Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

Giây Phút Tưng Bừng


Ở chỗ ít ánh sáng nhất, cô bé đang nhẹ nhàng 
giơ khăn tay chùi nhanh những giọt lệ vui mừng đọng ở 
rèm mi... Mà… hình như có một vết chocolat mờ, 
rất mờ, mà cô bé không hay, còn vương trên má phải...

Bầu trời hay có những gợn mây xám buổi sáng và mấy chú chim sẻ không ngừng nhảy nhót trên dãy mái ngói nhấp nhô dưới kia, hoặc líu lo chuyền từ mắc lưới này sang mắc khác chung quanh vòng rào sân thượng nhà ông Cò, đã biến cả đi, về một nơi ấm áp nào đó, ổ rơm trong ống xối, hay trong mái rất êm và nồng hơi ấm than nhà bếp. Đông đã về với nắng khép nép và những làn khói nhẹ bay lên buổi sớm mai, trong không khí một chút lạnh và trong lòng một chút rộn ràng. Một vài cái đập cánh luyến tiếc vang từ khung kính cửa sổ, đôi mắt đen láy với hàng mi vàng ướt át, chú chim bé nghiêng đầu nhìn rất xinh rồi lặng lẽ bay đi. Ty mở toang hai cánh cửa kiếng trong vắt nghiêng cả người ra ngoài như muốn bay theo, đôi môi mọng lẩm bẩm:
 
- Mai mốt chờ Ty mở cửa nhé.
 
Nhớ bàn ủi đang nóng, Ty quay nhanh vào, hai bàn tay nhỏ cẩn thận trải áo ra rồi đưa bàn ủi rất gọn lên từng pli áo. Vừa treo lên móc, Ty vừa mân mê cài thử mấy chiếc nút xem có đưa mối chỉ ra ngoài không. Sau đó là cái áo đầm của Ty, thẳng phải biết nhé, mà lại trắng tinh nữa chứ, nhất là hai sợi dây phía sau, khéo làm sao cho một lần thắt đã thành một cái nơ duyên dáng và trang trọng. Bước chân Ba sau lưng vừa vặn lúc Ty mở bàn ủi và xếp gọn chiếc mền, giọng Ba trìu mến khi vòng tay ôm đầu Ty:
 
- Hôm nay Ty nghỉ học hả?
 
Cô bé có dịp phụng phịu:
 
- Vâng, còn Ba, Ba cứ đi làm hoài, Noel mà…
 
Những ngón tay cứng và ẩm ướt nước lồng vào tóc Ty:
 
- Chính những lúc nầy mới quan trọng thôi đó Ty.
 
Lặng im một lúc, Ba mơ màng tiếp:
 
- Khi nào lập được một tiệm bánh, Ba con mình mới sướng Ty à.
 
Thương nhất những lúc Ba nói về tương lai, về một hiệu bánh sẽ mở. Chức quản lý cho một nhà hàng sang trọng hiện nay vẫn không bằng được một cái gì nhỏ nhoi mà chính mình làm chủ. Ít ai như Ba, với lò nướng bánh và để lại bao nhiêu cách khéo như có sẵn trong đầu, Ba lo phần bánh ngọt cho nhà hàng. Bánh kem thơm ngát, bánh sừng trâu mứt bí ngọt lịm, bánh bông lan có hạt nho chua… Mỗi lần đem vào lớp là Phi Vân, Quỳnh Yến thích mê. Phi Vân:
 
- Nhỏ Ty sướng ghê, Ba tao chả biết làm cái gì cả, nữa là bánh…
 
Quỳnh Yến vừa nhấm nháp bánh sừng trâu vừa tấm tắc:
 
- Má tao có làm bánh nầy nhưng sao chả giống Ty à.
 
Chắc lúc đó đôi mắt Ty đã rực lên hãnh diện nhưng chỉ một chút thôi. Ba Phi Vân là Giám Đốc hãng vỏ ruột xe, đi đâu là xe đưa rước. Má Quỳnh Yến chủ một hãng thầu to. Hai nhỏ bạn dễ mến của Ty mỗi lần đến trường như là hai Công Chúa nhỏ đi học. Vậy mà tụi nó vẫn thấy thiếu thốn khi so với Ty. Ty biết Ty thiếu nhiều lắm chứ, những cái mà không ai bù đắp nổi kể cả Ba. Nhưng Ty thương Ba quá, Ty không dám để lộ ra những mất mát của mình mà Ba phải đau lòng. Những cái bánh, những thức ăn ba mang từ nhà hàng về đâu phải Má Ty đã dặn làm thế. Chỉ cần nghĩ đến Ty trong căn lầu hẹp bà Tư cho mướn, đi học về một mình, ăn một mình, dọn bài một mình, ngủ một mình, những hôm nhà hàng thết tiệc tối và Ba về thật khuya, là bao nhiêu Ba cũng muốn bỏ về với Ty. Như Ty đã bao lần bỏ giấc ngủ trưa, ngủ nướng buổi sáng, như sáng hôm nay, để phụ Ba đánh trứng, trải khăn để làm món bánh bông lan cuốn. Ba đã dành phần bắt kem cho thím Hai, chuyên môn bắt kem bûche de Noël. Chỉ có 3 cái, 2 bánh lớn, 1 nhỏ mà Ba với Ty bận rộn từ sáng đến trưa. Chỉ lát nữa đây xe nhà hàng đến rước là Ba mặc áo, mang bánh đi, và Ty ở lại nhà một mình. À, lúc ấy Ba Ty trông cũng oai tệ, cũng bước lên xe đưa rước, nhất là lần Ty thấy Ba đứng trong nhà hàng, những ngọn đèn vàng rực rỡ trên tường, lộng lẫy in lên kiếng. Ba mặc veste trắng thêu chữ M. J, quần tây đen, giầy tây đen bóng loáng, đưa mắt kiểm soát mấy ông cũng mặc đồ giống như Ba nhưng khăn bàn để trên tay và lăng xăng chạy tới lui. À, lúc ấy bầu trời màu gì nhỉ, à, màu sẫm tím hoàng hôn và mặt ba trông nghiêm lắm cơ, dưới bao nhiêu là ánh đèn, ấy vậy mà chỉ cần khuôn mặt Ty ló vào, như có làn gió ấm thổi qua, gương mặt với những cái nét khó khăn, bất động ấy chợt biến đi, nụ cười rạng rỡ đến thật nhanh và bao nhiêu đó cũng đủ Ty yên lòng về nhà một mình. Như Ty đã hỏi: Ba có ở đó không? Và Ba đã trả lời: Vâng, Ba ở đây. Tại sao Ty chỉ nhìn mà Ba biết Ty muốn hỏi và chỉ cười mà Ty hiểu Ba đã trả lời. Tại sao chỉ người đó cười Ty mới thấy an tâm, thấy ấm lòng. Sao từ nhỏ đến lớn chả ai dạy Ty điều đó, Ty cũng biết, cũng tin? Hình như chỉ chú chim sẻ sáng nay bay ngang cửa kính len lén nhìn Ty rồi bỏ đi là biết được điều đó. Mà, chim sẻ làm biếng nói lắm cơ!
 
Có một tiếng động lớn, như tiếng thịt gà cho vào chảo mỡ nóng và khói mịt mù chui qua lớp ngói đỏ bay lên từ ngôi nhà trước mặt. Người ta sửa soạn cho lễ nửa đêm. Ty thoáng cười hóm hỉnh khi nhớ đến câu hỏi của nhỏ Thúy Cúc: Ty sửa soạn món gì cho tiệc réveillon. Ty đã trả lời là nhiều lắm: gà Tây, heo quay và cái bûche de Noël nho nhỏ cho hai ba con. Ty muốn cười liền sau câu nói dối vì tự nghĩ sao Thúy Cúc không hỏi là Ty có ăn réveillon không đã chứ. Ngón tay ba ấn nhẹ vai Ty làm Ty giật mình quay lại:
 
- Gì cơ, Ba?
 
Đôi mắt Ba trang nghiêm:
 
- Chiều nay ba mượn chú Út sẵn đi ngang nhà rước Ty đến nhà hàng chơi nghe.
 
Ty định nhăn mặt: chơi cái gì hả Ba? Vì nhớ đến những thực khách và khung cảnh sang trọng làm Ty thấy lạc lõng. Nhưng Ba đã rất vội vàng, cái vội vàng lo ngại và âu yếm:
 
- Sao, con có thích không?
 
Sao Ba cứ hỏi Sao rất đầm ấm, và liền đó tiếng con ngọt êm hơn bất cứ thứ kem, thứ mứt nào – Con sẽ nói với ba là con rất thích. Con đã thích câu Ba hỏi và thích luôn ý muốn của Ba – Ty đáp thật nhẹ:
 
- Có, con thích lắm, chiều nay con sẽ đến.
 
Hai vạt nơ chưa thắt của chiếc áo đầm trắng, đã mặc trong ngày lễ tổ chức hôm qua ở trường, giờ đây lại đòi đi chơi, lại bay rộn lên bởi những làn gió mát đưa vào từ khung cửa. Một cái gì vừa dừng lại và ấm áp thật lâu trên vùng tóc của Ty.
 
*
 
Bữa tiệc Ba trông nom đặt ở tận lầu ba, khi con số 3 bật đỏ, chú Út dẫn ra chỉ Ty lối vào cặn kẽ rồi lại trở xuống. Qua khỏi tấm bảng để tên người đặt tiệc, Ty bước nhanh trên lớp thảm đỏ. Hai bên lối đi buông màn vàng rực khoe hàng đèn sáng dọc theo hành lang.
 
Một cầu thang trắng kiểu cách nối liền phòng đợi với một phòng lớn đãi ăn phía trên. Tất cả các vách đều lót bởi lớp gỗ mun loang loáng ánh vẹc-ni, hàng chục, hàng trăm ngọn đèn vàng trên vách lồng trong cái chụp bằng thủy tinh muôn mặt cắt, tỏa ánh sáng rực rỡ – như hộp đựng Kim cương – xuống nền nhà trải thảm lông êm, và đọng lại từng vừng sáng óng ả trên vách gỗ đen nhánh. Trên trần là 2 chùm đèn treo, như những chùm hoa sen bằng lưu ly đính lại từng nhóm làm dáng cho trần nhà màu trắng tuyết, mà phản chiếu lại từ các khung cửa kính cao vút, trong suốt, như có hàng ngàn ngọn đèn treo. Ánh sáng ở khắp nơi, từng khối trong vắt, đóng lỗ chỗ trên bàn ăn phủ khăn trắng, trên những cánh hồng nhung đỏ rực quyến rũ, kiêu kỳ giữa màu trắng muốt mênh mông, trên dao nĩa bóng loáng, chan hòa trên ly cốc, rơi rớt trên lưng ghế êm.
 
Mười bốn khung cửa sổ tất cả, mười bốn tấm kính trong, nhìn ra phần lớn bầu trời xanh ngây ngất ban chiều, một phần sông và nhà cửa, công xưởng chen chúc dưới kia, dịu dàng hơn màu sông, phẳng lặng hơn màu biển, ngọt ngào hơn màu mắt, chưa có màu xanh nào kỳ ảo hơn màu xanh trời chiều nay. Thoáng một cái, màu xanh biến đi, một chút le lói nắng rám pha hồng ngút mấy từng mây rồi biển đêm ùn ùn đến, đèn thành phố sáng rực lên như những hạt ngọc, những chuỗi ngọc long lanh trong đáy hộp nhung đen.
 
Rời khỏi khung cửa sổ, Ty dừng thật lâu trước hang đá. Có lẽ quá nhiều ánh sáng trong phòng làm rừng dây kim tuyến, trái châu chói sáng hơn, duy những bức tượng vẫn vẫn giữ được nét mềm mại đơn sơ. Mải mê ngắm bức tượng Chúa Hài Đồng tay chân mũm mĩm hồng, Ty không chú ý đến tiếng kêu, mãi đến khi lặp lại lần thứ hai, đúng là tiếng thím Hai. Nhận ra thím ở một góc mà màn buông rũ phía cuối phòng, Ty chạy ào đến; thím Hai kéo Ty băng băng vào nhà bếp:
 
- Vậy mà thím tưởng chú Út chưa đưa Ty đến chứ. Ty làm gì nãy giờ vậy?
 
Ty thẹn thò:
 
- Dạ cháu đứng chờ Ba ở gần hang đá ấy chứ.
 
Trong bếp toàn là những người mặc đồng phục veste trắng, bên cạnh các bếp điện trắng tinh và lộn xộn mùi thức ăn từ các soong, các chảo, Ty cũng nhận ra Ba ngay ở chỗ Ba đứng tuổi hơn hết, sợi bạc đã bắt đầu loáng thoáng trong tóc. Ba đang thúc hối mấy chị bếp sớt đồ ra những chiếc nồi con, còn các ông mặc đồ giống Ba đưa những chiếc xe đẩy tay nho nhỏ đến để đem thức ăn ra ngoài. Họ vừa làm vừa nói cười vui vẻ, hình như một chị bếp vừa lỡ tay để chiếc khăn lau chén rơi chấm vào một chút cà-ri, một anh đặt bàn vừa xếp nhầm chiếc nĩa gãy vào chồng chén đĩa trên mâm của mình. Vậy mà ba cũng ngoảnh lại tức thì khi Ty nhẹ bước đến sau lưng. Ba cười rất tươi:
 
- Con có muốn thấy bánh bông lan cuốn của con hồi sáng, giờ đẹp ra sao không?
 
Ty xoắn xít theo chân Ba vào chiếc xe đẩy tay để khuất bên trong, trên mâm trên, có hai chiếc đĩa sứ to được đậy kín bằng cái vung cứng nhắc. Ba giở nắp vung ra:
 
- Kỳ công của thím Hai đó.
 
Từ xa, thím Hai đỏ mặt sung sướng:
 
- Tại bắt hoài thành quen đó ông à.
 
Ty được dịp suýt soa khen luôn miệng: Ô, đẹp quá hả Ba, hay quá hả Ba. Ba chỉ mỉm cười. Hai bố con châu đầu trên hai khúc. Đúng là khúc cây với những sớ gỗ và các đường nứt nẻ thật linh động, có một chỗ, những đường vân nâu cong tròn lại, vòng vèo không ngừng trên một mặt “gỗ” còn tươi, rõ ràng là có một nhát búa chặt bớt đi một nhánh ba. Bên cạnh màu chocolat già nua, vụt nở những đóa hoa hồng dại, hoa tím hoang, hoa vàng mơn mởn xen lẫn với những tai nấm mốc meo. Như ai đã đốn khúc gỗ nầy từ những thân cây đa na niên chôn trong biển tuyết của vùng rừng núi hoang vu nào, có người đã mang nó về từ vùng băng giá xa xôi và nhờ Ty nhắc nhở lại, ở mỗi mùa Giáng Sinh.
 
- Phải chi mình cũng có một cái hở Ba.
 
Ba định trả lời chi đó nhưng bóng ai đứng ngoài màn ngoắc tay Ba. Dường như là ông Giám Đốc. Hình như quan khách đang tấp nập đến, những nốt nhạc êm nổi lên. Ba bước hẳn ra ngoài, các chú đặt bàn cũng chia nhau đẩy xe thức ăn ra ngoài. Còn thím Hai đang nhanh nhẹn phân chia món tôm chiên và sauce cho đủ mâm, món bánh sẽ dọn sau. Ty cảm thấy buồn buồn đậy bánh lại và định đi về phía khung cửa sổ trống sau bếp nhưng thím Hai ngoắc Ty:
 
- Làm gì vậy, lại đây nè cô bé, coi người ta ăn mặc lạ lắm nè…
 
Khó ai giữ được sự lãnh đạm mãi khi ở gần một con người náo động như vậy, Ty cũng tò mò đứng nép bên tấm màn vàng.
 
Việt, Tây đủ cả, ăn mặc thật chải chuốt và vô cùng thanh nhã cho Ty nghĩ đây là những người cao quý trong xã hội. Họ đông nhưng tiếng nói chuyện chỉ rộn hơn tiếng máy lạnh rì rầm một chút xíu thôi. Mấy bà thì sang trọng đủ kiểu, chiếc áo họ bận thường phết gót, toàn là các màu hết sức thu hút và điểm trang những chuỗi hột lấp lánh. Ban tổ chức bận rộn nhất là lúc họ ngồi cả vào bàn, rượu khai vị lốp bốp, thỉnh thoảng một tiếng cười ròn, ngắn vang lên rồi dừng lại kiểu cách như để gây sự hào hứng cho cuộc nói chuyện.
 
Vừa đủ cho Ty xem chán chê, thím Hai lại lôi tay Ty phăng phăng đến cái tủ lạnh vĩ đại đứng im lìm trong góc bếp. Thím Hai nhanh nhẹn mở ra. Ô, Ty suýt la lên, còn một cái bûche de Noël con con nằm một mình ở tầng cao nhất vừa xinh xắn, vừa kiêu hãnh. Thím Hai tròn má vồn vã khoe với Ty:
 
- Cái nầy dư nhưng thím cũng làm cho mấy anh chị nhà bếp ăn. Bây giờ chắc đói bụng rồi, ăn cùng với thím vậy nhé.
 
Bụng Ty trống rỗng, nhưng Ty cũng cố gắng lắc đầu:
 
- Thôi để chờ mọi người đông đủ cả rồi cùng ăn thím Hai ơi.
 
Nụ cười thím Hai hóm hỉnh:
 
- Rồi họ sẽ có mà. Thôi để phần cho họ vậy.
 
Hai thím cháu ngồi hai bên cái bàn nhỏ trong bếp. Chia ra mười một phần, miếng bánh cũng còn lớn chán. Ty thầm thán phục thím Hai, bởi lớp chocolat thơm tho bên ngoài, nó làm cho hương vị phần bông lan bên trong đậm đà hơn và mùi rượu Rhum cũng lôi cuốn hơn. Vừa nghiến ngấu ngon lành, Ty vừa liến thoắng:
 
- Ba con chưa ăn bánh nầy đâu thím Hai, chắc Ba con cũng đói bụng lắm. Thím Hai trìu mến nhìn Ty:
 
- Hễ lớn chức thì phải để dành bao tử vậy. – Ty còn đói bụng không?
 
Chắc đôi mắt Ty nó phản lại Ty, nó tố cáo bụng Ty còn đói dù Ty chỉ muốn nhai xong miếng bánh để nói không. Ty cứ lắc đầu và giọng thím Hai dí dỏm khi đi về phía bếp:
 
- Bụng Ty muốn nổi loạn đó, để thím Hai lo nó cho.
 
Bao nhiêu là chả giò, gà đút lò, tôm chiên thím bày cả ra bàn và bao tử Ty chịu thua. Vừa chăm chú cho Ty ăn như đứa cháu thật nhỏ, thím nhẹ cười:
 
- Mình cũng ăn nhà hàng vậy, có khác đâu hở Ty.
 
- Nhưng mình ăn lộn xộn quá à, đáng lẽ bánh phải ăn sau.
 
Ty hồn nhiên nói, nhưng thím Hai đã rất duyên dáng phân bày:
 
- Thích gì thì ăn trước, mình hơn khách ở chỗ đó.
 
Hai thím cháu cùng cười nho nhỏ. Thêm cốc nước ngọt thím Hai vừa rót thì bụng Ty cứng ngắc. Ty định rời bàn thì có hai bóng người – hai anh hầu bàn – tiến vào, họ cùng cười với thím Hai:
 
- Chà, chưa gì mà dám đánh chén trước hén.
 
Đôi mắt thím Hai tròn xoe ranh mãnh:
 
- Đừng ganh tị, lát nữa ăn không hết tôi phạt cho đó. – À, anh Tư tìm gì vậy?
 
Hai người vây quanh chiếc xe để bánh, một người vén màn để xe đi ra. Người đẩy xe đáp:
 
- Cắt bánh, ăn gần xong rồi.
 

Gần xong rồi, Ty thở phào. Dễ chừng cũng 10 giờ. 12 giờ về nhà chen chúc phải biết, người ta đi lễ ấy mà. Chắc Ba đói lắm, một sáng kiến lóe lên trong đầu, Ty nhè nhẹ đến gần màn nhìn ra ngoài. Ba vẫn oai vệ đứng ở đầu phòng gần khay bánh vừa đẩy tới và được cắt ra để phân cho thực khách, đôi mắt Ba nhìn bao quát khắp cả khu phòng. Từ chỗ Ty đứng đến chỗ Ba hơi xa, nhưng Ty có thể kêu lớn mà ông Giám Đốc ở đầu kia không nghe. Người đãi dáng chừng là bạn ông Giám Đốc nhà hàng, hai người cứ trò chuyện nhau mãi thôi. Nếu Ty làm gan… Không suy nghĩ nữa, Ty gọi nho nhỏ rồi to dần:
 
- Ba… Ba!
 
Cái lưng Ba hơi nhúc nhích rồi Ba quay hẳn lại, Ty rung nhẹ góc màn cho Ba biết Ty ở đó rồi quay nhanh vào trong. Phần bánh Ty để cho Ba là chỗ chocolat thật dầy và nụ hoa hồng xinh xinh. Ngăn để bánh cao quá đầu mà thím Hai đâu mất, Ty nhón lên kéo từ từ miếng bánh, ra tới mép vỉ sắt, miếng bánh hơi đổ xuống và dính một mảng chocolat lớn vào tay Ty, nhưng chả sao, miễn Ba khỏi bị cào ruột là Ty vui rồi. Ba đang đứng quay lưng lại chỗ góc màn Ty đứng. Ty giơ tay khều nhẹ áo và kêu lên khe khẽ: Ba!
 
Ba quay lại, khom xuống và “hả?” với Ty là miếng bánh Ty cầm đã đút gọn vào trong miệng. Dáng chừng Ba không bằng lòng lắm nhưng… bất khả kháng. Ba đứng ngập ngừng một hồi lâu. Rồi thì tiếng ông Giám Đốc gọi bên kia. Ba lấy lại vẻ chững chạc bước đi. Ty thích thú phủi tay nhìn theo và hồi hộp dõi khuôn mặt Ba lúc quay lại, dám Ba giận Ty thì khổ nhưng Ty thương Ba quá, Ty sợ Ba đói, bé như Ty còn biết đói huống gì Ba, Ba nhỉ?
 
Muôn vạn ánh đèn chiếu xuống chiếc áo Ba thẳng nếp ủi rồi cả khuôn mặt Ba. Ty đứng bật dậy, miệng há hốc rồi mặt Ty đỏ lừ. Một miếng chocolat đang dính trên mũi Ba. Rõ ràng là màu kem chocolat, đứng xa như Ty còn trông thấy rõ nữa là những thực khách đang ngồi quanh Ba. Chết Ty rồi, Ty bậy quá, tại bàn tay Ty dính chocolat, Ty quên. Còn mặt mũi nào khi một ông quản lý nhà hàng trong buổi tiếp tân mà mũi lại dính chocolat, làm sao giải thích cho ra lẽ với ông Giám Đốc? Trong tích tắc Ty thấy được, tưởng tượng được đám thực khách cười như chợ vỡ và mặt ông Giám Đốc đỏ lên hầm hầm. Trong bao nhiêu năm làm việc, có lẽ đây là lần đầu tiên Ba bị hố, chỉ vì dắt Ty theo, lỡ dắt Ty theo. Ty quýnh lên, nước mắt vòng quanh. Ông Giám Đốc chưa thấy nhưng một vài người khách họ thấy. Một hai cái cười ý nhị nhìn theo nhưng họ không nói được với Ba vì Ba đi rất nhanh. Mặt lạnh như tiền, Ba tiến về vị trí cũ, ở đầu phòng, thong thả đưa mắt nhìn bao quát. Nhưng hỡi ơi, miếng chocolat to tướng trên mũi, sao Ba không hay. Ty muốn kêu Ba nhưng tiếng Ty tắt nghẹn… Ba đứng xa Ty hơn lần trước. Tiếng Ty ư ứ như mèo con.
 
Trong đôi mắt rưng rưng Ty thấy từ một góc phòng, đám thực khách nhốn nháo cả lên. Thôi rồi, họ kéo đến, họ cười vào mặt Ba. Ty xòe hai bàn tay che kín mắt nhưng sao Ty vẫn thấy. Ba ơi, nếu Ba ngờ được, cứ lùi vào tấm màn vàng là xong. Hay là Ty chạy đại ra, Ty kêu liền Ba, chỉ cần ba nhìn thấy Ty và Ty sẽ chỉ hai tay lên mũi, Ba sẽ hiểu ngay. Vâng… Nhưng không kịp nữa, đám đông đứng lên không phải tiến về chỗ góc Ba đứng mà ở chỗ góc đối diện, bên Ty đang đứng run run. Ông khách đãi tiệc đi cứng nhắc một cách trịnh trọng tiến đến micro đặt sát màn. Giọng ông ta oang oang:
 
- Chúng tôi là bạn thân nhau thuở nhỏ – ông vỗ vai ông Giám Đốc bên cạnh:
 
- Bữa tiệc thành công hôm nay phần lớn là nhờ ông Giám Đốc với ông Quản Lý đây, chúng tôi có món quà mọn gọi là tỏ chút lòng tri ân…
 
Một anh hầu bàn vừa được sai xuống, mang lên 2 chiếc hộp bao giấy bóng và thắt nơ lộng lẫy. Ông khách tiếp tục giới thiệu:
 
- Đây là bức tượng quý tôi mang từ Ấn Độ về… xin mời một người lên trao tặng phẩm…
 
Ông nhón nhìn trong các thực khách đang quay mặt cả về ông, không tiếng động. Im lặng. Ông Giám Đốc và Ba đứng song song. Bận đỏ mặt sung sướng, hãnh diện, ông không chú ý đến ba. Riêng Ba vẫn mang vẻ lãnh đạm cố hữu. Trời ơi, Ba có biết không, một vết chocolat to tướng trên mũi, chỉ có 5 giây để ông Giám Đốc quay đầu và bắt gặp. Tim Ty đập loạn xạ trong lồng ngực. Ty quan sát thật nhanh, có lẽ thực khách ai cũng nhìn thấy cả. Các bà chỉ cắn môi cười mỉm, các ông thì xoa tay lên mũi, chừng như họ cũng sợ có một vết chocolat bất ngờ như vậy. Còn các anh hầu bàn chung với Ba thì sao? Khuôn mặt họ mới nhăn nhó, kỳ cục làm sao. Hình như mấy người đầu bị đẩy lên nói với Ba, nhưng chỉ bước mấy bước họ lại đứng im, muốn đến Ba họ phải trình diện trước bao nhiêu là cặp mắt, không khéo cả ban tiếp tân trở thành một trò cười cho người ngoài. Chắc họ lại đang trách nhau sao chẳng ai để ý khuôn mặt Ba cả, mắc bận sớt đồ ăn mà, mắc bận nghe người khách này đòi rượu, người khách kia đòi chén mà. Ty ơi, Ty phải quyết định đi. Tiếng thím Hai giục sau lưng:
 
- Ty trao quà thì vừa quá, lên đi Ty.
 
Tiếng ông khách lại vang lên lần nữa:
 
- Xin mời…
 
Ông nhìn quanh, lần nầy một cô bé rất xinh mặc đầm trắng đĩnh đạc đi ra từ sau khung màn vàng, vừa bắt gặp, ông hài lòng vô cùng. Phải thế chứ. Dáng chừng cô bé cảm động lắm mà gói quà trong tay cô bé rung rung. Cái thứ nhất trao cho ông Giám Đốc, tiếng vỗ tay vang rộn cả căn phòng. Hộp thứ hai trao cho ông Quản Lý, tội nghiệp chưa, cô bé cảm động như không đi nổi nữa nhưng hấp tấp hơn lần trước, cô bé tiến rất nhanh đến ông Quản Lý. Chiếc hộp vừa cầm trên tay, ông Quản Lý đã cúi vội xuống, 2 cái, 2 cái bên má cô bé theo kiểu Tây Phương chính hiệu. Cô bé và ông Quản Lý – đúng hơn là hai bố con vừa hôn nhau đậm đà giữa cái im lặng xúc động của cử tọa. Có một chiếc đũa thần xóa rất nhanh, rất sạch vết chocolat hoen ố trên mũi ông Quản Lý và trả lại một khuôn mặt toàn vẹn nét uy nghi. Chiếc đũa thần ở chiếc khăn tay cô bé nằm lẫn trong gói quà, trong lòng tay. Tiếng vỗ tay lại dồn dập, đều hết cả phòng, như có sự hân hoan phụ họa của các anh hầu bàn, một cách nhiệt thành và đắc thắng.
 
Cô bé mặc đầm trắng lùi ra xa. Dưới chùm đèn treo trăm ngọn, 3 người lớn xiết chặt tay nhau vui vẻ, thân ái, đoàn kết. Ở chỗ ít ánh sáng nhất, cô bé đang nhẹ nhàng giơ khăn tay chùi nhanh những giọt lệ vui mừng đọng ở rèm mi mà… hình như… có một vết chocolat mờ, rất mờ, mà cô bé không hay, còn vương trên má phải.
 
 
Linh Hương   
 

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 229, số đặc biệt Giáng Sinh, ra ngày 1-12-1974)

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

Phỏng Vấn Ông Già Noël

 

Hình ảnh một ông già râu bạc với nụ cười rạng rỡ bất tuyệt, áo đỏ viền lông trắng, chân đi bốt cao và, trên lưng, luôn luôn chĩu nặng một túi đồ chơi… đã hầu như không thể thiếu trong mùa Giáng Sinh… Đó là Ông Già Noël.
 
Vâng! Ông Già Noël, Ông là ai?
 
Chúng tôi xin phép Tạp chí THỜI NAY đăng lại bài phỏng vấn kỳ lạ dưới đây của tác giả THU HẰNG để độc giả TUỔI HOA hiểu rõ hơn về nhân vật nửa tiên nửa tục này, hàng năm vẫn trung thành mang nguồn vui và niềm hy vọng đến cho hàng triệu trái tim hồng khắp thế giới…
 
 
- Ông là ai, từ đâu đến?
 
- Khó mà nói cho rõ ràng được. Bởi vì ông ở trong cổ tích và chuyện xưa. Ngay nhiều nhà học giả cũng nhầm lẫn bộ tịch của ông. Có người bảo ông là con cháu của một họ thiêng dòng Gô-loa. Có người lại bảo ông là thần khổng lồ Gar-gan thời trung cổ mà văn hào Pháp Rabelais đã phóng đại và bóp méo thành nhân vật Gargantua
 
Ông tin rằng trong người ông còn trộn lẫn những nhân vật ca dao và là một phúc thần có dính dáng rất nhiều đến thần thoại thánh Nicolas. Chính ở miền Bắc nước Pháp và miệt Trung Âu, người ta vẫn gọi ông bằng tên ông thánh ấy.
 
- Nhưng làm thế nào ông đi từ chuyện thần thoại sang chuyện có thật được?
 
- Chuyện kể cũng hơi ly kỳ thật đấy. Cách đây 70 năm, ông vẫn còn trong các giai thoại. Thế rồi tháng chạp đến với những buổi tối dài đăng đẳng, người ta thường kể chuyện ông bên củi thông bốc cháy. Những trẻ con như các con vậy, lấy làm thích thú, cho là chuyện quan trọng. Quên cả lo sợ những bước chân xa vắng vang trên con đường lạnh lẽo đêm khuya hay tiếng chó tru bên cánh rừng hoang. Ông trở thành nguồn hy vọng, và là ánh sáng trong đêm tối chực chờ mang đến những niềm vui. Ông mang lại lễ Giáng Sinh với những cây đèn nến và những vì sao, máng cỏ và cây thông. Ông hứa hẹn một bình minh với những trái cam đỏ ối, những hoa giấy bay xào xạc, và những tiếng reo mừng rỡ. Là người mang thư trong một buổi mai độc nhất ông đem lại sự ngạc nhiên cho các trẻ con dưới ống khói lò sưởi.
 
Bây giờ ông biến thành người thật. Bởi một nghịch thuyết dễ hiểu, người ta càng ít tin ông bao nhiêu thì các ông lại xuất hiện nhiều bấy nhiêu. Khi lòng không thể đem lại niềm vui trên ánh mắt thì chính những món đồ chơi nho nhỏ kia làm cho các con sung sướng. Ông già trong cổ tích đã biến thành một nhân viên quảng cáo. Là một kẻ dẫn đường. Cần gì phải tin khi đã thấy. Nhưng các con không còn cho những món đồ chơi mà các con thích là một ảo ảnh nữa. Các con không phải đợi những món ấy hiện ra trong xứ thần tiên, mà trái lại các con có quyền lựa chọn tự do trước mặt.
 
- Từ đâu nảy sanh ra cái ý nghĩ công khai ấy?
 
- Chính ở Anh người ta dùng ông già Noel bằng da bằng thịt. Ban đầu có thể vì mục đích quảng cáo nhưng người ta không thể nào bôi nhọ nhiệm vụ thiêng liêng của ông.
 
- Thế ông đại diện cho cái gì và vai trò ông như thế nào?
 
- Một vai trò, à! Vai trò của ông không thể nào rời khỏi ý niệm Noel được. Nhưng cái lễ này được xem như là ngày phát đồ chơi cho các con. Trong nhiệm vụ mới này ông biến thành người tục. Nhưng ông cải trang như thế có lẽ hay hơn. Ông là người biến mộng thành thực, nhưng chỉ là một kẻ tháp tùng theo buổi lễ, để làm cho các em vui. Vì thế ông phải khôi hài, làm những trò kỳ cục. Càng ngày đồ chơi càng có vẻ khoa học nên lòng dễ tin của các con bớt lần, và chỉ những em bé nhỏ mới tin các ông mà thôi.
 
- Ông vừa nói đến chuyện cải trang…
 
- Các con hiện thấy ông mặc áo đỏ đầu chụp mũ vải viền lông chồn… Đó là sai. Ông già Noel phải mặc đồ trắng, mũ trắng. Ở miền Provence (Pháp) còn giữ lệ cổ nên già Noel mặc trắng như tuyết. Đồ đỏ chỉ dành cho già Tháng Giêng thôi. Thỉnh thoảng các con thấy ông mang ủng bện bằng rơm. Đó chẳng qua để cho khỏi dơ áo dài khi mang những đồ chơi quăng vào lò sưởi. Các con nghĩ xem, ông thuê cái áo dài này 2.000 quan mỗi ngày. Các con cũng nên biết rằng lễ Noel, tưởng niệm ngày giáng sinh của Chúa Cứu Thế, chỉ cử hành vào ngày 25 tháng Chạp từ một ngàn sáu trăm ba mươi năm nay. Chính Đức Giáo Hoàng Jules I, năm 336, đã định ra ngày đó để tránh những buổi lễ của bọn tà giáo đặt vào tiết đông chí. Hãy tưởng tượng một ông già hơn 1.600 tuổi mà không râu thì thấy thế nào! Tuy nhiên râu của ông ngoài ra còn là dấu hiệu để chứng tỏ rằng đó là một người giàu kinh nghiệm, độ lượng, khôn ngoan và quảng đại.
 
- Công việc của ông gồm có những gì?
 
- Thay đổi tùy theo chỗ. Dọc đường ông có thể là người bạn hướng dẫn các con chụp hình. Trong các cửa hàng ông có thể là một nhân viên bưu điện để chuyển một bức thư xuyên hành tinh, là một người có đủ sức thực hiện ý muốn các con. Và bao nhiêu chuyện khác!
 
- Trẻ con bây giờ có khác trẻ con trước kia không?
 
- Có chứ! Bây giờ từ nhỏ chúng đã muốn làm người lớn, làm những công việc như người lớn. Đồ chơi càng ngày càng mất vẻ đồ chơi và biến thành đồ dùng. Xe lửa điện với đầy đủ tiện nghi, xe hơi toàn hảo, búp bê chỉ còn thiếu bộ óc nữa thôi, dụng cụ y tá, những món đồ gỗ xinh xắn y như thật… Hồi xưa đồ chơi làm sao bằng của các con bây giờ!
 
- Đồ chơi khoa học có làm mất vẻ thiêng liêng không?
 
- Người ta không thể chối bỏ tài bắt chước của trẻ con. Nhưng ông thấy những cậu mà cha mẹ làm nghề may vá, vẫn còn thích lượm vải vụn và ống chỉ để chơi.
 
- Ông nhận thấy nơi bọn bạn tí xíu của ông có những đặc tính gì?
 
- Trước hết, tự nhiên. Cũng không vòi vĩnh cho lắm.
 
- Hạng nào ông không ưa?
 
- Những hạng chỉ muốn xem ông già Noel là một kẻ bị phàm tục hóa, những hạng chỉ chực bóp nghẹt trí tưởng tượng của trẻ con, giết hại hy vọng và lý tưởng của chúng.
 
- Thế giới tân tiến ngày nay có còn thích hợp với ông già Noel nữa không?
 
- Sự thật hình như không. Không phải ông chỉ nghĩ rằng mấy kiến trúc sư đã cất nhà không ống khói, mỗi thời đại có mỗi ông già Noel riêng. Sự thật, điều mà ông tượng trưng rất có ích. Vả lại lòng từ thiện chưa dứt hẳn trong chúng ta.
 
- Người ta thường đặt ông câu hỏi nào nhiều nhất?
 
- Những trẻ con thích muốn biết tìm đồ chơi ở đâu, làm cách nào để có. Nhưng câu hỏi mà ông nghe nhiều nhất, và khốn khổ thay, ông không thể trả lời được là: “khi nào chúng tôi tìm được căn nhà cho thuê?”.
 
- Những gì khiến ông xúc động nhất?
 
- Nụ cười sung sướng của đứa bé nghĩ đến giấc mộng của mình và nụ cười buồn bã khi đứa bé mộng đến giấc mộng của mình!
 
- Ông thích làm việc ở chỗ nào?
 
- Bên cạnh cây Noel, bởi vì cây này đẹp và quí phái, không thể vắng mặt trong buổi lễ Giáng sinh. Các con nên biết rằng chính công chúa Hélène de Mekleurbourg, nữ quận công Orléans, đã bày ra cây Noel ở Ba lê năm 1840, nó vốn là cổ tục có từ lâu bên Đức. Tuy nhiên nó chỉ được phổ thông từ đệ II Đế chế, do nữ hoàng Eugénie. Một cây thông dù lớn dù nhỏ, nếu gắn đèn và hoa giấy, tự nhiên thấy vui mắt và khiến cho lòng thấy rộn rã…
 
- Cái gì dễ nhất đối với ông?
 
- Phát hiện niềm vui bất cứ lúc nào.
 
- Cái gì khó nhất?
 
- Dưới lớp cải trang, ông không thể thực hiện điều mình muốn cho mình như mình đã muốn cho người khác.
 
- Ông nghĩ sao khi hoàn thành sứ mạng?
 
- Nghĩ đến sự trái nghịch giữa hai cuộc sống.
 
- Trong “đời tư” ông làm gì?
 
- Công chức. Nhưng cũng có thể là thợ thuyền, săn bắn, hay “bảy nghề” như nhiều ông khác!
 
- Ông nhận thấy địa vị hiện thời ra sao?
 
- Như đi nghỉ mát vậy thôi. Trong một tháng làm ông già Noel, trẻ con nghĩ đến ông 24 ngày. Chúng chờ ông suốt một đêm, và 11 tháng sau đó chúng quên ông. Thời gian làm phúc thần rất là ngắn ngủi.
 
- Ông vẫn thường đọc sách chứ? Loại nào?
 
- Dĩ nhiên loại truyện Noel và nhiều loại sách khác. Nhiều khi ông cũng buồn khi thấy sách trẻ con càng ngày càng hiếm. Càng buồn hơn nữa khi thấy một số người lợi dụng nhu cầu trẻ con làm giàu túi tiền rồi còn đầu độc chúng nữa.
 
- Ông đọc cho các con nghe một câu thơ mà ông thích nhất đi!
 
- Hầu hết các câu thơ trong Thánh kinh ông đều thích.
 
- Những tiếng nào làm thâm tâm ông xúc động?
 
- Tự nhiên – Thật thà – Hăng hái – Giản dị.
 
- Ở đâu ông cảm thấy dễ chịu hơn hết?
 
- Bên cạnh những đứa bé còn tin Ông Già Noel.
 
- Và cảm thấy bối rối?
 
- Bên những tiếng cười chế nhạo của những kẻ tưởng rằng mình không còn dễ tin nữa.
 
- Ông yêu loài vật không?
 
- Lắm lắm. Thánh François d’Assise vẫn hằng khuyên chúng ta điều ấy.
 
- Hiện giờ ông ao ước điều chi?
 
- Hòa bình bao trùm khắp nhân loại và không có nạn chủng tộc phân chia.
 
 
THU HẰNG
 
(Trích Thời Nay số 54)
 
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 215, ra ngày 15-12-1973)

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

Thánh Phúc














Trong nỗi vui êm ả
Em đón chờ ngày qua
Sắp sẵn từng lời nguyện
Cho ước mơ nuột nà.
 
Chuông reo lời thánh thiện
Chúa nhật vọng đầu tiên
Lòng chừng như mở rộng
Đón ngày vui mau đến.
 
Quì nguyện bên hang lừa
Tượng trưng nơi khi xưa
Ngài sinh trên nệm cỏ
Ấm nồng trong hơi thở.
 
Chói hồng lên niềm mơ
Rạng rỡ nguồn ân phúc
Hồn im giấc ngà say
Giữa muôn vàn thánh khúc.
  
                                    H. NGÂU
 
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 215, ra ngày 15-12-1973)

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013

Đại Giáo Đường Thánh PHÊ-RÔ



Đây không phải là một công trình kiến trúc vô tri
 mà là một sinh vật biến đổi từng ngày.
Nhân mùa Giáng Sinh, mời bạn thăm viếng
ngôi Thánh đường đồ sộ nhất của Giáo hội La-Mã.

Mời bạn hãy cùng tôi bước vào công trường tráng lệ nhất của La Mã, rảo chân trong sự ôm ấp của hai hàng cột cao vút, cảm thấy tươi mát bởi những bụi nước bắn ra từ hai vòi phun đồ sộ giữa công trường với cột nước vọt lên trắng xóa dưới ánh nắng mặt trời. Bạn hãy bước lên hàng bậc cấp, vượt qua những dãy cột để đi vào Hoàng đường của tòa Thánh Phê-rô. Rất có thể bạn sẽ dừng lại giây lát, bực mình không đâu, để rồi thầm nghĩ:

“Quái lạ, sao lớn đến thế nhỉ!”

Và bạn lại tiếp tục rảo bước.

Những thiên thần kia với vẻ mặt tươi vui, tay nâng hồ nước thánh trông thật bé nhỏ làm sao – đến gần, bạn mới nhận ra rằng những thiên thần ấy còn cao lớn hơn chính bạn. Phía xa, hình chạm con chim bồ câu cũng đã lớn bằng con gà tây. Pho tượng vị thánh kia cao hơn gấp ba bề cao của bạn. Quản bút bằng lông chim nọ trong tay thánh Mathew dài gần 1,8m.

Phải, sự thật đúng như vậy : mọi vật ở nơi đây quả là đồ sộ mà ảo giác đã khiến bạn nghĩ sai lạc.

Thánh đường Thánh Phê-rô xứng đáng là ngôi thánh đường Thiên Chúa giáo lớn nhất hoàn cầu. Bởi bề dài ngót 200m trên một diện tích 40.000m2, đại giáo đường Thánh Phê-rô chứa đựng 499 cột lớn cộng thêm 439 bức tượng khổng lồ và hơn 40 bàn thờ riêng biệt kể cả bàn thờ chính, nơi thường chỉ riêng Đức Giáo Hoàng chủ lễ Mi-sa.


 Thánh đường Phê-rô có tất cả 10 mái vòm nằm rải rác quanh mái vòm chính trông tựa một vật bóng bằng đá khổng lồ dường như nổi lơ lửng trên những đám mây. Ngọn cây thánh giá vươn cao lấp lánh, cao bằng tòa nhà 35 tầng. Tháp thánh giá này là công trình vĩ đại cuối cùng của Michelange có một vẻ gì thanh thoát nhẹ nhàng. Nhưng các nhà toán học đã phỏng đoán trọng lượng của cây thánh giá này lên tới 55.000 tấn.

Công cuộc xây cất xúc tiến liên tục suốt 120 năm dưới đời 20 vị giáo hoàng do một số thiên tài vĩ đại của Ý-đại-lợi như Bramante, Michelange, Maderno, Bernini. Chưa một thánh đường nào được xây cất tốn kém bằng thánh đường Thánh Phê-rô, với phí tổn ước lượng 300 triệu mỹ kim, nghĩa là gần 16 lần chi phí xây cất thánh đường Saint Paul (thánh đường này tọa lạc tại Luân Đôn, được coi là lớn thứ nhì với bề dài khoảng 150 mét).

Cũng chưa từng có một giáo đường nào hấp dẫn được nhiều người đến viếng thăm bằng giáo đường Thánh Phê-rô với ít nhất 10 triệu người mỗi năm. Đối với tín đồ Công Giáo La-Mã, nhà thờ Thánh Phê-rô quả là thanh nam châm có từ lực mạnh nhất. Dĩ nhiên không phải chỉ có tín đồ Công giáo mới đến chiêm ngưỡng Thánh đường này. Du khách dù chỉ ở La-Mã vài tiếng đồng hồ cũng cố dành thì giờ để được tận mắt thưởng thức 2 kỳ quan : hí trường lộ thiên Colosseum và Thánh đường Thánh Phê-rô.

Tiếng vang của ngôi Thánh đường cổ kính này mãi mãi chẳng bao giờ bị dập tắt. Nhóm Sampietrini, do kỹ sư kiêm kiến trúc sư Jhancesco Vacchini cầm đầu, giữ nhiệm vụ tu sửa Thánh đường. Hoạt động suốt gần 400 năm nay với đường hướng cha truyền con nối, Sampietrini dường như chẳng bao giờ rảnh rỗi. Theo Vacchini, Thánh đường Thánh Phê-rô không phải là một vật chết như hí trường Colosseum mà là 1 sinh vật biến đổi từng ngày. Sửa xong một cánh cửa cổ xưa bằng gỗ rồi, các nhân viên lại quay sang đắp vá một pho tượng Thánh, rồi rời chỗ những mảnh đá cẩm thạch trên nền nhà hay thay những dây điện mới hoặc những ổ khóa mới…

Bây giờ bạn hãy cùng tôi theo chân một số tín đồ Công giáo vào sâu trong Thánh đường. Bạn sẽ dừng lại nghiêm trang trước Pietà (1), một tác phẩm điêu khắc vĩ đại của Michelange.

Tiếp tục viếng thăm chúng ta sẽ dừng lại quanh tượng Thánh Phê-rô đúc bằng đồng đen. Trong nhiều thế kỷ trước, các tín đồ Công giáo sùng đạo đã hôn lén bàn chân phải của Ngài đến nỗi ngày nay bàn chân này đã mòn mất một nửa. Hiện nay, chẳng còn ai cúi xuống hôn chân Ngài nữa. Được hỏi về lý do, một nhân viên cười và bảo rằng : “Vi trùng. Giữa thời đại nguyên tử này, người ta cho rằng hôn như vậy là mất vệ sinh”.

Rồi đến bàn thờ chính với một bức mành bằng đồng đen che kín, nơi đây mọi người cùng quỳ xuống cầu nguyện:

“Xin thánh Peter phù hộ cho chúng con được bình an dưới thế.”

Cách bàn thờ chính 24m, sừng sững 4 thân cột vĩ đại đỡ mái vòm chính của Thánh đường. Chu vi mỗi thân cột đo được khoảng 70m, mà 48 người nắm tay nhau bọc quanh mới khít thân cột.

Một trong 4 thân cột này ẩn giấu bên trong 3 di tích cuối cùng của Thánh Phê-rô. Người ta bảo rằng vật thứ nhất là gỗ của Thập tự giá, vật thứ hai là mảnh vải lau mồ hôi trên khuôn mặt Chúa Jesus và vật thứ ba là đầu ngọn giáo đã xuyên hông Chúa Jesus khi Ngài bị đóng đinh trên Thập tự giá. Thánh tích thứ tư là thủ cấp của Thánh Andrew đã được Đức Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ Lục đem về Hy Lạp năm 1965.

Leo lên hàng trăm bậc cấp dưới mái vòm, bạn sẽ được nhìn thành phố Vatican, quốc gia “thủ đô” của Thiên Chúa giáo.

Giờ đóng cửa đã đến. Những du khách cuối cùng rời bước khỏi Thánh đường Thánh. Những cánh cửa song sắt khép lại phía sau. Bạn, tôi và nhiều du khách quay trở lại nhìn bóng ngôi giáo đường in trên nền trời luyến tiếc.

Hẳn mọi người sẽ thầm nghĩ : “Ngày nay còn ai xây nổi một ngôi Thánh đường như thế?”


PHẤT MỤC NHÂN NGHỊ
& ÁNH MINH          

 _________
 (1) Công trình điêu khắc tuyệt mỹ này, tạc Đức Mẹ Maria bế đứa con trai của bà, đã bị hư hại hồi tháng 5 năm 1973 khi một người quá khích dùng búa đập phá.


(Trích từ Tạp chí Tuổi Hoa số 229, số đặc biệt Giáng Sinh, ra ngày 1-12-1974)



Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Lễ Giáng Sinh Của Anh Nhà Giầu Hổ Thẹn

 
LTS. MARIE NOEL là một nữ tu sĩ người Pháp, sinh năm 1883. Bà được kể là nhà thơ, nhà văn lớn của nước Pháp thế kỷ này, nhưng đặc biệt nổi tiếng trong giới độc giả Công giáo vì thơ truyện của bà – nhất là truyện – đã chuyên chở Giáo lý và tinh thần Phúc âm Công giáo một cách thật khéo léo, tài tình. Những đề tài trong Kinh Thánh, dưới ngòi bút tài hoa của Marie Noel, đã biến thành những truyện ngắn đẹp như truyện cổ tích, thơ mộng và hấp dẫn lạ lùng.
 
Marie Noel đã qua đời trong an bình tại tu viện Ste. Etienne vào đúng mùa Giáng Sinh năm 1967, hưởng thọ 84 tuổi.
 
Truyện Giáng Sinh dưới đây được Marie Noel viết trong những năm cuối của đời bà, cảm hứng từ câu truyện anh em nhà Giô-sép trong Sáng Thế Ký. Và Tòa Soạn xin được gửi lời cám ơn Bác sĩ VƯƠNG NGỌC LÂM đã có nhã ý diễn dịch dành riêng cho Tuổi Hoa.
 
T.H.
 

“Thế rồi các em hắn đem lòng thù ghét hắn”
(Sách Sáng Thế, XXXVII-4)

 
Lễ Giáng Sinh năm ấy, cũng như mọi năm, mẹ già Ra-Sen sửa soạn dắt các con trai đi viếng Máng Cỏ.
 
Bà đi gọi Xi-Mông đang làm ruộng, La-da-Rê, anh chàng thợ rèn và An-Rê, thằng con út còn cắp sách đến trường. Xi-Mông, La-da-Rê và An-Rê là ba người con trai trẻ nhất của mẹ Ra-Sen, những người con được bà cưng nhất vì bà đã sanh chúng ra trong tuổi già.
 
Bà ta còn một người con trai nữa, tên là Giu-Se. Người con đầu lòng ấy cũng đã có tuổi cho nên đi đứng không còn vững vàng và mắt không còn nhìn tỏ nữa. Giu-Se quả là người cần cù, đã làm việc rất nhiều và biết tiện tặn đến mức tối đa cho nên ngày nay gã khá giàu. Chính gã đã bỏ tiền ra, thứ tiền do mồ hôi nước mắt mà gã kiếm được, để xây đắp lại và chăm sóc ngôi nhà của cả gia đình và góp công với mẹ nuôi nấng các em.
 
Do đó, các em của Giu-Se đem lòng ganh ghét khi thấy gã thừa phương tiện làm đẹp lòng chúng trong khi chúng không sao qua mặt được gã và cho rằng đấy là một điều bất công. Chúng tìm cách xa lánh anh cả, và nếu có dịp gặp Giu-Se ngoài đường, thế nào một trong ba người cũng vội vàng cười khỉnh và lớn tiếng mỉa mai : “A ha, ngài Trưởng Giả của chúng ta đến kia…”.
 
Còn Giu-Se, gã một mực sống khiêm nhượng, lặng lẽ trong căn nhà gã mà không dám dùng đến những số tiền lớn lao, tựa như một anh chàng hơi xấu hổ vì không biết xoay sở làm sao để được tha thứ mối thù hiềm của bà con thân thích.
 
Nhưng hôm trước lễ Giáng Sinh năm ấy, không hiểu sao mẹ Ra-Sen lại đến gõ cửa nhà Giu-Se.
 
- “Này Giu-Se – bà ta thản nhiên nói – tí nữa ta và các con ta sẽ đi kính bái Hài-Đồng Giê-Su. Đường đi đến Giê-ru-sa-lem thì xa quá, mà ta lại không đủ lương thực. Anh, anh có thừa phần ăn. Hãy liệu làm sao giúp mẹ con ta đủ dùng lúc đi đường”.
 
- “Xin để con lo liệu, mẹ ạ! Giu-Se niềm nở đáp. Cái gì của con cũng là của mẹ cả. Con xin đưa mẹ các chìa khóa của con : đây là chìa khóa vựa lúa, đây là chìa khóa hầm thực phẩm, và đây là chìa khóa hầm rượu. Xin mẹ cứ lấy cho đủ đồ dùng và nhiều hơn nữa thì càng tốt. Con muốn rằng các em con không thể thiếu thốn bất cứ một thứ gì trong cuộc hành hương đại lễ này.”.
 
Mẹ Ra-Sen chọn lựa đầy đủ thực phẩm rồi ra đi. Chẳng mấy chốc, bà trở lại chép miệng:
 
- “Áo choàng của Xi-Mông bị thủng lung tung. Mẹ e rằng em nó sẽ bị cảm khi đi đường mất. Mẹ biết anh có nhiều áo choàng lắm. Vậy anh hãy cho em nó một chiếc đi”.
 
- “Dạ, xin mẹ cứ tự nhiên. Mẹ cứ lấy áo choàng chủ nhật của con cho em nó dùng. Quả là một diễm phúc lớn lao cho chiếc áo choàng của con khi được khoác lên vai em con để đến Bê-Lem”.
 
Mẹ Ra-Sen nhận chiếc áo ra đi, xong lại đến gõ cửa lần nữa:
 
- “Này Giu-Se, đế giày của em La-da-Rê bị há miệng hết rồi. Chắc những chiếc giày đó không thể dùng để đi hết quãng đường dài được. Anh, anh có nhiều đôi để thay đổi, vậy anh hãy cho mẹ một đôi để mẹ cho em nó dùng. Em anh còn trẻ, và khỏe mạnh hơn anh, chắc nó sẽ nhận ngay mà chẳng để ý gì đâu”.
 
- “Được lắm, mẹ Ra-Sen ạ! Xin mẹ cứ đem đôi giày của con về đi. Thật là một hạnh phúc vĩ đại cho đôi giày của con khi được lót đôi chân em con để đến Bê-Lem”.
 
Lấy giày xong, mẹ Ra-Sen chào con, và những bước chân của bà bắt đầu vang lên ngoài sân.
 
Giu-Se bẽn lẽn ra đứng ở ngưỡng cửa. Gã ngập ngừng hỏi mẹ:
 
- “Mẹ Ra-Sen, mẹ không cho con đi viếng Chúa Hài-Đồng cùng với mẹ và các em con sao?”
 
Trước câu hỏi của anh cả, mấy người em đua nhau phản đối và nhất loạt phẫn nộ:
 
- “Chúa Giê-Su không cần kẻ giàu đâu… Chúa Giê-Su không xuống thế vì kẻ giàu… Chính Chúa đã nguyền rủa bọn nhà giàu mà!”.
 
Mẹ Ra-Sen lạnh lùng nói thêm:
 
- “Ngoài ra, anh đã quá già, làm sao mà theo chúng tôi cho kịp! Anh đi đứng khập khiễng, chắc chẳng tiến được bước nào. E rằng anh chỉ làm chúng tôi chậm trễ mất thôi!”
 
Giu-Se buồn rầu rút nhanh chiếc nhẫn vàng ở ngón tay và chìa cho An-Rê.
 
- “Này An-Rê, vì chú còn nhỏ, chú hãy cầm lấy chiếc nhẫn của anh. Để đến Bê-Lem chú làm quà dâng Chúa Hài-Đồng!”
 
- “Không đâu! An-Rê lắc đầu nguýt dài. Tôi nghèo, tôi chỉ đem dâng Chúa Giê-Su những món quà của kẻ nghèo, những thứ mà Người ưa thích nhất! Vàng của anh không nghĩa lý gì đối với Người!”.
 
- “Đúng vậy! Giu-Se cúi đầu khiêm nhượng nói. Thôi chú hãy giữ chiếc nhẫn đó cho chú vậy. Và khi đến Bê-Lem, chú dâng giùm trái tim của anh cho Chúa Ki-Tô để cúi xin Người tha tội cho anh”.
 
- “Trái tim của anh ấy!... Anh ấy cũng có trái tim!… Trưởng Giả mà cũng có trái tim!... Ô hô, hách thật!”.
 
Cả ba người em cùng phá lên cười.
 
Và anh nhà giàu buồn bã cúi đầu vì đã bị hất hủi ra khỏi ơn Giáng Sinh.
 
- “Thôi, chúng ta đi hè”, mẹ Ra-Sen thúc giục. Rồi bà hớn hở rảo bước cùng với các con trai, tất cả các con trai của bà, ngoại trừ người con đầu lòng.
 
Khi mẹ Ra-Sen cùng các con đến Bê-Lem, có thể nói là lúc đó chuồng bò trỗi hội tưng bừng. Mẹ Maria và mẹ Ra-Sen lòng vui mặt mừng khi gặp lại nhau! Họ quen nhau từ lâu lắm. Và, năm nào cũng như năm nào, mẹ Ra-Sen lại vượt cùng quãng đường dài ấy để đến sùng bái và chúc tụng Hài- Đồng của Mẹ Maria, và Mẹ Maria lại thân mật hỏi han các con trai của mẹ Ra-Sen.


“Các cháu có mặt tất cả đây!”, mẹ già Ra-Sen hớn hở khoe với Maria. Đứa cầm liềm là Xi-Mông; đứa cầm búa là La-da-Rê thợ rèn, còn thằng cầm quyển sách là An-Rê đó. Bà có thấy chúng trẻ trung, khỏe mạnh và tràn đầy dũng cảm không? A ha, chắc chắn chúng ta sẽ làm nên chuyện với ba thằng con trai đó!”.
 
- Hình như thiếu một người? Mẹ Maria nhíu mày hỏi.
 
- Không thiếu ai cả! An-Rê nhanh nhẩu đáp.
 
- Thiếu anh Trưởng Giả, La-da-Rê lớn tiếng mỉa mai.
 
- Dạ, đó là Giu-Se! Xi-Mông lạnh lùng cắt nghĩa.
 
- Ta không biết ai là Trưởng Giả hết! Mẹ Maria lắc đầu. Ta chỉ biết Giu-Se thôi. Từ trên chốn trời cao, ta chỉ biết loài người bằng tên thật của họ mà thôi. Nhưng tại sao Giu-Se lại không đến? Hắn không phải là người thiện tâm sao?
 
- Hắn là kẻ giàu có mà! Xi-Mông cãi lại.
 
- Hắn là một chủ nhân ông! La-da-Rê nói theo.
 
- Và CON của bà đã nói :”Khốn cho những kẻ giàu có!”, An-Rê vênh mặt tuyên bố.
 
Bây giờ mẹ Ra-Sen mới lên tiếng phân trần:
 
- “Chân của Giu-Se đã bắt đầu cứng đờ rồi bà ạ. Chắc nó không theo kịp chúng tôi đâu. Mà tôi thì không muốn đến trễ!”.
 
Mẹ Maria lẳng lặng quay lưng đi đến Máng Cỏ bồng con dậy. Bà khẽ nói :”Hỡi chiếc mồm bé nhỏ! Cho đến bây giờ con chỉ đã nói với toàn là kẻ điếc, và ta sợ rằng về sau con sẽ còn nói với những kẻ điếc nữa mà thôi!”.
 
Thế rồi, giống như mọi khi, Mẹ Maria đặt Hài-Đồng Giê-Su ngồi lên đùi để Người đón nhận những lời sùng bái cùng lễ vật.
 
Mẹ Ra-Sen nhắc các con : “Các con đến bái Người đi!”.
 
Cả ba người con trai cùng cúi đầu quì xuống đất. Xi-Mông nói trước : “Lạy Chúa Giê-Su, con xin kính bái Chúa. Ngài là Thiên Chúa của kẻ nghèo! Con là kẻ nghèo mà Ngài ưa thích và con xin hiến dâng Chúa, cùng với chiếc liềm này, tất cả nhọc nhằn suốt bốn mùa của con”.
 
Hài-Đồng Giê-Su chỉ nhìn mà chẳng mỉm cười.
 
“Con ta không thích liềm đâu – Mẹ Maria lắc đầu nói. Hãy cho Người chiếc áo choàng đi”.
 
Rồi La-da-Rê bắt đầu nói : “Lạy Chúa, con xin kính bái Chúa! Con xin kính bái Chúa Ki-Tô thợ! Con cũng là thợ như Chúa và xin dâng Chúa, cùng với cái búa này, sự mệt nhọc suốt tuần của con”.
 
Chúa Hài-Đồng chỉ lắng nghe mà không mỉm cười.
 
“Con ta không thích cái búa này đâu! Mẹ Maria lại lắc đầu. Hãy dâng Người đôi giày kia thì hơn!”.
 
Cuối cùng đến lượt An-Rê bày tỏ cùng Chúa:
 
- “Lạy Chúa, con xin kính bái Chúa! Lạy Thiên Chúa của kỷ nguyên mới! Con sẽ nhân danh Chúa đi hủy diệt xã hội bất công để giành chỗ cho nước Chúa trị vì và con xin dâng Chúa, cùng với quyển sách này, cơn giận dữ ghê hồn những đêm dài vô tận của con”.
 
Nhưng lần này Hài-Đồng Giê-Su chỉ lẳng lặng ngoảnh mặt đi.
 
“Con ta sợ quyển sách đó, Mẹ Maria cúi đầu nói khẽ. Hãy cho Người chiếc nhẫn thì hơn”.
 
Thế rồi, Xi-Mông, La-da-Rê và An-Rê cùng đứng dậy. Và trong chuồng bò, dưới chân Hài-Đồng Giê-Su, chiếc áo choàng, đôi giày mới, chiếc nhẫn vàng lóe lên một nguồn sáng chói lọi. Hài-Đồng Giê-Su vừa sung sướng mỉm cười vừa với tay đến nguồn sáng ấy tựa như một chú bé ham thích ánh sáng diễm tuyệt của ngọn lửa.
 
Mẹ Maria nhẹ nhàng nói:
 
“Cám ơn bà lắm, mẹ Ra-Sen ạ, và ta cũng cám ơn các con bà đã đem cho con ta những lễ vật tràn đầy tình thương như thế này. Vì thật ra, chỉ nội trong một thứ quần áo ngày chủ nhật kia, chỉ một món thôi, con ta đã bắt gặp biết bao nhiêu là tình thương, nhiều tình thương hơn là trong mồ hôi của suốt một đời người vì thứ mồ hôi ấy đã hòa lẫn với mật đắng”.
 
“Thôi chào Xi-Mông, La-da-Rê và An-Rê. Hãy nhớ kỹ cho : sự nghèo khó còn có ích chi với anh nhà nghèo khi hắn ta đánh mất đi tình thương? Thôi, hẹn mẹ Ra-Sen đến sang năm vậy. Bà hãy trở về và nói giùm với Giu-Sê rằng:
 
“Kẻ được chúc phúc ở Máng Cỏ, chính là kẻ không đến được vậy”.
 
 
Marie Noel           
(Huế, Mùa Giáng Trần 1974
VƯƠNG NGỌC LÂM dịch)

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 229, số đặc biệt Giáng Sinh, ra ngày 1-12-1974) 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>