Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2020
Con Gái Ăn Tết
Quanh quanh quẩn quẩn lại tới tết
May sắm bây giờ nghĩ thật bết
Hàng vải xem ra kể cũng nhiều
Nhưng kiếm tiền mua... ôi chao mệt
Rồi cũng may xong chiếc áo dài
Thêm đôi dép mới cho bằng ai
Phấn son chắc cũng phải tí chút
Mặc đẹp thế này bỏ cũng hoài
Bố hỏi: Mày không làm mứt dừa?
Vâng vâng dạ dạ, tuy không ưa
(Mứt me, tầm ruột chua mới khoái)
Hóa ra mình ngoan chứ chẳng vừa.
Mứt vừa làm xong tới thịt kho
Khổ thân quanh quẩn mãi bên lò
Thế mà lơ đãng cháy khét hết
Để cậu hàng xóm cậu cười cho.
Đêm ba mươi thức chờ giao thừa
Đúng lúc, ngủ quên có chán chưa
Tỉnh dậy thấy hơi hơi mắc cỡ
Mẹ trêu chỉ tí nữa thì "mưa"
Tết nhất họ hàng đến thật đông
Để chào: cúi đầu quay một vòng
Không biết tên ai cùng thứ bậc
Cứ làm như vậy thế cũng xong
Mẹ bảo, thôi cho mày đi chơi
Eo ui, thế là sướng "quá trời"
Nói xong, rụt cổ và le lưỡi
Năm mới phải kiêng nói những lời...
Phố xá xem ra kể cũng vui
Nhưng mà mình lại mắc chuyện xui
Có anh chàng nọ trông lơ láo
Cứ đi đằng sau: em với tui...
Thăm mấy con bạn rồi về nhà
Chân nhức mà chẳng dám kêu la
Sợ rằng bố mắng sao đi mãi
Rồi về mặt nhăn như bà già
Tết năm nay có một chuyện hay
Nghĩ tới mặt đỏ như người say:
Tối mồng ba tết mẹ nói nhỏ:
Buổi chiều, có cậu xem mặt mày.
Nghĩ kỳ mà cũng thấy sợ ghê
Nhỏ, lại hung hăng chắc họ chê
Nhưng mình đâu thích, đâu cần chứ
Chịu, chê, cũng cứ mời cậu về.
Đêm, nghĩ thấy mình đã lớn ra
Thêm một tuổi sao vẫn tà tà
Chắc phải đổi thay thêm chút đỉnh
Dù rằng ta vẫn cứ là ta.
Chuyện tết của mình thật lan man
Chấm hết cho xong tuy vội vàng.
Nói lắm riết rồi chẳng ai hiểu
Đúng như mẹ bảo: tính mày ngang.
ĐẠI PHÁ
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông Xuân Nhâm Tý, 1972)
Năm Tý Tán Gẫu Về Chuột
Theo thói tục đã có từ đời cụ Bành Tổ nhà ta thì trong các số báo Xuân, người ta "nên" làm một ít phát diễn thuyết về con vật "chiếu mạng" của năm đó để lấy hên, chẳng hạn như năm sắp về nơi chín suối này là năm của cụ lợn, chuyên viên về sự "làm thì ít, đớp hít thì nhiều" người ta phải đem đời tư, đời công của cụ ra mà nói.
Năm ni, năm Nhâm Tý, năm của chú chuột yêu dấu, tôi cũng xin được bàn hiêu tán nai về chú một tí. Tôi xin nói ngay rằng tôi sẽ không cống hiến các bạn những chuyện ly kỳ về họ hàng nhà chuột như là chuột được tạo hóa dựng nên làm sao, tại sao chuột lại có một thân hình... đại cồ việt như hiện nay hoặc là loài chuột sống thế nào... Bởi vì về các vấn đề ấy, tôi chỉ là một "nhà" dốt đặc cán mai mà thôi.
Hóa cho nên lần này, tôi chỉ xin được "đệ trình" lên các bạn những gì tôi biết về sự bắt chuột, ăn chuột và nuôi chuột. Xin nói ngay để các bạn an lòng rằng thì là đây toàn là những kinh nghiệm cá nhân của tôi, có nhãn hiệu cầu tòa đàng hoàng đấy.
Dĩ nhiên chẳng nói các bạn cũng "đoán mò" được rằng tôi phải là kẻ có lòng mộ mến thịt chuột lắm lắm. Vâng, thú thực tôi "ghiền" cái thứ ấy một cách khủng khiếp, mà sở dĩ tôi ghiền vì bố tôi cũng là dân ghiền có hạng. Bố nào con ấy mà lị. Trong làng tôi, người nào có dịp gặp hay đến gần bố con tôi cũng đều phải trầm trồ khen ngợi rằng thì là: "Gớm! Hai bố con gì mà giống nhau như đúc!" Có lần tôi tò mò hỏi lại một người: "Ông thấy bố con tôi giống nhau ở chỗ nào?" Người ấy bảo: "Thì bố mày thở ra toàn hơi thịt chuột mà mày cũng thế".
Nói thế các bạn đủ thấy bố con tôi giống nhau như... chuột bố với chuột con và đủ cho các bạn khỏi ngạc nhiên khi đọc bài của tôi cứ thấy phảng phất một mùi thịt chuột thơm ngát như nước hoa cologne vậy!
BẮT CHUỘT PHIÊU LƯU KÝ
Mộ mến thịt chuột mà muốn có thịt để lai rai ba sợi, dĩ nhiên là phải đi bắt chuột (vì nhà quê người ta văn minh đâu thèm vác mặt mẹt đi mua chuột ngoài chợ như cái bọn "quê mùa" ở tỉnh vậy). Tôi dùng chữ phải chứ thực ra đi bắt chuột là một sự khoái trá cả thể đối với cả lò nhà tôi đó – từ ông tằng ông tổ cho đến tụi tôi bây giờ.
Cứ theo cuốn "cẩm nang bắt chuột" của bố tôi thì bắt chuột có nhiều kiểu lắm. Nào là hun, đổ nước, nào là đuổi hay đào. Quốc sách hun (diễn nôm ra là đốt rơm ở một đầu hang chuột để khói ta làm một phát "kinh lý" khắp ngõ ngách của hang chuột, khiến chuột tự động rời mật khu ra hồi chánh). Quốc sách đổ nước thì được thi hành khi thằng cu hay cái hĩm chuột đào lỗ sâu đến gần trung tâm lái đất và ở một miền đất khá rắn chắc, ít kẽ hở (nếu nhiều kẽ hở thì lấy nước cả biển Nam hải đổ vào e chưa thấm thía vào đâu, các bạn ạ). Lại có kế hoạch thứ ba là "bố ráp". Đây là cách đã được chính các đấng mà tôi là con sử dụng. Tục truyền rằng hồi còn ở ngoài cái miền "ăn cá rô cây" nhà tôi thường được các chàng chuột cống đại cồ việt (và thơm như múi mít cơ, chứ không hôi hám như chuột cống Saigon hoa lệ đâu) đến viếng thăm vào ban đêm. Mỗi lần có quí vị ấy vào, bố tôi chỉ cần lẻn ra ngoài đặt cái vợt vào một lỗ ra vào độc nhất rồi ngồi ngắm trăng chờ đợi, trong khi bu tôi trong nhà cầm gậy đánh đuổi quân Thanh. Dĩ nhiên là "họ" phải chạy ra cái lối độc nhất kia và được... bệ kiến cái vợt đang mở rộng vòng tay ôm ấp "họ". Lần phúc kích nào bố tôi cũng đem về một, hai tù binh. Thế là ngày hôm sau tụi tôi lại được xơi một bữa thịt chuột bổ béo như cao hổ cốt, mình mẩy cứ lên ký vèo vèo.
Than ôi, vào trong cái đất Nam kỳ vô duyên này, chúng tôi thấy cả ba chính sách vừa nói đều lỗi thời, vì đất miền Nam xốp quá, đổ nước bao nhiêu cũng không ăn thua, hun thì càng vô hiệu. Còn nhà ở thì hở hang tư bề, đâu có chơi cái lối bố ráp được. Hóa cho nên chỉ còn một cách là đào.
Thường thường vào đầu các mùa mưa, khi nước bắt đầu ngập mặt ruộng, các chàng và các nàng chuột sẽ rủ nhau vào các bờ ao, mé đường cao ráo để sinh nhai. Chính lúc này, "quân ta" có thể thi hành quỉ kế bằng cách vác xẻng và lồng đi lùng và diệt địch. Muốn khỏi tẽn tò mò niêu, nghĩa là đi không lại về không, các nhà bắt chuột phải khôn ngoan chọn lỗ mới mà đào. Lỗ mới là những lỗ mà các cục đất chuột hất ra còn mới như áo đầm xòe ngày Tết, đôi khi còn có mấy cọng cỏ tươi mơn mởn do chuột mới tha về đang... bỏ xác tại trận.
Đàng khác cần chọn lỗ nào có những cục đất bự, vì chuột càng lớn càng hất ra những cục đất lớn. Xong xuôi đâu đó các nhà bắt chuột có thể đứng rung đùi hoặc sửa lại quần áo, đầu tóc cho chỉnh tề trước khi hành động. Theo kinh nghiệm lâu đời của tôi, người ta phải đào với tất cả sự rón rén thường lệ. Đào một chút, cứ sự thường người ta sẽ gặp một ngã ba, nghĩa là chỗ hang chuột đi tiếp nhưng chia làm hai. Nếu chưa thấy chuột, người ta phải đào tiếp, nhưng khi đào theo nhánh A thì phải bịt nhánh B bằng một cục đất cứng, để trở lại sau khi thanh toán xong căn cứ thứ nhất. Có nhiều hang không chỉ có một, mà có đến 3, 4 "ngã ba ông Tạ" như thế, vì trong các lỗ đó có nhiều "dân chúng", hoặc có những ngài chuột có máu nghệ sĩ, thích lả lướt, bay bướm.
Sau một thời gian hành động, các nhà thám hiểm sẽ đến càng lúc càng gần đoạn đường chót của hang chuột. Đây là lúc cần mở mắt lớn như hai cái ốc nhồi để đối phó với thời cuộc. Bởi vì chỉ trong một nháy mắt, "người đẹp của lòng anh" có thể chạy tọt ra ngoài và vĩnh biệt anh mãi mãi. Nếu các đào sĩ khéo léo, họ có thể dồn chuột vào ngõ bí. Chuột chỉ còn biết quay đầu vào trong và "triển lãm" cái đuôi mĩ miều ra phía miệng lỗ. Lúc này, người ta chỉ cần khoan thai ngồi xuống, ân cần nắm lấy "sự thừa thãi" của loài chuột kéo ra một cách long trọng: tay trái kéo và tay mặt chờ cái cổ "nõn nà" ra tới là chịt ngay lấy. Thế là người ta đã bắt sống được một đồng chí (hay là chuột đồng cũng rứa). Trước khi bỏ vào "trại giam", để cho chắc ăn, người ta có thể bẻ 2 răng dưới của chuột bằng một dụng cụ làm sẵn nào đó.
Dĩ nhiên là có những lỗ có đến 4, 5 con chuột bự. Nếu các đấng thu vào một chỗ và để thò ra 4, 5 cái đuôi, quân ta chỉ cần từ từ kéo ra từng đấng một (kéo xong 1 đấng thì bịt đất vào để "nội bất xuất, ngoại bất nhập").
Đấy là nói về trường hợp chuột ta quay đầu vào và để ló đuôi ra. Còn những trường hợp chuột ta quay mõm ra thì hơi khó hơn và quân ta không thể thò tay vào bắt được: chuột và người chẳng còn biết làm gì khác hơn là nhìn nhau mà... cười. Chúng tôi đã tìm ra một cách đối phó là đan những cái rọ nhỏ, hình nón, chụp vào miệng lỗ để chờ chú chuột chạy xộc vào rọ là bóp ngay lấy rồi cũng kéo đuôi, chịt cổ như thường lệ.
Đại khái đó là các màn chính của vở trường kịch bắt chuột. Tất nhiên sự bắt chuột còn nhiều đường lắt léo khác. Chẳng hạn đôi khi người ta đào hết cả xí oắt mà chẳng gặp được tên nào, vì đào phải cái lúc mà các chúng đã đưa nhau đi Vũng tàu tắm biển hết. Hoặc là vì sơ ý, người ta không tìm ngõ hậu của hang chuột trước khi đào, nên đang lúc người ta thi hành quỉ kế thì chuột thoát thân bằng những ngõ hậu bí mật. Những lúc đó, người ta chỉ còn biết đứng than thở cùng mây nước như kẻ thất tình hoặc có được thì phóng theo để vồ lấy. Về sự vồ chuột, đó là cả một tài nghệ cao siêu các bạn ạ. Tiếc là vì khuôn khổ bài này, tôi không thể "thuyết pháp" tỉ mỉ cho các bạn về tài nghệ đó được. Chỉ xin nói là người ta phải lẹ, phải vồ đúng chỗ nếu không chuột sẽ xin tí huyết ở bàn tay, và để lại cho bạn một cái sẹo vô duyên suốt đời.
Một sự lắt léo cuối cùng – cười ra nước mắt được – là có khi người ta đã thấy một đống đuôi ló ra miệng lỗ mà vẫn chẳng được cái giải gì. Đây là chuyện chính tôi đã gặp phải trong một lần đào một lỗ chuột ở một nền nhà cũ, dưới một đống lá mục nát. Rõ ràng là tụi tôi đã nhìn thấy đuôi chuột xếp san sát vào nhau (năm đó là năm có rất nhiều chuột) thế mà chỉ mấy phút sau, các chúng đã từ từ biến mất. Kết quả là chúng tôi chỉ tìm thấy một ổ trứng rắn gần nở! Bây giờ thì tôi biết rằng nền nhà đó có quá nhiều kẽ hở, nên sau một lúc phải "án ngữ bất động" trước một ổ trứng rắn, các chú chuột đã liều mạng rẽ sang hướng khác, lần theo các kẽ hở mà tẩu thoát. Bù vào sự thảm bại lần đó, tôi đã dùng đòng nhọn đâm được khá nhiều chuột tại văn nhà này vào những buổi tối thanh vắng. Hồi đó tôi đang dọn thi một bằng của Trung học. Mọi môn đối với tôi đều nhức óc. Chỉ có môn vác đèn pin đi soi và đâm chuột nằm trên kèo cột của căn nhà này (nằm sát nhà tôi) là ngon xơi nhất. Tôi nghĩ thầm giá được thi bằng "đâm chuột" chắc tôi đã đậu ưu hạng và bây giờ đã trở thành "thạc sĩ bắt chuột" từ khuya rồi. Tiếc rằng chính phủ "ngơ" quá không tổ chức những kỳ thi như thế cho mình được vinh thân phì gia.
Bắt chuột để làm gì, thưa các bạn? Hà chẳng là để "thưởng ngoạn" cho nó khoái lỗ miệng ru? Nhưng trước khi thưởng ngoạn thì phải bắt đầu bằng việc đưa các can phạm ra pháp trường cát. Muốn cho con chuột... về âm phủ, người ta chỉ cần cầm đuôi nó, giơ cao lên và đập xuống, một lần hoặc cùng lắm là hai ba lần. Sau khi vật chết, người ta đem nhúng nước sôi để nhổ lông cho sạch (đấy là làm theo lối các đấng "rau muống", còn các đấng "giá sống" thì ưa lột cả lông cả da: con chuột sẽ nõn nà thật, nhưng mất nhiều vitamin lắm). Làm lông xong, quân ta sẽ đốt rơm trên các con chuột để thui cho đến khi da vàng, óng ánh mỡ béo (chứ đừng để thành màu "bokassa" thì hỏng). Cuối cùng là sự giải phẫu, sự chặt thành miếng và sự cho vào nồi.
Chuột có thể làm được nhiều món như... hớt, ép, sấy, gội, nhuộm! Dường như các chú Ba chợ lớn còn dùng thịt chuột làm "thịt pò viên" đấy các bạn ạ, trong tiếng Tàu, chuột có nghĩa là bò, cũng như nhất có nghĩa là một vậy! Tôi thì chỉ tủ hai món là rang và chiên, cả hai món đều ngon lành. Nếu lâu lâu mới được "tái ngộ" thịt chuột một lần (sau nhiều ngày ú ớ tương tư) thì thế nào tôi cũng thấy sảng khoái như bay lên cõi tiên vậy, chẳng khác gì các đấng ghiền nhà ta vớ được một "cú" thuốc phiện!
Ăn vào xong là lập tức da dẻ hồng hào, bắp thịt nở nang và hơi thở thơm phức. Ra đường thì đi đứng một cách oai phong lẫm liệt, làm nhiều trái tim đau lên đau xuống vì mình! Ôi, nói sao cho hết những lợi ích tuyệt vời của thịt chuột.
Mặc dù tôi dã man, tàn bạo, vô nhân đạo với loài chuột (là đã bắt và ăn các chúng) như vừa kể nhưng đứng trước lũ... cô nhi từ sĩ nhà chuột, tôi lại có lòng đại từ bi lắm lắm. Thường thì tôi không nhẫn tâm giết "các em" ấy (mặc dù người ta đồn rằng đem chuột đỏ hoe hoe nấu cháo mà xơi thì dù đã ngỏm 5, 6 ngày cũng sống lại được như thường). Thái độ của tôi là tha cho chúng nó hoặc đôi khi đem chúng nó về nuôi nấng, dạy dỗ.
Mỗi ngày tôi sẽ cho chúng nó uống sữa 5, 6 lần bằng cái ruột bút bic hoặc một cái ống chích đã bỏ kim ra, rồi ru cho chúng nó ngủ. Cứ thế ngày này qua ngày khác, cho đến khi chúng khôn lớn thì thay đổi nhà ở và thực phẩm cho chúng. Người ta có thể nuôi chuột trong lồng hoặc thả cho đi lại trong nhà (miễn là làm cho tụi nó một cái tổ ấm cúng) nếu trong nhà không có chó mèo.
Tôi còn nhớ, trước khi di cư vào miền "mắm nêm" này, bố tôi đã nuôi được 2 con chuột đất (thứ chuột lông đen và thưa) lớn ghê gớm, ngay dưới nhà bếp. Vài ngày trước khi lên đường, gia đình tôi đã cho phép các chúng về chầu Diêm Vương, nghĩa là đã cho các chúng đóng vai chính trên bàn ăn. Ôi, thịt chúng nó mới mềm làm sao và ăn vào nó mới sướng cho cái thân già làm sao!
Đến bây giờ, sau đúng 17 năm trời, tôi vẫn còn ôm ấp trong tâm khảm "hình ảnh đẹp" ngày đó, và khi viết những hàng này, tôi thấy tự nhiên nước rãi mình cuồn cuộn chảy xuống như thác đổ vậy. Càng nói về chuột, nước rãi tôi lại càng tuôn ra xối xả. Tôi tiếc rằng từ khi dại dột nghe theo người ta lên sống ở thành phố Saigon quê mùa này, tôi không còn được nhấm nháp thịt chuột yêu dấu của tôi nữa. Vì dân Saigon chẳng biết gì đến món cao lương mỹ vị của tôi và bọn chuột thành phố thì ở bẩn như các đấng hippy nhà ta.
Theo ý kiến của tôi, đó là một sự dại dột cả thể của dân Saigon. Họ không biết rằng ăn thịt chuột vừa ngon vừa bổ (dĩ nhiên là không thua gì gạo lứt muối mè), vừa tiết kiệm được ngân quỹ gia đình. Đó là chưa kể tới bao nhiêu cái lợi kếch sù khác như: hơi thở sẽ thơm tho ngào ngạt, mắt thấy rõ lúc trời... chưa tối và đi đứng nhanh nhẹn, thoăn thoắt như loài chuột.
Trước khi tạm biệt các bạn để đi về quê dự "yến tiệc thịt chuột", tôi xin gửi tới từng bạn một lời chúc Xuân chân thành nhất. Xin tất cả các bạn, nhất là các bạn sinh dưới sao chiếu mạng "Nguyễn-văn-Chuột" vui lòng cổ võ ngay từ bây giờ phép ăn thịt chuột cho thiên hạ để càng ngày số người đến hãng hòm Tôbia càng ít đi. Các bạn ôkê salem chứ?
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Nhâm Tý, 1972)
CÁI SỰ NHẤM NHÁP THỊT CHUỘT
Chuột có thể làm được nhiều món như... hớt, ép, sấy, gội, nhuộm! Dường như các chú Ba chợ lớn còn dùng thịt chuột làm "thịt pò viên" đấy các bạn ạ, trong tiếng Tàu, chuột có nghĩa là bò, cũng như nhất có nghĩa là một vậy! Tôi thì chỉ tủ hai món là rang và chiên, cả hai món đều ngon lành. Nếu lâu lâu mới được "tái ngộ" thịt chuột một lần (sau nhiều ngày ú ớ tương tư) thì thế nào tôi cũng thấy sảng khoái như bay lên cõi tiên vậy, chẳng khác gì các đấng ghiền nhà ta vớ được một "cú" thuốc phiện!
Ăn vào xong là lập tức da dẻ hồng hào, bắp thịt nở nang và hơi thở thơm phức. Ra đường thì đi đứng một cách oai phong lẫm liệt, làm nhiều trái tim đau lên đau xuống vì mình! Ôi, nói sao cho hết những lợi ích tuyệt vời của thịt chuột.
NUÔI CHUỘT
Mặc dù tôi dã man, tàn bạo, vô nhân đạo với loài chuột (là đã bắt và ăn các chúng) như vừa kể nhưng đứng trước lũ... cô nhi từ sĩ nhà chuột, tôi lại có lòng đại từ bi lắm lắm. Thường thì tôi không nhẫn tâm giết "các em" ấy (mặc dù người ta đồn rằng đem chuột đỏ hoe hoe nấu cháo mà xơi thì dù đã ngỏm 5, 6 ngày cũng sống lại được như thường). Thái độ của tôi là tha cho chúng nó hoặc đôi khi đem chúng nó về nuôi nấng, dạy dỗ.
Mỗi ngày tôi sẽ cho chúng nó uống sữa 5, 6 lần bằng cái ruột bút bic hoặc một cái ống chích đã bỏ kim ra, rồi ru cho chúng nó ngủ. Cứ thế ngày này qua ngày khác, cho đến khi chúng khôn lớn thì thay đổi nhà ở và thực phẩm cho chúng. Người ta có thể nuôi chuột trong lồng hoặc thả cho đi lại trong nhà (miễn là làm cho tụi nó một cái tổ ấm cúng) nếu trong nhà không có chó mèo.
Tôi còn nhớ, trước khi di cư vào miền "mắm nêm" này, bố tôi đã nuôi được 2 con chuột đất (thứ chuột lông đen và thưa) lớn ghê gớm, ngay dưới nhà bếp. Vài ngày trước khi lên đường, gia đình tôi đã cho phép các chúng về chầu Diêm Vương, nghĩa là đã cho các chúng đóng vai chính trên bàn ăn. Ôi, thịt chúng nó mới mềm làm sao và ăn vào nó mới sướng cho cái thân già làm sao!
Đến bây giờ, sau đúng 17 năm trời, tôi vẫn còn ôm ấp trong tâm khảm "hình ảnh đẹp" ngày đó, và khi viết những hàng này, tôi thấy tự nhiên nước rãi mình cuồn cuộn chảy xuống như thác đổ vậy. Càng nói về chuột, nước rãi tôi lại càng tuôn ra xối xả. Tôi tiếc rằng từ khi dại dột nghe theo người ta lên sống ở thành phố Saigon quê mùa này, tôi không còn được nhấm nháp thịt chuột yêu dấu của tôi nữa. Vì dân Saigon chẳng biết gì đến món cao lương mỹ vị của tôi và bọn chuột thành phố thì ở bẩn như các đấng hippy nhà ta.
Theo ý kiến của tôi, đó là một sự dại dột cả thể của dân Saigon. Họ không biết rằng ăn thịt chuột vừa ngon vừa bổ (dĩ nhiên là không thua gì gạo lứt muối mè), vừa tiết kiệm được ngân quỹ gia đình. Đó là chưa kể tới bao nhiêu cái lợi kếch sù khác như: hơi thở sẽ thơm tho ngào ngạt, mắt thấy rõ lúc trời... chưa tối và đi đứng nhanh nhẹn, thoăn thoắt như loài chuột.
Trước khi tạm biệt các bạn để đi về quê dự "yến tiệc thịt chuột", tôi xin gửi tới từng bạn một lời chúc Xuân chân thành nhất. Xin tất cả các bạn, nhất là các bạn sinh dưới sao chiếu mạng "Nguyễn-văn-Chuột" vui lòng cổ võ ngay từ bây giờ phép ăn thịt chuột cho thiên hạ để càng ngày số người đến hãng hòm Tôbia càng ít đi. Các bạn ôkê salem chứ?
TRẦN XUÂN
3-12-1971
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Nhâm Tý, 1972)
Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2020
Bạn Già Tri Kỷ
Cây mai vàng trước sân nhà đã vơi ít nhiều hoa, bây giờ lá xanh đâm chồi non mướt mịn mơn mởn trong nắng. Ông Tình săm soi từng nhánh cây, cuống lá. Hoa mai năm nay nở ít hơn mọi năm, người ta thường cho đó là điềm xui cho quê hương đất nước. Trước tết mấy ngày, ông Tình đã phàn nàn với con cháu trong nhà về cây mai, và ông than thở:
- Kỳ cục ghê hỉ! Năm ni mai nở ít quá không biết đất nước có bị xui như ông bà mình nói không đây, tao lo quá.
Cậu Thanh, cháu đích tôn của ông ngửa cổ cười ha hả, tay vuốt vuốt mái tóc dài nòi:
- Ông tin dị đoan quá, có chi mô mà lo.
- Răng không lo. Cứ giặc giã, chết chóc hoài rồi còn chi là dân tộc, nòi giống nữa chớ. Ông bà đã dạy hễ năm mô mai nở ít, năm nớ đất nước bị xui xẻo, tau thấy năm ni mai lưa thưa quá, tau đâm lo.
Cậu Thanh đã thôi cười:
- Ôn lo chi cho mệt xác, tuổi tụi con có lo thì lo, không lo thì thôi chứ ôn già rồi, chừ ôn có lo cũng chẳng mần chi được ba hỉ?
Sau câu nói, cậu nhìn qua ông Nam là ba cậu, để nhận thêm sự đồng tình:
- Thằng Thanh nói đúng a cha, cha lo chi cho mệt, ngày ngày uống nước trà, thưởng hoa có phải khỏe hơn không.
Ông Tình thở dài buồn bã, chán nản, đến con cháu ông cũng không hiểu ông, còn chi để buồn hơn không?
Sở dĩ ông lo cho đất nước là vì ông lo cho tương lai con cháu sau này, cứ theo cái đà tiến bộ văn minh này, không biết mai sau chúng nó có còn là nguyên thủy con rồng cháu tiên hay không? Tuổi già của ông không còn giúp ích gì cho xã hội, đất nước nữa, nhưng ông vẫn cứ lo ngay ngáy trong lòng và buồn nhớ mênh mông.
Mấy ngày tết qua đi nhanh chóng, ông Tình thấy càng ngày tết càng nhạt nhẽo vô duyên, vắng cây nêu, pháo đỏ, vắng bài chòi cùng những câu đố hay ho ý vị treo trong nhà, ngoài hiên, ông thấy như tết không về, cũng may là ông có trồng cây mai trước sân nhà, cây mai nhắc nhở cho ông nhớ ngày tết của quê hương. Ôi chao! Lật bật mà cây mai lên được mười hai tuổi rồi, ông cưng cây mai này ghê lắm, cưng như người bạn già duy nhất của mình. Mỗi năm gần đến mùa xuân, mai đâm búp, nở nhụy, ông nghe hồn nghẹn ngào cảm động rưng rưng. Nhớ ngày mùng một cháu chắt chúc tết ông xong, đợi ông lì xì cho những bao giấy đỏ nho nhỏ xinh xinh, chúng nó kéo nhau ra ngoài sân, vít cành mai hái chơi mà không thèm ở lại nghe ông khuyên bảo, nhắc nhở vài lời về cái tết ngày xưa, về con người ngày nay, ông buồn lắm, lặng nhìn chúng cười đùa nói chuyện, những câu chuyện không mộc mạc như của ông hồi mấy mươi năm về trước. Một lúc chúng nó phóng lên xe ào ào nhập cuộc vào thành phố. Ông đã hỏi với:
- Tụi bây đi mô rứa?
Một đứa quay lại cười:
- Thưa ôn, tụi con đi "chọc" người ta cho vui.
Ông ngán ngẩm lắc đầu, nối nhớ càng nhiều, thương tiếc càng to làm ông bùi ngùi. Buổi trưa chúng nó về ăn vài miếng bánh tét, lại ào ào vọt lên xe, hỏi đi mô? Lại nói đi ciné, đứa lại nói đi "bùm". Ông chả hiểu nổi đi "bùm" là đi chi và cũng chả hiểu nổi tụi nó. Con trai trưởng của ông bày bộ tam hường lên phản, bà con bạn bè xúm đến cười nói inh ỏi, những tiếng "reng reng" của sáu hột tam hường rơi vào tô nghe hay lạ. Con ông nhìn ông bảo:
- Cha ngồi chơi cho vui cha, bảy tay bán trạng.
Ông lắc đầu:
- Thôi, mệt lắm, tao đi nằm cho khỏe.
Một người trong bọn đổ tam hường hỏi khi ông vừa quay lưng:
- Ông già hôm ni coi bộ buồn rứa chú Nam.
Ông nghe tiếng trả lời của con trai:
- Ối chào! Cha tui buồn lo chuyện nước non, ông nói năm ni mai nở ít, đất nước bị xui chi đó không biết, rồi ông lo.
- Hơi sức mô, ngày tết ngày nhứt quên hết, có lo cũng chừng nớ.
Ông Tình buồn đến chảy nước mắt, mỗi người một câu không ai hiểu nỗi lòng của ông cả. Ông nắm gác tay lên trán, nghe cô đơn lạ lùng.
*
- Ôn mần chi rứa ôn?
Đang chăm sóc cây mai, nghe tiếng hỏi ông ngừng tay quay lại, nụ cười nở nhẹ trên môi, ông trả lời bé Ti, con cháu ông cưng nhất:
- Ôn đang bắt sâu. Ti không đi chơi à?
- Ti đi mới về đây chớ, ôn không thấy Ti đang bận áo mới đây à?
- Ừ hỉ, rứa mà ôn quên.
Bé Ti đứng bên ông, hai tay con bé đong đưa để làm tung cái áo đầm xanh lên. Con bé tiếp tục hỏi:
- Ôn bắt sâu làm chi rứa ôn?
- À, để sang năm hoa nở cho nhiều.
- Răng năm ni hoa nở ít ghê ôn hỉ.
Mắt ông Tình thoáng buồn:
- Ôn cũng không biết nữa. Ri là xui lắm.
- Xui chi rứa ôn? Mà tại răng?
Ông nhìn mắt đứa cháu, mắt con bé to tròn ngây thơ lạ. Ông không muốn! Bây giờ ông lại không muốn nói tạo làm sao. Con bé sẽ không hiểu gì đâu. Ông dẫn cháu gái vào nhà:
- Vô đây ôn kể chuyện đời xưa cho con nghe hỉ.
Con bé nhảy nhót kéo tay ông. Trong một thoáng ông nghe lòng mình ấm áp vui vui, chưa có gì để cho ông phải bi quan thất vọng cả. Bé Ti leo lên chân ông ngồi chờ nghe ông kể chuyện. Vừa khi lời ông cất lên, tiếng chó sủa ngoài sân bắt ông phải nhìn xa, đôi mắt ông nhấp nháy, sáng hẳn lên. Ông vội đặt bé Ti xuống đất, miệng nói:
- Con vô nhà chơi để ôn tiếp khách.
Ông lật đật ra sân. Đôi bạn già tay bắt mặt mừng, giành nhau để nói:
- Bác Lữ, ôi chao lâu ngày bác vẫn mạnh, tui mô có ngờ bác còn đến thăm tui.
Ông Lữ ôm vai bạn, chống gậy đi vào nhà:
- Tui cũng mô có ngờ, lưu lạc mười mấy năm rứa mà bác vẫn nhận ra tui.
Ông Tình cười ha hả:
- Tri kỷ trần ai một bạn già là bác, răng mà không nhận ra đã chớ.
Ông Tình kéo ghế mời bạn ngồi, đoạn nhìn ra sau dõng dạc:
- Bay mô, chế nước coi.
Tuy kêu nước nhưng ông Tình lại nâng chai rượu trắng rót ra hai ly nhỏ:
- Uống bác, rượu bách nhật đây bác.
- Quý quá hỉ? Về đây tưởng bác không còn ở chỗ ni nữa chớ, tui buồn chi lạ, sau hỏi bà con họ nói bác vẫn còn ở đây, tui mừng quá sức. Mới về hồi hôm tê đây chớ, tết nhứt thiệt mệt chi lạ.
Câu chuyện chuyển hướng đủ mọi môn. Rượu ngà ngà cho hai ông thêm hứng tưởng chừng như không bao giờ cạn nguồn. Ông Lữ lim dim mắt nhìn ra sân, ông chợt reo lên đầy ngạc nhiên thích thú:
- Trời ơi! Cây mai của bác lớn ri rồi thi? Mau chưa tề.
- Thì mười hai năm rồi.Nhắp một tí đế ông lại hỏi:
- Răng năm ni mai thưa hoa rứa vác?
Đang vui, giọng ông Tình sũng buồn:
- Tui cũng không biết răng nữa, ngày xưa mình nghe ông bà nói tết mà hoa mai nở ít là điềm không tốt, phải không bác?
Ông Lữ đưa tay vuốt râu, bộ râu trắng xóa nổi bật lên trên chiếc áo dài màu đen:
- Thì tui cũng rứa đó, cũng sợ như bác.
- Tui nói với con cháu, tụi hắn cười cho tuổi già của mình lẩm cẩm, thằng cháu lớn của tui nói ri đây "sở dĩ năm ni mai ít ra hoa là vì thời tiết thay đổi, không thích hợp với loại mai nên mai ít ra hoa, tui lại nghĩ khác, nói thiệt càng ngày tết càng buồn.
Ông lại nâng ly:
- Uống đi bác, bạn già mình xưa nay chỉ vui có đế, quốc hồn quốc túy phải không bác? Con cháu mình đời ni cứ "Uých-ky", "Sâm-banh", nói thiệt tui mô có ưa, ông bà mình ngày xưa mấy khi "sâm banh", "uých ky" bác hỉ? Hôm ni gặp bác tui mới thấy vui.
Kỷ niệm được khơi nguồn: "Bác ơi, mười mấy hai mươi năm ni mình mô có thấy cây nêu bác hỉ. Tui nhớ tết lúc mình còn trai tráng răng mà vui chi lạ. Mình thi nhau làm cây nêu, mà nhà mô cũng dựng cây nêu thật cao, thi nhau viết câu đối, thi nhau gói bánh tét coi ai ngon hơn ai, rồi mấy ngày xuân mình đánh bài chòi nữa chớ. Bác ơi! Răng mà tui nhớ lạ nhớ lùng, nhớ đến chảy nước mắt đi lận, ngày xưa bác với tui thường đi với nhau đánh bài chòi, bác còn nhớ không? Mình cho thằng đi rao tiền nên chi cứ tới hoài, vui quá bác hỉ? Tết lại mình đốt pháo đỏ bỏ trong ống tre đó, rồi còn đi từng nhà để đọc câu đối. Bác còn nhớ ông Thiện, ông Đề Thiện đó, viết câu đối đẹp quá sức, ý lại hay nữa bác hỉ. Ôi chao! Già rồi còn nhớ được chừng nớ thôi bác hỉ? Chừng nớ cũng đủ quý rồi, đời chừ tui thấy tết nhứt mà bắt chóng mặt, ngày xưa mình mô có rứa, đi mô cũng đi bộ, , mặc áo dài, đội khăn đóng, đi đôi guốc gỗ chớ có xe cộ chi mà phóng ào ào như tụi nhỏ đời ni, nhớ quá bác hỉ? "Bác ơi! Tui cũng nhớ, cũng tiếc có thua chi bác, con cháu mình chừ văn minh rồi chớ có như mình lúc xưa mô".
- Tui buồn lắm bác, thấy thời thế nước non mà buồn, mà thương, mà lo cho con cho cháu, rứa mà tụi hắn có biết mô, nói ra tụi hắn cười cho mình lẩm cẩm, già rồi lo cũng chừng nớ chớ mần chi được.
- Nói rứa chớ ai lại không lo, đất nước là đất nước của mình chớ bác.
Men rượu thấm vào hồn hai ông già. Ông Tình nhướng mắt nhìn bạn:
- Có bác mới hiểu tui, có tui mới hiểu bác, bạn già mình tri kỷ mới hiểu nhau thôi.
Ông Lữ an ủi bạn:
- Thôi bác nờ, con nít nó hiểu chi mô, lớn lên mới biết chớ, mình cũng đừng buồn quá làm chi, tuổi già mình không như tuổi trẻ của tụi nó mà bác. Phải mừng vì tụi nó còn kêu mình bằng ôn, còn kính trọng người già cả.
Ông Tình gật gù:
- Bác nói phải đa.
Ông Lữ đứng lên:
- Thôi, tới thăm bác đôi chút, mai mốt tới nữa, chừ tui về nghe bác, mình còn gặp nhau, bác nhớ qua tui chơi nghe.
Chia tay bạn già tri kỷ xong, ông Tình lững thững vào nhà, hồn ông thoải mái lạ lùng. Gặp được bạn xưa trút bầu tâm sự, ông nghe nhẹ nhõm cả người. Ngoài sân ồn ào tiếng xe máy dầu, lũ cháu ông đi chơi về, dẫn đầu là thằng Thanh.
- Ôn ơi ôn!
Ông nhìn ra, cười tươi:
- Chi rứa mấy đứa bây.
Cậu Thanh vươn vai:
- Đi chơi vui ác ôn ơi, ôn ở nhà buồn hỉ?
- Buồn chi mô mà buồn, ôn cũng vui lắm chớ.
Cậu Thanh nhìn nét mặt tươi vui của ông mà ngạc nhiên. Mấy lâu nay ông vẫn buồn bã, bây giờ trông ông tươi vui quá, không vui sao được hở cháu? Ông vừa gặp bạn tri kỷ, ông vừa nghe cháu kêu "ôn ơi ôn", cháu khoe ôn cháu đi chơi vui lắm, bây giờ ôn hiểu rồi, mỗi thời đại có mỗi niềm vui khác nhau, nhưng cháu vẫn còn trọng ôn, vẫn còn yêu kính ôn là ôn mừng, là ôn vui lắm. Ôn không bao giờ có thể tin rằng các cháu ngày sau nữa không còn nghĩ đến giòng giống mình. Ôn vui lắm, phải chăng nhờ bạn già tri kỷ của ôn nói với ôn rằng "phải mừng vì tụi nó còn kêu mình bằng ôn, còn kính trọng người già cả", lâu ni ôn không nghĩ rứa đến chừ ôn vui lắm"...
Lũ cháu tíu tít kêu:
- Ôn ơi, ôn ơi! Hết tết rồi ôn ơi!
Ông Tình nhìn ra, nheo mắt cười thật vui!
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Nhâm Tý, 1972)
- Tui buồn lắm bác, thấy thời thế nước non mà buồn, mà thương, mà lo cho con cho cháu, rứa mà tụi hắn có biết mô, nói ra tụi hắn cười cho mình lẩm cẩm, già rồi lo cũng chừng nớ chớ mần chi được.
- Nói rứa chớ ai lại không lo, đất nước là đất nước của mình chớ bác.
Men rượu thấm vào hồn hai ông già. Ông Tình nhướng mắt nhìn bạn:
- Có bác mới hiểu tui, có tui mới hiểu bác, bạn già mình tri kỷ mới hiểu nhau thôi.
Ông Lữ an ủi bạn:
- Thôi bác nờ, con nít nó hiểu chi mô, lớn lên mới biết chớ, mình cũng đừng buồn quá làm chi, tuổi già mình không như tuổi trẻ của tụi nó mà bác. Phải mừng vì tụi nó còn kêu mình bằng ôn, còn kính trọng người già cả.
Ông Tình gật gù:
- Bác nói phải đa.
Ông Lữ đứng lên:
- Thôi, tới thăm bác đôi chút, mai mốt tới nữa, chừ tui về nghe bác, mình còn gặp nhau, bác nhớ qua tui chơi nghe.
Chia tay bạn già tri kỷ xong, ông Tình lững thững vào nhà, hồn ông thoải mái lạ lùng. Gặp được bạn xưa trút bầu tâm sự, ông nghe nhẹ nhõm cả người. Ngoài sân ồn ào tiếng xe máy dầu, lũ cháu ông đi chơi về, dẫn đầu là thằng Thanh.
- Ôn ơi ôn!
Ông nhìn ra, cười tươi:
- Chi rứa mấy đứa bây.
Cậu Thanh vươn vai:
- Đi chơi vui ác ôn ơi, ôn ở nhà buồn hỉ?
- Buồn chi mô mà buồn, ôn cũng vui lắm chớ.
Cậu Thanh nhìn nét mặt tươi vui của ông mà ngạc nhiên. Mấy lâu nay ông vẫn buồn bã, bây giờ trông ông tươi vui quá, không vui sao được hở cháu? Ông vừa gặp bạn tri kỷ, ông vừa nghe cháu kêu "ôn ơi ôn", cháu khoe ôn cháu đi chơi vui lắm, bây giờ ôn hiểu rồi, mỗi thời đại có mỗi niềm vui khác nhau, nhưng cháu vẫn còn trọng ôn, vẫn còn yêu kính ôn là ôn mừng, là ôn vui lắm. Ôn không bao giờ có thể tin rằng các cháu ngày sau nữa không còn nghĩ đến giòng giống mình. Ôn vui lắm, phải chăng nhờ bạn già tri kỷ của ôn nói với ôn rằng "phải mừng vì tụi nó còn kêu mình bằng ôn, còn kính trọng người già cả", lâu ni ôn không nghĩ rứa đến chừ ôn vui lắm"...
Lũ cháu tíu tít kêu:
- Ôn ơi, ôn ơi! Hết tết rồi ôn ơi!
Ông Tình nhìn ra, nheo mắt cười thật vui!
HOÀI HƯƠNG
Cho ôn của con
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Nhâm Tý, 1972)
Năm Chuột Nói Chuyện Về Chuột
Chuột là con vật hôi hám, bẩn thỉu, sống chui rúc dưới cống rãnh hay các bãi rác hoặc trong các địa điểm ít người qua lại như đống củi, nhà kho, xó vườn v.v... Chúng ưa phá phách, gặm nhấm bất cứ thứ gì bắt gặp từ thỏi xà phòng, mẩu giấy, miếng gỗ cho tới chiếc giầy, bít tất, giẻ rách cũng không tha. Nhưng nguy hiểm nhất là chúng hay gieo rắc vi trùng dịch hạch thường giết hại nhiều người. Do đó, chúng ta phải tìm cách diệt trừ.
Dưới đây là mấy câu chuyện về con vật này.
CHUỘT ĂN CẮP TRỨNG
Từ ít lâu nay, tự dưng nhà tôi có mấy chú chuột ở đâu tới hoành hành. Chúng cắn nhau chí chóe cả đêm, nhiều khi còn đuổi nhau loạn xạ húc đổ các chai lọ trong bếp rồi chạy lên gác đùa rỡn khiến mọi người mất ngủ. Bực mình nhất là chúng cứ làm tung tóe những đồ ăn thừa trong vại nước gạo hoặc tha xà phòng đi mất hút.
Một hôm, người bạn tôi tới chơi cho mấy quả trứng. Trong lúc chờ đợi, tôi tạm để vào rổ dưới gầm trạn, định bụng sẽ cất vào tủ lạnh, nhưng rồi quên khuấy đi mất. Hai hôm sau, khi kiểm lại tôi thấy thiếu mất một quả. Chắc chắn là không ai lấy ra dùng. Vậy thì đi đâu mất quả trứng đó? Tôi để ý theo dõi và tìm ra sự thực.
Bữa đó, tôi ngồi rình xem mấy chú chuột làm trò gì mà dám "coi thường chủ nhà" đến mức độ cãi nhau trong bếp giữa ban ngày. Tôi thấy hai "chú Tý" từ sau thùng gạo lò mò bò ra. Chúng nghểnh mũi lên ngửi ngửi đoạn ngó nghiêng đôi mắt đen lay láy nhỏ bé dò xét chung quanh. Tất cả đều im lặng. Thế rồi một con nhẩy phóc ngay vào cái rổ dưới gầm trạn. Nó loay hoay mãi mới tìm được cách để ôm một quả trứng trước bụng, đồng thời kêu lên chít chít như tỏ vẻ sung sướng và ra hiệu cho đồng bọn. Tên trộm thứ nhì lúc đó đang canh cho bạn, sau khi chầm chậm tiến lại, tai vểnh lênh nghe ngóng không thấy động tĩnh gì mới chạy tới, ngoạm đuôi con trước và ra sức kéo cho tới khi bạn nó tuột khỏi rổ trứng. Tôi vừa ngạc nhiên thích thú, vừa buồn cười nhưng im lặng xem chúng tha đi đâu. Cả hai hì hục đưa quả trứng qua đám chai lọ sát tường rồi chui xuống gầm thùng gạo. Tới đây, chúng bỏ quả trứng ở đó, đoạn trở ra tính làm chuyến nữa. Tôi giả vờ ho lên một tiếng làm cả hai "tên ăn trộm ngày" hoảng hồn, ba chân bốn cẳng ù té chạy cho nhanh vào đống củi trốn mất. Thế là tôi lấy lại được quả trứng và biết nguyên do thiếu hụt. Chúng hết dịp trổ tài ăn cắp được nữa.
CHUỘT KHÔNG SỢ BẪY
Thấy lũ chuột "làm loạn" trong nhà như vậy,tôi tức mình sửa lại chiếc bẫy rồi mắc mồi để cố bắt lấy vài ba con xem mặt mũi chúng ra sao mà to gan lớn mật đến thế. Nhưng quái lạ! Đã mấy lần rõ ràng tôi nghe tiếng bẫy sập hẳn hoi mà lúc vào chẳng thấy gì. Không lẽ bẫy lại tự động sập? Hay là tôi đặt móc bẫy mớm qua nên "nó" mới đụng vào là đã bung lên? Tôi lại mất công ngồi rình cho kỳ được.
Sau một lúc chờ đợi, thì kìa! Một chú chuột khá to đang thập thò sau vại nước. Tôi hồi hộp theo dõi. Thế rồi chú chuột lần ra, chạy thẳng tới bẫy. Chú dừng lại đưa hai chân trước lên vuốt râu mép xong xoa xoa hai chân ra cái điều khoái chí vì sắp được xơi một bữa ngon lành. Sau đó chú từ từ bò lên bẫy và ngồi xuống, nhưng không phải ở phía có mồi mà leo lên thanh sắt có lò xo rồi thò chân ra khều khều miếng thịt thơm phức. Bất chợt bẫy sập một cái khiến tôi giật mình. Tôi cứ yên trí là chú chuột sẽ bị chiếc lò xo kia đè bẹp dí. Nhưng chẳng thấy gì cả. Lát sau chú mới trở lại, ung dung leo lên gặm mồi tỉnh bơ như không, coi cái bẫy như đồ bỏ, vì chú đã tính trước là phải ngồi lên chiếc lò xo để nó hất tung chú lên khi bẫy sập thì mới thực an toàn. Dù có đau một chút cũng chẳng sao. Như vậy chú chuột này cũng tinh khôn đấy chứ, phải không bạn?
CHUỘT ĐU DÂY
Thấy dùng bẫy không trị nổi bọn này, tôi đành phải đi mua một con mèo về "giữ gìn an ninh trật tự" trong nhà chứ cứ để tình trạng này thật mệt với lũ chuột. Từ hôm có chú mèo, quả thực không thấy chú Tý nào lai vãng. Chúng vắng bóng hẳn đi. Tôi mừng thầm sẽ không còn cái nạn đang đêm phải thức dậy xua đuổi chuột nữa. Nhưng chẳng bao lâu lại thấy loáng thoáng dăm ba chú chạy đi chạy lại trên gác. Tôi đưa chú mèo lên gác để chú "làm việc" chứ cứ chơi bời lêu lổng chẳng được việc gì thì thật là đoảng.
Lên tới nơi, lập tức chú mèo ra tay. Chú đuổi theo vào tận gầm giường, nhưng bắt hụt, tiếc quá! Chu kêu lên mấy tiếng để thị oai với cái lũ nhãi ranh cho khiếp một phen, nhưng vừa rứt tiếng thì lập tức lũ nhóc cười đùa, cãi nhau chí chóe như thách thức làm mèo ta lộn ruột xông vào tận nơi, cô sức chui lọt trong khe hai chiếc rương. Lũ nhãi ranh ù té chạy ra, vừa lúc đó mèo ta trông thấy vội đuổi theo. Quá luống cuống, một con chạy vòng quanh, rồi túng thế, leo tót ngay lên bàn. Mèo ta theo sát nút. Vì hết đường chạy, chú chuột dại dột kia trèo lên nóc tủ, bám vào sợi dây thép bò ra cái đu cũ của con vẹt treo gần đó. Thế là mèo ta vồ trượt cứ đứng dưới gầm gừ, trong khi chú chuột run cầm cập bám chặt vào cái đu đung đa đung đưa trên không. Lừa lúc mèo vô ý, chuột ta nhẩy xuống lủi mất.
(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Nhâm Tý, 1972)
Sau một lúc chờ đợi, thì kìa! Một chú chuột khá to đang thập thò sau vại nước. Tôi hồi hộp theo dõi. Thế rồi chú chuột lần ra, chạy thẳng tới bẫy. Chú dừng lại đưa hai chân trước lên vuốt râu mép xong xoa xoa hai chân ra cái điều khoái chí vì sắp được xơi một bữa ngon lành. Sau đó chú từ từ bò lên bẫy và ngồi xuống, nhưng không phải ở phía có mồi mà leo lên thanh sắt có lò xo rồi thò chân ra khều khều miếng thịt thơm phức. Bất chợt bẫy sập một cái khiến tôi giật mình. Tôi cứ yên trí là chú chuột sẽ bị chiếc lò xo kia đè bẹp dí. Nhưng chẳng thấy gì cả. Lát sau chú mới trở lại, ung dung leo lên gặm mồi tỉnh bơ như không, coi cái bẫy như đồ bỏ, vì chú đã tính trước là phải ngồi lên chiếc lò xo để nó hất tung chú lên khi bẫy sập thì mới thực an toàn. Dù có đau một chút cũng chẳng sao. Như vậy chú chuột này cũng tinh khôn đấy chứ, phải không bạn?
CHUỘT ĐU DÂY
Thấy dùng bẫy không trị nổi bọn này, tôi đành phải đi mua một con mèo về "giữ gìn an ninh trật tự" trong nhà chứ cứ để tình trạng này thật mệt với lũ chuột. Từ hôm có chú mèo, quả thực không thấy chú Tý nào lai vãng. Chúng vắng bóng hẳn đi. Tôi mừng thầm sẽ không còn cái nạn đang đêm phải thức dậy xua đuổi chuột nữa. Nhưng chẳng bao lâu lại thấy loáng thoáng dăm ba chú chạy đi chạy lại trên gác. Tôi đưa chú mèo lên gác để chú "làm việc" chứ cứ chơi bời lêu lổng chẳng được việc gì thì thật là đoảng.
Lên tới nơi, lập tức chú mèo ra tay. Chú đuổi theo vào tận gầm giường, nhưng bắt hụt, tiếc quá! Chu kêu lên mấy tiếng để thị oai với cái lũ nhãi ranh cho khiếp một phen, nhưng vừa rứt tiếng thì lập tức lũ nhóc cười đùa, cãi nhau chí chóe như thách thức làm mèo ta lộn ruột xông vào tận nơi, cô sức chui lọt trong khe hai chiếc rương. Lũ nhãi ranh ù té chạy ra, vừa lúc đó mèo ta trông thấy vội đuổi theo. Quá luống cuống, một con chạy vòng quanh, rồi túng thế, leo tót ngay lên bàn. Mèo ta theo sát nút. Vì hết đường chạy, chú chuột dại dột kia trèo lên nóc tủ, bám vào sợi dây thép bò ra cái đu cũ của con vẹt treo gần đó. Thế là mèo ta vồ trượt cứ đứng dưới gầm gừ, trong khi chú chuột run cầm cập bám chặt vào cái đu đung đa đung đưa trên không. Lừa lúc mèo vô ý, chuột ta nhẩy xuống lủi mất.
ĐẶNG HOÀNG
(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Nhâm Tý, 1972)
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2020
Tết Vắng Bà
- Tết rồi, ba nhớ hôn ba?
Ba cho áo mới, gặp bà con khoe
Bà nhìn chiếc áo, đỏ hoe
Khen con chóng lớn, lấy chè con ăn
Ăn rồi, bà mở chéo khăn
Lì xì bạc mới nựng rằng bà... "chương"
Nếu như con học nhất trường
Sang năm bà sẽ còn thương gấp mười!
Bây giờ con nhất trường rồi
Về thăm, chắc chắn bà vui hơn nhiều.
Thế nhưng bà nội thân yêu
Có còn đâu nữa mà chiều cháu cưng?
- Con ơi, bà nội sẽ mừng
Biết con học giỏi suối vàng ngủ yên
Tết nay ba để dành tiền
Thưởng đôi giày mới con hiền của ba!
TÚ KẾU TRẦN ĐỨC UYỂN
(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Nhâm Tý, 1972)
Tết Đến
Mùa đông mới đó mà đã qua hết
Tiễn đưa ông Táo hăm ba rộn ràng
Ba mươi tháng chạp giao thừa đón Tết
Bắt đầu năm mới tiếng pháo nổ vang
Mùng một mừng nhau chén trà thơm ngát
Mứt bí, mứt khoai, mãng cầu, mứt gừng
Hoa đào, hoa mai, thược dược tươi mát
Củ kiệu dưa hành, bánh tét, bánh chưng
Tường mới sơn vôi, áo quần cũng mới
Huệ trắng, thủy tiên, rực rỡ cúc vàng
Khách đến thật đông chúc nhau danh lợi
Thành công, như ý, may mắn, giàu sang
Bàn cờ cá ngựa, vòng quanh thế giới
Bao trẻ tha hồ chơi giỡn chung quanh
Để được lì xì những bao tiền mới
Ngọt ngào như dưa ruột đỏ vỏ xanh
Mồng một mồng hai mồng mười cũng Tết
Đình đám hội hè thong thả vội chi
Bao nhiêu chuyện vui kể hoài chưa hết
Mứt ngọt bánh trà cùng nhau nhâm nhi
Hưởng trọn mùa xuân nghỉ cày nghỉ cuốc
Phước hạnh bình an vui vẻ nhiều ngày
Lời chúc trường sinh chẳng thang chẳng thuốc
Năm mới tràn đầy hy vọng hăng say
Nhã Uyên
Cổ Tích Ngày Tết
SỰ TÍCH VIỆC KIÊNG CỮ QUÉT NHÀ
Ngày Tết, dân ta có lệ kiêng cữ nhiều thứ rất nên thơ, thí dụ như kiêng cữ quét nhà. Theo sách Phong thổ Ký, xưa kia, trên trời có mặt mụ đầu bếp là Bi Tiêu, có nhiệm vụ làm các món ăn để dâng lên Ngọc Hoàng. Mụ Tiêu có tật xấu là hay ăn trước và lại nếm thật nhiều. Ngọc Hoàng biết chuyện, đày mụ xuống trần làm thần chổi. Thần chổi phải làm việc suốt năm mới than phiền với Ngọc Hoàng. Ngài nghĩ thương tình nhưng còn giận, nên chỉ cho thần Chổi được nghỉ ba ngày Tết. Vì thế nên ở Dương gian mới có tục lệ nầy.
Nói về sự tích nầy, còn một câu chuyện nữa có chép trong sách "Sưu tầm Ký" là xưa kia có một người nghèo tên là Âu Minh, một hôm ngồi bên Hồ Than suy nghĩ tại sao mình cứ nghèo lại hoàn nghèo. Thần Hồ nghĩ thương tình cho con vật nhỏ tên là con Hậu để làm bùa. Nhờ đó, ít lâu sau, anh trở nên giàu có. Một hôm, anh chén say, nổi cáu, suýt nữa dẫm cả lên con vật đó đang thui thủi trong nhà. Hôm đó là ngày mồng một Tết. Tỉnh dậy, anh ta đi tìm vật, đâu cũng không thấy. Con vật sợ quá chui vào hóc, người ở quét nhà hốt rác, hốt luôn cả con vật đi. Vì thế, ít lâu anh Minh nghèo như cũ. Chuyện đồn đi, dân gian ai cũng kiêng cữ quét nhà trong ngày Tết, vì sợ của cải theo gương con Hậu mà đi mất.
SỰ TÍCH CẮM HOA ĐÀO, CÀNH MAI
Tết đến, người ta thường cắm hoa đào (ở những nơi không có hoa đào phải thế bằng hoa mai). Có người cho là để làm cho tăng thêm vẻ đẹp. Nhưng sự thật thì khác, vì đẹp thì thiếu gì hoa đẹp hơn, mà tại sao người ta lại phải cắm hoa đào.
Theo sách "Kinh sở tuệ thôn ký" gỗ đào có công hiệu như một lá bùa chắn ma quỷ, nên gọi là đào phù. Xuân kia ở bên Tàu, cứ Tết đến, ngoài cổng nhà nào cũng gắn hai bản gỗ đào, có khắc hình Thần-đồ và Uất Lũy. Đến đời Minh, một vị hoàng đế ra lệnh cho dân Tàu thay bản khắc nầy bằng hai câu đối đỏ cũng vẽ hình Thần-đồ, Uất Lũy, thôi không được dùng gỗ đào nữa. Vì thế dân chúng cắm cành hoa đào, thế cho vừa đẹp mắt, vừa giữ được tục cổ. Tục nầy đến đời nhà Minh đô hộ truyền sang ta.
Về chuyện Thần-đồ, Uất Lũy, sách "Phong tục thông" chép rằng: xưa có hai anh em nhà kia có biệt tài nhìn thấy ma quỷ giữa ban ngày và có phép lại diệt được ma quỷ. Ngọc Hoàng liền sai hai người anh em đứng trấn mọi nhà, nhất là dịp Tết để chặn không cho ma quỷ ám ảnh. Ma quỷ cứ thấy hình dáng hai anh em rất dữ tợn trên giấy đỏ sợ khiếp và không dám bén mảng tới nữa.
Ta theo tục lệ Tàu, cũng dán tranh, cũng cắm cành đào, nhưng vì chuộng văn chương ta dán luôn cả câu đối đỏ chữ nho ở trước cửa nhà nữa.
SỰ TÍCH ÔNG TÁO
Ông Táo là một vị thần ghi chép, những hành động, và ngôn ngữ của những người trong nhà thần trông nom. Ông còn có tên là ông Bếp, ông Núc hoặc Táo Công. Chức tước chính của trời phong cho ông là "Đông trú tư mệnh táo phủ thần quân".
Nhiệm vụ của ông là nằm trong xó bếp để rình mà nghe ngóng mọi việc lớn nhỏ trong gia đình để mỗi năm đến ngày 23 tháng chạp về trời tâu lại với Ngọc Hoàng định đoạt cho họa hay phúc của gia đình ấy, rồi đến ngày mùng một Tết lại xuống trần gian để tiếp tục công tác.
Vì thế, cuối năm người ta có lệ tiễn ông, và đầu năm rước ông thì thế nào cũng được, nhưng tiễn ông thì phải có cá chép để ông cỡi lên trời và nhận để giúp ông báo tin cho người.
Gọi là ông Táo, nhưng thật ra thì gồm một bộ ba, một vợ 2 chồng.
Tại sao thế?
Theo tục truyền, ngày xưa có hai vợ chồng người kiếm củi nghèo lắm, tuy lấy nhau không con mà vợ rất thương chồng. Trái lại anh chồng hay rượu chè be bét và hay đánh đập vợ. Một bữa nọ anh chồng vác cây đuổi vợ, chị vợ phải trốn đi.
Chị vào rừng, thấy một cái lều, trời tối chị xin vào ngủ nhờ. Chủ nhà là tay thợ săn, thương tình cho ở, rồi hai người lấy nhau.
Trở lại câu chuyện, chị đi rồi, anh đi kiếm củi hối hận, đi tìm. Anh cũng vào rừng, trời tối cũng xin vào túp lều kia ngủ nhờ. Anh thợ săn đi vắng, chỉ có vợ ở nhà. Anh kiếm củi bước vào ngạc nhiên thấy vợ mình ở đó. Anh khóc lóc năn nỉ bảo vợ về. Người vợ cũng khóc tỏ ý vẫn còn thương chồng cũ.
Trong lúc hai người đang kể lể sự tình, anh thợ săn về xách theo một con thỏ. Chị vợ hốt hoảng bảo anh chồng cũ trốn ẩn vào đống rơm.
Anh thợ săn sai vợ đi lấy rơm thui thỏ. Chị vợ rụt rè, anh tự tay làm lấy, bất ngờ lửa cháy cả đống rơm làm chết anh kiếm củi ở đó. Chị vợ đau lòng, mới nhảy vào đống lửa. Anh thợ săn tưởng mình làm gì phật ý vợ cũng nhảy luôn vào lửa chết theo.
Việc nầy đến tai Ngọc Hoàng. Ngài nghĩ thương tình mới cho 3 người hóa thành 3 Táo quân. Vì thế ở trong bếp lửa, cả ba cùng dụm đầu vào nhau. Và do đó, mới thành ra 2 chồng một vợ.
XUÂN NGUYÊN
(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Nhâm Tý, 1972)
Thứ Năm, 23 tháng 1, 2020
Những Ngày Cận Tết
Nghe người ta nói rằng, hóa ra hạnh phúc nằm ngay trên con đường, trong cuộc hành trình khi ta đang đi tìm hạnh phúc, chớ không phải là lúc ta đã đạt được điều mong ước! Một ví dụ khác đơn giản, dễ hiểu hơn nhiều, là những ngày cận Tết, tréo ngoe, oái oăm thay, lại vui hơn chính những ngày Tết!
Không hiểu Tết là gì, mà sao đứa con nít nào cũng mê. Đứa bé nào cũng cảm thấy nô nức, rộn ràng khi bắt gặp những làn gió se se lạnh, hiu hiu thổi vào những buổi chiều cuối năm, cuốn những lá cây trên đường, và gieo vào lòng những cảm giác nao nao, man mác, kỳ lạ, nửa buồn nửa vui. Lòng người sẽ dấy lên những cảm xúc vu vơ, bâng khuâng nhưng se sắt, khó đặt tên, khi những tia nắng vàng đẹp mê hồn thoáng in lên khung cửa sổ vào những chiều cuối năm. Quanh năm ngày tháng, ngày nào Sài Gòn chẳng có nắng, bất kể đang là mùa gì. Nhưng nắng ngày thường ta nói sao mà nó gay gắt, xấu xí, vô duyên kỳ lạ, và chỉ khiến ta khó chịu, bực mình! (Vậy mà cũng có người "gọi nắng" đấy nhé! ) Nhưng gần Tết, nắng cứ gọi là vàng óng ả như lụa, êm dịu như tơ, đẹp tuyệt trần, thật đáng chiêm ngưỡng, và đáng nhớ đời! Thơ ca nhạc họa đã dành riêng cho chúng một mỹ từ, đó là nắng xuân. Thì ra nắng mà cũng có năm bảy đường nắng!
Nhà tôi, xui xẻo thay, nằm lọt thỏm giữa khu nhà giàu của thành phố. Ngày thường đã vậy, Tết đến còn thấy rõ hơn nữa khoảng cách giàu nghèo. Chẳng hạn như Tết hồi xưa khi còn tục lệ đốt pháo, thì vào đêm giao thừa, khi đồng hồ vừa điểm mười hai tiếng, và trên tivi ta có thể nghe thấy đang tưng bừng rộn rã bản hợp ca chào xuân muôn thuở Ly Rượu Mừng, thì cũng là lúc phố phường đồng thanh vang rần tiếng pháo đón chào năm mới. Tạch tạch tạch đùng đùng đùng...Nhà nào nhà nấy thi đua nhau đốt cả mấy chục thước pháo, được treo rất ấn tượng từ nóc nhà bốn năm tầng lầu xuống tới mặt đất, chắc là vừa để khoe nhà cao cửa rộng, vừa để khoe của , vì đốt pháo là đốt tiền, dù là để mua lấy niềm vui. Dĩ nhiên là trừ nhà tôi ra! Chỉ có một năm duy nhất, ba tôi châm ngòi đốt một tràng pháo "tượng trưng", là năm gia đình gặp chuyện vui, và thế là nhất rồi! Ngoài ra thì chúng tôi chỉ xúm xít ngoài balcon và nghe ké, nhìn ké, hưởng ké, rồi vui lây cái vui của thiên hạ khi đốt, đốt nữa, đốt mãi không ngừng những tràng pháo xuân đỏ thắm, vừa đẹp mắt, vừa vui tai, vừa thơm lừng mùi... thuốc súng khét lẹt, khiến khói bay mịt mờ cả khu phố , lẫn với khói nhang của hàng đoàn nam phụ lão ấu áo dài khăn đống đi lễ chùa cúng giao thừa, hái lộc về. Chúng tôi được tiếp tục nghe pháo nổ lẹt đẹt (pháo chuột, pháo tép của trẻ con), nổ đì đùng thành tràng dài (pháo bện thành phong) , hay nổ oành oành khi thì riêng lẻ, lúc lẫn vào tiếng tạch đùng của dây pháo dài ít nhất một mét (pháo đại) suốt những ngày Tết. Xác pháo theo những làn gió xuân tập trung hết trên thềm nhà tôi, vốn thấp trũng hơn hẳn những nhà láng giềng, khiến mùa mưa thì nước ngập hơn nhà thiên hạ, mà Tết tới thì xác pháo cũng bay tới nằm chất chồng chất đống, nhiều hơn hẳn nhà người ta. (Khi xưa vẫn còn tục lệ Tết không quét nhà, sợ quét mất lộc!) Lần này lũ con nít tụi tôi không than , không buồn vì nhà nghèo nữa, là do khách khứa, bạn bè của ba tôi và họ hàng, gia đình tôi khi tới chúc Tết, ai cũng trầm trồ khen, ôi nhà hai bác giàu quá nhỉ, xác pháo nhiều thế này cơ mà, dễ cũng ngập đến nửa mét, phải lội qua xác pháo mới vào được đến nhà! Lũ trẻ con chúng tôi đứa nào đứa nấy đều tươi cười hể hả với niềm vui hão huyền đó! Ôi con nít mới sĩ diện, sống ảo làm sao!
Trẻ con là chúa làm biếng, và chỉ thích ăn rồi chơi, hễ nói tới học hành hay làm việc là oải chè đậu, cáo ốm! Gần Tết chính là khoảng thời gian ai cũng phải làm việc nhiều hơn ngày thường, vì phải dọn dẹp nhà cửa đón Tết. Lạ một điều là tới tận bây giờ tôi mới thấy dọn nhà ăn Tết là vui, để cảm thấy được không khí nô nức rộn ràng của dịp Tết đang đến rất gần. Chớ lúc còn nhỏ, cho dù lũ con nít tụi tôi đã xúm nhau lại cùng làm việc cho đỡ chán, vừa làm vừa giỡn hớt, kể chuyện vui cho nhau nghe, hơn là phải lủi thủi làm một mình, vậy mà vẫn uể oải, kề rề, chân tay không buồn nhấc lên, chỉ làm cho có lệ để khỏi bị la rầy! Mà nào cũng có nhiều nhặn gì cho cam : lau cửa kiếng, tuốt lá mai, chà sân, lau chùi cửa sắt, lau nhà... Giờ đây, sau khi đã trải qua bao cuộc bể dâu, hồi tưởng lại, tôi mới cảm thấy muôn vàn luyến tiếc những tháng ngày vàng son, khi chúng tôi còn bé, còn được sum họp bên nhau dưới cùng mái nhà, đồng cam cộng khổ, chia vui sớt buồn. Ước gì chiếc đồng hồ cuộc đời có thể đảo ngược cây kim, để tôi được tận hưởng lại một thời dĩ vãng êm đềm, nên thơ đó!
Để thưởng cho công khó của tụi tôi, ba tôi thường hay chở tụi tôi đi mua đồ chơi Tết. Tuy là còn nhỏ, nhưng tôi đã biết thương cha mẹ phải làm lụng khó nhọc để mưu sinh, và nuôi các con ăn học, nên khi vào tiệm đồ chơi cho dù có hoành tráng lệ đến mấy, đồ chơi có mắc tiền tới cỡ "lắc lư con tàu đi" chăng nữa, thì tôi cũng giả bộ ngó lơ mấy con búp bê diện áo đầm kim tuyến lộng lẫy, biết nhắm mắt mở mắt made in Hongkong..., hay những con búp bê Nhật Bổn diện kimono rực rỡ đủ màu, yểu điệu che dù đứng dưới rặng hoa đào màu hồng phấn... mà chọn lấy một con búp bê nhồi bông màu vàng đậm rẻ tiền, mắt thật to, tóc xõa lệch trước trán, ngồi bó gối, mà tôi thường thấy treo toòng teng ở cửa kiếng xe hơi của mấy nhà hàng xóm nhà tôi. Nâng niu ôm nó vào lòng, tôi đặt tên cho nó là Bella! Cũng có năm tôi không chọn mua búp bê nữa, mà lại là một hộp kẹo vàng tươi có sơn hình mấy nhân vật, thú vật trong phim hoạt họa Walt Disney, có thể dễ dàng xách toòng teng nhờ hai dây đeo như dây xích màu bạc, thay cho cái bóp đựng tiền lì xì. Tết năm đó, sau khi ăn hết kẹo đựng trong hộp, đi tới đâu tôi cũng kè kè cái lon kẹo không, để đựng những bao tiền mừng tuổi đỏ ối!
Vào những ngày sắp tết, má tôi thường bỏ ra ít nhất cả nửa ngày để đi uốn tóc ăn Tết! Quanh năm ngày tháng tất bật buôn bán, chẳng khi nào bà được rảnh rang. Cho nên lúc bà bỏ hết mọi công việc để đi làm đẹp như vậy, chẳng ai kêu ca phiền hà gì, ngoại trừ tôi. Con nít đứa nào mà không "bám váy mẹ", nhất là con gái? Vì vậy nếu tôi có trông đứng trông ngồi, thấy quãng thời gian má tôi vắng mặt kéo dài như cả thế kỷ, thì cũng thường tình thôi. Chờ mãi thì cuối cùng bà cũng về tới nhà với cái đầu mới đẹp ơi là đẹp, nhưng nhất là thơm ơi là thơm. Thơm mùi gì thì vì lúc đó còn nhỏ nên tôi không biết, nhưng tập hợp những mùi thơm của dầu gội đầu, thuốc uốn tóc, keo xịt tóc, nước hoa... ấy đã làm tôi mê mệt. Và khi phải xa nhà về Châu Đốc ở với bác, mùi thơm ấy đã không ít lần khiến tôi phát khóc vì nhớ má, khi thoáng ngửi thấy nó từ cái đầu mới của các bà các cô, nhất là vào dịp tết! Cũng may là ở Châu Đốc vì là tỉnh lẻ, nên phụ nữ ít có tân thời như trên Sài Gòn, không thì tôi đã cạn nước mắt!
Đàng sau nhà tôi là khu lao động. Nếu hồi xưa Hà Nội có ba mươi sáu phố phường, thì xóm tôi có thể gọi là Xóm Mứt Tết, vui nhất là khi sắp vào xuân. Giờ đây, nếu anh Hải tôi có phép màu sống lại, bảo đảm anh sẽ không bị lạc đường khi vào xóm mứt tết, vì nó y xì như nửa thế kỷ trước. Cũng những con hẻm nhỏ quanh co gồ ghề, trơn trợt dưới ánh đèn vàng hiu hắt khi trời mưa xuống, cũng những căn nhà gỗ vách ván, mái lợp tôn lụp xụp, ọp ẹp. Và tôi rất thích điều đó, vì trông xóm rất lãng mạn, nên thơ, y hệt như lời bài hát Xóm Đêm của Phạm Đình Chương, hay bài Loan Mắt Nhung của nhạc sĩ Huỳnh Anh! Vào những ngày sắp Tết, khi vào xóm mứt, bạn sẽ thấy cả một trời mứt ở khắp mọi nơi : phơi trên giàn tre trên đầu, đang được sên trong những chảo nước đường vĩ đại, nằm trong thau cũng to không kém để các bà các cô, và đôi khi cả các ông, các trẻ nhỏ nữa, thoăn thoắt gói vô những mảnh giấy bóng kiếng lòe loẹt được cắt sẵn vuông vức... Nào mứt mãng cầu, mứt me, mứt hột sen, mứt chùm ruột... đủ màu vàng đỏ trắng thơm phức, khiến cho ngay cả người vô tâm nhất tình cờ ngang qua xóm mứt cũng biết rằng... Xuân đã đến rồi gieo rắc ngàn hồn hoa xuống đời!
Tôi nhớ mãi bài thơ Tết của nhà thơ Đoàn Văn Cừ....
Từ khi ông tôi mất
Bà tôi cũng qua đời
Tôi mỗi ngày mỗi lớn,
Nên chẳng thấy gì vui.
Tết đến tôi càng khổ,
Tôi nhớ bức tranh gà,
Chiếc phong bao giấy đỏ,
Bánh pháo tép ba xu.
Tết đến tôi càng khổ,
Tôi nhớ bức tranh gà,
Chiếc phong bao giấy đỏ,
Bánh pháo tép ba xu.
Tôi đã từng tự hỏi bài thơ ấy có gì để mình nhớ, nhưng bây giờ tôi mới có câu trả lời : đó là vì nó nói lên đúng tâm trạng của người lớn mỗi khi Tết đến : Tôi mỗi ngày mỗi lớn, nên chẳng thấy gì vui! Vì Tết đối với người lớn chỉ gói gọn trong một chữ : NHỚ!
Trần Thị Phương Lan
(Bút nhóm Hoa Nắng)
Niềm Vui Mùa Xuân
Nắng mới reo vui ngoài nội cỏ
Cánh chuồn nhí nhảnh
đậu bờ ao
Cành mai gầy guộc run
trong gió
Là lúc mùa xuân gõ cửa
chào.
Đã trổ trên cây cành
lộc nõn
Rộn ràng chim én cánh
chao nghiêng
Nụ hoa nào nở trong
sương sớm
Báo một mùa vui đã đến
gần.
Lắng nghe xuân đến
trong lời gió
Trong tiếng xôn xao của
đất trời
Đàn em náo nức vui đầu
ngõ
Áo mới tinh khôi rộn
tiếng cười.
Vườn đã ngát hương mùa
mới dậy
Niềm vui lan tỏa cõi
nhân gian
Trong ánh xuân hồng ta
đã thấy:
Em là cánh én chở mùa sang !
Em là cánh én chở mùa sang !
Đằng Linh
2020
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)












