh chạy vút qua phòng bên, "nạp bài" cho ông chủ bút. chớp mắt, anh đã trở lại:

- Rồi, Chiêm! Bây giờ anh có thể xoa tay chuyện trò với chú được rồi! Sao, có chuyện gì đó?

- Trí muốn gặp anh gấp lắm, anh Trung! Trí bảo em tới nhắn anh đến hội kiến tại... Ty Cảnh Sát!

- Thì đến chớ "sợ" gì!... À, nhưng có việc gì đó, Chiêm?

- Chúng em đã tìm ra bằng cớ chứng minh bác tài Phối vô tội trong vụ đụng xe bỏ chạy bữa Chúa nhật vừa qua đó anh Trung!

- Vậy hả? Trời ơi! Tuyệt quá! Nói rõ anh nghe cho thú vị chút đi.

Ấy, nguy quá! Đến đây thì tôi lại "bí" rồi. Trí đã nói ra miệng là chính tôi đã đích thân gỡ tội cho bác Phối nhưng ác cái anh lại chưa giải thích rõ cho nghe đầu đuôi xuôi ngược việc gỡ tội ấy ra sao, thành ra tôi chẳng hiểu gì hết trơn. Không lẽ lại nói huỵch toẹt ra cho anh Trung biết sự thực là như thế thì còn gì là danh dự của Phụ Tá Giám Đốc hãng Trinh thám tư CT2 nữa. Bí quá, tôi đành phải làm bộ bí mật, khẽ rỉ tai anh:

- Thôi! để chờ gặp Trí đã rồi anh sẽ biết hết mà! Nói trước nó mất hay đi, anh Trung! À, gọi điện thọai cho Trí được không anh?

- Được chứ!

Trí cho biết là mười phút nữa, anh em sẽ gặp nhau tại chỗ đã nói. Chờ anh Trung xin phép xong, hai anh em nhẩy lên xe đạp, đạp bon bon.

Ty Cảnh Sát ở không xa lắm nên anh Trung và tôi tới nơi thì Trí còn chưa đến.

Chưa đầy phút sau đã thấy anh xuất hiện. Mớ tóc bồng bềnh rung rung theo nhịp lao nhanh của chiếc xe đạp. Một gói gì cồm cộm buộc ở "poọc-ba-ga" phía sau.

Sau khi chào anh Trung, Trí liền "thuyết trình" một bài ngăn ngắn kể lại các việc mới xẩy ra, và cho anh Trung biết lý lịch đích thực của nạn nhân trong vụ đụng xe giả tạo. Tôi nói thêm:

- Một nạn nhân rất đặc biệt, từ xưa tới nay chưa từng thấy, anh Trung ạ! Cả một chiếc xe to tướng lao vào người mà hắn ta không bị mảy may thương tích, ngoài một hai vết trầy trụa nhẹ như mèo cào. Có thể nói là một tay nhào lộn hát xiệc trứ danh đó anh!... Về sau tụi em còn gặp lại tên Du Đả này mấy lần, đặc biệt nhất là bữa tại hầm đá trong núi Voi.

Anh Trung nhìn tôi:

- Hay, hay lắm ! Nhung anh muốn hỏi: Căn cứ vào cái gì mà Chiêm bảo rằng người lái xe bữa đó đúng là tên kia, lão Kha Bỉ?

Tôi liếc nhanh mắt cho Trí như ngầm bảo anh trả lời giùm. Trí hiểu ý nói ngay:

- Dễ ợt! Điều đó dễ ợt! Đễ em chứng minh cho anh Trung nghe! Chắc như cua gạch và chính xác như hai với hai là bốn, không còn nghi ngờ vào đâu được.

Anh Trung thích thú:

- Rồi! Anh sẵn sàng nghe đây! Trí kể đi!

Trí hắng giọng:

- Này nhé! Khi tai nạn vừa xẩy ra xong, vị phụ tá của em đây đã theo sát chiếc xe Jeep cảnh sát về tới tận biệt thự Huỳnh Lan Anh. Tới nơi, bất ngờ Chiêm lượm được một chiếc mũ "kết" tài xế ai để rớt ngay tại lối đi. Đây cái mũ "kết" này đây...

Dứt lời, Trí mở bọc giấy dầu gài ở poọc-ba-ga xe đạp, lôi ra chiếc mũ kết mà tôi đã trao cho anh bữa trước.

-... Em tự đặt một câu hỏi như thế này: tại sao chiếc mũ "kết" này lại nằm vạ vật ở ngay lối đi trong biệt thự? Theo ý em thì người đội mũ này lỡ làm rớt chưa kịp lượm lên đã co giò chạy lánh mặt vì nghe tiếng bước chân ở trong nhà đi ra. Sau đó, tên gian, nghĩa là tên chủ mưu làm hại bác Phối, nhận thấy rằng cái mũ để thất lạc đó sẽ có thể hướng dẫn được cuộc điều tra truy tầm của Cảnh Sát.

Anh Trung:

- Hướng dẫn thế nào?

- Có hai cách! Đây, anh Trung coi này!

Trí lật ngửa chiếc mũ "kết"

- Anh có nhận thấy trên băng dạ này chất gì đo đỏ không? Lúc đầu Chiêm cho là máu, nhưng khi nhìn thấy, em nghi ngay là một thứ thuốc nhuộm. Về sau phân tích kỹ thì quả đúng là thuốc nhuộm thật.

Anh Trung móc vội sổ tay và bút "bic"

- Ấy, chậm chút xíu, Trí, nói chầm chậm một chút !

Trí liền kể lại rành mạch khi ở biệt thự ra tôi đã bị liệng đá tấn công như thế nào. Nhất là tên gian đột kích hụt tôi ra làm sao để cướp lại chiếc mũ "kết" tài xế. Rồi Trí lại tự nêu một câu hỏi để bài "thuyết trình" được thêm vẻ đậm đà:

- Mà tại sao nó lại tha thiết đến cái mũ tài xế của bác Phối như vậy chứ?

Anh Trung cũng tròn mắt:

- Ừ, không hiểu tại sao nó cứ đuổi riết Chiêm để chiếm lại bằng được cái mũ cũ rích đó?

Trí nhẹ nhàng cho tay vào túi lôi ra một gói giấy nhỏ. Gói giấy mở ra! Bên trong có hai sợi tóc màu hung và hai sợi màu đen nhánh. Anh trịnh trọng tuyên bố;

- Vị phụ tá của em đây đã phải vào sanh ra tử mới lấy được bốn sợi tóc này đó, anh Trung!

Tôi hỏi ngay:

- Lạ! Tôi đem về cho anh bốn sợi tóc hung đỏ cả kia mà. Sao đây lại chỉ có hai đen hai đỏ là thế nào?

Trí:

- Đúng! Hai đỏ hai đen! Hai sợi được tôi đem đi phân tích theo phương pháp hóa học đã mất hẳn màu hung đỏ. Như vậy rõ ràng là mấy sợi tóc này đã bị nhuộm. Tiếp đó, tôi lại lấy chất đỏ dính ở vòng da cái nón "kết" đem phân tích, té ra cùng một chất với thuốc nhuộm ở mấy sợi tóc... Như vậy chứng tỏ rằng người đội cái mũ này mới nhuộm tóc. Và y đã chọn màu hung đỏ để ngụy trang mái tóc mẹ đẻ vốn đen nhánh của y.

Ký ức tôi tự động hình dung lại mớ tóc của Kha Bỉ đồng màu với tóc kẻ chăn trâu chăn bò không đội nón.

Trí tiếp tục:

- Vậy là tên Kha Bỉ, bữa đó mới nhuộm tóc xong, lấy trộm cái mũ "kết" của bác Phối chụp vào đầu. Và chính hắn đã ngồi tại ghế tài xế chiếc xe Rolls Royce lúc gây tai nạn, rồi lái vọt đi luôn bất chấp đèn đỏ.

Anh Trung nét mặt trầm tư, lim dim đôi mắt, gật gật cái đầu:

- Hừ! Hừ! Giả thuyết của Trí tuyệt tác thật. Nhưng liệu đã đủ để thuyết phục mấy ông Cảnh Sát chưa?

"Sếp" tôi lại mỉm cười đắc thắng:

- Đâu đã hết, anh Trung! Chiêm mới chỉ phát giác ra vết thuốc đỏ. Còn em, sau khi lục xét tỉ mỉ, em lại vớ thêm được cái này nữa. Cũng tuyệt tác lắm !

Cầm lại chiếc mũ "kết" từ tay anh Trung, Trí lật vòng da, lôi ra một băng giấy xếp nếp. Không nói chắc anh em chúng ta ai nấy đều biết rằng, khi vớ được cái mũ nào đó, của ai, không cần biết, người ta thường hay lót thêm giấy vào phía trong cái vành da để đội cho nó khỏi sụp xuống tầm mắt nếu cái mũ "mượn kín" ấy quá rộng.

Tiếng Trí:

- Anh em mình đều biết rằng bác Phối có một cái đầu to quá khổ. Mà cái tên mượn kín mũ của bác thì đầu lại nhỏ hơn nhiều.

Anh Trung thắc mắc:

- Cũng nhiều người đầu nhỏ hơn đầu bác Phối chứ, cứ gì...

Trí vẫn thản nhiên:

- Em cũng biết thế! Nhưng xin anh ngó giùm em vào tờ giấy xếp nếp này chút xíu coi, anh Trung!

Tôi và anh Trung cùng cúi xuống, chăm chú nhìn. Bất giác, tôi lẩm bẩm:

- À, à... đúng là bảng kê ngày giờ các chuyến bay, à đúng rồi!

- Anh Trung và Chiêm nhìn kỹ xem ngoài những con số chỉ ngày giờ, còn có những chữ chú thích. Chữ chú thích đó là ngôn ngữ nước nào vậy?

Anh Trung reo lên:

- Trời đất! Chữ Ả Rập!

Trí thêm:

- Anh ngó xuống dưới coi tên hãng máy bay viết bằng tiếng Anh nè!

- Trung đông Li Ban – Việt Nam.

Trí giải thích:

- Thấy chưa? Đường bay Trung Đông LiBan Việt Nam đi qua Ca-sa-bỉ-ba quốc. Vậy, theo anh, thì ai là kẻ vừa mới từ Ca-sa quốc qua Việt Nam?

Tôi reo lên:

- Kha Bỉ và Du Dả !

"Sếp" tôi nhìn anh Trung:

- Vậy bây giờ, đã đủ bằng cớ để gỡ tội cho bác Phối chưa, anh Trung?

Anh Trung cười thú vị:

- Theo ý anh thì dư rồi đó! Cảnh Sát chắc cũng chỉ cần có được chừng ấy bằng cớ mà thôi.

"Sếp" tôi dợm bước:

- Để coi ra sao!

Dứt lời anh xăm xăm bước vào cổng Trụ Sở Ty Cảnh Sát. Anh Trung và tôi theo bén gót.

Trước mặt ông Trưởng Ty Mạc Kính, Thẩm sát viên Báu, Phó Thẩm sát Viên Minh Khánh, Trí lại "bổn cũ soạn lại" bài thuyết trình y như đã nói trước mặt anh Trung và tôi... Ngoài ra, anh lại "đính kèm" thêm một điểm mà anh quên, hay cố tình quên không cho tôi và anh Trung biết:

- Mấy cuộc thí nghiệm tự tay tôi thực hiện đã được, đem đến nhờ vị Trưởng Phòng Thí Nghiệm Đại Học Khoa Học Saigon kiểm chứng lại. Giáo sư Hải Bằng đó, chắc ông Trưởng Ty cũng biết. Giáo sư Bằng lại cấp cả cho một giấy chứng nhận là điều nhận xét của tôi rất chính xác, đây, xin xuất trình quý ông coi.

Ba nhân viên công lực đứa mắt ngó Trí chăm chăm không nói một tiếng. Đột nhiên, ông Trưởng Ty Mạc Kính đứng dậy, trịnh trọng đưa bàn tay phải ra nắm chặt bàn tay Trí:

- Trí, khi nào đến tuổi, xin gia nhập Cảnh Sát, về đây làm việc với tụi anh cho vui nghe, Trí ! Ngay từ giờ phút này em có thể báo tin mừng cho bác Phối là bác sẽ được trả lại bằng lái xe trong một thời hạn ngắn nhất. Tụi tôi phải mời hai tên Kha Bỉ và Du Đả đến hỏi chuyện mới được.

Ba anh em ở Ty Cảnh Sát bước ra, trong lòng vui sướng rộn ràng như được đi xem hội. Anh Trung, tâm lý chung của mọi phóng viên, vẫn còn có vẻ thòm thèm muốn lấy thêm tin tức. Trí vừa gác chân lên bàn đạp đã bị anh chận lại:

- Này, Trí! Hôm qua anh đã nói chuyện với Thái Tử Hà Lam. Anh đã hỏi ông tại sao hai tên Kha Bỉ và Du Đả lại qua Việt Nam? Mà chúng qua chỉ trước Thái tử có vài ngày thôi hà?

Trí cười mỉm, lắc đầu;

- Chịu! Giờ phút này, tụi em chưa thể tuyên bố hay giải đáp bất cứ thắc mắc gì của anh được. Chúng em còn đang cố gắng vén bức màn bí mật chưa xong đây, anh Trung!... Chút xíu nữa thôi! Vâng, chỉ còn một điểm chút xíu nữa phải giải quyết cho xong cái đã. Rồi thì... hạ hồi phân giải.

Một điểm chút xíu! Tôi tự nhủ: "Chút xíu! Hừ! Còn lâu nghe sếp. Ở đó mà chút xíu! Anh dám cả gan bảo công cuộc truy lùng cái ly báu đó là chút xíu. Thưa sếp, còn lâu lắm, sếp ơi!"

_________________________________________________________________________

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

CHƯƠNG XIII, XIV_NGỌC BÁU NGAI VÀNG


CHƯƠNG XIII

BÁO ĐỘNG TẠI PHI TRƯỜNG


Vấn đề thật là gay quá! Đem cái xe ra khỏi biệt thự, ngay bây giờ. Mà bằng cách nào chứ?

Trí và tôi đều không có bằng lái xe, giấy tờ của bác Phối thì đã bị tịch thu, còn Hà Lam thì lại chỉ có bằng lái do Anh Quốc cấp chưa xin đổi ra bằng Việt Nam.

Tôi khẽ bảo Trí:

- Việc gì phải đem xe đi chỗ khác? Lục xét ngay đây không được sao? Bà Lan Anh có hỏi, tụi mình cứ nói sự thực, chắc bà cũng chẳng la đâu!

Trí rít qua kẽ răng:

- À, ngon nhỉ? Thế lỡ tụi mình kiếm ra được báu vật bí mật đó, rồi hai tay Kha Bỉ, Du Đả biết được thì tính sao đây? Không được! Nguy hiểm lắm! Phải lái nó đi tới một chỗ nào vắng vẻ không ai biết rồi mới lục lọi bới tìm một cách kín đáo được chứ!

Bốn người chúng tôi cứ lúng túng mãi, rút cuộc giáo sư Bích Tâm ở trong nhà bước ra bảo hai anh em cùng lên xe của ông ra về.

Cả sáng hôm sau nữa, phải xách giỏ theo má đi chợ, tôi chẳng còn phút nào rảnh để tới nhà Trí nữa. Mãi tới hồi 11 giờ, gần buổi trưa, má tôi mới chạy ra vườn, bên luống rau cải hoa vàng, tôi đang cắm cúi xới cỏ vun gốc:

- Chiêm! Cậu Hải Minh gọi điện thoại cho con kìa! Vào đi, mau!

Toàn thân tôi bất giác run lên nhè nhẹ. Hải Minh? Cậu Hải Minh yêu quý của tôi? Cậu từ Ca-sa-bỉ-ba quốc gọi điện thoại về? Chắc phải có việc gì quan trọng lắm! Nếu không… tôi lật đật liệng cuốc tất tả chạy vào. Má tôi đang cầm ống điện thoại:

- Cậu Hải Minh! Đây, cháu Chiêm đây này cậu! Để tôi đưa máy cho cháu nói chuyện với cậu nghe!

- Hả! Chiêm hả! Cậu Hải Minh của cháu đây! Mạnh khoẻ chứ Chiêm?

Tiếng nói nói trầm ấm của cậu tôi vang vang trong ống nói rõ ràng khiến tôi tưởng chừng như đang đứng tại phòng ba tôi kế bên đó.

- Cậu ơi! Hiện giờ cậu đang ở đâu thế, hả cậu? Từ Ca-sa-bỉ-ba cậu gọi về đấy hả?

Một tràng cuời ròn rã tiếp theo liền câu tôi hỏi:

- Không, không đâu cháu Chiêm! Hiện thời cậu đang ở… Việt Nam, nước Việt Nam yêu quý của cậu cháu mình đây, Chiêm à! Ở ngay phi trường Tân Sơn Nhất đây này. Cậu được lệnh sang đây nhận một chiếc phi cơ mới toanh, đẹp ghê hồn, Chiêm à! Cậu chỉ muốn Chiêm, Trí lên được đây để ngắm chiếc phi cơ lộng lẫy đó một chút.

- Trời ơi! Vậy thì thú quá, cậu ơi!

- Thế thì được! Cậu đã nói với má cháu rồi! Hai anh em đi taxi lên phi trường ngay, gặp cậu. Rồi cậu sẽ mượn xe ở đây đích thân lái đưa hai anh em về. Cậu được phép ở lại đây 3 ngày để nhờ mấy ông kỹ sư kiểm soát lại thật kỹ mọi cái trong chiếc phi cơ đã. Khi tới đây, hai anh em nhớ tìm gặp cậu tại “hangar” số 10. Nhớ nghe! Cậu chờ ở đó! Cúp nghe!

Tôi sướng quá run tay, mãi mới gác được ống nghe lên máy. Vừa xong đã nghe tiếng má tôi:

- Đây! Má đã sửa soạn cho hai anh em hai ổ bánh mì thịt đây. Đi thay quần áo đi! Xong gọi cho thằng Trí hỏi nó có muốn đi chơi với con lên gặp cậu và xem chiếc phi cơ mới không nhé!

Khi nhận được một tin giật gân như thế, tôi thấy rõ ràng là Trí đã cố gắng rất nhiều để cố nén niềm vui sướng bồng bột trong lòng không để phát lộ ra ngoài. Nhưng tôi dư biết là được gặp mặt cậu Hải Minh, nhất là được coi tận mắt, mó tận tay chiếc phi cơ vĩ đại, lộng lẫy và tối tân do cậu sử dụng, Trí chắc hẳn cũng thích thú chẳng kém gì tôi.

Không may cho hai anh em, bữa đó nhằm đúng ngày công nhân hãng Shell đình công, xe taxi vắng bóng rất nhiều, ngay cả xích lô máy cũng chẳng thấy một cái. Từ khu Ba Chuông lên Phi Trường Tân Sơn Nhất không xa gì cho lắm, có thể đạp xe đạp lên được, nhưng lên đến nơi rồi biết quăng hai con ngựa sắt ấy vào đâu cho được.

Đứng chờ taxi có tới nửa tiếng đồng hồ mà tôi tưởng như kéo dài đến nữa ngày. Mãi gần xế chiều, hai anh em mới lên tới cổng phi trường.

Nhân viên an ninh kiểm soát thẻ học sinh của chúng tôi rất kỹ. Cũng may mà cậu Hải Minh đã có lời dặn dò họ trước nên các nhân viên gác cổng để hai anh em qua không một chút khó khăn. Chưa hết: hai anh em còn đang ngơ ngác ngó vào phi trường rộng mênh mông chưa biết nên đi đứng ra sao thì đã thấy một chiếc xe Jeep đậu xịch ngay bên cạnh. Hai nhân viên an ninh mặc sắc phục tươi cười hỏi chúng tôi có phải là cháu ông Hải Minh. Chưa đầy năm phút sau, hai anh em đã đặt chân trước hangar số 10.

Nhà gì mà rộng lớn như bãi đá banh sân vận động Cộng Hòa, mái lợp toàn một loại tôn trong để lọt ánh sáng như ở ngoài trời, sàn láng xi-măng nhẵn nhụi. Có tới gần mười chiếc xe cần trục di chuyển những cầu thang cao ngất nghểu, trông hoa cả mắt. Bất giác tôi xán tới đứng gần bên Trí:

- Nhà gì mà rộng mênh mông trông… khiếp quá!

Trí im lặng. Ngó mặt anh tôi nhận ra tia mắt anh cũng có vẻ lạc lõng ngơ ngác chẳng thua gì tôi.

Bên ngoài, bóng hoàng hôn đã bắt đầu dày đặc, nắng chiếu rọi qua mái tôn trong chỉ còn chiếu sáng lờ mờ. Trong hangar vắng lặng một cách khác thường. Quả là một điều khó hiểu. Khi chiếc xe Jeep đưa Trí và tôi tới đây, đi ngang mấy gian khác, toán nhân viên đang thay phiên làm ồn ào náo nhiệt lắm kia mà. Sao riêng hangar số 10 lại thế này? Và cậu Hải Minh của tôi đâu chẳng thấy?

Trí khẽ rỉ tai tôi:

- Thây kệ! Tụi mình cứ thử tìm chiếc phi cơ mới của cậu xem?

Hai anh em theo nhau tiến vào giữa gian hangar, len lỏi qua những chiếc phi cơ to lớn kềnh càng đứng im sừng sững trong bầu không khí im lặng và bí mật.

Đột nhiên Trí nắm chặt cánh tay tôi. Tiếng anh nói phào phào bên tai:

- Kìa! Phi cơ của cậu Hải Minh kia kìa!

Theo ngón tay anh chỉ, quả nhiên tôi nhìn thấy chiếc phi cơ mới toanh sơn màu Ca-sa quốc, nghĩa là màu xanh lá cây thật nhiều xen lẫn một vài sọc màu đỏ sậm. Có tới năm cái thang bằng nhôm sáng loáng thả từ mấy ô cửa dọc theo thân máy bay xuống tới mặt đất, nơi cửa phía đuôi, một xe cần trục sơn màu vàng túc trực sẵn sàng.

Hai anh em nhẹ tiến lại gần. Tôi đặt chân lên bậc một cái cầu thang nhôm và không hiểu tại sao, có một cái gì thúc đẩy, khiến tôi ngửng phắt đầu lên.

Thời gian ánh chớp, tôi đưa nhanh tay đẩy Trí lùi lại. Rồi hai anh em ngồi thụp xuống sau chân cầu thang, nấp dưới bụng phi cơ. Tôi nói không ra tiếng, Trí hỏi dồn dập:

- CT3! Cái gì vậy?

- Tôi vừa thấy cái gì động đậy sau ô cửa trên phi cơ đó Trí! Rõ ràng cái màn gió vén chếch lên, khi chợt thấy tôi ngó lên liền buông lẹ xuống mà.

Trí và tôi thu người ngồi im một lúc lâu, tâm tư khắc khoải, hồi hộp vô cùng. Mà quái thật! Sao chẳng thấy cậu Hải Minh của tôi đâu cả? Một lúc lâu sau, hai đứa từ từ ngẩng đầu lên nghểnh mãi cổ cho tầm mắt khỏi vướng khuất bụng phi cơ. Có ánh sáng lờ mờ ở phía trong hắt ra. Đột nhiên, bốn mắt chúng tôi thấy rõ một bàn tay giơ lên vén nhè nhẹ tấm màn gió tại một ô cửa tròn. Rồi một khuôn mặt hiện ra sau khuôn kính. Không phải cậu Hải Minh. Người này đội một cái mũ nỉ, hình nón không chóp, bằng nỉ đen. Loại mũ giống kiểu mũ của mấy chú chà và thường đội mà chúng tôi thường gọi giỡn là “đấu cà mèn”

Chưa hết! Trên mép ông lại còn có một bộ râu vểnh rất đẹp, đen nháy.

Tôi lẩm bẩm:

- A, a!… Tay kia đang theo dõi chúng mình và hình như có vẻ lẩn lút sợ chúng mình rình mò hắn thì phải. Tính sao bây giờ, Trí?

“Sếp” tôi không trả lời. Anh chỉ đưa mắt đăm đăm nhìn ông “cà mèn”

Bất giác tôi ngồi nhích ra xa anh một chút, giọng lo ngại rõ rệt:

- Hay tụi mình đi ra ngoài kia chờ cậu Hải Minh đi.

Trí đưa nhanh tay giữ tôi lại:

- Để coi tên này định làm cái gì đã!

Nghe dứt lời tôi cảm thấy như có luồng điện chạy dọc theo sống lưng khiến tôi rùng mình. “Sếp” thản nhiên:

- Bây giờ tụi mình lủi nhanh xuống phía đuôi phi cơ, anh giơ tay chỉ chiếc thang nhôm sáng loáng, leo cái thang đó lên tới nóc phi cơ. Như vậy, ghé tai xuống gần mấy ô cửa sổ tròn may ra nghe được tiếng động bên trong đó.

- Uả! Nhưng để làm gì chứ? Biết đâu cái tay “cà mèn” kia lại chẳng có quyền được ở trong đó?

- Ai chả biết thế! Nhưng lỡ là một tay do thám Ả Rập có nhiệm vụ lẻn vào… phá hoại thì sao?

Rồi không đợi tôi trả lời, Trí đã rảo bước chạy nhanh lại phía cái thang. Bí quá, không biết làm cách nào, ngồi lại một mình tại chỗ nấp thì ghê quá, tôi chỉ còn nước bước lẹ theo “sếp”.

Trí đã leo lên bậc thứ hai. Tôi vừa bám vào leo theo, cái thang đã đu đưa khiến tôi có cảm giác như vừa bị ai bóp mạnh vào bao tử một cái. Trèo lên được phía trên ô cửa ra vào ở hông máy bay, Trí bỗng dừng lại và tôi cũng làm theo anh. Cả hai cùng vểnh tai nghe ngóng. Mới đầu không nghe được một tiếng gì. Chưa đầy hai phút sau đã nghe tiếng người nói chuyện mỗi lúc một rõ thêm, theo với bước chân tiến đến gần. Bốn tia mắt liếc nhanh qua ô cửa: hai người đàn ông vừa đặt bước trong lòng phi cơ vừa nói chuyện, bốn cánh tay vung vẩy nhịp nhịp cho những lời đối thoại; Trí và tôi ngây ra như tượng gỗ chẳng hiểu họ nói chuyện gì. Khổ ghê: họ nói toàn tiếng… Ả Rập.

Một trong hai người, đúng tay đội “cà mèn” bước xuống thang, ra khỏi máy bay. Hắn ta đứng ngay dưới chân chúng tôi, trên mặt đất, quay mặt lại “a rỉ, a rả, a rẻ” một hồi với tên còn lại trên máy bay.

Tôi cố nhịn không dám thở mạnh. Nguy quá! Tay “cà mèn” này mà bất chợt ngẩng đầu lên, thì chúng tôi nguy mất.

Ô kìa! Hắn ta ngẩng đầu lên thật kìa. Lập tức, lại một tràng “súng liên thanh” a rả, a rả. Không hiểu hắn nói gì, nhưng nhìn nét mặt tôi biết ngay là hắn đang nổi giận ghê gớm. Cánh tay dài ngoẵng của ông “cà mèn” chỉ thẳng lên chỗ tôi và Trí rồi thét lên, ý chừng gọi tên ở trong phi cơ.

Trí và tôi bò nhanh lên đỉnh nóc máy bay rồi cứ thế tung chân chạy thật lẹ về phía đuôi. Bên dưới, tiếng la hét thất thanh vang lên lồng lộng. Tôi biết ngay rằng cả hai tay Ả Rập đều đã xuống tới đất và đang chạy lại phía đuôi để đón bắt chúng tôi.

Hai đứa nắm được đầu thang cùng một lúc, liền đánh đu tụt xuống. Chân vừa chạm đất là đã cắm cổ lao vun vút về phía cửa hangar. Sát sau lưng tôi, Trí chạy, nện gót chân thình thịch. Ngoài ra không nghe tiếng chân nào khác. Hú vía! Hai anh em chạy nước rút, đã bứt xa được ông “cà mèn” và tên đồng bọn. Hứng chí, tôi tăng thêm tốc độ. Đột nhiên… “huỵch”, chân vướng phải dây giày tuột ra từ lúc nào, tôi ngã sóng soài trên mặt xi-măng. Qua giây phút điếng người, vừa hấp háy mở được đôi mắt, tôi nhận ra ngay là trán tôi đang dán sát vào mũi một đôi giày đánh “si-ra” bóng loáng. Đôi giày của người lớn!

Một ý nghĩ ghê rợn loé nhanh trong trí óc:

- Lần này thì hết chạy rồi!... Trước khi tôi thu được đủ can đảm ngẩng đầu lên để xem người mang đôi giày này là ai, đã nghe một giọng nói vui vui xen lẫn vẻ riễu cợt:

- Điệp viên Trần Đình Chiêm đây chắc!

Tôi đã nhận ra giọng nói của ai rồi. Thì ra, tôi đang nằm sóng soài ngay dưới chân cậu Hải Minh.




CHƯƠNG XIV

CẬU HẢI MINH

Cậu Hải Minh đã đỡ tôi đứng dậy. Tuy bị cái ngã như trời giáng khá đau, tôi vẫn còn đủ sức đưa mắt nhìn quanh và quay ngoắt mặt đi khi chợt trông thấy vẻ mặt hầm hầm của ông đội mũ “cà mèn”. Cậu Hải Minh cất tiếng hỏi, giọng lo lắng:

- Cháu thấy sao hả Chiêm? Ngã có đau không?

Tôi lắc đầu thay câu trả lời, một tay đưa lên che mắt như muốn xua đuổi một đám sương mù đang lung linh nhảy múa trước mặt.

Cậu lại càng ngạc nhiên hỏi tiếp:

- Ủa! Mà thế này là sao chứ?

Tôi chưa kịp trả lời, ông “cà mèn” đã tuôn ra một tràng “a rỉ a rả”, giơ tay chỉ thẳng vào mặt tôi và chỉ luôn cả Trí đang từ từ tiến đến.

Đợi cho ông Ả Rập nói xong, cậu tôi mới gật gật cái đầu:

- À, vậy tôi hiểu rồi!

Rồi cậu quay nhìn ông “cà mèn” mà “a rả rả, a rỉ rỉ” một thôi một hồi. Người Ả Rập này có vẻ hiểu ra, gật đầu lia lịa. Khi cậu tôi nói xong, ông ta vui hẳn nét mặt, cúi xuống thật thấp, đặt lòng bàn tay phải lên trán: ông “cà mèn” kính cẩn chào cậu tôi trước khi bỏ đi.

Sau khi nghiêm nét mặt chào đáp lễ, cậu tôi quay lại:

- Rồi, bây giờ cậu đưa hai anh em về khu Ba Chuông nghe!

Khi cả ba cậu cháu đã an vị trong chiếc xe hơi mượn của một người bạn, cậu tôi liền nói:

- Cũng may mà cậu về kịp lúc đấy. Cậu quên không dặn hai anh em là không được tự tiện vào trong hangar nếu không có phép. Tay Ả Rập hồi nãy có thể bắt giữ hai anh em giao cho Cảnh sát đấy. Thật là may. Không thì cậu lại phải chạy để xin bảo lãnh lòng vòng mất công ghê lắm nghe!

Tôi liếc nhanh mắt nhìn Trí và tự nhủ: hai đứa dại dột quá chừng. Tự nhiên lại lò mò vào tận chỗ để máy bay… giở trò trinh sát, thám tử ra, mà thử hỏi chúng tôi có quyền hành gì mà làm thế chứ?

Trí trái lại, vẫn có vẻ tỉnh táo như không. Vừa ngồi yên chỗ, anh đã nhìn cậu tôi hỏi ngay:

- Cái ông đội mũ “cà mèn” đó tên là gì vậy, thưa ông Hải Minh?

Cậu tôi cười vui:

- Ấy, ấy! Nhà thám tử trứ danh “Tài trí” làm chi mà khách sáo dữ vậy? Trí cứ gọi cậu là cậu Hải Minh như em Chiêm đó có phải thân mật hơn không?

Trí cũng cười sung sướng:

- Dạ, vâng! Nếu cậu cho phép!

- À, cái ông “cà mèn” đó tên Pha-Ra-Ma-lả. Ông ta là Tổng Quản Đốc tài chánh của triều đình Ca-sa-quốc đấy. Ông ta cùng với cậu qua Việt Nam để thanh toán món tiền khổng lồ… mua máy bay đấy.

Sau một giây ngập ngừng:

- Theo ý cậu… ông Ma Lả này cũng được lắm.

Đột nhiên cậu tôi xoay qua câu chuyện máy bay:

- À, té ra hai anh em chưa kịp lên phi cơ để coi hả? Thôi được, để cậu liệu thu xếp lúc nào tiện đã. Trời! Bên trong đẹp và tiện nghi hết chỗ nói, Chiêm Trí à. Tân vương Rả Bây đã cho thỉnh một chuyên viên người Nữu-Ước qua tận đây để đích thân điều khiển việc thiết trí trang hoàng. Bước vào phi cơ, người ta có cảm tưởng như đang ở trong một căn nhà sang trọng: nào phòng ngủ, phòng ăn, những bức danh hoạ, thảm thêu. Tóm lại, có thể gọi được là một cái lâu đài bay đấy.

Đột nhiên tôi thấy kiến bò bụng, buột miệng:

- Thế… thế có nhà bếp nấu ăn không cậu?

Cậu Hải Minh mỉm cười, biết ngay là tôi đã đói lắm rồi liền cho xe ngừng trước một quán ăn.

Ba đĩa bánh mì bít-tết thơm phức được bưng lên. Cậu tôi xoa tay thích thú:

- Úi chà! Bít-tết bò ngon tuyệt! Ở Ca-sa-bỉ-ba thì làm gì có của quý này. Chỉ thịt cừu là sẵn. Ăn thịt cừu riết rồi cậu dám suốt ngày sẽ chỉ kêu “be he, be he” cho coi… Rồi, nào ăn đi, hai anh em! Vừa ăn vừa kể lại cậu nghe xem ở nhà đã xẩy ra những chuyện gì nào.

Tôi vắt thêm chanh vào miếng bít-tết vàng ngậy:

- Cậu ơi! Hai tên Kha Bỉ và Du Đả đã qua đây rồi đó cậu!

- Ừ, cậu biết rồi! Thế tụi chúng làm cái gì ở đây thế?

Trí và tôi tranh nhau kể lại cho cậu Hải Minh nghe âm mưu quái quỷ hai tay Ả Rập đã thi hành để làm cho bác Phối bị mất bằng lái xe.

- Á, à! Thế hai anh em phải làm thế nào gỡ được tôi cho bác ấy chứ?

Trí thản nhiên nói tỉnh như không:

- Có chứ, cậu! Cái đó dễ quá mà!

Tôi trợn mắt nhìn anh, ngạc nhiên quá sức: việc gỡ tội cho bác tài Phối ngó bộ rắc rối khó khăn vậy mà anh dám ngang nhiên nói là dễ quá! Và tôi cất tiếng nói, giọng chua như chanh, hỏi móc:

- Ờ, dễ thế kia đấy! Mà anh đã gỡ tội cho bác Phối hồi nào, sao chẳng nói cho tôi biết gì hết thế?

Trí nhìn tôi trả lời thật chậm, như đếm từng tiếng một:

- Mình tưởng Chiêm biết rồi chứ! Vì chính… Chiêm đã minh oan cho bác tài xế hiền lành đó mà!

Tôi ngây người định bắt Trí giải thích rõ thì đã có tiếng hỏi của cậu Hải Minh:

- Làm cho bác tài Phối bị tịch thu bằng lái xe! Để chi vậy?

Trí:

- Để tên Kha Bỉ nhẩy vào làm tranh chỗ của bác, lái xe cho bà Huỳnh Lan Anh. Như vậy hắn sẽ tiện dịp theo dõi liền liền Thái Tử Hà Lam và bới tìm lục lọi trong chiếc xe Rolls Royce lúc nào cũng được.

Cậu tôi nhướng cao đôi chân mày:

- Bới tìm lục lọi trong chiếc Rolls Royce? Mà để làm gì vậy?

Trí :

- Chắc cậu đã biết chuyện chiếc ly báu bằng bạch kim đựng nước Đồng Sinh trong ngày lễ đăng quang tại Ca-sa quốc chứ! Đó, cậu à! Cháu nghi là cái ly báu đó hiện giấu kỹ trong chiếc xe Rolls của bà Lan Anh!

Cậu Hải Minh trừng mắt ngạc nhiên:

- Nói lạ! Chiếc ly báu sao lại có thể lọt ra khỏi Ca-sa-bỉ-ba quốc được?

Trí và tôi liền kể đầu đuôi câu chuyện tráo đổi đôi bình bông và việc tôi bắt gặp hai tên Kha Bỉ, Du Đả lục lọi bới tìm bên trong chiếc xe hơi quý của bà Lan Anh bằng một hộp điện tử hiệu Geiger.

Cậu tôi chợt reo khẽ:

- Ậy, ậy! nếu thế thì hai cháu đã bắt dính một vụ quan trọng tầy trời rồi đây…À, cái này khiến cậu nhớ lại được một điều… Im, im, coi nào…

Cậu tôi thốt nhiên im bặt, vầng trán rộng cau cau, cặp lông mày nhíu hẳn lại. Trí và tôi, miệng há hốc, ngó chăm chăm vào đôi môi của cậu.

-Ừ, đúng rồi! Cách đây khoảng hơn tuần lễ, chín, mười ngày gì đó, cậu có nói với một ông bạn làm quan trong triều về chuyện ngày lễ đăng quang sắp tới. Ông ta liền cho biết là Rả Bây đã thuê thợ kim hoàn làm một chiếc ly bằng bạc quý. Vị quan thấy vậy lấy làm lạ lắm không hiểu tên bạo chúa này thuê để dùng vào việc gì. Lúc đó thì cậu cũng chỉ cho rằng tên Rả Bây ham thích đồ đẹp quý. Nhưng giờ đây hai anh em cho cậu biết hai tên tay sai kia đã lục lọi bới tìm rồi đánh tráo đôi bình bông trong chiếc xe Rolls Royce thì…

Trí ngồi im lặng. Tia mắt anh đăm đăm nhìn vào đĩa bít-tết mới ăn hết nửa. Tôi biết tính anh. Lúc đó là lúc anh đang mải suy nghĩ điều gì lung lắm. Đột nhiên anh “à” lên một tiếng thật to làm tôi giật nẩy người suýt buông rơi cả muỗng, nĩa:

- Đúng rồi! Chắc chắn là chiếc ly báu của hoàng cung Ca-sa quốc đã vuột khỏi tay bạo chúa Rả Bây rồi! Và khi hắn phát giác ra việc mất ly đó, liền cấp tốc phái hai tên Kha Bỉ, Du Đả đi tuy lùng cho ra. Và nếu tụi tay sai này tìm không được, Rả Bây sẽ lấy cái ly bạc y thuê làm sẵn… để thế vào. Đúng rồi! Không có chiếc ly làm mạo đó, lễ đăng quang của y sẽ không có giá trị gì hết…

Cậu Hải Minh vội ngắt lời Trí:

- Khoan chút đã! Trí! Nhưng cậu thắc mắc không hiểu tại sao chiếc ly báu lại lọt ra khỏi vương quốc Ca-sa-bỉ-ba được chứ? Ngay sau giây phút vua Hà Kim băng hà, tên Rả Bây và bè lũ đã tức khắc thâu tóm đủ mọi thứ trong cung điện kia mà? Một chiếc kim gút cũng đừng hòng được bỏ sót, huống hồ…

Trí nhìn cậu Hải Minh thẳng vào mắt:

- Thế chiếc xe Rolls Royce? Chiếc xe to lớn lộng lẫy đó cũng đã ra khỏi Ca-sa quốc được đó cậu?

- Hả? À chiếc xe Rolls Royce thì lại khác. Nó đã được gởi qua Anh Quốc có tới nửa tháng trước ngày vua Hà Kim chết kia mà. Gần một chục chuyên viên người Anh đã được triệu sang Ca-sa quốc để sửa đổi một vài chỗ trong chiếc xe. Nhưng theo cậu biết thì khi sang đến nơi, toán kỹ sư xe hơi đó đã tuyên bố là bắt buộc phải gởi toàn bộ chiếc Rolls Royce sang xưởng máy bên Anh đặng kiểm điểm, thực nghiệm lại một vài chỗ cần thiết mới được.

Trí nở một nụ cười đắc thắng. Nụ cười thật rộng làm cho viền môi tươi của anh căng ra, nhếch lên, trông rất “đáo để”. Tiếng nói của anh nghe như tiếng loa thắng trận:

- Vậy thì đúng quá rồi! Cậu chưa thấy gì sao, cậu? Cậu có nhớ trong bức thư viết cho Chiêm, cậu đã có nói rằng cái chết của vua Hà Kim có nhiều điểm khả nghi lắm mà!

- Đúng như thế đó, Trí! Đa số người ở Ca-sa quốc nói quyết là Rả Bây đã sai người ám sát đức vua Hà Kim.

- Như vậy thì đức vua Hà Kim, khi biết được âm mưu của tụi phiến loạn tất cũng đã thế thủ đề phòng mọi điều bất trắc để đảm bảo cho việc kế vị của con mình là Thái Tử Hà Lam chứ?

- Đúng vậy! Vua Hà Kim yêu quý người con trai duy nhất là Hà Lam không để đâu cho hết.

Trí nói tiếp:

- Vậy thì giả thuyết của cháu là thế này: đức vua Hà Kim hiền đức mà lại khôn ngoan, đã gởi sang Anh quốc một lá thư yêu cầu chuyên viên giỏi sang sửa đổi một vài chỗ trong chiếc xe quý. Trong thâm tâm nhà Vua chỉ muốn tuồn đi chiếc ly báu, chìa khóa của ngai vàng. Để tránh tai mắt dòm ngó của do thám phe Rả Bây, vua Hà Kim còn đợi gì mà chẳng giấu kín nó vào phía trong chiếc Rolls Royce. Để rồi sau này sẽ ngầm báo cho con trai chỗ giấu đó đặng Hà Lam nắm được trong tay tín vật vô song mà bước lên ngai vàng kế vị vua cha.

Cậu Hải Minh:

- Chỉ tiếc rằng đức vua Hà Kim đã băng hà trước khi báo được cái tin quan trọng đó cho con biết. Thiệt may mà Trí lại… Này Trí! Cậu tin là cháu nói đúng. Cái ly báu đó nhất định phải ở nội trong chiếc xe Rolls Royce của bà Lan Anh.

- Bởi thế nên chúng cháu mới cần phải tính đến chuyện đem chiếc xe đó ra một chỗ nào đó để lục soát kỹ càng. Hôm trước cứ lúng túng mãi vì không ai có bằng lái xe. Bây giờ thì dễ rồi vì đã có cậu. Hai tên Kha Bỉ và Du Đả cứ lẩn quẩn gần đây thành thử chúng cháu phải quyết định đem chiếc xe đi tới chỗ khuất mới được. Cậu giúp chúng cháu một tay nghe cậu Hải Minh!

Cậu tôi vui vẻ:

- Sẵn sàng! Cậu sẵn sàng tiếp ứng hai anh em một tay. Thôi giờ đây, hãy lo về nhà cái đã.

Chờ cậu trả tiền xong, hai đứa tôi theo ra xe. Trí xin cậu lái xe lên thăm thú hầm đá Núi Voi một chút rồi về.

Ba cậu cháu từ hầm đá ra về. Xe vừa ra khỏi con đường đất đỏ, sắp sửa lên đường cái, bỗng bóng một chiếc xe hơi vĩ đại sáng loáng lao nhanh như tên bắn, vút qua. Chiếc xe ào qua mặt ba cậu cháu rất nhanh nhưng cũng đã đủ khiến tôi há hốc miệng kêu không ra tiếng:

- Trời! Con ma ánh bạc!

Quả thật! Đúng là chiếc xe Rolls Royce của bà Huỳnh Lan Anh!

_______________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG XV, XVI

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2014

CHƯƠNG XI, XII_NGỌC BÁU NGAI VÀNG


CHƯƠNG XI

CT3 LÀM TRÒ XIẾC


Tôi đứng lặng há miệng chẳng ra tiếng, bực tức không thể tả được. “Sếp” chuyên môn giao phó cho tôi những công tác thật nguy hiểm. còn mình thì cứ giành lấy những việc nhẹ nhàng, ngon như ăn phở. Chẳng hiểu có việc gì cần mà phải lên Biên Hoà, cái thành phố xanh ngát bóng dừa, không khí nhẹ vương toàn mùi dạ lý hương thần tiên ấy? Hay Trí chỉ tạo sự ra đi để loè tôi đặng lên trên đó hóng mát, xả hơi?

Đột nhiên tôi lại cảm thấy ngay rằng “sếp” có một vài điều gì đó giấu nhẹm không cho tôi biết. Hừ! Bắt người ta xung phong làm những việc nguy hiểm rồi có cái gì hay ho thú vị thì gạt người ta ra rìa. Ức quá…! Nhưng tôi tự an ủi rằng “sếp” vẫn thường có thái độ như vậy mỗi khi anh gần đi tới đích, sắp sửa tìm ra đáp số của một bài toán khó… Tôi rời bỏ đường Lục tỉnh rẽ vào con lộ đất đỏ vùng Phú Định. À, lại con đường bị tên ném đá phục kích hôm trước. Lần này thì đừng hòng! Cắm đầu chăm chú đạp xe lên dốc, đôi mắt tôi không ngớt liếc loang loáng hai bên đường, soi mói từng bụi cây, đám cỏ, đề phòng một cuộc đột kích bất ngờ. Còn chừng một trăm thước nữa tới cổng biệt thự, tôi xuống xe dắt vào lề đường, giấu kín trong một đám cỏ cao rậm, rồi cứ men theo bờ cỏ, nhẹ chân bước, rón rén tiến lại gần tòa nhà cổ kính. Nhìn thấy người khác mà người khác không nhìn thấy mình là một chiến thuật căn bản, nhân viên hãng CT2 phải thuộc nằm lòng…

Ẩn mình sau một gốc cây sung cổ thụ, tôi liếc nhanh mắt vào bên trong khuôn viên biệt thự Lan Anh…

Nhân vật trông thấy khiến tôi suýt buộc miệng la lên một tiếng lớn: Du Đả!

Đích thị tên bị xe đụng bữa nọ! Trông hắn rõ ràng là chẳng bị thương hay đau đớn một chút nào. Không biết tên này lách vào khuôn viên bằng cách nào trong khi cửa lớn vẫn đóng. Hắn từ phía sau nhà xe xuất hiện và nhẹ chân chạy vun vút lên cầu thang dẫn tới căn nhà nhỏ của tên tài xế mới. Cửa mở, hắn lọt vào, quài tay khép cánh cửa rất lẹ. Tôi lựa một chỗ thật êm, khuất vào hõm cây, bình tĩnh ngồi chờ. Tia mắt bắt dính vào khuôn cửa đóng của căn nhà tài xế…

Có tới mười phút sau, Du Đả xuất hiện, theo sau là Kha Bỉ. Hai tên lao vun vút xuống cầu thang, chạy nhanh vào nhà để xe, cửa đã mở sẵn từ bao giờ. Tôi trông thấy rõ ràng chiếc xe Rolls Royce bóng loáng và hai tên Ả Rập đứng sát bên nhau. Chúng đang mải miết bàn soạn gì đó thì phải. Cách xa quá, tôi chịu không nghe được một tiếng gì. Đột nhiên Du Đả gật mạnh đầu một cái rồi cả hai bước ra ngoài. Tụi họ tiến về phía sau ngôi nhà lớn rồi xăm xăm bước tới một khu nhà tròn, kiểu nhà ngồi hóng mát. Tôi và Trí đã thấy từ trước địa điểm này. Chờ cho hai người đi khuất, tôi lập tức rời hốc cây, chui qua rào kẽm gai lọt vào, nhẩy hai buớc như khi đá banh mang được quả bóng da đến trước cửa thành đối phương, sắp sửa sút một cú như súng trái phá. Tới chân cầu thang, tôi nhẩy bực còn nhanh gấp mấy lần tên Du Đả hồi nẫy, đưa tay xoay quả đấm cửa… Trời Phật phò hộ! May quá, cánh cửa không khoá. Tôi lọt vào trong nhà tên tài xế mới, loáng tia mắt quét trọn một vòng.

Trên mặt chiếc bàn con, một cái bàn chải tóc nằm tênh hênh. Bốn sợi tóc hung hung đỏ nằm trong kẽ răng bàn chải. Không đủ một lọn tóc như “sếp” đã chỉ thị. Nhưng… còn hơn không. Hai ngón tay tôi rút nhanh bốn sợi tóc quý hoá đó, lượm một miếng giấy con gói lại cẩn thận rồi nhét ngay vào túi quần sau.

Niềm hân hoan thật không bút nào tả xiết. Tôi cứ lo ngay ngáy là sứ mạng không thể nào thực hiện nổi. Thế mà…! “Mít-sông anh-pốp-síp” Ha! Ha!

Tôi quay mình tiến ra phía cửa. Đúng lúc đó có tiếng người nói chuyện: Du Đả và Kha Bỉ đang quay về. Gần lắm rồi, tôi không thể nào ra kịp mà không bị hai tên đó bắt gặp. Đưa đôi mắt ngơ ngác, tôi tìm chổ ẩn nấp. Trời ơi! Nguy quá! Nếu hai tên lại mò lên và vớ được tôi thì chết. Tim đập thình thịch, đột nhiên tôi thở được một hơi dài khi nghe tiếng chân hai tên Ả Rập tiến thẳng vào nhà để xe. Nhưng hy vọng mới loé lên đã tắt ngóm ngay. Tiếng nói chuyện của hai tên từ phía dưới đưa lên nghe vang vang khiến tôi biết chắc rằng tụi họ đứng ngay trước cửa nhà xe. Như thế, nếu nhô ra chạy xuống cầu thang thế nào cũng bị bắt gặp. Chúng nói chuyện gì với nhau toàn bằng tiếng Ả Rập nghe chỉ rõ những âm thanh “a rả, a rả, a rỉ”… rất quái dị. Nhưng qua những câu nói chí choé tôi bắt chợt được hai ba tiếng Việt Nam rõ ràng: “Núi ông Voi! Núi ông Voi!” Á, à! Núi ông Voi là một trái núi thấp ở quá Phú lâm, cách Phú Định chừng năm sáu cây số, chỗ đó là một hầm khai thác đá, lâu ngày không người trông coi, đã trở thành hoang phế. Đột nhiên tôi nghe tên Kha Bỉ la lên bằng tiếng Việt:

- Thôi được! Để tao đi lùng “nó” cho! Mày chỉ được cái bộ lười! Để tao lên, chờ đây nghe!

Chẳng hiểu Kha Bỉ dùng cái đại danh từ ngôi thứ ba số ít “nó” đây là có ý chỉ đồ vật, con vật hay con… người. Chỉ biết là cái chữ “nó” ấy đã khiến tim tôi như thót lại, tóc trên đầu như biết cựa quậy, dựng đứng cả lên, trong lòng chỉ còn le lói một tia hy vọng yếu ớt: chữ “nó” đây không phải là để ám chỉ tôi!

Bước chân nặng chịch của tên Kha Bỉ đã thình thịch đặt trên cầu thang. Nguy rồi! Tôi nằm soài ra sàn nhà, lăn nhanh vào gầm chiếc giường sắt có trải tấm “drap” trắng rộng phủ gần chấm đất.

Đột nhiên có tiếng người gọi to:

- Ê, ông bạn!

Buớc chân dừng lại. Tên Ả Rập mới leo tới nửa cầu thang. Tôi vui mừng hết sức khi nhận ra tiếng gọi của bác Phối, bác tài xế thân mến của tụi tôi.

- Bà chủ đang tìm anh đó, mau lên!

Tiếng Kha Bỉ nghe bực bội ra mặt:

- Vâng! Vâng! Tôi xuống đây!

Chờ cho tiếng bước chân xuống hết cầu thang, đi xa dần, tôi mới chạy lao xuống, không gây tiếng động, chạy vút ra đầu hồi để xe, nép mình vào góc tường có lùm cây dại mọc chìa ra che kín. Để tay lên ngực cố chờ cho tim bớt đập mạnh rồi tôi mới men lại phía cửa sổ nhòm vào trong nhà xe.

Kha Bỉ đã trở xuống từ lúc nào và tên Du Đả thì đang im lặng đứng chờ bạn bên chiếc xe. Lại một tràng “a rả, a rỉ, a rả” nổ như bắp rang. Tôi không hiểu được tiếng nào. Nhưng nghe âm thanh vội vã và điệu bộ giơ chân múa tay của Kha Bỉ, tôi biết được ngay là bà chủ sắp sửa cần đến xe. Và một ngón tay tên tài xế mới giơ ra trước mặt bạn cho tôi hay là chừng một tiếng đồng hồ nữa là phải sẵn sàng có xe cho bà đi.

Hai tên vột vã bước vào trong chiếc Rolls Royce. Kha Bỉ mở máy. Chiếc xe lộng lẫy lướt êm ra khỏi nhà để xe, nhẹ bon tiến về phía cổng lớn.

Tôi tung chân chạy vòng quanh “ga-ra” gặp ngay bác Phối đang ngơ ngác đưa mắt ngó theo đứa con cưng của mình đang đi với người khác.

Tôi la lên bảo bác:

- Mau lên! Bác Phối! Đuổi theo tụi nó gấp!

Không một giây trù trừ, bác Phối quơ nhanh cái xe đạp, tay lái như tay lái xe ba gác, của bà chủ, rồi bác lao xuống dốc nhanh hết sức khiến cả người lẫn xe loạng choạng như người say rượu.

Ra tới đường Lục Tỉnh hướng về Phú Lâm bác Phối thở hổn hển quay mặt ngó tôi:

- Chú phải cho anh biết là tụi mình đi đâu và để làm cái gì đây chứ?

- Để làm gì, chưa biết, nhưng đi thì… đi tới chỗ này.

Hai anh em lại cắm đầu đạp đều đều có tới hơn ba cây số nữa, rồi tôi quẹo về tay trái. Hai chiếc xe đạp lại nhảy chồm chồm trên con lộ đất chưa đầy ba thước chiều ngang, đầy ổ gà, bụi cát mịt mù. Bác Phối chăm chú nhìn mặt đường không còn dịp hỏi han gì nữa. Tôi nghĩ thầm: “Hai tên Ả-Rập bàn soạn với nhau. Trong câu chuyện, xen lẫn vào những tiếng “Núi ông Voi, núi ông Voi”, giờ đây lại lén lút vội vã lái chiếc xe Rolls Royce ra đi. Đi đâu về hướng đó? Nếu không là tới Núi Voi? Đi Mỹ Tho không thể là chuyện thực hiện được. Tôi vẫn nhớ rõ là bà Huỳnh Lan Anh ra lệnh một tiếng đồng hồ nữa là phải có xe cho bà đi. Hai tên Ca-sa-bỉ-ba lái chiếc Rolls Royce tới Núi Voi để làm gì? … Chỉ có cách theo đến tận nơi mới biết được.

Núi ông Voi kia rồi, còn cách chừng ba, bốn trăm thước nữa. Bác Phối và tôi xuống xe, dúi sâu vào đám cỏ cao rậm rồi quay ra cuốc bộ, đi lần tới. Mỏ đá rộng lắm, trông như một cái lũng lớn ăn sâu mãi vào sườn núi Voi. Hai bên thành đứng thẳng như hai bức tường vĩ đại. Cạnh thứ ba sấn vào sườn núi; phía trên một ghềnh đá lớn nhô ra như một cái mái hiên thiên tạo. Đến gần cửa hầm đá, bác Phối và tôi dè dặt bước chân tiến tới. Tôi giật thót mình khi thấy chiếc Rolls Royce ngoan ngoãn nằm im dưới mái hiên đá. Đi ngoài xa hay ở trên sườn núi, nếu vô tình, không thể trông thấy chiếc xe hơi đẹp nhất nước Việt Nam ấy được. Tôi giơ tay ra hiệu cho bác Phối, hai anh em men dần theo sườn núi thoai thoải. Năm phút sau, cả hai đã đứng ngay trên nóc “mái hiên”. Tôi ghé tai bảo bác Phối ngồi nép xuống, riêng tôi, nằm soài ra rồi bò tiến dần ra mép ghềnh đá.

Bác Phối thì thào:

- Thấy tụi nó làm gì dưới ấy không, chú Chiêm?

Tôi rướn dài cổ nhòm xuống:

- Bác Phối! Tôi chỉ trông thấy cái đỉnh đầu của tên Kha Bỉ thôi. A, hình như nó đang mở thùng xe.

Tôi thấy tên tài xế mới đi lên phía mũi xe, tay hắn cầm một cái hộp gì xinh xinh màu đen.

Tôi ghé vào tai bác Phối:

- Cái hộp ở tay Kha Bỉ to bằng gói thuốc lá, mặt có chữ số, có kim chỉ như mặt đồng hồ đó, bác Phối.

Hai tên Ả Rập mở cửa bước vào trong xe. Không nghe tiếng chúng nói gì nữa. Nhìn xuống, chỉ còn thấy cái nóc mui xe. Không biết tụi họ lúi húi trong đó làm gì, tìm cái gì và tìm ở chỗ nào trong cái xe đẹp đó. Dồn sức vào hai cánh tay, tôi trườn người về phía sau, hạ thấp giọng:

- Tôi định thế này! Bác Phối! Nhưng cần bác giúp một tay thì mới được!

- Được, anh sẵn sàng, chú cứ yên trí đi!

Giờ đây ngồi hồi tưởng lại, tôi vẫn giật mình thon thót tự nhủ: “Hôm ấy thật tình mình liều quá sức là liều!”. Nhưng bữa đó, tôi nghiến răng cương quyết thực hành ý định:

- Bác Phối! Tôi muốn dòm vào trong xe xem hai tên Ả Rập đang làm gì!

Bác Phối ngơ ngác:

- Nhưng làm thế nào chứ, chú em?

Tôi đưa tia nhìn ước lượng chiều dài hai cánh tay bác tài xế. À! Hai cánh tay bác cộng với chiều cao thân mình tôi, có lẽ… được đấy!

Và tôi giải thích, giọng nói nhẹ như hơi gió nhưng thật rõ ràng lọt vào tai bác Phối, những nét chính trong việc trinh sát địch.

Thế là mấy phút sau, cái thân xác chưa đầy 35 kí của tôi đã, đầu xuống đất, treo toòng teng. Hai cổ chân được hai bàn tay mạnh của bác Phối nắm giữ thật chắc, trong khi hai bàn tay tôi chống nhẹ lên nóc mui chiếc xe Rolls Royce. Trong tình trạng “trồng cây chuối” nghẹt thở như thế tôi vẫn đủ bình tĩnh liên tưởng đến một mục trình diễn hát xiệc rất khôi hài do CT3 đóng vai chính.

Hai cánh tay tôi nhẹ cong lại. Cử động đó báo cho bác tài xế biết là phải thả “cần trục” thấp xuống nữa. Quả nhiên, đầu được thòng xuống có tới năm phân nữa, tôi nhẹ nhàng di chuyển hai bàn tay, nhích dần tới ô kính phía hậu xe. Tầm mắt tôi đụng đường viền phía trên cửa kính, cần cổ cố kéo dài thêm. Bác Phối biết ý, thả thấp tay thên được chừng ba, bốn phân phụ trội. Bất giác tôi thầm khấn cho bác tài ở một vị thế đừng chới với lắm, nếu không, bác lộn cổ xuống theo tôi thì nguy cho cả hai không biết chừng nào.

Tôi trông thấy rõ ràng hai tên Ả Rập ở trong xe. Thiệt may, chúng đều xây lưng lại phía tôi. Tên Kha Bỉ cầm nơi tay một cái hộp đen, đang từ từ đưa đầu hộp rà rà theo lưng hàng ghế ngồi đàng trước, tên Du Đả thì quỳ hẳn xuống ghé sát tai vào chiếc hộp nghe ngóng.

Quái! Chúng đang làm cái gì vậy? Và cái hộp đen xinh xinh đó là hộp gì chứ? Chịu, không hiểu được.

Tôi đang giương đôi mắt ngạc nhiên nhìn không nháy qua ô kính thì đột nhiên khuôn mặt “bánh trung thu” của Du Đả chợt ngẩng lên, bắt gặp tia mắt tôi. Trong hai người, hắn và tôi, chẳng hiểu ai là người bị hoảng hồn hơn ai. Tôi linh cảm có lẽ là Du Đả, vì, đang lúi húi làm một việc gì bí mật, đột nhiên bắt gặp một đôi mắt nhìn mình không chớp … mà nhất là đôi mắt ấy lại lộn ngược nữa thì thật là thế gian này chắc chỉ có Du Đả là người duy nhất bị một vố “sợ” như thế.

Quả nhiên, y rú lên:

- A hả! A hả! A hả! A…

Đồng thời tôi cũng gọi bác Phối thất thanh:

- Kéo tôi lên! Kéo tôi lên! Mau! Bác Phối!

Cơ khổ! Bác tài quýnh lên, kéo chẳng thấy đâu, lại thấy bác rời hai tay ra khiến cả thân hình tôi lăn chiêng xuống như một khúc cây bị đốn ngã, lọt vào khe giữa hông xe và vách tuờng đá. Chưa kịp lấy lại hơi thở, chợt nghe tiếng cửa xe mở “xoạch”, tôi đã vội nhổm người ngồi lên nắp thùng xe phía sau, chỗ vịn hai tay lúc trước. Loáng nhanh mắt chợt thấy chùm chìa khoá “công tắc” xe cắm nơi ổ nắp thùng, tôi quơ vội cho vào túi quần.

Hai tên Ả Rập đang lừ lừ tiến lại mỗi tên một bên xe. Hết lối chạy. Bất giác ngẩng đầu: bác Phối đang cúi nhòm xuống. Trên khuôn mặt tái xanh của bác, tôi chỉ kịp thấy hai con mắt trợn tròn… to như hai quả bóng ping pong.

Hai tên Ca-sa-bỉ-ba cùng hộc lên một tiếng như beo gầm. Chúng lao người tới chụp nhanh như chớp xẹt. Phản ứng tự nhiên, thay vì nhẩy xuống đất thì chắc chắn sẽ dính vào hai gọng kìm, tôi trườn người ngược lên thùng xe rồi tụt nhanh xuống một bên hông. Hai tên Ả Rập lỡ trớn, lao bổ vào nhau, ngã bổ chửng, thét lên như tràng súng liên thanh: a rả! a rả! a rả! rả… rả... Lợi dụng mấy giây tích tắc quý báu đó, trong lúc hai tên chân tay còn vướng khoặc vào nhau, tôi lao đầu chạy như bay ra phía cửa hầm đá. Phía sau đã nghe tiếng chân đuổi theo thình thịch. Tôi nghiến răng hết sức tăng tốc độ nhưng khoảng cách vẫn thu ngắn thấy rõ.

Trời phật phò hộ tôi! Tên Kha Bỉ bỗng vấp chân vào một cục đá ngầm ở mặt đất, ngã sóng soài, Du Đả chạy sát nút, mất đà ngã chồm lên đồng bọn. Lại một hồi “a rả rả, a rả ra” vang lên như sấm nổ. Tôi cũng không còn đủ can đảm dừng lại để quan sát về vụ tai nạn lưu thông “thiệt hại vật chất” này xem ra sao nữa. Và, nếu nhớ không lầm, có lẽ từ thuở bé đến giờ, chưa lần nào tôi nhẩy phóc lên xe đạp lao vút đi nhanh như lần đó. Được một quãng kha khá, quay đầu lại, đã thấy bác Phối gầm đầu, cúi rạp người trên chiếc xe “ghi đông” “xe ba gác”, hai chân đạp như tay cua-rơ về nhất đang lao tới đích. Tâm trí bình tĩnh hẳn lại, tôi nhớ ra chùm chìa khoá xe Rolls Royce hiện còn nằm ngoan ngoãn trong túi quần. Thú quá, tôi cười bật lên ha hả. Vừa sắp tới, bác Phối thấy tôi cười “kỳ” như vậy, trợn đôi mắt ngạc nhiên. Thở ồ ồ như ống bể lò rèn, bác vẫn còn đủ hơi hỏi tôi:

- Quái thật! Tình thế gay cấn đến nước này, anh không hiểu sao chú em lại còn cười được chứ!

Tôi liền giơ ra trước mắt bác chùm chìa khoá:

- Cái này này bác Phối! Hai thằng “a rả” đó hết đường chạy chiếc Rolls Royce được nữa. Thắng lợi như thế không đáng cười chút sao?

Bác tài xế chợt cau cặp chân mày:

- Không được rồi em ơi… Phải đưa trả lại cho tụi nó! Phải đưa trả lại cho tụi nó ngay đi.

Tôi hét lên:

- Ý! Quay lại đem chìa khoá trả cho chúng nó?

Đầu bác Phối gật gù, giọng nói nghiêm trọng:

- Đúng vậy đó, chú Chiêm! Bà chủ cần đi! Ngót một giờ nữa là phải có xe cho bà.



CHƯƠNG XII

CON MA ÁNH BẠC


Trí cất tiếng hỏi:

- Thế rồi Chiêm nghe lời bác Phối cầm xâu chìa khóa quay lại trả cho tụi kia?

- Ý! Tôi ấy hả? Còn lâu! Có các vàng tôi cũng chẳng dám quay lại hầm đá nữa!

- Vậy thì bác Phối…

- Đúng vậy! Bác Phối đã trở lại đưa trả cho tụi “a rả” xâu chìa khoá xe. Vì, cứ cái gì dính dáng đến bà chủ là y như bác Phối sẽ chu đáo cẩn thận lắm.

Một lúc sau, Trí cất tiếng hỏi:

- Nhưng mình hy vọng rằng vụ “giồng cây chuối” nghẹt thở này vẫn không khiến cho Chiêm quên được công tác mình đã giao phó.

Tôi giật thót mình, nghĩ thầm thật nhanh:

- Thôi nguy rồi! Chỉ sợ trong lúc cùng bác Phối làm trò hát xiệc để rình mò hai tay Ả Rập, lộn dốc ngược túi, lỡ cái gói giấy đã tuột ra rơi khỏi túi quần.

Đưa nhanh tay sờ, tiếng giấy sột soạt ở túi quần sau khiến tôi vững bụng. Rút gói, mở ra: bốn sợi tóc hung của Kha Bỉ vẫn nằm ngoan trong đó.

Trí cầm gọn mấy sợi tóc đưa lên gần mắt:

- Tuyệt quá CT3! Tuyệt quá! Thành thực ngợi khen CT3, nghe!

Tôi khoái quá:

- Cám ơn “sếp”! – Tôi vui sướng thật tình, vì lẽ xưa nay Trí vốn rất hà tiện lời khen như người ta hà tiện tiêu tiền mới vậy. Và tôi vẫn thắc mắc chẳng hiểu mấy sợi tóc đó thì ăn nhậu gì đến cái vụ “A rập, a rỉ, a rả” này.

Trí giải thích:

- Chiêm cứ nhớ rằng hiện giờ chúng ta có hai điều bí mật cần phải khám phá cho ra. Thứ nhất: Vụ tai nạn đụng xe giả tạo đã khiến bác Phối bị treo bằng lái xe. Thứ nhì: báu vật mà tụi Kha Bỉ và Du Đả lục lọi bới tìm trong cái xe hơi đẹp Rolls Royce của bà Huỳnh Lan Anh.

- Theo ý anh thì tụi nó tìm kiếm cái gì trong đó?

- Tôi đã đoán ra được lờ mờ. Để còn phải thử lại bài tính cho thật chắc đã. Dù sao thì tôi cũng đã tin rằng giả thuyết của tôi thế nào cũng đúng. Vì thế mình đã phải lặn lội lên tận Biên Hoà…để tìm tài liệu… chớ không phải lên để hóng mát, xả hơi đâu nghe, Chiêm!

Rồi anh cau cau vầng trán rộng:

- Tuy nhiên có một điểm khiến tôi hơi băn khoăn một chút. Khi Hoàng Tử Hà Lam kể cho tụi mình nghe về lễ đăng quang đó, ông đã lờ đi không nói đến một đoạn quan trọng nhất trong cuộc lễ. Có thể là ông quên chăng? Nhưng theo tôi nghĩ thì ông không nói đến cái mục quan trọng đó vì chính ông, ông cũng không biết nốt.

- Vậy ra, lên Biên Hoà, anh đã tìm ra được nhiều điều quan trọng lắm?

- Đúng vậy đó Chiêm! Tuyệt lắm! Thư viện tại Biên Hoà có lưu trữ một số báo chí ngoại quốc lâu đời có tới gần một thế kỷ, trong số có một xấp báo Luân Đôn thời sự. Tôi đã nhờ ông Tổng Thư Ký Thư Viện giảng cho mấy mục nói về Ca-sa-bỉ-ba quốc thật hay, thật thú vị và quan trọng lắm. Và bây giờ mình muốn hỏi bác Phối hoặc Hoàng Tử Hà Lam về vụ chiếc xe hơi Rolls Royce này. Chiều nay tụi mình tới tìm bác Phối nghe Chiêm!

Tôi khoái quá:

- Ừ, đi chứ! Quả tình tôi cũng nóng lòng muốn biết xem bác Phối khi đem trả lại chìa khoá có bị tui kia làm rắc rối gì không.

Ngay lúc đó, bỗng có tiếng ông Bích Tâm nói vang vang qua ống nội đàm, phương tiện thông tin tiện lợi này cũng lại do “sếp” tôi hì hục làm gần một tuần mới xong, hiện đặt ngay trên bàn anh, trong phòng thí nghiệm.

Giáo sư Bích Tâm cho biết hiện thời Hoàng Tử Hà Lam đang ở văn phòng ông. Ông sắp sửa đưa Hà Lam trở lại biệt thự Huỳnh Lan Anh và hỏi chúng tôi có muốn đi cùng cho vui không. Hai anh em vui mừng không để ông phải hỏi tới lần thứ hai đã vội xin được cùng đi ngay.

Ngồi trong xe, tôi không có dịp nào để hỏi Trí nữa. Nhiều điều nóng lòng muốn biết cứ nhẩy loạn xạ trong đầu óc mà không thể mở miệng nói ra vì có sự hiện diện của giáo sư Bích Tâm, ba Trí, và Thái Tử Hà Lam. Liếc nhìn Trí, tôi nhận thấy anh cũng nóng muốn cho tôi biết điều quan trọng đã khám phá ra được ở Biên Hoà. Trong đầu, tôi thầm đoán: chắc chỉ là cái báu vật bí mật mà Kha Bỉ và Du Đả đang sục sạo đi tìm.

Và tôi cho rằng cái báu vật đó hình dáng giống cái bình cắm bông! À! Hay là chiếc ly báu bằng bạch kim đựng thứ nước Đồng Sinh cần dùng trong ngày lễ đăng quang của vị vua Ca-sa-bỉ-ba quốc? Vô lý! Chiếc ly báu đó, đồ quốc bảo, sao lại có thể lọt ra được và nếu lọt ra được thì lọt bằng cách nào chứ?... Nhìn vẻ mặt Trí, tôi có cảm giác là anh đã biết được điều bí mật đó rồi.

Xe vừa rẽ vào sân trong khuôn viên biệt thự, Trí và tôi đã trông thấy bác Phối, một tay đặt ngang ngực, một bàn tay chống cằm, lưng dựa vào thành chiếc xe Rolls Royce bóng loáng, đưa mắt nhìn đăm đăm một điểm nào đó trong khoảng không trước mặt. Nét mặt bác tài hiền lành còn hằn in rõ rệt vẻ kinh hoàng vì chuyến mạo hiểm hôm qua tại hầm đá nhưng không thấy bác bị thương tích hay rách quần lấm áo gì, tôi cảm thấy yên trí vô cùng.

Giáo sư Bích Tâm, vội vã đi vào trong nhà nói chuyện với bà Lan Anh. Thái Tử Hà Lam, tuổi cỡ tụi tôi, hoặc có hơn, chắc cũng chỉ hơn hai hay ba là cùng, còn ham vui, đứng lại cùng Trí và tôi, bên cạnh bác Phối. Tiếng Trí:

- Này bác Phối à! Bác có biết gì về chuyện cái xe Rolls Royce này không, hả bác Phối?

- Biết chứ chú Trí! Tôi không biết thì còn ai biết nữa! Đây là kiểu cuối cùng của loạt… “con ma ánh bạc” đấy!

Trí trợn tròn mắt:

- Cái gì? Con ma ánh bạc?

Bác tài giải thích:

- Đúng! Đó là tên các kỹ sư chế tạo đã đặt ra cho nó đấy. Loại cuối cùng hiệu xe Rolls Royce này được chế tạo từ năm 1952 kia. Riêng chiếc của bà chủ đây thì đã được chế tạo đặc biệt theo ý muốn riêng của Đức Vua Hà Kim nhân đức, phụ vương Thái Tử Hà Lam đây, hồi chưa hạ sanh Thái Tử kia mà. Ngài có nhớ được chút gì về chiếc xe này không, thưa Thái Tử?

- Cũng không nhớ được nhiều lắm đâu. À, tôi chỉ biết rằng ngày xưa, hồi còn phụ vương, chiếc xe Rolls này còn có một tấm bửng phía trên thùng sau. Tấm bửng đó đành cho toán sĩ quan hộ vệ vua cha. Họ phải ngồi riêng chớ không được ngồi trong xe của đức Vua. Nghi lễ triều đình Ca-sa quốc đã định rõ như vậy…

Sau một tiếng thở dài, Thái Tử Hà Lam nói tiếp:

- Giờ đây, chắc đã thay đổi hết cả rồi!

Trí óc giàu tưởng tượng của tôi máy động và tôi hình dung ngay được một chiếc xe Rolls Royce màu cà phê sữa nhạt, viền xe, vành bánh, đường cong bằng bạc quý sáng lấp lánh, chạy như bay qua bãi sa mạc rộng mênh mông. Và bốn dũng sĩ hộ giá vua, ngồi nghiêm túc ở bửng phía sau, bốn bộ “djellabah” áo choàng dài rộng thùng thình đặc biệt của dân Ả Rập, tung bay tơi bời theo gió lộng. Ối chà! Con ma ánh bạc, con ma ánh bạc… Tia mắt tự động quay nhìn chiếc Rolls Royce, lòng riêng tôi lại tăng thêm phần kính nể cái xe hơi lịch sử này.

Trí lại hỏi:

- Thế “con ma ánh bạc” này về tay bà Huỳnh Lan Anh đã lâu chưa bác Phối?

- Không! Không lâu lắm đâu, mới khoảng năm sáu tháng thôi hà! Ngay sau khi đức vua Hà Kim băng hà, các vị trung thần tuân hành lời di ngôn của ngài đã trao chiếc xe quý cho bà, kèm theo bức thư dài do đích tay vị minh quân thủ bút. Ở trong đó có một câu như sau:”Đây là món quà cuối cùng của một người bạn để tỏ lòng biết ơn một người bạn đã hết lòng làm cho nước mình được giàu dân mình được thịnh”.

Thái tử Hà Lam:

- Ngày bà Huỳnh Lan Anh lãnh chiếc xe này tôi còn nhớ rõ lắm. Bà cứ thấy cái xe thì lại nhớ tiếc đến vua cha. Rồi bà cho đem qua Anh quốc thăm tôi, đón tôi đi chơi khắp nơi tại kinh thành Luân Đôn. Bà thuờng nói: “Cứ nhìn thấy tôi là đỡ thương, đỡ nhớ phụ vuơng”. Và bà yêu quý nó không muốn rời xa một bước nào. Khi trở lại Việt Nam, bà cũng đem theo về, mặc dầu tiền cước phí tốn hao ghê gớm.

Bác tài Phối thắc mắc hỏi Trí:

- Nhưng tại sao chú Trí lại cứ hỏi han kỹ quá về chiếc xe Rolls Royce này như vậy chứ?

Trí, tia mắt đăm chiêu, cất tiếng ai nấy đều nghe rõ mà như thể tự nói với mình:

- Nhất định trong chiếc xe quý này có giấu một báu vật gì quan trọng lắm, một báu vật định đoạt cả cuộc đời của Thái Tử Hà Lam.

Chẳng ai bảo ai, ba người chúng tôi đều “a” lên một tiếng, chưa kịp nói gì thì Trí đã tiếp:

- Mà theo tôi thì báu vật đó có hình dáng như một chiếc bình xinh xinh để cắm bông. Và tôi dám nói rằng báu vật đó chỉ giấu kỹ nội trong chiếc xe Rolls Royce này mà thôi.

Tôi giật mình chợt nhớ ra hành động kỳ lạ của hai tên Ả Rập tại hầm đá Núi Voi nữa nọ:

- À, thế thì Kha Bỉ và Du Đả chắc cũng nghĩ như anh. Hôm ở hầm đá trong núi, chúng dùng cả một cái hộp gì đen đen để rà tìm khắp mọi góc kẹt trong xe nữa đó.

Trí chợt khẽ kêu:

- Cái gì, Chiêm? Chiêm vừa nói hộp gì?

- Một cái hộp đen to hơn gói thuốc là một chút. Tôi chẳng nói với anh rồi là gì!

Trí cau cặp chân mày cười nhếch môi:

- Nói hồi nào? Nếu Chiêm đã nói cho tôi biết thì giờ đây tôi còn hỏi làm quái gì nữa chứ!

Tôi cười xoà đánh trống lấp:

- Nếu vậy thì nghe đây này: hai tay Kha Bỉ, Du Đả đã dùng một cái hộp màu đen, nhỏ hơn hộp thuốc lá của ba Trí một chút, trên mặt có ghi chữ số y hệt mặt đồng hồ vậy. Và chúng cứ rà rà đầu hộp dọc theo các mép cạnh ghế ngồi trong xe như thể rà… mìn vậy.

Đôi mắt Trí long lanh sáng quắc:

- A! Đúng máy rà tìm chất uranium, kiểu “Geiger” rồi.

- Tôi chợt nghĩ: Tìm chất uranium, một loại kim khí rất quý, rất hiếm... giấu trong xe hơi. Vô lý! Và liếc nhanh mắt ngó anh, tôi tự nhủ:

- Phen này chắc “sếp” tôi rớt đài thua cuộc mất thôi!

Giữa giây phút bất ngờ, Trí bỗng hét to:

- Này bác Phối! Này Hà Lam! Chiêm! Hãy nghe tôi nói: chúng ta phải đem cái xe Rolls Royce này ra khỏi đây, và ngay bây giờ, mau lên.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG XIII, XIV

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

CHƯƠNG IX, X_NGỌC BÁU NGAI VÀNG


CHƯƠNG IX

MỘT LỌN TÓC


Xạch một tiếng. Bác Phối hãm máy ngưng lại. Không khí trong phòng khách im lặng nặng nề. Bác thở một hơi dài nghe thật não ruột. Kẻ nào xoá bản nhạc thâu thanh này đã xoá luôn niềm hy vong gỡ tội của bác.

Bác lẩm bẩm như người ngủ mê:

- Lạ quá! Thế này thì lạ thật! Trời ơi!

Tiếng “sếp” tôi:

- Đúng là có kẻ nào đó biết cuộn băng thâu nhạc này có thể gỡ được tội cho bác nên đã “xoá” hết đi. Bác thử nhớ lại coi từ lúc bác thâu cho đến bây giờ đã có ai được nghe chưa?

- À, có chứ! Chính là bà chủ đã sai bưng khay đồ ăn lót dạ vào tận phòng khách này để vừa ăn vừa nghe mà.

- Ngoài bà chủ ra, còn có ai được nghe nữa không?

- Bà Hiển, người vẫn làm giường cho bà chủ đó. A, còn, còn, hình như cả tên tài xế mới cũng có vào phòng khách để nhận lệnh bà chủ.

- Tên tài xế mới…? – Trí và tôi đồng thanh nói hơi to.

Bác Phối:

- Phải, tên tài xế mới!

- Hắn, người ngoại quốc phải không? Trông như chà-và ấy?

Bác Phối cũng thất thanh:

- Đâu có! Hắn cũng người Việt!... Hay là hắn khai thế, tôi chẳng rõ lắm. Có điều hắn nói tiếng Việt cũng như mình vậy. Tuy nhiên nghe thật kỹ thì cũng có một vài tiếng lơ lớ. Như: “tôi” hắn nói là “chôi”, “ăn” lại thành ra “ắn” chẳng hạn.

Trí giương mắt, đôi tai vểnh lên như tai chó săn. Anh đưa tay ra hiệu cho bác Phối nói tiếp:

- Hắn ta mới đến làm từ tối hôm qua sau khi bà chủ lãnh tôi từ trại giam về một chút. Hắn xin phụ trách chức tài xế phụ. Giấy tờ đàng hoàng lắm nên nhận ngay. Cũng may cho bà chủ là tôi bị thu bằng lái xe thì hắn lại đến đúng lúc…

Trí giọng chua như dấm:

- Hừ! Đến đúng lúc! Theo tôi thì đã có sự tính toán kỹ càng từ trước rồi. Hình dáng tên tài xế mới này ra sao, bác Phối?

- Gầy cao, dáng đi lom khom…

Tôi giật thót mình: “gầy cao, dáng đi lom khom”. Đúng là những chữ cậu Hải Minh đã dùng viết trong lá thư khi tả hình dáng tên Kha Bỉ. À, vậy thì giả thuyết tôi tự nêu ra riêng cho mình về vụ tai nạn xe hơi này có mòi khớp quá.

Tiếng bác Phối tiếp tục:

- Hắn có khuôn mặt kiểu lưỡi cày và…

Và bác tài chưa kịp nói hết thì đã thấy bà Huỳnh Lan Anh ào ào bước vào phòng khách. Chưa kịp thấy người đã nghe tiếng nói như bắp rang:

- Ấy, ấy cứ ngồi, cứ ngồi đi… Tội nghiệp chú Phối quá. Thôi đừng buồn nữa nghe, Phối! Cười đi chút nào… Hà hà! Có thế chứ! Được rồi! Á, à các chú nhỏ Chiêm, Trí đó hả? Này, kẹo ngon đây, ăn đi các em. Kẹo Nhật đấy, ngon lắm, ăn đi!

Tôi đã biết bà Huỳnh Lan Anh lắm. Một khi bà đã mở máy nói, thì thôi, không còn gì có thể ngăn lại được nữa. Đôi chân bà bước lạch bạch như vịt bầu, áo dài lá hoa sặc sỡ, cứ luôn tay hất hất cái khăn choàng ở cổ. Cái khăn choàng màu hồng, dài lê thê, trời nóng thế mà cứ thấy bà hễ mặc áo dài đi đâu là thế nào cũng phải đeo vào, khăn gì mà lại làm toàn bằng lông chim mầu hồng. Kỳ thật! Chị An tôi kể chuyện rằng cái khăn ấy có một cái tên rất lạ: Mãng xà! Nhìn kỹ, quả nhiên, người ta nghĩ ngay đến một con rắn lớn. Mà lại là con rắn lớn màu hồng. Cái mới kỳ!

Chẳng hiểu bà Anh để gì trong chiếc khăn quàng quái dị đó mà cứ thấy bà ta móc mãi, móc mãi mới lôi ra được một cái túi rất xinh đính hạt trai muôn màu, miệng túi thắt bằng hai cái giải lụa xanh thật đẹp. Một chiếc lại mắc rối vào đám lông dầy đặc của “mãng xà” khiến bà mở hoài không ra miệng túi. Mãi sau mới lôi ra ở trong cái túi quý đó ra một… gói kẹo, đưa cho chúng tôi. Xong bà buông người ngồi phịch xuống cái ghế bành, thở ra một cái phào. Ý chừng việc móc gói kẹo từ chiếc túi nhỏ ra làm cho bà bị… mệt nhọc quá thì phải.

Máy nói lại bắt đầu phát thanh:

- Úi chà, chà! … Mệt! Ôi, ngày hôm nay sao lắm chuyện thế này, không biết. Thật chẳng còn biết đàng trời nào mà mò nữa: nào chú Phối bị bắt giam rồi lại được tạm tha. Rồi lại chuyện ông Hoàng Tử chiều nay sang tới nơi này. Ôi chà! Ông Hoàng ấu thơ… tội nghiệp. Ngai vàng của ông…! Trời, đúng là một thảm kịch! Giá mà anh Phan còn sống! Phải, nếu còn sống, chắc chắn anh sẽ giải quyết được mấy vụ này dễ như chơi.

Bà chủ đột nhiên ngưng nói, đưa tay lên bóp trán:

- À, thế nào? Chú Phối? Hoa đâu? Hoa thược dược đó, đâu? Đi hái cho tôi đi, lẹ lên. Rồi còn đem cắm trong phòng khách rồi lại trong xe. Chiều này đi đón ông Hoàng đây này.

- Vâng, để tôi đi hái ngay đây, bà chủ!

- Và chú nhớ bảo anh… gì đó nhỉ? Tên anh ta là gì hả chú Phối? Anh tài xế mới đó! Bảo anh ấy sửa soạn xe để ra phi trường đón ông Hoàng Tử nghe – A kìa, tôi đã mua thêm một bó hoa hồng kia. Để tôi phải đem đi cắt xén lại mấy cái lá mới được…

Rồi lại ào ào, bà Lan Anh theo chân bác Phối, bước ra ngoài.

Trong câu chuyện nói nhanh và to của bà chủ, tôi nghe nổi bật nhất mấy tiếng: “ông Hoàng tử” – chắc là Hoàng tử Hà Lam chiều nay tới nơi.

Kể từ khi nhận được lá thơ cậu hải Minh, tôi cứ luôn luôn tự hỏi: tại sao một ông hoàng tử tại một vương quốc xa xôi thế lại cứ phải qua Saigon theo học mới được. Sao không học ở Anh quốc, hoặc ở Pháp, Mỹ, Úc có phải tiện lợi hơn không… khỏi phải học tiếng Việt Nam vốn là một ngôn ngữ nói rất khó vì những dấu huyền, sắc, hỏi, nặng, ngã.

Đem thắc mắc nhờ giải đáp, ba tôi cho biết như sau: kỹ sư Phan, chồng bà Lan Anh, hồi còn sống, sinh quán ở Saigon, vùng Phú Định. Khi đậu xong bằng kỹ sư Địa chất Học, ông đã đi làm việc tại nhiều nơi trên thế giới. Chính ông đã khám phá được nhiều mỏ dầu hoả và mỏ kim khí quý giá vô cùng tại Ca-sa quốc. Ông đã giúp quốc vương Ca-sa-bỉ-ba làm cho dân giàu nước thịnh. Và cũng chính ông dạy cậu bé Hoàng tử Hà Lam nói được cái ngôn ngữ mẹ đẻ của ông, véo von trầm bổng như chim hót là tiếng Việt. Và tuy đối với quốc vương Ca-sa-bỉ-ba ơn sâu nghĩa nặng như thế, hai ông bà vẫn tưởng nhớ nơi cắt rốn chôn rau. Rồi sau một thời gian làm ăn, thu hoạch được một số vốn rất lớn, ông Phan trở về quê cũ tại miền Phú Định, ngoại ô Saigon, xây cất một ngôi biệt thự vĩ đại cho bà vợ yêu, đồng thời cùng vào Hội Bảo Trợ học đường ở đây một số tiền đủ kiến thiết một cơ sở có thể thâu nhận tới ba ngàn học sinh Trung học.

Từ khi kỹ sư Phan mất đi, bà Huỳnh Lan Anh vẫn ở tại ngôi biệt thự này, sống với kỷ niệm của người chồng yêu quý. Bà vẫn liên lạc thường xuyên với vị quốc vương Ca-sa-bỉ-ba, người nhớ ơn vợ chồng bà, cứ một năm hai lần lại gởi kính tặng bà những số tiền khổng lồ. Về phần bà Lan Anh, bà vẫn coi gia đình vị vua hiền đức ấy như gia đình mình và coi con cái của người như con mình vậy. Do đó, khi vua cha băng hà, bà Lan Anh tiếc thương vô cùng cùng một người bạn tuy khác màu da nhưng tấm lòng vàng không khác ấy, mới đề nghị với các vị trung thần của vua Hà Kim thu xếp cho Thái tử Hà Lam qua Saigon tiếp tục việc học.

Ra ngoài chưa được năm phút, bà Huỳnh Lan Anh đã quay vào. Bà buông người ngồi phịch xuống một chiếc ghế bành, lim dim đôi mắt, tay phe phẩy quạt bằng mấy cái lông màu hồng của chiếc khăn mãng xà.

Bỗng cánh cửa phòng khách chợt mở toang. Tên tài xế mới bước vào.

Hắn chắp hai tay, lễ phép:

- Thưa bà chủ, xe đã sẵn sàng.

Bà Lan Anh giựt mình mở choàng mắt:

-Cái gì? Xe hả? À, ừ tôi phải đến phòng Hội một chút! Chết chưa! Trễ mấy phút rồi này! Ê, các chú nhỏ, kẹo đây, ăn nữa đi các em.

Thế rồi, sau khi đặt vào lòng bàn tay tôi và Trí mỗi đứa một nắm kẹo, bà lại ào ào theo tên tài xế mới bước ra ngoài, biến mất sau cánh cửa phòng khách.

Người tài xế này hình dáng trông giống hệt như nhân vật cậu Hải Minh đã tả trong thư khi nói về tên Kha Bỉ.

Tôi biết là Trí cũng nghĩ giống tôi, vì liếc nhanh, tôi thấy anh lúc đó, cũng chăm chú ngó người tài xế dữ lắm.

Nhưng có một chi tiết khiến tôi hoang mang hết sức. Trong thư, cậu Hải Minh cho biết tóc Kha Bỉ đen nhánh, mà tóc tên này lại màu hung hung như tóc các em nhỏ chăn bò ở nhà quê mà không chịu đội nón vậy.

Khi hai anh em đạp xe về nhà, chạy song song bên nhau, tôi với Trí đều đã suy nghĩ về vụ tai nạn đụng xe giả tạo. Và tôi kết luận:

- Mọi điểm tôi nghĩ đến đúng phong phóc cả, duy chỉ đến khi thấy tên tài xế mới là lại đâm ra hoang mang chứ!

Trí điềm tĩnh:

- Rồi sao, nói đi, Chiêm! Mình thấy Chiêm có nhiều ý kiến hay lắm!

- Thôi để tôi nói lại rõ ràng cho CT1 nghe: theo tôi nghĩ, thì vụ đụng xe hoàn toàn giả tạo, nhằm mục đích duy nhất là khiến bác Phối bị tịch thu vĩnh viễn bằng lái xe. Lợi dụng tình thế đó, tên Kha Bỉ mới chen vào xin tranh việc làm của bác. Để làm gì? Để có dịp bới tìm lục lọi trong chiếc xe Rolls Royce đặng kiếm cho ra cái mà chúng đang truy lùng. Có thể là một báu vật hay một bức bản đồ bí mật gì đó. Ấy là chưa kể đến Thái Tử Hà Lam mà chúng sẽ có thể theo dõi từng li từng tí một.

Trí reo lên:

- Khá lắm, CT3! Nhận xét của CT3 hay vô cùng! Và sự việc quả đã diễn tiến đúng như CT3 nói.

Lời khen thành thực và nồng nhiệt của Trí vẫn chưa khiến được tôi vui sướng lắm, vì:

- Nhưng, giả thuyết của tôi bắt đầu bắt đầu lung lay kể từ lúc ngó thấy tên tài xế mới mà tụi mình vẫn nghi là Kha Bỉ đó! Trong thư cậu Hải Minh đã chẳng nói rõ cả màu tóc của y rồi đó sao?

Trí điềm đạm cất tiếng hỏi:

- Thế Chiêm từ xưa tới nay chưa hề nghe nói tới thuốc nhuộm tóc bao giờ sao?

Tôi giật thót mình, chút xíu là quăng cả xe đạp xuống mặt đường. Tóc nhuộm! Trời đất! Có vậy thôi mà sao tôi không nghĩ ra nhỉ?

- Một tên cạo tuột bộ râu, một tên nhuộm nâu bộ tóc, thay hình đổi dạng, biến thành dân Việt Nam chính cống. Bây giờ đã nghiễm nhiên lọt vào nhà bà Huỳnh Lan Anh.

Tôi chợt nhớ ra:

- Tên Du Đả còn nằm nhà thương mà.

- Chưa chắc! Bữa đó hắn ta có bị thương tích gì đâu, chịu khó tìm kiếm thế nào cũng sẽ thấy y chỉ quanh quẩn dò thám ngay gần bên biệt thự Lan Anh thôi hà! Để về nhà tụi mình quay điện thoại gọi hỏi Bệnh Viện Chợ Rẫy coi!

Về tới Trụ sở, Trí gọi dây nói ngay. Anh đoán đúng. Nhân viên bệnh viện cho biết người bị đụng xe tại ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản bữa chủ nhật đó đã ra về ngay sau khi được bôi thuốc đỏ sơ sơ trên hai vết trầy trụa ở đầu gối.

Tôi bâng khuâng:

- Anh bảo hai tên Ả Rập này sẽ bới tìm lục lọi trong chiếc xe Rolls Royce không bỏ sót một góc kẹt. Nhưng chúng muốn tìm cái gì chứ?

- Hiện giờ thì chúng mình chưa biết. Ngoài ra còn việc khác nữa đây này: bác Phối bị lôi thôi rắc rối vì một tội trọng mà chính bác không gây ra, hai là chiều nay đây, Thái Tử Hà Lam tới Sàigòn này.

Rồi sau mấy phút suy nghĩ, Trí nói tiếp:

- CT3! Việc đã đến tay rồi! Phải hành động gấp, vì hai lý do: thứ nhất, lễ đăng quang của ông vua mới sẽ tổ chức vào ngày thứ sáu sau, nếu tôi không lầm. Thứ hai, ngày thứ Hai sau bữa thứ sáu đó, chúng mình đã phải tựu trường rồi. Thấy chưa? Không còn có thể lờ phờ được nữa đâu.

Dứt lời, anh đưa mắt nhìn tôi chăm chú và tôi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc theo xương sống. Tôi bất giác nhẹ rùng mình. Cứ mỗi lần như thế là, thế nào anh cũng sắp sửa giao phó một hay hai công tác gì đó rất gay go cho tôi.

Y như rằng. Giọng nói của Trí đanh lại:

- CT3! Làm bất cứ cách nào đem về cho tôi một lọn tóc cắt ở mớ tóc trên đầu tên Kha Bỉ!



CHƯƠNG X

VỊ HOÀNG TỬ


Đêm đó, trong giấc mơ, tôi thấy toàn những người đàn ông tóc hung đỏ nhẩy múa tưng bừng, hát hỏng hò reo như chế riễu. Tôi đâm lo và chỉ mong Trí đổi ý. Nhưng khi đến nhà anh, liếc nhanh nét mặt “sếp” một lần nữa, tôi lại khổ tâm vì rõ biết Trí là một cỡ người không bao giờ thay đổi ý định.

Anh nói với tôi:

- Thái Tử Hà Lam qua đây rồi!

Tôi bĩu môi:

- Tưởng cái gì chứ? Ai chả biết. Bà Lan Anh đã nói từ hôm qua mà!

- Mà tôi muốn bảo với Chiêm rằng Thái Tử Hà Lam hiện đang ở đây, nghĩa là ở trong nhà tôi, trong văn phòng của ba tôi nè!

Tôi chưa kịp ngạc nhiên đã cảm thấy đôi mắt Trí nguýt không khác một lưỡi dao cạo lướt nhẹ trên má.

A! Nếu vậy thì ra bà Huỳnh Lan Anh đã đưa hoàng tử Hà Lam tới đây giới thiệu với giáo sư Bích Tâm. Bà biết ông Bích Tâm, ba Trí, dạy môn Sử Học tại Đại học Văn Khoa Saigon và chắc chắn thế nào Hà Lam cũng phải học giáo sư Bích Tâm ít nhất bốn giờ một tuần.

Giọng Trí nghe hăm hở rõ rệt:

- Sáng nay bà Huỳnh Lan Anh đã đưa Hà Lam tới đây và rồi ba tôi sẽ dẫn “ông” ấy tới thăm qua trường đại học. Ê, Chiêm, đây là lần đầu tiên tụi mình thực hiện được cái mộng tiếp xúc với một vị hoàng tử đấy nhé. Ấy, hơn thế nữa chứ! Một Đông Cung Thái Tử, người kế vị chính thức ngai vàng của Ca-sa-bỉ-ba quốc.

Thần thái khích động của Trí lây sang tôi: quả thật đây đúng là lần đầu tiên trong đời tôi được nhìn tận mặt một vị hoàng tử… thứ thiệt. Hai anh em thả bước băng qua bãi cỏ ngoài vườn sắp sửa bước vào nhà, đột nhiên tôi ngừng chân lại và tự nhiên giọng nói nghe nghèn nghẹn:

- À, anh Trí! Xưng hô với một vị hoàng tử thì xưng hô thế nào, hả?

Trí vênh mặt, “lên lớp” ngay:

- Kính thưa Đông cung thái tử chứ còn gì nữa?

- À, vậy tôi phải nói: “Kính thưa Đông cung Thái tử mạnh khoẻ ra sao?” và “Kính thưa Đông cung Thái Tử, Saigon có làm vui lòng Đông cung Thái Tử chăng?”, phải không anh Trí?

Thay vì trả lời, Trí chỉ lườm tôi một cái. Và tôi hiểu ngay cái lườm ấy có nghĩa là tôi ngốc nghếch như một cậu bé mới ở nhà quê lên Saigon và tốt hơn hết là tôi nên im đi đừng hỏi nữa.

Ấy vậy mà chưa chắc tôi đã “quê” như “sếp” đã tưởng. Khi gặp “ông” Hoàng Tử, tôi cảm thấy ngay chẳng có gì là khó khăn cả. Trông “ông” cũng không cao lắm, hơn tôi chừng ba hay bốn phân gì đó thôi, vóc người mảnh dẻ, có thể nói gầy là khác. Tóc đen nhánh, mắt cũng vậy, và nước da thì rõ ràng là sậm hơn màu da của chúng tôi mặc dầu nắng gió Saigon cũng đã khiến cho chúng tôi không còn trắng nhễ nhại như mấy chú lười hoạt động chỉ chúi xó ở nhà nữa. Và cứ đinh ninh là sẽ phải đối diện với một vì Hoàng Tử Ả Rập đầu quấn khăn vành rế to tướng bằng lụa trắng dát ngọc, áo bào dài lướt thướt và chân mang ủng gấm thêu rồng phương như đã nhiều lần nhìn thấy trên màn ảnh. Thái tử Hà Lam lại chỉ phục sức giản dị như mọi sinh viên Việt Nam khác: quần hàng len xám, áo sơ mi và veston trắng.

Khi hai anh em bước vào văn phòng giáo sư Bích Tâm, thì thấy ông đang đứng cùng với Hoàng Tử Hà Lam chăm chú xem mấy cái giấy tờ gì đó.

Giáo sư Bích Tâm, khi chợt trông thấy tôi, lên tiếng:

- A, cháu Chiêm! Ô may quá, cả hai anh em đều có mặt, tốt lắm. để bác giới thiệu với Thái Tử Hà Lam.

Trí tiến lên một bước, miệng lẩm bẩm nói cái gì đó, cúi người thật thấp: “Rất hân hạnh! Rất hân hạnh! Kính thưa Thái Tử!”.

Riêng tôi, tôi chỉ muốn giơ tay bắt tay ông Hoàng Tử một cái có phải tiện bao nhiêu không? Nhưng trước cử chỉ và thái độ kính cẩn của Trí, tôi đâm ra ngập ngừng do dự nên cũng sửa soạn bắt chước làm theo anh. May sao ông hoàng tử đã vội đứng lên chấm dứt ngay cái nghi lễ phiền phức ấy. “Ông” đi vòng bàn giấy tiến tới, giơ hai tay niềm nở, đôi môi tươi mấp máy nói tiếng Việt rất thạo:

- Ôi chà! Ôi chà! Hai anh cứ gọi tôi là Hà Lam như thường đi và xin tạm quên tôi là một vị hoàng tử nhé! Cứ việc đối xử với tôi, coi tôi như mọi sinh viên khác ở Saigon này, nghe!

Lập tức, Trí ngẩng phắt đầu lên. Liếc mắt nhìn lẹ, tôi thấy rõ mặt anh đỏ như quả gấc chín khiến tôi suýt nữa phì cười nếu không cố bấm bụng kìm nhanh lại được. Vừa may, bác Bích Tâm đã vui vẻ:

- Đây! Bác cùng Thái Tử Hà Lam vừa mới duyệt qua chương trình trong niên học năm nay đây. Và bác cùng Hà Lam định đi thăm trường Đại Học Văn Khoa một chút. Hai anh em có muốn cùng đi cho vui không?

Trí và tôi sốt sắng xin ông Bích Tâm cho đi theo. Cả bọn ra xe của ông. Tôi biết rõ trường Đại Học Văn Khoa, nhưng được đến thăm trường trong những ngày nghỉ hè lại là một cái thú đặc biệt lắm. hàng phượng vĩ hoa đỏ tán xanh toả bóng râm mát như đứng chờ các anh các chị sinh viên đến chuyện trò tâm sự, bàn cãi tranh luận về bài vở. Sân trường rộng rãi vắng hoe, trông buồn man mác như thiếu thốn một cái gì. Trong khi tôi đang thả hồn mộng mơ nhìn ngắm quang cảnh, Trí chỉ hăm hở hỏi chuyện ông Hoàng tử Ả Rập. Anh nóng ruột, nét mặt đăm chiêu thấy rõ, và chỉ thở ra một cái “khì” khi được ba anh đưa tất cả vào phòng hội, nơi các giáo sư vẫn thường lui tới họp bàn. Vừa ngồi yên chỗ, anh đã thao thao hỏi ý kiến của Hà Lam về Saigon thủ đô nước Việt ra sao.

Hà Lam giọng nói trịnh trọng lễ độ:

- Dĩ nhiên là mọi cái đều khác cả, anh Chính à! Đồ ăn thức uống, áo quần, phong tục tập quán cái gì cũng khác cả.

Trí vội vã:

- Hà Lam cứ gọi tôi là Trí đi, nghe! Đừng gọi anh Chính, anh Chính làm gì. Ở đây ai cũng gọi tôi là Trí, Trí thôi đó… trừ ba má tôi.

Giáo sư Bích Tâm cười mỉm đưa tia mắt thích thú ngó đưa con trai yêu mà không nói gì.

Hà Lam cũng cười thật tươi, phô hai hàm răng trắng bóng:

- Đồng ý! Đồng ý! Trí! Bây giờ Trí muốn hỏi gì thì hỏi đi! Tôi sẽ trả lời tất cả những gì mà tôi biết.

- Tôi muốn Hà Lam cho biết rõ về việc lễ đăng quang. Theo tôi biết thì đáng lẽ Hà Lam, tuần lễ sau vào ngày thứ Sáu, sẽ làm chủ lễ đăng quang, được nhận vương miện, bước lên ngai vàng kế vị tiên vương phải không? Cậu Hải Minh của Chiêm đã viết thơ về cho biết như vậy đó.

Hà Lam quay nhìn tôi:

- Chiêm! Cậu Hải Minh của Chiêm là một người rất tốt. Hồi ở Anh Quốc tôi đã có dịp được Hải Minh lái phi cơ đưa đi chơi. Cậu ấy còn cho tôi cầm lái nữa kia, khi phi cơ bay cao trên mây đó. Thế rồi khi Hải Minh về Ca-sa quốc lái phi cơ riêng cho vua cha thì tôi vẫn ở bên Anh, không được về lần nào vì bận học.

Trí nói tiếp, giọng vẫn điềm đạm, nhưng tôi biết rõ là anh không muốn câu chuyện lái về hướng… máy bay tàu bò:

- Có phải đúng thứ Sáu tuần sau là Ca-sa-bỉ-ba quốc sẽ làm lễ đăng quang cho vị vua mới không?

Hà Lam, nét mặt nghiêm trầm thoáng lộ vẻ đau buồn, trả lời:

- Đúng vậy đó, Trí! Tôi lo lắng ghê lắm! Nếu cuộc đại lễ này thành tựu thì dòng dõi nhà tôi sẽ mất ngôi báu và muôn dân Ca-sa quốc tế sẽ khổ sở lầm than. Tôi biết rằng các vị trung thần nghĩa sĩ Ca-sa-bỉ-ba đã làm đủ mọi cách để ngăn chặn, phá vỡ âm mưu của bè lũ Rả Bây bất nghĩa, nhưng họ đã bị thất bại… Nhưng – Hà Lam thở dài – nhưng biết đâu một ngày kia tôi lại chẳng có thể đòi lại được ngôi báu!

- Đại lễ đăng quang thì có những gì?

Đôi mắt Hà Lam bừng sáng một giây nhưng lại tức khắc rầu rĩ ủ ê, buồn rũ xuống:

- Trời! Tưng bừng rực rỡ vô cùng Trí, Chiêm à! Chính tôi, tôi cũng chưa được tham dự lần nào, chỉ được vua cha cho coi hình chụp để lại trong hoàng cung. Phụ vương lên ngôi báu trước khi tôi ra đời. Chỉ còn thiếu hai năm nữa là đủ hai chục năm, thời gian trị vì của cha tôi như vậy là lâu dài nhất so với các vị vua tài đức. Tiền của do các mỏ dầu hoả kỹ sư Phan khám phá được, vua cha đã dùng vào việc làm công ích cho toàn dân… Hà! Vào tay tên bạo ngược Rả Bây… thì đảo lộn hết.

Khi nói đến hai tiếng Rả-Bây, âm thanh Hà Lam lại đượm mùi cay đắng:

- Nhờ vua cha, nhờ kỹ sư Phan, tiểu quốc Ca-sa-bỉ-ba của giòng họ tôi vây giờ cường thịnh lắm, lễ đăng quang của tân vương ắt sẽ được tổ chức linh đình gấp bội so với hồi phụ vương tôi lên ngôi báu. Các vương quốc lân bang sẽ gửi sứ thần qua chúc thọ, có cả nhiều vị quốc vương Ấn Độ này, rồi lại cả phái đoàn Anh quốc nữa. Ca-sa-bì-ba chả là một tiểu quốc do nước Anh bảo hộ mà. Cuộc đại lễ sẽ kéo dài suốt một ngày. Những bộ lạc tại sa mạc cũng về dự. Họ ít khi về kinh thành. Nhưng trong dịp này họ sẽ về chúc thọ tân vương. Họ sẽ cưỡi ngựa xếp thành hàng, những đoàn ngựa cao lớn đẹp vô cùng, đi quanh thành phố cho toàn dân chiêm ngưỡng. Rồi lại có cả duyệt binh nữa. Vui lắm! Nhưng mục chính của buổi đại lễ vẫn là mục … cuối cùng. Tôn nghiêm và kính cẩn nhất. Đó là giờ phút thiêng liêng nhất! Vị tân vương sẽ uống chung ly nước “Đồng sinh” với một gã ăn mày!

Trí nhổm người lên:

- Ăn mày! Gã ăn mày! Sao lựa ai không lựa lại lựa một gã ăn mày?

Riêng tôi, tôi chỉ thấy nóng ruột muốn biết nước “đồng sinh” là thứ nước gì.

Hà Lam:

- Riêng về trường hợp Rả Bây thì tôi chắc chắn là ông ta sẽ chọn một người bên họ nhà vợ ông. Lý do: gã ăn mày, sau khi cùng vị tân vương uống nước phép, sẽ nhận được rất nhiều tặng vật, nhiều lắm, và hắn sẽ trở nên giàu sang phú quý suốt đời. Rồi lại được phong quan tước đại thần cao quý nhất trong triều. Hồi vua cha tôi đăng quang tức vị cũng đã có một vị đại thần trong trường hợp như thế.

Tôi đánh bạo hỏi thử một câu:

- Nước phép “Đồng sinh” là nước gì vậy? Và tại sao vị tân vương lại không uống một mình có được không?

- Đó là một hình thức tượng trưng. Nước được lấy về từ một giòng khe lạch rất trong ở tít mãi tận cùng thẳm núi cao. Vị tân vương uống nước đó chung cùng một cái ly quý với một tên ăn mày, nghĩa là người thần dân nghèo khổ nhất, để chứng tỏ tinh thần bình dân dễ dãi của mình và cũng để cho mọi người thấy rằng nhà vua sẽ tòng phục nguyện vọng của toàn dân, cũng như toàn dân phải tuân theo mệnh lệnh của đức Vua.

- Cái ly uống chung đó phải là đồ quốc bảo?

- Đúng! Đó là một chiếc ly đúc bằng bạch kim, một thứ vàng rất quý, hiếm, trắng sáng như bạc, lại có giát thêm châu báu. Rất xinh! Chỉ bằng chiếc bình nhỏ cắm hoa thôi!

Chợt nghe câu “bình nhỏ cắm hoa” từ miệng Thái Tử Hà Lam nói ra, Trí liếc nhanh mắt cho tôi. Tôi định lên tiếng hỏi, anh đã vội nháy mắt ra hiệu bảo tôi im lặng.

Hà Lam nói tiếp:

- Chiếc ly quý lưu truyền từ đời vua này tới đời vua sau và cứ mãi mãi như vậy, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Báu vật được cất trong hoàng cung có thị vệ canh gác kỹ lắm. Chính tôi cũng chưa được thấy tận mắt lần nào. Hình chụp để trưng bày thì có. Trời! Nếu tôi có được cái ly báu đó, thì chắc chắn người bước lên ngai vàng sẽ là tôi chứ không phải tên bất nghĩa Rả Bây kia đâu.

Trí hỏi kỹ:

- Hà Lam nói thế có nghĩa là nếu không có chiếc ly quý đó trong tay thì không thể lên được ngôi báu?

- Đúng như vậy! – Và nét mặt vị hoàng tử lưu vong lại đượm nét ủ ê.

- Lễ đăng quang của phụ vương Hà Lam được tổ chức vào năm nào?

- Ngày 12-8 năm 1950.

Trí gật gật đầu, đắm chìm suy nghĩ. Hà Lam cũng mơ màng tưởng nhớ cái gì đâu đâu. Tôi chỉ im lặng đưa mắt ngó hai người, không dám làm kinh động. Nhưng giáo sư Bích Tâm, ba Trí, thì lại cứ tự nhiên như không. Ông đứng lên nhắc anh là đã tới giờ về:

- Thôi trễ rồi đây! Hai anh em liệu có về thì về đi. Ba và Hà Lam còn ở lại làm nốt một vài việc đã!

Khi hai anh em bước ra ngoài đường phố, Trí bỗng tỏ ra xao động và vội vã cô cùng:

- Cứ cách một giờ lại có xe đi Biên Hòa đấy nhỉ?

Tôi ngó đồng hồ tay:

- Ừ! 30 phút nữa là có chuyến! Sao? Tụi mình đi Biên Hòa hả?

- Không! Chiêm ở nhà! Mình cần lên đó làm cái này gấp lắm. Mình tôi đi đủ rồi. Chiêm còn việc quan trọng phải làm mà. – Tôi biết là anh lại nhắc tôi cái món nợ “lọn tóc của tên Kha Bỉ”, liền nhăn mặt:

- Trời đất! Tôi đâu phải thợ cạo! Làm sao mà cắt được tóc trên đầu hắn chứ?

Khi về đến nơi, Trí không nói không rằng quay ngoắt vào trong nhà dắt xe ra, nhẩy lên, nhắm hướng bến xe Biên Hòa, chân đạp băng băng.

________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG XI, XII
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>