Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2018

CHƯƠNG 2_CHẮP CÁNH


2


- Chị Uyên có thư.

Tôi buông vội tờ báo chạy ra :

- Thư đâu ? Ai gửi ?

- Anh Sinh.

Tôi chùn chân lại, tiu nghỉu. Tôi hy vọng thư Toản.

Thanh đưa phòng bì màu xanh cho tôi. Tôi lạnh lùng :

- Cất dùm chị.

Em tôi hiểu. Đây là cánh thư thứ ba tôi không đọc. Thư của những người không phải Toản.

Thanh an ủi:

- Chắc ảnh bận. Chị coi báo hằng ngày không thấy sao, mặt trận Trị Thiên ghê thấy mồ.

Tôi nghẹn giọng:

- Không biết ảnh có bị gì không, sao không thấy thư từ gì cả.

- Chắc ảnh sắp về nên không viết thư. Ảnh muốn làm bất ngờ cho chị.

Tôi lắc đầu nhè nhẹ. Lời an ủi của em cũng như lời an ủi của mẹ, không làm tôi yên tâm chút nào. Tôi rơi vào một nỗi hoang mang đến khờ người. Đã hai tháng tôi không được tin tức gì của Toản. Một ngày chờ đợi là một ngày mòn mỏi. Những người thân của tôi điều hiểu tôi lo âu, tôi khổ sở và tìm đủ mọi cách để trấn an, nhưng sự khắc khoải trong tôi chỉ có tăng chứ không giảm.

Nhiều đêm tôi gặp ác mộng, tôi thấy Toản bị thương, người đẫm máu, anh chạy lên phía tôi, dang rộng hai tay và tôi rú lên ngã vào lòng Toản trong nỗi kinh hoàng ngột ngạt.

Tôi nghĩ đến người tình trong nỗi chết cận kề, những hiểm nguy anh phải chịu và thấy thù hận chiến tranh. Viễn cảnh tương lai mờ mịt. Tôi hình dung gương mặt Toản nhạt nhòa qua nước mắt, qua hơi khói thuốc. Tôi nghe văng vẳng tiếng anh dịu dàng “Anh nhớ… Anh nhớ và yêu bé của anh trọn đời ” !

Tôi khóc một mình. Tôi khóc tức tưởi trước mặt mẹ. Tôi không giấu được niềm đau. Tôi không dằn được nỗi buồn. Chân tôi đứng trên mặt đất nhưng tâm hồn tôi trôi xa, mênh mang vào một không gian không còn sự sống…

- Thanh.

Tôi kêu giựt khi nó mang thư cất đi. Thanh quay lại :

- Chị kêu em?

Tôi chìa tay:

- Đưa thư đây.

Nó đưa phong bì, nhìn tôi:

- Chị đọc?

Tôi không trả lời, xé đôi phong bì. Em tôi đứng yên lặng. Nó thông cảm. Tôi đặt phong bì xé nát lên bàn:

- Đốt dùm chị. Cả hai thư trước nữa. Lần sau có thư anh Sinh, em gửi hoàn lại, như vậy họ biết, không làm phiền mình nữa.

Mắt Thanh vương một thoáng thương hại, dường như nó muốn nói gì nhưng lại thôi. Tôi cũng không muốn nghe nó nói, không muốn nghe ai khuyên mình đừng nên tàn nhẫn với người yêu mình. Tôi bực tức, tôi thèm muốn giá thư của Sinh là của Toản?
*

Mẹ dịu dàng:

- Uyên à, con chưa được tin tức gì của Toản sao?

- Thưa chưa. Con cũng không hiểu.

- Nó nhớ địa chỉ nhà mình chứ?

Tôi cười héo hắt:

- Quên sao được mẹ.

- Thấy con khổ, mẹ cũng buồn. Ráng đừng để mất tinh thần nhiều quá. Chuyện đâu còn đó. Chắc nó bận rộn quá nhiều. Chớ nó hiền lành, không lẽ …

Tôi ngắt lời mẹ:

- Con hiểu Toản mẹ ạ. Con không sợ anh bạc mà chỉ sợ chuyện không may. Mẹ coi, gần ba tháng, đâu phải một hai tuần gì.

- Mẹ cũng lạ. Nhà mình không ai đi ngoài đó để hỏi tin tức thử.

- Con đã hỏi thử một vài người nhưng vô vọng mẹ ạ.

Mẹ vô tình:

- Lính tráng bây giờ làm sao biết được sống chết ngày nào. Ngày trước thằng Phương cũng… có kịp thấy mặt ai đâu. Chiến tranh không sớm chấm dứt đây rồi tới ngày thằng Sơn, thằng Thanh đi lính nữa chắc mẹ lo ngày lo đêm quá.

Tôi gượng cười:

- Tụi nó còn dư năm học mà. Một mình con lo đủ rồi.

Mẹ nhìn tôi không biết nói sao. Tôi biết mẹ thương tôi vô cùng nhưng nỗi khổ trong tôi mẹ đành bất lực. Tôi quay ra đùa với bé Thảo. Con búp bê trên tay nó nhắc tôi nhớ Toản lạ lùng: chính anh mua cho bé Thảo nhân ngày sinh nhật thứ tám của nó. Thảo nói:

- Chị Uyên rảnh may cho búp bê bộ đồ ha. Áo quần nó cũ hết rồi.

- Ừ để chị rảnh chị may cho.

- Không, chị phải may liền hà. May để mặc cho búp bê đẹp. Anh Toản về nhen chị.

Tôi cốc đầu con bé:

- Liếng khỉ vừa chứ, chị không làm thì sao?

- Anh Toản về em méc. Ảnh thương em lắm nè.

Nó ngước đôi mắt ngây thơ nhìn tôi:

- Chị Uyên, sao lâu quá anh Toản không về?

- Anh Toản phải “uýnh giặc” mà về sao được.

- Sao anh con Tâm cũng uýnh giặc mà ảnh về hôm qua đó.

Tôi nói cho qua:

- Tại anh con Tâm không bận.

- Hôm bữa anh Toản hứa về dẫn Thảo đi phố mua cho cái cặp mới sang năm đi học nè. Vậy mà lâu thiệt lâu ảnh hổng chịu về.

Tôi xoa tóc em:

- Để chị đi mua cho cưng.

- Hổng thèm chị Uyên mua. Em đợi anh Toản về dắt em đi lựa hà.

- Ừ, thì đợi.

Con bé yên chí không rắc rối nữa. Tôi nhìn nó bỗng dưng thèm vô cùng sự hồn nhiên của tuổi thơ. Những câu hỏi vô tình của đứa bé nhỏ làm tôi muốn trào nước mắt. Tôi ao ước điên cuồng Toản về với tôi ngay bây giờ, nữa phút thôi, cho tôi nhìn thấy anh còn sống, cho tôi tin tưởng anh bình yên, rồi anh đi tôi không níu giữ. Nhưng mơ ước vẫn là ước mơ. Ảo ảnh có vẻ gần mà vô cùng xa thực tại. Tôi chợt nhớ đến sự tuyệt vọng của hai người yêu nhau trong La valse dans l‘ombre và cảm thấy nỗi bất hạnh hình như đang bủa vây trong cuộc tình tôi và Toản.


*


Châu gọi tôi mà nước mắt chảy quanh:

- Chị Uyên ơi, anh Toản…

Tôi thảng thốt:

- Chuyện gì Châu?

- Điện tín… anh Toản đã …

Cả nhà xô tôi lại. Thanh giật mảnh giấy đọc dòng chữ ngắn rồi thẫn thờ:

- Anh Toản chết rồi.

- Chúa ơi!

Tôi rú lên. Tôi chới với, hai tai lùng bùng, mắt như nổ muôn vàn hào quang. Tôi nghe mơ hồ tiếng mẹ:

- Uyên, Uyên, tỉnh lại con. Mẹ đây.

Tôi nhắm nghiền mắt nhưng đầu óc tôi tỉnh táo vô cùng, tôi nghe rõ giọng Thanh “Anh Toản chết rồi”. Tôi nghe rõ tiếng rú của mình “Chúa ơi”, nhưng tôi không muốn tỉnh. Tôi sợ phải nghe những lời người than an ủi, tôi sợ ánh mắt vừa thương hại vừa xót xa của mẹ, của em.

Điện tín do một người bạn của Toản đánh về cho tôi: “Chị Lệ Uyên”. Anh Toản đã hy sinh. Stop – Xác không thể mang về. Stop. Lời cuối của Toản là ân hận vì không thể đưa chị đi trọn cuộc đời. Stop.

Ngắn ngủi thế đó mà là cả một định mệnh con người. Ngắn ngủi thế đó mà là một cách chia vĩnh viễn. Thật vô lý! Vô lý đến mức hoang đường nhưng sự thật vẫn là sự thật.

Tôi nằm vùi. Nước mắt không còn để khóc. Thế là hết. Tình yêu, hy vọng. Hạnh phúc tan nhanh như bong bóng nước.

Tôi không điên như tôi tưởng. Tôi không chết được như tôi tưởng. Vẫn sống. Thân xác tôi vẫn cử động. Tôi vẫn ăn, vẫn ngủ. Tôi vẫn thở, nhưng tôi đã không còn là tôi nữa.

Hình ảnh Toán ám ảnh tôi từng giờ, từng phút. Tôi cảm thấy chán nản và bất lực. Hơn bao giờ hết tôi thấy mình như một cành hoa héo úa vì nhựa sống nuôi cây đã không còn. Nụ cười liến thoắng mất trên môi, màu má hồng của tuổi hai mươi thoát dần ánh nắng. Tôi bạn bè với kỷ niệm. Tôi đọc thuộc những cánh thư yêu của Toản, Tôi lang thang trên những con đường ngày trước Toản dìu tôi đi. Tôi nhớ La valse dans l‘ombre. Tôi nhớ bước chân rời rạc của Maria giờ tôi còn rời rạc hơn. Tôi nhớ ánh mắt lạc thần của Maria giờ tôi còn lạc thần hơn. Roy của Maria thì về sau cuộc chiến, còn Toản của tôi thì không. 

________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG 3
 

CHƯƠNG 1_CHẮP CÁNH


 1



Tôi đặt bó huệ lên mộ Phương và yên lặng nhìn anh. Tôi im lặng rất lâu như thế, như muốn hòa mình vào sự yên lặng rờn rợn của vùng mộ địa. Nụ cười của người đã khuất vĩnh viễn còn trên bức ảnh nhỏ gắn vào bia thập giá. Đôi mắt Phương hiền và mang một vẻ gì lãng mạn. Tôi yêu đôi mắt đó. Và bây giờ, vĩnh viễn mất Phương rồi, hình bóng anh vẫn không nhạt nhòa trong tâm tư tôi dù đã ba năm anh giã từ cuộc sống.

Một nỗi bơ vơ đột nhiên xâm chiếm tâm hồn tôi. Gió nghĩa trang về chiều lành lạnh, tôi quấn vội tấm khăn voan lên cổ và khép hai vạt áo dài đang vướng chân vì gió. Hoàng hôn đến chầm chậm, buồn vương lên những tấm bia sừng sững đánh dấu những cuộc đời đã đi vào thiên thu.

Tôi có cảm tưởng như có người đang nhìn mình chăm chú. Tôi quay lại và bắt gặp sự ngượng ngùng của người lính đang đứng cách vài ngôi mộ. Có lẽ anh ta đi thăm bạn đồng ngũ.

Những cành huệ trắng nuột theo tay tôi sắp thành hai chữ “Nhất Phương” trên thành mộ. Tôi hơi bối rối vì thiếu những bông hoa để hoàn thành mẫu tự cuối cùng. Nhìn quanh cũng chả mộ ai có hoa huệ để có thể xin năm cánh, tôi nhìn lại phía sau. Người lính vẫn còn ở đó… Và tôi sửng sốt nhận ra hắn cũng đang cắm cúi sắp những hoa huệ lên mộ bạn. Thoáng một giây ngần ngại, tôi bước về phía hắn. Người lính ngước nhìn tôi và trước khi tôi kịp nói, hắn đã hỏi :

- Cô cần những hoa huệ để sắp tiếp phải không ?

Tôi bối rối gật đầu.

- Vâng, tôi… còn thiếu mẫu tự chót.

Hắn khẽ cười :

- Ý kiến của cô hay đấy. Dùng hoa viết tên người đã khuất lên thành mộ… Tôi đang bắt chước cô đó.

Tôi nhìn lên thành mộ, những hoa huệ được sắp thành ba chữ “Nhớ Vũ Linh” rất khéo. Trên tấm bia thập giá có một bức ảnh nhỏ, gương mặt người trong ảnh khắc khổ, tuy nhiên những nét thư sinh chưa thể xóa hết trên đôi mắt đầy mơ mộng của anh ta. Dưới bức ảnh là hàng chữ nhỏ :


‘‘ Thiếu úy Vũ Linh. 

Đền nợ nước ngày 18-6-67 

hưởng dương 24 tuổi ’’. 


Tôi khẽ thở dài. Vũ Linh mất còn trẻ hơn Phương của tôi ba tuổi. 24 tuổi… trẻ quá… Thế hệ này những người con trai ra đi quá sớm, không phải chỉ một Vũ Linh, một Nhất Phương của tôi mà thôi.

Mải suy tư tôi không hay người lính đã đi từ lúc nào. Tôi từ giã Vũ Linh để trở lại với người yêu, nhưng người lính trẻ đã đứng đó. Hắn nhìn Phương chăm chú… Tên Nhất Phương đã được sắp lại đầy đủ và rất đẹp, tôi nói :

- Cảm ơn ông đã cho tôi hoa huệ, và sắp lại tên anh tôi. Ông sắp khéo quá.

Hắn lắc đầu :

- Cô lầm rồi, tôi có cho cô thêm bông nào đâu… Tôi sắp lại với chính những hoa huệ của cô đấy chứ.

Đột nhiên hắn hỏi :

- Trung úy Phương là anh cô ?

Tôi gật đầu, im lặng. Hắn gật gù :

- Anh cô thích hoa huệ lắm nhỉ ?

- Vâng cũng như Vũ Linh của ông.

Mắt hắn thoáng ngạc nhiên rồi sầm xuống như cũ. Giọng hắn thật nhỏ :

- Vũ Linh nó không thích hoa huệ đâu. Nó không thích loại hoa gì cả. Đó là sở thích của tôi. Về thăm không có gì cho nó, tôi đến với nó bằng những bông hoa tinh khiết mà tôi yêu nhất.

Bỗng nhiên tôi có cảm tưởng gần gũi hắn lạ lùng. Nghĩa trang chỉ còn có hai chúng tôi, hai con người đều ngậm ngùi trước những người thân yêu hy sinh vì chiến tranh, vì quê hương. Tôi nói như một lời tâm sự :

- Nhất Phương là vị hôn phu của tôi. Chúng tôi hẹn nhau khi tôi đúng 18 tuổi thì cưới… không ngờ anh tôi đi sớm thế. Ba năm rồi, mỗi ngày đầu tháng tôi vẫn đến với anh ấy… Tôi sẽ còn đến mãi ông ạ.

Tôi nghe hắn thở dài. Giọng hắn trầm hẳn đi :

- Chiến tranh không từ chối làm khổ một ai, kể cả những thiếu nữ yếu đuối như cô.

Tôi cúi đầu nhận sự phân ưu gián tiếp của hắn. Trời sẩm tối, tôi làm dấu đọc kinh Tin Kính và từ giã Phương để trở về với thế giới người sống. Tôi đi vội qua những con đường đầy cỏ úa của vùng mộ địa, người lính ban nãy cũng nối gót theo tôi. Ra khỏi nghĩa trang hắn nói :

- Cô cho phép tôi đưa cô về nhé, giờ này khó đón xe lắm.

Không đợi tôi đồng ý, hắn băng sang đường lấy xe và trở lại nơi tôi đứng. Một vài chiếc taxi có khách lướt qua, tôi hiểu giờ này khó kiếm xe thật.

Xe chạy về chợ Sàigòn. Những làn gió phần phật thổi tóc tôi vướng vào cổ hắn. Thành phố lên đèn, hắn quay nhìn tôi :

- Cô ở đường nào để tôi đưa về ?

- Trương minh Giảng, ông ạ.

Hắn nói như reo :

- Thế thì chúng ta ở gần nhau rồi. Nhà bạn tôi ở Phú Nhuận, tôi đưa cô về rồi trở lại nhà nó.

Tôi hỏi :

- Ông không có nhà ở Sàigòn sao mà phải ở nhà bạn ?

Giọng hắn thoáng buồn :

- Gia đình tôi ở Mỹ Tho kia. Tôi đi lính, rày đây mai đó hầu như là không có nhà nữa, ghé đâu thì tấp nhà bạn bè vài bữa lại đi… Đời lính mà cô. Đôi khi về Sàigòn cũng chả biết làm gì cho hết thời giờ.

Tôi nghe một nỗi nghẹn ngào chận ngang cổ họng. Những nếp sống chinh chiến là vậy sao. Tôi chợt muốn tìm hiểu về người bạn quá cố của hắn.

- Vũ Linh là bạn đồng ngũ của ông ?

- Vâng, chúng tôi ở cùng một binh chủng, đúng hơn thì hồi còn học ở Chu Văn An, hai đứa tôi đã thân nhau. Sau khi vào Luật Khoa một thời gian, tôi chán học bỏ đi lính, rồi tôi gặp lại Vũ Linh. Hắn được gửi về đơn vị tác chiến của tôi và làm đại đội phó.

Hắn ngừng một lát rồi ngậm ngùi :

- Vũ Linh ra đi sớm quá. Cuộc đời nó chưa làm gì được cả. May mà nó chưa lấy vợ, nếu không lại có thêm một “ góa phụ 20 ” trong cuộc đời.

Tôi chợt mến hắn lạ lùng. Có lẽ vì hắn cũng là người miền hậu giang như Nhất Phương… Có lẽ vì bộ quân phục rằn ri màu đất của hắn gần giống như màu áo Thủy Quân Lục Chiến của người tôi yêu… có lẽ… tôi không thể phủ nhận được rằng từ ngày Phương mất, hắn là người con trai đầu tiên làm tôi xúc động.

Hắn ngừng xe trước con đường nhỏ dẫn vào cư xá. Tôi cám ơn và hắn cười :

- Trung úy Toản xin hỏi quý danh người đẹp.

Chợt nhớ rằng chúng tôi vẫn chưa biết tên nhau, tôi đáp :

- Lệ Uyên hân hạnh quen Trung Úy.

Cả hai đứa cười xòa, tôi nhìn thấy ánh mắt Toản trìu mến vô cùng… Và tôi có cảm tưởng sự quen biết của chúng tôi sẽ không dừng lại ở đây.



*


Tôi ngước nhìn Toản :

- Anh cho phép Uyên đọc.

- Dĩ nhiên, cô bé. Em là độc giả đầu tiên đọc những bài thơ của anh đấy.

- Và cũng là độc giả duy nhất nữa chứ… Uyên chả thích ai đọc thơ của anh hết.

Toản vuốt tóc tôi, dịu dàng :

- Ích kỉ dữ à. Làm như…

Tôi chu môi :

- Làm như… sao cơ ?

- Đọc đi rồi anh nói.

Tôi hất nhẹ mái tóc. Mắt tôi lướt trên những giòng chữ viết tháu của Toản.

“ Vũ Linh

Linh ơi,

Được ba ngày phép

Tôi tìm đến thăm anh

Thành đô không còn những chiều nắng đẹp

Khi tôi đứng nhìn ngôi mộ cỏ xây quanh.

Tôi đến bên anh

Ba lô và súng đạn

Hành trang vẫn còn coi tôi là bạn

Chưa giã từ để vĩnh viễn tôi đi

Mình gặp nhau

Không biết nói những gì

Ngôn ngữ của anh cách xa tôi quá

Trông tấm ảnh nhỏ lồng nơi bia đá

Môi anh nhếch cười

Mắt sáng rực niềm tin

Tôi muốn nói lên tất cả kỷ niệm của chúng mình

Hai thằng con trai vào đời bằng nghiệp lính

Mái trường Chu Văn An

Vị giáo sư Pháp Văn già khả kính

Ông thương chúng mình nhất phải không Linh?

Có lần hai đứa cùng một người tình

Nàng yêu tôi hay anh ? – Làm sao biết được ?

Hai đứa cùng say mái tóc dài đen mượt

Đôi môi nhạt hồng, và sóng mắt nai tơ.

Rồi chúng mình không hẹn mà làm thơ.

Những bài thơ vụng về

Ca tụng chung một người con gái

Gác trọ nhiều đêm nhìn nhau ái ngại

Không biết rồi… người đẹp trả lời sao

Hết làm học trò đến làm lính mũ nâu

Vì hai đứa cùng mê màu chiến y “Biệt Động”

Bắt đầu cho những chuỗi hành quân làm nghĩa sống

Núi rừng này tiếp nối xóm làng kia

Đôi lúc đứa này được phép trở về

Mua tặng bạn một món quà thành phố

Linh ơi,

Ngày còn anh tôi chưa bao giờ thấy khổ

Dù cuộc sống chúng mình

… Lính tráng có hơn ai…

Một đêm truy kích

Liên thanh nổ rền tai

Từng loạt hỏa châu soi vào vùng chiến trận

Những bàn tay siết cò – say máu hận

Những xác người tràn ngập cánh đồng hoang

Đến lúc điểm binh

Tôi kinh hãi…

… Bàng hoàng…

Khi gọi Vũ Linh không nghe anh lên tiếng

Tôi bỏ hàng ngũ một mình tìm kiếm

Tôi lao vào đêm tối gọi “Linh ơi”

Nhưng không có anh

Mà chỉ có sương rơi

Chỉ có gió

Và những tiếng côn trùng não nuột

Buổi thu dọn chiến trường

Nhìn xác anh tôi nghẹn ngào thảng thốt

Tôi quấn anh vào trong chiếc poncho

Anh vô tư say giấc ngủ mơ hồ

Giữa hai hàng nến chập chờn ma quái

Đơn vị trưởng đến thăm anh

Nói với tôi những lời an ủi

Tôi dồn căm hờn lên khẩu súng trên tay

Anh đã đi

Xa cuộc chiến tranh này

Xa bè bạn

Xa những ngày thân ái

Từ ngày anh mất tôi chưa về Quảng Ngãi

Chưa gặp lại mẹ anh

Nhưng chắc bác đã già nhiều

Từ khi chiến trường cướp mất đứa con yêu

Bác chỉ sống với tuổi già và kỷ niệm

Núi Thiên Ấn phủ mây buồn tim tím

Giòng sông Trà Lệ đổ mãi không thôi

Và đơn vị chúng mình

Vẫn hành quân đấy Linh ơi

Vẫn tiếp nối con đường anh bỏ dở

Vẫn thăm anh

Tôi không hề nức nở

Nổi buồn con trai đâu phải khóc hở Linh

Mây nghĩa trang ôm kỷ niệm chúng mình

Như lòng đất ôm hình hài anh đó

Đơn vị đóng xa

Mỗi lần về thăm thật khó…(1)


................................

Giòng lệ trào mi từ bao giờ. Toản nhìn tôi :

- Em khóc ?

Tôi lạc giọng :

- Bài thơ hay quá. Cả tâm hồn anh gói ghém trong đó hở Toản ?

Giọng Toản nhẹ :

- Anh thương Vũ Linh. Anh viết cho nó và cả cho anh.

Toản lau nước mắt cho tôi. Anh cười :

- Lệ Uyên không hỏi anh câu hỏi lúc nãy sao ?

Tôi biết anh khỏa lấp nổi buồn vương đọng trong không gian nhỏ hẹp bao quanh hai đứa. Tôi nói :

- Mải đọc thơ em quên. Lúc nãy anh nói em “làm như”… là sao em chả hiểu.

Mắt người con trai thăm thẳm. Giòng mắt như xoáy động tâm tư kẻ đối diện. Tôi chếch tia nhìn không dám nhìn thẳng Toản.

- Anh nói cô bé làm như… thương anh vậy đó.

Tôi lặng đi trước câu nói đột ngột của Toản. Tôi chợt thấy mình sắp sa vào một cái bẫy bằng lưới tơ êm ái và nếu mang thương tích thì vết thương sẽ trọn đời không thể lành được. Tôi nói như để thở :

- Sao anh nói vậy ?

Toản ngồi cạnh tôi. Khoảng cách chỉ do mình định đoạt và tôi cố giữ thăng bằng.

- Lệ Uyên.

- Em nghe anh.

- Sao em không nhìn anh ?

Tôi muốn nói: “Em sợ. Em sợ xiêu ngã trước ánh mắt lôi cuốn đam mê của anh nên em không dám nhìn. Như thế là hơn. Em là con chim vừa rời tổ đã vướng đạn nên em sợ… ”

Nhưng tôi lại nói một câu khác :

- Em sợ anh nhìn thấy em khóc. Khóc xấu lắm phải không anh Toản ?

- Anh thấy đẹp. Hãy nhìn anh đi Uyên.

Tôi ngước lên, ngợp hơi trong sóng mắt anh đầy trìu mến :

- Lệ Uyên. Anh muốn nói với em tất cả nhưng có lẽ anh sẽ không nói gì hết… Chúng mình không phải chỉ có hôm nay. Còn ngày mai, ngày kia… Còn một tương lai trước mắt. Một tương lai anh muốn được gọi mãi tên em.

Tôi nhìn Toản châm thuốc hút. Gương mặt anh nồng nàn sau làn khói mỏng. Tôi thích những nếp nhăn ở đuôi mắt anh. Tôi thích vẻ khinh mạn ở nụ cười anh. Trong một thôi thúc chân thành, tôi muốn đưa tay ôm khuôn mặt Toản nhưng tôi vẫn ngồi bất động… Màn khói mờ vẫn cách chia hai đứa và dù dễ dàng xóa bỏ sự chia cách đó tôi vẫn không làm… Tôi vẫn thích những chuyện tình được phủ một lớp sương huyền thoại.




Mẹ bảo tôi:

- Con ra mời anh Toản dùng cơm.

Tôi nhìn vội vào tấm kiếng nhỏ, đưa tay lau má. Mẹ cười :

- Mặt không dính lọ nồi đâu cô. Đẹp chán.

Tôi phụng phịu:

- Mẹ kỳ…

Châu cười trêu :

- Kệ chị Uyên để mặt hồng vì lửa mới đẹp. Lẽ ra phải có vài vệt lọ nồi mới chứng tỏ được mình làm bếp chứ.

Tôi ngượng ngùng nguýt em một cái thật dài. Tôi ra phòng khách đến bên Toản :

- Anh dùng cơm.

Mấy đứa em tôi đang ngồi quanh Toản nghe anh kể chuyện “đánh giặc” vội lên tiếng :

- Chị Uyên để anh ấy kể em nghe hết chuyện “uýnh nhau” đã, đang tới màn hấp dẫn mờ.

Tôi nhăn mặt:

- Mẹ rầy kìa. Để anh Toản ăn cơm đã. Trưa quá rồi.

Toản chìu tôi, anh cười mơn với lũ nhóc :

- Thôi để anh vào không chị Uyên giận… Với lại anh đói rồi, đói làm sao kể chuyện hay được.

Thằng Bình lên tiếng cảnh cáo :

- Bữa nay chị Uyên làm bếp, anh đừng ăn cơm.

Tôi lừ mắt nhưng nó lờ đi. Toản cười :

- Sao vậy ?

- Mỗi lần chị Uyên nấu ăn là tụi em… trốn hết, chả đứa nào dám ăn.

Nó nhỏ giọng với Toản nhưng cũng đủ tôi nghe :

- Ăn món ăn chỉ nấu… câm luôn à.

Toản cười xòa. Tôi cốc đầu thằng bé một cái nên thân. Mẹ, Toản và các em tôi ngồi vào bàn. Thằng Thanh lên tiếng :

- Em biết một món đặt biệt của chị Uyên. Còn lại là má nấu hết. Đố anh Toản biết món gì ?

Toản lắc đầu.

- Anh thua. Thanh nói xem.

- Món “nước mắm” nè… Lúc nãy em thấy chị rót nước mắm.

Bữa cơm thật vui. Toản nói với mẹ.

- Lâu lắm con mới được ăn một bữa cơm gia đình, ngon hết sức.

Tôi nhìn Toản bắt gặp ánh mắt đầy cảm kích. Tôi thấy thương Toản vô hạn. Tôi biết anh xa gia đình đã lâu và không ai là không thèm khát sự êm ấm bên những người thân. Đó là tình người, thứ tình cảm thuần túy Thượng Đế ban cho con người từ nguyên thủy. Toản đã thiếu cũng như phần đông tuổi trẻ bây giờ dứt bỏ gia đình quá sớm. Mẹ hỏi về thân thế Toản bằng uy quyền của một bà… mẹ vợ tương lai. Toản nói về quê hương anh. Những ruộng đồng thơm mùi mạ non, những giải đất mênh mông rợp vàng lúa chín. Miền hậu giang với những người dân mộc mạc hiền lành. Các em tôi nghe một cách say mê. Mẹ nói :

- Cháu đã quen em Uyên thì cứ coi gia đình này là của cháu. Có dịp về ghé lại cho vui, đừng ngại gì cả. Gia đình bác cũng đơn chiếc, bác trai mất rồi mẹ góa con côi hôm sớm nương nhau mà sống. Có một mình Lệ Uyên là lớn nên nó gánh trách nhiệm cũng nặng lắm. Em nó cũng ít bạn bè…

Tôi láy mắt cho mẹ. Sợ mẹ nói nhiều thành ra “quảng cáo” con gái hơi kỹ. Tánh mẹ vẫn thế, gặp ai vừa ý là nói tất cả về gia cảnh của mình. Khi Nhất Phương đính hôn với tôi, còn ba. Lúc đó câu chuyện của mẹ xoay quanh những cái vụng về của tôi, làm như mẹ rào đón để mai kia chấp nhận tôi, Phương không thể buồn trách tôi được. Bây giờ cuộc sống xoay chiều, vấn đề của mẹ lại khác, nhưng chung quy cũng chỉ vì tình thương bao la của một người mẹ.

Đây là lần về phép thứ hai từ ngày tôi quen Toản.

Tình cảm giữa hai đứa đã sâu đậm bởi thời gian. Lần về phép của Toản không còn là những khoảng thời gian “không biết làm gì cho hết thời giờ nữa”, trái lại hai đứa đều thấy quá ngắn và thời gian trôi nhanh không xót xa trước nỗi buồn chia biệt của con người.

Toản đối với tôi cần thiết như hơi thở, như sự sống. Anh có sự trìu mến của một người anh, anh có một nỗi đam mê của một người tình. Anh yêu tha thiết và có chiều sâu. Tình yêu là sức nung nóng của một núi lửa ngầm chứ không là thứ lửa rơm cháy bùng rồi tàn lụi. Toản thương và lo. Toản yêu và chiều. Tôi thấy mình bé bỏng vô cùng trong tình thương mênh mông đó.

Tôi ngần ngại nhìn biển người trước cửa rạp Rex. Toản hiểu ý, bảo nhỏ :

- Không sao, để anh mua vé, mình vô rạp là thoải mái Uyên ạ.

- Khổ anh quá. Thiên hạ nối đuôi nhau trước Guichet, bao giờ mới đến mình

- Ráng đi cưng. Anh muốn bé xem La Valse dans l’ombre.

Phải khó khăn lắm hai đứa mới tìm được ghế. Tôi buông người xuống, tựa đầu vào ngực Toản.

Trên màn ảnh, cô đào Vivien Leigh và tài tử Robert Taylor đang diễn tả một thảm trạng tình yêu trong thời chiến: gặp nhau trong một vụ bạo động, họ yêu nhau và quyết định làm lễ cưới trước khi chàng ra trận. Một trục trặc nhỏ làm lễ cưới chưa thành và họ phải xa nhau… Tôi nhìn nhân vật Maria thẫn thờ đi trong nỗi thất vọng và cảm thấy tâm trạng mình được miêu tả trọn vẹn… Những bước chân vô hồn. Đôi mắt vời vợi như vạn vật đã nhòa đi trước mắt. Bất giác tôi buộc miệng :

- Mai anh đi ?

Toản cúi xuống :

- Anh sẽ về với em.

Anh nắm chặt bàn tay tôi :

- Đừng buồn, em yêu. Chúng mình sẽ không xa nhau lâu.

- Toản, sao em sợ…

- Sợ gì cô bé.

- Anh thấy người ta xa nhau không? Nhân vật tiểu thuyết mà sao em thấy gần gũi với thực tế lạ lùng… Sao Toản đưa em đi La Valse dans l’ombre ?

Ngón tay anh viền quanh vành môi tôi. Anh âu yếm dỗ dành..

- Bé của anh lãng mạn và giàu tưởng tượng nữa. Em coi kìa, họ đã gặp lại nhau…

Tôi thấy đại úy Roy trong phim lao về phía người tình như tên bắn. Anh gọi lớn “Maria! Maria!” và trước khi cô gái kịp nhận thức sự việc, chàng đã ôm gọn nàng trong vòng tay.

Nhưng Roy đã trở về trong nỗi đau đớn dằn vặt của người tình khốn khổ. Thời gian xa cách, được tin chàng đã chết và cũng vì phải sống, nàng đã buông thả không còn xứng đáng với tình yêu cao quý của Roy.

Nàng muốn lẩn tránh, nàng muốn giải thích. Nhưng vì tình yêu mãnh liệt của họ, vì nỗi hạnh phúc quá to lớn của Roy, Maria đã cắn răng cố hòa mình vào hạnh phúc.

Cuối cùng nàng cũng không chịu đựng nổi sự dằn xéo của chính lương tâm mình. Cuối cùng con tim rướm máu của người con gái đáng thương đã vỡ… Nàng lao người trong cơn lốc khủng hoảng và khi Roy đến nơi chỉ còn kịp nhìn thân xác băng lạnh của người yêu lần cuối.

- Phim buồn quá anh.

Toản thì thầm :

- Đừng khóc nữa, em của anh đa cảm quá. Mai sau làm vợ anh làm sao em chịu được những lúc anh đi ?

- Em cố gắng.

Tôi lập lại :

- Mai anh đi… Sao anh cho em xem phim này?

- Anh nghĩ rằng phim hay.

Tôi lắc đầu :

- Em linh cảm khác. Em sợ.

Toản đưa tay lên môi tôi :

- Cấm em nói gở. Tin anh.

Giọng Toản tha thiết :

- Em tin anh không Uyên ?

Tôi gật đầu yếu ớt :

- Em tin.

- Vậy thì không được nghĩ gì nữa. Mai anh đi rồi anh sẽ trở về… như lần trước… hiểu không ?

- Em hiểu.

Tôi thì thầm :

- Toản, xa em anh nhớ em không ?

- Anh nhớ.

- Toản lập lại đi…

- Anh nhớ… Yêu em, anh biết thế nào là hạnh phúc, là ý sống… Trọn đời anh nhớ không quên.

Tôi im lặng, Toản im lặng. Thời gian là của nhau. Maria với những bước chân hốt hoảng trốn chạy, còn tôi, tôi sẽ dừng lại để chờ. Maria với ánh mắt tuyệt vọng lạc thần, còn tôi, tôi sẽ khép mắt để đón nhận ở người tình nụ hôn tái ngộ. Không, hoàn cảnh tôi không thể nào là hoàn cảnh của Maria được. Đó là tiểu thuyết. Tiểu thuyết là tưởng tượng, không phải thực tế. Ngày mai người yêu tôi ra vùng hành quân nhưng rồi anh sẽ trở về…


*

Thư Toản viết cho tôi :

“ Chiến khu Ba Lòng – Thu 67

“ Lệ Uyên của anh.

Từ khu chiến Tiền giang anh chuyển ra vùng một hỏa tuyến. Ở đâu cũng đầy dẫy những hình ảnh khói lửa, ở đâu cũng cần những người lính như anh.

Qua những ngày phép êm đềm bên em, khi trở lại với chiến cuộc anh thấy lạc lõng quá Uyên ơi. Bây giờ gần cuối thu rồi Uyên nhỉ. Anh muốn trở lại Sàigòn để dìu em đi trên con đường Trần Quí Cáp nhiều bóng mát, để chúng mình cùng nhặt những chiếc lá úa xây thành mộ cho giấc ngàn thu của chúng khỏi bơ vơ. Anh muốn về để đưa em đi lễ chiều ở Régina Pacis, mình đọc chung kinh kính mừng và chung lời nguyện xin Chúa giữ hai đứa mãi bên nhau. Anh muốn phục sinh này nghe em đọc lại những vần thơ của mùa phục sinh năm trước:

“ Bây giờ lại sắp phục sinh

Cho em nhớ nguyện chúng mình…anh ơi

Chúa sống lại – Chúa lên trời

Xin cho hai đứa suốt đời thương nhau.

Lệ Uyên,

Anh ước muốn nhiều nhưng còn xa em nhiều quá. Đời lính là vậy đó. Yêu anh rồi Uyên chấp nhận phải không em ?

Thư này anh viết vào đêm đầu ở “Khu Chiến" Ba Lòng, một quận cận sơn miền giới tuyến. Mưa triền miên dội xuống núi đồi. Dãy Trường Sơn âm u trong màn mưa rờn rợn. Những tràng đại bác, liên thanh làm nhức buốt hai tai. Sự đe dọa của chết chóc vẫn lởn vởn quanh vùng. Cái lạnh miền Trung ghê gớm lắm Uyên ạ… Anh không ủy mị nhưng anh ước mong có em bên anh trong giờ phút này. Gặp em, quen rồi, yêu em trong đầu óc anh không còn ý nghĩ “đánh giặc đến chết nữa, mà là đánh giặc để đem thanh bình cho một người yêu dấu, cho một mái nhà ấm cúng mai sau”.

Có lẽ khá lâu anh mới về với em được. Nhưng đã trót gởi tình yêu cho lính chiến, xin đừng nản lòng chờ đợi nghe Uyên.


Hôn em và hẹn ngày về.

                                                                                                                                                                                                                         Anh :                                                                                                                                                                                                           Toản


Tôi hôn lên cánh thư của người yêu gửi về từ miền hỏa tuyến. Tâm hồn tôi tìm về với những kỷ niệm đẹp như tình yêu hai đứa. Những con đường quen thuộc bước chân. Tôi cũng không tìm hiểu tôi yêu Toản từ bao giờ, chỉ biết rằng sau buổi gặp gỡ ở nghĩa trang, Toản về đơn vị chúng tôi đã liên lạc bằng những cánh thư đầy trìu mến, rồi những lần gặp lại Toản, tôi hiểu rằng người con trai quen nếp sống gió sương này đã làm thức tỉnh con tim băng giá của tôi. Nếu tôi là một giòng nước mát làm tươi lại nhựa sống cho tâm hồn chai đá vì chiến chinh của Toản, thì chính anh đã là một tia sáng mặt trời đánh tan lớp băng tuyết phủ hồn tôi.

Thời gian yêu nhau không nhiều nhưng đủ để hai đứa hiểu nhau. Chúng tôi còn cả một cuộc đời để cho nhau thật trọn vẹn. Toản không thề, tôi không hẹn nhưng hai đứa cùng biết chắc không thể mất nhau trong đời. 

_______________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG 2
 

Chắp Cánh


Truyện : Lý Thụy Ý
Loại Hoa Tím
Tủ sách Tuổi Hoa - 1974

CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
CHƯƠNG 5

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2018

Cho Một Người Vắng Xa

Di ảnh anh Trang Vi (Nguồn : Nhã Uyên)



















Những lời cho anh em viết đơn sơ
Gửi người anh trai một thuở dại khờ
Gửi giọt sương mai gửi bao thương nhớ
Ở một nơi nào chìm khuất trong mơ...

Vừa mới đôi mươi anh bước vào đời
Bỏ lại phía sau sách vở một thời
Nhễ nhại mồ hôi  bao nhiêu thử thách
Số kiếp buồn đau anh bỏ cuộc chơi

Chằng biết tương lai của anh về đâu
Ngày một ngày hai em chỉ nguyện cầu
Từ dạo anh xa một thời áo trắng
Lối cũ giờ đây soi mảnh trăng sầu

Rồi ngày tháng qua nhớ tiếng anh cười
Nhớ lúc yêu đời huýt sáo vui tươi
Đôi mắt đen huyền đầy lòng trìu mến
Chẳng được bao năm một kiếp con người

                                                         Nhã Uyên

                             (Kỷ niệm anh Trang Vi : 11 Tháng 3 Năm 1975)

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2018

Tim Hồng 221


1___ 

Em về đây thế là được một tháng rồi đấy. Thực sự, em chả thích về đây tí nào nhưng mẹ bắt về em làm sao được? Hôm cậu Ba ra đón em khóc hết nước mắt níu tay bố:

- Bố, cho con ở lại với bố đi, con không về ngoại đâu.

Bố cúi xuống, em nhìn rõ từng nét nhăn trên trán bố:

- Con về trước với mẹ, bố cũng thu xếp để về sau chứ mình đâu có ở đây được, con.

- Bố cũng về, bố cho con lên ở với bà Nhất. Con không muốn về ngoại.

Bố chưa kịp nói gì thì mẹ đã hét:

- Con ranh con, bắt cậu đợi mãi à? Có lên xe đi không?

Bố bóp chặt tay em:

- Con phải về với mẹ không thôi bố buồn con đó.

Em cúi đầu buồn bã từ đó. Cho đến lúc về đến Saigon. Vòng tay cúi chào ngoại và các cậu, các mợ, các dì, các chú em thấy mỏi cả cổ (!). Em thấy ghét những vẻ kênh kiệu của những người em cúi chào. Em như một cái máy gật lia lịa trước mọi người. Em đã thực sự tách rời những người bên họ ngoại mất rồi. Hình như mọi người đều muốn rằng: em phải vui vẻ, phải coi như được một đặc ân khi phải dọn cả nhà về đây. Dì Út nhận xét về em:

- Cái mặt nó cứ vênh vênh lên.

Em không buồn vì câu nói và thái độ ấy, Em chỉ buồn, chỉ nhớ trường của em, các bạn của em thôi. Bố em bảo tại lộn xộn hoài nên phải về nhà ngoại. Em đâu có sợ những đêm chui hầm. Thế mà bố cứ bắt em về. Em buồn ghê gớm. Về đây, em cũng tiếp tục đi học nữa. Cái lớp học em chả ưa tí nào tuy trường lớn thật lớn. Lúc em vào lớp những khuôn mặt và ánh mắt soi mói, nhìn em. Tự nhiên em sùng sùng: Bộ tui lạ lắm sao? Nghĩ vậy rồi em hất mặt lên nhìn thẳng vào từng khuôn mặt. Ồ chả có ai em thấy mến được cả. Em lại nhớ con Thúy Hằng, con Quốc Ni. Em gọi thầm: "Quốc Ni ơi, mi đang làm gì đó, tao đang buồn kinh khủng đây!". Cô giáo cho em ngồi ngay bàn thứ ba, ở đầu bàn. Em quay sang nhìn nhỏ bên cạnh:

- Tui là Trung, Lệ Trung, còn trò tên gì?

Nhỏ e dè nhìn em rồi đáp nhỏ:

- Hồng Vân Lê Hồng Vân Trò mới vô hả?

- Ừa.

hỏi lãng xẹt. Em mới vào lớp sáng nay đó thôi. Tự nhiên em thấy hơi mến mến nhỏ này Nó có ánh mắt e dè như con Thúy Hằng, bạn em ở ngoài đó.

Đang chép thời khóa biểu, cô giáo hỏi em ở đâu về. Em đáp nhỏ "Thưa cô, ở Pleiku". Em lại thấy nhớ lũ bạn em ghê gớm Eo ơi vào đây em gặp toàn mấy soeur áo trắng mập ơi là mập ở ngoài đó ấy à. Soeur Damiel gầy gầy trắng xanh đẹp thiệt đẹp nè. Cha già Thức mập ù hay bẹo má tụi em nè Chớ đâu có giống ở trong nầy khiếp chán thấy mồ. Em thấy ghét bố em ghê (!) Khi không bố em bắt em về cái "sa mạc giữa chợ" này. Em không biết mình dùng chữ có đúng không vì em chỉ nghe chị Vũ giảng "sa mạc" là vùng đất hoang vu và "chợ" là nơi có nhiều người tụ họp lại để buôn bán. Về tới nhà, em rút lên sân thượng một mình, ở nhà đâu có ai thèm nói chuyện với em. Em có hỏi cũng chỉ để nhận những câu nói hằn học mà thôi Hôm mới về, mẹ chỉ vào em, cái con ranh này nó không chịu về đâu, nó khóc lóc mãi đấy. Ngoại nhìn em nặng nề:

- Mày về đây tao ăn thịt mày à.

Từ đó, mọi người dành cho em thái độ rất đặc biệt. Em muốn nói cho ngoại biết rằng: không phải em không muốn về là sợ ngoại ăn thịt, (sức mấy mà ngoại dám ăn thịt em, thịt người tanh lắm làm sao mà ăn) nhưng vì em không muốn xa các bạn em hội đoàn nè, Cha xứ nè và soeur Damiel đẹp thiệt đẹp thế thôi Nhưng em không được phép nói với ngoại, vì như thế là hỗn, là láo, là... đủ thứ hết, mẹ em nói mà em quên rồi. Em không biết diễn tả sao cho văn vẻ dễ đọc vì em chỉ học mới lớp Bốn hà, các bạn có đọc cũng đừng chê em viết lộn xộn nghe. Em nghĩ sao thì viết vậy thôi.


2______

Ở nhà, em sống lạnh lùng (!) giữa mọi người, đến lớp em lại phải cô độc. Các bạn ở đây khó thương ghê. Mà... làm sao ấy... Nhiều lúc em nhớ ngoài đó, em kể chuyện pháo kích, chuyện người chết vì đạn lạc... tụi nó không tin mà còn cho là em nói xạo! Tức mình em không thèm nói chuyện với tụi nó. Vậy mà không yên đâu, hồi sáng, xách cặp vào lớp em gặp 2 nhỏ Ngọc Hà với Chu thị Lý đứng dưới gốc dừa, em cười xã giao:

- Chào hai bồ Hai bồ thuộc bài chưa, trời ơi, Trung học mãi mà chả thuộc được, chắc hôm nay bị cô phạt quá.

Ngọc Hà cười rinh rích, giọng nhão nhẹt:

- Tui đâu có học bài được, tối hôm qua tui phải chui dưới "tăng xê" từ 6 giờ chiều lận mà!

Em tím mặt. Nó nhạo em đây. Hôm trước em kể chuyện cho nó nghe đây mà. Em nhìn thẳng mặt Hà, nhăn mũi xì một tiếng và vào lớp, em nghe tiếng con Lý đuổi theo sau:

- Bày đặt Xạo không à. Cứ làm như lính ấy mà kể chuyện pháo kích với chui hầm. Cái mặt nó mà nghe pháo kích cứ gọi là... ấy trong quần!

Rồi hai đứa cười rúc rích, tiếng cười đuổi theo em vào đến tận chỗ ngồi. Em gục mặt xuống bàn, buồn bã. Em xa lánh tất cả. Em lạnh lùng và hình như cái mặt em có vênh lên, bất cần nữa. Em lại nhớ Thúy Hằng, nhớ Quốc Ni, nhớ cả thằng bé Đức Quốc em nhỏ của Quốc Ni nữa Ở đây, em không tìm thấy nụ cười có răng khểnh xinh xinh của Quốc Ni Em không tìm thấy đôi mắt đen thật đen của Đức Quốc Em cũng không tìm thấy nụ cười hiền thật hiền của Thúy Hằng Em lạc lõng Em cô độc giữa những người và người.

- Chị. Chị xích vào trong cho Thanh ngồi với!

Em giật mình ngẩng đầu, trước mặt em, một "ma mới" đang ôm cặp chờ đợi thấy em ngẩng đầu, Thanh cười nhẹ:

- Cô bảo em ngồi đầu bàn này, em mới vào học sáng nay.

Nhỏ này hiền ghê! Em nghĩ như thế và xích vào trong. Cô nhìn em cười:

- Trung xích vào cho Thanh ngồi với.

Em quay sang nhỏ Thanh:

- Tên trò là Thanh hả?

- Ừa.

- Gì Thanh?

- Ngô thị Thanh Thanh.

Á Ngộ Nhỏ này có tên nghe nhẹ nhẹ làm sao ấy Em hỏi tiếp:

- Trò mấy tuổi?

- Chín. Mà... Chị hỏi nhiều thế?

Em cười:

- Tánh tui vậy đó tui là Trung Vũ thị Lệ Trung bằng tuổi với trò.

Thanh cười hồn nhiên:

- Ngồi bên chị vui ghê, Thanh cứ sợ không quen ai cả đó Hồi ở ngoài đó, Thanh đi học chung với 5 nhỏ bạn vui kinh khủng.

Em nhìn Thanh Thanh, cô bạn mới vừa nói gì vậy?

"Hồi ở ngoài đó" nghĩa là sao? Hay là...

- Thanh à, trò nói ở ngoài đó là ở đâu? Chớ không phải trò ở Sàigòn à?

- Đâu có, em mới ở Kontum về mà.

Kontum, em gật gù nhớ rồi Kontum của Thanh (!) cách Pleiku của em (!) 47 km mà Em thấy mến nhỏ này hơn chút nữa.

- Thanh Thanh nhớ Kontum không?

- Nhớ chớ, lẽ ra Thanh đâu phải về, tại trên đó lạnh nên vết thương của Thanh nó hành nhức dễ sợ mẹ mới cho Thanh về đấy chứ!

Em tròn mắt:

- Thanh bị thương à?

- Ừa Nói xong cô bé vén áo cho em xem một miếng băng lớn úp trên bụng cô bé Em lạnh người xít xoa:

- Thanh bị bao giờ? Còn đau hả?

- Miểng pháo kích đó lâu rồi mà mãi chả khỏi, cứ phải băng hoài đó.

Em nắm tay Thanh Thanh em gặp được tri kỷ rồi đây - Em linh cảm em sẽ hết cô độc. Thanh Thanh đã bị thương, Thanh Thanh còn biết cả pháo kích là gì nữa Em cười thật vui, xiết chặt tay Thanh Thanh:

- Trung cũng dân di tản nè. Thanh chơi với Trung nhé.

Em im vội tiếng cười vì cô giáo đang nhìn em.

- Chép bài đi Thanh ơi, cô nhìn đó.


Mấy nhỏ trong lớp thấy em chơi với Thanh Thanh chúng ghét ra mặt Em tự hỏi sao người ta ích kỷ thế không biết. Nhưng rồi em thản nhiên, tự nhủ chả thèm để ý đến làm gì. Những giờ ra chơi Thanh Thanh kể cho em nghe những chuyện Phương Nghĩa, chuyện Kontum của Thanh với những lần chạy... cong đuôi khi có tin báo "họ" về.

Thanh Thanh kể chuyện có duyên kinh khủng. Em cũng kể cho Thanh Thanh nghe chuyện Pleiku của em. Chuyện em chui hầm bị cô em nhốt suốt một ngày. Đủ thứ chuyện chúng em kể cho nhau nghe. Nhiều lúc em thấy Thanh giống Quốc Ni ghê gớm. Hôm nay, lúc lớp em đang chép bài thì một tiếng nổ dễ sợ làm mái tôn rung rinh và sách vở của chúng em nhảy nhổm (!) trên bàn Các bạn em ôm mặt rú lên Có đứa khóc hu hu chui xuống gầm bàn. Đứa nào đứa ấy xanh lét mặt mũi. Cô giáo thản nhiên viết bài. Em quay sang nhìn Thanh Thanh, em gặp nụ cười cố hữu:

- Chắc pháo kích, Thanh há.

- Ừa. Lâu lắm Thanh chưa nghe tiếng pháo kích.

- Trung cũng vậy đó. Nhớ mấy tiếng nổ đó ghê chứ, Thanh nhỉ?

Chúng em cười với nhau nhìn sang các bạn Xì, có chút đó mà xanh mặt xanh mũi vào Nhát hít à Đúng là một lũ... chuột nhắt (chả biết có đúng không vì em rất sợ chuột nên chả dám nhìn bao giờ để mà biết chuột nhắt là thế nào)

Tiếng Thanh nhỏ nhẹ bên tai em:

- Tụi nó sống ở đây yên ổn quá rồi nên nhát như thỏ.

Em gật đầu - Tự nhiên thấy tội nghiệp mấy nhỏ đang chui gầm bàn ghê Cám ơn trời (!) em đã sống, đã biết thế nào là giặc giã, là chiến tranh để bây giờ em bình thản trước một tiếng nổ tầm thường trong lúc lũ bạn em co rúm người vì sợ. Em nhéo tay Thanh Thanh:

- Thấy tội nghiệp tụi nó chưa kìa Thanh!

Thanh Thanh cười rúc rích. Em nhìn Thanh Thanh trân trối Em thốt gọi:

- Quốc Ni!

À! Không! Thanh Thanh chứ Chúa ơi giống Quốc Ni ghê.

Mà... đúng rồi, Thanh Thanh có nụ cười răng khểnh của Quốc Ni Dáng dấp hiền hiền của Thúy Hằng và đôi mắt đen thật đen của soeur Damiel Em bóp tay Thanh Thanh ; gọi từng tên mà em thương mến đời đời:

- Thanh Thanh! Quốc Ni! Thúy Hằng!...


Mt. HOA    


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 221, ra ngày 1-4-1974)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>