Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Hữu Nghiêm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Hữu Nghiêm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020

Trường Cũ

 

 Em về quê ngoại lúc trưa. Quê hương vẫn đẹp và nên thơ với hàng dừa soi bóng bên dòng sông. Dòng sông nhỏ chảy len lỏi theo những ruộng lúa xanh rờn và thôn xóm xa xôi với lũy tre xanh soi bóng lững lờ.

Em nghe náo nức vô cùng, mong cho mau đến căn nhà thân yêu với vòng tay trìu mến của ngoại. Bến đò không thay đổi lắm, cây đa to còn bên quán nước. Em bước lên một chiếc thuyền tam bản nhỏ. Thuyền rời bến, theo lượn sóng. Nước sông xanh với sóng lăn tăn vỗ vào mạn thuyền. Một vài đám lục bình xinh xinh trôi lờ lững, bông lục bình tim tím thật đẹp. Trí óc non nớt của em vẫn tự hỏi lục bình không có đất sao, mà lại trôi lênh đênh mãi...

Chuyến đò ngang đi chầm chậm. Em cho rằng dòng sông là hình ảnh của quê hương thiết tha nhất luyến nhớ người xa xứ khôn nguôi. Những buổi chiều nhạt nắng, sóng yên em ngồi nhìn cảnh quê in rõ trên dòng nước trong. Thỉnh thoảng vài lượn sóng làm nhạt nhòa hình ảnh, nhưng sau đó nó lại xuất hiện. Bức tranh quê hương dưới bóng nước này thật đẹp, thật nên thơ.

Đò cập bến em lại tung tăng bước lên. Nhà ngoại ở xa kia, quanh co trong con đường mòn đất đỏ, trong khu vườn thật nhiều cây trái. Nhà cổ kính, cây cột nhà to tròn, bóng lưỡng. Cái sân đất trước nhà để phơi lúa, nơi mà ngày xưa em chơi đùa với các đứa bạn dễ thương. Gốc nhãn bên hàng rào dâm bụt, ngũ sắc, hoa sói nơi gia đình em ngồi chơi dưới ánh trăng của một ngày rằm. Và còn cả khóm dạ lý hương xinh xắn tung hương ngào ngạt. Em bước vô nhà, ngoại ngồi ăn trầu ở bộ ván gõ kia. Em chạy đến ôm ngoại, vuốt ve những sợi tóc bạc. Ngoại mắng yêu:

- Chó con, làm gì kỳ vậy? Có để ngoại đi dọn cơm không. Tắm rửa thay đồ rồi ăn cơm, chó con.

Lúc còn bé ngoại đặt tên chị em của em bằng những cái tên quê mùa. Chị em là Gái Năm, em tên chó con. Em yêu tên này lắm, nó có vẻ bé bỏng, nũng nịu ghê. . Giờ chỉ có ngoại gọi như vậy thôi. Nghe gọi thế em có cảm tưởng như mình nhỏ bé lắm, trong vòng tay của ngoại.

Bữa cơm ấy thật giản dị, toàn những món mộc mạc của đồng quê. Tuy vậy em ăn vẫn thấy ngon vô cùng. Nước dừa vùng này thật ngọt, lại mềm uống vào hết cả mỏi mệt.

*

Buổi trưa em đi lang thang trong xóm. Trưa thật vắng, tre già kẽo kẹt bên đường. Nắng chiếu những đốm sáng lung linh trên mặt đường. Dừa sai trái uốn mình bên rạch. Tất cả đều đẹp và bình thản như xưa, không khí chiến tranh như cách biệt hẳn. Thôn xóm phơi mình dưới nắng quê, thứ nắng dìu dịu, nắng gợi nhung nhớ xa xăm.

Con đường cỏ may dẫn đến trường thơ ấu của em. Ngôi trường làng lặng lẽ vì nay là ngày lễ. Chung quanh trường là một hàng rào hoa ngũ sắc nhưng bị dây tơ hồng bao phủ. Trông xa như một loại dây leo vàng óng. Em bước lên thềm, bàn ghế vẫn như xưa. Những bộ bàn ghế làm bằng tre đơn sơ nhưng rất đẹp. Hình ảnh trường quê của các thầy đồ chỉ còn lại ở trường này, em hãnh diện như thế.

Trường quê nền bằng đất, cát trong lớp thật mịn, cứ như cát trên bãi biển thôi vì bước chân của bọn học trò làm chúng nát nhuyễn ra. Ngày xưa em hay hốt cát lên trang giấy vừa viết, dùng thay cho giấy thấm, nên có lần bị thầy khẻ tay vì tay bẩn. Em nhớ cô Mười, cô giáo lớp ba của em với những lần học trò làm bài không được, cô nói "Tức muốn độn thổ" rồi ra gốc cây trứng cá sau trường mà khóc. Thầy Năm hay khẻ tay đứa nào ngồi kiểu "ăn chè đậu" trong lớp.
 
Em chậm rãi ra sau trường. Xa xa là ngôi đình cũ nằm trên đồi cao, um tùm. Sân cỏ sau trường rộng, cỏ may xào xạc dưới chân. Mùa mưa đầu mùa, đất bỗng đỏ tươi lên dưới nắng. Sân cỏ này em đã từng xem hát đình với má, đánh vũ cầu với bạn và tập dợt dịp Tất Niên. Má vẫn nhắc hoài ngôi đình thiêng liêng với những ngày hội hè rộn rịp.

Đi thăm lại cây dừa nghiêng bên con rạch em tìm lại những kỷ niệm ấu thơ. Cây dừa này thật đặc biệt, oằn sát xuống mặt nước, vươn dài sang tận bờ bên kia như một cái cầu thiên nhiên. Chỗ ngồi này ngày xưa đã nhiều lần em ngồi đấy. Trưa hè ngồi đọc những bài đồng dao bên gốc dừa này, ăn gương sen và nhìn nước chảy lặng lờ. Em nghe nuối tiếc những ngày thơ ấu, nơi quê hương thân yêu này. Cây dừa đang mùa trái và sen nở khắp nơi. Những hoa sen trắng và hồng nở thanh khiết trên rạch. Hương thơm nhẹ nhàng thoang thoảng. Em với tay hái một gương sen. Sen ngọt bùi như hồi nhỏ. Bên kia con rạch, cau uốn mình trong gió, dừa xào xạc mãi như một bản tình ca quê hương vô tận.

Em trở lại trường bằng đường ngang qua ruộng lúa. Lúa trổ bông, hạt lúa sữa ngọt thơm tho. Ngôi trường thơ ấu của em đứng kia, nhỏ bé với ngói đỏ bên hàng dừa. Dừa cao với những lá thật dài, phất phơ theo gió...


TRẦN HỮU NGHIÊM     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 62, ra ngày 29-10-1972)


Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2020

Vườn Thượng Uyển Ngày Xưa


Chuỗi ngày dài thời còn tiểu học của em thật vui vẻ. Trường học ở giữa cánh đồng rộng mênh mông. Bãi sân cỏ sau trường là nơi nô đùa thỏa thích của bọn học sinh. Bãi cỏ đã chứng kiến những cuộc đánh nhau, tập trận trong hàng cây rậm lá. Sau trường hơi xa có một cái mương nhỏ. Cái mương nước xanh với thật nhiều hoa súng. Những buổi chiều nhạt nắng kết bè nhỏ bằng chuối trôi trên cái mương ở những chỗ tương đối rộng. Có lúc phi thân bằng một thanh tre sang bên kia mương, trượt tay té xuống mương bị rong xanh quấn chặt chân làm em hốt hoảng kêu rối rít.

Tuy thường dự những cuộc đánh nhau với cây lùn xanh mướt làm súng, với đạn mồm nhưng em lại rất thích trồng hoa. Trường tiểu học của em có một khu vườn để cho học sinh trồng. Những sáng mùa đông vào lớp sớm, cùng Sao quét lá bàng đốt lửa sưởi ấm. Hai đứa ngồi nhìn khu vườn lớp mình. Ở quê nhưng ảnh hưởng của rừng bao bọc nên lạnh căm căm, sương mù rất nhiều. Sáng đi học em thu tay trong áo ấm, một tay quơ quơ như người mù tìm đường, vì sương sớm dầy đặc. Tuy vậy nhưng đi đến đâu thì hình như sương tan biến đến đó. Khi quay lại thì chỉ thấy màn sương trắng xóa.

Em và Sao đều thích trồng cây. Vì thế nên khu vườn lớp em tốt nhất. Hai đứa ngắm mãi nụ hoa hồng đang chớm nở, tỉ mỉ vạch từng cọng lá tìm sâu. Nhìn cây Tigôn trắng đang sửa soạn giàn hoa tí xíu mà vui mừng náo nức vô cùng. Trái khổ qua treo lủng lẳng trên giàn bé xíu, xinh xắn vô cùng. Vườn lớp em chỉ trồng nhiều hoa nên thật đẹp. Hoa nở suốt năm, không hoa hồng thì vạn thọ, hoa cúc... Em hãnh diện đặt tên là "vườn thượng uyển lớp Ba A" còn mấy lớp khác thì nào là "vườn hoang lớp Ba B", "vườn cấm lớp Nhì C" v.v... Buổi trưa ở lại đợi buổi học chiều, em và Sao ra mương súng. Trưa ở quê rất êm ả, vẳng nghe tiếng mẹ ru con, tiếng võng kẽo kẹt đưa. Hai đứa ngồi một nhánh cây nhô ra mương mà học bài. Hoa súng nở thật nhiều, thoạt nhìn chỉ thấy toàn màu thiên thanh và màu tim tím của hoa. Bọn em chọn một khu mương ngay lớp làm khu bất khả xâm phạm của lớp Ba A. Mỗi lần hái một cánh hoa để ép cho lớp, em tiếc vô cùng nhưng chả dám nói.

Nhận thấy khu vườn lớp mình thiếu cây cao lớn, nên em và Sao định trồng một cây. Vì mai mốt hè về, cây nhỏ sẽ chết và cây lớn đó sống mãi mãi. Em và Sao đồng ý chọn ngày mùng tám tết là trong thời gian nghỉ để đi kiếm hoa.

Sáng hôm ấy trời thật trong và xanh. Mùa xuân, cỏ hai bên đường xanh ngăn ngắt. Em và Sao hai đứa đi hai chiếc xe đạp len lỏi trong con đường nhỏ bên vườn cây. Cái giỏ to đeo lủng lẳng đằng sau. Khi gặp được một khóm lan bám trên cây, em vội vã vất xe và trèo lên thoăn thoắt. Sao hắn đứng dưới buồn hiu. Em cầm khóm lan cười cười bảo hắn:

- Tại mắt "mình" cận thị đó chứ!

Hắn cãi lại:

- Cận thị hồi nào, xạo không! Nghỉ chơi mày luôn!

Em phải xuống nước năn nỉ, nói sẽ cho hắn khóm lan này, Sao nhoẻn cười. Em nghĩ thầm "Về nhà mình lén đưa nó khóm xấu, có sao đâu!"

Hai đứa lại đi. Chẳng mấy chốc đã đầy giỏ. Sao dẫn em đi lại nhà ngoại hắn lấy cây hoa "thật đẹp" mà hắn thường khen. Ở quê em, hoa trang rất nhiều, thỉnh thoảng trong cỏ rậm rạp nổi bật những hoa đỏ, hay tím của hoa sim. Sao nằng nặc đòi trồng hoa sim vì hắn thích màu tím, còn em chỉ coi đó như loài cỏ dại hoặc hoa đồng quê mà thôi – Thuở đó tuy học lớp Ba nhưng đứa nào cũng suýt soát 10 tuổi Trong vở hắn, thỉnh thoảng em gặp vài cánh sim ép cẩn thận giữa tờ pelure trắng. Em thường vò nát và liệng đi làm hai đứa suýt giận nhau mấy lần. Em lại phải đi tìm ép trả hắn. Bây giờ đây, em lại thấy yêu màu hoa ấy, nở dịu dàng bên con rạch nhỏ, bên cỏ xanh um tùm.

Thấp thoáng sau hàng dừa, em đã thấy những nếp nhà tranh. Sao bảo làng này rất nhiều anh đào, tự nhiên mọc khắp nơi. Hai đứa vào nhà ngoại Sao. Nhà ông có một gốc anh đào to ngay cửa, đang nở rợp hoa trên mái nhà. Màu hồng hồng của hoa như ướt hơi sương, lóng lánh cười với nắng. Sao ra sau nhà hái dừa xiêm, dừa thật ngọt cơm lại dầy, uống vào mát như là uống nước đá. Ngoại Sao uống trà, ông kể những mùa xuân thanh bình ngày cũ. Giọng ông nghẹn ngào, như luyến tiếc như mong chờ một mùa xuân yên lành...

Chúng em trở về với những thân anh đào trong giỏ, và cành hoa cắm trên xe. Thân cây mốc trắng trông cằn cỗi lại ra những bông hồng, tươi tốt đầy hy vọng.

Em chọn ngày mùng 10 là ngày chẵn, dễ nhớ để trồng anh đào. Nhà Sao trồng hai cây, em hai và dành cho "vườn thượng uyển lớp Ba A" ba cây. Em sung sướng bảo Sao:

- Này nhá! Mai mốt cây lớn lên nè. Chắc nó cao lắm Sao há, mà hỏng được, lớn rồi rủi nó đụng cây bàng nó chết sao hả?

Rồi hai bóng nhỏ lại lui cui dời cây sang bên, nhưng chỗ nào cũng rợp bóng bàng cả. Em trồng cây tại một chỗ hơi trống và ngây thơ nghĩ rằng cây vì ảnh hưởng của hai đứa sẽ lớn mau, uốn cong để chui qua tàng cây rậm kia và vươn lên thật cao. Em nghĩ đến ngày nó đâm ra những chiếc lá non với nỗi náo nức trong lòng.

Tất cả những cây em và Sao trồng đều sống sau một thời gian rụng lá cũ để đâm ra những lá non xanh. Cây như cũng hiểu nỗi cực khổ của hai đứa nên rất mau lớn. Hình như nó cũng mong đến ngày qua khỏi ngọn bàng kia. Và đến cuối hè thì nó đã cao đến đầu em. Ba cây đều mập mạp xanh mơn mởn.

Đến mùa Xuân hai năm sau, cây đúng hai tuổi thì nó đã có bóng. Vườn thượng uyển càng đẹp hơn nhiều, và ông Hiệu Trưởng đã vuốt đầu hai đứa với lời khen khu vườn đẹp nhất trường. Em và Sao say mê đứng ngắm công trình được xem như vĩ đại của mình. Qua mùa Xuân này đến hè thì đã lên đệ thất phải xa trường làng. Em lo không biết sau này không còn hai đứa chăm sóc, nó có đủ sức vượt ngọn bàng không? Nhưng em và Sao đều không biết mình có còn được thấy nó nữa hay không. Nào ngờ...

Đêm giao thừa năm ấy, giữa tiếng pháo lại chen nhiều tiếng lạ. Ba má hoảng hốt chui xuống gầm giường. Em lại lo cho vườn thượng uyển sau nhà và ở trường vì súng nổ thật dòn dã. Sự mệt mỏi và kinh khiếp lôi em vào giấc ngủ mê.

Sáng dậy em lẻn ba má đi đến trường. Em chạy thật nhanh trên con đường đá đỏ, đâm buốt chân. Ngày đầu năm mà đường làng vắng tanh, chỗ ngày qua bán quà tấp nập mà giờ im lặng ghê rợn. Trường em kia rồi. Ồ... sao... kỳ vậy? Ngay cổng trường, cây tươi xếp cao để tạo một chướng ngại vật cho người ngoài không vào trường được. Em nhìn kỹ lại, thì đó là những cành anh đào đầy hoa và những cành bàng xếp chồng chất. Nước mắt từ đâu mằn mặn chảy xuống môi. Thôi mất hết rồi, có còn đâu nữa. Giàn ti-gôn của em, giàn khổ qua nhỏ của Sao đều bị đè bẹp dưới gót giày. Vườn thượng uyển ngày xưa đã tan nát, đàn bướm trắng đâu dám bay lượn quanh đó nữa. Và tường thì lỗ chỗ vết đạn.

Sau ngày đó, gia đình em dọn về tỉnh ở. Sao thì đã đi tỉnh khác. Em không sao quên được ngày gia đình em chồng chất lên xe, từ lúc tờ mờ sáng. Mấy cây cau thấp thoáng trong sương, gió đưa run rẩy như khóc thầm cho quê hương. Làng quê xa dần, rồi mất hẳn chỉ còn nhìn thấy những cây cao nhất phất phơ trong gió sớm.

Ai ngờ chuyến đi đó là lần cuối. Và từ đó đến nay đã hơn bốn năm chưa bao giờ em được trở lại quê xưa. Em nhớ mãi buổi sáng đầu xuân xưa, hai đứa đi trên con đường đẹp nhất của quê hương. Con đường với thật nhiều hoa dại mà em vẫn yêu, vẫn nhớ mãi. Những nỗi vui khi trồng cây, những trận đánh dưới suối. Hình ảnh ngày thơ của em và Sao đi hái anh đào vẫn bắt nguồn cho sự nhung nhớ quê hương mãi, nhớ những ngày ngọc ngà thơ ấu xưa. Buổi sáng rong chơi trên khắp nẻo đường quê, những chiều thả diều trên bãi cỏ.

Và còn mấy cây anh đào ngày xưa chết một cách oan uổng. Những cây chưa bao giờ đạt được ý em và Sao muốn, là chui qua đám bàng xưa. Chắc hẳn nó cũng buồn. Và còn giàn ti-gôn, hoa hồng, cây cúc, còn sự thê thảm ngày hôm ấy cho vườn thượng uyển ngày xưa.


TRẦN HỮU NGHIÊM    

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 156, ra ngày 1-7-1971)

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2019

Quê Hương Xa Vời


Mấy hôm nay nắng dịu dàng và không còn những cơn mưa ồ ạt nữa. Một chút gì dịu nhẹ, thơ mộng trong thời tiết. Em có nghe như thế không? Mỗi trưa đi ngang qua hàng phượng xanh lá đâu còn nghe ve sầu rỉ rả nữa. Tháng tám rồi đó em, em nghe chừng những chiếc lá vàng ở cửa sổ nhuộm đỏ rồi. Chậu cúc vàng ngoại trồng hé mấy nụ hoa nhỏ nhắn. Mỗi chiều ngoại ngồi dưới giàn thiên lý, dõi mắt nhìn về xa côi. Ngoại hay thở dài làm cả nhà ai cũng buồn. Và anh tưởng tượng đến em, hẳn em đã lớn rồi nhỉ?

Anh như thấy đôi mắt tròn xoe bé bỏng của em. Đôi mắt có vắt những sợi mây trời của mùa thu quê hương rất xa xôi...

Ở đây chẳng có một chút nào giống quê hương ta hết, chỉ có anh, ông bà ngoại nhớ quê, để ý những thay đổi của thời tiết. Thay đổi của mùa thu đến, với áo mơ phai dệt lá vàng ngày xưa. Giàn hoa lý ngoại trồng ra hoa nhiều rồi, hương thơm dịu dàng. Hương thơm gợi anh nhớ đến dòng sông quê hương mình. Dòng sông chảy êm ả, mỗi chiều ra đó, anh nghe như hương hoa lý chan hòa mênh mông trong mây trời, trên dòng nước chảy. Anh nhơ nhớ đêm trăng tháng tám trải chiếu nắm ăn bánh dưới bóng êm những chiếc lá nhỏ, hoa thơm. Trăng thu ở quê hương mình đẹp quá em nhỉ. Chẳng biết em có thấy thế không? Trăng tròn vành vạnh rót sữa vàng trên phiến đá bóng nhẫy, chan hòa khắp làng. Trong đêm, hương thiên lý nhà mình và các nhà hàng xóm bay thoảng qua, êm nhẹ. Anh lúc đó còn bé, em nằm trong lòng mẹ, mở mắt ngây thơ nhìn trăng. Không biết bây giờ quê mình ra sao hở em?

Mười mấy năm thoáng qua mất biệt, quê hương khuất nẻo mịt mù xa thẳm. Xa thì không xa lắm, nhưng chỉ đứng ngậm ngùi nhìn thì thật là xa. Ông ngoại già lắm rồi em. Ngoại mua một căn nhà nhỏ cạnh dòng sông miền Nam. Ngoại trồng hoa lý, cây bàng, chậu cúc. Lần nào về, anh thấy nhớ quê hương vô cùng. Anh biết chắc ngoại còn nhớ hơn anh nữa. Nhà ngoại giống nhà mình ngoài đó lắm, giống từ gốc bàng, vườn hoa. Có lần dậy sớm vào đông anh mặc áo len ra bờ sông nhìn. Sương mù dầy đặc chẳng thấy làng mạc ở bên kia sông. Nước sông thở khói thật nhẹ tỏa như hơi thở dài, và buồn. Trong một thoáng anh ngỡ dòng sông đó ở quê mình, và anh đang đứng ở nhà mình. Anh nghe đê mê khó tả, chỉ muốn lặn hụp xuống dòng sông như ngày anh còn bé hay đi câu. Nhưng rồi tiếng ghe máy chạy xình xịch làm anh tỉnh giấc. Anh lại ngỡ đứng ở dòng sông trắng sầu tủi, nhìn qua bên kia sông quê hương. Nhìn chỉ thấy lờ mờ, với một nỗi ngậm ngùi.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Không biết bây giờ ở quê hương mình ra sao hở em? Anh nhớ từng căn nhà tranh, từng ruộng lúa thân yêu. Nhớ những cây cột nhà to bóng quen thuộc, ao cá nắng trưa trong vườn lang thang. Nhớ sân hoa lý nhà mình. Bây giờ tháng tám, chắc lá vàng đang rụng phải không em? Trời vào đêm lạnh lắm, anh em mình rúc vào đống rơm ngủ say. Giậu hoa bìm bìm cổng nhà xiêu vẹo anh nhớ gãy đổ gần hết, giờ có còn không em? Ngày xưa anh hay thổi cành hoa tím lên, rồi bỏ vào lòng bàn tay đập bốp một tiếng. Nhìn cánh hoa rời rã, hơi bâng khuân rồi vất đi. Ba mẹ già lắm phải không? Chắc mẹ già vì khổ, vì thương nhớ. Anh nhớ mẹ hoài, nhất là buổi tối trong căn nhà lạnh lẽo này.

Ở đây không có hoa vông. Ngày xưa mùa gặt anh hay ra ruộng chơi, có thật nhiều hoa vông vang vàng óng, rực rỡ trong nắng, lúc đó anh chẳng biết tên, giờ thì nhớ hoài hoài. Hoa vông vang, tên nghe lãng mạn, bâng khuâng gợi tình hoài hương. Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn, ôi thật yêu dấu quê hương. Biết bao giờ được dừng chân trên đất xưa mùa gặt, nhìn may chớm đông, hoa vàng và tiếng cười đùa rộn rã. Có ai mà không mơ ước như thế.

Những dòng này anh viết cho em đó, Huyền thân ái. Không biết em, ba mẹ có còn qua mấy mươi năm phiêu bạt.

Anh vẫn hy vọng có ngày anh em mình gặp lại, trên quê hương yêu dấu. Anh mong em còn đó, còn sống ở mảnh đất cũ. Anh ao ước vô cùng được lang thang trong vườn xưa, thò chân xuống ao nước nghịch, nhìn những chú bướm nhởn nhơ và thấy lòng mình bâng khuâng. Hẳn là không ai cầm được nước mắt, trong một lần trở về mỏi mòn trông đợi.

Anh vẫn mong gia đình mình bình yên. Anh đốt thư này nhờ ngọn gió nào mang đến cho em, nó sẽ nguyên vẹn cho em đọc. Hay để anh cột vào chiếc bóng bay nhờ gió mang đến quê hương mình, em nhé. Ở đó chắc em, ba mẹ vẫn mong ngày tươi sáng mau trở lại, chứ? Ai mà không mơ ước như thế phải không em? Cứ cầu nguyện mãi em nhé. Và hy vọng nữa, Huyền thân ái.

Anh,                  
TRẦN HỮU NGHIÊM    

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 186, ra ngày 1-10-1972)

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2019

Năm Học Lớp Nhất


Suốt năm năm làm học trò tiểu học tôi có thật nhiều chuyện đáng nhớ. Đó là những kỷ niệm ngát hương thơ ấu, mà không bao giờ tìm lại được. Thuở nhỏ vụng dại, vui vẻ nô đùa, học hành trong một ngôi làng. Trường có hai hàng bàng bóng mát, cột cờ trồng đủ thứ hoa. Chúng tôi quây quần trong một lớp học mấy chục đứa với ông thầy khả kính. Biết bao nhiêu chuyện vui buồn đã xảy ra mà có lẽ mai sau sẽ không quên được đâu.

Năm tôi học lớp nhất, vào dịp cuối năm trường có tổ chức một buổi liên hoan. Có cả văn nghệ, đủ thứ ca hát, kịch, vũ... Hôm đó phát phần thưởng cho các học sinh khá trong kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt. Thế là vừa qua kỳ thi, mùa đông đến trường tôi rộn rịp hẳn lên. Từ lớp năm cho tới lớp nhất đâu đâu cũng thấy vẻ hân hoan trên mọi gương mặt. Cả trường chuẩn bị cho buổi Tất niên thật xôm tụ.

Tuần lễ trước đó, thầy Lộc dạy lớp tôi nói:

- Năm nay lớp nhất được ông Hiệu trưởng giao cho một vở kịch lịch sử.

Thế là cả lớp nhao nhao, sách vở bút thước đẩy vào tận hộc bàn, hỏi liên tiếp làm thầy trả lời không kịp.

- Kịch gì vậy thầy? Phải Hai Bà Trưng không?

- Thích quá. Kịch lịch sử hay một cây!

- Diễn kịch Ngô Quyền đánh quân Tàu ở sông Bạch Đằng, thưa thầy.

Thầy Lộc mỉm cười, đợi bọn tôi bàn tán một hồi. Bọn con gái thích kịch Hai Bà Trưng, bà Triệu để được cưỡi voi giả, cầm gươm phất cờ thật oai. Bên con trai thích được làm vua mặc áo long bào, hét ra lửa. Đợi một lát cho vẻ hớn hở lắng bớt trên mặt bọn học trò, thầy từ tốn nói:

- Chúng ta diễn kịch vua Quang Trung đánh quân Thanh dịp tết chiếm thành Hà Hồi và Ngọc Hồi.

Chúng tôi à ra thích thú. Thằng Tốt vỗ tay, tức thì bọn con trai đồng loạt vỗ tay rầm rầm, có đứa còn vỗ bàn, vỗ chân lục cục làm bình mực gần đổ. Bên con gái có vẻ không hưởng ứng mấy, vì thấy vở kịch không có vai nào cho con gái cả. Thanh, trưởng lớp đứng lên hỏi:

- Thưa thầy, ai làm vua Quang Trung ạ?

Thầy Lộc nhìn anh Thanh mỉm cười. Tôi biết ngay anh Thanh nhắc khéo thầy, chứ trong lớp này ai xứng nhất so với anh. Thầy nhìn kỹ bọn con trai xong tuyên bố:

- Trò Thanh làm vua Quang Trung, trò Hành làm Tôn Sĩ Nghị, trò Quới làm Sầm Nghi Đống.

Chúng tôi cười ầm. Chả là Quới và Hành là người Trung Hoa, bán hủ tiếu ở chợ. Thanh đáng lẽ làm quân Thanh thì được làm vua Quang Trung. Tôi thấy anh sung sướng ra mặt, cả Quới và Hành cũng có vẻ vui nữa.

Sau đó thầy Lộc nhìn mặt đám học trò con trai để chọn làm quân ta hay quân Thanh. Đứa nào mập mạp, mắt ti hí thì chắc chắn làm quân Tàu, còn đứa nào cao ráo, dũng cảm thì làm quân ta. Dĩ nhiên phải như vậy, kết quả quân ta mặt mũi bảnh bao sáng sủa.

Xui cho tôi, hồi đó tôi hơi mập mạp lại lùn nhỏ nữa nên bị làm quân Tàu phù chán quá, làm quân Tàu thì chưa lên sân khấu đã cầm chắc bại trận trong tay. Tôi muốn bỏ cuộc, trốn. Nhưng hôm đó tôi được phần thưởng nên phải có mặt. Đành làm quân Tàu vậy.

Bọn con gái được chọn để vũ. Thế là huề, phe nào cũng có nơi để khoe khoang tài nghệ. Được mặc quần áo đẹp như công chúa, thoa son đánh phấn. Được múa kiếm oai hùng. Còn tôi, sau đó may mắn được chọn trong ban hợp ca. Ban này lên trình diễn đầu tiên. Thế cũng hách chán.

Thầy bắt mỗi đứa phải có gươm bằng gỗ, vua quan thì được phát gươm riêng. Lại phải kiếm nón cũ cắt cụt bớt, sơn phết lại. Quân Tàu sơn nón đen, quân ta nón vàng, viền đỏ. Mấy đứa làm quân ta thật sướng, được đâm vào người quân Tàu, được reo hò chiến thắng. Quần áo lại mới, còn quân Thanh toàn mặc lại quần áo cũ.

Ba tôi làm ở garage của sở, nên làm cho tôi thanh gươm thật đẹp. Gươm bằng nhôm, sáng bóng, có cả chuôi gắn nơi lưng quần. Bọn bạn thích lắm, gươm của tôi hách nhất nước mà lỵ. Đánh nhau nghe rợn người chứ đâu phải như gươm gỗ cọc cạch.

Hôm tập dượt, thầy Lộc đã chọn sẵn đứa nào đấu với đứa nào. Trên sân khấu phải có hai cặp đánh nhau túi bụi lúc giao chiến. Tôi đấu với thằng Muôn. Thanh gươm của nó to lớn, dài và nhọn. Tôi phải dặn trước, đánh nhè nhẹ, đừng có đâm mạnh quá đau lắm. Số phận quân Thanh chúng tôi là quăng gươm, té chạy. Lịch sử đã định rồi, ai mà dám cãi. Mà có cãi thì sẽ bị ăn đòn.

Coi vậy mà rồi ngày liên hoan cũng đến, mau ghê. Sân trường rực rỡ cờ xí, đèn đuốc. Những cây bàng như cũng vui hơn, dù mùa đông nhưng lá vẫn xanh kín. Bọn tôi hớn hở vô cùng, chạy lăng xăng rối rít làm như mình là nhân vật quan trọng. Dù gì cũng học lớp nhất, đàn anh mà. Thầy Hiệu trưởng nói hôm nay có cả ông Quận Trưởng và mấy nhân vật cao cấp trên quận xuống dự. Chúng tôi càng thấy buổi lễ quan trọng thêm nhiều.

Hôm đó, sau màn hợp ca chúng tôi vội vã chạy từ sân khấu xuống phòng học lớp ba để sửa soạn vở kịch. Mặc quần áo đời xưa vào, vẽ râu ria trông đứa nào cũng lạ hẳn ra. Quân ta vẽ râu vểnh lên, quân Tàu vẽ râu quặt xuống, hèn nhát. Tôi soi gương và nhìn thấy mình, tức cười quá. Giống như thằng hề múa rối.

Vở kịch bắt đầu bên ngoài. Anh Thanh làm vua thật hách. Râu dài, mặc áo vàng chói ở triều đình, giọng nói sang sảng. Lát sau là cảnh di quân của quân ta. Tụi nó hai đứa khiêng võng, một đứa nằm trong võng, bên trên lủng lẳng bánh tét, bánh chưng. Lần lượt diễn hành qua. Sân khấu ồn ào tiếng nhạc hùng. Tôi hơi run. 

Đến khi quân ta tràn vào thành, bọn Tàu phù chúng tôi xuất hiện. Hai bên đánh nhau, la hét như chợ. Tiếng gươm gỗ chạm vào nhau, tiếng chân nện thình thịch xuống sân khấu. Hai phe đứng hai bên cánh gà lần lượt ra. Nhưng tại bọn ra đầu không ăn khớp, thành ra đánh nhau loạn xà ngầu. Bọn chúng tôi hung hăng tràn nhau ra sân khấu. Thằng Muôn ra nãy giờ đang đánh với thằng Sao.

Tôi chạy ra giữa tiếng reo hò tở mở. Tôi rút gươm sáng chói ra. Chẳng biết lúng túng thế nào, miếng nhôm ở quần để xỏ gươm, bỗng theo tay gươm văng ra. Tôi hoảng hốt nhìn, tay thu lại nhưng không kịp. Miếng nhôm quái ác đó rơi xuống hàng ghế danh dự, trúng ngay trán ông ngồi cạnh Quận trưởng. Tôi há hốc mồm ra nhìn, mọi người đều nhìn. May mắn ông đó chỉ bị trầy sơ sơ, lúc đó thằng Nhân đâm vào bụng tôi. Sực tỉnh, tôi phản công lại mạnh mẽ. Thằng Nhân yếu hơn, chạy vòng quanh rồi lùi vào. Đáng lẽ tôi phải chết, nhưng tôi lại hăm hở đấu với tên khác. Chợt nghe loáng thoáng tiếng nói bên cánh gà. Đầu hàng đi chứ, Nghiêm. Giả bộ chết, chạy vô trong đi. Khi đó tôi mới sực nhớ số phận Tàu phù của mình.

Thằng Tâm đâm vào ngực tôi, tôi té xuống quăng gươm và bò vào trong. Xui xẻo làm sao, thanh gươm lại rơi xuống phía khán giả. Lần này rơi trúng một vị phụ huynh. Ông ta giật mình, sau đó cầm gươm cười cười.

Thầy Lộc cú đầu tôi đau điếng. Quả là cái gươm báo hại. May là ai cũng hỉ hả, cũng vui vẻ với chúng tôi nên họ chỉ cười ồ khi gươm rơi xuống. Không khí hào hứng, làm cho ai nấy đều vui.

Khi ra lãnh thưởng, tức cười quá. Chính ông phó Quận bị miếng nhôm văng trúng trán, là người trao phần thưởng cho tôi. Tôi đỏ mặt lẫn run sợ, lí nhí cám ơn. Hình như ông biết tôi, ông xoa đầu tôi tươi cười.

Hú hồn! Tôi mặc bộ quần áo quân Tàu, nón đen, chạy về nhà tôi gần đó cất phần thưởng. Má tôi cười vui sướng, cho tôi tiền mua xá xị uống.

Trở lại, tôi đi giữa đám khán giả. Họ xầm xì, chỉ trỏ. Tôi thấy mấy chuỗi giấy màu phất phơ, như niềm vui đang nở trong lòng.


TRẦN HỮU NGHIÊM    

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 66, ra ngày 26-11-1972)

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2018

Xuân Làng Em


Sáng nay, trời bỗng lạnh bất ngờ. Hôm qua hãy còn oi bức và lá vàng mùa thu rơi rụng khắp nơi. Hình như cơn lạnh đến nhẹ nhàng len lén trong giấc ngủ say. Cái lạnh thành phố không bằng cái lạnh quê hương em nằm giữa rừng cao su dày đặc. Nhớ những mùa xuân xưa lúc em còn bé xíu, còn sống nơi quê hương thân mến. Ngày xưa thuở em còn học lớp nhì trường làng. Một ngày đi học em đi bộ ngót ba cây số đường đất đỏ. Nhưng em đi đường tắt bằng con đường nhỏ băng ngang rừng cao su. Em còn nhớ con đường tắt này cô giáo em gọi tên là “con đường lá đổ”. Vì lúc sắp Tết lá vàng rơi rụng khắp đường.

Những lúc đông về, sáng em dậy thật sớm gom lá để sưởi ấm. Hầu hết dân làng đều sưởi như thế. Đường từ nhà em đến trường phải qua một ruộng môn và giòng suối. Em rất thích nhìn những giọt sương trong suốt đọng trên tàu lá môn. Buổi sáng sương mờ từ mặt nước bốc lên. Cây cầu khỉ chênh vênh trên nền trắng đục của sương mai. Cạnh giòng suối có một gốc mai vàng vào mùa này nở thật nhiều. Qua con suối thì em đã đến đầu đường lá đổ. Mùa đông lá rụng tơi tả, cây khô phơi mình trên nền trời trắng đục, lá xếp thật dầy, cao gần đến đầu gối. Vì lá dầy nên em nhiều khi hụt chân xuống hố. Lá khô bay tung tóe, nhiều lúc chúng em nằm cả trên xác lá để tìm hơi ấm.

Những ngày sắp Tết, em hay lang thang trong rừng cao su để tìm mai. Cây trồng thật ngay hàng và vì vào đông nên rất dễ tìm. Đứng từ xa em đã nhìn thấy màu vàng tươi của cành mai. Cành mai già cắm trong lọ hoa cổ, bên cạnh quả dưa, bánh và nhang trầm khói bay lơ lửng trông đẹp vô cùng. Nhiều lúc em còn kiếm cả lan rừng nữa. Vào mùa xuân, là mùa lan nở, hương bay thoang thoảng khắp vùng.

Những ngày còn bé hơn, em cũng hay vào vườn cây. Không phải để tìm hoa mà để nghe chim cu kêu. Em nghe mẹ hát ru em:

Cu kêu ba tiếng cu kêu
Cho mau đến Tết dựng nêu ăn chè

Và chúng em đợi chim kêu để mau ăn chè ngày 23, tuổi nhỏ thật ngây thơ, hồn nhiên.

Ở quê, gần hết năm học trò thường đi Tết thầy cô. Món quà xuân của em thường là trái cây trong vườn, hoặc tặng cô một cành mai vàng. Món quà thật mộc mạc, chứa đựng tấm lòng trò nhỏ gửi đến cô. Và còn những buổi liên hoan, những ngày ăn tiệc tất niên, thật nhiều kỷ niệm.

Gần đến Tết, em và chị em phải đi rọc lá. Lá chuối rất nhiều, phơi đầy sân cát trước nhà. Bây giờ nhớ lại em thấy tiếc những ngày xưa còn bé. Đêm giao thừa nấu bánh đợi xuân. Em được ưu tiên nằm võng bên cạnh bếp lửa, lửa nổ tí tách nghe thật vui tai. Ở quê sung sướng nhất là những khi sắp Tết, bên bếp lửa gia đình đoàn tụ ai ai chắc cũng thấy lòng mình nhẹ nhàng thư thái. Hương yêu gia đình quyện tỏa khắp nơi, những câu chuyện cổ tích, chuyện Tết kể dòn như bắp. Ngày ấy, em nằm võng ăn mứt, nghe chuyện cổ tích và thỉnh thoảng vuốt hàm râu trắng của ngoại. Khi bánh chín thì cũng đến giao thừa. Lúc còn bé, em cố thức đến giao thừa để khai bút và để được đốt pháo. Xuân nào ông ngoại cũng treo một xâu pháo thật là dài. Ngoại nói pháo nổ là niềm vui mừng năm mới, xác pháo đỏ là sự sung túc. Giờ em thấy những tập tục đó đáng yêu, vì cây nêu bay theo ngọn gió xuân là hình ảnh mùa xuân quê hương thiết tha nhất, dân tộc nhất.

Sau đó, làng thường có hội hè đình đám. Em tiếc ghê, vì lúc đó em còn bé, chưa được tham dự những trò chơi vui hay ấy. Bọn trẻ chúng em thì đi xem múa lân, tối thì xem hát bội. Những trò vui ở thôn quê có vẻ nhộn nhịp vô cùng, không có vẻ giả tạo như ở thành thị. Từ ngày viết thiệp xuân, em thấy mình đã cởi bỏ lớp áo mộc mạc nhà quê để giờ thì luyến tiếc ngẩn ngơ. Lúc bé, ngày xưa khi tất niên, mỗi đứa phải lên chúc thầy, cô và cả lớp. Những lời văn ngộ nghĩnh, mộc mạc mà giờ em còn nhớ.

Mùa xuân này nữa là 3 mùa em xa quê hương. Ở tỉnh lỵ này đôi lúc em cũng cảm thấy chút không khí quen thuộc của miền quê khi đi xa thành phố. Em nhớ cái lạnh đặc biệt của rừng cao su, của núi đồi.

Qua mùa xuân này, chắc cao su sẽ ra lá non, những chiếc lá thật xanh, thật mát dịu như màu xanh thanh bình của quê hương em.


Trần Hữu Nghiêm    


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 122, Xuân Canh Tuất, ra ngày 15-1 và 1-2 năm 1970)

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

Tìm Về Ngày Xưa

Ảnh : Ar Tuan

Trở lại con đường ngày xưa, em bây giờ với nỗi xôn xao trong hồn. Vui mừng nhẹ như khói cũng đủ lan rộng khắp cùng trái tim để em thấy mình vui như sắp khóc. Nhưng trong nỗi vui mừng đó em cũng thấy tận cùng một nỗi xót xa. Y như một vật gì quí báu của ngày xưa đã không còn nguyên vẹn trong ý nghĩ. Vâng, đã không như ngày xưa, ngày của mấy năm về trước.

Con đường em đi có rất nhiều lá khô dưới chân. Một thoáng lạnh chông chênh làm em rùng mình. Như ngày xưa co ro đi học mùa đông. Em đá tung những chiếc lá bay lên, môi chợt mỉm cười vô nghĩa. Không gian và thời gian không thay đổi, một chút lạnh vương vương trên mặt. Con đường, em không hiểu sao lại đầy những chiếc lá nằm đợi mùa xuân. Bởi chưng hàng cao su dễ thương không còn nữa, không còn những chiếc lá rơi hoài. Ngạc nhiên vì không hiểu lá ở đâu tìm về, quen thuộc như ngày xưa. Những bóng mát không còn tỏa dìu dịu xuống mặt đất, em tự dưng nghe như thiếu thốn những gì lạ kỳ ghê lắm. Mặc dầu là mùa đông, không có nắng và lá xanh; nhưng em biết chỉ cần những nhánh khô, lòng em cũng thấy ấm áp lạ thường. Vâng, em chỉ cần nguyên vẹn rừng cao su để lang thang trong đó. Sẽ bỏ đôi guốc ở một góc nào, em nhảy bay vô rừng. Len lỏi trong từng gốc cây ngày xưa, em sẽ tìm ra một cành mai. Gốc mai ngày đó vẫn những vị trí quen thuộc hằn sâu trong óc. Mang cành mai về cho ngoại, để được một cái bánh chưng bé xíu.

Tiếng sỏi reo dưới từng bước chân, thật quen thuộc. Em bỏ guốc ra cầm tay, đi chân không trên sỏi. Để nghe rát rát, cấn ở chân băng qua đường. Ngày đó mỗi chiều mẹ giao cho em bó cải xanh. Băng qua lớp sỏi mang đến căn nhà đối diện vườn rau của mẹ. Và khi về thế nào cũng ngắt một đóa hoa cúc. Bây giờ em cũng muốn như thế, tầm thường nhưng thiết tha. Sẽ giả vờ cầm nắm cỏ chạy băng qua đường sỏi đau chân. Sẽ đến căn nhà be bé đó. Nhưng em biết em sẽ ngẩn ngơ nhìn buồn bã. Cỏ mọc chen lên thềm nhà, không, đâu còn thềm nhà, chỉ có đất ngồn ngang. Sẽ chẳng nghe hương lúa thoang thoảng, những thiếu thốn nghĩ đến làm em buồn lắm.

Cánh đồng lúa đã gặt lâu rồi, gốc rạ vàng úa trên đất khô cứng làm em nghĩ chắc đã im lặng như thế từ lâu, từ mùa xuân năm nào. Em nghĩ bước xuống chắc sẽ đau chân lắm, chứ không ve vuốt như ngày nào em đem chú gà xuống nhặt lúa. Vâng, tất cả đã thay đổi. Thay đổi làm em buồn lắm, vì chẳng còn dịu dàng ngày nào.

Kỷ niệm ngày xưa chợt vấn vương trong hồn, hình ảnh chợt bừng sống dậy, mãnh liệt. Bằng ngôi trường hai lớp thân yêu với tường vôi loang lở. Bước chân tự nhiên đầy những nuối tiếc xa lạ, vì đâu còn hồn nhiên nhảy chân sáo đến trường. Mực tím tường vôi, cát mịn chợt hiện về, thân yêu tuổi nhỏ. Chỉ còn có con đường bé xíu này không bao giờ thay đổi, vẫn hoài hoài những cọng cỏ may vướng chân, vẫn cây bàng khô trụi, vẫn những chú chim én nhanh nhẹn, vẫn những thoáng lạnh làm chùn bước. Không phai nhạt. Không ham đổi thay như em bây giờ quá đỗi xa lạ. Áo không còn vương mực học trò, bước chân không còn e dè lo sợ. Mang tâm trạng của một người đi thật xa về, chợt ngỡ ngàng với những thân ái xa vời.

Sân trường cỏ mọc nhiều lắm, nhưng mùa đông đã làm khô héo cả rồi. Bước chân chậm chạp di động, đếm từng ô cửa thân ái. Ô cửa ngày xưa ở đó có những cành anh đào hồng, tươi tắn. Ngàn đời mùa xuân hoài hoài những hoa anh đào tí xíu, rực rỡ trong hồn. Bây giờ vẫn thế. Ngọt ngào màu hồng như viên kẹo tuổi nhỏ.

Lớp học ưu ái ngày xưa rõ ràng trước mắt. Dãy ghế bàn im lìm như từ ngày em đi. Qua mùa xuân chắc sẽ thay đổi. Không một sự thay đổi nào chẳng để lại buồn phiền, hy vọng thay đổi như ngày xưa. Vết mực chìm dưới bụi bặm. Hình ảnh tuổi nhỏ chợt sống dậy rõ ràng. Cô bé ngồi bàn đầu chăm chú to mắt nghe cô giảng, vỗ tay hát vui vẻ. Chập chờn trong trí nhớ những bánh kẹo, mứt trong bữa tất niên. Chợt muốn khóc cho vơi những muộn phiền. Tuổi nhỏ ơi, xin hoài đời hiện diện trong tim.

Căn nhà em biết thật là hoang vắng. Chắc thế, hay là nó đã sụp đổ từ lâu. Vì ngoại đâu còn nữa. Quay quắt hình ảnh, kỷ niệm bàng hoàng làm em nghẹn thở. Hai cây cau già có buộc bụi lan nhỏ, giàn mướp của bà ngoại rủ rê ong bướm khắp cùng. Gian nhà có vườn cây sai quả, bà ngoại mỗi chiều tưới trầu. Ông ngoại trồng cây, râu bạc phơ ngày xưa hay ve vuốt. Nghe như rõ ràng hình ảnh con bé xíu xòe tay xin tiền lì xì nặng cả túi. Những nắng mai rực rỡ trên vườn rau trong trí tưởng. Vườn cải có hoa vàng, nước đọng trên bẹ lá, bướm chập chờn.

Ngơ ngác nhìn từng hình ảnh quen thuộc. Cây khô đứng trơ vơ nhìn mây xám, cô độc. Rừng cao su trống trải, chuyên chở những tiếng hát ngày xưa chiến tranh mang đến một nơi nào xa xôi ru ngủ cho những người đã rời xa thăm thẳm. Hoài đời còn tưởng nhớ. Nghe như một sống dậy, ồn ào, cái tổ chim thân yêu đón rước những chú chim từ lâu đi xa. Lại rộn lên tiếng hát âm vang, tuổi thơ kéo về ngự trị. Em nghe như mi mắt mình cay cay, bậm môi cho khỏi bật lên tiếng khóc. Và trong một góc tâm hồn, vui mừng nghĩ đến ngày mai hòa bình. Nghe tâm hồn thật trống trải, kỳ lạ. Nước mắt bỗng chảy lan, và nghe như mình muốn khóc thật nhiều… chẳng hiểu tại sao???


Trần Hữu Nghiêm     
(bút nhóm Hoa Nắng)   


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 175, ra ngày 15-4-1972)

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Hàng Cau Quê Ngoại


Buổi chiều, hai bà cháu dắt nhau ra cánh đồng lúa chín. Thằng bé tung tăng chạy bên cạnh ngoại, tay cầm một bọc đậu phộng rang. Ở đây buổi chiều xuống thật chậm. Bầu trời hơi đỏ, hình như là màu tím. Màu tím nhạt bàng bạc khắp nơi, gần mặt trời có những cụm mây đỏ ửng. Màu tím xem cũng buồn, mênh mang như tiếng sóng vỗ mỗi chiều ầm ì vào vách đá. Gió thật nhiều nhưng chẳng có được một con diều như ngày xưa.

Bà ngoại ngồi xuống đám cỏ xanh, thằng bé vẫn chạy nhảy tung tăng. Bà có vẻ buồn, bà cầm một cành lúa dõi mắt nhìn theo thằng bé. Ồ, chiều hôm nay trời đẹp quá. Cậu bé nghĩ thầm. Cậu chạy men theo bờ ruộng đuổi bắt mấy chú cào cào. Thỉnh thoảng có một cành hoa súng nở trên mặt nước. Cậu bé với tay hái.

- Khéo ngã đấy con!

Cậu bé quay lại, cầm cành hoa nhoẻn miệng cười với ngoại. Hương hoa súng ở đồng quê nhẹ nhàng như được ướp mùi lúa, mùi đất ngai ngái của quê hương. Cậu bé chạy mãi, chạy mãi mất hút trong sóng lúa chập chùng. Cậu bé muốn chạy đến chân trời màu tím kia để xem mặt trời cho rõ. Vì ở biển cậu thấy mặt trời nhưng không đến được. Nước mênh mông lội ra ngoài đó nhỡ cá mập ăn thịt sao. Eo ôi! Cậu bé bật cười thích thú với ý nghĩ đó.

Đi hết cánh đồng lúa cậu bé bước chậm lại. Cái gì trông hoang vắng thế kia. Cậu bé le lưỡi. Trước mặt cậu là những bao cát nằm ngổn ngang, có bao bị rách ló đất ra ngoài. Những dây kẽm gai nằm rải rác, trói buộc từng bao cát. Những trụ sắt, vải xanh, vải trắng nằm từng đống. Cảnh hoang vắng điêu tàn như có gì đổ vỡ. Mặc dầu chưa biết rõ những vật đó cậu bé cũng sợ hãi. Cậu rùn vai, những đóa hoa súng héo úa trên tay. Cậu bé vất bừa lên đó rồi chạy về.

Có tiếng ngoại gọi vang vang ngoài kia. Cậu bé thích thú, đi chậm lại. Cậu hái những đóa hoa súng trắng ở bên bờ ruộng bên này. Lạ ghê, hình như một bên toàn hoa tim tím, một bên chỉ có hoa trắng. Lần này cậu bé hái hoa trắng bên phải, những cánh hoa tinh khiết, tươi tắn. Cậu bé định sẽ hù cho bà ngoại giật mình chơi. Trông cậu bé cứ như một chú nai tơ, láu lỉnh, hồn nhiên.

Cậu bé vừa ra khỏi đồng lúa thì nhìn thấy bà ngoại. Bà chạy đến ôm cậu bé vào lòng:

- Con đi chơi xa quá, ngoại tìm con nãy giờ!

- Cháu đi tìm bắt ông mặt trời đấy, ngoại xem mấy cánh hoa này có đẹp không?

- Đẹp lắm, nhưng con không được đi xa nữa nhé.

Cậu bé xịu mặt, nhưng rồi cậu vui vẻ lại ngay. Cậu bé liến thoắng kéo bà ngoại lại ngồi dưới cỏ. Cậu bé nói:

- Ngoại cầm hộ cháu mấy cánh hoa này nhé. Ngoại ơi cháu thấy đằng kia có một vũng nước nhiều cá lắm đó. Ngày mai cháu rủ tụi bạn đến đó câu cá – Nhưng cậu bé bỗng nhớ lại – Mà ngày mai cháu đâu còn ở đây nữa. Buồn quá há ngoại!

Bà nhìn cậu bé cười móm mém. Bà vuốt ve những sợi tóc mềm, âu yếm nhìn cậu bé.

Màu tím ở cuối chân trời không còn nữa. Mặt trời lặn gần đến những bông lúa. Màu tím thật mỏng manh mỗi chiều chỉ đến chút xíu rồi đi ngay.

Cậu bé đã ăn hết bọc đậu phộng. Cậu lại bứt những bông lúa, lột vỏ mút sữa. Lúa chưa chín nên những hạt gạo hãy còn là sữa ngọt, ăn ngọt ngào, thơm lúa. Cậu bé quay lại định khoe với ngoại, cậu bỗng thấy ngoại ngồi buồn thiu. Cậu chạy đến cạnh ngoại. Bà ngoại vẫn vuốt tóc cậu bé như những lúc cậu ngồi bên cạnh. Cậu bé ngây thơ hỏi:

- Mai cháu đi rồi ngoại có ra đây ngồi không hở ngoại? Ngoại có buồn không?

Nụ cười buồn, héo hắt trên môi ngoại:

- Không có con ngoại ra ngoài này làm chi.

- Sao vậy ngoại, chiều ngoại ra đây ăn sữa lúa đó, ngon ghê lắm ngoại à.

Ngoại thở dài:

- Ngoại già rồi mà con.

Biết ngày mai mình đâu còn ở đây nữa, cậu thấy buồn buồn làm sao ấy. Tiếng ngoại:

- Thôi về con.

Cậu bé đứng dậy. Vẫy tay như một buổi chiều mẹ đã dẫn cậu bé ra bãi biển, mẹ cũng vẫy tay như thế:

- Từ giã buổi chiều nhá!

Cậu bé cười với cánh đồng, với màu mây buổi chiều.

Hai bà cháu dắt nhau về. Cậu bé hỏi ngoại:

- Tối nay ăn cơm với gì thế ngoại?

Bà ngoại không nghe rõ nên không nghe ngoại trả lời. Cậu bé nuốt nước bọt tưởng tượng những món ăn đặc biệt chỉ có ở đồng quê, ở quê hương mà thôi.

Buổi tối ngoại ngồi trên cái ghế xưa, cậu bé nằm võng ngoài sân, trăng đêm nay thật đẹp, ánh trăng lọc qua kẽ lá lấp loáng. Những cánh hoa mướp, nở lúc chiều xuống giờ rực rỡ lên. Màu vàng không hiểu vì ánh trăng hay là màu hoa. Hương dìu dịu tỏa rộng. Cậu bé ngạc nhiên vì không thấy trẻ nhỏ vui đùa. Ngày xưa mẹ bảo ở đây những đêm trăng thực là vui. Tiếng chày giã gạo, tiếng trẻ nhỏ ca vang. Cậu bé ráo rức lắm chỉ muốn ra đầy để đùa với bọn trẻ. Nhưng về đây hơn tháng rồi cậu bé chả thấy cuộc vui nào cả. Cậu lớn tiếng hỏi:

- Ngoại ơi sao trời đẹp như vầy mà chẳng có đứa nào đi chơi vậy hở ngoại? Mẹ cháu nói có cả người ta giã gạo nữa mà.

- Tại… tại… Mà thôi con đừng nghĩ làm gì.

Cậu bé thắc mắc, nhưng rồi vui lại ngay vì dì Út vừa mang dĩa kẹo đậu phộng ra, kẹo ngọt, dẻo dính cả răng, thơm đậu rang. Cậu bé nằm nhai một cách thích thú. Trong đêm, hương thơm quyến luyến quanh nhà. Nghe như có mùi thiên lý, mùi hoa mướp, mùi lúa chín, hương hoa cúc hương, và mùi đất quê hương. Cậu bé thở khoan khoái và ngủ say lúc nào.


Sáng sớm không có tiếng chim hót vang ngoài bụi chuối. Không có tiếng gà gáy. Bầu trời ẩm đục, lưa thưa những vì sao. Ngoại đánh thức cậu bé sửa soạn đi. Cậu bé luyến tiếc khi xa, biết bao giờ mới trở lại.

Buổi sáng không có bóng người vác cuốc ra đồng lũ lượt như trong sách tập đọc của cậu bé. Buổi chiều không có tiếng sáo diều, mục đồng ngồi trâu thổi sáo và không có khói lam chiều nhà ai thổi cơm. Quê hương chỉ còn là huyền thoại xa xưa. Cậu bé thấy buồn.

Hai bà cháu ra khỏi nhà trời còn mờ mờ. Vần trăng nhợt nhạt trên bầu trời. Cậu bé quay lại nhìn giàn mướp đầy trái, nhìn hàng cau im lìm trong sương. Nhìn lần cuối! Hình như ngoại khóc, cậu bé thấy ngoại đưa khăn trên đầu lau nước mắt! Con đường làng rộng thênh thang vắng bóng dân làng. Những hạt sương vẫn đời đời đọng trên cỏ vào mỗi sáng. Cậu bé thấy những chiếc lá mục nát bên lề đường. Bà ngoại không nói gì nhưng ngoại buồn lắm, cậu bé biết thế.

Đến bến đò thì vừa hừng sáng. Ở đây có một chiếc thuyền nhỏ đang chờ khách bên kia sông. Ngoại kéo cậu bé ngồi xuống đất, nhắn nhủ:

- Lên đó ráng học nha con, cho ngoại gửi thăm ba mẹ mày nghe!

Rồi ngoại khóc, ngoại nhét vào túi cậu bé tiền đi đò:

- Cầm tiền này đi xe, nhớ nhà cậu Bảy ở gần bến xe không con. Qua đó rồi cậu Bảy dẫn về với ba mẹ.

Ngoại sụt sùi khóc. Cậu bé thấy lòng mình nao nao:

- Thôi cháu không về đâu, cháu ở đây với ngoại.

- Đâu được, con phải về đi học nữa cơ mà. Nghe lời ngoại nhé.

Chiếc đò đã sang đến giữa dòng. Ngoại soạn lại những món quà quê hương đựng đầy giỏ. Đò cập bến, bà ngoại bảo cậu bé:

- Thôi, con đi đi.

Cậu bé lưu luyến:

- Con đi nha ngoại!

Cậu bé định cười nhưng thấy ngoại lấy khăn chậm nước mắt, cậu thấy mắt mình cay cay. Rồi cậu  bé cũng vô tư như thường, thò tay nghịch nước sông buổi sáng.

Qua đến bên kia bờ, cậu bé còn thấy ngoại đứng yên. Rồi ngoại quay về, bóng áo nâu mất hút trong cỏ mịt mùng.

Cậu bé lên xe xuống nhà cậu Bảy. Bên kia sông lúc này sương như nhiều hơn. Cậu bé nghĩ thầm, sao lạ thế, lúc này sao còn sương xuống. Bến đò bên kia nhòa dần.


Một ngày mù sương đã xa hẳn trong trí nhớ. Quê hương huyền thoại giờ nát tan hơn xưa, xóa nhòa trong trí Hải. Hơn 6 năm còn gì. Hải (cậu bé ngày xưa) vẫn nhớ khuôn mặt hiền lành, miệng móm mém nhai trầu, tóc bạc phơ của ngoại.

Trong những năm đầu còn liên lạc với cậu Bảy, Hải biết tin ngoại. Hẳn ngoại tưởng Hải còn bé lắm nên thường gửi những món ăn quê mà Hải rất thích. Từ hơn 2 năm nay chẳng thư từ cho cậu Bảy được. Hải bỗng lo sợ, nó nghĩ nhỡ ngoại có chuyện gì.

Nhiều lần xin về thăm ngoại nhưng ba không cho, ba bảo hải còn bé. Bé? Mình lớn rồi kia mà. Mình 13 tuổi rồi mà. Hé này Hải nhất định phải về nên nó xin ba hoài. Này nhé. Hải cuối năm lĩnh thưởng hạng nhất nhưng không chịu nhận cây bút máy ba tặng. Thế là ba còn nợ Hải một món và Hải đề nghị ba cho về quê ngoại. Ba cười thằng bé khôn quá, nhưng về dọc đường nguy hiểm lắm con à. Hải xịu mặt chực khóc. Mẹ an ủi Hải và mẹ thuyết phục ba được. Thế là Hải được đi. Ngày mai khởi hành. Bây giờ lớn rồi nên Hải đi một mình. Ngày mai. Hải nghĩ đến ngày mai. Một sớm mai hồng đầy hy vọng.

Hải vềề đến nhà cậu Bảy lúc trưa. Bước vô nhà, nó cảm thấy ấm áp như đã về đến nhà ngoại. Ngồi nhắc lại những kỷ niệm về ngoại Hải thấy nhớ hơn. Cậu Bảy tròn mắt nhìn Hải ngạc nhiên. Cậu thở dài và lặng yên nghe Hải huyên thuyên kể. Khi nghe Hải định về, cậu can:

- Cháu về đó làm gì nữa, đường sá mất an ninh. Làng mạc buồn thiu, vắng hoe không biết về có đến nơi không nữa mà về.

- Thế ngoại cháu vẫn còn ở chỗ cũ hở cậu?

Cậu Bảy cười chua xót. Nụ cười gượng gạo làm sao. Cậu đáp hờ hững:

- Ừ, vẫn vậy thôi…

- Dì Út có còn ở chung với ngoại không? Cháu nhớ ngày đó ngoại hay khóc vì dì Út đòi đi nơi khác.

Cậu Bảy gật đầu. Hình như cậu không muốn nghe Hải nói nữa. Hải mỉm cười. Người lớn vẫn vậy, họ không muốn nghĩ đến dĩ vãng. Cậu bảo:

- Thôi cháu đi tắm rửa rồi ăn cơm. Để mai hãy hay.

- Đâu được cậu, cháu phải về ăn cơm với ngoại chứ. Cháu nhớ canh mướp của ngoại ghê.

Mặc cho cậu Bảy cản, Hải xách va ly chạy ra bến xe. Cậu Bảy chạy theo, cậu đứng nhìn Hải buồn bã. Cậu thở dài quay vào nhà. Hải cười thầm, lúc này cậu Bảy làm sao ấy.

Con đường này 6 năm trước Hải đã đi vào một sáng tinh mơ. Bây giờ thay đổi nhiều. Ngày xưa đã có lần hải mơ ước một căn nhà xinh xắn như căn nhà bên đường. Căn nhà giờ vẫn còn nhưng lạ quá. Hàng rào ngả nghiêng, mái ngói vỡ nát. Những đóa hoa bìm bịp dại mọc khắp nơi. Hình như không còn ai ở. Cỏ dại mọc cao che lối vào. Chả thấy vườn hoa đẹp ngày nào. Hải chợt thấy xót xa, chẳng dám nhìn hai bên đường nữa. Vì đâu còn hình ảnh ngày xưa, cứ để cho trí óc nghĩ đến con đường thực đẹp còn hơn.

Đến bến đò Hải bước xuống với ngỡ ngàng. Còn sớm nhưng chợ vắng hoe. Vài quán tạp hóa nghèo nàn, buồn tênh. Chẳng thấy con đò nào cả. Sao lạ vậy nhỉ. Hải lẩm bẩm. Giòng sông vẫn chảy mang nước đục ngầu. Bến sông bên kia cỏ dại mọc đầy, chẳng còn dấu tích xưa. Lúc này, trí nhớ nổi dậy. Hải nhớ từng phiến đá ở bực sông, từng thân cây đa già. Nó mím môi, hình như nước mắt sắp trào ra rồi đó.

Hải lại hỏi một người bán tạp hóa:

- Dạ… bác cho cháu hỏi thăm chút.

- Gì vậy cậu?

Hải ngập ngừng:

-Sao không có chiếc đò nào sang bên kia sông hở bác?

- Trời đất, cậu không biết gì sao? Bến đò này bỏ hơn hai năm rồi đâu có ai qua bên đó làm chi.

Hải run giọng:

- Tại sao vậy, hả bác?

- Ghê lắm cậu ơi. Hôm đó ở đâu mấy chiếc máy bay đến nó thả bom quá chừng. Tui đứng đây coi thấy ghê luôn. Nó chao xuống thả mấy trái nổ ầm ầm, khói bay mù mịt. Rồi từ đó đến giờ đâu có ai qua bển làm chi, mà bên đó cũng chẳng còn ai nữa.

Ngỡ mình nghe lầm, nhưng rõ ràng như vậy mà. Hải lặng người, nước mắt chảy ướt mặt. Chợt Hải nhớ đến cử chỉ của cậu Bảy. Thôi rồi chắc ngoại không còn nữa. Hải ra gốc cây cạnh giòng sông. Bên kia chỉ có cỏ um tùm. Đâu thấy hàng dừa ngả bóng bên sông. Không biết ở bên đó ngoại nằm yên nơi nào. Hay là bom đạn đã vùi ngoại dưới mái tranh. Cố nhìn sông Hải cũng chỉ thấy lờ mờ. Chỉ thấy màu xanh của cỏ dại, đâu còn màu xanh của lúa, của dừa, của giàn mướp nhà ngoại. Ngoại ơi, cậu bé ngày xưa tìm về đây thì ngoại không còn. Tìm về một chân trời quê hương thanh bình mà không thấy được. Quê hương ngợp hương lúa thơm nồng, ngọt ngào câu ca dao thanh bình há ngoại? Ngoại có mơ ước như thế không? Nhưng ngoại không bao giờ nhìn thấy được! Bây giờ con phải nhìn hàng cau gãy vì đạn, cây cau nhà ngoại oằn oại gãy, tàu lá như những sợi tóc rũ xuống. Hình ảnh quê hương mình đó ngoại ơi!

Ba mẹ vẫn thường cầu nguyện luôn, ngoại hãy phù hộ cho mơ ước chóng thành, ngoại nhé…

Thất thểu Hải bước ra bến xe để về nhà cậu Bảy. Bước lên xe, lòng nó nhen nhúm một nỗi buồn giờ lan rộng. Bên kia sông hàng cau ngả nghiêng trong gió. Chỉ có một cây độc nhất bên đó. Nó nghiêng như sắp gãy. Hải nghĩ thầm, chắc là nó buồn lắm thì phải…


TRẦN HỮU NGHIÊM  
(bút nhóm hoa nắng)   


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 22, ra ngày 20-3-1972)

Hình bìa : Trong ánh mặt trời

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>