Thứ Ba, 21 tháng 11, 2023

Tình Thương Trước Mặt

Đã sáu giờ sáng, Tấn hãy còn cuộn người trong chăn. Tuy đã thức, nhưng vì lười biếng nên Tấn giả bộ nhắm mắt: nằm không nhúc nhích như đang say ngủ.
 
Bỗng có tiếng gọi khe khẽ bên tai:
 
- Tấn... Tấn dậy con, sáng rồi.
 
Tấn bực mình, nó cục cựa kéo chăn trùm kín đầu rồi nằm yên. Dì Tấn kiên nhẫn lay người nó gọi:
 
- Dậy Tấn, dậy ăn cơm rồi đi học con.
 
Tấn cố nằm yên nhưng dì nó cứ gọi mãi. Bực tức Tấn tung chăn ra mặt nhăn nhó:
 
- Còn sớm mà dì kêu hoài, buồn ngủ muốn chết.
 
Dì Tán vừa xếp chăn vừa nói:
 
- Coi! Sáu giờ rồi còn sớm gì nữa. Con đi súc miệng đi.
 
Tấn bước xuống giường đưa tay dụi mắt hỏi:
 
- Dì pha nước cho tôi chưa?
 
- Rồi hết rồi, dì để ở nhà sau, con ra rửa mặt đi. Rồi vô ăn cơm.
 
Tấn chậm chạp bước. Ngang bàn thờ, nó dừng lại thắp một cây nhang cho mẹ. Mùi khói bay vào mũi làm Tấn tỉnh táo hẳn. Tấn nhìn ảnh mẹ. Tấm ảnh đã vàng khè loang lổ. Mẹ Tấn chết đã lâu ; chết hồi còn trẻ, lúc Tấn mới bốn tuổi. Ngày đó, đưa đám mẹ, Tấn cười toe toét. Nó bấu vai cha nó tíu tít:
 
- Mẹ chết vui quá hả cha... ăn ngon ghê.
 
Cha Tấn nhìn con, ông ôm con rồi bật khóc. Tấn cụt hứng ngẩn ngơ. Vài ngày sau khi chôn, căn nhà chợt vắng vẻ. Tấn bắt đầu thấy buồn và cảm thấy thiếu thốn. Một sự thiếu thốn không bù đắp được.
 
Tấn hay đứng tần ngần trước những đồ vật mà ngày xưa mẹ Tấn thường dùng.
 
Tấn hay hỏi cha về mẹ, nhưng lúc nào nó cũng nhận được những cái lắc đầu buồn bã. Đôi lần đứng trước ảnh mẹ, nước mắt Tấn tự nhiên ứa ra - Nó khóc...
 
Thời gian kéo dài được bốn năm... Rồi một người đàn bà thứ hai hiện đến trong gia đình nó. Người đàn bà này xưng là Dì và gọi nó bằng con. Bà ta cũng thương nó, cũng lo lắng cho nó như mẹ ruột. Nhưng Tấn không thích bà ta vì dì Năm hàng xóm thường trề môi nói với nó rằng:
 
- Dì ghẻ mày làm bộ, bữa nào cha mày đi là "con mẻ" đánh mày chết.
 
Thật ra dì Tấn chưa đánh nó lần nào! Nhưng nó vẫn ghét. Năm lên mười tuổi, đi học, một buổi tối Tấn lấy bài ra ê a.
 
Mấy đời bánh đúc có xương.
Mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng.
 
Dì Tấn bối rối nói:
 
- Sao con nói kỳ vậy, dì thương con lắm chứ. Thôi đừng học bài đó nữa con.
 
Tấn vùng vằng:
 
- Dì hổng cho tui học bài, cha tui về tui mét cha.
 
Dì Tấn yên lặng cúi xuống vá áo. Tấn để ý mỗi lần nó đọc đến câu đó là đầu dì nó cúi thấp hơn. Tấn sợ dì giận rồi đánh nó nên nó đọc nhỏ lại và thiếp đi.

- Rửa mặt chưa con?

Tiếng dì làm Tấn giật mình quay lại. Dì nó đang đứng ở cửa buồng nhìn nó, ánh mắt dịu dàng trìu mến. Tấn đáp khẽ:

- Chưa! Tui đi rửa đây.

Dì nó đi theo sau lưng nhắc:

- Rửa mặt rồi vô ăn cơm nghe con.

*

Tấn giở lồng bàn, buổi ăn sáng của nó chỉ có một cái trứng chiên nhạt phèo. Tấn nói:

- Thôi, tôi hổng ăn cơm đâu, hổng có đồ ăn gì hết.

- Trứng chiên đó con.

- Tui thấy rồi, tui hổng ăn đâu dì ăn đi.

Dì Tấn cười, đáp nhẹ nhàng:

- Thôi, con không ăn thì thôi, con đi thay đồ đi rồi đi học.

Tấn hằn học thay đồ, rồi xách cặp bước ra khỏi nhà.

Trên con đường đá, nắng ban mai trải nhẹ bên lề cỏ lấp lánh mấy hạt sương. Gió hơi lạnh, bầu trời trong xanh. Tấn vẫn còn ấm ức trong lòng. Nó nghĩ chắc dì nó hãy còn nhiều đồ ăn ngon giấu nó. Chờ nó đi học rồi đem ra ăn một mình. Nó lại nghĩ, sao lúc nãy mình không mở tủ ra xem nhỉ...

Sắp đến trường. Tấn thấy những đứa bạn cùng lớp đang cười nói vui vẻ - Lũ bạn cũng thấy Tấn, chúng cùng chạy lại nói:

- Bữa nay thầy bệnh, nghỉ mầy ơi, tụi tao đi đá banh đây, đi hôn?

Tấn không đáp, hỏi:

- Nghỉ thiệt hôn hay tụi bây nói dóc?

Cả bọn quả quyết:

- Thiệt, chính ông hiệu trưởng nói với tụi tao là thầy bệnh nghỉ một bữa.

Tấn còn phân vân, chúng tiếp:

- Không tin mầy lên trường coi, tụi tao thề...

Tấn cười:

- Ừ, tao tin khỏi thề.

- Vậy thì đi.

- Đi đâu?

- Đá banh!

- Thôi tao về - Tấn đáp.

Một đứa nói:

- Ủa, sao lại về, hổng đá banh thiệt hả?

- Ừ.

Cả bọn rẽ qua ngã khác, Tấn chia tay các bạn trở về.

Nó bỏ cặp thật nhẹ lên bàn rồi đi ra nhà sau. Dì Tấn hãy còn lúi húi dưới bếp. Tấn bước thật nhẹ đến bên tủ đựng thức ăn, nó đưa tay mở cửa.

Đĩa trứng chiên ban nãy vẫn còn. Kế bên là một chén đậu xào thừa từ bữa ăn chiều hôm qua, không còn gì hết. Tấn ngạc nhiên đóng cửa lại. Có tiếng bước chân của dì. Tấn vội vàng nép vào cửa buồng.

Dì Tấn lại bàn ăn, lúi húi xúc cơm vào chén, rắc vào đấy một ít muối tiêu rồi ăn chậm rãi với đậu xào.

Nó thấy dì mắc nghẹn nhiều lần phải vói lấy ly nước uống. Tấn thương dì quá, nó thấy từ dì hình ảnh của mẹ ngày xưa. Tấn chờ dì quay lưng nó từ từ đi ra, thản nhiên như từ nhà trên đi xuống.

Nghe động dì Tấn quay lại, thấy Tấn, dì ngạc nhiên hỏi:

- Ủa, sao bữa nay không học con?

Tấn đáp khẽ:

- Dạ nghỉ dì, bữa nay thầy bệnh.

Dì Tấn nói:

- Bây giờ con ăn cơm với dì luôn nghe.

- Dạ! Dì cho... tui ăn với.

Dì Tấn bảo:

- Con coi chừng đuổi ruồi, để dì đi lấy thức ăn cho.

Tấn ngăn lại:

- Dạ thôi để... con đi lấy.

Dì Tấn ngạc nhiên, đây là lần đầu tiên Tấn xưng con với dì.

Dì Tấn hiền hòa nhìn nó:

- Ừ! Con đi lấy đi.

Tấn bước lại tủ, cầm đĩa trứng, nó tần ngần nhìn. Dì quả là người mẹ thứ hai đáng kính nhất của nó.

Nó buột miệng gọi khẽ:

- Mẹ!

Dì Tấn quay lại bỡ ngỡ, trong khi Tấn yên lặng cúi đầu.


THẠCH SA THANE     

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 136, ra ngày 1-9-1970)

Chủ Nhật, 19 tháng 11, 2023

THẦY...

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mến thầy từ buổi học đầu tiên
Con thấy thầy vui, tánh thật hiền
Lời giảng êm đềm vang trong lớp
Như dòng suối ngọt chảy triền miên

Rồi tháng năm dài bay vút qua,
Kỷ niệm ngày xưa đã nhạt nhòa
Những gì thầy dạy xin ghi nhớ
Và nhớ suốt đời khi đã xa...

                          TRỊNH CÔNG TRUYỀN
                            (Bút Nhóm Sương Đêm)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 178, ra ngày 1-6-1972)


Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2023

Chắp Cánh Bay Xa

 
Thi ngồi bên khung cửa. Bên ngoài trời đang mưa. Mưa đủ lớn để đan thành một tấm màn nước trắng xóa. Những chiếc lá dừa đong đưa theo chiều gió. Con đường trước mặt đầy những ổ gà giờ biến thành những chậu nước con con. Một con chim đang tung cánh bay giữa bầu trời. Chim cô đơn quá! Thi thấy thương lạ lùng khi nhìn chim lạc lõng bay về cuối chân trời với sự khó khăn vì lạnh. Một thoáng muộn phiền nào vương trong mắt khi Thi nhớ đến Thầy Hiền. Thầy dạy Thi năm đệ lục. Có một điểm mà Thi đặc biệt chú ý đến Thầy là Thầy giống ba Thi. Với khuôn mặt hiền từ, phúc hậu và nụ cười bao dung nở trên đôi môi, Thi đã lầm tưởng Thầy là Ba trong ngày đầu niên khóa ấy.

Dạo đó, Ba Thi đi lính ở xa. Thi nhớ thương Ba ghê lắm. Rồi trong năm học ấy, Thầy Hiền đã dạy lớp Thi môn Quốc văn, đồng thời Thầy cũng là giáo sư hướng dẫn. Trong buổi đầu, Thi nhìn Thầy thật lâu. Trời ơi! Thầy giống Ba Thi quá! Khuôn mặt xương xương với thân hình ốm ốm của Thầy chính là của Ba Thi đây mà.

Tình thương Thi dành cho thầy bằng tình thương Thi dành cho Ba. Vì Ba là thầy. Thi nghĩ thế. Thi thấy rằng mình cần cố gắng hơn lên. Những bài Việt văn thầy cho, Thi đều làm đầy đủ hoặc học thuộc làu. Trong lớp, Thi chăm chú nghe lời thầy giảng. Thi được thầy thương mến vì đã luôn đứng nhất trong lớp về môn Việt văn. Thầy thường khen Thi có khiếu về văn chương. Thi thấy sung sướng và hãnh diện giữa những cặp mắt đầy mến phục và ước ao của bạn bè. Thi nhớ mãi buổi tối ở xóm lao động nghèo nàn. Thi ngồi học bài dưới ánh sáng lù mù của ngọn đèn dầu. Thầy đến nhà Thi để lấy những tấm thành tích biểu mà thầy đã nhờ Thi cộng điểm dùm. Thầy nói chuyện với má Thi. Thầy thấu hiểu hoàn cảnh khó khăn của gia đình Thi khi ba Thi đi lính thật xa và má thi phải chật vật nuôi đàn con bốn đứa. Những cuốn sách giáo khoa hoặc những món quà mà Thi lãnh mỗi cuối tháng là phần thưởng cho học sinh xuất sắc mà thầy đã nghĩ ra để giúp đỡ cho gia đình Thi một phần nào.

Khoảng trống của tâm hồn Thi vì thiếu vắng ba đã được thầy Hiền che lấp. Nỗi nhọc nhằn của mẹ vơi đi một phần nào đó là dịp để Thi kính mến thầy thêm. Thi yêu quí, tưng tiu những món quà thầy thưởng. Niềm ước ao của những đứa bạn là lý do để Thi cố gắng hơn lên nữa. Phần thưởng hạng nhất đã vào tay Thi cuối niên khóa ấy. Thi nhớ mãi nét chữ thẳng đứng và ốm của thầy trên tấm giấy đặt trong gói phần thưởng mà thầy gởi cho má. Thầy khen Thi học giỏi và hy vọng Thi sẽ được học lên cao.

Rồi trong niên khóa kế tiếp, thầy không còn dạy Thi nữa. Nhưng Thi vẫn thường tới lui thăm viếng thầy nơi căn gác nhà trọ. Thi nghe có một vài thằng bạn nói rằng thầy bị ho lao. Thi không tin. Thi thấy thầy vẫn như thường, chỉ có ốm và mét. Nhưng sau một năm trời thì Thi thấy có lẽ những lời nói của bạn là đúng. Những cơn ho của thầy cứ vẳng bên tai Thi mỗi khi Thi bước xuống thang gác nhà trọ của thầy. Nhưng không biết có phải vì thương thầy hay không mà Thi thường cãi với bạn bè trong những lúc nói chuyện về thầy. Đâu phải cứ ho một vài tiếng là đã ho lao. Thi nghĩ thế và thầm mong cho thầy không mắc phải chứng bệnh nan y.

Thầy thường nghỉ dạy năm, mười ngày. Kỳ nghỉ hè năm đó, có một lần Thi đến nhà thầy, thầy tiếp một cách miễn cưỡng. Thầy đã nói một câu làm Thi đau lòng. "Em đi về giúp má, lo cho các em đi. Thầy mệt". Thầy ho trong khăn "mu soa". Thi tức tối. Thi thấy như thầy hất hủi Thi. Thi tưởng như thầy không còn thương Thi nữa. Thi cố tìm nhưng không sao tìm thấy được mình đã làm điều gì khiến thầy phật lòng. Thi lí nhí chào thầy rồi bước xuống cầu thang gác với một nỗi buồn.

Sau một khoảng thơi gian hơi lâu, đâu chừng hơn một tháng, Thi có dịp ghé lại thăm thầy. Thi đến căn gác trọ vào một buổi chiều. Bà chủ nhà cho Thi biết rằng thầy Hiền đã đi nơi khác được hơn nửa tháng rồi. Bà chủ nhà có đưa cho Thi một tấm giấy của thầy Hiền gởi. Thi ngạc nhiên, đứng sững sờ. Sau phút giây lặng lẽ, Thi mở mảnh giấy thầy Hiền để lại. Không như hôm nào, nét chữ thầy run rẩy, nghiêng nghiêng. Đúng như điều những đứa bạn đã nói với Thi, thầy mắc bịnh ho lao. Không muốn Thi phải bị lây bịnh, bị vi trùng đục khoét mà thầy phải ra đi. Thi nghẹn ngào, nước mắt rưng rưng. Thầy cao thượng quá, thầy ơi! Con không bao giờ quên được thầy cũng như thầy luôn luôn nhớ đến con. Con sẽ cố gắng học hành để thầy được vui lòng. Thi nức nở khóc. Căn gác nhỏ thầy trú ngụ ngày nào vẫn còn đó mà thầy giờ đã bặt tăm. Không ai biết thầy giờ ở nơi đâu. Mọi người xung quanh đều thờ ơ với thầy vì họ sợ mắc phải chứng bịnh hiểm nghèo. Nhưng thầy đâu còn ở đây nữa để mà gieo rắc vi trùng. Thi đứng lặng người trước ngôi nhà trọ. Căn gác nhỏ chứa đầy kỷ niệm của hai thầy trò đã được quét tước thật sạch sẽ để làm nơi trú ngụ của một người khác. Thay đổi nhiều nhưng Thi vẫn thấy cũng như ngày hôm nào. Cái bàn viết, cái "đi-văng", cái tủ nhỏ với một vài thứ vặt vãnh khác của thầy lần lượt được vẽ ra trong trí Thi. Thi không hiểu giờ đây thầy ở nơi nào. Thi thất thểu bước mà nghe xót xa trong lòng...

Ngoài kia trời vẫn mưa. Thi bước đến ngăn đựng sách, lấy một cuốn và lật ra trang đầu. Nét chữ thẳng và ốm của thầy đề tặng Thi hiện ra trước mắt. Thi xếp sách lại. Đến một cuốn khác, cũng nét chữ đó, ngoan hiền và lặng lẽ đứng bên nhau. Ba năm rồi mà Thi tưởng như mới hôm qua. Nét mặt hiền từ của thầy với thân hình ốm và cao đã được Thi vẽ ra qua ba mỗi khi về phép thăm gia đình. Như con chim cô đơn, thầy đã tung cánh bay đi rồi, xa Thi mãi mãi, không hẹn ngày trở lại. Thầy chấp nhận một cuộc sống lẻ loi ở một nơi nào đó vì thầy không muốn làm khổ Thi, đứa học trò thân yêu của thầy.

Thầy ra đi để lại bao niềm thương tiếc trong lòng Thi. Những lời khen tặng của thầy hôm nào vẫn còn văng vẳng bên tai. Thi muốn tìm lại những phút giây êm đềm xa xưa ấy. Đẹp và buồn như một chiều mưa. Ước mong tha thiết nhất của Thi hiện tại là làm sao thầy vẫn còn sống. Thầy được hít không khí trong lành, còn hiện diện trên quả đất này và đừng bao giờ yên nghỉ nơi nghĩa trang buồn. Nhưng sao Thi nghe như niềm mong ước mỗi ngày một bay xa, xa dần rồi chỉ còn là một chiếc bóng mờ.


(Trao về Lâm Hoàng Tùng)   
Phương Linh Tuấn        
(Phan Thiết)            

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 57, ra ngày 24-9-1972)
 

Thứ Năm, 16 tháng 11, 2023

Cô Trong Lòng Học Trò

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(Kính đến Cô N.T.N. DUNG. 
Người đã vun trồng tin yêu cho con dân 9/2 
để ươm mơ vùng tuổi nhỏ học trò...)

Cô biết hông học trò thương cô lắm!
Buổi học đầu trò thấy mến yêu cô.
Làm loài chim ấp ủ tuổi dại khờ,
Cô ươm mộng bằng yêu thương dào dạt!
 
Cô ơi! Buổi học này cô không đến,
Học trò buồn ngơ ngẩn mắt trông xa
Khóe mi sầu chờ đón dáng thướt tha,
Ghét cô lắm, chỉ vì cô không đến!
 
Cô trò đó mắt sầu buồn lệ tím,
Ngưỡng cửa nầy cô nở nụ cười xinh
Cô dạy trò học "Sử Việt" thanh bình,
Bằng tất cả tim yêu ngày học mới!
 
Cô còn đó, học trò nhỏ còn đây!
Lớp học thấy thương yêu mùa họp mặt
Xiết chặt tay linh hồn đầy nước mắt,
Cô trò buồn ngày phượng hạ rơi đầy!
 
Cô trò giảng bên khung cửa giăng mây,
Ngày yêu thương ngào ngạt trong lớp nầy
Bên mái ấm lời ái yêu mở ngỏ,
Cho linh hồn thành huyền thoại từ đây!
 
Cô nhớ chăng học trò cô ngày ấy!
Vẽ hình cô - vuốt nhẹ áng thơ mây.
Vào tập giấy Sử Địa - lớp chín nầy,
Và từ đó nhớ hoài cô trò đấy!
 
                                                  T.T.T.R
                                                 (Gò Công)
 
 (Trích tuần báo Thiếu Nhi số 110, ra ngày 7-10-1973)
 

Thứ Tư, 15 tháng 11, 2023

Ta Ngồi Chênh Vênh Trên Đỉnh Hồn Nhiên

 

Khi tôi nghiêng đầu ngắm những cành hoa glaieul màu vàng cắm trong chiếc bình nhỏ màu thiên thanh, thì ngoài hàng rào có tiếng cười khúc khích. Ba cô học trò nhỏ của tôi lấp ló ngoài đó. Tôi cười:

- Vào đây các em.

Đỗ Quyên, Ngân Hà, Đông Trúc đã tự động mở cửa mà ùa vào. Ba cô học trò nhỏ đến thăm tôi, các em vẫn thường đến đây. Khi các em đến, căn phòng nhỏ của tôi tràn ngập tiếng nói, tiếng cười của các em.

Đông Trúc liến thoắng:

- Chắc cô yêu hoa glaieul lắm?

- Không hẳn thế. Thấy hoa đẹp cô mua thế thôi.

Ngân Hà chen vào:

- Vậy hôm nào mời cô đến nhà Trúc. Cô sẽ mê vì vườn hoa nhà nó, toàn là hoa đẹp không à cô.

- Ừ, hôm nào cô sẽ đến hái hết hoa của Trúc.

Đông Trúc cười nhẹ, không nói. Đỗ Quyên nheo mắt nhìn Trúc:

- Vào đề đi là vừa, Trúc.

- Gì thế Trúc?

Trúc cúi mặt, không nói. Ngân Hà nhìn bạn cười:

- Dạ thưa cô, ngày mai là ngày Trúc tròn mười bốn. Trúc mời cô đến dự một bữa tiệc nhỏ, toàn là bạn bè trong lớp... 

Và lúc đó, trong ngăn tim tôi reo lên một niềm vui nhỏ. Ba cô học trò của tôi sao mà bày vẽ thế. Chúng đặt trọn vẹn niềm tin yêu vào tôi. Không, không phải chỉ có ba cô học trò nhỏ, mà là năm mươi tám cô bé dễ yêu. Chúng như những con búp bê, những con sóc nhỏ thì đúng hơn, chúng luôn vui đùa, nghịch ngợm trong sự hồn nhiên, vô tư. Chúng yêu mến tôi nhiều quá. Tôi... và tôi cũng yêu mến chúng thật nhiều, thật nhiều...

Đỗ Quyên đưa một cành hoa glaieul lên mũi:

- Chắc hẳn cô bằng lòng đến chung vui với các em?

Tôi cười. Ngân Hà láu táu:

- Thế là nhờ công tao nhá. Mai, mày phải có gì thưởng tao đấy.

- Mai tao sẽ cho mày ngồi một mâm... không...

- Ớ...

Đỗ Quyên xin phép ra về. Em đưa tay định cắm hoa vào bình, tôi ngăn:

- Quyên cứ cầm lấy.

Cô bé đỏ mặt nhìn tôi, cười nhẹ. Tôi tiễn chúng ra cổng. Ba cô bé nắm tay nhau chạy lanh chanh khuất sau tàu lá xanh mướt. Tôi đứng nhìn theo ba con sóc nhỏ.

Hè năm trước, tôi bị thuyên chuyển về đây dạy. Chú ơi! Ngày tháng ở đây thật buồn. Con Thương, bạn tôi, đã có lần nói: "Cái tỉnh Pleiku đèo heo hút gió, buồn chết người. Mầy mà lên đó là đời đi tàu suốt". Và bây giờ, tôi mới thật sự nhân diện cái nỗi buồn đó. Mưa, mưa dai dẳng, tôi có cảm tưởng như con người tôi sẽ mục nát. Tôi lười biếng nằm dài trong phòng, chẳng biết đi đâu. Nằm nhà một tuần, chờ ngày khai trường đi dạy. Tôi hết mấy cuốn truyện dài, nghe nát mấy cuốn băng mà con Thương gửi cho tôi. Phố núi cao, phố núi mờ sương. Phố núi thênh thang nên phố buồn. Đi dăm phút lại về chốn cũ, một chiều mưa lòng thấy bâng khuâng... Em Pleiku má đỏ, môi hồng, ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông. Nên tóc em ướt, nên mắt em ướt, nên em mềm như mây chiều trôi...

Tôi mừng rỡ khi đến ngày khai trường. Lòng tôi reo vui như ngày còn làm học trò, chân sáo theo mẹ đến trường. Con đường đất dơ bẩn, vạt áo dài của tôi lất phất hoa bùn. Tôi làm quen dễ dàng với lớp học mới. Lớp học có những con sóc nhỏ luôn nghịch ngợm. Nếu bất chợt tôi đi xét ngăn bàn. Chao ôi toàn là quà vặt. Cô giáo trẻ dễ thông cảm với lũ học trò. Đôi lần đang giảng bài, mùi mít thơm tho từ bàn Thúy Ái, cô học trò nhỏ lém lỉnh bay lên. Tôi không giảng bài được... bèn cho chơi. Tôi yêu những con sóc nhỏ của tôi lắm, tôi thích chúng ngậm những quả ô mai, xí mụi trong miệng (Ngày xưa, tôi cũng là một con sóc chuyên ngậm kẹo chanh và hạnh nhân trong miệng). Và tôi đã hòa mình với các con sóc nhỏ, hòa mình vào thế giới hồn nhiên của chúng. Ngoài trời mưa, cô giáo và học trò ngồi lại ăn đậu phọng. Chúng dám mời tôi ăn. Chúa ơi! Con không ngờ những con sóc dễ yêu đó. Không hẳn là trong lớp chỉ có những cô bé ngoan ngoãn, dễ yêu, nghịch nhưng chăm mà có đủ các đức tính. Yếu đuối có, bướng bỉnh có, chăm có, lười có, thích dịu dàng có, thích đe nẹt có... Đây là một xã hội nhỏ, một thế giới hồn nhiên, thánh thiện.

Những ngày nghỉ hay vào một buổi chiều đẹp trời nào đó, cô giáo và học trò đi chơi khắp thành phố, đi hái hoa dại, hái những cây trái của rừng, đôi khi học trò vặt trái vườn người cho cô giáo. Chúa ơi! Chúng yêu mến tôi thật nhiều. Tôi sẽ nhớ mãi những khuôn mặt thương yêu đó.

Ngoài trời cơn mưa nhỏ kéo đến, bỗng dưng tôi muốn đi dưới cơn mưa nhỏ hạt đó, nhớ đến ngày xưa, ngày xưa dấu ái...


KHƯƠNG HOÀI - NGUYÊN KHANG     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 113, ra ngày 2-11-1973)

Thứ Ba, 14 tháng 11, 2023

Khi Trái Tim Học Trò Thổn Thức

 

Trước hết, chúng tôi xin trân trọng cảm tạ tất cả các vị giáo chức, đã vui lòng đảm nhiệm một nghề rất vất vả, mà sự đãi ngộ lại quá đạm bạc. Hình ảnh những cụ đồ Nho già, nhà tranh vách đất, ngày hai bữa cơm đỏ, rau dưa tương cà, lấy niềm hãnh diện đã đào tạo nên những "con người" đúng nghĩa, làm nguồn vui triền miên, không nghĩ tới sự đói rách của bản thân và gia đình, miễn sao dành hết thì giờ để giảng đạo thánh hiền, thật là cao đẹp, đã khiến cho người Á Đông, những dân tộc trọng lễ giáo, phải luôn luôn tôn bậc thầy lên địa vị cao hơn cả cha mẹ, chỉ đứng dưới có vua mà thôi.

Riêng đối với chúng tôi, thì phải nói rằng dù đã trên 30 năm trôi qua, chúng tôi vẫn còn nhớ như in các thầy giáo lớp năm, lớp tư, những bậc thầy đã tận tâm dậy dỗ chúng tôi, những ánh mắt thương yêu trìu mến. Giờ này nhớ lại, chúng tôi còn thấy hiện lên trên bục gỗ, những bậc thầy đáng kính, năm này qua năm khác. gắng công nối tiếp truyền thống của tiền nhân, cho xứng đáng với thứ bậc " rồi mới tới phụ".

Cho nên, trong nhiệm vụ giải đáp thắc mắc tâm tình của các em, chúng tôi đã khựng lại ở mấy vụ sau này, không thể giải thích cho các em cảm thông được. Chúng tôi thiết nghĩ, gần đây, chúng ta thường có ấn tượng xấu về giới trẻ, cho là giới trẻ đã có nhiều hành động vô ơn bạc nghĩa, hỗn hào, không tôn trọng thầy như thời xưa. Thiết tưởng chúng ta cũng nên duyệt xét lại coi trong sự cư xử của các bậc thầy ngày nay, liệu rằng có điều gì khiến cho các em mất niềm tin tưởng không? Dĩ nhiên là những chuyện đáng thắc mắc chỉ là một phần nhỏ, nhưng thực tế là nó đã xảy ra. Mà "giáo dục là nêu gương", nếu các em đã không tin tưởng thì sự dậy dỗ quả là khó khăn.

Trong nhiệm vụ tạo niềm cảm thông sâu xa, để thầy trò càng hiểu nhau thêm, ngõ hầu dựng lại được truyền thống tốt trong tòa nhà giáo dục, chúng tôi xin đưa mấy thắc mắc này ra để xin quí vị giáo chức liên hệ cho lời giải thích, ngõ hầu gây lại niềm tin nơi các em đối với các bậc thầy.

Thư của em... Bảo Lộc:

... Thầy em mở thêm lớp dạy tư toán ở nhà, không nói ra là bắt đứa nào đi học cả, nhưng khi cho bài tập trong lớp, thầy chỉ cho các bài mà học trò riêng của thầy đã làm. Còn đứa nào không học tư, không làm được bị thầy mắng là:

- Đồ mặt mẹt, mặt mo. Dốt thì sao không chịu bỏ tiền đi học tư thêm. Còn lo thụt bi da, ăn quà vặt...

Thưa chị, em không hề thụt bi da, ăn quà vặt, nhưng ba em đã mất, má em ở trong hội quả phụ tử sĩ, được lãnh đồ may, mỗi tháng kiếm được gần mười ngàn. Tụi em có tới bốn anh em, tiền ăn còn không đủ, làm sao em dám ngửa tay xin tiền đóng tiền học tư thêm.

Thư của em... Chợ Lớn:

Chắc chị biết trường... của em, một cơ sở giáo dục lớn và dậy dỗ cẩn thận nổi tiếng. Nhưng đấy là "tiếng" thôi. Thực tế là bà giáo sư Pháp Văn của em, người vừa đẹp vừa hách, nhưng dạy dỗ lại chẳng đẹp chẳng hách tí nào. Nhiều hôm bà vừa giảng bài cho em, vừa dũa móng tay, rồi sơn mầu, chờ cho khô mới cầm phấn. Trong lớp em có mấy bạn học chương trình Pháp nên rất giỏi Pháp Văn, bà rất cưng họ và nói:

- Tôi nói cho các cô hay, học trò tôi là phải giỏi. Ai giỏi tôi nâng lên, ai dốt tôi đạp xuống bùn cho chết luôn.

Thắc mắc:

Chúng tôi công nhận là hiện nay, có một số em học lực quả là yếu kém. Nhưng nếu vậy, xin cho các em đó qua một kỳ thi xác định khả năng. Nếu kém quá thì cho xuống lớp dưới, để dành chỗ cho các em có trình độ tương đương nhau cùng học với nhau sẽ có ích hơn. Chứ biện pháp học kèm như thế rất là vá víu, dễ gây ngộ nhận, tạo mặc cảm cho các em nghèo không có tiền học thêm lớp riêng.

Trong dĩ vãng, chúng tôi đã thấy có một số giáo sư chịu bỏ ra mấy giờ ngày nghỉ để kèm thêm cho nhóm học sinh có khả năng mà chỉ bị kém một vài môn. Nhưng các vị đó không thu tiền. Sau buổi học, trò kéo nhau ra sân nhà thầy cuốc đất trồng cây dọn dẹp. Thành ra những mệt nhọc của thầy hầu như tiêu tan hết trong tình đằm thắm thầy trò. Dĩ nhiên rằng thời buổi khó khăn chật vật này mà đòi hỏi thầy điều đó là quá. Nhưng cũng xin quí vị lưu ý tới cách cư xử sao cho tế nhị để tình thầy trò khỏi bị tiền bạc làm hoen ố.

Riêng với bà..., chúng tôi chỉ xin bà nhớ cho rằng trước mắt các em, bà là khuôn vàng thước ngọc để các em noi theo.

Thư của em... Saigon:

Cháu học lớp 9 trường... Cô giáo cháu bảo chúng cháu thuyết trình bộ Anh hùng xạ điêu. Chúng cháu đã lục soát hết cả Thiếu Nhi từ số 1 đến 112 nơi mục "Thắc mắc của em" mà không thấy tiểu sử Kim Dung. Cháu lại lục tìm ở nhiều cuốn Giảng văn nhưng cũng không có. Mà ngày thứ sau 9-11-73 là cháu phải thuyết trình rồi. Chú tìm gấp cho cháu, tối thứ tư cháu đến xin chú...

Thắc mắc:

Chúng tôi rất ngạc nhiên thấy có vị giáo sư lựa đề tài này cho các em lớp 9 thuyết trình. Hãy dẹp vấn đề phán xét giá trị giáo dục của cuốn truyện qua một bên, chỉ bàn tới cái thời giờ mà các em phải bỏ ra để nghiền ngẫm cả bộ đâu cỡ hai ngàn trang. Học sinh lớp 9 làm một bài thuyết trình, phải đọc 2000 trang sách, liệu rằng thời giờ của các em có được sử dụng hợp lý không? Lại phỉ nói rõ là truyện kiếm hiệp của Kim Dung đọc rất lôi cuốn Bằng chứng là có một dạo báo chí hàng ngày phải giành nhau, đặt trước từ Hồng Kông, để được gửi gấp tờ báo mới nhất về V-N, và các dịch giả làm việc gấp rút cho có bài đăng kịp lên báo. Nếu báo nào không có truyện Kim Dung kể như mất một số độc giả. Vậy mà nay giáo sư cho các em thuyết trình Anh Hùng Xạ Điêu, thì chắc chắn sau khi nghiền xong AHXĐ để làm bài, các em sẽ trở nên say mê, đi tìm kiếm các các cuốn khác trong toàn bộ như Võ Lâm Ngũ Bá (cỡ vài ngàn trang), Cô Gái Đồ Long (cỡ vài ngàn trang) và còn những cuốn khác nữa đã được in trên nhật báo trong suốt 10 năm, hẳn là thời giờ để các em gậm nhấm sách Kim Dung đủ choán hết tuổi thanh xuân của các em mất rồi.

Ngoài ra, còn một mối nguy nữa, là các bậc cha mẹ thường ngăn cấm con cái đọc kiếm hiệp. Sự ngăn cấm đó có nhiều phần hợp lý. Bởi vì nếu truyện kiếm hiệp, nhất là kiếm hiệp Kim Dung, nhờ tính chất khoác lác, hoang đường của nó, có giúp người lớn những giây phút trốn chạy thực tế, ẩn mình vào tháp ngà thụ động, bỏ rơi cả xã hội cực nhọc quanh mình, thì chính những truyện kiếm hiệp đó lại tác hại đầu óc trẻ em vô cùng.

Bởi vì trẻ em ưa bắt chước. Truyện kiếm hiệp lại thường có những cảnh đánh chém giết. Cho nên các em thường phong cho mình một vai trò, nhất là những vai trừ gian diệt bạo, hay là anh hùng cái thế, đập phá đánh chém, tự cho mình bổn phận phải san bằng những bất công xã hội. Rồi chia phe chia đảng, đánh đấm nhau, vừa tốn thời giờ, vừa sinh ra thói đáng đấm hung bạo, các bậc phụ huynh ngăn cấm cũng phải.

Xin bà giáo sư nào đó đừng hợp thức hóa tình trạng đọc truyện kiếm hiệp, để mai đây các em có thể ngang nhiên mướn kiếm hiệp về nghiền ngẫm tối ngày sáng đêm rồi khi bị cấm đoán, lại gân cổ lên:

- Coi cho biết kẻo mai mốt cô giáo ra bài, làm không được!

Chúng tôi xin nói rõ lại là với bài này, chúng tôi chỉ mong sao quí vị nhận thấy những nỗi thắc mắc và cảm thông với trái tim nhỏ bé của các em. Nếu quả là đã có một vài vị sơ ý mà làm hại chung cho uy tín của giáo giới, thì chúng tôi ước mong mọi sự sẽ được cải thiện và tình sư đệ càng ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.

Đó chính là ước mong tha thiết nhất của chúng tôi khi nhớ lại những ân đức của các thầy cô xưa đã hết lòng dậy dỗ học trò.


ĐỖ PHƯƠNG KHANH      

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 114, ra ngày 14-11-1973)

Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2023

Một Gương Danh Nhân : Bà Helen Keller

 

Các em thân mến,

Một em đã gửi đến chúng tôi: Thưa bác chủ nhiệm, trong báo Thiếu Nhi số 4 bác có viết: "... Tại sao em không nở nụ cười? Khi em còn đủ hai tay và hai chân, và còn nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Bà Helen Keller, khi nhỏ vừa mù, vừa câm, vừa điếc, nhưng bà có buồn đâu! Bà vui vẻ và cố gắng. Bà đọc sách nhiều gấp trăm người thường, đã viết bảy cuốn sách và diễn thuyết khắp nước Mỹ..." cháu thắc mắc làm thế nào bà Helen Keller lại diễn thuyết được khắp nước Mỹ và cháu xin bác kể lại cho cháu nghe cuộc đời của nhân vật phi thường ấy.

Em độc giả bé nhỏ của tôi ơi, em đã nhận xét rất đúng: người câm không làm sao diễn thuyết cũng như người chết không bao giờ nói được nữa. Trong đoạn trên, tôi có ghi rõ: Bà Helen Keller, khi nhỏ, vừa mù, vừa câm, vừa điếc.

Đúng ra, cô bé Keller khi sinh ra cũng lành lặn hẳn hoi như mọi đứa trẻ bình thường. Cô bé vẫn nhìn thấy mọi vật xung quanh. Cô bé vẫn nghe được những âm thanh như bao em bé khác. Cô bé vừa bập bẹ tập nói thì một chứng bịnh nặng làm cho em phải mù, câm và điếc, lúc ấy em bé Keller vừa mới lên được một tuổi rưỡi.

Từ đấy, cô bé Keller sống và lớn lên trong sự đầy khổ sở. Các em thử tưởng tượng nếu chúng ta bị câm và điếc hay chúng ta chỉ bị mù lòa thôi, chúng ta sẽ đau đớn, cực nhọc như thế nào?

Khi Keller đến tuổi đi học, cha mẹ em đến trường dạy các trẻ em mù tìm cho em một ông thầy để dạy riêng cho em.

May mắn thay, cha mẹ em được gặp cô Anne Sullivan, một cô gái mới hai mươi tuổi vừa rời viện Perkins là trường dạy các trẻ em mù ở Borton. Cô Annie Sullivan bằng lòng nhận một công việc vô cùng khó khăn là giáo dục một đứa bé vừa câm, vừa điếc lại vừa mù.

Đời cô Annie Sullivan cũng đầy nước mắt. Cô đã sống trong sự khổ nghèo. Năm lên mười tuổi cô cùng đứa em ruột bị đưa vào trại tế bần. Ở đấy đời sống quá chật vật, không đủ chỗ cho các em nghỉ. Đêm đến, hai đứa bé phải vào nhà xác mà ngủ. Sống trong trại được sáu tháng, vì quá vất vả, em cô bị bịnh và mất sau đó. Còn cô lây lất sống, khi đến mười bốn tuổi, cô cũng bị đau nặng đến đôi mắt gần bị mù. Người ta đã gởi cô đến viện Perkins để học chữ như những người mù khác. Nhưng may mắn cho cô, cô không bị mù hẳn, lần lần cô thấy được rõ ràng hơn.

Có lẽ vì cảm thông nỗi khổ sở của người cùng cảnh ngộ. cô Annie Sullivan đã nhận ngay việc dạy dỗ cô bé bạc phước Helen Keller. Nhờ sự cố gắng của cô, chỉ trong vòng một tháng, hai người có thể giao dịch với nhau. Cô Helen Keller rất sung sướng khi thấy mình tàn tật đến mức độ như vậy lại có thể giao dịch được với một người khác.

Khi cô Helen Keller lên đến mười hai tuổi, cô học hành đã khá. Cô được đưa vào trường trung học. Cô giáo Annie Sullivan cũng đi theo để giúp đỡ cô. Lúc ấy, cô bắt đầu tập nói và nhờ sự cố gắng, cô đã nói được tuy không rõ ràng. Cô lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần câu nói đầu tiên mà cô nói được: "Bây giờ tôi hết câm", lòng tràn ngập sung sướng.

Lớn lên, bà Keller viết sách và viết báo rất nhiều bằng lối chữ Braille là lối chữ dành cho người mù.

Bà cũng đọc rất nhiều sách, có lẽ nhiều hơn những người có may mắn còn đôi mắt.

Bà đã đi diễn thuyết khắp nước Mỹ, tuy giọng bà không được rõ ràng, hơi giống giọng của người ngoại quốc nói tiếng bản xứ.

Trong những lúc nhàn rỗi, bà thường đi dạo trong vườn, làm bạn với con chó mà bà rất quí mến. Bà thưởng thức âm nhạc bằng cách sờ tay lên môi của người hát hay đặt tay trên chiếc dương cầm hay vĩ cầm. Bà biết bơi, biết chèo thuyền, biết cỡi ngựa. Bà chơi cờ, dành riêng cho bà. Bà cũng hay đan hoặc thêu thùa.

Các em thân mến,

Với một ý chí mạnh mẽ, các em có thể vượt qua mọi trở lực một cách dễ dàng.
 
Đúng vậy, chúng ta được diễm phúc không phải tàn tật như bà Keller, chúng ta khỏi phải lần mò trong đêm tối, chúng ta chỉ cần một ít nghị lực là chúng ta đạt được những gì chúng ta ước muốn.


Thân ái                      
NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 12, ra ngày 31-10-1971)



Thứ Bảy, 11 tháng 11, 2023

Câu Chuyện Về Đức Tính Của Một Vị Bác Sĩ

 

Xưa có một vị Bác sĩ mà tiếng tăm và lòng nhân đạo của ông đã vang dội khắp nơi. Một ngày nọ, người ta mời ông đến chữa bệnh miễn phí cho một người đàn ông nghèo nàn thất nghiệp. Ông không từ chối.

Sau khi khám mạch cho bệnh nhân, bác sĩ bảo vợ y:

- "Thôi! Tôi hiểu bệnh của anh rồi. Đây là căn thuốc chị cần cho anh uống để mau khỏi" Nói xong ông đưa chị ta một cái hộp to, nặng rồi ra về.

Các bạn có biết hộp đựng gì không? Thật là bất ngờ, khi chị vợ mở hộp ra cho chồng uống thuốc, chị kinh ngạc thấy hộp toàn là tiền. Tiền nén, tiền vàng nhiều vô kể so với kẻ nghèo mạt sát đất như gia đình chị. Và sau đó, vì một lẽ tự nhiên, anh chồng hết bịnh ngay sau khi thấy món tiền đó.

Thực ra anh không có bệnh gì ngoài căn chứng buồn khổ vì nghèo và thất nghiệp. Vị bác sĩ nhân ái kia đã thấu rõ việc đó, và cho một bài thuốc hợp tình. Ấy là hành động mà anh chị sẽ không bao giờ quên được, có lẽ suốt đời họ.

Về sau, anh chị mới biết vị cứu tinh cao quí nọ chính là ngài Goldsmith. Mà tên tuổi nay còn vang dậy trong lịch sử Y học.


Nguyễn Phúc       

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 55, ra ngày 15-10-1966)

Thứ Năm, 9 tháng 11, 2023

Chị Dỗ Em

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trời đổ mưa rồi em nín đi
Ngủ say trong tiếng nhạc mưa về
Má mình còn bước sâu trong ruộng
Vun xới đất nghèo đượm thắm quê

Trời đổ mưa rồi em thấy không?
Bóng chim thấp thoáng ướt lông mềm
Run run đói rét không nương tựa
Núp dưới hàng khoai suốt cả đêm

Trời đổ mưa rồi dột mái tranh
Tí tách âm vang vọng bên mành
Gió reo thổi mạnh ngoài cây mít
Xào xạc lá dừa bên gốc chanh

Trời đổ mưa rồi võng chị đưa
Ngủ ngon chút xíu nữa má về
Má còn khổ cực hơn em nữa
Sớm, tối băng đồng lội khắp đê

Trời đổ mưa rồi em nín đi
Ru em chị tắt tiếng khan lời
Ầu ơ...
Gió đưa bụi chuối sau hè
Má còn bương bả...
Ầu ơ...
Má còn bương bả chèo ghe qua đồng

                                TRỊNH CÔNG TRUYỀN

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 184, ra ngày 1-9-1972)

Thứ Tư, 8 tháng 11, 2023

Lửa và Nước

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lửa khoe lửa cháy bừng bừng,
Bốc lên cao nghệu đến từng mây xanh.
 
Đốt thiêu mọi vật tan tành,
Đến đâu tiêu đấy, một manh chẳng còn.
 
Lửa bèn chê nước chui lòn,
Chẳng từ cống rãnh, không còn sạch dơ.
 
Sống đời nhu nhược, mù mờ,
Mỏng mềm, yếu đuối, khù khờ, nhủi chui.
 
Nước liền tỏ vẻ bùi ngùi,
Ra chiều điềm tĩnh, ngọt bùi thở than:
 
Cúi xin hai chữ bình an,
Chứ không bạo động, huênh hoang thư hùng.
 
Lửa bèn la hét đùng đùng,
Tỏ bày kiêu khí, vẫy vùng xem chơi.
 
Máu hăng lửa cháy sáng ngời,
Lượn qua liếm lại, thêm lời bạo hung.
 
Lửa mời nước hãy tranh hùng,
Lửa luôn khiêu khích, ý dùng xỏ xiên.
 
Nước luôn trầm tĩnh, thản nhiên,
Ung dung nhẫn nhịn, làm hiền nhiều phen.
 
Tấn công lửa hét rùm beng,
Buộc lòng nước tạt, lửa bèn tắt ngay.

"Thất phu chi dũng" là đây,
Lửa mà chọi nước thế nầy đáng thương.

"Nhu thắng cương, nhược thắng cường"
Nước tuy chảy thấp, lửa đương được nào.

                                              NGUYỄN TÀI NĂNG

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 10, ra ngày 17-10-1971)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>